Tag Archive | Tin tức

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là mục tiêu, vừa là động lực và giải pháp phát triển

Tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Ðảng ủy Tập đoàn Dầu khí vinh dự được Ban Chỉ đạo Trung ương chọn là đơn vị chỉ đạo điểm. Ðảng ủy Tập đoàn đã ban hành tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên Tập đoàn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng, ban hành tiêu chí Văn hóa Petrovietnam.

Cụ thể hóa việc triển khai thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên tinh thần “Ðổi mới quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời” với phương châm “Ðồng tâm hiệp lực, hiện đại hội nhập, tăng tốc phát triển” và bằng các phong trào “Lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến”, “Việc hôm nay không để ngày mai”, Thi đua “Về đích trước” kế hoạch 2010, cuộc vận động “Phấn đấu trở thành đảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam” trong người lao động toàn ngành trong năm năm vừa qua. Cuộc vận động đã trở thành động lực để PVN đạt được những kết quả hết sức to lớn.

Tạo chuyển biến về nhận thức

Ðảng ủy Tập đoàn giao Ban Tuyên giáo cung cấp các tài liệu liên quan và chỉ đạo cấp ủy đảng các đơn vị thành viên trong Tập đoàn tổ chức nghiên cứu, học tập, chọn việc đăng ký làm theo và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, tấm gương của Bác trong các tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Di chúc” và các chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí”, “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Tập trung vào các nội dung cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí với thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập, công tác của từng cá nhân ở mỗi đơn vị; việc nghiên cứu học tập nhất thiết phải có liên hệ với thực tiễn. Bên cạnh việc mời báo cáo viên truyền đạt, bản thân các đồng chí cán bộ lãnh đạo cũng xác định trách nhiệm phải trực tiếp quán triệt tại đơn vị. Ðể thuận lợi cho công tác tuyên truyền giáo dục ở những địa bàn đặc thù và người lao động ở các lĩnh vực khác nhau, Ðảng ủy Tập đoàn đã biên soạn bộ sách “Những người đi tìm lửa” giới thiệu những tập thể, cá nhân tiêu biểu của ngành (đã xuất bản 3 tập), biên soạn cuốn “Dịu dàng và bừng sáng” giới thiệu những gương cán bộ nữ dầu khí tiêu biểu, xây dựng bốn bộ phim: “Tiếp lửa niềm tin của Bác”, “Mãi mãi soi đường chúng ta đi” và “Rực sáng ngọn lửa niềm tin và khát vọng” và “50 năm ngành Dầu khí thực hiện mong ước của Bác Hồ”, ba cuốn kỷ yếu chuyên đề: “Những cá nhân điển hình xuất sắc thực hiện Cuộc vận động”, “Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam – 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” và cuốn sách ảnh “Rực sáng ngọn lửa niềm tin và khát vọng”, triển khai hệ thống pa-nô, áp-phích, khẩu hiệu tuyên truyền tại tất cả các trụ sở, công trường về nội dung thực hiện Cuộc vận động. Ðây là nét sáng tạo của Ðảng ủy Tập đoàn trong việc triển khai học tập tư tưởng, đạo đức của Bác gắn với lịch sử truyền thống của ngành bằng những hình ảnh gần gũi, sống động đã có tác dụng tích cực, hữu hiệu không chỉ với cán bộ, đảng viên, công nhân viên dầu khí mà thông qua công chiếu trên VTV1 đã giúp cho đông đảo người xem hiểu thêm về chức năng, nhiệm vụ cũng như con người Dầu khí, qua đó tạo sự đồng thuận, sẻ chia của toàn xã hội đối với ngành.

100% các đảng bộ trực thuộc Ðảng bộ Tập đoàn đã tổ chức Hội nghị Tổng kết bốn năm thực hiện Cuộc vận động gắn với Lễ Mừng công thi đua về đích trước các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao năm 2010. Hầu hết các báo cáo đã tập trung đánh giá cụ thể, toàn diện kết quả triển khai Cuộc vận động, nhất là việc tổ chức “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện công tác xây dựng đảng, nhiệm vụ chính trị của chi/đảng bộ; những kinh nghiệm, bài học quý giá được đúc rút đồng thời nêu những đề xuất, kiến nghị nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động ngày càng thiết thực, hiệu quả.

Những kết quả nổi bật qua bốn năm thực hiện

Cuộc vận động đã tạo ra tinh thần đoàn kết, nhất trí, chủ động, sáng tạo, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thách thức, kịp thời ứng phó với mọi diễn biến bất thường vốn là đặc thù của ngành dầu khí, với phương châm hành động tăng tốc phát triển đã tạo ra sự tăng trưởng đột biến trong sản xuất, kinh doanh. Cuộc vận động đã thực sự mang đến cho Tập đoàn một luồng sinh khí mới. Khắp nơi đều dấy lên những phong trào thi đua lao động, cải tiến tăng năng suất, tiết kiệm nguyên vật liệu, thực hành lối sống giản dị… Cuộc vận động được thực hiện đều khắp, liên tục với một không khí lạc quan, tin tưởng, vững bước vượt qua cuộc khủng hoảng, kinh tế thế giới và những khó khăn của nền kinh tế nước nhà. Kết quả đạt được của Tập đoàn gần bốn năm qua đạt mức cao nhất từ trước tới nay.

Có được những kết quả ấn tượng đó trong gần bốn năm qua là do Ðảng ủy, Ban chỉ đạo Cuộc vận động đã tập trung chỉ đạo gắn kết mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, thực hành tiết kiệm… với nội dung Cuộc vận động. Với việc đưa các nhà máy nhiệt điện khí (Cà Mau 1-2007, Cà mau 2-2008, Nhơn Trạch 1-2009) và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vào vận hành (từ tháng 2-2009), Tập đoàn đã xây dựng được ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam hoàn chỉnh từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu; đưa thêm năm nhóm sản phẩm mới vào phục vụ nền kinh tế quốc dân, đó là: sản phẩm điện khí, xăng dầu, hạt nhựa Polypropylene, khí nén cao áp và năng lượng sạch. Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí được triển khai tích cực ở cả trong nước và ở ngoài nước. Hệ thống các đường ống dẫn khí được vận hành an toàn và hiệu quả, góp phần bảo đảm nhu cầu khí cho các hộ tiêu dùng; việc đưa vào hoạt động ba nhà máy nhiệt điện khí vào vận hành thương mại đã góp phần tích cực cùng ngành điện Việt Nam bảo đảm an ninh năng lượng điện quốc gia. Công nghiệp chế biến dầu khí được đẩy mạnh và đã thu được nhiều kết quả quan trọng (Nhà máy Ðạm Phú Mỹ được vận hành an toàn và ổn định, đã góp phần tích vực ổn định thị trường và giá phân đạm trong nước, tiết kiệm ngoại tệ do không phải nhập khẩu phân đạm, hỗ trợ đắc lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực của đất nước). Công tác đào tạo và phát triển nhân lực đã có những chuyển biến tích cực. Tập đoàn đã xây dựng được một nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành dầu khí Việt Nam.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tập đoàn đã chủ động, sáng tạo tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác, 80 năm thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, Ðại hội Thi đua yêu nước lần thứ II, gắn với phát động thi đua cao điểm đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thực hiện các mục tiêu kế hoạch của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc vận động đã góp phần đẩy mạnh công tác xây dựng Ðảng, làm chuyển biến tích cực phương thức lãnh đạo và lề lối làm việc. Từ đó, khẳng định rõ nét vai trò, vị trí hạt nhân trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và thúc đẩy thực hiện của các cấp ủy Ðảng.

Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Giai đoạn đầu triển khai Cuộc vận động còn lúng túng, nặng về hình thức do chưa có được nhận thức đầy đủ, toàn diện về tác dụng, ý nghĩa của Cuộc vận động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tính chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện Cuộc vận động ở một số đơn vị còn hạn chế do đặc thù doanh nghiệp hoạt động ở loại hình chuyên môn kỹ thuật. Chưa biến việc làm theo tấm gương, đạo đức của Bác Hồ thành lẽ sống, lối sống của đại đa số cán bộ, đảng viên mặc dù tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên qua học tập, nghiên cứu đều trân trọng, cảm phục, thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, tấm gương cao quý nhưng rất đỗi bình dị của Bác; vẫn còn sự lúng túng trong xử lý mối quan hệ giữa tự giác, điều chỉnh xã hội với các quy chế, quy định về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm công vụ. Nguyên nhân một phần do ý thức chủ quan của cán bộ, đảng viên, một phần do thiếu vận động, giám sát của cấp ủy và những luận giải thuyết phục trong tài liệu tuyên truyền, văn bản hướng dẫn.

Tập đoàn đã chọn đúng và có biện pháp để chỉ đạo bốn đơn vị điểm nhưng chưa xây dựng được mô hình điểm để tuyên truyền nhân rộng; vừa chỉ đạo điểm, vừa chỉ đạo diện rộng tạo ra kết quả đồng đều nhưng chưa có được kết quả của việc chỉ đạo điểm phục vụ chỉ đạo đại trà. Nguyên nhân bởi các yêu cầu, chủ đề của Cuộc vận động được nâng cao hằng năm dẫn đến không đủ thời gian đánh giá, tổng kết mô hình của đơn vị được chọn chỉ đạo điểm để rút kinh nghiệm.

Một số kinh nghiệm bước đầu được rút ra về công tác chỉ đạo điểm tại Tập đoàn:

Một là, Ðảng ủy lãnh đạo Tập đoàn và các cấp ủy trực thuộc thống nhất nhận thức coi việc được chỉ đạo điểm triển khai Cuộc vận động không chỉ là nhiệm vụ, mục tiêu mà còn là cơ hội, động lực, giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, xây dựng đảng và lãnh đạo đoàn thể; kiên định mục tiêu, thực hiện lâu dài, chỉ đạo quyết liệt nhưng không nóng vội, chủ quan.

Hai là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên được phân công giữ vị trí lãnh đạo, quản lý. Kết hợp chặt chẽ giữa học tập, nghiên cứu với hướng dẫn, tạo điều kiện để đảng viên và quần chúng tích cực, tự giác làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Ba là, sáng tạo trong tuyên truyền vận động, kịp thời phát hiện nhân tố, coi trọng vai trò của quần chúng và chi bộ trong việc theo dõi, giám sát, đánh giá việc làm theo các nội dung đăng ký thực hiện Cuộc vận động của từng tổ chức và cá nhân. Lựa chọn nội dung “làm theo” ở những khâu cần đột phá, những việc còn yếu kém để khắc phục, tập trung làm tốt; những trọng tâm, thế mạnh để phát huy, làm tốt hơn nữa.

Bốn là, khai thác đặc tính nhân văn trong tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, thông qua Cuộc vận động tạo sự thống nhất, đồng thuận, đoàn kết, hợp tác trong Ðảng, trong hệ thống chính trị; tăng cường phối hợp, chia sẻ giữa đồng chí, đồng nghiệp vì mục tiêu chung.

Qua quá trình triển khai Cuộc vận động, Tập đoàn luôn chú trọng vai trò nêu gương thực hiện của đội ngũ lãnh đạo các cấp thông qua sự giám sát thực hiện của chi bộ và quần chúng; coi Cuộc vận động vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là giải pháp phát triển Tập đoàn. Kết quả đã tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên Dầu khí thấm nhuần sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó đã có tác động tích cực đến việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị. Qua bốn năm (từ 2007 đến nay), tập thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên Dầu khí đã nỗ lực, phấn đấu không ngừng, vượt qua khó khăn, thách thức của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới và trong nước, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước giao; khẳng định vai trò trụ cột, đầu tàu kinh tế của đất nước, duy trì ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng và tham gia bảo vệ, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia trên biển.

Ðịnh hướng thực hiện những năm tiếp theo

Nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2011 và những năm tiếp theo, toàn Ðảng bộ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam tập trung thực hiện các nội dung sau:

Quán triệt nhận thức trong các cấp ủy, đoàn thể và toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động Dầu khí kiên trì học tập và tự giác làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, chuyển mạnh từ “học tập” sang “làm theo”.

Gắn thực hiện Cuộc vận động với các nhiệm vụ chính trị của từng cán bộ, đảng viên, của mỗi đơn vị thành viên và của Tập đoàn nhất là Chiến lược tăng tốc phát triển giai đoạn 2011 – 2015 theo hướng thiết thực trong đó chú trọng việc “Làm theo”. Tiếp tục coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác của ngành, từ bộ máy Tập đoàn đến các cơ sở, đặc biệt là trong sinh hoạt đảng và tu dưỡng, rèn luyện của từng cán bộ, đảng viên, người lao động. Xây dựng Ðảng bộ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước giao phó, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu./.

ÐỖ VĂN HẬU
Phó Bí thư Ðảng ủy – Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

tuyengiao.vn

Điện mừng Hội nghị thế giới chống bom nguyên tử và bom khinh khí (29-7-1969)

Kính gửi Hội nghị thế giới lần thứ 15 chống bom nguyên tử và khinh khí họp ở Nhật Bản,

Thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Nhật Bản anh em đòi triệt để cấm vũ khí hạt nhân, đòi xoá bỏ “Hiệp ước an ninh” Nhật – Mỹ, đòi trả ngay không điều kiện và hoàn toàn đảo Ôkinaoa cho Nhật, đòi huỷ bỏ tất cả cǎn cứ của Mỹ trên đất Nhật, chống việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.

Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân Nhật Bản, của bè bạn khắp nǎm châu, cũng như của Hội đồng Nhật Bản chống bom nguyên tử và bom khinh khí.

Nhân dịp này, tôi xin gửi đến nhân dân Nhật Bản và quý vị lời cảm ơn chân thành và chúc Hội nghị đạt được những mục tiêu cao cả của mình, vì lợi ích của hoà bình thế giới.

Ngày 29 tháng 7 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 5586, ngày 31-7-1969.

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, hai năm sau khi Nhà nước giành được độc lập, có giá trị đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn. Lúc bấy giờ đất nước ta vẫn tồn tại hai loại chính quyền: chính quyền do thực dân Pháp dựng lên và chính quyền cách mạng. Nhưng Bác biết rằng chính quyền cách mạng sẽ nắm được quyền lãnh đạo, và để nắm được quyền quản lý đất nước thì chính quyền cách mạng phải có các phẩm chất tốt. “Sửa đổi lối làm việc” – nói cho cùng, đó là sửa đổi tinh thần cơ bản của những người nhận trách nhiệm hướng dẫn và lãnh đạo một dân tộc nhằm mục tiêu giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Tác phẩm của Bác đã quán triệt tinh thần đó, với lối viết cô đọng, sáng rõ và cụ thể, “Sửa đổi lối làm việc” trước hết thể hiện tư tưởng và tình cảm là tất cả vì nhân dân.

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh – kể từ khi bước chân ra đi tìm đường cứu nước tới khi viết những dòng Di chúc cuối cùng – tất cả đều toát lên một tư tưởng vĩ đại: vì Nhân Dân! Nhân dân trong tâm hồn Bác như một nỗi thương cảm, nỗi day dứt, như mục tiêu sống của mình. Nhân dân Việt Nam có lịch sử lâu dài nghìn năm, trong đó có thời gian dài với thân phận đau khổ và “lép vế”. Bác đã thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ đau, sự bất hạnh và thân phận “lép vế” của một dân tộc bị “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” hoành hành. Cuộc cách mạng mà Bác và Đảng lãnh đạo chính là vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân.

Toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Bác là để giải phóng nhân dân, như Bác đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”…1 Toàn bộ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện nỗi khắc khoải chính trị, những ưu tư, băn khoăn của Người và mong muốn cán bộ cách mạng thay đổi phong cách làm việc để tất cả vì nhân dân phục vụ. Nếu nhìn từ góc độ này thì chúng ta thấy cả cuộc đời của Bác là nỗi niềm đau đáu vì hạnh phúc của nhân dân. Qua tác phẩm này, chúng ta hiểu được một điều sâu sắc rằng: Bác quan tâm đến nhân dân với tất cả tấm lòng và tình cảm của Người.

Cũng xuất phát từ tình cảm đó mà trong “Sửa đổi lối làm việc” Bác đặt vấn đề cho những người phục vụ nhân dân, “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân” phải có phẩm chất và đạo đức cách mạng. Bác yêu cầu những cán bộ cách mạng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng và mục tiêu của Đảng là suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng để phục vụ nhân dân. Chính vì nỗi lo lắng ấy, nên Bác đã đặt ra vấn đề rèn luyện đạo đức đối với các đồng chí của mình. Bằng tác phẩm này, Bác trang bị cho các đồng chí của mình các công cụ và tiêu chuẩn đạo đức nhằm hai mục đích rất rõ ràng: Thứ nhất là, thu hút sự ủng hộ của nhân dân để tiến hành một cách thuận lợi cuộc kháng chiến; và thứ hai là, để cán bộ cách mạng sửa chữa những thói hư, tật xấu thường có trong mỗi người để rèn luyện và nêu cao đạo đức cách mạng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Bác quan niệm: cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời báo cáo tình hình của dân cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định rằng, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu có ảnh hưởng quyết định tạo nên.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ, trong đó việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trở thành những người có văn hóa, có tri thức và nghiệp vụ. Điều đó được thể hiện:

1. Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì rằng, cán bộ làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở ngành, nghề ấy. Đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thành thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2. Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn coi cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải hiểu biết rõ cán bộ, xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Bác đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: phải khéo dùng cán bộ; phải biết tùy tài mà dùng người; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải dùng người đúng chỗ, đúng việc. “Dụng nhân như dụng mộc” – không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn cách mạng. Ngay từ khi mới giành được chính quyền năm 1945, Bác đã thành lập một Chính phủ Liên hiệp, đoàn kết, mở rộng, tập hợp xung quanh Bác những nhân sỹ trí thức (cả quan lại của chế độ cũ). Giành chính quyền, đạp đổ chế độ phong kiến và ngai vàng của vua chúa, nhưng Bảo Đại được Bác mời làm Cố vấn Chính phủ mới. Ông vua không bị treo cổ như khi cách mạng Pháp và cách mạng Nga thành công. 12 vị quan chức của Chính phủ thân Nhật – Trần Trọng Kim, thì 10 vị được tham gia Chính phủ Cụ Hồ, như các ông Hoàng Xuân Hãn, Trần Đình Nam, Phan Anh… Có đến 50 ghế Nghị sỹ thuộc lực lượng chống đối được quyền đặc cách, không qua bầu cử Quốc hội. Những người không phải đảng viên như bác sỹ Trần Duy Hưng, bà Thục Viên, Vũ Đình Hòe, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe, Đỗ Đức Dục… đều được trọng dụng và có những đóng góp lớn cho cách mạng ở vị trí công tác của mình. Thậm chí, những nhân vật chính trị như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cũng được mời tham gia Chính phủ. Nghĩa là Bác đã sử dụng từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Đó là sự thể hiện tinh túy và cốt lõi của“Sửa đổi lối làm việc” để bồi dưỡng và giáo dục cán bộ cách mạng.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc làm được việc tốt, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn và liên tục, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt phải dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3. Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách: Thứ nhất là chỉ đạo – tạo điều kiện cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà hướng dẫn cho họ phương hướng, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Việc đào tạo và sử dụng hợp lý đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ để làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó quan hệ rất lớn tới tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng. Nghĩa là phải quan tâm đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần của người cán bộ để họ có đủ điều kiện hoạt động và phục vụ cách mạng.

4. Về chính sách cán bộ. Bác chỉ ra cần phải hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người khác thiếu khách quan. Không thể đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó “cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ. Từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu, trong đó Bác coi trọng nghệ thuật sử dụng cán bộ. Bác đề ra các yêu cầu như sau:

4.1. Khéo dùng cán bộ. Mục đích của việc này là cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài, ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

4.2. Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt của họ, v.v…

4.3. Thương yêu cán bộ. Điều này được thể hiện là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

4.4. Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm.Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song, không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt, thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” của Bác Hồ tuy nhỏ, nhưng có giá trị vô cùng lớn lao. Cuốn sách ra đời đến nay đã hơn nửa thế kỷ, nhưng qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, qua kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và 30 năm kháng chiến chống Mỹ, cũng như qua công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định những đóng góp to lớn của đội ngũ những người lãnh đạo các cấp của Đảng và Nhà nước được Bác Hồ rèn luyện và giáo dục theo tinh thần được thể hiện trong “Sửa đổi lối làm việc”. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới của đất nước hiện nay cũng như trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” càng có ý nghĩa to lớn và quan trọng không chỉ đối với mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn cho tất cả chúng ta./.

HẠNH LIÊN
Tạp chí Ngân hàng


Chú thích:

1 Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4, Lời giới thiệu, tr.XII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (2002), Tuyển tập, “Sửa đổi lối làm việc” tập II, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, (2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Võ Nguyên Giáp (2006), Hồi ký – Tổng tập, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

vssr.org.vn

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(TCTG) – Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm hết sức đặc sắc về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong phương thức tiếp cận chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh có nhiều định nghĩa khác nhau:

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hoàn chỉnh đối lập với chế độ tư bản chủ nghĩa;

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra các mặt riêng biệt của nó (về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, quan hệ quốc tế…);

– Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bắng cách nêu bật mục tiêu (tổng quát và cụ thể) của nó, v.v.

Trong các cách tiếp cận đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, theo Người, mục tiêu là sự thể hiện cô đọng nhất các bản chất đặc trưng, tính ưu việt vốn hàm chứa trong chế độ xã hội tương lai mà chúng ta xây dựng.

Hồ Chí Minh ý thức được rõ ràng giá trị của chủ nghĩa xã hội về mặt lý luận là quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực hiện những giá trị này. Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của Hồ Chí Minh là đề ra các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta. Chính thông qua quá trình đề ra các mục tiêu đó, chủ nghĩa xã hội được biểu hiện với việc thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao động, theo các nấc thang từ thấp đến cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế độ xã hội mới.

Vào những năm hai mươi thế kỷ XX, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là đảm bảo cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no, việc làm cho mọi người và niềm vui, hoà bình, hạnh phúc cho mọi người. Nghĩa là, chủ nghĩa xã hội hướng tới bảo đảm các giá trị làm người chân chính trong quá trình phát triển các quan hệ xã hội mang đúng bản chất người cao quý.

Vào những năm năm mươi, sáu mươi, khi miền Bắc trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người xác định rõ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là thoả mãn các nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người: chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc; hoặc ở mức độ khái quát cao hơn: mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Đây là cách diễn đạt Người thường dùng nhất.

Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là mục tiêu tổng quát theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng chính là khát vọng, mong muốn cháy bỏng mà Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời mình để phấn đấu vươn tới: xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của thế giới.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về khát vọng, về mục tiêu cao cả của chế độ xã hội mới-chủ nghĩa xã hội-rất gần với triết lý nhân sinh của Phật giáo: “Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” (lấy cái tâm của người khác làm cái tâm của chính mình). Vì thế, cách nói và diễn đạt này dễ đi vào lòng người, dễ được chấp nhận, bởi nó không hoàn toàn xa lạ với tâm thức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cho thấy, khi đề cập đến một vấn đề hiện đại, Người vẫn đứng trên mảnh đất cội rễ truyền thống Việt Nam, tạo nên một dòng chảy văn hoá liền mạch từ quá khứ, qua hiện tại, để hướng tới tương lai theo một hệ chuẩn giá trị nhất quán, nhân văn và nhân đạo.

Theo Hồ Chí Minh, hiểu mục đích của chủ nghĩa xã hội, nghĩa là nắm bắt nội dung cốt lõi con đường lựa chọn và bản chất thực tế xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng. Tiếp cận chủ nghĩa xã hội về phương diện mục đích là một nét đặc sắc, thể hiện phong cách và năng lực tư duy lý luận khái quát của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh có nhiều cách đề cập mục đích của chủ nghĩa xã hội. Có khi Người trả lời một cách trực tiếp: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(1). Hay “mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”(2). Hoặc Người diễn giải mục đích tổng quát này thành các tiêu chí cụ thể: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(3). Nhiều khi Người nói một cách gián tiếp, không nhắc đến chủ nghĩa xã hội, nhưng xét về bản chất, đó cũng chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm của Người. Kết thúc bản Tài liệu tuyệt đối bí mật (sau gọi là Di chúc), Hồ Chí Minh viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(4).

Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống nhân dân. Đó là sự tin tưởng cao độ vào lý tưởng vì dân. Theo Người, muốn nâng cao đời sống nhân dân, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống nhân dân, quan điểm này có ý nghĩa sâu sắc đối với các thế hệ người Việt Nam trong quá trình xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn. Cách tư duy lấy chủ nghĩa xã hội làm điểm xuất phát tuyệt đối, làm cơ sở cho mọi hoạt động thực tiễn cần phải được bổ sung bằng sự tác động trở lại và chủ nghĩa xã hội cũng phải được làm rõ bởi hàng loạt các quan hệ khác. Mục đích nâng cao đời sống toàn dân là tiêu chí tổng quát để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất xã hội chủ nghĩa của các lý luận chủ nghĩa xã hội và chính sách thực tiễn. Trượt ra khỏi quỹ đạo đó thì hoặc là chủ nghĩa xã hội giả hiệu, hoặc không có gì tương thích với chủ nghĩa xã hội.

Chỉ rõ và nêu bật mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử, chỉ ra nhiệm vụ giải phóng con người một cách toàn diện, theo các cấp độ: từ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xã hội đến giải phóng từng cá nhân con người, hình thành các nhân cách phát triển tự do. Quan niệm này của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với quan điểm mác-xít khi nói về xã hội tương lai, với tư cách là một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người và đạt đến chiều sâu nhất, triệt để nhất.

Quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, trải qua một thời kỳ quá độ, nhiều bước trung gian, quá độ nhỏ. Đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế, chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”(5). Như vậy, Hồ Chí Minh đã xác định các mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là:

Mục tiêu chính trị: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ chính trị phải là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước có hai chức năng: dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Hai chức năng đó không tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau. Một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; mặt khác, lại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ con đường và biện pháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.

Hồ Chí Minh xác định rõ dân chủ như một giá trị phổ biến mà loài người mong muốn và đến chế độ xã hội chủ nghĩa giá trị phổ quát này mới đạt đến mức độ hoàn bị nhất. Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Người diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, nhưng ẩn chứa nhiều điều lớn lao, hệ trọng: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Mặt khác, Người còn xác định dân chủ như một động lực của sự phát triển: thực hành dân chủ là chiếc chìa khoá vạn năng giải quyết mọi khó khăn; dân chủ là chìa khoá của mọi tiến bộ và phát triển… Quan niệm này đặt nền tảng và giữ vai trò chủ đạo trong lý luận xây dựng Nhà nước, xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước.

Mục tiêu kinh tế: nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công-nông nghiệp hiện đại, khoa học-kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà”. Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm. Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể trên các quy mô khác nhau.

Mục tiêu văn hóa-xã hội: theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu…

Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người khẳng định “phải xã hội chủ nghĩa về nội dung”; để có một nền văn hóa như thế ta phải phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến của thế giới. Phương châm xây dựng nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm cho phong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời phải có bề sâu. Trong khi đáp ứng mặt giải trí thì không được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắc nhở phải làm cho văn hóa gắn liền với lao động sản xuất…

Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết về mặt tư tưởng. Người cho rằng: “Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn luyện tài năng, đem tài năng cống hiến cho xã hội. Tuy vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tài năng với đạo đức. Theo người, “có tài mà không có đức là hỏng”; dĩ nhiên đức phải đi đôi với tài, nếu không có tài thì không thể làm việc được. Cũng như vậy, Người luôn gắn phẩm chất chính trị với trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ trong đó “chính trị là tinh thần, chuyên môn là thể xác”. Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người. Do vậy, tất cả mọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng, vừa có đức vừa có tài, vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển và ngày càng hoàn thiện dần cùng với sự phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội nói chung. Điều này được thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991). 25 năm sau, quan niệm trên đây về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội XI của Đảng sửa đổi, bổ sung và diễn đạt lại: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(6).

Nếu so sánh với quan niệm được V.I.Lênin trình bày trong “Nhà nước và cách mạng” về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, có thể thấy rằng có một gạch nối rất nhất quán giữa V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, Cương lĩnh (1991) hay Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó cho thấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nói riêng, của chủ nghĩa cộng sản nói chung có thể được thể hiện ra ở rất nhiều thuộc tính, thêm nữa, phần lớn các thuộc tính ấy đều được nêu ra dưới dạng dự báo, cho nên việc liệt kê các thuộc tính ấy ở các tác giả khác nhau có những khác nhau, kể cả ở các tác gia kinh điển. Điều đó khiến cho nhu cầu tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ mục tiêu cơ bản của nó đang dần trở nên bức thiết hơn so với cách liệt kê các đặc trưng chế độ xã hội mà chúng ta xây dựng./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH

__________________________

(1), (2), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.10, tr.271, 159, 191.
(4) – Sđd, t.12, tr.506.
(5) – Sđd, t.8, tr.493-494.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. CTQG, H, 2011, tr. 70.

tuyengiao.vn

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG) – Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, đất nước và nhân dân ta không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất. Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó có ngoại giao nhân dân gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố của tình hình thế giới và trong nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu như: Các quyền dân tộc cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế, v.v… trong đó ngoại giao là một mặt trận là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người “ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (1), nhất là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (2). Vì vậy, Người khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, nên “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.

Thực hiện theo quan điểm, tư tưởng của Người, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, việc phối hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh chính trị, quân sự của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn dân tộc.

Kiên định mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời với việc đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế, để kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn. Trong mọi “nguồn lực” đó, ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao nhân dân được chú trọng và đã phát huy vai trò to lớn, vì đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cục diện cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà còn luôn giữ vai trò quan trọng tích cực và chủ động, để biểu dương và nhân nguồn sức mạnh của thực lực.

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các nước tiến hành các hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng quy tụ lại thành hai loại chính là ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhà nước là mối quan hệ giữa chính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà lãnh đạo của các nước. Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại diện cho chính phủ ở nước sở tại. Ngoại giao nhân dân là một hình thức hoạt động quan hệ đối ngoại do các tổ chức, các đoàn thể, hoặc cá nhân thuộc nhiều lĩnh vực tiến hành, không mang tính chất chính thức của Chính phủ. Có nhiều hình thức phong phú: gặp gỡ, các cuộc đi thăm, hội đàm, trao đổi ý kiến, festival…

Hoạt động của ngoại giao nhân dân là phát huy “sức mạnh mềm” (3) của một nước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực hiện chính sách đối ngoại mà chính phủ nước đó đề ra. Ngoại giao nhân dân là lực lượng quan trọng của mặt trận ngoại giao và ưu thế của ngoại giao nhân dân là có thể đi đầu, có thể đi trước tại những nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chính thức của nhà nước chưa có điều kiện triển khai.

Tham gia làm ngoại giao nhân dân gồm các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp, toàn thể nhân dân và nhiều khi cả tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và mang dấu ấn riêng của Người, ngoại giao nhân dân là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Chính phủ Việt Nam, thể hiện rõ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất và XHCN.

Ngoại giao nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một lực lượng quan trọng của mặt trận đối ngoại. Bởi vì theo Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là việc riêng của “các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn là các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” (4). Đây là quan điểm xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của cha ông ta, được Người kế thừa và nâng lên một bước: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Vậy ngoại giao cũng là mặt trận không thể thiếu sự tham gia của nhân dân.

Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Người từng nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa”. Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp của toàn dân, mà còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn bè thế giới ủng hộ, giúp đỡ mình.

Để thực hiện chính sách ngoại giao nhân dân rộng mở, tập hợp các lực lượng đoàn kết với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Và muốn tăng cường đoàn kết, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thông qua đấu tranh và “mục đích của ta là vì đoàn kết, vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đến đoàn kết chứ không nói xấu ai” (5). Đoàn kết hợp tác với bên ngoài để tăng cường sức mạnh bên trong, nhân nguồn sức mạnh của bên trong, vì vậy, phải xây dựng thực lực sức mạnh đất nước, chính nghĩa của dân tộc làm nền tảng, để thu hút sự ủng hộ của quốc tế.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Từ đó Người đặt cách mạng Việt Nam trong tiến trình chung của cách mạng thời đại. Trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Cách mạng An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả” (6). Và khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngay từ những ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập các tổ chức ngoại giao nhân dân đầu tiên ở trong nước để tiếp cận với phong trào hòa bình và đoàn kết của cách mạng thế giới.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản, với phong trào giải phóng dân tộc, với phong trào hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Năm 1948, khi ta giành được thắng lợi trên chiến trường, nhưng về ngoại giao, thế giới chưa biết nhiều về cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta. Khi ấy, chính Người đã chỉ đạo việc tổ chức một đoàn cán bộ được tuyển chọn từ các ngành dân, chính, Đảng ra nước ngoài để tuyên truyền về cuộc kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951, khi nêu khái niệm về ngoại giao nhân dân và tầm quan trọng của nó, Đảng ta đã tự kiểm điểm: “Do chưa nhận thức đầy đủ về tác dụng của ngoại giao nhân dân, ta chưa có kế hoạch tích cực, kiên quyết vượt qua mọi trở lực, để xúc tiến ngoại giao nhân dân”, đồng thời nêu nhiệm vụ phải “phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi”, “củng cố ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, tăng cường việc ngoại giao giữa đoàn thể nhân dân nước ta và các đoàn thể nhân dân thế giới” (7). Đây là một sự phát triển sáng tạo trong nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và vị trí của ngoại giao nhân dân, phù hợp với tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đặt cơ sở cho hoạt động ngoại giao nhân dân thời kỳ tiếp theo.

Ngoại giao nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính nhân dân sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó còn là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và thực hiện phương pháp ngoại giao “tâm công”, nhằm “tuyên truyền cái chính nghĩa của ta trong nhân dân các nước đối phương, trong nhân dân thế giới”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, mặt trận ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân đã phát huy sức mạnh một cách hữu hiệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt – Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận thống nhất nhân dân hai nước; mà cũng là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa” (8). Phối hợp cùng với hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, những hoạt động ngoại giao của nhân dân ta ở miền Bắc, ở miền Nam đã góp phần hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình, công lý của nhân dân Việt Nam.

Theo lời Người, đối ngoại là công việc chung của toàn Đảng, toàn dân, nên mỗi người dân Việt Nam đều có vinh dự và trách nhiệm là đại diện cho dân tộc mình trước bạn bè thế giới. Chính Người là nhà ngoại giao nhân dân tiêu biểu với phong cách ngoại giao “tâm công”, độc đáo và là tấm gương mẫu mực vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã dùng triết lý phương Đông, kết hợp hài hòa với văn hóa phương Tây trong ứng xử của mình, để vừa giữ được sự mềm dẻo, tinh tế, lại vừa đảm bảo được nguyên tắc, mục tiêu cách mạng, phân hóa được kẻ thù, tấn công vào lòng địch. Song hơn hết, tư tưởng ngoại giao nhân dân của Người đề cao lòng nhân ái, thái độ chân thành, biết thông cảm, chia sẻ đã xóa bỏ ranh giới và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tại các nước đế quốc đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Trong bối cảnh thực dân Pháp đã cố tình gây chiến và buộc dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau”. Và với nhân dân Mỹ, phối hợp với chính sách ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi phân biệt rõ ràng đế quốc Mỹ là kẻ thù và nhân dân Mỹ là người bạn của nhân dân Việt Nam”, để có thêm “những người bạn quý ở trong lòng nước Mỹ”.

Ít có vị lãnh tụ nào trên thế giới trong khi đang lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình, lại vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông với nhân dân các nước ở phía bên kia chiến tuyến. Trong các bức thư gửi nhân dân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ rằng: Người không lên án bản thân những người lính Mỹ bị đưa sang Việt Nam, bởi họ, cũng như các binh lính thuộc địa trước đây chẳng qua là công cụ của nhà cầm quyền. Vì vậy, Người bày tỏ: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành” (9).

Lịch sử dựng nước và giữ nước của các dân tộc trên thế giới đều có điểm chung là được lòng dân thì làm việc gì cũng dễ. Ngọn cờ độc lập, tự do mà Hồ Chí Minh giương cao, không chỉ phù hợp và được lòng dân Việt Nam, mà còn phù hợp tâm tư, khao khát của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoại giao nhân dân của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người là sự phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong công cuộc chung chống lại kẻ thù chung của hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vì vậy hấp dẫn và quy tụ được sự đồng cảm và ủng hộ của “mặt trận nhân dân thế giới”.

Kết hợp đấu tranh ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã rất thành công khi phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân trong những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa (1945-1946). Cũng kết hợp thành công ngoại giao nhân dân với ngoại giao Nhà nước, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân loại tiến bộ trên thế giới hiểu sâu sắc hơn về khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam khi kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hiệp định Pari năm 1973, và bền bỉ tiến hành cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất.

Cùng với thời gian, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân được hình thành trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, trong đó đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân văn trong ngoại giao của cha ông ta và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một phương pháp ứng xử khéo léo để không những đoàn kết nhân dân trong nước, mà còn có thể tập hợp các lực lượng bên ngoài hỗ trợ tích cực cho thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trên tinh thần đó, Đảng ta chủ trương: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân,… làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta” (10).

Đất nước đang đổi mới và hội nhập toàn diện, hoạt động ngoại giao nhân dân cũng khoác thêm lên mình “chiếc áo” mới. Cũng giống như đối ngoại của Nhà nước, ngoại giao nhân dân triển khai đều cả bốn mặt trận: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần quảng bá hình ảnh, bảo vệ lợi ích của Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân khu vực và trên thế giới; vận động nhân dân thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; vận động viện trợ phi chính phủ của nước ngoài tăng đáng kể,v.v…

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Có thể nói, ngoại giao nhân dân và sự kết hợp giữa ngoại giao nhân dân và ngoại giao Nhà nước là sự sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người về đối ngoại nói chung và ngoại giao nhân dân nói riêng đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc, thành kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng của Người về nền ngoại giao nhân dân đã góp phần đưa đất nước “ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” (11). Ngày nay, khi giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, thì ngoại giao nhân dân “tiếp tục được mở rộng” (12) càng phát huy được sức mạnh tối ưu của nó. Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao nhân dân, để mỗi người dân đều có vai trò là một “đại sứ” của đất nước là góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới và hội nhập trong lòng bạn bè thế giới./.

ThS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Bảo tàng Hồ Chí Minh

_____________________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.514.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, t.8, tr.290.
(3) – Theo định nghĩa của Joseph Nye, giáo sư của Đại học Harvart- nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, một trong những người sáng lập nên chủ nghĩa tân tự do về quan hệ quốc tế thì “sức mạnh mềm ” hay còn gọi là “quyền lực mềm” là “khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. Trong khi đó “sức mạnh cứng” của một nước là sức mạnh về kinh tế, quân sự của nước đó.
(4), (5) – Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H, 2002, tr. 168, 156.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.2, tr.301.
(7) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.12, tr.117.
(8) (9) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t. 12, tr.524, 271.
(10), (11) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H, 2001, tr. 122-123, 19.
(12) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.157.

tuyengiao.vn

Điện chào mừng các đại biểu tham dự “cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” (22-8-1969)

Kính gửi các đại biểu tham dự “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam”1),

Henxinki

Tôi rất vui mừng gửi lời chào mừng nhiệt liệt và lời cảm ơn chân thành tới các đại biểu thanh niên và sinh viên thế giới đang đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Cuộc họp mặt của các bạn là một biểu hiện rực rỡ của nhiệt tình và quyết tâm của thế hệ trẻ muốn thực hiện những lý tưởng cao đẹp là tự do, độc lập dân tộc và hoà bình. Giữa lúc chính quyền Níchxơn đang ngoan cố tǎng cường chiến tranh xâm lược, cố giữ nguỵ quyền Sài Gòn và gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân chúng tôi, cuộc họp mặt đó càng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ra sức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Nhân dân Việt Nam càng kiên trì chiến đấu cho đến khi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đặt điều kiện gì, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định lấy công việc của mình.

Chúc cuộc gặp gỡ của các bạn thành công.

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 5611, ngày 25-8-1969.

—————————————-
1) “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” diễn ra ngày 23-8-1969, tại Henxinki (Phần Lan).

cpv.org.vn

Bác Hồ đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ.

388.jpgBác Hồ tát nước với bà con Thanh Oai – Hà Đông. Ảnh: Tuấn Anh

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng; thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban đời sống” mới nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học, nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của ban “Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cừa trưởng học bệnh xá bị đổ bao nhiêu, khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân. Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc-Hưng-Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”~ Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng; cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: ” Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được” Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nưa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình. Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ-cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cung đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân- Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi tết vừa qua gia đình đón, tết có vui không. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn tết không vui. Bác hỏi vì sao, cụ kể lại gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua Huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui Bác bảo, làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”. Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền ldi củá nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách nạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo.

hochiminhhoc.com

Giới thiệu cuốn sách “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đài hoa vĩnh cửu”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, nhà văn hoá kiệt xuất, người chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người sống mãi với thế hệ hôm nay và muôn đời con cháu mai sau. Sau khi Người qua đời, thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người giữa Ba Đình lịch sử; nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khởi công xây dựng vào ngày 02/9/1973 và sau gần hai năm xây dựng, được khánh thành mở cửa đón tiếp đồng bào và khách quốc tế đến viếng Người. Việc hoàn thành công trình đúng thời hạn, đúng tiêu chuẩn kỹ thuật là kết quả của một quá trình lao động khẩn trương, đầy nhiệt tình, trách nhiệm của đông đảo cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ. Đây thực sự là một thành tựu đặc biệt trong xây dựng, thể hiện tình cảm sâu nặng của đồng bào, chiến sỹ ta đối với Bác Hồ kính yêu.

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình xây dựng, quản lý, vận hành công trình Lăng của Người, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đài hoa vĩnh cửu” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành.

Cuốn sách được đồng chí Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời tựa, với 237 trang gồm nhiều hình ảnh và tư liệu mới thể hiện tình cảm kính yêu vô bờ bến, lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và tình cảm quốc tế cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với Bác Hồ lúc Người còn sống cũng như khi Người đi vào cõi vĩnh hằng. Cuốn sách được biên soạn nghiêm túc, công phu, phản ánh chân thực, sự kiện lịch sử, góp phần khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta đối với sự nghiệp giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và công trình Lăng của Người.

Trân trọng gửi tới bạn đọc gần xa cuốn sách “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đài hoa vĩnh cửu”.

Nguyễn Văn Vượng

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh toàn tập – Xuất bản lần thứ ba

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta; cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa; cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, công bằng xã hội trên thế giới; cho sự củng cố và phát triển tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng đó đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là sức mạnh tập hợp và đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hôm nay và mai sau”. Và nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là các cán bộ nghiên cứu muốn có toàn bộ nguyên tác của Người để nghiên cứu, học tập, năm 1978, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về việc xuất bản toàn bộ các tác phẩm của Người. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-1990), Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật) đã hoàn thành và cho ra mắt bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ nhất với 10 tập. Công việc nghiên cứu, sưu tầm các trước tác của Bác tiếp tục được tiến hành. Năm 2000, bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập được tổ chức xuất bản lần thứ hai với 12 tập sách.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư, sau 5 năm (từ năm 2004-2009), Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã hoàn thành Chương trình sưu tầm những tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa công bố trong lần xuất bản lần thứ hai. Trên cơ sở kết quả nghiệm thu đề tài, năm 2010, Ban Bí thư đã đồng ý giao cho Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật tổ chức xuất bản lần thứ ba bộ sáchHồ Chí Minh Toàn tập.

Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lần thứ nhất gồm 10 tập với khoảng 1.800 tác phẩm, bài nói, bài viết, điện, thư (gọi chung là tác phẩm) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ hai gồm 12 tập với hơn 1.200 tác phẩm. Trong lần xuất bản thứ ba này, bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 15 tập, với trên 3.300 tác phẩm quan trọng, trong đó được bổ sung trên 800 tài liệu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969 đã được xác minh và thẩm định. Đây là một tài sản tinh thần sản vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, là sự phản ánh sinh động, sâu sắc quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước, vạch ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng nước ta để tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những tư tưởng lớn của Người được phản ánh trong bộ sách là một hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để tiến tới giải phóng triệt để con người, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là con đường phát triển, là mục tiêu, là bước đi của cách mạng nước ta, là triết lý phát triển Việt Nam trong thời đại mới. Tìm ra con đường giải phóng và phát triển của dân tộc đúng quy luật, hợp lòng dân, thuận theo sự tiến hóa của nhân loại là cống hiến lý luận sáng tạo và là di sản tư tưởng có giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta.

Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ ba cung cấp nhiều tài liệu nêu lên những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới và góp phần làm thế giới đổi thay bằng sự cổ vũ, đoàn kết các dân tộc thuộc địa cùng nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ khỏi đời sống nhân loại sự thống trị, áp bức của chế độ thực dân dưới mọi hình thức, cống hiến to lớn vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên hành tinh của chúng ta. Bộ sách còn góp phần làm sáng tỏ sự nghiệp, tư tưởng thấm đậm giá trị văn hóa của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nền văn hóa mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi chủ nghĩa kỳ thị – độc tôn về văn hóa. Chúng ta còn thấy trong bộ sách những ý kiến chỉ dẫn thiết thực của Người về những nguyên tắc và phương pháp xây dựng nền đạo đức xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng góp rất có giá trị vào triết học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ ba cung cấp nhiều tư liệu làm sáng tỏ sự nghiệp, tư tưởng thấm đậm giá trị văn hóa của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, bởi Người đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại cho nhân dân quyền sống đích thực của con người và góp phần cùng loài người loại trừ chủ nghĩa thực dân – một trở lực lớn trên con đường tiến tới văn minh, đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân loại tiến bộ.

Có thể nói, bộ Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ ba là một bộ sách kinh điển lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn cao về cách mạng Việt Nam. Bộ sách đã phản ánh thiên tài trí tuệ của vị lãnh tụ – người thầy của cách mạng Việt Nam, nhà tư tưởng mácxít vĩ đại; đã phản ánh quá trình lịch sử đấu tranh anh dũng và thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tính khoa học đúng đắn và tính cách mạng sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thực tế lịch sử kiểm chứng đã tỏ rõ giá trị, sức sống mãnh liệt và trở thành tinh hoa của dân tộc, niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân ta càng vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương Đảng, kế thừa những kinh nghiệm và thành tựu của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ nhất và thứ hai, bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ ba là một công trình khoa học nghiêm túc của tập thể đông đảo các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu, lưu trữ, biên tập, xuất bản thuộc nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước ở trung ương và địa phương. Đối với những tác phẩm mới sưu tầm, trước khi đưa vào biên tập, xuất bản lần thứ ba đều đã được thẩm định, nghiệm thu hai cấp theo quy định của một chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước. Những tác phẩm đã in trong lần xuất bản thứ ba cũng được rà soát, sửa lỗi kỹ thuật. Phần chú thích và chỉ dẫn tên người được bổ sung, biên tập lại bảo đảm tính chính xác và cập nhật thông tin. Những tác phẩm viết chung của Người được để ở phần Phụ lục. Các tác phẩm chưa có đầy đủ dữ kiện xác định của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xếp trong phần “Những tác phẩm có thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh” để bạn đọc tham khảo và góp phần xác minh thêm. Tất cả đều nhằm nâng cao chất lượng và hoàn thiện thêm một bước để giúp bạn đọc có thể tìm hiểu đầy đủ, chính xác về sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng phản ánh được những thành tựu nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư và Hội đồng xuất bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương tổ chức biên tập, xuất bản và cho ra mắt độc giả 3 tập đầu của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập vào đúng thời gian diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Đây là một công trình có ý nghĩa thiết thực chào mừng thành công của Đại hội. Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ ba sdự kiến hoàn thành việc biên tập, xuất bản trọn bộ (15 tập) trong tháng 5-2011.

Tập 1 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, bao gồm những tác phẩm, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1924. Các tác phẩm, bài viết trong tập 1 phản ánh quá trình chuyển biến của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ một người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người cộng sản, hình thành tư tưởng cứu nước và giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ngoài các tác phẩm, bài viết chứa đựng tư tưởng chính trị quan trọng liên quan đến con đường, những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1 còn có một số tác phẩm văn học mang tính đảng sâu sắc, tính chiến đấu cao và tính nghệ thuật đặc sắc. Với những tác phẩm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở cho sự ra đời nền văn học cách mạng Việt Nam. So với lần xuất bản thứ hai, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, xuất bản lần thứ ba bổ sung thêm 13 tác phẩm, bài viết mới sưu tầm được.

Tập 2 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, giới thiệu những tác phẩm do Nguyễn Ái Quốc viết từ năm 1924 đến năm 1929, tính từ khi Người từ Liên Xô tới Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động đến trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là khoảng thời gian không dài nhưng có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng đối với phong trào cách mạng thế giới cũng như ở nước ta và đánh dấu những bước phát triển mới của quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Tập này công bố những tác phẩm chỉ rõ một trong những quan điểm rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm về đoàn kết quốc tế mà trước hết là sự cần thiết phải liên minh các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chung vì sự nghiệp giải phóng của chính dân tộc mình. Toàn bộ những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc trong tập 2 cũng phản ánh sự hoạt động của Người trong điều kiện hết sức khó khăn nhưng đầy sáng tạo, không chỉ trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam mà còn là của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ, phát triển và làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản nói chung.

Tập 3 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, bao gồm các tác phẩm, bài nói, bài viết, thư từ, báo cáo (gọi chung là tác phẩm) của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện trong khoảng thời gian từ đầu năm 1930 đến hết tháng 8-1945, thể hiện những cống hiến sáng tạo về lý luận và thực tiễn của Người đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Nội dung tập 3 phản ánh nhiều khía cạnh liên quan đến việc định ra đường lối chiến lược, sách lược của Đảng; những nguyên tắc xây dựng Đảng; xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tập hợp và xây dựng lực lượng cách mạng; đồng thời bao gồm cả những vấn đề về chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng lực lượng, xác định thời cơ, thúc đẩy thời cơ chín muồi và chớp thời cơ để giành thắng lợi cho cách mạng.

Trong lần xuất bản này, vấn đề cơ bản tập 3 vẫn giữ nguyên các tác phẩm đã in trong lần xuất bản trước, nhưng đã được rà soát, đối chiếu cẩn thận với văn bản gốc. Một số bài để ở phần Phụ lục trong lần xuất bản trước, lần này được xác minh có đủ cơ sở để khẳng định là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được đưa lên phần chính… Tập 3 xuất bản lần thứ ba có bổ sung thêm 15 tác phẩm mới ở phần chính và 1 tác phẩm ở phần Phụ lục.

Qua bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, mỗi người Việt Nam cần học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới, trong thời đại mới, sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Chân dung Hồ Chủ tịch làm từ hạt vừng, hạt gạo

Với chủ đề “Kỷ niệm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước”, hơn 100 tác phẩm nghệ thuật tạo hình từ các loại hạt và củ, quả trong lễ hội Trái cây Nam bộ thu hút đông đảo khách tham quan.


Tạo hình nghệ thuật từ trái cây là một trong những hoạt động của “Lễ hội trái cây Nam bộ 2011”, thu hút đông đảo nghệ nhân đến từ 13 tỉnh thành tham gia. Hoạt động này được xác lập kỷ lục “Lễ hội có nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình từ trái cây nhất Việt Nam”.


Tác phẩm được làm từ hàng trăm nghìn hạt gạo, vừng, đậu, kê và các loại củ, quả khác nhau để tạo chân dung Bác, bến cảng Nhà Rồng… .

Hình ảnh bến Cảng Nhà Rồng
Tác phẩm mang tên “Bến cảng Nhà Rồng nơi Bác ra đi tìm đường cứu nước” của nghệ nhân Phan Hồng Dũng đến từ Hóc Môn, TP HCM.

Đông đảo du khách tham quan
Đông đảo du khách tham quan dừng chân ngắm những tác phẩm từ trái

Nguoi dan ong dung ngam cac tac pham
Người đàn ông ngắm đi ngắm lại những tác phẩm trưng bày.

Hội thi tạo hình nghệ thuật
Tác phẩm “Ngàn năm nhớ mãi ơn Người” của một nghệ nhân đến từ quận 12, TP HCM.


Chiếc tàu “Latouche – Treville” khi Người bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.


Tác phẩm “Người là danh nhân của thế giới” của nghệ nhân Nguyễn Thành Giàu.


Tác phẩm “Dân tộc Việt Nam nhớ mãi bước chân Người” của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh đến từ Vũng Tàu.


Ngoài chủ đề ca ngợi công ơn của Người, nhiều tác phẩm nghệ thuật khác cũng khác họa sinh động sự trù phú, vẻ đẹp của quê hương đất nước Việt Nam.

Theo VNExpress

hcmpc.com.vn

Tư tưởng và tình cảm của Bác Hồ với phụ nữ

Sinh thời Bác Hồ luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bác từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”… ”Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt Nam anh hùng”… “Dân tộc ta và Đảng ta đời đời biết ơn các bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và cống hiến những người ưu tú, đã và đang chiến đấu anh dũng tuyệt vời bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại”.

Cùng với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cũng như trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác luôn đặt ra yêu cầu bức thiết phải giải phóng “nửa thế giới” khỏi “xiềng xích nô lệ”, phải cởi trói cho phụ nữ. Dẫn lời C.Mác: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào? và V.I.Lênin “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”, Bác khẳng định:“Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi”1Và, “những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”2.

Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945, Bác trịnh trọng tuyên bố với thế giới và quốc dân đồng bào: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”3. Những quyền ấy được Bác trích trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Song trong xã hội Mỹ chỉ những người đàn ông da trắng, theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử. Còn các giai tầng khác mãi đến đầu thế kỷ 19 và phụ nữ Mỹ (sau 144 năm giành độc lập) – năm 1920 mới giành được quyền đi bầu cử. Đối với người Mỹ da đen thì tới phong trào đòi quyền dân chủ diễn những năm 1960 mới giành được quyền bầu cử đầy đủ và đến 1971 các công dân trẻ tuổi mới được trao quyền bầu cử khi Hoa Kỳ hạ tuổi bầu cử từ 21 xuống 18 tuổi… Song, với Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ thì “tất cả mọi người” Việt Nam đều là những người có quyền đi bầu cử Quốc hội vào ngày 6-1-1946:“Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”. Và Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946“… tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”4.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác không chỉ quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ mà còn nhìn thấy sức mạnh to lớn của họ đối với cách mạng và Bác cũng là người tiếp thêm sức mạnh cho chị em vùng dậy đấu tranh, giành độc lập dân tộc. Bác nêu ra nhiều tấm gương chiến đấu hy sinh của phụ nữ vì Tổ quốc như Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ buổi bình minh của lịch sử và kêu gọi chị em: Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại! Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới…, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Trong các cuộc kháng chiến thần thành chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhiều chị em đã tham gia kháng chiến và làm tròn trọng trách cách mạng mà Đảng và Nhà nước giao phó. Chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam có dịp ra thăm miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã được Bác Hồ ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người. Bác Hồ luôn luôn coi lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, ghi nhận những thành tích đóng góp của phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đây chính là sự khẳng định của Bác về vị trí, vai trò không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Trong thư gửi Phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ ngày 8-3-1952, Bác khẳng định: Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng… Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu… Những phụ nữ chân yếu tay mềm “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đã góp phần không nhỏ đem đến thắng lợi “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Bác không chỉ nêu lên vai trò, vị trí của người phụ nữ đối với xã hội mà còn là người đi tiên phong trong phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ. Người chỉ rõ: công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ. “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng, v.v. đều nhằm mục đích ấy”. Người nhắc nhở các cấp, các ngành… phải kính trọng phụ nữ, quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nữ giới.

Những lời dạy của Bác thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ tình cảm của mình giành cho “nửa thế giới”. Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới. Bình đẳng không chỉ về chính trị mà còn từ thực tiễn sinh hoạt của đời sống xã hội và trong gia đình. Bác đã chỉ ra “Chồng đánh chửi vợ, cha mẹ đánh chửi con, là điều rất dã man”5. Bác luôn trân trọng, thương yêu và coi “Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi6Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.

Về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Thái Bình năm 1966 – Quê hương của chị Hai Năm tấn, sau khi phân tích tình hình, chỉ rõ nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, Bác nhấn mạnh: “Một điều nữa Bác cần nói là: phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia đình. Bác mong rằng: từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa”7.

Bác không chỉ là người đầu tiên đề cập đến vấn đề giải phóng phụ nữ, khẳng định vai trò, vị trí của họ đối với gia đình và xã hội, đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho họ mà còn là luôn động viên, khuyên bảo, nhắc nhở chị em phải tự cố gắng học tập, sáng tạo vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách. Người kêu gọi: Chị em phụ nữ nông thôn thi đua góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt. Chị em công nhân và công chức thi đua làm tròn nhiệm vụ của mình. Chị em trí thức thi đua góp phần vào việc phát triển văn hoá. Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, thi đua học và hành, xung phong trong mọi công việc. Đồng thời, Bác cũng chỉ rõ một thực trạng: cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.

Trong buổi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người phân tích: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH. Người phê bình: Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền. Người căn dặn: tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật. Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.

Cả cuộc đời 79 mùa xuân, Bác đã giành trọn vẹn cho dân cho nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho dân cho nước, Bác căn dặn toàn Đảng, toàn dân “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”8.

Khắc sâu lời dạy và thực hiện tâm nguyện của Bác “một nửa thế giới” cần được giải phóng, bình đẳng về mọi mặt, mục tiêu thiên niên kỷ quốc gia đã ưu tiên phát triển bền vững nguồn lực phụ nữ như: Tăng cường giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt, trình độ nghề nghiệp và năng lực quản lý kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường cho phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại từng địa phương; tạo điều kiện để chị em tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới… Cùng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ưu tiên phát triển nguồn lục phụ nữ, phụ nữ Việt Nam hôm nay luôn cố gắng học tập, công tác, từng bước vươn lên và ngày càng  khẳng định vị thế của mình trong xã hội và trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

——————————

(1, 2, 4). Hồ Chí Minh toàn tập, t.2, Nxb CTQG, H.2000, tr.112, tr.443, tr.288, tr.974. (3). Sđd, t.4, tr.9. (5, 6). Sđd, t.5, tr.343-344, tr.408. (7). Sđd, t.12, tr.197. (8). Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H.2010, tr.30

Phạm Thị Nhung
Trường Sĩ quan Lục quân 2 HT: 3cb36 Biên Hoà, Đồng Nai

xaydungdang.org.vn

Tinh thần “Học tập để phụng sự Tổ quốc và Nhân dân” trong tư tưởng và nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh

1. Dân tộc Việt Nam được ngợi ca là một dân tộc hiếu học. Tinh thần hiếu học (ham học hỏi và hiểu biết) thể hiện xuyên suốt trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ta thấy Người đã trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều lần bàn đến giáo dục, học tập…

Trong những hoàn cảnh khác nhau, Hồ Chí Minh có những đề cập thiết thực, cụ thể về sự học. Song bao trùm lên tất cả vẫn là tinh thần mới mẻ, nhân văn: học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Tinh thần đó được thể hiện trên mấy nét sau.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng việc học tập giáo dục, xem đó là phương cách để kiến thiết Tổ quốc, mang lại đời sống tốt đẹp cho nhân dân.

Trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên vai trò quan trọng của sự học và thế hệ trẻ đối với tiền đồ đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em(1). Trong hoàn cảnh nước nhà đang thực hiện phong trào xóa nạn mù chữ (chống giặc dốt), Người đã viết bài Chống nạn thất học, trong đó đề cao vai trò của sự hiểu biết ở mọi người đối với việc xây dựng đất nước: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” (2). Sự học, trình độ học vấn liên quan đến vận mệnh dân tộc, thể hiện sự mạnh, yếu của một dân tộc: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (3). Nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, Người đã nhấn mạnh lợi ích của việc đào tạo con người trên tinh thần một câu nói của người xưa “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trồng cây là một việc làm rất cụ thể, dễ dàng, còn trồng người là một sự nghiệp vinh quang và rất đỗi gian nan, có liên quan đến sự tồn vong và tương lai dân tộc.

Thấy được vai trò của giáo dục, đào tạo, của nhân tố con người, ngay trong buổi đầu mới giành được độc lập, một trong sáu vấn đề cấp bách cần làm ngay, thì vấn đề quan trọng thứ hai, Người đã đề cập là diệt giặc dốt. Người cho rằng, giặc dốt và giặc ngoại xâm đi liền với nhau, dựa vào nhau để nô dịch dân ta. Coi trọng sự học, giáo dục và đào tạo, trọn đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở vì sự nghiệp đào tạo thanh niên, đào tạo, bồi dưỡng con người. Trong Di chúc cuối đời, Người tha thiết dặn dò:“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Hai là, mục đích của sự học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Từ việc coi trọng tầm quan trọng của sự học đối với tiền đồ quốc gia, dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến coi mục đích của sự học là để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trong lịch sử, mỗi một chế độ xã hội khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển và nhận thức, con người đề cao sự học không giống nhau. Dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến đã từng bị ảnh hưởng bởi quan niệm “học nhi ưu tắc sĩ” (học để làm quan), cái học đó đã đào tạo ra một tầng lớp quan lại bằng con đường khoa bảng; xã hội nông nghiệp đề cao cái học để “vinh thân phì gia”, một người làm quan cả họ được nhờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức được lợi ích của việc học lớn hơn nhiều. Học để “phụng sự” tức là làm việc, là lãnh nhận sứ mệnh trước quốc dân, đồng bào, là cống hiến, đặt cái lợi nhân quần của Tổ quốc, nhân dân lên hết thảy. Đó là ý nghĩa đích thực của sự học theo quan điểm khoa học và cách mạng, tiến bộ và nhân văn. Ở cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, đi nhiều, hễ có dịp là Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói với nhân dân về lợi ích của sự học mới, về ý nghĩa của sự học cao cả ấy.

Trong lời ghi ở trang đầu Quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Người viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”…(4). Phát biểu trong Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, năm 1950, Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: học để làm gì? và Người đã nói nhiều về mục đích của sự học, song đúc kết lại vẫn là để làm việc, để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dạy và học phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn hóa. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo(5). Trong thư gửi các học sinh Trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp khai giảng (1955), Người viết: “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta(6). Trong thư gửi các cháu lưu học sinh Việt Nam học ở Mát-xcơ-va, Người căn dặn: “Các cháu học kỹ thuật và học tiếng Nga cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà định, không thể tùy theo sở thích của riêng mình” (7). Trong một lần khác, nói chuyện tại Lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12/6/1956, Người nói: “Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc…” (7). Có thể thấy, xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh không có cái học nào hơn sự học để làm người, giúp đời, phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đó cũng chính là cái học của người cách mạng, của đạo đức xã hội chủ nghĩa, của những con người thấm đẫm trong mình lý tưởng cộng sản.

Vậy là, tiếp thu tinh thần hiếu học của cha, ông, song đến lượt mình, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, cái học của dân tộc Việt Nam, của người Việt Nam đã mang nội dung ý nghĩa mới, học không phải vì cái cá nhân chật hẹp “vinh thân phì gia”, mũ cao áo dài, cân đai võng lọng, mà học có một mục đích, ý nghĩa cao đẹp, tràn đầy lý tưởng nhân văn cao cả, để làm người, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm lợi cho dân, cho nước. Chính thấm nhuần lý tưởng học đó mà hàng vạn thanh niên trí thức dưới chế độ mới, kể cả những trí thức được đào tạo ở Pháp (chế độ thực dân cũ) đã ra sức phấn đấu học hỏi, nắm bắt khoa học, kỹ thuật phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhiều người đã từ bỏ trời Tây hoa lệ, trở về sống đồng cam cộng khổ, cùng nhân dân phục vụ kháng chiến, kiến quốc, tiêu biểu như: bác sĩ Đặng Văn Ngữ, kỹ sư Phạm Quang Lễ (anh hùng Trần Đại Nghĩa) và nhiều trí thức dưới chế độ cũ đã sẵn sàng ra gánh vác việc nước, như: Tiến sĩ Nho học Huỳnh Thúc Kháng, nhân sĩ Vũ Đình Hòe…

Ba là, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tự học, học để đạt được tri thức đúng đắn phụng sự công cuộc đấu tranh cách mạng, vì sự vẻ vang của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước từ buổi nhân dân, đất nước còn đắm chìm trong đêm đen nô lệ, Người không có điều kiện để được học hành trong các trường lớp chính thống. Người sớm dấn thân vào lao động và tranh đấu, nhưng bản thân đã có ý thức học tập từ rất sớm. Người đã từng kể lại: “…Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Đó cũng là nguyên nhân Người đi về phía trời Tây để học hỏi, tìm con đường khả dĩ cứu nước, cứu dân.

Trong hoàn cảnh lao động kham khổ, thiếu thốn, có những lúc bị tù đày, Người luôn có ý thực tự học, tự bồi dưỡng, từ ngoại ngữ, đến các tri thức văn hóa, khoa học. Đi đến đâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều học và sử dụng được ngoại ngữ, thông hiểu văn hóa để hòa nhập và hoạt động. Không được đào tạo một cách bài bản, chính thống qua trường lớp, cấp học, nhưng những tri thức Người có được hết sức sâu sắc và toàn diện. Người còn căn dặn cán bộ phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Chính nhờ học qua sách báo, qua bè bạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là vào năm 1920, ở Pari, Nguyễn Ái Quốc, được một người bạn cho xem Luận cương Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo, đã giác ngộ: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó, Người tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ Ba, vì đã chỉ ra cho Người con đường tranh đấu cho độc lập tự do của dân tộc mình.

Tinh hoa sự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thẩm thấu và tỏa ra ở cốt cách văn hóa thanh cao, lịch thiệp, trong trí thông minh xuất chúng, ở lối ứng xử tinh tế, hấp dẫn. Tất cả nhờ Người luôn ý thức tự học và hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm đắc câu nói của Lê-nin: Học, học nữa, học mãi và chính Người cho rằng, học để tiến bộ mãi!

Nhờ học thấu đáo, năng lực tự học xuất chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ được những tinh túy văn hóa Đông, Tây, đem hết tài học, lực học, kiến thức phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của nhân dân. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợpquốc đã tôn vinh Người là: Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn kiệt xuất của Việt Nam. Người là biểu tượng đỉnh cao của đạo đức và trí tuệ Việt Nam ngời sáng.

2. Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân của Hồ Chí Minh trong trong giai đoạn cách mạng mới

Việt Nam có khoảng 86 triệu người, có hàng triệu trí thức và hàng vạn học sinh, sinh viên. Đó là một lực lượng đông đảo đang đi tiên phong trong học tập và nghiên cứu khoa học và công nghệ, là một nguồn sức mạnh cho đất nước phát triển, vươn xa. Tuy nhiên, trong thực tế, theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, sự học hôm nay dưới ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường, đang bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan ngại như việc học thực dụng, học chỉ để du học, để tìm việc tốt, kiếm tiền nhiều, vị trí nhiều lợi ích…; sự học coi nhẹ về đạo đức, nhân văn (biểu hiện ở kết quả học và thi các môn: văn học, lịch sử, địa lý…); về lý luận, phương pháp luận… Không ít người có tư tưởng lệch lạc về sự học: Nạn chạy bằng, mua điểm, những biểu hiện coi nhẹ đạo đức học đường, thiếu tôn sư, trọng đạo… đang gây nên những bức xúc trong nhân dân. Những biểu hiện đó ít nhiều làm băng hoại giá trị của sự học, đang bị cộng đồng xã hội lên án và dư luận đòi hỏi phải có những chấn chỉnh về mục đích, chương trình, phương pháp dạy và học.

Nghiên cứu và ngẫm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học, về mục đích học tập trong bối cảnh hôm nay, nhiều quan điểm, luận điểm của Người vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự và khoa học mới mẻ, có thể giúp ích cho chúng ta xây dựng một xã hội học tập lành mạnh và tiến bộ. Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta, việc học là một phương thức quan trọng để hội nhập, bởi chỉ có giáo dục, đào tạo có chất lượng mới tạo ra con người, đội ngũ có năng lực phục vụ sự hội nhập ấy. Nhiều chuyên gia giáo dục của thế giới khuyến cáo Việt Nam phải đầu tư và cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong giáo dục, chỉ có thắng trong giáo dục mới có thể thắng trong kinh tế. Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân chính là học để xây dựng đất nước, chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, vươn lên văn minh hiện đại. Tinh thần đó cần được phát huy, khơi gợi trong cán bộ, học sinh và nhân dân sao cho biến xã hội ta thành một xã hội thực sự học tập, một cộng đồng luôn ham học hỏi và hiểu biết, có trí tuệ, tài năng và nhân cách.

Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều điểm trùng khớp với tinh thần của Unesco (Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp quốc), khi Liên Hợpquốc đề ra mục tiêu của học tập là học để hiểu biết, để chung sống, để làm việc và làm người. Tinh thần đó của Người đã bắt nhịp với thời đại và có dịp tỏa sáng cùng thời đại. Tư tưởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân như vậy dẫn đến hệ quả tất yếu là, phải học thường xuyên, học suốt đời. Điều đó hoàn toàn thích ứng với một xã hội năng động và phát triển nhanh trong thế giới hôm nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc và nhân dân hoàn toàn có khả năng khuyến khích sự học tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của nền “kinh tế tri thức” đang phát triển, đòi hỏi thực học, trí tuệ, mà Việt Nam là một đất nước đang chuyển đổi và bước đầu tiếp cận với nền kinh tế ấy. Học để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tinh thần Hồ Chí Minh chỉ có thể phát huy trên cơ sở một thái độ học tập tích cực và sáng tạo, có phương pháp, tự nỗ lực không ngừng. Cái học đó khác xa với cái học nệ cổ của phong kiến, cái học siêu hình, không thực tế của lối học kinh viện; cái học đó cũng khác xa với cái học cá nhân, tự kiêu, tự mãn, tự phụ; cái học đó đối lập với cái học cá nhân chủ nghĩa không biết đến nhân quần xã hội.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta có thể học tập vô số điều, nhưng trong bối cảnh, vận hội mới của đất nước, cần phải học và thực hành tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Chỉ với một thái độ học tập tích cực, đúng đắn và nhân văn như vậy, mỗi người Việt Nam mới có thể góp sức học và sức làm việc của mình để dân tộc có thể sánh vai các quốc gia, dân tộc khác, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

 (1) Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, t.4, tr.33.

(2)(3) Sđd, t.4, tr.36; tr.8.

(4) Sđd, t.5, tr.684.

(5)(7)(8) Sđd, t.8, tr.138; tr.25-26; tr.183.

(6) Sđd, t.7, tr.496.

Theo danchinhdang.hue.gov.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn