Tag Archive | Thời sự

Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ (12-5-1954)

20 tháng 11 nǎm cũ,

Giặc Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ.
Hǎm mốt tiểu đoàn tinh nhuệ nhất,
Xe tǎng, súng lớn đầy chồng chất.
Chúng khoe rằng: “kế hoạch Nava
Thật là mạnh dạn và tài hoa.
Phen này Việt Minh phải biết tay,
Quan thầy Mỹ thì vui lòng thay!”
Các báo phản động khắp thế giới
Inh ỏi tâng bốc Nava tới.

*

*      *

Bên ta thì:

Bộ đội, dân công quyết một lòng,
Xẻ non, đắp suối, vượt qua sông,
Khắc phục khó khǎn và hiểm trở;
Đánh cho giặc tan mới hả dạ;
Lặng lẽ chuẩn bị suốt tháng ngày,
Không quản gian khổ và đắng cay;
Quyết tâm làm cho tròn nhiệm vụ,
Đã hứa với Bác, Đảng, Chính phủ.

*

*      *

13 tháng 3 ta tấn công,
Giặc còn ở trong giấc mơ nồng:
“Mình có thầy Mỹ lo cung cấp;
Máy bay cao cao, xe tǎng thấp,
Lại có Nava cùng Cônhi,
Những tay tướng giỏi nắm chỉ huy.
Chúng mình chuyến này nhất định thắng,
Việt Minh ắt thua chạy quýnh cẳng”.

*

*      *

Hơn 50 ngày, ta đánh đồn,
Ta chiếm một đồn lại một đồn,
Quân giặc chống cự tuy rất hǎng,
Quân ta anh dũng ít ai bằng.
Nava, Cônhi đều méo mặt,
Quân giặc tan hoang ta vây chặt.
Giặc kéo từng loạt ra hàng ta.
Quân ta vui hát “khải hoàn ca”.
Mười ba quan nǎm đều hàng nốt,
Tên tướng chỉ huy cũng bị nhốt.
Một vạn sáu ngàn tên giặc Tây,
Đều là tù binh hoặc bỏ thây.

*

*      *

Thế là quân ta đã toàn thắng
Toàn thắng là vì rất cố gắng.
Chiến sĩ viết thư dâng Cụ Hồ:
“Xin Bác vui lòng mà nhận cho
Món quà chúc thọ sinh nhật Bác,
Chúng cháu cố gắng đã sắm được”.

C.B.

Báo Nhân dân, số 184,
từ ngày 12 đến 15-5-1954.
cpv.org.vn

Trả lời những câu hỏi của Hãng Thông tấn Nam Dương Antara (14-5-1954) (1)

– Hỏi: Mục đích chiến đấu của nhân dân Việt Nam là gì ?

– Trả lời: Nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu mục đích là thực hiện một nước hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do.

– Hỏi: Nhân dân Việt Nam có thể theo con đường nào để đấu tranh thắng lợi ?

– Trả lời: Nhân dân Việt Nam luôn luôn muốn giành độc lập và giải phóng nước Việt Nam bằng con đường hoà bình.

Vì vậy cho nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký với Pháp hiệp ước Pháp – Việt trong nǎm 1946. Chỉ sau khi thực dân Pháp đã phản bội hiệp ước và gây chiến với nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam mới phải đứng lên cầm vũ khí để kháng chiến.

Ngày nay nhân dân Việt Nam vẫn chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hòa bình.

– Hỏi: Đối với việc Mỹ viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương, ý kiến của Cụ thế nào ?

– Trả lời: Giới thống trị Mỹ đang cố phá hoại việc giải quyết vấn đề Đông Dương một cách hoà bình, đang tích cực can thiệp vào chiến tranh Đông Dương và làm cho chiến tranh lan rộng để biến Đông Dương thành một thuộc địa của Mỹ, để bắt nhân dân Đông Dương làm nô lệ và để phá hoại hoà bình ở Viễn Đông và thế giới.

Nhân dân Việt Nam kiên quyết chống lại những hành động và những âm mưu xâm lược của giới thống trị Mỹ.

– Hỏi: Điều kiện gì là điều kiện cǎn bản để thương thuyết với Pháp ?

– Trả lời: Lập trường của chúng tôi để thương thuyết với Pháp đặng ngừng bắn, đình chiến và lập lại hoà bình ở Đông Dương là: thật sự độc lập, thống nhất và dân chủ tự do.

– Hỏi: Theo ý Cụ, để thực hiện thế giới hoà bình lâu dài thì phải có những điều kiện cần thiết gì ?

– Trả lời: Thế giới hoà bình có thể thực hiện nếu các nước trên thế giới, nhất là những nước lớn, đều sẵn sàng giải quyết những xích mích giữa các nước bằng cách thương lượng và nếu nhân dân thế giới không chịu để bọn gây chiến lừa phỉnh, mà tự nhận lấy trách nhiệm bảo vệ hoà bình thế giới.

– Hỏi: Cụ có nghĩ rằng Hội nghị Giơnevơ 19 có thể thành công trong việc giải quyết những xung đột ở Đông Dương và Triều Tiên bằng một cách thương lượng hoà bình hay không ?

– Trả lời: Tôi thành thật mong cho Hội nghị Giơnevơ có thể đi đến giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương và Triều Tiên, hoặc giúp cho việc giải quyết ấy.

– Hỏi: Theo ý kiến Cụ, Nam Dương có thể làm gì để giúp cho chiến tranh Đông Dương chấm dứt sớm?

– Trả lời: Mọi cố gắng của nhân dân Nam Dương để đấu tranh cho hoà bình ở Viễn Đông và thế giới tức là giúp để giải quyết vấn đề Đông Dương. Theo ý kiến tôi, nhân dân Nam Dương kiên quyết chống âm mưu của Mỹ thành lập những liên minh quân sự ở châu á và đẩy mạnh cuộc đoàn kết, hoà bình chung sống giữa các nước châu á tức là có tác dụng lớn đến việc lập lại hoà bình ở Đông Dương.

– Hỏi: Đối với chính sách ngoại giao tích cực và độc lập của các Chính phủ ấn Độ, Nam Dương và Diến Điện, ý kiến Cụ thế nào?

– Trả lời: Chúng tôi hoan nghênh chính sách của Chính phủ ấn Độ, Nam Dương và Diến Điện đeo đuổi để chống lại việc mở rộng chiến tranh xâm lược và bênh vực cách giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương và Triều Tiên. Chính sách ấy sẽ giúp cho nền hoà bình Viễn Đông và thế giới. Tất cả các nước á châu đã bị hoặc đang bị ngoại quốc nô dịch và biến thành thuộc địa phải cùng nhau đoàn kết để đấu tranh chống lại chính sách nô lệ và xâm lược ấy.

– Hỏi: Về đề nghị của Thủ tướng Nam Dương họp cuộc hội nghị giữa các nước á châu và Phi châu, ý kiến của Cụ thế nào?

– Trả lời: Chúng tôi hoan nghênh một cuộc hội nghị quốc tế giúp cho việc xây dựng hoà bình ở Viễn Đông và thế giới.

– Hỏi: Về âm mưu của Mỹ thành lập những liên minh quân sự ở á châu và Thái Bình Dương, ý kiến của Cụ thế nào?

– Trả lời: Việc bọn gây chiến Mỹ cố gắng tổ chức liên minh quân sự ở Đông – Nam á và vùng Tây Thái Bình Dương là một hành động đầy tội ác để mở rộng chiến tranh xâm lược ở á châu đặng phá hoại hoà bình á châu và bắt nhân dân á châu làm nô lệ. Chắc rằng toàn thể nhân dân á châu sẽ kiên quyết chống lại hành động ấy.

– Hỏi: Về việc nhân dân Nam Dương đòi lại Tây Irian vì đấy là miếng đất của nước Cộng hoà Nam Dương, ý kiến của Cụ thế nào?

– Trả lời: Nhân dân Nam Dương đòi lại Tây Irian vì đấy là mảnh đất của nước Cộng hoà Nam Dương, là đúng. Chúng tôi ủng hộ việc đòi hỏi ấy của nhân dân Nam Dương.

Trả lời ngày 14-5-1954
Sách Hồ Chí Minh: Con đường
hoà bình, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1955, tr.16-18.
cpv.org.vn

————————–

(1) Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp từ ngày 25 đến 30-1-1953. Hội nghị đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí với báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh về tình hình, nhiệm vụ và công tác trong nǎm 1953. Hội nghị đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và quyết định chủ trương phát động, quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, tiến tới thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến. Hội nghị cũng đã ra nghị quyết về các mặt quân sự, kinh tế, tài chính, công tác vùng sau lưng địch và một số vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng.

Tuyên truyền (25-5-1954)

Anh Tǎng, học trò cụ Khổng, là một người rất đạo đức, được mọi người kính yêu. Một hôm, Tǎng đi đốn củi, quá trưa mà chưa về. Một người bà con đến nói với mẹ Tǎng: “Nghe nói Tǎng vừa phạm tội giết người…”.

Mẹ Tǎng yên lặng nói: “Chắc là họ đồn nhảm. Con tôi hiền lành lắm, chắc nó không bao giờ giết người”.

Lát sau, một người khác lại nói: “Nghe nói Tǎng bị bắt rồi…”.

Bà cụ Tǎng bắt đầu lo sợ, nhưng vẫn bình tĩnh.

Vài phút sau, một người khác lại nói: “Nghe nói Tǎng bị giải lên huyện rồi…”.

Bà cụ Tǎng vất cả công việc và chạy cuống cuồng.

Không ai hiền lành bằng anh Tǎng. Không ai tin tưởng anh Tǎng bằng mẹ anh. Thế mà vì người đồn qua, kẻ đồn lại, dù không đúng sự thật, mẹ Tǎng cũng đâm ra lo ngại, hoang mang.

ảnh hưởng tuyên truyền là như thế.

*

*      *

Đế quốc Pháp – Mỹ không những chiến tranh xâm lược bằng quân sự, chúng còn chiến tranh bằng tuyên truyền.

Chúng dùng báo chí và phát thanh hàng ngày, tranh ảnh và sách vở in rất đẹp, các nhà hát, các trường học, các lễ cúng bái ở nhà thờ và chùa chiền, các cuộc hội họp, v.v. để tuyên truyền.

Chúng lợi dụng tôn giáo, phong tục tập quán; chúng bịa đặt những câu sấm và những tin đồn nhảm – để tuyên truyền.

Mỗi tháng chúng rải hàng chục triệu truyền đơn – để tuyên truyền.

Nhất là chúng lợi dụng những sai lầm khuyết điểm của cán bộ ta – để tuyên truyền.

Nói tóm lại, chúng dùng đủ mọi cách, mọi dịp để tuyên truyền, để hòng phá hoại tâm lý và tinh thần của nhân dân ta; cũng như chúng dùng bom đạn để phá hoại mùa màng và giao thông của ta.

Thế mà có nhiều cán bộ ta xem khinh việc tuyên truyền của địch. Các đồng chí ấy nói: “Ai chẳng biết đế quốc Pháp – Mỹ là độc ác, Việt gian bù nhìn là xấu xa. Ai chẳng biết Đảng ta, Chính phủ ta, Cụ Hồ ta một lòng vì dân vì nước; và kháng chiến nhất định thắng lợi. Cho nên dù địch tuyên truyền mấy cũng chẳng ai nghe”.

Nghĩ như vậy là lầm to, là chủ quan khinh địch, là rất nguy hiểm, là để một thứ vũ khí rất sắc bén cho địch chống lại ta.

Nhân dân ta tốt thật. Nhưng ta nên ghi nhớ câu chuyện anh Tǎng. Địch tuyên truyền xảo quyệt và bền bỉ, ngày này đến ngày khác, nǎm này đến nǎm khác. “Giọt nước rỏ lâu, đá cũng mòn”. Cho nên không khỏi có một số đồng bào bị địch tuyên truyền mãi mà hoang mang.

Trách nhiệm của mỗi cán bộ, của mỗi người yêu nước, là tìm mọi cơ hội, dùng mọi hình thức, để đập tan tuyên truyền giả dối và thâm độc của địch.

Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!

C.B.

Báo Nhân dân, số 188,
từ ngày 25 đến 27-5-1954.
cpv.org.vn

Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân ngày 1-6-1954 (1-6-1954)

Gửi các cháu nhi đồng,

Nhân dịp Tết quốc tế của các cháu nhi đồng, Bác thân ái chúc các cháu ngoan ngoãn, mạnh khoẻ, vui vẻ, tiến bộ. Bác hôn các cháu.

Bác cũng thay mặt các cháu gửi nhi đồng các nước bạn và thế giới nhiều cái hôn.

BÁC HỒ

Báo Nhân dân, số 190, từ ngày 1 đến 3-6-1954.
cpv.org.vn

Điện mừng nhân dịp kỷ niệm ngày độc lập của nước tự do Khơme (19-6-1954)

Kính gửi ông Sơn Ngọc Minh,
Chủ tịch Chính phủ kháng chiến Khơme,

Nhân dịp kỷ niệm ngày Độc lập của nước tự do Khơme, thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân tôi, tôi trân trọng gửi đồng chí Chủ tịch, nhân dân và Chính phủ Khơme lời chào mừng thân ái và nhiệt liệt.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch, nhân dân Khơme đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang trong công cuộc kháng chiến. Thắng lợi của nhân dân Khơme cũng là những thắng lợi chung của nhân dân Việt Nam, của khối liên minh nhân dân Khơme – Việt Nam – Pathét Lào đoàn kết chiến đấu, để tranh lại tự do độc lập của ba dân tộc anh em.

Kính chúc Chủ tịch mạnh khoẻ.

Ngày 19 tháng 6 nǎm 1954
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 196, từ ngày 19 đến 21-6-1954.
cpv.org.vn

Thư gửi các chiến sĩ và cán bộ Liên khu V (28-6-1954)

Các chú hoạt động có thành tích khá. Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú, và:

– Thưởng cho tiểu đoàn X, vừa thắng khá ở An Khê, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

– Bác khuyên dặn toàn thể chiến sĩ và cán bộ cần phải cố gắng: nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công, ra sức dân vận, nguỵ vận.

Chớ nên vì thắng mà kiêu, chủ quan khinh địch; ra sức tranh lấy thành tích to hơn nữa.

Bác chờ nhiều tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thǎm đồng bào trong đó.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 28 tháng 7 nǎm 1954
BÁC

Báo Quân đội nhân dân,
số 130, ngày 10-7-1954.
cpv.org.vn

“Không biết”! (2-7-1954)

Nhân dân ta, mỗi người tuỳ theo nǎng lực của mình mà ai cũng tham gia kháng chiến. Người thì cầm súng giết giặc. Người thì đi dân công. Người thì lo tǎng gia sản xuất để cung cấp cho bộ đội. Người thì làm việc cổ động tuyên truyền, vân vân. Việc làm khác nhau nhưng đều phụng sự Tổ quốc, phụng sự kháng chiến.

Cũng có người chỉ nói hai tiếng “không biết”, mà cũng có công như tham gia đánh giặc, có công với nước với dân:

Cuối nǎm ngoái, giặc càn quét ở Hà Nam. Khi chúng đến làng A, nhân dân đã tản cư, bộ đội đã mai phục hết. Chỉ còn các cụ già ở lại.

Giặc bắt các cụ ra hỏi: “Việt Minh ở đâu ?”. Cụ nào cũng lắc đầu nói “không biết!”.

Giặc tra tấn. Các cụ cũng cứ nói “không biết!”

Để khủng bố tinh thần, giặc chọc tiết một cụ, rồi lại hỏi. Các cụ khác vẫn cứ nói “không biết!”.

Giặc giết mấy cụ nữa. Những cụ kia vẫn bình tĩnh nói “không biết!”.

Giặc giết hết 25 cụ. Một cụ còn lại thét lên “Tao không biết!” rồi chửi vào mặt chúng.

Tuy rất vắn tắt, hai tiếng “không biết” ấy đã tỏ rõ tấm lòng nồng nàn yêu nước và gan vàng dạ sắt của các cụ. Nó lại đại biểu cho tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Hai tiếng “không biết” ấy đã làm cho “trời đất phải kinh, quỷ thần phải khóc”. Nó đã cứu sống nhiều chiến sĩ ta, và đã đưa nhiều giặc đến chỗ chết.

Liền sau đó thì giặc bị ta đánh úp và thất bại to.

Hai tiếng “không biết” ấy còn nêu cao cái gương hy sinh anh dũng để giữ bí mật cho cán bộ và bộ đội ta – Cái gương giữ bí mật mà mọi người Việt Nam yêu nước phải noi theo.

Để lưu truyền cái tinh thần bất diệt của 26 vị lão liệt sĩ, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã kính cẩn truy tặng Huân chương Kháng chiến cho linh hồn các cụ ấy.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2631,
ngày 2-7-1954.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ vùng mới giải phóng ở đồng bằng Bắc Bộ (3-7-1954)

Cùng đồng bào, chiến sĩ và cán bộ thân mến,

Từ khi bắt đầu kháng chiến đến nay đã trải qua 8 nǎm. Trong 8 nǎm đó, dưới ách của giặc, đồng bào phải chịu đau khổ vô cùng. Nhưng tinh thần yêu nước, chí khí chiến đấu của đồng bào ngày càng mạnh mẽ. Kết quả là ngày nay đồng bào đã được giải phóng, trở về với Tổ quốc thân yêu. Tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời thǎm hỏi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ.

Hiện giờ đồng bào cần phải làm gì ?

Mọi người phải:

1- Đoàn kết nhất trí, yêu mến và giúp đỡ lẫn nhau.

2- Hǎng hái tǎng gia sản xuất, làm ǎn, buôn bán, để cải thiện sinh hoạt.

3- Hǎng hái tham gia và ủng hộ kháng chiến.

4- Luôn luôn tỉnh táo, không nên chủ quan khinh địch.

Đồng bào công giáo những vùng mới giải phóng, ngoài việc thực hiện những điều nói trên, cần tin tưởng ở chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ, chớ nghe những lời bịa đặt, chớ để địch lợi dụng.

Cán bộ và chiến sĩ phải nhã nhặn đối với dân, gần gũi và giúp đỡ dân, thi hành đúng chính sách của Chính phủ và giữ vững nền nếp liêm khiết, giản dị.

Những viên chức cũ, những sĩ quan, binh lính của thực dân Pháp và bù nhìn, ai cải tà quy chính đều được Chính phủ và nhân dân ta đối đãi khoan hồng.

Sau cùng tôi gửi lời thân ái chào các cụ phụ lão và hôn các cháu nhi đồng.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 3 tháng 7 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 202, từ ngày 7 đến 9-7-1954.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của Việt Nam Thông tấn xã (6-7-1954)

– Hỏi: Thưa Chủ tịch, đối với sự tiến triển của Hội nghị Giơnevơ về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và tiền đồ của Hội nghị đó, Chủ tịch nhận xét như thế nào ?

– Trả lời: Hội nghị Giơnevơ thảo luận vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương tiến triển tuy chậm, nhưng với những vấn đề đã thoả thuận, Hội nghị cũng đã mở đường cho việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối phương cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta mà cũng cố gắng để lập lại hoà bình ở Đông Dương, thì hoà bình Đông Dương có thể thực hiện. Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông – Nam á.

– Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý nghĩa của những lời tuyên bố chung gần đây của Thủ tướng hai nước Trung – ấn và Thủ tướng hai nước Trung – Diến ?

– Trả lời: Bản tuyên bố chung mà Thủ tướng hai nước Trung- ấn và Thủ tướng hai nước Trung – Diến vừa phát biểu rất quan trọng. Hai bản tuyên bố chung đó phù hợp với nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới, nhất là nhân dân châu á. Nǎm nguyên tắc trọng yếu đề ra trong bản tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước Trung – ấn và Thủ tướng hai nước Trung – Diến là: cùng tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội chính của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, cùng sống chung trong hoà bình. Những nguyên tắc ấy cũng thích hợp cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh hai bản tuyên bố chung đó. Tôi tin rằng hai bản tuyên bố chung đó nhất định có lợi cho hoà bình châu á và thế giới.

– Hỏi: Ngày 17-6, trong bài diễn vǎn nhận chức của Thủ tướng Pháp Mǎngđét Phrǎngxơ đọc trước Quốc hội Pháp, khi nói đến vấn đề Đông Dương, ông ta nói việc ngừng bắn ở Đông Dương phải thực hiện mau chóng. ý kiến của Chủ tịch đối với những lời tuyên bố đó của ông Mǎngđét Phrǎngxơ như thế nào ?

– Trả lời: Chúng ta hoan nghênh nguyện vọng của ông Mǎngđét Phrǎngxơ, nhưng phải bài trừ chính sách của đế quốc Mỹ ngǎn cản và phá hoại Hội nghị Giơnevơ, mới có thể thực hiện nhanh chóng ngừng bắn ở Đông Dương được.

Bản tin Việt Nam Thông tấn xã ngày 6-7-1954.
Sách Hồ Chí Minh: Con đườnghoà bình, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1955, tr.21-23
cpv.org.vn

Công giáo Pháp chống chiến tranh xâm lược Việt Nam (7-7-1954)

Nhân dân Pháp, giáo cũng như lương, đều chống chiến tranh ở Đông Dương. Cuối tháng 5, một nhóm lãnh tụ công giáo Pháp, trong đó có cả phụ nữ và nhiều vị linh mục, lại lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Lời kêu gọi nói:

– Hai bên cần trực tiếp thương lượng để chấm dứt ngay chiến tranh.

– Kiên quyết chống bất kỳ ai lợi dụng danh nghĩa bảo vệ đạo Chúa trong cuộc xung đột ở Đông – Nam á. Người công giáo Pháp kiên quyết chống:

a) Mọi chiến tranh xâm lược;

b) Dùng những vũ khí ghê gớm, như đạn napan, v.v..

– Người công giáo Pháp quyết không tham dự vào những hoạt động làm cho dư luận cǎng thẳng.

Tờ báo to nhất của công giáo Pháp là Bằng chứng công giáo cũng hǎng hái chống chiến tranh ở Đông Dương.

Trước thái độ đúng đắn của những người công giáo Pháp, thì những người công giáo Việt Nam ai đã lầm đường theo giặc, phản nước phản Chúa, cần phải mau mau hối cải, mau mau quay về với chính nghĩa, với Tổ quốc yêu mến của chúng ta.

C.B.

Báo Nhân dân, số 202,
từ ngày 7 đến 9-7-1954.
cpv.org.vn

Gửi báo cáo và xin chỉ thị (10-7-1954)

Vì sao Đảng ta phải giữ vững chế độ ấy?

Vì có như vậy, cấp trên mới kịp thời hiểu rõ tình hình, nêu lên nhiệm vụ, định ra kế hoạch, động viên quần chúng, để thực hiện chính sách của Đảng. Cấp dưới mới thấy rõ đường lối, thấm nhuần chính sách, tránh khỏi sai lầm, làm trọn nhiệm vụ. Đồng thời, kinh nghiệm của nơi này có thể phổ biến và giúp đỡ nơi khác.

Nếu cấp dưới không báo cáo kịp thời và đầy đủ, thì cấp trên không hiểu rõ tình hình thực tế, không giúp đỡ được cấp dưới. Và cấp dưới sẽ gặp nhiều lúng túng, sai lầm.

– Ai phải phụ trách việc thỉnh thị, báo cáo? Và báo cáo nên thế nào?

Bí thư các cấp phải phụ trách, không thể giao việc ấy cho một cán bộ khác. Viết báo cáo, thì các tài liệu phải nghiên cứu kỹ, xét lại kỹ, phải đúng sự thật.

Phải toàn diện, phải nắm khâu chính. Phải nắm tình hình lúc đó và nơi đó thi hành chính sách của Đảng thế nào; tư tưởng của cán bộ và quần chúng thế nào? Phải có phân tích và kết luận. Phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm.

Tuyệt đối không nên báo cáo một cách mơ hồ, giả dối, chỉ nói cái tốt mà giấu giếm cái xấu.

Mỗi việc quan trọng, thì trước khi làm phải báo cáo rõ kế hoạch và thời hạn công tác. Trong khi làm thì báo cáo rõ công việc phát triển thế nào? Khi làm xong thì phải báo cáo tổng kết kinh nghiệm.

Có như vậy, trong Đảng ý chí mới nhất trí, lãnh đạo mới thống nhất, đoàn kết mới chặt chẽ, kinh nghiệm mới dồi dào, mọi việc mới kịp thời và thành công.

Hiện nay, có một vài cấp uỷ địa phương không chú ý hoặc không kịp thời báo cáo và thỉnh thị. Thế là xem thường cấp trên, phá hoại nguyên tắc của Đảng. Kết quả tai hại là thường hỏng việc!

Cán bộ các cấp phải hiểu rõ rằng: chế độ thỉnh thị và báo cáo là rất quan trọng, và mỗi cán bộ phụ trách phải kiên quyết làm đúng chế độ ấy.

C.B.

Báo Nhân dân, số 203, từ ngày 10 đến 12-7-1954.
cpv.org.vn

Điện mừng ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ (11-7-1954)

Kính gửi đồng chí Xêđenban,
Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ,

Nhân dịp ngày Quốc khánh của nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ, thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đồng chí, nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ lời chào mừng nhiệt liệt.

Chúng tôi rất phấn khởi trước những thành tích xây dựng to lớn của nhân dân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ và của đồng chí. Chúng tôi chúc nhân dân Mông Cổ đạt được nhiều thành công mới.

Ngày 11 tháng 7 nǎm 1954
Chủ tịch kiêm Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 203, từ ngày 10 đến 12-7-1954.
cpv.org.vn