Tag Archive | Thời sự

Bài 3: Tượng đài Bác Hồ ở Pháp

Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Việt Nam bị Pháp đô hộ. Từ hai chiến tuyến, sau này, mối quan hệ của hai quốc gia được cải thiện và tốt đẹp lên. Các di tích trên nước Pháp gắn với những tháng năm hoạt động của Hồ Chủ tịch được người Pháp gìn giữ, tôn tạo. Tại Bảo tàng Lịch sử Sống thuộc thành phố Montreuil, tượng đài Hồ Chủ tịch cũng đã được dựng năm 2005.

Tượng Hồ Chủ tịch tại bảo tàng sống Montreuil

Ngày 19-5-2005, chính quyền thành phố Montreuil (Pháp) đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở “Không gian Hồ Chí Minh” nằm trong Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Vị trí đặt tượng Bác Hồ là khu vực mà khách tham quan khi tới công viên đều dễ dàng nhận thấy.

Tượng Hồ Chủ tịch dựa theo mẫu của nhà điêu khắc nổi tiếng Trần Văn Lắm. Đây cũng là pho tượng Hồ Chủ tịch duy nhất đặt trên nước Pháp. Khuôn viên đặt tượng đài bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố trí rất hài hoà với nhiều cây xanh, những khóm tre, trúc, tạo nên một không gian bình dị nhưng mang đậm nét văn hóa Việt Nam.

“Không gian Hồ Chí Minh” nằm bên trái tầng 1 của Bảo tàng Lịch sử Sống, du khách dễ dàng nhận thấy ngay khi bước vào cửa. Đây là nơi lưu giữ những hình ảnh, hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng Người ở Pháp: Cánh cửa bằng gỗ và tấm biển căn nhà số 9 – ngõ Compoint (nơi Bác ở từ tháng 7-1921 – 6-1923), chiếc bồn lavabo Bác dùng trước đây… Rồi có cả những hình ảnh, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác như: tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, những tấm thẻ hành nghề, ảnh, bài báo, những bức thư mà Bác viết cho các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp…

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách báo, tranh ảnh giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh… Tất cả các hiện vật, tư liệu quý giá ấy luôn được nâng niu, gìn giữ với sự trân trọng của các bạn Pháp.

Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil là bảo tàng ca ngợi các vĩ nhân đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, tác động và có sức ảnh hưởng to lớn đến thế giới. Việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bảo tàng sống Montreuil vì thế mang một thông điệp rõ ràng về sự nhìn nhận đánh giá, tôn vinh Hồ Chủ tịch một cách đúng đắn, xứng với tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất mà UNESCO đã tôn vinh năm 1990.

Trong những năm tháng hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc (tên dùng khi đó của Hồ Chủ tịch), đã để lại những dấu ấn, những sự kiện vang dội. Ngày nay, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá. Đó là di tích nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17 (Paris). Bác đã ở đây khoảng 2 năm (từ 1921-1923). Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm ủy viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã kết giao với nhiều trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp và thế giới như: diễn viên Charles Chaplin, nhà văn Hăng-ri Bác-buýt, họa sĩ Picátxô…

Nước Pháp cũng là nơi Nguyễn Ái Quốc viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng, gây chấn động nước Pháp và cả chính quyền Pháp tại Việt Nam. Cũng tại nước Pháp này, Nguyễn Ái Quốc đã viết vở kịch “Con rồng tre” giễu cợt ông vua Khải Định bù nhìn…

Ngày 14-3-1923, Nguyễn Ái Quốc dời nhà số 9, ngõ ComPoint, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là tòa soạn báo Le Paria… Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích. Cho đến năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Montreuil đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Montreuil. Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

Trên nước Pháp cũng chứng kiến sự trở lại của Bác khi Người ở cương vị Chủ tịch nước. Đó là năm 1946, Người là thượng khách của nước Pháp. Cũng trong dịp này, phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang đàm phán tại hội nghị Phông ten nơ blô. Tình hình khi đó rất căng thẳng, bằng tài ngoại giao và tranh thủ sự giúp đỡ của Việt kiều, nhân dân Pháp, Hồ Chủ tịch đã bày tỏ ước nguyện yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam và quyết tâm đánh Pháp nếu tiếp tục bị xâm lược. Sau đó, Người và đại diện Pháp ký Tạm ước 14-9. Và cũng tại thủ đô Paris ngày 1-7-1946, hoạ sĩ Vũ Cao Đàm (Việt kiều) đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm đó, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người. Pho tượng sau đó được đúc đồng và tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh năm 1998.

Phiên bản bức tượng Hồ Chủ tịch của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm có chiều cao 1,1m, đặt trên bệ cao 3m, sau đó cũng được chọn để dựng tượng Bác tại Mông Cổ.

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

Bài 4: Tượng Bác Hồ ở Cuba

Việt Nam – Cuba có mối quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ tốt đẹp giàu truyền thống cách mạng đó như được nhân thêm khi tại trung tâm Thủ đô La Habana của Cuba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang trọng.

Tượng đài Hồ Chủ tịch ở Thủ đô La Habana Cuba.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở vườn hoa trung tâm Thủ đô La Habana. Tượng đài Bác được dựng bán thân như chúng ta vẫn thường thấy ở các hội trường cơ quan của Đảng và Chính phủ Việt Nam: Tượng Bác mặc áo ka ki có hai túi ngực. Mỗi khi có sự kiện gắn với quan hệ hai nước Việt Nam – Cuba thì nơi đây đều được chọn là địa chỉ của các đoàn tới thăm viếng.

Thuở đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng bôn ba sang châu Mỹ. Cho đến nay, cũng chưa thấy tài liệu nào công bố Bác Hồ đã từng đến Cuba. Nhưng trái tim người chiến sĩ cộng sản quốc tế yêu nước Nguyễn Ái Quốc luôn chan chứa tình yêu thương đồng loại. Bác từng viết: “Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em” khi nói về tình hữu nghị và bình đẳng quốc tế.

Tại Nhà Di tích H67 ở Khu di tích Phủ Chủ tịch đến nay còn trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng trên bàn làm việc của Bác. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa… Chiếc khay này là kỷ vật của nhà báo nước ngoài cuối cùng đã phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Đó là nữ nhà báo Cuba Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969. Và câu nói: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ” là câu nói của Bác với nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết. Bài phỏng vấn Hồ Chủ tịch của nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết đã được đăng trên báo Granma ngày 29-7-1969 với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha. Bài phỏng vấn sau đó được in lại bằng tiếng Pháp ngày 3-8-1969. Ngày 27-9-1969, báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn này.

Còn đối với Cuba, Việt Nam là một biểu tượng cách mạng để bạn noi theo. Chủ tịch Cuba Fidel Castro – linh hồn của cách mạng Cuba luôn coi dành cho Việt Nam những tình cảm đặc biệt. Từ tháng 1-1959 đến tháng 12-2007, lãnh tụ Fidel Castro đã sang thăm Việt Nam 3 lần, đặc biệt in đậm là chuyến thăm Quảng Trị năm 1973. Đây là vị nguyên thủ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Việt Nam khi chiến tranh còn đang ác liệt. Với vai trò “chủ nhà” trong chuyến thăm này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cùng đi với Chủ tịch Fidel Castro. Trong chuyến đi, với dáng vóc to lớn, oai phong, Chủ tịch Fidel đội mũ lưỡi trai, mặc bộ quân phục màu xanh ôliu, đi giày cao cổ đã để lại hình ảnh gần gũi với bộ đội, nhân dân Việt Nam. Tại Đồng Hới, chứng kiến cảnh tang thương của chiến tranh, Chủ tịch Fidel Castro đã chỉ đạo cho ngài đại sứ Cuba kế hoạch ủng hộ Việt Nam một bệnh viện. Một tháng sau, Bệnh viện Việt Nam – Cuba tại Đồng Hới được khởi công xây dựng. Khi thăm sư đoàn Vinh Quang, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao lá cờ truyền thống của sư đoàn và nói: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn”. Vào tháng 4 năm 1975 lịch sử, lá cờ của sư đoàn Vinh Quang đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Cũng trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, để ủng hộ Việt Nam, Đài Tiếng nói Cuba hằng ngày dành 6 giờ phát tiếng Anh để nhân dân Mỹ hiểu rõ cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Chất keo kết dính mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cuba ngoài nét tương đồng về lịch sử đấu tranh giành độc lập, về lý tưởng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ nghĩa quốc tế, còn là sự tin cậy, đồng cảm, là tình nghĩa thuỷ chung giữa những người cùng cảnh ngộ. Ngày nay, ngoài những món hàng truyền thống như gạo, than đá, cà phê, giày dép, nay Việt Nam còn xuất khẩu sang Cuba máy tính, linh kiện máy tính, đồ điện gia dụng, bóng đèn tiết kiệm điện và nhiều hàng hoá khác. Chưa kể đến các dự án hợp tác trong ngành dầu khí, du lịch.

Huy Văn
daidoanket.vn

Bài 5: Tượng Bác Hồ ở Madagascar

Với quan hệ ngoại giao thân thiết, năm 2003, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang nghiêm giữa quảng trường mang tên Người tại Thủ đô Antananarivô của Madagascar.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Madagasca

Madagascar – quốc gia ở châu Phi này trước đây cũng từng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam. Thế nên tình bạn giữa lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo và Bác Hồ thêm phần đặc biệt của những người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng hoạt động tại Pháp

Bức tượng Bác Hồ ở Madagascar bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m. Bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tượng được nhà điêu khắc Lê Đình Bảo thiết kế năm 2001. Cùng với tượng đài Lênin, tượng đài Bác Hồ và tượng đài lãnh tụ Jean Ralaimongo trở thành biểu tượng cách mạng của Madagascar.

Làm phụ bếp trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đi qua các cảng châu Phi. Hình ảnh người dân nô lệ quốc đảo Madagascar làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước nơi quê hương mình. Từ hình ảnh người nô lệ Madagascar, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Khi hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo và Samuel Stephanie tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11-1921). Nhóm ra báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4-1922). Ngay số đầu phát hành, báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăngti và Guyan”. Rồi trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xôviết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Sau khi công trình tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Thủ đô Antananarivô, nơi đây đã trở thành điểm tổ chức các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Madagasca.

Mạnh Thắng
daidoanket.vn

Bài cuối: Tượng Bác Hồ ở một số nước châu Á

LTS: Tại các bài báo trước, chúng tôi đã nêu những tượng đài Bác tiêu biểu ở một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin đề cập tượng đài về Bác ở một số nước châu Á – nơi cùng máu đỏ, da vàng, cùng nét tương đồng văn hoá với Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng
đoàn đại biểu dự lễ khánh thành tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên Asean (Philippin)

Trung Quốc là quốc gia láng giềng và từ xưa đến nay luôn có mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam. Thời gian Bác Hồ hoạt động ở Trung Quốc khá dài. Di tích Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật thời kỳ Bác tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến tháng 4-1927. Một di tích quan trọng khác nữa gắn với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác được Trung Quốc gìn giữ là Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây). Bác Hồ đã ở đây từ cuối năm 1943 đến tháng 9-1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Tại đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Hiện nay, khách sạn đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh… Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam – Ấn Độ, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái. Ngày nay, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Jawaharlal Nehru, ở thành phố Cancútta. Và tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ấn Độ

Thái Lan cũng là một trong những quốc châu Á mà Bác Hồ dừng chân hoạt động nhiều năm. Hiện nay, di tích Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom vẫn còn lưu giữ những hiện vật về thời kỳ hoạt động của Bác từ tháng 7-1928. Nhà Hợp tác ở bản Mạy là trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước. Tháng 1-2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái Lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc. Tại đây có tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,1cm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam trao tặng ngày 12-10-2011.

Tại Philippin có một công viên mang tên ASEAN. Ngày 27-10-2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến đặt vòng hoa tại tượng đài Anh hùng dân tộc Jose Rizal và dự lễ khánh thành tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên ASEAN. Việt Nam và Philippin đã thành lập Hội Hữu nghị Quốc tế giáo dục văn hóa Jose Rizal – Hồ Chí Minh. Đây là sáng kiến của Đại sứ quán Việt Nam tại Philippin và Đại học Bách khoa Laguna nhằm đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra nước ngoài và nhằm góp phần tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Philipin. Mục đích của hội là để giáo dục và thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay và mai sau bằng trí tuệ kiệt xuất, ý chí kiên cường thể hiện lòng yêu đất nước, nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jose Rizal – hai vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại của Việt Nam và Philipin. Tại Philippin, có 4 tượng đài Hồ Chủ tịch được đặt cạnh tượng anh hùng dân tộc Philippin Jose Rizal.

Trong tương lai, khi đất nước ta ngày một phát triển, quan hệ với các nước ngày một rộng khắp, và nhất là tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một lan toả thì chắc chắn tượng đài Bác ở nhiều quốc gia khác sẽ nhiều thêm. Đó cũng là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Huy Văn
daidoanket.vn

Điện chúc mừng ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Anbani (28-11-1954)

Kính gửi đồng chí Ǎngve Hốtgia,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà Nhân dân Anbani,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 ngày nước Anbani được giải phóng, thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đồng chí Thủ tướng và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Anbani lời chào mừng nhiệt liệt.

Trong 10 nǎm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Anbani và của Chính phủ Anbani, với sự giúp đỡ ân cần của Liên Xô vĩ đại, nhân dân Anbani đã đạt được nhiều thắng lợi lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới.

Chúng tôi thành khẩn chúc nhân dân Anbani thu được nhiều thành công mới.

Nhân dân Việt Nam hiện đang ra sức củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc, sẽ luôn luôn đoàn kết với nhân dân Anbani trong cuộc đấu tranh chung để bảo vệ hoà bình thế giới.

Kính chúc đồng chí Thủ tướng luôn luôn mạnh khoẻ.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 275,
ngày 28-11-1954.
cpv.org.vn

Lời chào mừng Thủ tướng U Nu (29-11-1954)

Thưa Thủ tướng,

Tôi rất vui mừng thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoan nghênh Thủ tướng và bà Thủ tướng, hoan nghênh các vị giúp việc của Thủ tướng.

Một tháng trước đây, chúng tôi được đón tiếp Thủ tướng Nêru, lãnh tụ ấn Độ.

Hôm nay chúng tôi được đón tiếp Thủ tướng, lãnh tụ Diến Điện. Chúng tôi lấy làm vinh hạnh hai vị lãnh tụ của hai nước anh em lần lượt đến thǎm Việt Nam chúng tôi. Điều đó có một ý nghĩa lịch sử rất quan trọng: nó chứng tỏ rằng tình hữu nghị giữa các dân tộc chúng ta ngày càng thân mật và lực lượng hoà bình Đông – Nam á ngày càng phát triển và củng cố.

Trong những ngày kháng chiến gian khổ để giành lại độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam được nhân dân Diến Điện thật thà đồng tình và ủng hộ. Chúng tôi muốn nhân dịp này tỏ lời cảm tạ Chính phủ và nhân dân nước bạn.

Từ ngày chiến tranh chấm dứt, nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết tâm thi hành đúng đắn hiệp định đình chiến đã ký ở Giơnevơ và ra sức phấn đấu để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước. Đồng thời chúng tôi sẵn sàng lập lại quan hệ kinh tế và vǎn hoá với nhân dân nước Pháp.

Trong việc thi hành hiệp định đình chiến, Uỷ ban quốc tế do ấn Độ, Ba Lan và Canađa đại biểu đang giúp đỡ chúng tôi.

Về vấn đề quốc tế, nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoàn toàn tán thành 5 nguyên tắc lớn do ba Chính phủ Trung Hoa, ấn Độ và Diến Điện đã tuyên bố. Chúng tôi nhận rằng đó là phương pháp chắc chắn nhất để giữ gìn hoà bình châu á và hoà bình thế giới.

Trong sự nghiệp giữ gìn hoà bình, Thủ tướng đã góp phần quan trọng.

Tôi xin các vị cùng tôi nâng cốc

Chúc mừng Thủ tướng và bà U Nu mạnh khoẻ,

Chúc mừng Chủ tịch và nhân dân Diến Điện,

Chúc tình hữu nghị vững bền giữa hai dân tộc anh em Việt – Diến,

Chúc hoà bình châu á và thế giới lâu dài.

Đọc ngày 29-11-1954.
Báo Nhân dân, số 276,
ngày 30-11-1954.
cpv.org.vn

Nói chuyện với anh chị em công chức ở Thủ đô (30-11-1954)

Xa cách 8 nǎm vì kháng chiến, hôm nay lần đầu tiên gặp anh chị em, tôi rất vui lòng. Nhân dịp này, tôi muốn nói chuyện với anh chị em 3 điểm:

1. Đoàn kết – Sau 15 nǎm chiến tranh, nước ta bị tàn phá, dân ta bị cực khổ. Nay hoà bình mới trở lại, chúng ta phải hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra, và xây dựng lại đời sống bình thường của nhân dân. Công việc rất nhiều, rất phức tạp.

Trong công việc, chúng ta có nhiều thuận lợi, mà cũng có nhiều khó khǎn.

Thuận lợi vì nhân dân ta rất tốt, Chính phủ ta kiên quyết, cán bộ ta cố gắng; và vì ta có các nước bạn và nhân dân thế giới nhiệt liệt ủng hộ.

Khó khǎn vì hãy còn những tư tưởng cũ, quan điểm cũ, thói quen cũ, lề lối cũ. Và vì sức phản động trong nước và ngoài nước.

Để phát triển những thuận lợi và khắc phục những khó khǎn, điều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết.

Ai cũng biết hiện nay chúng ta có hai lớp cán bộ, cán bộ kháng chiến và cán bộ khác. Nhưng chúng ta phải biết rằng nay hai lớp ấy đều là cán bộ của chính quyền nhân dân, tức là như anh em một nhà. Cho nên chúng ta cần phải xoá bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân.

Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khǎn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta.

2. Tǎng nǎng suất công tác – Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đày tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ǎn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính.

Trước hết là Cần, tức là tǎng nǎng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì.

Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân.

Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân.

Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh.

Bốn điều đó đi liền với nhau.

Riêng về tǎng mức công tác và tiết kiệm của công, chúng ta đều thấy anh em công nhân ở các nhà máy và các công trường đã xung phong thực hiện. Cán bộ ở các ngành, các cơ quan nên cố gắng thi đua với anh em công nhân.

3. Học tập – Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập. Nghiên cứu, học tập lý luận và kỹ thuật.

Vì lẽ đó, hiện nay đang tổ chức những lớp nghiên cứu cho cán bộ.

Việc nghiên cứu học tập ấy không phải là gò ép. Tuỳ ý mỗi người, không miễn cưỡng.

Tôi chắc rằng đại đa số anh chị em đều muốn tiến bộ, cho nên nhiều người sẽ muốn học.

Song các anh em phụ trách hướng dẫn cần phải chú ý: làm thế nào cho việc học tập thiết thực, vui vẻ; không nên câu nệ, hình thức, tuyệt đối tránh cách nhồi sọ. Lý luận và thực hành phải đi đôi với nhau.

Nếu anh chị em cán bộ cố gắng thực hiện 3 điều nói trên, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Nói ngày 30-11-1954.
Báo Nhân dân, số 278,
ngày 2-12-1954.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Chủ tịch đoàn Quốc hội Rumani (2-12-1954)

Kính gửi đồng chí Pêtơru Grôda,
Chủ tịch Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Rumani,

Nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của đồng chí Chủ tịch, thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đồng chí Chủ tịch lời chúc mừng thân ái.

Tôi thành khẩn chúc đồng chí Chủ tịch mạnh khoẻ, sống lâu để đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân Rumani, và để xây dựng tình hữu nghị anh em giữa Rumani và Việt Nam ngày càng bền chặt.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
cpv.org.vn

Điện chúc mừng sinh nhật Tổng thống nước Cộng hoà ấn Độ (7-12-1954)

Kính gửi ông Ragiǎngđra, Praxát,
Tổng thống nước Cộng hoà ấn Độ,

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của Tổng thống, tôi xin nhân danh nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, gửi Tổng thống lời chúc mừng nhiệt liệt.

Tôi chúc Tổng thống mạnh khoẻ, sống lâu để chỉ đạo công cuộc xây dựng nước Cộng hoà ấn Độ hoà bình, thịnh vượng và góp phần giữ gìn hoà bình châu á và thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH
cpv.org.vn

Thư gửi các đơn vị miền Nam tập kết (16-12-1954)

Thân ái gửi các chiến sĩ và cán bộ,

Hôm qua đi thǎm bộ đội về, Bác buồn ngủ quá, khuya thức giấc dậy, viết thư này để kịp gửi đồng chí Tổng tư lệnh chuyển cho các chú.

Bác chúc các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, và nhắn các chú mấy điều tóm tắt như sau:

– Suốt mấy nǎm kháng chiến, các chú đã thu được nhiều thành tích khá, đó là vì các chú đã luôn luôn cố gắng, đã làm đúng chính sách của Đảng và của Chính phủ, đã gần gũi nhân dân và được nhân dân thương yêu ủng hộ.

– Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi to lớn cho chúng ta: chiến tranh chấm dứt, hoà bình trở lại, quân và dân ta có điều kiện thuận lợi để phát triển và củng cố thắng lợi và một trong những điều kiện có lợi trước mắt, là các chú có dịp gần Trung ương Đảng, gần Chính phủ và gần Tổng quân uỷ, có dịp học tập thêm và tiến bộ thêm.

– Nhưng ở miền Nam, đang có quân Pháp tạm đóng, có bọn đế quốc Mỹ và tay sai của chúng âm mưu phá hoại. Vì vậy, nhân dân ta cần phải cố gắng, nhất là bộ đội ta cần phải cố gắng rất nhiều nữa để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

– Các chú cần phải đoàn kết hơn nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân. Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khǎn, giành lấy thắng lợi. Cần phải giữ vững truyền thống anh dũng, tác phong đúng đắn, tinh thần chịu đựng gian khổ, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ.

Nói tóm lại: giữ vững và phát triển đạo đức cách mạng của Quân đội nhân dân.

– Chớ chủ quan tưởng rằng trong thời kỳ hoà bình và ở vùng tự do, thì cái gì cũng sẵn sàng, cũng dễ dàng.

– Bác khuyên các chú thi đua học tập. Đơn vị nào và cá nhân nào có thành tích khá nhất, sẽ được ra Thủ đô gặp Bác và gặp Trung ương.

Bác hôn các chú

2 giờ sáng ngày 16 tháng Chạp 1954
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb. Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1975, tr.270-271.
cpv.org.vn

Nói chuyện với nam nữ thanh niên học sinh các trường trung học Nguyễn Trãi, Chu Vǎn An và Trưng Vương (Hà Nội) (18-12-1954)

Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên phải hǎng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc.

Nhiệm vụ chính của thanh niên học sinh là học. Dưới chế độ thực dân phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ǎn ngon, mặc đẹp. Thế thôi, số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết.

Mục đích giáo dục nô lệ của thực dân phong kiến chỉ để đào tạo ra những trí thức nô lệ để hầu hạ chúng.

Ngày nay, ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ, thì phải học tập.

Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ phải học để:

– Yêu Tổ quốc: cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu nhân dân: việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân dân, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu lao động: ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu khoa học: cái gì trái với khoa học, chúng ta kiên quyết chống lại.

– Yêu đạo đức: chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hǎng hái, cần kiệm; xoá bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động.

Học để phụng sự ai ?

Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm trọn nhiệm vụ người chủ của nước nhà.

Học phải đi đôi với hành: Khi ở nhà, phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần (học được điều gì về tình hình trong nước và thế giới thì nói lại cho cha mẹ nghe).

– ở trường thì phải đoàn kết, giúp đỡ anh chị em, thi đua học tập. Phải đoàn kết giữa thầy và trò, làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ.

– ở xã hội: các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích. Thí dụ: tuyên truyền vệ sinh, giúp đỡ các em nhi đồng, xung phong dạy bình dân học vụ, v.v..

Bác khuyên lớp này thi đua với lớp khác, trường này thi đua với trường khác, trong việc học và hành, làm cho nền giáo dục của ta phát triển và tốt đẹp.

Trong mấy nǎm kháng chiến, các anh hùng quân đội, các chiến sĩ kiểu mẫu ở nhà máy, nông thôn, ở công trường (thanh niên xung phong) đại đa số là thanh niên. Bác mong rằng thanh niên học sinh noi gương anh dũng ấy mà làm đúng những lời Bác dặn.

Nói ngày 18-12-1954.
Báo Nhân dân, số 297,
ngày 23-12-1954.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm ngày kháng chiến toàn quốc (19-12-1954)

Cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và kiều bào ở nước ngoài,

Sau 8, 9 nǎm kháng chiến cực kỳ gian khổ và anh dũng, chúng ta đã thu được thắng lợi vẻ vang: chiến tranh đã chấm dứt, hoà bình đã trở lại, chúng ta có cơ hội để xây dựng lại nước nhà.

Hôm nay, lần đầu tiên chúng ta kỷ niệm kháng chiến trong hoàn cảnh hoà bình. Nhưng chúng ta phải biết rằng: so với đấu tranh vũ trang trong kháng chiến, thì đấu tranh chính trị trong hoà bình cũng phải trường kỳ và gian khổ và còn gay go, phức tạp hơn.

Vì vậy, nhân dân, quân đội và cán bộ ta chớ có chủ quan, tự mãn, mà phải giữ vững chí khí đấu tranh, tinh thần anh dũng.

Chúng ta đã đoàn kết, đấu tranh, cảnh giác và tin tưởng, cho nên chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến. Thì nay chúng ta phải đoàn kết rộng rãi đồng bào cả nước và đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới, nâng cao chí khí đấu tranh và tinh thần cảnh giác hơn nữa, tin tưởng hơn nữa vào lực lượng mạnh mẽ và tiền đồ vẻ vang của dân tộc ta. Như vậy, chúng ta nhất định thắng lợi trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 293, ngày 19-12-1954.
cpv.org.vn