Tag Archive | Tin tức

Diễn vǎn trong tiệc chiêu đãi ở Xôphia (Trích) (15-8-1957)

… Tên tuổi vĩ đại của đồng chí Đimitơrốp đối với nhân dân Việt Nam cũng thân thiết như đối với nhân dân Bungari. Đối với chúng tôi, tên của đồng chí Đimitơrốp sẽ mãi mãi là tượng trưng cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, tượng trưng cho sự trung thành với những nguyên tắc bất di bất dịch của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Tiếng vang mạnh mẽ của những lời nói của đồng chí Đimitơrốp tại phiên toà Lépdích đã dội lại với một sức mạnh to lớn trong lòng nhân dân Việt Nam hồi đó đang sống trong vòng nô lệ. Trước ngày thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Bungari rất lâu, tên tuổi của đồng chí Đimitơrốp, người con ưu tú của nhân dân Bungari, đã làm cho nhân dân hai nước chúng ta, hai Đảng chúng ta gần gũi nhau trong cuộc đấu tranh chống áp bức và chủ nghĩa phát xít.

Đồng chí Đimitơrốp và đồng chí Côlarốp không phải chỉ là lãnh tụ của phong trào cách mạng Bungari mà cũng là của phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Và nếu ngày nay, mặc dầu hai nước chúng ta ở cách xa nhau, quan điểm của chúng ta về tất cả các vấn đề về hoà bình và chủ nghĩa xã hội nhất trí với nhau là bởi vì chúng ta cùng nói một tiếng nói chung, tiếng nói của Đimitơrốp là tiếng nói của những người cộng sản kiên quyết bảo vệ sự thống nhất của Đảng mình, sự thống nhất của toàn thể phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu.

Tình hữu nghị anh em đó đã làm cho nhân dân hai nước chúng ta gần gũi nhau và dựa trên một cơ sở thống nhất, như thế không một lực lượng phản động nào trên thế giới có thể phá vỡ nổi.

—————————

Đọc ngày 15-8-1957.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.IV, tr.126-127.
cpv.org.vn

Bài nói trước khi rời Bungari (Trích) (17-8-1957)

… Trước khi rời Thủ đô tươi đẹp của các đồng chí, một lần nữa, tôi xin cảm ơn sự đón tiếp thân mật như anh em của các đồng chí đối với chúng tôi. Chúng tôi sẽ chuyển tới nhân dân Việt Nam những lời chào mừng nhiệt liệt của các đồng chí, đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói với nhân dân Việt Nam về nhân dân Bungari anh dũng, về cuộc đấu tranh của nhân dân Bungari chống ách nô dịch và áp bức, về những thành tích của nhân dân Bungari trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công nhân, nông dân, trí thức, các cháu thiếu nhi Bungari đã có những cảm tình thắm thiết đối với nhân dân nước chúng tôi mà chúng tôi không bao giờ quên được.

Các bác sĩ, nghệ sĩ, vǎn sĩ của Bungari sang thǎm Việt Nam đã làm cho nhân dân Việt Nam càng hiểu rõ và yêu mến nước Bungari. Chúng tôi tin chắc rằng cuộc đi thǎm của chúng tôi sẽ góp phần tǎng cường hơn nữa những mối quan hệ anh em đã gắn liền chúng ta trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

——————————–

Nói ngày 17-8-1957.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.IV, tr.128.
cpv.org.vn

Diễn vǎn trong buổi chiêu đãi ở Bucarét (Rumani ) (Trích) (18-8-1957)

Nhân dân Việt Nam chúng tôi sẽ không bao giờ quên những cố gắng của những đồng chí công nhân dũng cảm của nhà máy Écnét Tenlơman trong việc cung cấp những máy kéo theo yêu cầu của Việt Nam. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên những cố gắng của những đồng chí thuỷ thủ dũng cảm của tàu Đimitơrốp đã vượt biển chuyển tới Việt Nam những máy kéo đó đúng thời hạn.

Chúng tôi cũng không thể nào quên được những đồng chí trong đoàn nghệ thuật Chim sơn ca đã sang Việt Nam và mang tới cho chúng tôi những giọng hát hay và những điệu múa khéo của nền nghệ thuật dân gian Rumani. Mặc dầu quan sơn cách trở, những hoạt động của các đồng chí công nhân, thuỷ thủ, các đồng chí nghệ sĩ và những phái đoàn kinh tế Rumani đã làm cho nhân dân hai nước chúng ta gần gũi nhau. Việc làm của các đồng chí đó đã khuyến khích nhân dân chúng tôi trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ để thực hiện thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt Nam tỏ lòng biết ơn đối với Đảng Công nhân Rumani đứng đầu là đồng chí Ghêóocghiu Đê và đối với Chính phủ Rumani.

Hai nước chúng ta gắn bó với nhau trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa đoàn kết xung quanh Liên Xô. Hai dân tộc chúng ta cùng đấu tranh cho một mục đích chung là gìn giữ hoà bình và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai Đảng chúng ta trung thành với những nguyên tắc bất di bất dịch của chủ nghĩa Mác-Lênin kiên quyết bảo vệ sự đoàn kết trong Đảng, bảo vệ sự đoàn kết trong nhân dân và giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta.

Khối đoàn kết đó đã được rèn luyện trong những cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ mà các đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin trên thế giới đã trải qua nhằm chống lại chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa cơ hội. Không một lực lượng phản động nào trên thế giới phá vỡ được khối đoàn kết đó…

Sự trao đổi kinh nghiệm giữa chúng ta, sự hiểu biết lẫn nhau trong các vấn đề thảo luận sẽ củng cố hơn nữa tình đoàn kết giữa hai Đảng và hai Chính phủ chúng ta và càng củng cố tình đoàn kết trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

—————————-

Đọc ngày 18-8-1957.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.IV, tr.129-130.
cpv.org.vn

Điện gửi Đoàn đại biểu Quốc hội Liên bang Miến Điện (19-8-1957)

Được tin các Ngài đến thǎm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chúng tôi, tôi rất sung sướng. Nhân dịp này, tôi xin tỏ lòng nhiệt liệt hoan nghênh các Ngài, tôi chắc rằng tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Miến Điện càng thêm tǎng cường. Tôi chúc tất cả các vị trong Đoàn luôn luôn mạnh khoẻ.

Bucarét, ngày 19 tháng 8 nǎm 1957
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

 

——————————-

Báo Nhân dân, số 1263, ngày 23-8-1957.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại buổi mít ting của nhân dân Bucarét (20-8-1957)

Các bạn hãy cho phép tôi chuyển lời chào mừng anh em của nhân dân Việt Nam tới nhân dân Rumani và chuyển lời chào thắm thiết của nhân dân Hà Nội tới các anh chị em Bucarét… Cách đây vào khoảng 12 nǎm, chỉ mới có Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa độc nhất trên thế giới với 200 triệu dân và chiếm 1/6 diện tích trái đất. Ngày nay, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống to lớn với hơn 900 triệu người và chiếm 1/3 diện tích trái đất.

Chỉ cách đây 12 nǎm, đất nước Liên Xô bị chiến tranh tàn phá; các nước xã hội chủ nghĩa khác thì bị kiệt quệ sau những nǎm bị quân đội Hítle chiếm đóng. Trung Quốc còn ở dưới ách thống trị của Quốc dân đảng. Ngày nay, Liên Xô đang xây dựng chủ nghĩa cộng sản và đang cố gắng để trong một thời gian thật ngắn, sẽ vượt các nước tư bản tiên tiến nhất về sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Tại các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đang có những tiến bộ to lớn về chính trị, kinh tế và xã hội. ở những nước này, dưới sự lãnh đạo của đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhân dân lao động đã nắm chính quyền, đang xã hội hoá công nghiệp, bắt đầu thực hiện việc xã hội hoá nông nghiệp, phổ cập vǎn hoá sâu rộng trong nhân dân.

Kết quả là chủ nghĩa xã hội đã trở thành một lực lượng hùng mạnh. Đó là lực lượng của hơn 900 triệu con người đã giác ngộ, có một nền kinh tế thống nhất làm hậu thuẫn; và được sự lãnh đạo của những đảng đã được rèn luyện trong cuộc chiến đấu gay go chống phát xít và đế quốc. Chúng tôi đã thấy rõ lực lượng hùng mạnh đó trong cuộc đi thǎm này. Chúng tôi đã đi 45 ngày và hơn 22 ngàn cây số, đã thǎm nhiều nước anh em. Nay chúng tôi đến đất nước Rumani tươi đẹp. Tuy vậy chúng tôi vẫn luôn luôn ở trong đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa. Đâu đâu, chúng tôi cũng thấy nhân dân các nước vui vẻ, sung sướng, tự hào về những thành tích của mình, làm việc cho hoà bình và cho chủ nghĩa xã hội.

Và chính anh chị em Rumani cũng nhận thấy những thay đổi sâu sắc ấy trong đất nước các bạn. Rumani vốn là một nước giàu có không những về mỏ mà còn về nông nghiệp. Nhưng cách đây 12 nǎm, hầm mỏ của Rumani còn ở trong tay bọn đế quốc nước ngoài và tư bản trong nước, đất đai còn ở trong tay bọn địa chủ, khắp nơi nhân dân sống trong cảnh bần cùng. Ngày nay, nền công nghiệp được xã hội hoá, công nhân trở thành người chủ của nhà máy. Dầu lửa là một trong những tài nguyên chính của Rumani đã sản xuất quá con số trước chiến tranh và trở thành tài nguyên của nhân dân. Ngày nay, các bạn đã tự sản xuất lấy những máy móc để khai thác dầu lửa. Kỹ nghệ hoá học, luyện kim trước đây không hề có ở Rumani, ngày nay đã trở thành một nguồn lợi quan trọng của nền kinh tế. Những tiến bộ của công cuộc xã hội hoá và cơ giới hoá ở nông thôn đã làm cho nền nông nghiệp vượt quá mức sản xuất trước chiến tranh. Trường học được xây dựng khắp nơi làm cho trẻ em cũng như nhân dân lao động đều được học vǎn hoá. Công nhân, nông dân, trí thức Rumani, các bạn đều sung sướng bởi vì các bạn đã làm chủ đất nước, làm chủ những tài nguyên của đất nước. Các cháu thiếu niên Rumani, các cháu yêu đời, bởi vì các cháu làm chủ tương lai của mình và đến lượt các cháu, các cháu sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Sức mạnh của Rumani là sức mạnh của đại gia đình xã hội chủ nghĩa, cũng như sức mạnh của mỗi nước xã hội chủ nghĩa là sức mạnh của Rumani.

Song những đám mây đen vẫn còn lởn vởn ở chân trời: Chủ nghĩa đế quốc xâm lược vẫn luôn luôn rình mò ở bên ngoài biên giới Rumani, cũng như ở miền Nam nước chúng tôi. Nhưng chúng ta không cô độc trong cuộc chiến đấu cho hoà bình. Sự đoàn kết trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa là sức mạnh của chúng ta. Lực lượng phản động quốc tế sẽ tan nát trước bức thành đồng đó. Sự đoàn kết trong nước chúng ta là sức mạnh của chúng ta: Đoàn kết trong Đảng và Chính phủ, đoàn kết giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân. Sự đoàn kết đó sẽ chiến thắng tất cả những khó khǎn nội bộ. Bởi vì chúng ta là những người cộng sản trung thành với những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, trung thành với ngọn cờ vẻ vang của cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mà chúng ta sắp kỷ niệm lần thứ 40, chúng ta chắc chắn bảo vệ được sự đoàn kết đó trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa và trong nước chúng ta. Không một lực lượng phản động nào trên thế giới có thể phá hoại được sự đoàn kết ấy.

Các đồng chí sắp kỷ niệm ngày giải phóng Tổ quốc vẻ vang của mình. Tôi xin thay mặt nhân dân, Đảng và Chính phủ Việt Nam, chúc mừng trước các đồng chí và toàn thể nhân dân Rumani anh em. Chúng tôi hoan nghênh những thắng lợi của các đồng chí trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chúc các đồng chí giành được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện kế hoạch 5 nǎm hiện nay.

Kế hoạch của các đồng chí được thực hiện, ngoài việc mang lại hạnh phúc cho nhân dân Rumani, sẽ còn góp thêm sức mạnh cho Việt Nam chúng tôi trong cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội dần dần từng bước. Hôm nay, chào mừng những thắng lợi của nhân dân Rumani, chúng tôi cũng chào mừng những thắng lợi của tất cả các nước anh em trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chào mừng tình đoàn kết không gì lay chuyển nổi trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa chúng ta, chào mừng tình hữu nghị anh em giữa hai dân tộc chúng ta…

——————————

Nói ngày 20-8-1957.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.IV, tr.132-134.
cpv.org.vn

Diễn vǎn từ biệt Rumani (Trích) (21-8-1957)

… Mặc dầu chúng tôi ở Rumani trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy như sống ở nhà mình. Các vị lãnh đạo, các đồng chí và nhân dân Rumani đều đối với chúng tôi như anh em ruột thịt. ở đâu, chúng tôi cũng thấy nhân dân Rumani anh em có một mối cảm tình nhiệt liệt đối với nhân dân Việt Nam…

Về phần tôi, tôi sẽ cố gắng trình bày với nhân dân Việt Nam hình ảnh tốt đẹp của một dân tộc anh em, vĩ đại trong cuộc đấu tranh chống phát xít và cần cù trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặc dầu hai dân tộc chúng ta cách nhau hàng nghìn cây số, chúng ta vẫn luôn luôn đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng với nhân dân những nước xã hội chủ nghĩa khác đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội và cho hoà bình thế giới.

————————-

Đọc ngày 21-8-1957.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t IV, tr. 135.
cpv.org.vn

Lời chúc thiếu nhi Liên Xô tại trại Atếch (1) (23-8-1957)

Bác chúc tất cả các cháu vui vẻ, thành công và mạnh khoẻ. Bác chuyển tới các cháu lời chào anh em của các cháu thiếu nhi Việt Nam. Bác hôn tất cả các cháu.

BÁC HỒ

———————————-

Báo Nhân dân, số 1265, ngày 25-8-1957.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài phát thanh Mátxcơva (30-8-1957)

Hỏi: Xin đồng chí Chủ tịch cho biết cảm tưởng về cuộc đi thăm các nước dân chủ nhân dân?

Trả lời: Chúng tôi rất sung sướng được đến thăm các nước anh em, thấy tận mắt những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội, trao đổi kinh nghiệm với các đồng chí lãnh đạo.

Hỏi : Nhân dịp Mỹ bắt ép Đại hội đồng Liên hợp quốc thảo luận cái gọi là “vấn đề Hunggari”, yêu cầu đồng chí Chủ tịch cho biết qua về cảm tưởng của đồng chí đối với cuộc đi thăm Hunggari?

Trả lời: Nhân dân Hunggari đang ra sức hàn hắn những vết thương do cuộc phản cách mạng đã gây ra và tiếp tục phấn khởi xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hỏi : Xin đồng chí Chủ tịch cho biết trong các cuộc đàm phán giữa đồng chí với các nhà lãnh đạo các nước mà đồng chí đã tới thăm, tình hình ở Việt Nam đã được các nước chú ý như thế nào?

Trả lời: Các đồng chí lãnh đạo các nước anh em đều chú ý tới tình hình Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh hoà bình của nhân dân Việt Nam để thống nhất Tổ quốc.

Hỏi: Xin đồng chí Chủ tịch cho biết cảm tưởng sau những ngày ở thăm Liên Xô?

Trả lời: Tôi rất lấy làm sung sướng trông thấy Liên Xô đang tiến mạnh trên con đường cộng sản chủ nghĩa. Tôi xin chúc nhân dân Liên Xô đạt được nhiều thành tích mới để kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

—————————–

Báo Nhân dân, số 1270, ngày 30-8-1957.
cpv.org.vn

Lời đáp trong lễ trình quốc thư của Đại sứ Mông Cổ (31-8-1957)

Nhân dân Việt Nam rất khâm phục những thành tích to lớn mà nhân dân Mông Cổ anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng và của Chính phủ Mông Cổ, đã giành được trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhân dân Việt Nam rất chú ý tới những cố gắng của nhân dân Mông Cổ trong việc phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước trên thế giới nhằm góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình.

 

————————-

Nói ngày 31-8-1957.
Báo Nhân dân, số 1272, ngày 1-9-1957.
cpv.org.vn

Từ một câu trả lời nghĩ về một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Có người hỏi ông Nguyễn: Ông là người thế nào? Theo chủ nghĩa Cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Ông Nguyễn trả lời: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi (…). Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi chính là tôi ngày trước: một người yêu nước”(1). Câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều sách, báo trích dẫn, tuy nhiên một sự giải thích cụ thể các lớp ý nghĩa thì chưa thấy có. Trong khi, theo tôi, câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một sự thâu tóm những đặc điểm cốt yếu tư tưởng của Người về văn hóa dân tộc và quan điểm phát triển nền văn hóa.

Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hiểu trên hai bình diện: Bình diện thứ nhất là cách nhìn nhận của bản thân tác giả về các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa và về bản thân; bình diện thứ hai cách nhìn nhận về văn hóa dân tộc, quan điểm phát triển văn hóa dân tộc. Bình diện thứ nhất là bình diện ngoại diên, cái bên ngoài, tạm gọi là nghĩa trên bề mặt câu chữ; bình diện thứ hai là cái mạch ngầm trong tư tưởng của Người, tạm gọi là nghĩa ẩn đằng sau câu chữ. Ở bình diện thứ nhất, Người sàng lọc những tinh hoa của các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa, nói được cái cốt yếu, cái hạt nhân của mỗi học thuyết, chủ nghĩa ấy: tu dưỡng đạo đức, lòng bác ái, phương pháp biện chứng, chính sách phát triển. Dĩ nhiên, khi Người đã phát biểu như vậy về các học thuyết, các chủ nghĩa là Người đã nghiên cứu kỹ, và bằng phương pháp loại suy, Người đã chắt lọc những gì tinh hoa nhất để học tập. Mỗi học thuyết, mỗi chủ nghĩa luôn chứa trong nó nhiều đặc điểm, nội dung, không phải chỉ một nội dung thuần túy, dù đó là cái cốt yếu. Vậy nên, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận diện những đặc điểm này phải hiểu là Người vừa (đọc rất nhiều) hiểu các học thuyết, chủ nghĩa, vừa đã chọn lọc để tiếp thu làm giàu cho tư tưởng của mình. Đấy là điều chỉ xảy ra đối với những bộ óc siêu việt, mà với trường hợp Hồ Chí Minh, GS. Mai Quốc Liên đã gọi cho cái tên là “một bộ lọc vĩ đại”(2). Tất nhiên ở đây tôi chỉ mới giới hạn về việc tiếp thu cái cốt yếu của 4 học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ra ở câu trên, chứ trên thực tế, việc tiếp thu và thông qua hành động loại suy của Người còn được thể hiện rất nhiều như: đối với việc tiếp thu Phật giáo (tư tưởng từ bi bác ái, tinh thần bình đẳng, nếp sống giản dị, coi trọng lao động (Phật giáo Thiền tông: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”), triết học và tư tưởng phương Tây (tư tưởng dân chủ và tiến bộ, coi trọng tự do con người: Tuyên ngôn 1776 của nước Mỹ, tư tưởng của Rút xô, Môngtexkiơ) v.v… Từ chỗ nhìn nhận về 4 học thuyết, chủ nghĩa, Người nói về mình: “tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ”. Đây là lời nói có tính khiêm nhường, nhưng không hoàn toàn, bởi xem xét ở khía cạnh khác, phẩm chất trung thực của Hồ Chí Minh lại nổi lên. Trong khoa học, một thực tế khách quan là, một nhà khoa học lớn suốt đời theo đuổi chân lý, cố nhiên phải phát biểu chân lý ấy bằng nhiều công trình, Người ấy sẽ đào tạo ra các học trò theo trường phái của mình, phát triển tư tưởng của mình lên tầm cao mới. Nhưng, trong khoa học lại không thể có một người nhận mình là học trò của một người vĩ đại trong khi đã không tuân theo tôn chỉ khoa học của người đó. Vậy nên, ở đây khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là muốn làm người học trò nhỏ thì cũng là rất trung thực (bởi vì mục đích của Người là tìm con đường tư tưởng để cứu nước chứ không phải làm khoa học). Hơn nữa, nếu phân tích kỹ câu nói của Người ta lại thấy Người nhìn nhận rất đúng bản thân: Người một mặt tự nhận là học trò, mặt khác lại không thừa nhận là học trò trung thành của một học thuyết, chủ nghĩa nào, hiểu theo nghĩa thuần túy tiếp thu. Người chọn lọc cái ưu điểm của mỗi học thuyết để phát triển tư tưởng của mình. Ở đây có vấn đề nhạy cảm đó là học thuyết Mác – Lênin, tôi xin giải thích để tránh hiểu nhầm. Người là học trò của Mác, Ăngghen, Lênin, nhưng không phải là học trò thuần túy tiếp thu máy móc tư tưởng của họ. Người nhìn nhận học thuyết Mác xít rồi đối chiếu với thực tiễn cách mạng Việt Nam để tìm ra hướng đi. Riêng luận điểm, “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” đã là một đóng góp vĩ đại cho học thuyết Mác xít thời hiện đại (bởi vì học thuyết Mác xít chỉ nghiên cứu đấu tranh giai cấp, và cho rằng, giải phóng dân tộc chỉ thành công khi giải phóng giai cấp, các dân tộc bị áp bức chỉ giải phóng được mình khi cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp ở chính quốc thắng lợi). Như vậy có thể thấy, ở đây một mặt, Người khiêm nhường nhận là học trò (tức tầm tư tưởng, trí tuệ không sánh bằng Khổng Tử, Giêsu, Mác, Ăngghen, Lênin, Tôn Trung Sơn), một mặt Người đã trung thực với bản thân. Nếu nói Hồ Chí Minh là ai khi học tập các học thuyết, chủ nghĩa ấy, thì theo tôi, Hồ Chí Minh là một người khác – khác so với học trò của các vị tiền bối đó và vì… “vô tiền khoáng hậu”.

Bình diện thứ hai, Người nói về văn hóa dân tộc: đó là một nền văn hóa có bề dày lịch sử. Khi Người nói “tôi chính là… một người yêu nước”, thì ẩn đằng sau câu nói ấy, chúng ta phải hiểu là đất nước chúng ta có truyền thống tốt đẹp, có bề dày văn hóa (không phải đất nước nào cũng có bề dày văn hóa, kể cả những đất nước nền kinh tế, khoa học phát triển). Nói tôi là người yêu nước nghĩa là đứng trên lập trường dân tộc, lấy dân tộc làm gốc, trên cơ sở cái dân tộc tiếp thu cái bên ngoài để làm giàu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải liên hệ với phát biểu của Người ở những câu kế trên để thấy tại sao chúng ta cần phải tiếp thu bên ngoài và tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phải ra đi tìm đường cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX?

Có thể nói rằng, trước khi thực dân Pháp vào Việt Nam, đất nước chúng ta vẫn chỉ quen thuộc với tâm tính á Đông, trong đó đất nước có quan hệ mật thiết nhất với chúng ta là Trung Hoa. Vì chúng ta gần gũi với Trung Hoa (ở đây hiểu về khía cạnh tâm tính, thế giới quan), nên dân tộc chúng ta không bị xáo trộn nhiều khi Trung Hoa xâm lược, đặc biệt là về cấu trúc xã hội. Cũng vì thế nên chúng ta đánh thắng các cuộc xâm lược của Trung Hoa trong khi vẫn dùng những tiềm lực cũ (như phương pháp đấu tranh, phương tiện thiết bị quân sự, lực lượng quân đội… ). Nhưng đến khi người Pháp vào nước ta thì nước ta bị xáo trộn nhiều, các chí sĩ nhiệt thành bế tắc trong lựa chọn con đường cứu nước (bởi vì một lí do cơ bản là chúng ta không thể cứu nước theo con đường và cách thức cũ được nữa). Giữa lúc bế tắc đó, Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường đến với đất nước kẻ thù để tìm hiểu họ. Đây là một hành động vĩ đại vì Nguyễn Ái Quốc vốn quen với Nho học, lại nhỏ bé trước những bậc cha anh như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, tìm một con đường đi, trong khi tương lai thì chưa thể hình dung được. Nhưng cần phải chỉ ra cho rõ ràng rằng, Nguyễn Ái Quốc ra đi đến đất nước kẻ thù không phải chỉ là việc đi để tìm hiểu họ, biết họ phục vụ cho riêng mình, hay nói là “cứu nước” nhưng đang rất mơ hồ, chung chung, chưa xác định được đường hướng (vì lúc này Người mới hai mươi tuổi). Cái vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc ở đây là muốn ra đi để đưa cái mới, cái tốt đẹp về cho dân tộc trên cơ sở nền văn hiến và lịch sử văn hóa dân tộc đã hun đúc từ ngàn đời. Nghĩa là phải chọn cái dân tộc làm gốc, tiếp thu những cái tốt đẹp bên ngoài là để làm giàu thêm bản sắc, làm nên những người Việt mới (tâm thức vẫn mãi mãi là tâm thức người Việt) chứ không phải những người Việt khác (khác với truyền thống, quay lưng với truyền thống). Đây là một tư tưởng lớn. Có tìm hiểu được nền văn hóa, văn minh mới, có làm cho người dân nước Việt bấy lâu bị che kín tầm nhìn thấy được khoảng trời khác để tiếp thu, chuyển hóa thành con người mới thì người Việt mới tự giải phóng được cho mình. Dĩ nhiên là nếu tiếp thu mà trở thành con người khác với truyền thống thì chúng ta sẽ gần với kẻ thù, là anh em với kẻ thù, có nghĩa là chúng ta không cần phải giải phóng dân tộc nữa.

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu trả lời trên là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lúc chúng ta đã có Đảng Cộng sản lãnh đạo, chúng ta đã có chính quyền, nhưng tại sao Người vẫn không nói mình là người cộng sản? Ngoài việc để giữ hòa khí với Tàu Tưởng, trong khi Tàu Tưởng có khả năng hợp tác với quân Pháp, lại trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động bất lợi cho cách mạng Việt Nam, thì theo tôi, bởi vì hơn hết, Người hiểu được dân tộc (và hiểu được chính bản thân mình, bản thân là một người ái quốc, đứng trên lập trường chủ nghĩa yêu nước, không trở thành một người của trường phái nào), Người tự hào về truyền thống của dân tộc (trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng), Người phân biệt được sự khác biệt giữa dân tộc với cái bên ngoài, kể cả với chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa Cộng sản do Mác – Ăngghen sáng lập, Lênin kế thừa và phát huy, dựa trên cơ sở học thuyết thặng dư và lí luận về đấu tranh giai cấp, chỉ áp dụng trước hết cho chính quốc. Mác cũng nói, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ thành công khi đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản đã hoàn thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hiểu dân tộc – hiểu văn hóa, tâm thức dân tộc kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, khác với phương Tây, nên đã phát biểu một luận điểm hết sức quan trọng đó là các nước bị áp bức, bóc lột cũng có thể tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của thực dân và Người đã đưa ra quan điểm: cách mạng ở Việt Nam sẽ tiến hành giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp. Phương Tây trên cơ sở coi trọng cá nhân, cá nhân là trung tâm luận, người Việt và Á Đông nói chung lại coi trọng cộng đồng, gia tộc, coi trọng nhân cách. Vì coi trọng nhân cách, trọng cộng đồng nên người Việt coi cách mạng cũng là một bộ phận tạo thành nhân cách (hành đạo), tức xét chính trị trong đạo đức, coi đạo đức có vai trò cải tạo thế giới (Phương Tây lại đặt chính trị ngoài đạo đức, chính trị là một hoạt động tổ chức xã hội). Điều này lí giải tại sao ở Việt Nam lại có những bà mẹ như Mẹ Thứ, hy sinh 10 người con cho cách mạng mà không nghĩ bất cứ điều gì, lại có hàng vạn người tình nguyện ra chiến trường biết là ra đi khó có ngày trở lại, … làm cho kẻ thù phải kinh ngạc mà thốt lên là không thể hiểu được con người Việt Nam. Đây có thể cũng là nguyên nhân cơ bản để Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: làm chính trị là thực hành đạo đức, “học chủ nghĩa Mác – Lênin để sống với nhau có nghĩa có tình”(3), cho nên ở Việt Nam mới có chuyện là giáo dục bằng tấm gương, một tấm gương sáng còn hơn vạn kinh sách. Đó cũng là một trong những lí do Chủ tịch Hồ Chí Minh âm thầm cắt dán trên một ngàn tấm gương “người tốt, việc tốt” giữa lúc mối quan hệ anh em XHCN không đồng thuận.

Từ quan điểm, văn hóa phải luôn tiếp biến với bên ngoài, phải lấy cái dân tộc làm gốc, ta mới lí giải vì sao hai kẻ thù xa lạ với ta là Pháp và Mỹ lại phải chịu đầu hàng một dân tộc nhỏ bé, nền kinh tế yếu kém, lạc hậu, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển. Chúng ta chiến thắng hai kẻ thù đế quốc khi chúng ta có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chỉ có Đảng Cộng sản lãnh đạo chúng ta mới thực hành được cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng, Đảng chỉ là vạch ra đường lối, Đảng chỉ chỉ đường (đấy là cái mà trước đây chúng ta chưa có), cái quyết định thắng lợi là tinh thần dân tộc, là tâm thức trong mỗi người con Việt Nam (Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập – “câu chuyện” chỉ có ở Việt Nam). Đó là cái bất diệt. Mỹ không thể hiểu vì sao một cường quốc đứng đầu thế giới, vũ khí tối tân lại thua trận tại Việt Nam trong khi Mỹ rất hiểu về chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Điều này có thể giải thích là do Việt Nam không chỉ đánh Mỹ bằng chế độ Cộng sản mà bằng truyền thống lịch sử hàng ngàn năm. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ là cái cư trú, cái mới đến, cái hòa vào tâm thức dân tộc suốt hàng ngàn năm ở Việt Nam, làm tốt đẹp thêm con người Việt Nam. Nếu có thể nói về Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam thì chỉ có thể nói Chủ nghĩa Cộng sản – Việt Nam mà thôi, nghĩa là vẫn là tâm thức người Việt Nam, giống như ngày nay người Việt Nam có sang Âu, sang Mỹ thì cốt tủy vẫn là người Việt Nam: cách đi đứng, kiểu tư duy, kiểu lựa chọn…

Những lí giải trên giúp ta hiểu được vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là người yêu nước, và suốt đời Người vẫn là một người yêu nước nhiệt thành. Người yêu nước và hiểu dân tộc đến nỗi Người luôn chuyển hóa kinh sách, lý luận thành cách nói hàng ngày của người Việt(4). Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hành trang là VĂN HÓA, khi trở về lãnh đạo đất nước, người thanh niên năm ấy, với tên gọi Hồ Chí Minh, cũng luôn yêu cầu phải thực hành văn hóa, vì văn hóa. Điều này chứng tỏ một quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Người đó là: lấy văn hóa làm gốc, văn hóa là mục đích, là động cơ để thực hành chính trị, chính trị và tổ chức xã hội nói chung là để phục vụ cho văn hóa. Sau này có một người đã hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết công trình Văn hóa và đổi mới. Đó là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Công trình xuất bản vào những năm cuối đời, như một di huấn quan trọng. Cố Thủ tướng viết: “Đổi mới phải bắt nguồn và bắt rễ từ mảnh đất văn hóa, truyền thống văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của thời đại… Từ mảnh đất văn hóa đó, sự nghiệp đổi mới, bao quát mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến chính trị và hệ thống chính trị của nước ta, ngày càng mở rộng và phát triển theo chiều cao và bề sâu”(5). Theo tôi đây là những đóng góp, bổ sung quan trọng cho học thuyết Mác xít vì học thuyết Mác xít chưa nhìn nhận thực đúng vai trò của văn hóa. Đấy cũng là lí do khiến triết gia Pháp Jean Paul Sartre không tán thành chủ nghĩa Mác về quan điểm văn hóa mặc dù ông tán thành quan điểm phát triển.

Theo Nguyễn Mạnh Hà
Báo Văn hóa Nghệ An
Thu Hiền (st)

1. “Hồ Chí Minh truyện”, Trương Niệm Thức dịch, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, tháng 6-1949, dẫn theo: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh với Nho giáo, website: http://hoinhavanvietnam.vn. (xin chú thích thêm là, từ sau bản dịch năm 1949, các bản xuất bản sau đó của Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, không có đoạn Bác Hồ trả lời nhà báo nêu trên).
2. Mai Quốc Liên, Tư duy Hồ Chí Minh, TC Văn hoá Hà Tĩnh, số 132, 2009, tr.02.
3. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.34.
4. Xem thêm: Nguyễn Mạnh Hà, Đi xa để tái sinh mãi mãi – một cách nhìn về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 315, 2010.
5. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và Đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.103.

bqllang.gov.vn

Diễn vǎn nhân lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1957)

Thưa đồng bào yêu quý,

Nhân dịp ngày Quốc khánh lần thứ 12, tôi xin thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái chào mừng:

– Đồng bào cả nước và kiều bào nước ngoài,

– Cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở miền Bắc,

– Bộ đội và công an nhân dân,

– Các chiến sĩ thi đua, toàn thể cán bộ và viên chức,

– Các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày kỷ niệm hôm nay là một ngày lịch sử vẻ vang của cả dân tộc ta. Cách đây 12 năm, toàn dân ta từ Nam chí Bắc, đã đoàn kết đứng dậy làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà.

Từ đó, trải qua tám, chín năm, toàn dân ta đã đoàn kết kháng chiến anh dũng và gian khổ. Kết quả là kháng chiến thắng lợi, thành quả của Cách mạng Tháng Tám được bảo vệ, hoà bình được lập lại trong cả nước, miền Bắc của ta được hoàn toàn giải phóng, Hiệp định Giơnevơ công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta. Ngày kỷ niệm hôm nay là một ngày đầy tin tưởng, phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng ở sức mạnh đoàn kết của toàn dân, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

Từ khi hoà bình được lập lại, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đã bước vào một giai đoạn mới. Đảng và Chính phủ phải đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đấu tranh để thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới.

Trải qua thời gian ba năm, nhân dân ta ở miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân, ở cả miền đồng bằng và miền núi. Cải cách ruộng đất căn bản đã hoàn thành, công việc sửa chữa sai lầm phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương đã làm xong và thu được kết quả tốt. Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh. Công nghiệp đã khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới. An ninh trật tự được giữ vững, quốc phòng được củng cố. Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi tinh thần lao động cần cù, đoàn kết cố gắng của nhân dân ta; khen ngợi tinh thần tích cực phục vụ nhân dân, xây dựng đất nước của bộ đội, cán bộ tất cả các ngành, các cấp.

Nhiệm vụ chúng ta trong năm nay là phải tích cực tăng gia sản xuất và tiết kiệm hơn nữa, phấn đấu để hoàn thành kế hoạch Nhà nước, căn bản khôi phục kinh tế của miền Bắc, làm cho đời sống của dân ta được dần dần cải thiện thêm, chuẩn bị điều kiện để sang năm 1958, chúng ta tiến tới xây dựng miền Bắc theo một kế hoạch dài hạn.

Trong khi miền Bắc ngày càng được vững mạnh thêm thì ở miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ càng tăng cường can thiệp, tăng thêm binh bị, nắm hết kinh tế, cùng chính quyền miền Nam phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hoà bình và thống nhất của nước ta. Họ đã dùng mọi thủ đoạn khủng bố, đàn áp, mưu dập tắt tinh thần yêu nước và ý chí thống nhất của đồng bào miền Nam. Nhưng đồng bào miền Nam anh dũng ngày càng đoàn kết rộng rãi hơn, đấu tranh đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình. Gần đây, Chính phủ ta lại đề nghị một lần nữa với chính quyền miền Nam cần có sự tiếp xúc giữa hai miền, lập lại quan hệ bình thường, tiến tới bàn hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền miền Nam vẫn ngoan cố cự tuyệt, họ đi ngược với nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta.

Đồng bào ta ở miền Nam và trong cả nước phải tiếp tục kiên trì đấu tranh, đòi chính quyền miền Nam phải tôn trọng ý chí của nhân dân. Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất, Nam Bắc một nhà không một lực lượng phản động nào có thể chia cắt được. Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất.

Để làm tròn những nhiệm vụ cách mạng to lớn là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, toàn dân ta phải tăng cường đoàn kết hơn nữa, lao động cần cù, đấu tranh bền bỉ hơn nữa. Luôn luôn nêu cao tinh thần phấn khởi, tin tưởng, kiên quyết tiến lên.

Chúng ta nhất định thắng lợi.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, thống nhất Tổ quốc, chúng ta đã được sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc. Chúng ta được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Á – Phi, Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện, Ai Cập, v.v.. Gần đây, quan hệ hữu nghị giữa nước ta và hai nước bạn láng giềng là Khơme và Lào đã có nhiều tiến bộ. Những cố gắng của Uỷ ban Quốc tế ở nước ta cũng đã góp phần vào công cuộc củng cố hoà bình, trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ và nhân dân ta chân thành cảm ơn các nước anh em, các nước bạn. Chúng ta cần thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Và tôi rất lấy làm vui sướng báo cáo với đồng bào rằng cuộc đi thăm vừa rồi của chúng tôi ở các nước anh em đã chứng tỏ rằng tình đoàn kết anh em giữa các nước xã hội chủ nghĩa càng ngày càng bền vững.

*

*     *

Bây giờ, tôi xin báo cáo tóm tắt về cuộc đi thăm các nước anh em. Năm kia, tôi đã cùng phái đoàn Chính phủ ta đi thăm ba nước anh em: từ Trung Quốc, sang Mông Cổ, đến Liên Xô. Lần này, nhận lời mời của Chính phủ chín nước anh em khác, tôi đã cùng các đồng chí Hoàng Văn Hoan, Hoàng Minh Giám, Phạm Ngọc Thạch đi thăm các nước Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari và Rumani. Trên đường đi và về, chúng tôi có lưu lại ít hôm ở Liên Xô và Trung Quốc.

Kết quả cuộc đi thăm hữu nghị của chúng tôi rất tốt đẹp. Khi đi, chúng tôi đã chuyển lời cảm ơn và tình hữu nghị của đồng bào ta cho nhân dân các nước anh em. Nay về, chúng tôi lại có nhiệm vụ chuyển lời chào thân ái và tình đoàn kết của nhân dân các nước anh em cho đồng bào. Chúng tôi đã thay mặt đồng bào cảm ơn các nước anh em đã ủng hộ ta trong cuộc kháng chiến và đang giúp đỡ ta trong công cuộc hoà bình xây dựng lại nước nhà.

Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước anh em đã đón tiếp chúng tôi một cách cực kỳ long trọng, đồng thời cực kỳ thân mật như anh em ruột thịt. Từ những thành phố lớn cho đến những địa phương cách xa các thủ đô hàng trăm cây số, đâu đâu nhân dân các nước anh em cũng hoan nghênh chúng tôi một cách vô cùng nhiệt liệt. Qua nhiệt tình của công nhân, nông dân, trí thức, từ các thanh niên cho đến các cụ già, các cháu bé, chúng tôi cảm thấy rất thấm thía tình đoàn kết và hữu nghị sâu sắc của nhân dân các nước anh em đối với nhân dân Việt Nam chúng ta. Đó không phải là vinh dự riêng của chúng tôi, đó là vinh dự chung của nhân dân ta, của Tổ quốc Việt Nam ta. Đó là biểu hiện của tinh thần quốc tế chủ nghĩa cao cả, cơ sở vững chắc cho mối quan hệ bền vững giữa các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

Khi đến thăm các nhà máy và các nông trường, anh em công nông đều hỏi thăm kết quả về cuộc thi đua sản xuất và tiết kiệm của ta và đều gửi lời thân ái chào mừng và khuyến khích công nhân và nông dân ta.

Công nhân nhiều nhà máy, như Nhà máy dệt Bình Nhưỡng, Nhà máy dệt Tirana, v.v. tỏ ý muốn thi đua với công nhân ta để cùng nhau tiến bộ. Tôi rất vui lòng thấy anh chị em công nhân Nhà máy sợi Nam Định đã hăng hái nhận lời và đang hăng hái tiến hành cuộc thi đua hữu nghị ấy. Tôi mong rằng công nhân các xí nghiệp khác của ta cũng sẽ nhận thi đua với công nhân các nước anh em.

Nông dân các nước anh em cũng rất quan tâm đến nông dân ta. Thí dụ: Hợp tác xã nông nghiệp Salibi ở Tiệp Khắc hứa sẽ tặng một chiếc máy cày và sẽ giúp đỡ mọi mặt hợp tác xã nông nghiệp mới tổ chức đầu tiên của ta.

Trí thức các nước anh em ân cần gửi lời chào thăm trí thức nước ta.

Thanh niên và học sinh các nước anh em có những kinh nghiệm rất tốt về quan điểm lao động, về việc góp công sức vào sự nghiệp xây dựng nước nhà. Thí dụ sinh viên và học sinh Triều Tiên mỗi năm có một tháng tham gia công tác lao động. Thanh niên và học sinh Bungari thì tổ chức thành những đội lao động để tham gia mọi công tác. Chúng ta đã biết rằng thanh niên Liên Xô đã xung phong vỡ hoang hàng chục triệu mẫu ruộng, thanh niên và học sinh Trung Quốc hiện đang có phong trào sôi nổi tham gia công tác lao động.

Các cháu nhi đồng thì nhiệt liệt nhất. Chúng tôi đi đến đâu, các cháu cứ xoắn xuýt giữ lại, không muốn để chúng tôi về. Các cháu ấy muốn liên lạc với nhi đồng ta. Tôi mong rằng các cháu nhi đồng ta sẽ vui vẻ liên lạc với nhi đồng các nước anh em và liên lạc một cách có tổ chức.

Chúng tôi có gặp học sinh và nhi đồng ta đang học ở các nước anh em. Các cháu được săn sóc rất là chu đáo, đều đoàn kết, mạnh khoẻ, vui vẻ, chăm học. Các cháu gửi lời về thăm gia đình, Đảng, Chính phủ và đồng bào.

Chúng tôi rất vui mừng nhận thấycông cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội của các nước anh em phát triển rất nhanh chóng. Chúng ta đều đã biết tốc độ phát triển của kinh tế các nước anh em như thế nào. Đi đến nơi mới thấy cả một sự nghiệp lao động sáng tạo hết sức vĩ đại. Điều rõ rệt nhất là nhiều thủ đô và thành thị lớn như Bình Nhưỡng, Vácsava, Béclin, v.v. bị quân địch phá hoại tan tành trong thời kỳ chiến tranh, nay đều xây dựng lại rất nguy nga đồ sộ. ở Liên Xô, những thành phố lớn như Xtalingrát, Ôđétxa, Xêbáttôpôn, Minxcơ, v.v. trong chiến tranh đã bị quân phát xít Đức phá trụi, nay đã xây dựng lại to lớn và đẹp hơn trước.

Công cuộc kiến thiết kinh tế ở các nước anh em thu được nhiều thành tích như vậy, đó là nhờ tinh thần gian khổ phấn đấu, lao động quên mình của nhân dân các nước anh em, nhờ ở kỷ luật lao động rất nghiêm, tổ chức lao động ngày càng cải tiến. Và cũng phải trải qua một thời gian cố gắng khá dài. Tôi nhớ đến đồng chí Vôrôsilốp khi sang thăm nước ta, có nói rằng: Lịch sử Liên Xô mới bốn mươi năm, trong đó mười tám năm nhân dân Liên Xô đã phải thắt lưng buộc bụng, chịu đói chịu khổ, để ra sức xây dựng nước nhà. Các nước anh em khác được Liên Xô giúp đỡ, thời gian khó khăn cực khổ ngắn hơn, nhưng phải trải qua mấy năm mới đi đến kết quả tốt đẹp ngày nay.

Tôi muốn nói thêm để đồng bào biết rằng: trong cuộc đi thăm vừa qua, chúng tôi đã chú trọng đến tình hình đấu tranh thống nhất của nhân dân Triều Tiên và nhân dân Đức. Điều đáng cho ta học tập là nhân dân hai nước anh em đang hết sức tích cực xây dựng miền Bắc Triều Tiên và miền Đông Đức, thu được rất nhiều kết quả và mỗi một kết quả thu được trong công cuộc hoà bình xây dựng nước nhà đều có ảnh hưởng rõ rệt đến cả nước, đến cuộc đấu tranh thống nhất.

Tôi lại rất vui mừng báo cáo với đồng bào rõ rằng: khi chúng tôi đến thăm nước Hunggari anh em thì nhận thấy tinh thần phấn khởi rõ rệt của nhân dân, tình hình sinh hoạt đã trở lại bình thường, các nhà máy, các hầm mỏ, các nông trường lại hăng hái thi đua tăng gia sản xuất như trước. Đó là một thắng lợi lớn của nhân dân Hunggari anh em, đó cũng là một thắng lợi lớn của tất cả chúng ta.

Đến các nước anh em, chúng tôi đã có dịp nói chuyện nhiều với các đồng chí lãnh tụ Đảng và Chính phủ. Những cuộc gặp gỡ và nói chuyện đó đã diễn ra trong bầu không khí thân mật và thành thật; ý kiến đều nhất trí trên các vấn đề quốc tế quan trọng và những vấn đề thuộc quan hệ giữa nước ta và các nước anh em.

Về tình hình thế giới, chúng tôi đều hoàn toàn nhất trí về sự cần thiết phải đấu tranh để giữ gìn hoà bình lâu dài, mọi vấn đề quốc tế cần dùng cách thương lượng hoà bình mà giải quyết. Cần phải đấu tranh để thực hiện những nguyên tắc chung sống hoà bình để giảm bớt quân bị, thực hiện chính sách tập thể an toàn ở châu Âu và châu Á, cấm dùng bom nguyên tử và bom khinh khí. Khi về qua Mốtcu (1) , chúng tôi được tin Liên Xô thành công rực rỡ trong việc thí nghiệm đạn bay qua các lục địa. Sự kiện quan trọng đó sẽ có tác dụng đối với công cuộc bảo vệ hoà bình, thúc đẩy cuộc đấu tranh chống việc chạy đua vũ trang, đòi giảm bớt quân bị.

Về quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đều nhất trí cần tăng cường đoàn kết trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa, trên nguyên tắc tương trợ hợp tác, tôn trọng chủ quyền của nhau giữa các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa.

Đối với nước Việt Nam ta, thì các nước anh em đều triệt để ủng hộ nhân dân ta trong cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình. Các đồng chí lãnh tụ đều hứa phát triển hơn nữa sự hợp tác về kinh tế và văn hoá giữa các nước anh em với nước ta.

Nói tóm lại, giữa các nước anh em với chúng ta, mọi việc đều ý hợp tâm đầu, vì chúng ta ở trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, cùng phấn đấu dưới ngọn cờ vẻ vang của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng phấn đấu cho một lý tưởng cao quý là chủ nghĩa xã hội. Vì sức đoàn kết nhất trí của chúng ta ngày càng bền vững, quyết không gì lay chuyển được, cho nên chúng ta nhất định thắng lợi. Có thể nói rằng cuộc đi thăm của chúng tôi đã thành công, đã góp phần thắt chặt thêm nữa tình đoàn kết giữa các nước anh em, nâng cao thêm nữa địa vị quốc tế của nước Việt Nam ta.

Nhân dịp này chúng tôi trân trọng cảm ơn các nước anh em một lần nữa.

Thưa đồng bào yêu quý,

Trong thời gian qua, chúng ta đã sung sướng đón tiếp các vị lãnh tụ của các nước anh em và các nước bạn. Đó là các đồng chí Vôrôsilốp, Micaian, Chu Ân Lai, Xirôki, Xirăngkiêvích, các vị Thủ tướng Nêru, U Nu, Phuma, vị Chủ tịch Quốc hội Xáctônô. Hiện nay, đang vui mừng ngày Quốc khánh với chúng ta, có đồng chí Vúcmanôvích, Phó Chủ tịch Chính phủ Nam Tư anh em.

Tôi vui mừng báo tin để đồng bào rõ rằng: còn các đồng chí lãnh tụ tối cao khác của các nước anh em thì đã hứa với tôi sẽ đến thăm nước ta, để chuyển tình hữu nghị thắm thiết của nhân dân các nước anh em cho nhân dân ta. Tôi chắc rằng toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh những tin mừng ấy.

Cuộc đi thăm các nước anh em vừa rồi, tính thời giờ là 55 ngày, tính đường đất thì cả đi lẫn về là gần bốn vạn cây số, nghĩa là gần đường dài vòng quanh quả đất. Thế mà đến đâu, chúng tôi cũng không thấy xa lạ, đến đâu cũng là đồng chí đồng tâm, vì 900 triệu người trong gia đình các nước xã hội chủ nghĩa đều đoàn kết như anh em một nhà. Thế mới biết đại gia đình xã hội chủ nghĩa chúng ta thật là to lớn, hùng mạnh, vĩ đại. Việt Nam ta có quyền tự hào là một bộ phận trong đại gia đình vẻ vang ấy.

Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, với sự đoàn kết nhất trí, lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh của mình, với sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Á – Phi, nhân dân ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ đã đề ra.

– Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh muôn năm!

– Tình đoàn kết của đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc muôn năm!

– Tình hữu nghị giữa nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới muôn năm!

– Hoà bình thế giới muôn năm!

———————————-

Đọc ngày 2-9-1957.
Báo Nhân dân, số 1274, ngày 4-9-1957.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Điện mừng sinh nhật Phó Tổng thống Ấn Độ (5-9-1957)

Kính gửi ông Rađacrixnan,
Phó Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ,

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 69 của Ngài, tôi rất sung sướng kính chúc Ngài mạnh khoẻ sống lâu và thu được nhiều thành công trong công cuộc xây dựng nước ấn Độ giàu mạnh và đấu tranh bảo vệ hoà bình ở Đông – Nam Á và thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————

Báo Nhân dân, số 1275, ngày 5-9-1957.
cpv.org.vn