Tag Archive | Tin tức

Bài nói với cán bộ và đồng bào tỉnh Nam Định (13-8-1958)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thǎm các cô các chú để khuyến khích đồng bào và cán bộ quyết tâm thực hiện vụ mùa thắng lợi.

Trước hết, chúng ta phải rút những kinh nghiệm của vụ chiêm vừa qua.

Trong vụ chiêm, tỉnh nhà đã cấy được 95% diện tích, như thế là khá. Nhưng thu hoạch chỉ được 73% kế hoạch đã định, tức là đã rút bớt 44.000 tấn thóc. Vì sao?

Vì nhiều nguyên nhân, như hạn hán, sâu bọ, v.v..

Chúng ta phải nhận rằng việc chống hạn đã thắng lợi một phần. Nếu lúc đó không ra sức chống hạn, thì thu hoạch còn kém hơn nữa.

Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng nguyên nhân chính đã gây ra sự sút kém là vì cán bộ lãnh đạo đã mắc bệnh chủ quan nặng, cho nên việc chống hạn, diệt sâu, trữ nước, bón phân… đều không tích cực, không kịp thời. Kết quả là đã sút kém 44.000 tấn thóc.

Ở đây cũng nên nêu lên một điểm: các huyện phía nam ruộng đất tốt hơn các huyện phía bắc. Nhưng vụ chiêm vừa rồi, vì đồng bào phía bắc đã cố gắng hơn, không chủ quan, cho nên đã thu hoạch khá hơn phía nam. Như xã Lộc Hoà, đã gặt được mỗi mẫu tây 2.170kg, đồng chí Hoà (Bí thư xã Lộc Yên) được 3.500 kg mỗi mẫu tây. Đó là một bài học cần phải nhớ.

Kinh nghiệm vụ chiêm là: Cán bộ lãnh đạo phải hết sức tránh chủ quan.

*

*     *

Vụ mùa này, kế hoạch định 202.800 mẫu ta, cả tỉnh đã cấy được 181.800 mẫu. Bước đầu như thế là khá. Nhưng còn phải cố gắng cấy cho hết 21.000 mẫu còn lại. Bác rất vui lòng khen 3 huyện ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc đã cấy hơn vụ mùa nǎm ngoái 5.238 mẫu. Đó là một cố gắng mà đồng bào các huyện khác nên làm theo.

Về sản lượng, cả tỉnh đặt mức trung bình 23 tạ một mẫu tây, như thế là khá. Nhưng có thể cố gắng hơn nữa.

Huyện ý Yên có đồng bào định mức 45 tạ.

Huyện Nam Trực có 287 người định mức 45 tạ.

Huyện Xuân Trường có 174 hộ định mức 65 tạ và mức bình quân toàn huyện là 25 tạ.

Như thế là rất tốt. Mong toàn thể đồng bào trong tỉnh ra sức thi đua với những bà con đó.

Chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa thi đua:

Thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là nhằm mục đích ích nước và lợi nhà (những tập thể và cá nhân thi đua tốt nhất lại được danh hiệu vẻ vang là Anh hùng và Chiến sĩ lao động). Vì vậy, chúng ta nói: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.

Thi đua không phải là tranh đua, không phải là giấu nghề. Trái lại, trong thi đua, bà con phải giúp đỡ nhau, khuyến khích lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm cho nhau để cùng tiến bộ. Vì vậy, chúng ta nói: Thi đua phải đoàn kết, đoàn kết để thi đua.

*

*     *

Muốn thu hoạch nhiều, tục ngữ ta có câu: Một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật.

– Về nước – Hiện nay nước tạm đủ. Nhưng phải hết sức chú ý chống úng. Đồng thời phải giữ lấy nước cho vụ chiêm.

– Về phân – Tỉnh định mức mỗi sào 8 đến 10 gánh. Thanh niên nhận làm 15 gánh.

Một số hợp tác xã, tổ đổi công và cá nhân thi đua bón 20 gánh. Như thế là khá. Song thế vẫn còn ít. Cần phải cố gắng bón nhiều phân hơn nữa.

– Ba cần – Là từ khi chọn giống làm mạ cho đến khi lúa đã về nhà, phải siêng chǎm nom từng việc, từng bước. Nếu cho cấy xong là xong, mà không “cần”, tức là không chịu khó làm cỏ, bỏ phân, diệt sâu, phòng hạn… thì nhất định lúa không tốt và thu hoạch sẽ kém.

– Bốn là cải tiến kỹ thuật – Thế giới ngày nay có máy móc tối tân, có vệ tinh nhân tạo. Nhưng cách cày cấy của ta còn rất cũ kỹ, rất lạc hậu, vì vậy khó nhọc nhiều mà thu hoạch ít. Để tiến bộ, chúng ta phải cải tiến kỹ thuật.

Hiện nay ở nông thôn Nam Định có 7.171 đảng viên, 39.039 đoàn viên thanh niên, 2 hợp tác xã nông nghiệp, 10.209 tổ đổi công, có nông hội, có chiến sĩ nông nghiệp, lại có các đồng chí bộ đội. Đó là đội quân chủ lực để đảm bảo vụ mùa thắng lợi.

Tuy vậy, còn có 2.803 đảng viên và 13.800 đoàn viên chưa tham gia tổ đổi công hoặc hợp tác xã. Thử hỏi các đồng chí ấy làm gì mà không tham gia? Và như thế, phải chǎng là làm đúng nhiệm vụ của người đảng viên và đoàn viên?

Còn trong số tổ đổi công, mới có 2.157 tổ là thường xuyên, 350 tổ thì không hoạt động. Nhiệm vụ cần kíp của các cấp uỷ đảng và Đoàn là phải giúp đỡ, củng cố và làm cho tất cả các tổ đổi công và hợp tác xã hoạt động thật sự, hoạt động tốt.

Nhân dịp này, Bác có lời khen ngợi đồng bào xã Vụ Bản đã toàn thể tham gia tổ đổi công và đồng bào xã Dao Lạc đã vượt khó khǎn tổ chức được 15 tổ đổi công. Mong đồng bào hai xã ấy cố gắng và tiến bộ hơn nữa.

Một việc nữa cần phải hết sức chú ý là giữ đê, phòng lụt. Nǎm nay Nam Định đắp đê đúng kỳ hạn, chất lượng tương đối khá, nhưng có nơi như huyện Nghĩa Hưng thì còn kém. Nói chung việc tập dượt chưa đều đặn, chưa đạt mức. Mọi người phải hiểu rằng: muốn chắc vụ mùa thắng lợi, thì việc giữ đê phòng lụt phải làm đến nơi đến chốn. Trong mùa mưa, cán bộ phải luôn luôn đi kiểm tra chu đáo, nhân dân các xã phải luôn luôn sẵn sàng phòng lụt, hộ đê.

Trong việc tranh thủ vụ mùa thắng lợi, tỉnh nhà có nhiều sáng kiến, có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có một số khó khǎn tạm thời.

Có người lầm tưởng rằng sản xuất nhiều thì sẽ phải nộp thuế nhiều. Tưởng như vậy là không đúng. Bác đảm bảo với đồng bào như sau: nơi nào đã làm xong việc định diện tích sản lượng, thì sẽ nộp thuế nông nghiệp theo diện tích sản lượng, nơi nào chưa làm xong thì cố làm cho xong và có thể tạm nộp theo mức thuế nǎm ngoái. Chính phủ quyết không tǎng thuế vào số sản xuất vượt mức.

Nông dân ta quen thói bón phân quá ít, thậm chí có nơi còn cấy chay. Đối với thói quen bảo thủ ấy, cán bộ phải ra sức tuyên truyền, giải thích, giáo dục cho mọi người hiểu rằng: “phân cho lúa là của cho người”.

Có vài nơi, chị em phụ nữ không quen cày cấy. Thậm chí không gánh được phân mà phải đội. Đối với điểm này, chị em phải cố gắng thi đua với nam giới, nam nữ phải bình quyền cơ mà. Cán bộ cũng phải chịu khó tuyên truyền giáo dục. Trước kia phụ nữ ta có học quân sự bao giờ; nhưng trong kháng chiến có những đội nữ du kích đánh giặc rất giỏi. Đánh giặc là việc nguy hiểm, thế mà phụ nữ ta đã tỏ ra rất oanh liệt. Không lẽ việc cày cấy làm ǎn mà chị em lại chịu thua người!

Bác mong chị em những nơi đó cố gắng học tập và thi đua, noi gương những nữ anh hùng lao động đã được tuyên dương trong Đại hội thi đua công nông binh vừa rồi ở Thủ đô.

Để tranh thủ vụ mùa thắng lợi, cán bộ lãnh đạo từ tỉnh đến huyện, đến xã cần phải:

Nhớ kỹ bài học vụ chiêm, tuyệt đối chớ chủ quan, tự mãn. Phải đi thật sát với quần chúng. Mọi việc phải lãnh đạo kịp thời, chu đáo. Từ bây giờ cho đến khi thóc vào bồ, ngô vào cót, luôn luôn phải lãnh đạo chặt chẽ. Làm vụ mùa cho tốt đồng thời phải chuẩn bị tốt cho vụ chiêm sau. Phải hết sức chú ý giữ nước phòng hạn, giữ đê phòng lụt.

Với tinh thần đoàn kết và truyền thống anh dũng của đồng bào Nam Định, chắc rằng cán bộ sẽ biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn dân, quyết ra sức thi đua làm cho vụ mùa nǎm nay thành một vụ mùa thắng lợi lớn. Những đơn vị nào thu hoạch vụ mùa khá nhất trong tỉnh, sẽ được giải thưởng đặc biệt.

—————————

Nói ngày 13-8-1958.
Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Điện chia buồn về việc nhà bác học Pháp Giôliô Quyri từ trần (15-8-1958)

Kính gửi Viện Hàn lâm nước Pháp,

Tôi vô cùng đau đớn nhận được tin giáo sư Giǎng Phrêđêrích Giôliô Quyri, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp trong Viện Hàn lâm nước Pháp, vừa từ trần. Giáo sư đã hiến tất cả cuộc đời quang vinh của mình cho khoa học, cho sự nghiệp hoà bình và cho hạnh phúc của nhân loại. Giáo sư mất đi là tổn thất rất lớn không những cho nhân dân Pháp, mà còn cho cả nhân dân toàn thế giới. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi trân trọng gửi tới Viện Hàn lâm nước Pháp và gia quyến nhà bác học vĩ đại lời chia buồn chân thành và thương tiếc.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————
Báo Nhân dân, số 1617, ngày 16-8-1958.
cpv.org.vn

Điện chia buồn về việc nhà bác học Pháp Giôliô Quyri từ trần (15-8-1958)

Kính gửi Viện Hàn lâm nước Pháp,

Tôi vô cùng đau đớn nhận được tin giáo sư Giǎng Phrêđêrích Giôliô Quyri, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp trong Viện Hàn lâm nước Pháp, vừa từ trần. Giáo sư đã hiến tất cả cuộc đời quang vinh của mình cho khoa học, cho sự nghiệp hoà bình và cho hạnh phúc của nhân loại. Giáo sư mất đi là tổn thất rất lớn không những cho nhân dân Pháp, mà còn cho cả nhân dân toàn thế giới. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi trân trọng gửi tới Viện Hàn lâm nước Pháp và gia quyến nhà bác học vĩ đại lời chia buồn chân thành và thương tiếc.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

——————–
Báo Nhân dân, số 1617, ngày 16-8-1958.
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hoà bình (24) (16-8-1958)

Kính gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hoà bình,

Trong tình hình hiện nay, Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hoà bình họp là rất hợp thời.

Nhân dịp Đại hội, tôi thân ái gửi lời chào các đại biểu.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Đại hội hoà bình thế giới ở Xtốckhôm (25) vừa rồi.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh những thành tích của nhân dân Việt Nam ta góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới.

Hiện nay, nhiệm vụ của phong trào hoà bình là kiên quyết đòi quân đội Mỹ – Anh rút ra khỏi Libǎng và Gióocđani;

Đấu tranh đòi cho được giảm quân bị, ngừng thử và cấm dùng các thứ vũ khí nguyên tử và khinh khí;

Bỏ các khối quân sự, các cǎn cứ quân sự ở nước ngoài;

Ký hiệp ước an ninh tập thể châu Âu và châu Á;

Chấm dứt mọi sự can thiệp, tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc;

Mở rộng việc trao đổi kinh tế, vǎn hoá giữa các nước trên nguyên tắc bình đẳng hai bên cùng có lợi.

Để nhân dân ta góp sức với nhân dân thế giới làm tốt nhiệm vụ đó, tôi thấy Đại hội hoà bình Việt Nam nên chú ý những điểm cǎn bản sau đây:

– Bảo vệ hoà bình tức là chống chiến tranh. Ai cũng biết kẻ gây ra chiến tranh là chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Cho nên, muốn chống chiến tranh, muốn bảo vệ hoà bình thì phải chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu.

– Nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa đang đấu tranh giải phóng và nhân dân các nước vừa thoát khỏi ách thực dân thì đang đấu tranh giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Đó là những người đang trực tiếp làm cho chủ nghĩa thực dân đế quốc suy yếu. Đó là lực lượng to lớn bảo vệ hoà bình thế giới. Cho nên phong trào hoà bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc.

– Phong trào hoà bình cần đoàn kết tất cả các lực lượng đấu tranh cho hoà bình. Nhưng cần lấy lực lượng các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu làm trụ cột. Vì các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương thực hiện nǎm nguyên tắc chung sống hoà bình giữa hai chế độ khác nhau và kiên quyết chống chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược, đồng thời có lực lượng vững mạnh, nhất là có Liên Xô và Trung Quốc đủ khả nǎng ngǎn ngừa chiến tranh.

Cǎn cứ vào nhận định ấy, phong trào hoà bình Việt Nam ta cần kiên quyết chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, kiên quyết đấu tranh cho Hiệp định Giơnevơ được thi hành đầy đủ để tranh thủ thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hoà bình; tham gia động viên thi đua xây dựng miền Bắc vững mạnh để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; ra sức ủng hộ phong trào độc lập dân tộc và hưởng ứng các phong trào hoà bình quốc tế; đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, với nhân dân các nước Á – Phi và nhân dân toàn thế giới.

Giữ gìn hoà bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân

Việt Nam phải là một chiến sĩ hǎng hái đấu tranh cho hoà bình.

Tôi chúc Đại hội thành công tốt đẹp và chúc các đại biểu mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 16 tháng 8 nǎm 1958
HỒ CHÍ MINH

——————————————

Báo Nhân dân, số 1618, Ngày 17-8-1958.

(24) Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hoà bình: Họp tại Hà Nội, ngày 16-8-1958. Dự Đại hội có 700 đại biểu trong Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, đại biểu các đảng, các đoàn thể ở trung ương và Hà

Nội, đại biểu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các khu, tỉnh, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và đại biểu các tầng lớp nhân dân Thủ đô. Các đại biểu đã nhất trí thông qua bản Nghị quyết của Đại hội và danh sách 63 vị do Đại hội giới thiệu vào Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam. Bản nghị quyết của Đại hội nêu rõ lập trường của nhân dân Việt Nam hưởng ứng phong trào hoà bình thế giới, ủng hộ phong trào độc lập dân tộc và đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới; kiên quyết đấu tranh chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam. Đại hội cũng bày tỏ sự hưởng ứng của nhân dân ta đối với Nghị quyết của Đại hội Xtốckhôm, đòi Mỹ, Anh rút quân khỏi Libǎng và Gioócđani, cấm thử vũ khí nguyên tử, thực hiện giải trừ quân bị, làm cho tình hình thế giới bớt cǎng thẳng… Tr.217.

(25) Đại hội hoà bình thế giới: Họp ở Xtốckhôm (Thuỵ Điển) từ ngày 16 đến ngày 22-7-1958. Dự Đại hội có 1800 đại biểu của hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có Đoàn đại biểu nước ta.

Đại hội đã nhất trí lên án hành động xâm lược của Mỹ và Anh ở Trung Đông; đòi Mỹ, Anh phải rút quân khỏi Libǎng và Gioócđani. Đại hội ra quyết nghị đòi ngừng ngay việc thử vũ khí nguyên tử và đi đến giải trừ quân bị. Đại hội kêu gọi các lực lượng hoà bình thế giới đoàn kết rộng rãi, mở rộng hàng ngũ để động viên nhân dân các nước tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh cho hoà bình. Đại hội đã bày tỏ sự ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta. Tr.217.

cpv.org.vn

Chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng thọ 70 tuổi (20-8-1958)

Thưa lão đồng chí,

Hôm nay, chúng tôi rất sung sướng chúc mừng đồng chí 70 tuổi.

Thưa các đồng chí,

Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, suốt 50 nǎm đã không ngừng hoạt động cách mạng. 17 nǎm bị thực dân Pháp cầm tù, chín nǎm tham gia lãnh đạo kháng chiến, bốn nǎm phấn đấu để giữ gìn hoà bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi nhưng rất trẻ, đối với Đảng, đồng chí là 29 tuổi; đối với nước Việt Nam độc lập, đồng chí là 13 tuổi.

Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi tác đã cao, nhưng vẫn cố gắng để phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng:

Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch Hội Việt – Xô hữu nghị, Chủ tịch danh dự ủy ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam,ủy viên Hội đồng hoà bình thế giới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Vì vậy, hôm nay chẳng những chúng ta ở đây, mà toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam và toàn thể nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình đều vui mừng chúc người lão chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng sống lâu, mạnh khoẻ.

Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy.

———————-

Báo Nhân dân, số 1621, ngày 20-8-1958.
cpv.org.vn

Đào tạo thế hệ tương lai là trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang (13-9-1958)

Vì lợi ích mười nǎm thì phải trồng cây, vì lợi ích trǎm nǎm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Mong mọi người phải cố gắng làm trọn nhiệm vụ.

Tất cả các giáo viên chớ nên cho học thế này đã là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi.

 

—————————

Nói ngày 13-9-1958.
Báo Nhân dân, số 1645, ngày 14-9-1958.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại công trường thuỷ lợi Bắc – Hưng – Hải (20-9-1958)

Ngày trước, dưới chế độ thực dân và phong kiến, ba tỉnh Bắc – Hưng – Hải mười nǎm chín hạn. Nǎm nào cũng đói kém. Nhân dân cực khổ nghèo nàn.

Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, cải cách ruộng đất thành công, đời sống đồng bào ba tỉnh đã được cải thiện ít nhiều. Nhưng mỗi nǎm mỗi tỉnh vẫn phải tốn từ 1 triệu rưởi đến 3 triệu ngày công vào việc khơi mương, đào giếng, tát nước, chống hạn. Tốn nhiều công sức, nhưng vẫn còn nhiều ruộng thiếu nước cấy và thu hoạch vẫn bấp bênh.

Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thuỷ lợi Bắc – Hưng – Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào.

Vậy cán bộ và đồng bào phải có quyết tâm vượt mọi khó khǎn, làm cho nhanh, cho tốt. Công trình Bắc – Hưng – Hải thành công thì mỗi nǎm đồng bào đỡ mấy triệu công chống hạn, thu hoạch lại tǎng thêm.

Bây giờ chịu khó phấn đấu trong mấy tháng. Sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trǎm nǎm.

Cán bộ cần phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể nhân dân.

Những đồng bào có sức lao động thì phải hǎng hái đi phục vụ.

Các cụ phụ lão thì hǎng hái động viên con cháu.

Chị em phụ nữ thì khuyến khích chồng con đi dân công.

Như vậy, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Đối với dân công:

1. Phải giáo dục tốt. Phải công tác chính trị tốt. Phải làm cho mọi người hiểu rõ rằng: công trình Bắc – Hưng – Hải là lợi ích chung, ích lợi to, ích lợi lâu dài cho mỗi một người dân ba tỉnh. Đó là việc ích nước lợi nhà.

Phải làm cho mọi người vui vẻ và hǎng hái góp công góp sức.

2. Phải tổ chức tốt. Từ thôn xóm đến công trường, phải tổ chức sẵn sàng và chặt chẽ. Hễ đến phiên người nào, tổ nào đi phục vụ, là sẵn sàng đi ngay, không chút chậm trễ.

3. Phải lãnh đạo tốt. Dân công cũng như quân đội, phải có lãnh đạo và kỷ luật chặt chẽ. Mỗi đội phải có cán bộ phụ trách chỉ huy.

Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải xung phong làm đầu tàu, làm gương mẫu.

4. Dụng cụ phải sẵn sàng. Khi tổ chức dân công, cán bộ các xã phải nhắc nhở mọi người chuẩn bị sẵn sàng dụng cụ như cuốc, xẻng, v.v.. Đến công trường thì bắt tay vào việc ngay, để khỏi lãng phí thời giờ của đồng bào.

Đối với cán bộ:

Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khǎn, làm tròn nhiệm vụ.

Phải đồng cam cộng khổ với nhân dân. Phải khuyến khích và giúp đỡ nhân dân phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao nǎng suất.

Phải khéo phối hợp công trình riêng ở địa phương và công trình chung ở công trường. Công trình chung là chính. Đồng thời phải chú ý đến vụ mùa và vụ chiêm.

Cuối cùng, mọi người phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa cán bộ với cán bộ, giữa cán bộ với dân công, giữa dân công với dân công, giữa cán bộ và dân công với đồng bào địa phương. Đoàn kết là lực lượng.

Mọi ngành, mọi người, mọi tổ phải ra sức thi đua, phải thực hiện khẩu hiệu: “Nhiều, nhanh, tốt, rẻ”. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống tác phong quan liêu, chống lãng phí.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng bào và cán bộ ba tỉnh đã có truyền thống đoàn kết và anh dũng. Công trình thuỷ lợi Bắc – Hưng – Hải là một chiến dịch chống giặc hạn. Rất mong đồng bào và cán bộ ba tỉnh cố gắng phát triển truyền thống vẻ vang ấy, tìm tòi mọi sáng kiến, khắc phục mọi khó khǎn, để hoàn thành thắng lợi công trình Bắc – Hưng – Hải.

—————————-

Nói ngày 20-9-1958.
Báo Nhân dân, số 1653, ngày 22-9-1958.
cpv.org.vn

Tri ân những người có công với cách mạng

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ (27/7), Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trực tiếp là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong cả nước để tổ chức đón tiếp các đoàn Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Người có công với cách mạng về Lăng viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan các di tích lịch sử, văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.

Mới hơn 6 giờ sáng ngày 17/4/2012, nhưng các đại biểu trong Đoàn Người có công với cách mạng của thành phố Cần Thơ đã tề tựu đông đủ tại Nhà khách Quốc tế số 8 – Hùng Vương để chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Tranh thủ gặp Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Trần Minh Đăng chúng tôi được biết: “Thành phố Cần Thơ hiện nay có 32.060 người có công với cách mạng. Trong đó có 95 cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, 271 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 30 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 2.850 thương bệnh binh, 8.230 liệt sỹ… những còn rất nhiều người chưa một lần được ra thăm Lăng Bác. Lần này, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cấp, các ngành của Thành phố đã lựa chọn, ưu tiên 50 đại biểu, phần lớn là những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và những đồng chí thương binh nặng được ra Thủ đô Hà Nội viếng Bác Hồ”.

Nhìn các má, các ba hầu hết tuổi đã ngoài 70, sức khỏe tuy đã giảm sút, lại đi suốt chặng đường dài hơn 1.500 km, nhưng trong khóe mắt ai nấy đều ánh lên niềm vui “sắp được gặp Bác rồi”. Quây quần trò chuyện tại khuôn viên Nhà khách, bác Nguyễn Văn Của, thương binh hạng 1/4 còn nhớ như in hình ảnh của 48 năm về trước: “Đúng vào ngày 19/5/1964, kỷ niệm 74 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại đội 1, Địa phương quân huyện Châu Thành của chúng tôi đã chiến đấu chống lại 7 đại đội nguỵ quân của địch đi càn quét. Trận chiến đấu vô cùng cam go, ác liệt suốt gần một ngày trời nhưng địch không chiếm được. Trước khi rút lui, địch còn gọi pháo binh vùi dập. Sau đó tôi thấy tim mình đau nhói và ngất lịm đi. Khi tỉnh dậy đã biết mình đang điều trị trong Quân y viện tiền phương được ba ngày. Sau nhiều năm điều trị, hiện giờ 2 mảnh đạn vẫn còn găm trong ngực. Nhưng đau thương nhất lại là những ngày nghe tin Bác Hồ mất. Không ai bảo ai, mà toàn thể cán bộ, y bác sĩ, đến các bệnh nhân trong Viện Quân y tiền phương của tỉnh tự tay may băng đen để tang Bác 7 ngày”.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp và gắn
Huy hiệu Bác Hồ cho các thành viên trong Đoàn

Giờ viếng Bác chưa bắt đầu, nhưng lượng người vào trong khuôn viên Nhà khách mỗi lúc một đông. Có điều đặc biệt là hầu như trên ngực áo ai cũng lấp lánh những Huân chương và nhiều Huy hiệu cao quý. Đoàn nào đến cũng được các nhân viên Ban Đón tiếp thuộc Cơ quan Văn phòng tiếp đón, hướng dẫn, mời vào phòng khách, phòng xem phim tài liệu tận tình chu đáo. Nhận ra chúng tôi, đồng chí Trung tá Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp chia sẻ: “Riêng ngày hôm nay chúng tôi đón tiếp 5 đoàn người có công với cách mạng thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh Kon Tum, Bình Dương, Cao Bằng và Đoàn cán bộ Lão thành cách mạng đang nghỉ dưỡng tại Đại Lải. Và tới đây, sẽ tiếp tục đón hơn 80 đoàn Người có công ở khắp mọi miền về Lăng viếng Bác. Riêng những đoàn ở các tỉnh phía Nam, chúng tôi còn cử cán bộ, nhân viên đón từ bến tàu, sân bay và phục vụ đoàn khi đi tham quan các di tích ở Thủ đô Hà Nội. Dẫu công việc bận rộn, vất vả, nhưng chúng tôi đều tự nhủ: Đón tiếp tận tình, chu đáo cũng là thể hiện tình cảm tri ân những người có công với cách mạng”.

Từng đoàn Người có công với cách mạng trước khi đi viếng Bác đều được các hướng dẫn viên giới thiệu chi tiết về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình xây dựng Công trình Lăng của Người; được xem phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Bác. Sau khi đi viếng Bác, tham quan Nhà sàn và Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi gặp lại Đoàn Cần Thơ. Nhìn các má, các ba đều vui vẻ, phấn khởi chúng tôi cũng yên tâm. Trước khi chia tay để Đoàn trở về Nhà khách ở số 12 Ngô Quyền, bác Võ Bá Tường và bác Nguyễn Văn Tài đều bùi ngùi xúc động: “Chúng tôi đều tham gia kháng chiến từ năm 13 tuổi, đều là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ cần duy nhất một lần này được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác Hồ là chúng tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Chỉ thương nhiều đồng đội hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh trọng, suốt ngày mong mỏi hoài mà vẫn chưa một lần được gặp Bác. Liệu các đồng chí đó có còn sống để chờ ngày được gặp Bác không? Rất mong các cháu hãy chăm sóc, giữ gìn thi hài Bác Hồ thật tốt, thật lâu dài, để nhiều đồng đội, con cháu của chúng tôi, cũng như nhiều thế hệ người Việt Nam được vào Lăng viếng Người”.

Lời mong mỏi của các má, các ba trong Đoàn Cần Thơ cũng là lời nhắn nhủ đến các cấp, các ngành, các địa phương hãy dành sự quan tâm đặc biệt, tổ chức cho những đồng chí Lão thành cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh nặng, các gia đình chính sách… được về Lăng viếng Bác Hồ, tham quan Thủ đô. Đó cũng là sự tri ân những người có công với cách mạng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Những chỉ dẫn cho chúng ta hôm nay

Đảng ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI – một nghị quyết tạo ra không khí chính trị mới, trong đó đề cập một giải pháp rất quan trọng là tự phê bình và phê bình. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cách đây 90 năm (3-1922), cũng vào mùa xuân, tại Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I.Lê-nin đã đọc Báo cáo chính trị, trong đó nêu rõ sự cấp bách có tính sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản (b) Nga khi thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) với tinh thần tự phê bình, phê bình thẳng thắn, sáng suốt của người cộng sản chân chính.

Sự khắc nghiệt của quy luật thép trong quá trình chuyển từ một xã hội dựa trên nền sản xuất nhỏ, thủ công, lạc hậu, manh mún mà đại bộ phận dân cư là những người tiểu nông – một giai cấp anh em của giai cấp vô sản, một liên minh chiến đấu mà nếu không có họ thì bài ca chiến đấu của những người cộng sản dù ở bất cứ thời kỳ nào cũng chỉ trở thành ai điếu – lên một xã hội hiện đại dựa trên nền sản xuất lớn, những người cộng sản phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn: Đảng lãnh đạo nhà nước, văn hóa lãnh đạo… Đặc biệt là, vấn đề đối xử với giai cấp nông dân như thế nào để họ vui lòng tiến lên sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa mà không bị rơi vào cảnh bần cùng hóa như quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa. Sau một năm Đảng Cộng sản (b) Nga khắc phục sai lầm về chủ trương muốn tiến thẳng, nhanh chóng lên chủ nghĩa cộng sản bằng cách đề ra và thực thi NEP phù hợp với quy luật quan hệ sản xuất phải tương ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, V.I.Lê-nin đã rút ra một số bài học quý giá.

1. Đảng Cộng sản cùng với giai cấp nông dân xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đảng phải nhiều lần chấn chỉnh và tổ chức nền kinh tế ấy như thế nào để kiến lập được sự lãnh đạo của Đảng trong hiện đại hóa công nghiệp và nông nghiệp với công việc hằng ngày của người nông dân. Đó là vấn đề phải suy nghĩ nghiêm chỉnh “chứ không nói chuyện viển vông”. V.I.Lê-nin đặt ra một câu hỏi cho những nhà hoạch định chính sách: “Làm sao mà nói chuyện viển vông được, khi mà họ phải tự cứu vớt lấy mình, mà họ phải lo thoát khỏi nguy cơ trước mắt là chết đói cực kỳ khủng khiếp?”(1). Theo V.I.Lê-nin, những người cộng sản phải liên minh với người nông dân lao động bình thường một cách thận trọng, chắc chắn, không được nôn nóng “phải tiến cực kỳ chậm, vô cùng chậm” hơn mức mà ta mơ tưởng, phải có chính sách để “làm sao tất cả quần chúng nông dân đều thật sự tiến lên cùng với chúng ta”(2).

Về vấn đề này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương, nghị quyết đúng nhưng trên thực tế lại mở tràn lan những khu công nghiệp, quy hoạch treo để lãng phí đất đai, tiền của. Việc các tỉnh đua nhau làm sân gôn, việc cho người nước ngoài thuê đất rừng, đất ven biển một cách tự phát ở một số địa phương… đã làm cho vấn đề đất đai, việc làm và đời sống của người nông dân đang là những vấn đề nóng, nhức nhối và là mầm mống của sự bất ổn. Đại bộ phận những vụ khiếu kiện của nông dân thuộc về đất đai, đền bù, tái định cư, điều kiện sinh sống khó khăn sau giải tỏa… Phần thiệt thòi, thậm chí đau khổ thuộc về người nông dân. Có phải đã có không ít “chuyện viển vông” trong những công trình, dự án không có sự tính toán thấu đáo, nếu không muốn nói là vô trách nhiệm, vô cảm trước đau khổ, vất vả của người nông dân, những đồng bào của mình đã vì ruộng đất, yêu Tổ quốc, đi theo Đảng giành độc lập, tự do?

2. Trong cách đối xử với nông dân, theo V.I.Lê-nin, khi tiến hành chính sách kinh tế mới, Đảng Cộng sản phải biết kiểm tra trên quan điểm lợi ích của nền kinh tế quốc dân, phải bằng biện pháp thi đua giữa những xí nghiệp quốc doanh và những xí nghiệp tư bản (công ty nước ngoài, công ty tư nhân, công ty liên doanh…) để so sánh giữa phương thức tư bản chủ nghĩa với phương thức xã hội chủ nghĩa xem phương thức nào đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội thiết thực. V.I.Lê-nin yêu cầu: “Các đồng chí hãy so sánh một cách thực tiễn, phải là sự kiểm tra trên quan điểm của kinh tế quảng đại quần chúng”(3). Theo V.I.Lê-nin, các doanh nghiệp tư bản trong quan hệ kinh tế với nông dân, họ đã biết cung cấp cho dân chúng, nhưng đó là sự cung cấp theo lối ăn cướp, hoạt động theo lối ăn cướp và phá hoại môi trường sống của người nông dân để thu được nhiều lời. Nhưng dù sao thì họ cũng đã biết cung cấp, biết cách làm, còn doanh nghiệp nhà nước – những doanh nghiệp do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý thì lại không biết làm như vậy một cách có lợi cho nông dân. Người dẫn lời người dân nói rằng: Lý tưởng của các anh thì tuyệt diệu, các anh nói như đang ở trên thiên đường, nhưng trong thực tế, các anh không biết cách làm việc! Người chỉ rõ: “Phải kiểm tra, kiểm tra thật sự, chứ không phải theo kiểu của Ban Kiểm tra Trung ương là tiến hành một cuộc điều tra và quyết định một sự khiển trách nào đó và cũng không phải theo kiểu của Ban Chấp hành Trung ương các xô-viết toàn Nga là định ra một sự trừng phạt. Không phải thế, phải có kiểm tra thật sự, đứng trên quan điểm nền kinh tế quốc dân mà kiểm tra”(4).

Phải chăng đã đến lúc Đảng ta cần phải trở lại một cách trung thành với quan điểm của V.I.Lê-nin để chấn chỉnh và thay đổi ngay quan niệm về kết quả và hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đối với các doanh nghiệp nhà nước để xem những người đã nhân danh “chủ nghĩa xã hội” để hưởng đặc quyền, được quyền thua lỗ, thất thoát nhiều tỉ đồng, lãng phí đất đai… mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, có chăng chỉ là “kiểm điểm sâu sắc và nghiêm khắc rút kinh nghiệm” – một hình thức chế tài chưa từng có trong hệ thống thuật ngữ luật học. Hãy lưu ý tới lời khuyên sau đây của V.I.Lê-nin – cha đẻ của đổi mới, canh tân trong lịch sử của chủ nghĩa xã hội: “Bây giờ các đồng chí phải chứng tỏ rằng trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, các đồng chí biết giúp đỡ một cách thực tế cho kinh tế của công nhân và của người mu-gich, để cho họ thấy được là các đồng chí đã thắng trong cuộc thi đua”(5).

Trong công tác tổ chức cán bộ, chúng ta cần nghiêm túc kiểm lại các cán bộ đảng được chỉ định phụ trách các doanh nghiệp nhà nước hoặc cử sang làm việc trong các liên doanh với nước ngoài, có phải họ đều là những người cộng sản thành thục về quản lý kinh tế không (ở đây giả định tất cả họ đều là những người trong sáng về đạo đức). Hãy lưu ý tới chỉ dẫn sâu sắc sau đây: “Chúng ta không nên yên trí mà cho rằng, trong các tờ-rớt nhà nước và trong những công ty hợp doanh đều là những người cộng sản rất tốt phụ trách; điều đó không có nghĩa lý gì vì những người cộng sản ấy chưa biết cách làm ăn đâu, và về mặt đó, họ còn tồi hơn một người bán hàng tầm thường của nhà tư bản, là kẻ từng được rèn luyện qua các nhà máy lớn và các tiệm buôn lớn”(6).

3. Khi thực hiện NEP đã bộc lộ sự bất cập của Đảng trong lãnh đạo các cơ quan nhà nước. Theo V.I.Lê-nin, cần phải nghiêm khắc nhìn thẳng vào sự thật xem nhà nước là do Đảng Cộng sản nắm trong tay nhưng về mặt thực hiện chính sách kinh tế thì nhà nước có hoạt động đúng như mong muốn của Đảng và nhân dân không? V.I.Lê-nin đã thẳng thắn trả lời rằng: “Không!”. Thật là trung thực và nghiêm túc mẫu mực tự phê bình chưa từng có, khi chính V.I.Lê-nin là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thừa nhận: “Chúng ta không muốn thú nhận điều này: Nhà nước đã không hoạt động được như chúng ta mong muốn”(7). Người đã miêu tả chính xác sự mập mờ sáng tối thực trạng của tình hình và đã tìm ra đúng nguyên nhân của nó. Người cho rằng Nhà nước Xô-viết như một cỗ xe, rõ ràng về mặt pháp lý là có người lái – do Đảng chọn lựa – đang điều khiển cỗ xe, nhưng xe lại đang chạy không theo hướng đã định mà theo hướng thúc đẩy của kẻ khác, một kẻ bí mật, bất hợp pháp, một kẻ mà người ta không biết từ đâu đến, của bọn đầu cơ hoặc của tư bản tư nhân, hoặc có thể là của cả hai loại đó và do đó, cỗ xe đã chạy hoàn toàn không theo ý của người lái. V.I.Lê-nin cho rằng đó là điểm chủ yếu mà chúng ta cần nhớ khi thực hiện NEP.

Phải chăng hiện tượng “lợi ích nhóm” ở nước ta đã được báo động trong dư luận xã hội và cả trên diễn đàn chính trị cũng là vấn đề làm cho cỗ xe của Nhà nước có nguy cơ đi chệch mục tiêu mà nghị quyết của Đảng đã đề ra? Đã đến lúc những câu hỏi mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra trong Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 vừa qua cần phải được trả lời sáng rõ, trong đó có vấn đề: Nhóm ở đâu? ở lĩnh vực nào? Địa phương, ngành cấp nào? Nhóm là những ai? Nếu không trả lời công khai, minh bạch những câu hỏi ấy thì nguy cơ tồn vong của Đảng và chế độ không chỉ dừng lại ở sự dự báo, cảnh báo.

V.I.Lê-nin đã kể một câu chuyện nhân dân Nga chế giễu những người cộng sản khi lãnh đạo chính quyền thực hiện chính sách kinh tế rằng: năm 1917 một tư lệnh trong chính phủ lâm thời đã thuyết phục binh lính làm theo ý muốn của đế quốc ngoại bang thì có “tư lệnh thuyết phục”; còn ngày nay chính quyền Xô-viết có những nhà quản lý kêu gào, chạy ngược chạy xuôi, năng động nhưng không hiệu quả thậm chí thất thoát, thua lỗ thì đáng gọi họ là “tư lệnh ba hoa”(8). Câu chuyện ấy liệu có gợi cho chúng ta suy nghĩ nghiêm túc khi tiến hành tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4?

4. V.I.Lê-nin với đức tính trung thực và tác phong nhìn thẳng vào sự thật, tự phê bình nghiêm túc, Người đã nói trước Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga rằng: Vì quan hệ chức vụ của tôi, thường được nghe nhiều lời “dối trá cộng sản chủ nghĩa” đường mật. Hiện tượng ấy đã bị một số báo nói thẳng: “Các anh đang lăn mình vào vũng bùn tư sản tầm thường, trên đó những lá cờ cộng sản nhỏ xíu sẽ phấp phới với đủ thứ những lời nói hay ho… Tôi tán thành chính quyền Xô-viết ở Nga… vì chính quyền đó đã đi vào một con đường đưa nó đến chính quyền tư sản thông thường”(9). V.I.Lê-nin không những không bực mình mà còn khen những tờ báo ấy nói thẳng, rất bổ ích vì nó không lặp lại những lời dối trá vẫn từng nghe, vì nó nói trắng ra sự thật một cách công khai và thẳng thừng đến thế. Người nói: “Đó là một lời nói rất có ích và theo tôi, cần phải chú trọng đến câu nói ấy… (họ) nói như thế đối với chúng ta còn tốt hơn nhiều so với một số trong bọn họ giả dạng gần như là những người cộng sản…”(10). Sự dối trá đã làm cho Đảng không đủ sáng suốt, dũng cảm, không dám nói ra, không nhận biết được một sự thật đau đớn rằng, những người cộng sản có đủ mọi thứ nhưng đã không có quyền lực thực sự mà cứ nhìn về quá khứ, tự ru ngủ một cách tuyệt vọng. Khi chỉ ra sự “dối trá cộng sản” là “nguy cơ thật sự” hiện tại của chế độ Xô-viết: “Hiện không có ai trực tiếp tấn công chúng ta cả, người ta không đến bóp họng chúng ta. Chúng ta còn chờ xem mai đây sẽ ra sao, nhưng hiện nay người ta không cầm vũ khí để tấn công chúng ta; tuy nhiên cuộc đấu tranh… đã trở nên ác liệt và nguy hiểm hơn gấp trăm lần, vì không phải lúc nào chúng ta cũng thấy được rõ đâu là kẻ thù đang đánh lại ta…”(11), đó là dự báo thiên tài về một nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô 50 năm sau.

Nguy cơ diễn biến hòa bình và “tự diễn biến” mà Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra và Nghị quyết Trung ương 4 mới đây nhấn mạnh cho thấy những người cộng sản Việt Nam hiện nay, nếu ai còn trung thành với lý tưởng cao đẹp của Đảng, với chế độ và lợi ích của dân tộc mà mình đã tuyên thệ khi xin gia nhập Đảng, thì cần coi dự báo nói trên của V.I.Lê-nin như là lời cảnh báo, là chỉ dẫn thiết thực, cấp bách cho chính mình.

5. Theo V.I.Lê-nin, nguy cơ chủ yếu không phải là lực lượng kinh tế của đất nước yếu kém mà: “Rõ ràng, cái còn thiếu chính là trình độ văn hóa của những người cộng sản lãnh đạo…”(12), hãy lấy một số đông đảng viên cộng sản đang phụ trách đối chiếu với bộ máy quan liêu thì thật ra không phải là những người cộng sản lãnh đạo mà chính họ bị lãnh đạo… Người chỉ rõ: “Những người cộng sản đứng đầu các công sở đôi khi bị những kẻ phá hoại ngầm đẩy họ lên địa vị đó một cách khôn khéo có dụng ý, để làm một cái chiêu bài cho chúng. Những người cộng sản đó thường bị người ta đánh lừa. Thú nhận điều đó thật rất khó chịu… Nhưng theo tôi, thì phải thú nhận như thế, vì hiện nay, đó là mấu chốt của vấn đề”(13).

Trên diễn đàn của Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I.Lê-nin đã nêu một câu hỏi, có lẽ không mấy ai đang giữ cương vị lãnh đạo các cấp dám dũng cảm thừa nhận: “Những người cộng sản phụ trách của nước Cộng hòa liên bang XHCN Xô-viết Nga của Đảng Cộng sản Nga có nhận thức được rằng chính họ là những người chưa biết lãnh đạo không? Họ cứ tưởng là mình lãnh đạo người khác, nhưng thật ra, họ có biết chính họ bị người khác lãnh đạo không? Nếu họ hiểu được điều đó, thì chắc chắn họ sẽ học lãnh đạo được, vì có thể học lãnh đạo được. Nhưng muốn thế, phải học tập, mà ở nước ta, người ta lại không chịu học tập. Người ta cứ liên tiếp tung ra những chỉ thị và sắc lệnh, và kết quả lại hoàn toàn không được như ý mình mong muốn”(14). Người đã nhấn mạnh đó là cuộc đấu tranh, cuộc đấu tranh này chưa kết thúc và thẳng thắn thừa nhận: “Ngay cả những cơ quan trung ương ở Mát-xcơ-va, đứng về mặt văn hóa mà xét, cuộc đấu tranh này vẫn chưa được giải quyết”(15). Ít có người đứng đầu đảng và nhà nước trong các nước xã hội chủ nghĩa dám tự phê bình thẳng thắn và quyết liệt như thế.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho hành động của mình. Do đó, những tư tưởng trên của V.I.Lê-nin là những chỉ dẫn thiết thực soi sáng cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 hiện nay.

PGS. Trần Đình Huỳnh
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

—————

(1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15) V.I.Lênin toàn tập, NXB Tiến Bộ, M.1978, tập 45, tr.91, tr.94, tr.95, tr.95-96, tr.97, tr.98, tr.103, tr.109, tr.112, tr.112, tr.113, tr.114, tr.115, tr.115, tr.115.

bqllang.gov.vn

Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái (25-9-1958)

Tỉnh nhà có 10 dân tộc anh em. Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích oán ghét dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay. Nếu xoè 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu kẻ nào chia rẽ thì phải làm thế nào? Thì phải đập vào đầu chúng nó. Đó là điểm thứ nhất tại sao phải đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc.

Trước kia chúng ta khổ vì thực dân phong kiến bóc lột. Bây giờ chúng ta đã được thoát khỏi, chúng ta phải làm thế nào cho sướng hơn. Muốn sướng hơn phải ǎn no mặc ấm. Muốn ǎn no mặc ấm phải làm thế nào? Phải tǎng gia sản xuất! Song có một số đồng bào nǎm nay làm chỗ này, nǎm sau làm chỗ khác. Có đúng thế không? Như thế không tốt. Ví dụ như cây bưởi nǎm nay trồng chỗ này sang nǎm trồng chỗ khác thì không tốt. Phải trồng một chỗ thì rễ mới sâu, nhành mới tốt, quả mới tốt. Như thế đồng bào cần cố gắng phải làm ǎn định canh. Điểm nữa là nên tǎng vụ. Những ruộng làm một mùa cố gắng làm cả chiêm, cả mùa. Ruộng một vụ gặt được nhiều hay hai vụ gặt được nhiều? Thứ ba là về phân bón. Đồng bào biết làm phân bón hơn trước nhưng còn hơn một nửa số ruộng cấy chay. Ruộng không có phân như người không có cơm. Người không có cơm có lớn được không? Lúa không có phân có tốt không? Nên phải cố gắng bỏ nhiều phân. Phân càng nhiều thì thóc càng nhiều. Muốn nhiều thóc phải bỏ nhiều phân.

– Có một số đồng bào còn giấu diện tích, làm 1 mẫu rưỡi nói 1 mẫu, vì chưa hiểu, sợ nói thật Chính phủ đánh thuế. Có như thế không? Chính phủ là Chính phủ của dân, lấy thuế để làm lợi ích cho dân như mở trường học, làm nhà thương, chứ không phải bỏ túi Bác Hồ, bỏ túi Chính phủ.

Ví dụ như phân hoá học ta chưa sản xuất được nhiều, còn phải mua của nước bạn, nếu ta làm 100 mẫu mà nói 50 mẫu thì việc đặt mua của Chính phủ sẽ thiếu. Như thế thì ai thiệt? Đồng bào thiệt, Chính phủ thiệt, nhân dân thiệt.

Ta nói: nhân dân làm chủ, mà ông chủ, bà chủ lại tự dối ông chủ, bà chủ thì có đúng không? Vì thế không nên sợ tǎng vụ, sợ đóng thêm thuế, giấu diện tích mà phải nói thật thì hơn.

– Đất của ta không thiếu, nhưng một số đồng bào dân tộc ít người còn phải làm rẫy, làm nương. Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được.

– Muốn tǎng gia sản xuất tốt phải có tổ chức, phải có tổ đổi công. Có người hiểu, có người chưa hiểu vì sao phải có tổ đổi công. Có người còn sợ vào tổ đổi công. Một ngón tay có đỡ nổi cái ống phóng thanh? Nǎm ngón tay cũng chưa chắc, phải cả 10 ngón tay mới nổi. ở nông thôn làm ǎn riêng lẻ 1 – 2 nhà thì không tốt, làm ít kết quả, 5-10 nhà cùng làm thì nhanh hơn, tốt hơn. Cho nên phải vào tổ đổi công. Thế nào là tổ đổi công? Không phải đánh trống, đếm đầu người 1,2,3 rồi báo cáo lên huyện, lên tỉnh. Tổ đổi công phải thật sự giúp đỡ nhau, chứ không phải chỉ khai trên giấy. Không phải là cầm tay dắt cổ bảo “anh phải vào tổ đổi công” mà phải làm cho đồng bào tự nguyện tự giác.

Vấn đề thứ ba là phải tiết kiệm. Vì sao phải tiết kiệm? Ví dụ mỗi gia đình trước kia thu được 1 tấn. Bây giờ nhờ có phân bón nên được 2 tấn. Thế là có tǎng gia. Tǎng gia nhiều đấy. Nhưng làm được bao nhiêu lại chén hết, như thế kết quả cũng như không. Đồng bào ta đây có nhiều điểm tốt, nhưng cũng còn có khuyết điểm cần phải sửa chữa dần dần. Hỏi có tiết kiệm không? Cũng có tiết kiệm nhưng lúc đám cưới, mời họ nội, họ ngoại chè chén linh đình, 2 bữa say sưa bằng thích. Nhưng sau đấy nhà trai, nhà gái phải bán trâu, bò, thóc, bán ruộng, đi vay nợ. Như thế là không tốt. Mà đã không tốt là xấu. Đã xấu thì phải sửa. Đám cưới như thế, đám ma cũng thế. Thường thì chôn cất cũng đủ, nhưng cũng cứ phải chén. Thế rồi cũng bán thóc, bán trâu, bán ruộng.

Bây giờ ví dụ ai cũng tiết kiệm từ trên xuống dưới, từ thành thị đến nông thôn đều tiết kiệm, mỗi người mỗi ngày bớt một dúm gạo thôi, mỗi tháng mỗi người dành được nửa kilô. Trong kháng chiến chúng ta đã làm được. Làm như thế trong tỉnh nhà, mỗi nǎm tiết kiệm được 750 tấn gạo. Với 750 tấn gạo đồng bào làm được bao nhiêu việc to tát. Trước kia, ta phải đưa gạo ở dưới xuôi lên. Đồng chí Chủ tịch có cho biết là vừa rồi cũng phải đưa lên 300 tấn. Nếu tiết kiệm được như trên thì không phải đưa gạo ở dưới xuôi lên. Làm như thế có khó không? Không khó. Có dễ không? Không dễ. Mà phải có tổ chức.

———————————–

Nói ngày 25-9-1958.
Báo Yên Bái, số 240, ngày 10-10-1958.
cpv.org.vn

Điện mừng Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Angiêri (27-9-1958)

Kính gửi Ông Phera ápba, Thủ tướng Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Angiêri,

Thưa Ngài Thủ tướng thân mến,

Nhân dịp thành lập Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Angiêri, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đến Ngài, Chính phủ Angiêri và các bạn Angiêri anh dũng lời chào mừng nhiệt liệt và xin chân thành chúc các bạn thắng lợi lớn trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập dân tộc.

Ngày 27 tháng 9 nǎm 1958
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 1659, ngày 28-9-1958.
cpv.org.vn

Cải tiến việc quản lý xí nghiệp (8-10-1958)

Để xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, toàn dân và toàn Đảng phải ra sức phát triển và phát triển mạnh kinh tế của ta.

Muốn vậy, thì về công nghiệp, các xí nghiệp của Nhà nước (tức là của toàn dân) cần phải cải tiến chế độ quản lý.

Muốn cải tiến quản lý xí nghiệp, thì trước hết phải tǎng cường việc giáo dục chính trị và nâng cao tư tưởng của cán bộ và công nhân bằng cách:

– Bồi dưỡng tư tưởng của giai cấp công nhân – đấu tranh chống tư tưởng của giai cấp tư sản.

– Bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể – chống chủ nghĩa cá nhân.

– Bồi dưỡng quan điểm lao động (lao động trí óc và lao động chân tay phải kết hợp chặt chẽ) – chống quan điểm xem khinh lao động chân tay.

– Nâng cao tinh thần làm chủ xí nghiệp và làm chủ nước nhà của công nhân và cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính tích cực của mọi người.

Để quản lý tốt xí nghiệp, thì phải thực hiện ba điều: Tất cả cán bộ lãnh đạo phải thật sự tham gia lao động chân tay. Tất cả công nhân phải tham gia công việc quản lý các tổ sản xuất, dưới sự lãnh đạo của cán bộ các phân xưởng. Sửa đổi những chế độ và quy tắc không hợp lý.

Từ trước đến nay, vì cán bộ chỉ làm việc quản lý, không tham

gia lao động sản xuất, cho nên xa rời công việc thực tế, xa rời quần chúng công nhân. Do đó mà sinh ra bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh.

Công nhân thì chỉ sản xuất mà không tham gia quản lý, do đó mà kém tinh thần trách nhiệm và kỷ luật, không phát huy được sáng kiến.

Cán bộ tham gia lao động và công nhân tham gia quản lý thì sẽ sửa chữa được những khuyết điểm ấy; công nhân và cán bộ sẽ đoàn kết thành một khối, mọi người đều là đồng chí với nhau, đều ra sức phấn đấu làm cho xí nghiệp ngày càng tiến lên.

– Cán bộ trực tiếp tham gia lao động thì càng gần gũi và hiểu biết công nhân hơn, nhìn thấy và giải quyết các vấn đề được nhanh chóng hơn. Vì vậy, cán bộ trong ban lãnh đạo mỗi tuần cần phải cùng công nhân lao động một ngày hoặc ngày rưỡi. Các cán bộ khác (cán bộ kỹ thuật, các trưởng phòng…) thì nửa ngày làm việc chuyên môn, nửa ngày lao động cùng công nhân.

– Công nhân tham gia quản lý – Tuỳ tình hình sản xuất, công nhân chia thành từng tổ 10 hoặc 20 người, bầu một người có tín nhiệm nhất làm tổ trưởng, phân công rành mạch cho một hoặc hai người phụ trách quản lý một việc (như kỷ luật, nǎng suất, chất lượng, máy móc…).

– Khó khǎn – Việc cải tiến quản lý lúc đầu có khó khǎn. Theo kinh nghiệm nhà máy Trung Quốc, thì có những khó khǎn như sau:

Cán bộ thắc mắc: Suốt ngày quản lý mà còn lúng túng, nay phải tham gia lao động nửa ngày thì sợ lúng túng hơn nữa.

Lao động sản xuất không thạo, sợ công nhân cười, rồi lãnh đạo công nhân không được. Học hỏi công nhân thì sợ xấu hổ.

Một số cán bộ kỹ thuật ngại rằng tham gia lao động thì nghiệp vụ của mình sẽ bị bê trễ; hoặc sợ bận, sợ mệt nhọc…

Sợ công nhân không biết quản lý. Cũng có người sợ công nhân tham gia quản lý thì số cán bộ quản lý sẽ bị giảm bớt, bị đưa sang sản xuất.

Công nhân thắc mắc: Sợ trách nhiệm, sợ mất lòng, sợ công nhân khác không nghe lời. Sợ ảnh hưởng đến công tác, do đó mà ảnh hưởng đến lương bổng của mình.

Để giải quyết thắc mắc của cán bộ, cách tốt nhất là người lãnh đạo có quyết tâm và làm gương mẫu, xung phong lao động. Kết quả chứng tỏ rằng cán bộ nửa ngày lao động, nửa ngày làm việc chuyên môn, công việc chẳng những không bê trễ, mà còn trôi chảy hơn; công nhân chẳng những không mỉa mai cán bộ, mà lại thân mật hơn với cán bộ. Do đó, cán bộ thấy rõ rằng: tự mình phải tham gia sản xuất mới lãnh đạo tốt sản xuất.

Để giải quyết thắc mắc của công nhân, đảng uỷ đưa cho toàn thể công nhân thảo luận sâu sắc những vấn đề, ví dụ:

Chỉ để mặc cán bộ chuyên môn quản lý hơn, hay là công nhân tham gia quản lý hơn ?

Phải chǎng công nhân tham gia quản lý, công việc của xí nghiệp sẽ lộn xộn?

Công nhân tham gia quản lý sẽ gặp những khó khǎn gì và có thể giải quyết thế nào?

Kết luận của công nhân là: Công nhân tham gia quản lý là nền tảng của việc quản lý tốt xí nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Trong xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, công nhân là người chủ, có trách nhiệm tham gia quản lý cho tốt.

Công nhân tham gia quản lý sẽ làm cho cơ quan quản lý khỏi kềnh càng, bớt giấy tờ bề bộn, bớt chế độ phiền phức, v.v. và sản xuất nhất định sẽ nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Kết quả bước đầu – Chỉ trong mấy hôm cải tiến quản lý, do sáng kiến của công nhân và cán bộ, nhà máy Khánh Hoa (Trung Quốc) đã giảm được 263 loại giấy tờ. (Chỉ ở phòng kinh doanh và phòng tài liệu, nếu một người chuyên việc đóng dấu vào những giấy tờ ấy – cả nǎm đóng đến 1.952.800 lần – cũng tốn hết 130 ngày công!). Sửa đổi hoặc xoá bỏ 158 chế độ công tác không hợp lý. Kế hoạch sản xuất quý I đã hoàn toàn vượt mức. Kế hoạch sản xuất nǎm nay sẽ nhiều gấp hai nǎm ngoái. Giá thành giảm 50%. Nhân viên quản lý từ 23% giảm xuống 7%.

Nǎng suất lao động tiến bộ nhảy vọt, cả xưởng quyết định kế hoạch 5 nǎm sẽ hoàn thành trước 2 nǎm, có những phân xưởng sẽ hoàn thành trước 6 tháng. Cán bộ chính trị đều ra sức học kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật đều ra sức học chính trị, họ quyết tâm trở nên những cán bộ thật “hồng và chuyên”.

Nói tóm lại: Cải tiến quản lý xí nghiệp là một cuộc cải tạo chính trị và tư tưởng rộng khắp và sâu sắc trong cán bộ và công nhân. Trong việc này, sự lãnh đạo của Đảng cần phải chặt chẽ và toàn diện; đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu, làm đầu tàu. Khi tư tưởng được giải phóng, giác ngộ được nâng cao, cán bộ và công nhân sẽ đoàn kết chặt chẽ, tự giác tự động khắc phục mọi khó khǎn, phát huy mọi sáng kiến, xí nghiệp sẽ được quản lý tốt, sản xuất nhất định sẽ tǎng gia, kế hoạch Nhà nước nhất định sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

TRẤN LỰC

——————————–

Báo Nhân dân, số 1669, ngày 8-10-1958.
cpv.org.vn