Tag Archive | Tin tức

Guồng máy nông nghiệp (28-4-1961)

Trong một công xưởng, có nhiều loại máy móc hình dạng khác nhau và công dụng khác nhau. Những máy móc khác nhau ấy phải bố trí và kết hợp thật ǎn khớp với nhau, thì sản xuất mới tốt.

Nông nghiệp cũng có “guồng máy” của nó. Từ lúc chọn giống đến ngày đưa thóc vào kho, mọi công việc phải ǎnkhớp, nhịp nhàng với nhau, thì kết quả thu hoạch mới tǎng. Sau đây xin tóm tắt nêu mấy điểm chính, để giúp bà con hợp tác xã nghiên cứu:

– Đủ nước. Nhiều phân. Giống tốt. Cày sâu bừa kỹ. Cấy dày đúng mức. Phòng chuột, trừ sâu. Chǎm nom ruộng đất. Cải tiến nông cụ. Đó là tám bộ phận chính trong guồng máy nông nghiệp, nó quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, cho nên thiếu một bộ phận nào cũng không được. Ví dụ:

Muốn tǎng thu hoạch thì nhất định phải tǎng vụ, tǎng diện tích. Muốn tǎng vụ, tǎng diện tích thì nhất định phải cải tiến nông cụ. Một máy cấy thô sơ (kiểu Nam Ninh) có thể cấy gần tám lần cấy bằng tay. Muốn dùng máy cấy thì nhất định phải cày sâu bừa kỹ.

Một ví dụ nữa: Muốn ruộng tốt thì phải bón nhiều phân. Muốn có nhiều phân thì phải đẩy mạnh chǎn nuôi.Muốn phát triển chǎn nuôi thì phải tǎng diện tích trồng thức ǎn cho trâu, bò, lợn…

– Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi để tǎng thu nhập. Phải sắp xếp thế nào để xã viên làm tốt công việc chung của hợp tác xã, đồng thời có thể sǎn sóc miếng vườn của họ. Phải bố trí thế nào vừa phát triển được nghề phụ, vừa không để nghề phụ lấn át nông nghiệp.

– Nông nghiệp phải rất coi trọng ba điều:

Thiên thời – Mùa nào thì cần phải làm việc gì, nhất là phải làm kịp thời vụ.

Địa lợi – Đất nào phải trồng thứ gì cho thích hợp.

Nhân hoà – Xã viên có người khoẻ, người yếu; có người thạo nghề, người chưa thạo. Công việc có việc khó việc dễ, việc nặng việc nhẹ. Phải phân phối thế nào cho người đúng với việc, việc đúng với người và ai cũng có công việc, cũng phấn khởi lao động.

– Hợp tác xã từ 100 hộ trở lên là một đại gia đình. Ngoài công việc chính là tǎng gia sản xuất, hợp tác xã phải tổ chức tốt những việc xã hội và vǎn hoá như: Giúp già, dạy trẻ, cưới hỏi, trông nom người ốm đau, giúp đỡ đàn bà khi thai nghén, v.v..

– Muốn cho guồng máy chạy thật đều, thật tốt, chúng ta phải thực hiện ba điều sau đây:

Cán bộ quản trị phải thật sự dân chủ và chí công vô tư.

Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu trong mọi công việc.

Tất cả xã viên phải đoàn kết nhất trí, phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ, làm đúng khẩu hiệu “Cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

*

* *

Hiện nay khắp nơi có phong trào sôi nổi thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Thế là rất tốt. Nhưng cán bộ ta phải nhớ:

1- Phải giữ vững nguyên tắc tự nguyện,

2- Trước khi mở rộng quy mô hợp tác xã phải chuẩn bị thật tốt tư tưởng và vật chất. Tuyệt đối không nên nóng vội.

T.L.

——————-

Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh) (9-5-1961)

Để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, cần làm tốt mấy việc sau đây:

– Về sản xuất nông nghiệp, cần làm công tác thuỷ lợi tốt, làm phân bón nhiều, chọn giống tốt, cày sâu bừa kỹ, cấy dày đúng mức, v.v..

– Phải ra sức chǎn nuôi, vì chǎn nuôi vừa là một nguồn lợi lớn, lại là một kho phân nhiều.

– Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v.. Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới, thuyền. Muốn có lưới tốt, thì phải có tơ, muốn có tơ, thì phải chú ý trồng dâu nuôi tằm.

– Cần trồng nhiều cây ǎn quả, cây lấy gỗ, cây ngǎn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp.

– Phải ra sức củng cố hợp tác xã, làm đúng khẩu hiệu: cần kiệm xây dựng hợp tác xã.

– Về vǎn hoá, cần cố gắng thanh toán nạn mù chữ và đẩy mạnh phong trào bổ túc vǎn hoá trong cán bộ và nhân dân. Việc vệ sinh phòng bệnh cũng cần tǎng cường. Có sức khoẻ đầy đủ thì sản xuất mới mạnh mẽ.

– Về trật tự, trị an, các đồng chí bộ đội, công an, dân quân cần tiếp tục cố gắng học tập chính trị, nghiệp vụ và vǎn hoá, cần đoàn kết chặt chẽ với nhân dân và giúp đỡ nhân dân. Đồng bào thì cần giúp đỡ các đồng chí ấy làm nhiệm vụ cho thật tốt.

Để làm tốt các việc trên đây, mỗi người phải nhận thật rõ và làm thật đúng nghĩa vụ người làm chủ nước nhà. Cán bộ phải chí công vô tư, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong mọi công việc. Hiện nay, trong số hơn 4.000 nhân dân, chỉ có 180 đảng viên và đoàn viên, như thế là quá ít. Cần phải phát triển thêm và phát triển tốt Đảng và Đoàn.

Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ.

Cán bộ tỉnh Hải Ninh cần phải hướng dẫn và giúp đỡ đồng bào các đảo, để đồng bào các đảo góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, phải hǎng hái thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, phải cố gắng hơn nữa để làm cho đời sống no ấm, vui tươi hơn nữa. Các cháu thiếu nhi phải học hành tốt, lao động tốt, kỷ luật tốt, giữ gìn vệ sinh tốt, đoàn kết tốt.

———————

Nói ngày 9-5-1961. Báo Nhân dân, số 2609, ngày 13-5-1961.
cpv.org.vn

Những đoàn viên cộng sản đầu tiên

Tìm về nguồn cội

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Mát-xcơ-va (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”. Và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội…

Mùa hè năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Nga dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.

Những người lãnh đạo Quốc tế Thanh niên cộng sản (tổ chức này do V.I.Lênin trực tiếp sáng lập từ năm 1919) tha thiết mời Nguyễn Ái Quốc tham gia ban trù bị Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV. Giữa bộn bề công việc đang đến với mình nhưng Nguyễn không thể từ chối.

Người yêu cầu lập ngay một nhóm làm việc trong đó có các đồng chí như Đa Lin, Phó Trưởng Ban quốc tế của Quốc tế Thanh niên cộng sản; Trương Thái Lôi, người anh hùng của Công xã Quảng Châu (Trung Quốc) sau này v.v…

Điều làm cho Nguyễn Ái Quốc hết sức trăn trở nhiều năm nay là tình trạng “Thiếu tổ chức và người tổ chức” ở các thuộc địa tuy “luồng gió mới” của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã làm dấy lên tinh thần đấu tranh ở những nơi còn phải chìm đắm trong đêm đen nô lệ; nhưng chỉ với tinh thần thôi mà “thiếu tổ chức, thiếu người tổ chức” thì liệu những người đang bị đọa đày ấy sẽ làm được điều gì ?

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV diễn ra trọng thể tại hội trường Công đoàn ở Mát-xcơ-va.

Nguyễn Ái Quốc với tư cách là Ủy viên Đoàn Chủ tịch lãnh đạo Đại hội mang thẻ đại biểu số 94, đại biểu duy nhất của thanh niên Đông Dương và cũng là đại biểu duy nhất của toàn thể thanh niên các nước thuộc địa từ Á sang Phi đã phát biểu nhiều lần tại các phiên họp chung ở hội trường.

Song, giờ phút đáng nhớ và gây xúc động nhất chính là lúc Nguyễn Ái Quốc trình bày bản dự thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do chính Người chủ trì soạn thảo(1).

Chỉ một năm sau, tác giả chính của “Luận cương về thanh niên thuộc địa”(2) nổi tiếng ấy có mặt ở Quảng Châu. Tại “Thủ đô cách mạng của Châu Á” này, Nguyễn Ái Quốc đã mở trường, cho xuất bản báo để bồi dưỡng, đào tạo các lớp thanh niên yêu nước Việt Nam từ tổ quốc mình dũng cảm vượt qua vòng vây của kẻ thù đi tìm chân lý cứu nước.

Từ giờ phút này (giữa năm 1925), Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quá trình chuẩn bị sáng lập một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam cùng một tổ chức thanh niên cộng sản Việt Nam làm đội hậu bị cho Đảng, làm lực lượng nòng cột cho phong trào thanh niên yêu nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”(3) và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội.

—————————-

(1) (2) “Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính bản luận cương về thanh niên thuộc địa” – trích luận án phó tiến sĩ sử học mã số 50304 của Văn Tùng công bố trên báo Nhân dân số ra ngày 8/4/1990 nhân tiến tới kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1990.

(3)“Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”, NXBTN-2004-tr.5.


Từ 8 thiếu niên ngày ấy

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 4 hàng 2 từ phải sang) người thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Thái Lan (năm 1926) chọn một số thiếu niên sang Quảng Châu đào tạo. Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Từ những năm 1924 đến 1926, phong trào yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ có sự phát triển gây cho bọn thực dân và phong kiến không ít hoang mang, lo sợ. Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc Lanh (Merlin) của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành nhưng như Trần Dân Tiên nhận định: “Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Cách mạng thanh niên Việt Nam (trước đây gọi là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”), tổ chức tiền thân của Đảng ta. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng và dân tộc. Trường Huấn luyện chính trị do chính Người chủ trì cùng các đồng chí cộng sự Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn… ra đời thu hút nhiều lớp thanh niên yêu nước vượt biên giới đến học rồi trở về nước hoạt động, xây dựng tổ chức.

Với cương vị là người theo dõi phong trào cách mạng các nước châu Á, Nguyễn Ái Quốc biết được lúc này ở vùng Đông Bắc Thái Lan đang có nhiều đồng bào ta do bị thực dân Pháp khủng bố phải lánh sang nước bạn. Họ là những người yêu nước từng tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo. Họ luôn canh cánh trong lòng tinh thần phục quốc, họ mở trường học cho con em, mời các thanh niên từng “Đông Du” ở Nhật về dạy.

Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc, lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Thanh niên Cộng sản Đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong “Quang phục Hội” truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băn khoăn vì còn nhỏ tuổi quá (mới 12). Song cuối cùng, xét về cả tư chất và thân nhân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa vào danh sách. Đó chính là Lê Hữu Trọng.

Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy. Đúng hơn, đây có thể coi là một cuộc “đoàn tụ” giữa những người thân trong gia đình. Để bảo đảm tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý.

Đó là: Lê Hữu Trọng mang bí danh Lý Tự Trọng; Đinh Chương Long mang bí danh Lý Văn Minh; Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất; Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ); Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông; Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ); Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ); Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh./.


Kế hoạch đào tạo lâu dài

Ngôi nhà 13A đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên và 8 thiếu niên (từ năm 1925 - 1927). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại tầng hai ngôi nhà 13A phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đồng chí Lý Thụy yêu cầu Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên mà cụ thể là đồng chí Lê Hồng Sơn tổ chức một lớp học chính trị ngắn ngày…

Sau khi thành lập, hầu như tuần nào đồng chí Lý Thụy cũng đến thăm lớp. Người thường kể về các tấm gương anh hùng của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung và cả Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cho học sinh nghe. Người còn yêu cầu tổ chức cho học sinh tham quan cảnh đẹp, thăm mộ Phạm Hồng Thái… và sinh hoạt văn nghệ.

Những tháng hè và thời gian học chính trị qua nhanh. Thực hiện chủ trương đào tạo có hệ thống của đồng chí Lý Thụy, các đồng chí trong Tổng bộ đã liên hệ đưa 8 học sinh vào học tại trường Trung học Trung Sơn (Quảng Châu) trong lúc chờ đợi việc tiếp tục học tập tại Liên Xô.

Ngày 22/7/1926, đồng chí Lý Thụy gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam… các em còn nhỏ nhưng đã đau khổ nhiều, các em đã để cha mẹ ở nhà hàng ngàn cây số để bí mật đến Trung Quốc…”.

Thư đề nghị bạn nhận đào tạo những “Thiếu niên cộng sản đầu tiên của Việt Nam” này thành những “chiến sỹ Lêninnít trẻ tuổi” và đề xuất kế hoạch tiếp nhận rất cụ thể, chi tiết. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ của Người: “Nilốpxki – Hãng thông tấn Rôxta Quảng Châu, Trung Quốc”.

Cùng ngày, đồng chí Lý Thụy còn gửi cho đồng chí đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản về việc Người đã gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị tiếp nhận một số thiếu niên Việt Nam để đào tạo cùng lời yêu cầu đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp liên hệ với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin ủng hộ chủ trương của Người.

Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc, nhưng ghi địa chỉ với tên là Lưu (không phải là Nilốpxki) cùng cơ quan là Thông tấn xã Rôxta- Quảng Châu, Trung Quốc.
Qua hai bức thư này chúng ta càng thấy rõ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm và kiên trì chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, lớp thiếu niên học sinh Việt Nam đầu tiên nhằm chuẩn bị tiến tới xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta đến mức nào.

Lời đề nghị của Người đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đáp ứng thuận lợi. Tuy nhiên, khi kế hoạch đưa các học sinh Việt Nam sang Liên Xô đang được chuẩn bị triển khai thì ngày 15/4/1927, sau khi Tôn Trung Sơn mất, phái hữu (phản động) trong Quốc dân đảng Trung Quốc phá vỡ sự hợp tác Quốc – Cộng, làm đảo chính ở Quảng Châu.


Vượt qua thử thách trở thành đoàn viên

Lý Tự Trọng (dấu +) cùng các học viên Trường Võ bị Hoàng Phố viếng mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương (Trung Quốc)

Không chịu khuất phục trước sự phản bội hèn hạ của bọn phản động Quốc dân đảng, ngày 11/12/1927, một cuộc khởi nghĩa làm chấn động thế giới đã nổ ra ở Quảng Châu.

Theo lời kêu gọi của Ban Chấp hành Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và chủ trương của Tổng bộ Hội Cách mạng Thanh niên, 8 học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn cùng với hầu hết học viên Việt Nam Trường Võ bị Hoàng Phố đã sát cánh với các chiến sỹ cộng sản Trung Quốc cùng đội ngũ công nhân và quần chúng cách mạng chiến đấu quyết liệt với quân đội của bọn phản động.

8 học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn chia thành từng nhóm gia nhập các đội tuyên truyền, liên lạc, tiếp vận … phục vụ quân khởi nghĩa. Đây là cuộc thử thách quyết liệt đầu tiên đối với họ. Lúc đầu Lý Phương Đức và Lý Tự Trọng tham gia vào Đội Liên lạc, nhưng sau đó Trọng xin cấp vũ khí và tham gia Đội Tự vệ công nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến lũy dựng lên khắp các đường phố.

Song, khởi nghĩa Quảng Châu sớm bị dìm trong bể máu do lực lượng và trang bị chênh lệch. Quân khởi nghĩa rút ra khỏi thành phố. Rất nhiều chiến sỹ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam có mặt ở Quảng Châu, trong đó có các học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn bị bọn phản động bắt giam, tra tấn… Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức và các anh chị khác đều khảng khái hỏi lại chúng: “Chúng tôi chỉ là học sinh, các ông bắt chúng tôi về tội gì?”. Không một ai hé ra nửa lời, kiên cường chịu đựng đòn roi.

Các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bị lộ đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố đòi trả tự do cho những người bị bắt. Với tinh thần quốc tế, các đồng chí đã tìm các luật sư có tiếng lúc ấy bảo vệ cho các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam.

Không có bằng chứng nên cuối cùng bọn phản động phải trả tự do cho các đồng chí ta trong đó có hầu hết học viên Trường Võ bị Hoàng Phố và học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn do trong hồ sơ đều ghi rõ là quê ở Quảng Đông. Một bộ phận các đồng chí cách mạng Việt Nam đã học ở Hoàng Phố chuyển về căn cứ địa Đông Giang tham gia xây dựng Hồng quân công nông Trung Quốc như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn …

Bộ phận khác phân tán đi vào quần chúng làm công tác vận động cách mạng. 8 học sinh Trường Trung Sơn buộc phải thôi học và cũng thực hiện việc phân tán theo các chiến sỹ cách mạng Việt Nam.

Qua thử thách trong đấu tranh thực tiễn, 8 học sinh Việt Nam đều lần lượt được kết nạp vào Đoàn. Lý Tự Trọng là người đoàn viên thứ tám do đến năm 1929, Trọng mới đủ 15 tuổi.

Trước yêu cầu mới, Trọng rời Quảng Châu sang Hương Cảng làm công nhân ở bến tàu giúp các đồng chí ta nối đường dây liên lạc về trong nước và đi các nước. Một số đoàn viên khác trong lớp 8 đồng chí đầu tiên về sau tìm được cách sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trước đây.


Họ đã sống và chiến đấu như thế

Ban Bí thư Trung ương Đoàn gặp mặt thân mật 2 nữ đoàn viên trong số 8 đoàn viên thuộc lớp đầu tiên nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đoàn: Lý Phương Thuận (thứ 2 hàng 2 từ phải sang), Lý Phương Đức (thứ 2 hàng 3 từ phải sang). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”…

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Hương Cảng để chuẩn bị chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Lý Tự Trọng được đồng chí Ung Văn Khiêm đưa về Sài Gòn hoạt động. Số đoàn viên còn lại (trong 8 đồng chí nêu trên) tiếp tục công tác ở Quảng Châu và tại tỉnh Quảng Đông cùng các đồng chí cách mạng Việt Nam trong số đó có nữ đoàn viên Lý Phương Thuận lúc này lấy tên là Lý Tam hay còn gọi là cô Ba.

Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thành công tốt đẹp, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện với chính cương, sách lược, điều lệ … mở ra thời kỳ mới cho cách mạng nước ta.

Do một sơ suất từ bên ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này lấy tên là Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt giữ và đứng trước nguy cơ bị chúng trao cho mật thám Pháp theo sự dàn xếp, đeo bám của thực dân Pháp.

Cùng bị bắt với Tống Văn Sơ có đoàn viên Lý Phương Thuận (Lý Tam). Mặc dù bị tra hỏi và đe doạ gắt gao kể cả đòn roi, Lý Phương Thuận nhất mực không khai báo nửa lời, giữ tròn khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản.

Luật sư Lô-dơ-bai nổi tiếng đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù với lòng cảm phục nhà lãnh đạo cách mạng lớn của Việt Nam.

Ông bà Lô-dơ-bai đã hết lòng giúp Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ trở lại Liên Xô … Lý Tam vô tội trở lại với đội ngũ chiến đấu của mình và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về nước công tác.

Ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp kết án tử hình do trước đó (ngày 8/2/1931), anh đã bắn chết tên mật thám Pháp cáo già khét tiếng tàn bạo Lơ-gơ-răng trên đường phố Sài Gòn nơi có sân bóng đá La-ray-nie.

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”.

Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp bước theo anh và các đồng chí của anh coi đó là bản Tuyên ngôn bất diệt trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

10 năm sau, kể từ ngày 17/4/1931, quân đội của phát xít Đức tiến sát Thủ đô Mát-xcơ-va trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự (tức Tợ), ba trong số 8 đoàn viên đầu tiên cùng các đồng chí Việt Nam khác đang học tập và làm việc tại Liên Xô tình nguyện tham gia sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô.

Cả ba đồng chí đã hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam Mát-xcơ-va và đều được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Vệ quốc cao quý.

Trong các cuốn biên niên sử của Đoàn ta, Đội ta, 8 đoàn viên ấy – “tám cháu hiếm hoi từ bước đầu” do Bác Hồ kính yêu bồi dưỡng, đào tạo mãi mãi là 8 đoá hoa ngát hương trong rừng hoa rực rỡ của triệu, triệu chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng, của Bác. Hãy nhận lấy và nhân lên niềm tự hào và sự vinh quang không dễ gì có được này.


Đoàn ta ra đời

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Matxcơva (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Người và các đại biểu đặc biệt quan tâm đến công tác vận động thanh niên. Cùng với việc thông qua Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Hội nghị đã thông qua Điều lệ Thanh niên Cộng sản Đoàn.

Trong Điều lệ của Đảng ghi một điều quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Hội nghị còn nêu rõ trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với công tác xây dựng Đoàn.

Quán triệt tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, tháng 10/1930, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất đã thảo luận và thông qua một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử mở ra thời kỳ mới trong quá trình xây dựng tổ chức Đoàn.

Đó là “Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động”. “Án nghị quyết” đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của tất cả các đảng viên cộng sản bằng một câu khẳng định như sau: “… Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như việc Đảng vậy…”.

Ngày 20/4/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhận được một bức thư quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài gửi về trong đó Người nhắc nhở Trung ương về việc phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn.

Đặc biệt, trong thư Người đã thông báo cho Trung ương biết số lượng đoàn viên trong cả nước đến lúc ấy là 942 đồng chí (trừ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang bị địch khủng bố ác liệt sau khi bùng nổ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh – chú thích của người viết).

Cuối thư Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất Thanh niên Cộng sản Đoàn… làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ rất phù hợp và thống nhất với chủ trương của Trung ương về quá trình xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, làm tăng thêm tầm quan trọng, tính khẩn trương của vấn đề.

Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tiến hành Hội nghị lần thứ 2. Tại Hội nghị này Trung ương đã dành nhiều thời gian trong những ngày cuối để thảo luận và tiếp tục có những quyết định quan trọng về công tác thanh vận như chính thức chỉ định một đồng chí trong Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách công tác vận động thanh niên.

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai vạch rõ: “…lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn…”.

Trước đây, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) quyết định lấy ngày 20/4 hàng năm làm ngày kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn. Đó là ngày ra đời của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba (1961), Ban Bí thư Trung ương Đoàn (khóa II) quyết định thành lập Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn nhằm từng bước làm sáng rõ những vấn đề quan trọng trong lịch sử Đoàn và phong trào thanh niên nước ta trong đó có việc xác định một cách khách quan, khoa học thời điểm ra đời của Đoàn phù hợp với thực tiễn lịch sử.

Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 đã thảo luận và biểu quyết lấy ngày 26/3/1931, một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hàng năm đúng với thực tiễn lịch sử đã diễn ra.

Theo Văn Tùng (Nhà sử học)
Phương Thúy (st)

cpv.org.vn

Thư gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 nǎm ngày thành lập Đội thiếu niên tiền phong (14-5-1961)

Các cháu yêu quý,

15 tháng 5 nǎm 1961 là ngày kỷ niệm 20 tuổi của Đội thiếu niên tiền phong. Bác gửi các cháu lời chúc mừng thân ái nhất.

Trong thời kỳ qua, từ Bắc đến Nam, thiếu niên và nhi đồng đã hǎng hái tham gia cách mạng và kháng chiến, có những thiếu niên và nhi đồng đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc, như Kim Đồng, Lê Vǎn Tám và nhiều cháu khác.

Từ ngày hoà bình trở lại, ở miền Bắc có Đảng lãnh đạo, có Đoàn giúp đỡ, các cháu đều chǎm chỉ học hành, tham gia lao động, cháu nào cũng ngoan. Bác vui lòng khen ngợi các cháu.

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ đến thiếu niên và nhi đồng ở miền Nam ruột thịt, đang bị bọn Mỹ – Diệm áp bức đoạ đày.

Để ủng hộ đồng bào miền Nam (kể cả thiếu niên và nhi đồng) đấu tranh chống Mỹ – Diệm, đồng bào miền Bắc phải thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Các cháu cũng tham gia đấu tranh, bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

– Yêu Tổquốc, yêu đồng bào.

– Học tập tốt, lao động tốt.

– Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.

– Giữ gìn vệ sinh.

– Thật thà, dũng cảm.

Mai sau, các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn!

BÁC HỒ

———————-

Báo Nhân dân, số 2610, ngày 14-5-1961.
cpv.org.vn

Vài ý kiến về “phong trào Duyên Hải” (15-5-1961)

Phong trào học tập Duyên Hải và thi đua với Duyên Hải đang phát triển mạnh ở các xí nghiệp và công trường. Đó là một điều rất tốt.

Vì sao, cũng những máy móc ấy và những công nhân ấy, trước kia thì nǎng suất thấp kém, mà nay trong các cuộc biểu diễn kỹ thuật thì nhà máy nào cũng vượt mức gấp hai, gấp ba, có khi gấp mười lần.

Bởi vì trước kia những tư tưởng sai lầm như: bảo thủ, bị động, cục bộ, tự ti… là những cái xiềng xích nó trói buộc người công nhân không để cho họ tiến tới. Ngày nay tư tưởng đúng đắn, tức là tư tưởng làm chủ nước nhà, làm chủ xí nghiệp, đã đánh thắng tư tưởng sai lầm, cởi mở cho người công nhân trở nên mạnh dạn, dám nghĩ dám làm, phá tan những mức hạn lạc hậu, khắc phục được mọi khó khǎn, xung phong vào mặt trận kỹ thuật, sáng tạo ra những lề lối sản xuất mới hơn, tốt hơn.

Do tư tưởng thông suốt mà quần chúng gây nên phong trào Duyên Hải. Lại do phong trào Duyên Hải phát triển mà tư tưởng của quần chúng càng thông suốt thêm.

Muốn cho phong trào phát triển một cách vững chắc, công nhân và cán bộ cần chú ý:

– Phải bảo đảm chất lượng – Không nên chỉ dốc sức vào số lượng nhưng không bảo đảm chất lượng, không tiết kiệm được nguyên liệu, vật liệu, không hạ được giá thành (Nhà máy dệt đã mắc khuyết điểm này).

– Phải tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”, khi biểu diễn kỹ thuật thì rất khá, nhưng khi sản xuất thì lại không đạt kế hoạch (Như phân xưởng cao su).

– Lãnh đạo phải theo dõi thật sát, kịp thời tổng kết kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cả nhà máy và trao đổi kinh nghiệm với những xí nghiệp bạn.

– Phải nắm vững mục đích của phong trào là thực hiện khẩu hiệu: sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Phong trào Duyên Hải phát triển vững chắc và rộng khắp, thì chúng ta nhất định hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm nay và hoàn thành trước thời hạn kế hoạch 5 nǎm.

T.L.

In bài
Báo Nhân dân, số 2611, ngày 15-5-1961.
cpv.org.vn

Quế Lâm phong cảnh (5-1961)

QUẾ LÂM PHONG CẢNH (28)

Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ,
Như thi trung họa họa trung thi.
Sơn trung tiều phu xướng,
Giang thượng khách thuyền quy.
Kỳ !
Nhất cửu lục nhất niên ngũ nguyệt

Dịch nghĩa

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Phong cảnh Quế Lâm đẹp bậc nhất trong thiên hạ,
Khác nào tranh vẽ trong thơ, thơ trong tranh vẽ.
Trên núi, những người hái củi ca hát.
Dưới sông, thuyền khách trở về…
Thật kỳ lạ.

5-1961

Dịch thơ

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Quế Lâm phong cảnh tuyệt vời,
Thơ đan trong họa, họa cài trong thơ.
Tiều phu trên núi hát ca,
Dưới sông thuyền khách vào ra:
Diệu kỳ!

——————–

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr.201-202.

(28) Quế Lâm phong cảnh: Là bài thơ vịnh cảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nǎm 1961. Ngày 16-5 nǎm đó Người đi máy bay từ Hà Nội đến Quế Lâm. Quế Lâm là nơi sơn kỳ thuỷ tú, phong cảnh hữu tình nổi tiếng ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), từng có câu cổ ngữ “Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ” nghĩa là phong cảnh Quế Lâm đứng bậc nhất thế giới. Đây là nơi Người từng hoạt động trong thời kỳ kháng Nhật. Trên máy bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại với đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ cùng đi, về tình hình sinh hoạt của Người hồi 1940 ở Biện sự xứ của Bát lộ quân ở Quế Lâm. Người xúc động nói: “Thế mà đã hơn hai mươi nǎm rồi. Quế Lâm hẳn đã thay đổi tươi đẹp hơn trước nhiều!”

Người đề bài thơ Quế Lâm này bằng bút lông trên giấy Tuyên chỉ, ký tên và ghi ngày tháng (16-5-1961) rồi đưa tặng Dung Hồ phạn điếm (Khách sạn Hồ cây đa) là nơi Người nghỉ lại.

Đầu đề là của chúng tôi, lấy bốn chữ đầu. Tr. 360.

cpv.org.vn

Vịnh Thái Hồ (5-1961)

VỊNH THÁI HỒ(29)

Tây Hồ (30) bất tỷ Thái Hồ mỹ,
Thái Hồ cánh tỷ Tây Hồ khoan.
Ngư chu lai khứ triêu dương noãn,
Tang đạo mãn điền, hoa mãn san.

Dịch nghĩa

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ không đẹp bằng Thái Hồ,
Thái Hồ lại rộng hơn Tây Hồ.
Thuyền đánh cá đi lại trong nắng sớm ấm áp,
Ruộng thì đầy dâu, lúa, núi thì đầy hoa.

Dịch thơ

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ khôn sánh Thái Hồ đẹp,
Thái Hồ rộng vượt Tây Hồ xa.
Thuyền cá đi về trong nắng sớm,
Ruộng đầy dâu lúa, núi đầy hoa.

—————————-

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 203-204.

(29) Thái Hồ: Hồ nước lớn thuộc địa phận hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang của Trung Quốc, còn có các tên gọi khác là Chấn Trạch, Cụ Khu, Lạp Trạch, Ngũ Hồ, là ranh giới hai nước Ngô, Việt thời Xuân Thu. Diện tích mặt hồ rất rộng, có thuyết nói đến ba vạn sáu ngàn mẫu. Trong lòng hồ có hơn mười hòn đảo lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ba hòn: Động Đình Đông, Động Đình Tây và Mã Tích (dấu chân ngựa). Phong cảnh tươi đẹp, sơn kỳ thuỷ tú, tục gọi là “động thiên phúc địa”. Nước hồ dâng lên về phía đông thành các con sông Lưu Hà, Hoàng Phố, Ngô Tùng đổ vào Trường Giang. Quanh hồ đất đai màu mỡ, là khu vực giàu có của hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tô. Ngày 17-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi thuyền du ngoạn cảnh hồ và viết bài thơ này. Tr. 362.

(30) Tây Hồ: Trung Quốc có nhiều hồ mang tên này, như Tây Hồ ở huyện Mân Hầu tỉnh Phúc Kiến, Tây Hồ ở huyện Thiên Môn tỉnh Hồ Bắc, Tây Hồ ở huyện Huệ Dương tỉnh Quảng Đông, Tây Hồ ở phía tây nam thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam, Tây Hồ tức Côn Minh Hồ ở phía tây Bắc Kinh… đều là những thắng cảnh. Tây Hồ nhắc đến hai lần trong bài này là thắng cảnh nổi tiếng nhất trong số đó, ở phía tây thành phố Hàng Châu tỉnh Chiết Giang. Hồ này còn có nhiều tên khác: hồ Tiền Đường, hồ Minh Thánh, hồ Kim Ngưu. Nhà thơ lớn Tô Thức có câu thơ “Dục bả Tây Hồ tỷ Tây Tử” (Muốn ví Tây Hồ với nàng Tây Thi), nên cũng có tên gọi là Tây Tử Hồ. Ba phía có núi bao bọc, có hai đỉnh cao đối xứng sừng sững ở hai phương Bắc, Nam. Trong hồ có hai con đê, đê Tô và đê Bạch, chia mặt nước hồ thành hồ Trong, hồ Ngoài và hồ Sau. Bốn mùa hoa thắm cỏ tươi, nổi tiếng về mười cảnh đẹp trong hồ (Tây Hồ thập cảnh). Tr.362.

cpv.org.vn

Tình hình thế giới (4-6-1961)

Trong tháng 5 vừa qua, tình hình thế giới có hai việc nổi bật:

1. Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hoà bình đã giành thêm một thắng lợi mới

Sau gần bảy nǎm chiến tranh phi nghĩa, chết người hại của, tổn tướng hao binh, kết quả là thực dân Pháp buộc phải mở cuộc đàm phán với Chính phủ kháng chiến Angiêri.

Thất bại nhục nhã trong âm mưu xâm lược, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng buộc phải đồng ý với các nước họp Hội nghị ở Giơnevơ để giải quyết vấn đề Lào.

Mặc dù hai cuộc Hội nghị đó còn gặp khó khǎn do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra, cuối cùng chính nghĩa nhất định sẽ thắng.

2. Đế quốc Mỹ tự lột trần mặt nạ xấu xa của chúng

Trong những lời tuyên bố trước thiên hạ, tổng Ken thường ba hoa dùng những danh từ như “tự do, hợp tác, chân lý, hoà bình”, v.v.. Song những cuộc xâm lược ở Cuba, ở Cônggô, ở Lào… đã chứng tỏ Ken chỉ là một tên bợm “treo đầu dê, bán thịt chó”.

Đối với miền Nam Việt Nam, chính sách Mỹ càng độc ác. Hồi giữa tháng 5, Phó Tổng thống Mỹ đã ký với Ngô Đình Diệm một bản thông cáo chung, giao hết quyền chính trị, quân sự và kinh tế ở miền Nam cho Mỹ.

Bản thông cáo ấy đã triệt để phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đã hoàn toàn lột trần mặt nạ bọn Mỹ cướp nước và bọn Diệm bán nước.

Nay các báo chí Mỹ đã công khai nói toạc âm mưu Mỹ đối với Việt Nam là: ở miền Nam, thì Mỹ tǎng gấp đôi viện trợ quân sự cho Diệm, phái bộ đội “đặc biệt” Mỹ đi vào làng mạc và tham gia các cuộc khủng bố tàn sát nhân dân đang đấu tranh anh dũng ở miền Nam. Đồng thời, Mỹ phái những tổ “đặc biệt” từ nǎm tên đến vài chục tên (vừa người Mỹ vừa bọn phản động Việt Nam) hòng nhảy dù xuống những nơi sơ hở ở miền Bắc, để phá hoại kinh tế và khuấy rối trật tự trị an.

Đế quốc Mỹ “chết thì chết nết không chừa”. Chỉ trong vòng mươi nǎm qua, nhiều nơi Mỹ đã thất bại nhục nhã, ở Triều Tiên, ở Cuba, ở Lào… Nhất là ở Trung Quốc, tám triệu quân đội Quốc dân đảng do Mỹ trang bị và huấn luyện, do hải quân và không quân Mỹ giúp sức, đã bị nhân dân Trung Quốc đánh tan tành. Tên tướng cướp già Tưởng Giới Thạch đã phải chạy sang Đài Loan. Đế quốc Mỹ bị đuổi ra khỏi Trung Quốc. ở Việt Nam, đế quốc Mỹ và Việt gian Diệm cũng sẽ không tránh khỏi số phận nhục nhã ấy. Chúng không thể ngǎn trở bánh xe lịch sử tiến lên. Bánh xe lịch sử sẽ nghiến tan chúng.

Tuy vậy, toàn dân ta từ Nam đến Bắc, từ thành thị đến nông thôn, đều phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, khắp nơi phải sẵn sàng đề phòng như trong thời kỳ kháng chiến. Hễ bọn tay sai “đặc biệt” của Mỹ đến đâu cũng sẽ sa vào lưới “thiên la địa võng” của nhân dân ta.

Trước kia, nhân dân ta đã thắng thực dân Pháp. Nhân dân ta tỉnh táo thì nhất định sẽ phá tan âm mưu đế quốc Mỹ ngày nay.

T.L.

———————–

Báo Nhân dân, số 2631, ngày 4-6-1961
cpv.org.vn

Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam (1-7-1961)

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công làm chấn động cả thế giới. Chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu truyền đến Trung Hoa, nước to nhất thế giới mà bọn đế quốc gọi một cách khinh miệt là “con sư tử mê ngủ”.

Ngày 1-7-1921, tại một gian phòng bé nhỏ ở thành phố Thượng Hải xa hoa, 12 người cách mạng (trong đó có đồng chí Mao Trạch Đông) khai hội thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, gồm 50 đảng viên (hiện nay có hơn 17 triệu đảng viên). Từ đó, vận mệnh nước Trung Hoa bắt đầu chuyển biến.

Sau 28 nǎm đấu tranh vô cùng anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Đông, Giải phóng quân đã tiêu diệt hơn tám triệu quân đội của Tưởng Giới Thạch do Mỹ trang bị, đã đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi Trung Quốc và một nước Trung Hoa Nhân dân Cộng hoà được lập nên (1949).

Trong 12 nǎm xây dựng, Đảng Cộng sản lãnh đạo 650 triệu nhân dân thi đua lao động quên mình, đưa Trung Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu, “một cùng, hai trắng” thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh.

40 nǎm vẻ vang, 40 nǎm thắng lợi. Nhiều đồng chí đã viết những trang lịch sử vĩ đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc anh em. ở đây, tôi chỉ kể lại mấy điều như sau:

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, quan hệ mật thiết với nhau đã bao thế kỷ. Lẽ tất nhiên, quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam cũng đặc biệt gắn bó. Ví dụ:

– Ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác -Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.

– Hội “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí” (1925), Hội nghị để hợp nhất các nhóm cộng sản Việt Nam thành một đảng Mác-Lênin (1930), Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương (1935) đều tổ chức ở Trung Quốc và được các đồng chí Trung Quốc hết lòng giúp đỡ.

– Liên Xô đánh tan quân phiệt Nhật ở Đông – Bắc đã giúp Trung Quốc kháng chiến thắng lợi. Trung Quốc kháng chiến thắng lợi đã tạo điều kiện tốt cho Cách mạng Tháng Tám Việt Nam thành công.

– Từ nǎm 1946 về sau, Đảng Cộng sản phải chiến đấu liên miên chống quân phản động Tưởng Giới Thạch do Mỹ giúp đỡ, (mở đầu cuộc nội chiến, Mỹ đã trang bị với vũ khí hiện đại cho 4 triệu 30 vạn quân Tưởng, cộng với vũ khí lấy của một triệu lính Nhật). Nǎm 1947, giặc Tưởng đánh chiếm Diên An. Tuy trong hoàn cảnh khó khǎn như vậy, Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc vẫn hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

– Ngày nay, với Liên Xô và các nước anh em khác, Trung Quốc tận tình giúp đỡ chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Mối quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam thật là:

Trǎm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,
Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!

Riêng về phần tôi, trong hai thời kỳ, tôi đã có vinh dự hoạt động trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đến Quảng Châu hồi 1924-1927, tôi vừa theo dõi phong trào cách mạng trong nước ta, vừa tham gia công việc do Đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó. Lúc đó, ở Trung Quốc phong trào công nông đang lên mạnh. Từ tháng 5-1925 trở đi, hầu khắp các thành phố lớn đều có những cuộc bãi công chính trị. To nhất là cuộc bãi công chống đế quốc Anh ở Hương Cảng, hơn 25 vạn công nhân tham gia và kéo dài đến 16 tháng. Phong trào nông dân cũng bắt đầu mở rộng, nhất là ở Hồ Nam (do đồng chí Mao Trạch Đông tổ chức) và ở Quảng Đông (do đồng chí Bành Bái lãnh đạo). Để đẩy mạnh phong trào nông dân, đồng chí Mao tổ chức “Nông dân vận động giảng tập sở” để đào tạo cán bộ nông vận cho 19 tỉnh trong nước.

Tôi được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc “tuyên truyền đối ngoại”, tức là viết bài về phong trào công nông cho một tờ báo bằng chữ Anh.

Lần thứ hai tôi đến Trung Quốc (cuối 1938) vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Là một người binh nhì trong “Bát lộ quân”, tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó, được bầu làm bí thư chi bộ (kiêm phụ trách nghe rađiô) của một đơn vị ở Hành Dương.

Thế là tôi học được một ít kinh nghiệm xây dựng Đảng, khi ở Liên Xô; kinh nghiệm đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, khi ở nước Pháp; kinh nghiệm chống thực dân và phong kiến, khi ở Trung Quốc. Trong lúc đó, các đồng chí Trung Quốc ra sức giúp tôi chắp liên lạc với trong nước ta. Trung ương ta có phái đồng chí X. ra Long Châu tìm tôi. Tiếc vì X. bị một người “bạn” xoáy hết tiền, phải trở về nước trước khi tôi đến Long Châu.

Nhưng sau đó, các đồng chí Trung Quốc vẫn giúp tôi chắp được liên lạc để về nước hoạt động…

Nói tóm lại: Vì cùng chung một mục đích cao cả, những người cộng sản khắp thế giới vừa đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tinh thần quốc tế vô sản, vừa có cảm tình khǎng khít thương yêu nhau như anh em một nhà.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân ta gửi đến Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại, đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Đông yêu quý lời chúc mừng thân ái nhất và nhiệt liệt nhất !

————————-

Báo Nhân dân, số 2658, ngày 1-7-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại lớp học nghiệp vụ nấu ǎn đầu tiên toàn miền Bắc (2-7-1961)

1- Ǎn là rất cần thiết. Người ta phải ǎn để sống, để lao động, để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tục ngữ có nói: Có thực mới vực được đạo. Điều đó ai cũng hiểu, không cần nói nhiều.

2- Nhưng nhiều người chưa hiểu rõvị trí của những người nấu ǎn và dọn ǎn. Vì vậy mà có những ý nghĩ sai lầm như:

– Xem khinh nghề nấu ǎn và dọn ǎn, cho rằng nghề đó là nghề hầu hạ người khác.

– Cho rằng nghề đó không có tiền đồ. Thậm chí e làm nghề đó thì trai sẽ ế vợ, gái sẽ ế chồng, v.v.. Những ý nghĩ đó hoàn toàn không đúng.

3- Ǎn thì phải nhờ có nông dân sản xuất gạo, rau, cá, thịt… Nhưng còn cần phải nhờ vào những người nấu nướng, chế biến thành thức ǎn. Vậy những người nấu ǎn và dọn ǎn có nhiệm vụ rất quan trọng. Ví dụ: các anh chị nuôi ở nhà máy nấu, dọn kịp thời, cơm lành canh ngọt. Anh chị em công nhân được ǎn uống đúng giờ và thoải mái, họ có sức khoẻ dồi dào để nâng cao nǎng suất lao động, làm ra nhiều máy móc nông nghiệp. Nhờ có máy móc mà nông dân tham gia sản xuất tốt. Công nhân và nông dân đều sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ thì đời sống của dân ta được nâng cao nhiều, chúng ta sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc đến chủ nghĩa xã hội, nước nhà sẽ sớm thống nhất.

Thế là vì làm tốt nhiệm vụ, mà những người nấu ǎn và dọn ǎn đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung.

Một điểm quan trọng nữa là vấn đề giải phóng phụ nữ. Kinh tế của ta càng phát triển, nhà ǎn công cộng càng thêm nhiều, thì phụ nữ sẽ rảnh rang để tham gia lao động. Như vậy, phụ nữ mới thật được giải phóng, nam nữ mới thật là bình quyền. Mà muốn mở thêm nhiều nhà ǎn công cộng thì phải có nhiều anh nuôi, chị nuôi tốt.

4- Có vị trí và nhiệm vụ quan trọng như vậy, cho nên anh nuôi, chị nuôi cần phải trau dồi phẩm chất và học tập nghề nghiệp của mình cho thông thạo. Về điểm này, chắc hội nghị sẽ có những báo cáo gương mẫu. Bác chỉ nói tóm tắt như sau: Các cô các chú phải:

– Luôn luôn nâng cao tinh thần làm chủ, tinh thần trách nhiệm.

– Phải thi đua với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm cho nhau, để không ngừng tiến bộ.

– Phải biết tiết kiệm, quý trọng của công, chống tham ô, lãng phí.

– Phải có thái độ tốt đối với mọi người.

5- Những khách ǎn thì phảicó ý thức tôn trọng và giúp đỡ những anh chị em phục vụ và giữ gìn vệ sinh. Ví dụ: khi ǎn chớ vất xương xóc bừa bãi, ǎn xong thì sắp xếp bát đũa cho gọn gàng để người phục vụ dọn dẹp được nhanh chóng hơn, v.v..

6- Để làm cho nhà ǎn công cộng ngày càng tốt, những anh chị em nấu, dọn là chủ chốt. Nhưng cán bộ phụ trách các công đoàn, các cơ quan, các tiệm cơm, các đơn vị bộ đội, các cơ quan y tế… đều có trách nhiệm. Nếu những cán bộ ấy khoán trắng, buông trôi, thì nhà ǎn sẽ không tốt. Cho nên cán bộ phụ trách cần phải hàng ngày xem xét tình hình nhà ǎn, lắng nghe ý kiến quần chúng, giúp đỡ anh chị nuôi giải quyết các khó khǎn, luôn luôn quan tâm đến sự ǎn uống, vệ sinh và sức khoẻ của quần chúng. Như thế thì nhà ǎn nhất định tiến bộ không ngừng.

7- Có người nói: làm việc bếp núc vất vả, không học tập được, không vẻ vang. Nói vậy không đúng.

Ngày trước, Bác cũng đã làm phụ bếp. Lúc đó Bác là vong quốc nô, làm phụ bếp cho thực dân Pháp. Công việc vất vả từ 5 giờ sáng đến 9, 10 giờ tối. Nhưng Bác vẫn học được vǎn hoá và chính trị. Cóquyết tâm thì nhất định học được. Ngày nay, các cô, các chú có điều kiện thuận lợi hơn nhiều. Bác mong các cô, các chú cố gắng học để tiến bộ.

Ngày nay, ở nước ta và các nước anh em, vẻ vang nhất là danh hiệu anh hùng lao động. Chúng ta có mấy mươi anh hùng lao động, trong số đó có hai anh hùng là anh nuôi (Đinh Vǎn Mẫu và Hoàng Vǎn Dược). Vậy là nấu bếp mà xuất sắc cũng là anh hùng, cũng rất vẻ vang.

Bác mong các cô, các chú cố gắng thi đua và tiến bộ nhiều để mai sau chúng ta có nhiều anh nuôi, chị nuôi giành được danh hiệu anh hùng vẻ vang.

—————————

Nói ngày 2-7-1961. Báo Nhân dân, số 2661, ngày 4-7-1961.
cpv.org.vn

Chúc mừng cách mạng Mông Cổ (11-7-1961)

Nhân dịp chúc mừng lần thứ 40 ngày thắng lợi của cách mạng Mông Cổ, tôi thân ái chuyển đến nhân dân Mông Cổ anh em lời chúc mừng nhiệt liệt nhất của nhân dân Việt Nam.

Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng, nhân dân Mông Cổ đã tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng của mình và lập nên nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ.

Trong 40 nǎm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng, với tinh thần lao động sáng tạo của mình và sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước anh em khác, nhân dân Mông Cổ đã xây dựng đất nước của mình từ một nước lạc hậu chuyên làm nghề chǎn nuôi trở thành một nước có nông nghiệp và công nghiệp tiến bộ.

Đặc biệt trong nǎm qua, nhân dân Mông Cổ đã hoàn thành vượt mức thời hạn kế hoạch 3 nǎm (1958-1960).

– Về chǎn nuôi, ngày nay nhân dân Mông Cổ đứng hàng đầu trên thế giới về số lượng súc vật, tính theo đầu người.

– Về nông nghiệp, đã cǎn bản hoàn thành hợp tác hoá, đã thu hoạch một vụ mùa lớn nhất xưa nay chưa từng có và đã thoả mãn nhu cầu của nhân dân về bột mì.

– Về công nghiệp, từ chỗ không có gì, nhân dân Mông Cổ đã xây dựng được một nền công nghiệp gồm nhiều ngành và một hệ thống vận tải hiện đại. Sản xuất công nghiệp đã chiếm gần một nửa tổng sản lượng của nền kinh tế quốc dân.

– Về vǎn hoá, giáo dục, y tế, v.v. cũng đã đạt được nhiều thành tích to lớn.

Nhân dân Mông Cổ vừa ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa ra sức góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới.

Việt Nam và Mông Cổ là hai nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô vĩ đại là trung tâm. Nhân dân hai nước chúng ta gắn bó với nhau bằng một mối tình anh em thắm thiết. Trong cuộc kháng chiến trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà hiện nay, nhân dân Việt Nam luôn luôn được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Mông Cổ. Nhân dịp này, chúng tôi gửi đến Đảng, Chính phủ và nhân dân Mông Cổ anh em lời cảm ơn chân thành và lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Tôi cũng thân ái gửi đến các cháu thanh niên và nhi đồng Mông Cổ nhiều cái hôn.

Chúc tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mông Cổ ngày càng bền vững.

——————

Báo Nhân dân, số 2.668, ngày 11-7-1961.
cpv.org.vn

Trả lời phóng viên Thông tấn xã Cộng hoà Dân chủ Đức (21-7-1961)

Hỏi: Thưa đồng chí Chủ tịch, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quan trọng như thế nào đối với toàn bộ nước Việt Nam?

Trả lời: Mục đích việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân miền Bắc Việt Nam và đồng thời tạo cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để hoà bình thống nhất đất nước của mình.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết có gì ẩn đằng sau lời vu cáo của Ngô Đình Diệm về cái gọi là “hoạt động khuynh đảo” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam không?

Trả lời: Việc cho rằng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có những “hoạt động khuynh đảo” ở miền Nam Việt Nam là một điều vu cáo hèn hạ của bè lũ Mỹ – Diệm. Điều vu cáo này nhằm che lấp việc phá hoại Hiệp định Giơnevơ và việc biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và cǎn cứ quân sự của Mỹ. Điều vu cáo đó còn nhằm tǎng cường khủng bố nhân dân miền Nam Việt Nam đang đấu tranh chống chế độ độc tài phát xít của bè lũ Mỹ – Diệm, giành cho mình quyền sống, dân chủ, hoà bình và thống nhất. Đây là kết quả bảy nǎm chấp chính của Ngô Đình Diệm: 9 vạn người bị giết và bị thương, 67 vạn người bị giam trong các nhà tù và trại tập trung, 50 vạn người bị tra tấn. Trong số hơn 13 triệu nhân dân miền Nam Việt Nam, thì hơn một triệu là nạn nhân của chế độ độc tài phát xít. Từ nǎm 1954, nghĩa là từ bảy nǎm nay không có ngày nào là không có chém giết, cướp bóc, đốt nhà và tra tấn dã man. Cuộc đấu tranh chống chế độ dã man ấy là quyền thiêng liêng của đồng bào chúng tôi ở miền Nam Việt Nam. Không có bạo lực hay vu cáo nào có thể làm cản trở được mục đích đó đi tới thắng lợi.

Hỏi: XinChủ tịch cho biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi theo đường lối nào để thống nhất Việt Nam?

Trả lời: Chúng tôi kiên quyết đấu tranh thống nhất Tổ quốc bằng đường lối hoà bình và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ.

Hỏi: Việc ký hoà ước với Đức trong nǎm nay và việc giải quyết vấn đề Tây Bá Linh theo đề nghị trong giác thư của Liên Xô, có một tầm quan trọng đối với việc duy trì hoà bình ở châu Âu. Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có cho rằng việc ký hoà ước như thế cũng có kết quả tốt đối với tình hình Đông – Nam á không?

Trả lời: Một hoà ước ký với hai nước Đức và việc giải quyết vấn đề Tây Bá Linh, theo như Liên Xô đề nghị trong bức giác thư của mình là nhằm để củng cố hoà bình và xoá bỏ mối đe doạ chiến tranh ở châu Âu. Chắc chắn rằng việc ấy có kết quả tốt đối với Đông – Nam á cũng như đối với toàn thế giới. Vì vậy, nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới nhiệt liệt ủng hộ những đề nghị của Liên Xô.

—————————-

Báo Nhân dân, số 2.678, ngày 21-7-1961.
cpv.org.vn