Tag Archive | Thời sự

“Hình ảnh miền Nam yêu quý trong trái tim tôi”

– “1) Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch.

2) Phải biết chịu kham khổ.

3) Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần…Về đức tính này phải học theo người truyền giáo.

4) Chớ có lên mặt “quan cách mạng”. Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dậy người ta chứ không cần học lại người ta; lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình.

5) Chú ý đến cách phô diễn ý tưởng. Hết sức phổ thông. Cố vào sâu trong dân chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm sao cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đội tuyên truyền xung phong trong lễ xuất phát 500 đội viên của Hà Nội, tổ chức tại Nhà hát Lớn thành phố ngày 22/10/1945.

d  20/10/1945 Bác dự lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn HN.

d

Ngày 20/10/1962, Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư ký UB Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN ra thăm miền Bắc.

Ngày 20/10/1946, Chiến hạm Dumont D’Urville cập bến cảng Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Tổ quốc sau hành trình hơn 4 tháng sang thăm và tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao vì nền độc lập của dân tộc ta và sự hợp tác thân thiện giữa 2 nước Việt – Pháp. Chính quyền và các tầng lớp nhân dân Hải Phòng cũng đại diện Chính phủ ta cũng như lực lượng quân Pháp đã đón tiếp theo những nghi thức trọng thể. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức nhắc lại tiếng còi chào mừng của Thành phố Cảng viết: “Chưa bao giờ bến cảng này lại có một hồi còi làm rung động trái tim của hàng chục vạn con người như chiều hôm nay”. 

Có một câu chuyện về cuộc gặp của Bác với một người bạn cũ. Trong lúc đang gặp gỡ các đại biểu tại Uỷ ban Hành chính Hải Phòng, Bác được báo là có một ông già mù muốn được gặp cụ Chủ tịch. Vừa nhìn thấy vị khách, Bác vội đứng dậy dắt ngồi xuống ghế. Đó là một người bạn cũ, 35 năm trước đã từng làm việc cùng Bác dưới một tàu biển. Vị khách vừa nói “Thưa Hồ Chủ tịch…” thì Bác ngắt lời: “Cứ gọi tôi là Ba như trước…”.

Bác đã nghỉ lại Hải Phòng một đêm tại Trường nữ học Minh Khai dự tiệc và thăm hỏi các tầng lớp nhân dân.

Ngày 20/10/1962, Bác thân mật và nồng nhiệt tiếp Đoàn Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm trưởng đoàn ra thăm miền Bắc. Chính trong buổi găp gỡ này, Bác đã nói một câu làm rung động lòng người: “Hình ảnh của miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi”.

X&N
bee.net.vn

Thận trọng và khéo léo

– Ngày 21/10/1966, họp về công tác ngoại giao, Bác lưu ý “các Uỷ viên Bộ Chính trị phải thận trọng và khéo léo trong các mối quan hệ quốc tế”.

Cách đây 89 năm, ngày 21/10/1920, Nguyễn Ái Quốc cùng một số người Việt Nam dự cuộc mít tinh do các đảng viên Đảng Xã hội Quận 13, Paris, tổ chức dưới sự chủ tọa của văn sĩ Anatone France nhằm lên án chính quyền bắt giữ trái phép và độc đoán một số đồng chí của mình.

Từ ngày 21/10 đến 24/10/1922, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội II Đảng Cộng sản Pháp họp tại Quận 10 ở Paris. Tại đây Nguyễn đã gặp Manuinsky, thường vụ Quốc tế Cộng sản. Tại diễn đàn này, Nguyễn Ái Quốc đã phê bình Đảng Cộng sản Pháp chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề thuộc địa và đề nghị Đại hội thông qua lời kêu gọi “Những người bản xứ ở thuộc địa”.

Ngày 21/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự thụ lễ đức Khổng Tử tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội. Lễ do Hội Tư văn Thăng Long tổ chức theo lệ thường. Lần này, tham dự lễ còn có đại biểu của Uỷ ban Hà Nội và một số quan chức Trung Hoa Quốc dân Đảng. Để tỏ thiện chí, Bác thân đứng ra phiên dịch cho các quan chức Trung Hoa và bày tỏ tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” (Bốn bể là anh em).

Ngày 21/10/1946, tại Thành Phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hỏi nhân dân Thành phố, ghi vào cuốn sổ vàng của Trường Huấn luyện Thanh niên Tô Hiệu (Hải Phòng) dòng lưu bút: “Thanh niên đoàn kết. Gắng học tập. Gắng công tác. Tiến lên! Tiến lên”. Sau đó gặp một người bạn cũ từng cùng làm thuỷ thủ từ thưở hàn vi. Góp ý với báo “Dân Chủ”, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh miền Duyên hải, Bác nói: “Báo không nên viết những lời lẽ cứng rắn quá, không có lợi cho việc ngoại giao mà nên viết mềm mỏng để tranh thủ thời gian hoà hoãn… Đừng hạ thấp mình nhưng cũng đừng nên chọc tức kẻ thù, Báo chí phải dựa vào những cơ sở pháp luật làm lợi khí đấu tranh”. 

f21/10/1946 Hồ Chí Minh trên chuyến tàu từ Hải Phòng về HN trước sự đón chào nồng nhiệt của nhân dân.

Nói chuyện với đông đảo nhân dân Hải Phòng tham gia lễ tiễn tại nhà ga xe lửa, Bác nói: “Trong bốn tháng hai mươi ngày, đồng bào nhớ tôi và tôi cũng trong bốn tháng hai mươi ngày nhớ đồng bào. Bây giờ tôi về thì rất sung sướng được thấy Tổ quốc thân yêu, thấy đồng bào quý mến, tôi rất vui lòng” và khẳng định “nhiệm vụ bao trùm nhất hiện nay là kiên quyết giữ vững độc lập, tự do!”.

Đoàn tàu đặc biệt rời ga Hải Phòng và về tới nhà Ga Hà Nội. Đông đảo nhân dân và thành viên Chính phủ cùng các cơ quan ngoại giao ra đón. Nói với đồng bào, Bác giải thích về Tạm ước 14/9; còn nói với người Pháp, Bác bày tỏ: “Tôi vừa sang Pháp để thương lượng với Chính phủ Pháp về vấn đề độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam… Nhân dân Pháp cũng vừa trải qua cuộc kháng chiến…nhân dân Pháp cũng như nhân dân Việt Nam rất yêu hoà bình, tự do, không muốn chiến tranh, chỉ muốn tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Chúng tôi mong các bạn sớm hoàn thành nhiệm vụ để trở về Tổ quốc của mình…” .

Ngày 21/10/1947, Bác viết thư gửi hai lão du kích Kiến An, khen ngợi: “Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các cụ phụ lão đời Trần, đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu, mà tự mình hăng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước”.

Ngày 21/10/1958, trên báo “Quân Đội Nhân dân” đăng bài “Tên lửa bắn máy bay” của Bác, với bút danh là “Chiến Sĩ’ giới thiệu những tri thức quân sự về một loại vũ khí hồi đó được coi là tối tân, gồm cả “tên lửa đất đối không” và “không đối không”: “Tên lửa là một vũ khí rất lợi hại, nhất là khi nó mang đầu đạn nguyên tử…Vì lợi ích của đông đảo nhân dân, chúng ta rất không muốn xảy ra những cuộc chiến tranh có vũ khí tên lửa và nguyên tử”. Thực tiễn cho thấy, chỉ sau khi đăng bài báo này không lâu, các lực lượng vũ trang của ta đã phải sử dụng loại vũ khí này để chống trả cuộc xâm lăng của quân đội Mỹ, đặc biệt là trong công cuộc chống Chiến tranh Phá hoại của không quân  Mỹ ở miền Bắc nước ta.

Ngày 21/10/1966, phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị về công tác ngoại giao, Bác trình bày quan điểm được ghi thành biên bản: “Về phương châm kết hợp giữa đánh và đàm, đánh là chính, vừa đánh vừa đàm để chia rẽ địch, đàm là để phục vụ cho đánh; nghệ thuật kết hợp giữa tiến công và đàm phán với địch phải hết sức uyển chuyển, không sa đà, không mơ hồ vào việc giải quyết tình hình thông qua đàm phán, trước hết ta phải giành thế mạnh thì mới có điều kiện để đàm phán được và lưu ý các Uỷ viên Bộ Chính trị phải thận trọng và khéo léo trong các mối quan hệ quốc tế”.

X&N
bee.net.vn

“Chúng tôi không sợ chết vì chúng tôi muốn sống”

– Ngày 19/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi văn kiện đầu tiên tới Tướng De Gaulle, người đứng đầu nhà nước Pháp đã nêu rõ lập trường độc lập và hoà bình hữu nghị của nước Việt Nam sau khi giành được độc lập.

“Xin hân hạnh báo với Ngài, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Việt Nam đã được thành lập sau khi Nhật Bản đầu hàng và Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Chính phủ chúng tôi gồm các thành viên cộng hoà của ba xứ Việt Nam với quyết tâm bảo vệ nền độc lập Viêt Nam bằng mọi biện pháp, cam kết bảo đảm an ninh tính mạng và tài sản của người nước ngoài ở toàn cõi Việt Nam trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và đối xử bình đẳng.

Chúng tôi phản đối việc quân đội Pháp xâm nhập lãnh thổ Việt Nam và đề nghị Ngài ban bố những chỉ thị hữu ích cho các lực lượng quân Pháp ở Viễn Đông để tránh những sự xảy ra đáng tiếc”.

ác Hồ chụp tại Pháp năm 1946. Ảnh L.AGuiot.Bác Hồ chụp tại Pháp năm 1946. Ảnh L.AGuiot.

Cũng vào thời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho những nguời Pháp đang ở Đông Dương nêu rõ: “… Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Lòng yêu nước thương nòi này làm vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người. Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi phải được phép yêu đồng bào của chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi.

Chúng tôi không ghét, không thù gì dân tộc Pháp. Trái lại chúng tôi kính phục cái dân tộc lớn lao ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá lý tưởng rộng rãi về tự do và bác ái, và đã cống hiến rất nhiều cho văn hoá, cho khoa học và cho văn minh. Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không đánh vào những người Pháp lương thiện mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp…Công nhận nền độc lập của Việt Nam không những không làm giảm uy tín của nước Pháp mà còn làm cho nó được tăng cao trước thế giới và lịch sử…Nó sẽ được sư kính trọng của tất cả các dân tộc và lòng yêu mến của người Việt Nam vốn không mong gì hơn là Tổ quốc độc lập…Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hoà bình,  một nền hoà bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ phải thay thế cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư!? Chúng tôi không sợ chết vì chúng tôi muốn sống. Chúng tôi muốn sống như các bạn, muốn sống tự do, không có ai đè đầu bóp cổ…

Những người Pháp ở Đông Dương! Bây giờ đến lượt các bạn phải tỏ ra rằng các bạn xứng đáng là con cháu những vị anh hùng vẻ vang xưa đã tranh đấu cho tự do, bình đẳng và bác ái!”.

“Hội phụ nữ mới 20 tuổi. Nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2000 năm và ngày càng phát triển. Từ đầu thế kỷ thứ Nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân, cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó, tục ngữ ta có câu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dậy những thế hệ anh hùng của nước ta… Thế là từ xưa đến nay, từ Bắc đến Nam, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng”.

Phát biểu của Bác tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 19/10/1950

X&N
bee.net.vn

Cách đây 64 năm, Hồ Chủ tịch về đến Cam Ranh

– Sự kiện này đã diễn ra vào ngày 18/10/1946 trên đường Bác từ nước Pháp trở về sau 4 tháng vận động hoà bình.

“Tàu Dumont D’ Urville ghé vào vịnh Cam Ranh. D’ Argenlieu và cả Morlière mới từ Hà Nội vào đã có mặt trên tuần dương hạm “Suffren”.

Nhiều nhà báo cũng được mời đến đây. Thuỷ thủ Pháp đứng trên boong  hô “huara!” nhiều lần khi Hồ Chủ tịch bước lên tàu. Viên thuỷ sư đô đốc tiến lại chào Người. Hồ Chủ tịch duyệt đội hải quân danh dự, rồi vào dự tiệc chiêu đãi.

Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đưòng từ Pháp về nước tháng 10/1946Chân dung Bác chụp tại Cam Ranh trên đường từ Pháp về nước tháng 10/1946

D’ Argenlieu nâng cốc rượu chúc mừng sức khoẻ của Hồ Chủ tịch nói: “Xin lỗi Đô đốc, tôi nói tiếng Pháp không thạo nhưng chắc lời tôi nói thành thật. Tôi đặt hy vọng vào cuộc hội đàm sắp tới. Dân chúng Pháp đã hiểu chúng tôi nhiều, kể cả giới báo chí.

Cũng có một vài tờ báo công kích tôi nhưng điều đó cũng chẳng làm hại gì cho tôi. Hồ Chủ tịch với viên cao uỷ trong hai giờ liền về việc thi hành Tạm ước 14/9. Người đã yêu cầu D’ Argenlieu tổ chức ngay những uỷ ban hỗn hợp để giải quyết vấn đề xung đột tại Nam Bộ.

Sau cuộc nói chuyện, Hồ Chủ tịch và viên Cao uỷ cùng gặp các nhà báo. Hồ Chủ tịch khuyên các báo hãy góp phần vào việc làm ngừng những cuộc xung đột hiện nay và thi hành các điều ước đã được thoả thuận trong Tạm ước để chuẩn bị tốt cho cuộc đàm phán sẽ tiếp tục vào tháng Giêng năm sau. Sau lời phát biểu của Hồ Chủ tịch với các nhà báo, viên Cao uỷ tươi cười nói bằng một giọng ngọt ngào: “Tôi tin rằng đã có một bước tiến thật sự trên con đường hợp tác”…

X&N

bee.net.vn

Những bài báo ngày 17/10

 –  “…Nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo mà chúng ta bẻ gẫy xiềng xích nô lệ, tranh được độc lập tự do. Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết lại thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì …

Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân …Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta…

Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa…Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”… Đó là nội dung “Thư gửi uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” của Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh đăng trên báo “Cứu Quốc” ngày 17/10/1945.

Bác Hồ cùng Tủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp Tổng lãnh sự Pháp Sainteny trong những ngày đầu Hà Nội giải phóng.Bác Hồ cùng Tủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp Tổng lãnh sự Pháp Sainteny trong những ngày đầu Hà Nội giải phóng.

“…Tiền là mạch máu cho mọi công việc, tiền cần thật nhưng không phải vì cần tiền mà cứ đi đè đầu bóp cổ hay dùng những thủ đoạn không chính đáng để vơ vét lấy tiền… Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ (chức vụ) tức là gây cho dân chúng cóp óc hiếu danh trong khi cần trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực góp vào công cuộc giữa gìn và xây dựng đất nước…

Bán ngôi thứ làm óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa …Làm sao cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp nền móng quốc gia”. Trích nội dung bài báo “Bỏ cách làm tiền ấy đi!” của Bác (ký bút danh Chiến Thắng” đăng trên “Cứu Quốc” ngày 17/10/1945 phê phán việc một số địa phương bán các thứ vị để lấy tiền cho bộ máy.

Còn với bài báo, Bác phê phán những cách làm tiền của các quan chức địa phương bằng việc bán chức vụ hay bắt dân đóng góp. Bài báo chỉ rõ rằng việc gây quỹ “phải đem theo một ý nghĩa tuyên truyền nữa mới được. Sao cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp nền móng quốc gia”.

Ngày 17/10/1954, Bác tiếp J. Sainteny, một chính khách Pháp đã từng tham gia nhiều cuộc thương lượng trước khi chiến tranh nổ ra. Ông trở lại Hà Nội chỉ một tuần sau ngày quân ta tiếp quản thủ đô trên cương vị là Tổng lãnh sự Pháp bên cạnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bằng cách diễn đạt thân mật, Bác đưa ra thông điệp với nước Pháp sau chiến tranh: “Ông xem, chúng ta đã đánh nhau,“đấm đá” nhau, tám năm trời nhưng rất trung thực, như ông đã nói ở Paris. Bây giờ mọi chuyện đã xong, các ông cần ở lại đây và cùng với tấm lòng như thế, chúng ta thoả thuận với nhau, cùng hợp tác. Vậy ông tính sao? Hai bên hưởng bằng nhau”.

X&N

bee.net.vn

Đảng không có gì khác ngoài lợi ích dân tộc

 – “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân dân”.

Đó là đoạn trích khi đề cập tới phẩm chất của bộ máy và đội ngũ cán bộ cách mạng ,trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành trong tháng 10/1947.

Bác giải thích: “Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng. Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng, lợi ích của mỗi bộ phận nhất định  phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài…Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”... Ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,… Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”.

f

Ngày 14/10/919, Nguyễn Ái Quốc trả lời trên báo “Le Populaire” (Bình Dân) đăng ở Paris tố cáo những lời xuyên tạc của một nghị sĩ Hạ viện Pháp đang tham gia Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ đối với mình:

“Giá như tôi đã bị truy nã hay bị kết án đi nữa ở bên Đông Dương về cái mà bọn thực dân Pháp vô liêm sỉ gọi là chống Pháp thì tôi cũng chẳng có gì phải hổ thẹn, trái lại, tôi còn tự hào về việc đó: vì đối với bọn thực dân, chống Pháp có nghĩa là công khai tố cáo những ý định vô nhân đạo và những hành động chúng không dám thú nhận, những ý định làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự của nước Pháp cao thượng và phản lại một cách bỉ ổi những lý tưởng cao cả về tự do và công lý mà toàn thế giới nhìn nhận ở nước Pháp”.

X&N
bee.net.vn

Nguồn gốc “Ngày Doanh nhân Việt Nam”

 – “Hiện nay Công Thương Cứu quốc Đoàn đương hoạt động để làm nhiều việc ích quốc lợi dân, tôi rất hoan nghênh và mong đợi nhiều kết quả tốt. Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công -Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới công thương trong công cuộc kiến thiết này.

Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới Công Thương nỗ lực khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công Thương Cứu quốc Đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”.

Đó là nội dung lá thư đề ngày 13/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh “gửi các giới công thương Việt Nam” sau khi nghe tin thành lập Công Thương Cứu quốc Đoàn và tổ chức này gia nhập Việt Minh. Chính những tư tưởng được thể hiện trong bức thư này là cơ sở để từ năm 2004, Chính phủ đã công nhận ngày 13/10 hàng năm là “Ngày Doanh nhân Việt Nam”.

d18/9/1945 Hồ Chí Minh tiếp các nhà công thương có tiếng ở HN, tại Bắc Bộ phủ.

Cùng ngày, ngoài việc chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ, Bác còn danh thời gian tiếp một học giả nổi tiếng từng tham gia nội các của Chính phủ Trần Trọng Kim là Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Sau này, năm 1971, trong hồi ức “Một ký vãng về Hội nghị Đà Lạt”, Giáo sư Hãn kể lại rằng lời mời của Cụ Hồ qua Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Hồi ức viết: “Chủ tịch tiếp tôi hơn một giờ. Hai lần xin cáo biệt nhưng Cụ giữ lại. Ban đầu bình phẩm về chính quyền, tôi có nói: “Nay ta chưa độc lập, đang cần dư luận ngoại bang bênh vực. Nếu tỏ ra bất lực, hoặc có thái độ độc tài thì khó lòng họ giúp mình”. Cụ bảo rằng uỷ ban địa phương làm bậy, chứ chính phủ không có ý chuyên quyền. Cụ hỏi đi hỏi lại: “Thế ra họ nói chính phủ cộng sản, thực chăng?”. Tôi đáp: “Cụ đã nghe vậy thì có thật”. Cụ nói: “Còn nói Chính phủ độc tài thì có đâu. Trong nội các có nhiều người không phải ở trong Mặt trận Việt Minh”.

Cụ lại phân trần lâu việc bài xích hạng trí thức. Cụ nói chính phủ không làm điều ấy; nhưng có người làm thì chính phủ phải nhận lỗi… Cụ Chủ tịch cảm ơn và thêm: “Hôm nay ông cho tôi biết được nhiều điều”. Tôi đứng dậy, giã từ, xuống lầu, cảm động vì đã có dịp tỏ nhiều lời tâm huyết, vì thấy vận mệnh của dân nước đè lên vai một vị cách mệnh thâm niên gầy ốm, nhưng tinh thần tinh anh, mặc tĩnh, thâm trầm và cử chỉ ôn tồn, gẫy gọn và  kiên quyết”.

X&N
bee.net.vn

Về tiêu đề “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”

 

– “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” là tiêu đề bắt buộc phải sử dụng theo một sắc lệnh số 49 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/10/1945.

Cùng ngày, Bác viết bài báo: “Sao cho được lòng dân?” dưới bí danh “Chiến Thắng” đăng trên báo “Cứu Quốc”, ngày 12/10/1945 với nội dung:

“Ta nhận thấy xung quanh các Uỷ ban Nhân dân, một vài nơi, tiếng phàn nàn, oán thán, nhiều hơn tiếng người khen. Dân chúng tín nhiệm ở Chính phủ nhiều hơn các Uỷ ban địa phương. Những Ủy ban đó không những không được dân yêu, còn bị dân khinh, dân ghét là khác nữa.

Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên mắc cái tật ngông nghênh cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng, có được mấy khẩu súng lục trong túi lúc nào cũng lăm le muốn bắn, đeo chiếc kiếm bên mình lúc nào cũng chỉ chực muốn chặt người ta.

Người ta còn bĩu môi nói đến “bà thủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều…

Áp phích cổ động thống nhất tháng 10/1945.

 Áp phích cổ động đấu tranh cho nền độc lập, tháng 10/1945.

Áp Phích cổ động thống nhất tháng 10-1945.jpg (63KB); Áp phích cổ đọng đấu tranh cho nền độc lập, tháng 10-1945.jpg (90KB)

Áp phích cổ động thống nhất tháng 10/1945.

Từ chỗ ngông nghênh xa phí đó rất dễ đi đến chỗ ỷ thế cậy quyền, làm nhiều điều quá tệ. Thậm chí có ông tư pháp khi xử kiện bắt tội nhân quỳ trước thềm đánh đập, chửi mắng tội nhân, hách dịch đúng như những “ông quan”, “ông thanh tra” dưới thời Pháp thuộc, Nhật thuộc.

Muốn cho dân yêu, muốn đựơc lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải đựơc ta đặc biệt chú ý…

Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, nhường lại cho ai muốn làm và làm đuợc. Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

X&N
bee.net.vn

 

Về tiêu đề “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”

 

– “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” là tiêu đề bắt buộc phải sử dụng theo một sắc lệnh số 49 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/10/1945.

Cùng ngày, Bác viết bài báo: “Sao cho được lòng dân?” dưới bí danh “Chiến Thắng” đăng trên báo “Cứu Quốc”, ngày 12/10/1945 với nội dung:

“Ta nhận thấy xung quanh các Uỷ ban Nhân dân, một vài nơi, tiếng phàn nàn, oán thán, nhiều hơn tiếng người khen. Dân chúng tín nhiệm ở Chính phủ nhiều hơn các Uỷ ban địa phương. Những Ủy ban đó không những không được dân yêu, còn bị dân khinh, dân ghét là khác nữa.

Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên mắc cái tật ngông nghênh cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng, có được mấy khẩu súng lục trong túi lúc nào cũng lăm le muốn bắn, đeo chiếc kiếm bên mình lúc nào cũng chỉ chực muốn chặt người ta.

Người ta còn bĩu môi nói đến “bà thủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều…

Áp phích cổ động thống nhất tháng 10/1945.

 Áp phích cổ động đấu tranh cho nền độc lập, tháng 10/1945.

Áp Phích cổ động thống nhất tháng 10-1945.jpg (63KB); Áp phích cổ đọng đấu tranh cho nền độc lập, tháng 10-1945.jpg (90KB)

Áp phích cổ động thống nhất tháng 10/1945.

Từ chỗ ngông nghênh xa phí đó rất dễ đi đến chỗ ỷ thế cậy quyền, làm nhiều điều quá tệ. Thậm chí có ông tư pháp khi xử kiện bắt tội nhân quỳ trước thềm đánh đập, chửi mắng tội nhân, hách dịch đúng như những “ông quan”, “ông thanh tra” dưới thời Pháp thuộc, Nhật thuộc.

Muốn cho dân yêu, muốn đựơc lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải đựơc ta đặc biệt chú ý…

Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, nhường lại cho ai muốn làm và làm đuợc. Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

X&N
bee.net.vn

 

“Cán bộ là gốc của mọi công việc”

– “Trong lúc Chính phủ còn nghèo, Bình dân học vụ có sáng kiến dựa vào dân là tốt…Chống nạn thất học cũng như chống nạn ngoại xâm”. Phát biểu chủa Chủ tịch Hồ Chí Minh tai lễ khai giảng lớp đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội, ngày 8/10/1945. Chính kết qua bước đầu là nhanh chóng xoá nạn mù chữ cho người dân để họ thực hiện nghĩa vụ công dân trong cuộc Tổng tuyển cử đang ráo riết chuẩn bị.

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng… Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vâỵ , Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta…

d 08/10/1945 dự lễ khai mạc

Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước. Chúng ta phải tẩy sạch bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện…

d08/10/1945 Hồ Chí Minh dự lễ khai mạc lớp huấn luyện sư phạm của thanh thiếu niên thủ đô.

Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài …Chúng ta phải nhận rõ: bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến. Bất kỳ ai, nếu có quyết tâm làm ích lợi cho quần chúng, lại chịu học, chịu hỏi, óc chịu khó suy nghĩ, tay chịu khó làm, thì nhất định có sáng kiến, nhất định làm được những việc có ích cho loài người…

Cách đối với cán bộ là một điều trọng yếu trong sự tổ chức công việc. Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc: Vấn đề cán bộ quyết định mọi việc”.

Trích đoạn viết về “Vấn đề cán bộ” trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành vào tháng 10/1947.

X&N
bee.net.vn

“Anh em văn hoá đã cố gắng… xin cố gắng mãi lên”

 – Ngày 7/101945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến dự khai mạc “Triển lãm Văn hoá” tổ chức tại trụ sở cũ của Hội Khai trí Tiến Đức (Hà Nội), ngày 7/10/1945 khi đề cập tới nền văn hoá thời thuộc địa, những tác phẩm hội họa của các họa sĩ đương đại như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung…

Bác nhận xét: “Văn hoá Việt Nam dưới sự áp bức của đế quốc vẫn cố thở, cố tìm cách phát triển… Những bức tranh này tỏ rõ các nghệ sĩ của ta lâu nay đều đã cố gắng tìm một con đường đi. Nhưng tiếc một điều là không muốn đi ở dưới đất mà cứ muốn vụt lên trời; chất mơ mộng có nhiều, mà cái chất thật sự của sinh hoạt thì lại quá ít… Văn hoá là một cấu trúc thượng tầng. Nhưng cơ sở hạ tầng có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết đựơc và đủ điều kiện phát triển được. … Giới văn hoá cũng phải cùng giới đồng bào đi qua chặng đường ấy. Mong rằng anh em văn hoá đã cố gắng, xin cố gắng mãi lên!”.

yBác đang trao đổi với những người tham dự, phía sau lưng Bác là Vũ Ngọc Phan

20 năm sau, ngày 7/10/1965, Bác nói với nữ nhà báo Đức .Faber, người đã cùng chồng dịch tác phẩm “Kiều” ta tiếng Đức, nhân đến mững Quốc khánh tại Sứ quán CHDC Đức tại Hà Nội.

“Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển vĩ đại của chúng tôi. Với tác phẩm của mình, Nguyễn Du đã và đang đấu tranh cho một xã hội bình đẳng. Viết một tác phẩm như vậy trong thời đại của ông là dũng cảm lắm… Những người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn núi cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

gTại cổng triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Cố vấn Vĩnh Thuỵ (cựu hoàng Bảo Đại) chia tay.


Ngày 7/10/1940,  nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại khung cảnh và không khí Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ đón tiếp Phái đoàn Nam Bộ mới ra thăm Chiến khu Việt Bắc: “Tất cả 25 anh chị em (có 2 phụ nữ) lần lượt vào phòng họp. Hồ Chủ tịch bắt tay anh trưởng đoàn… Mấy anh chị em lần lượt báo cáo công việc của ngành hoạt động của mình. Ai nấy tỏ sự cảm động khi nghe báo cáo trình bày tường tận sự gian lao của cuộc chiến đấu trong Nam. Cha Phạm Bá Trực thay mặt Quốc hội và Hồ Chủ tịch thay mặt chánh phủ tỏ lời hoan nghênh đoàn đại biểu, khen ngợi tinh thần dũng cảm của đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ… Một cuộc vui lửa trại có sự tham gia rộng rãi của các em nhi đồng làm cho cuộc xum họp Trung Nam Bắc thêm đậm đà thân mật. Những bài đồng ca.. .làm rung chuyển một góc rừng, rung chuyển mọi quả tim, sôi nổi bao tâm hồn đầy khí phách…”. 

Ngày 7/10/1954, lời điếu cụ Linh mục Nguyễn Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội của Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: “Với lòng vô cùng thương tiếc một nhà tận tuỵ ái quốc và một người bạn thân mến, trước linh hồn cụ, chúng tôi nguyện kiên quyết một lòng, đoàn kết toàn dân để làm trọn sự nghiệp mà cụ suốt đời mong muốn, tức là: Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

X&N
bee.net.vn

“Đồng bào Nam bộ rất yêu nước, rất anh hùng”

– Ngày 5/10/1945, bài viếtt “Tinh thần tự động trong Uỷ ban nhân dân” đăng trên báo “Cứu Quốc” phê phán tính máy móc và ỷ lại cấp trên, kém năng động của bộ máy chính quyền ở các địa phương.

“Nhiều uỷ ban nhân dân, một khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên là chỉ biết cắm đầu cắm cổ thi hành đúng như vậy, thi hành một cách máy móc. Họ không biết tuỳ hoàn cảnh địa phương, tuỳ tình thế từng lúc mà châm chước đi, không biết biến báo, làm khác đi ít nhiều cho được thích hợp… Khi công tác thì đem thi hành một cách máy móc. Khi làm xong việc lại chỉ ngồi không… cứ ỳ ra như xe bò lên dốc, không có người đẩy y như đứng lại… Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ.

Nhưng tự động không phải là tự tiện. Nhiều bạn lại hiểu nghĩa tự động sai lạc hẳn đi, không coi kỷ luật chính trị vào đâu, muốn làm gì cứ tự ý làm bừa đi, chẳng bàn hỏi thảo luận với ai, không theo pháp luật chính phủ ban hành, không dựa vào ý nguyện dân chúng. Những ca bắt bớ, tịch thu tài sản bừa bãi thường xảy ra ở nhà quê. Hành động như vậy, các Uỷ ban đó vô tình gây nên nhiều chuyện có hại đến uy tín của Chính phủ, làm cho dân chúng oán thán kêu ca.

Nói tóm lại, các nhân viên trong các Uỷ ban nhân dân phải rèn cho có một tinh thần tự động mạnh mẽ, nhưng phải bỏ  tính cái gì cũng tự tiện”. 

eTháng 10/1946 Hồ Chí Minh  trên chuyến tàu từ Hải Phòng về HN trước sự đón chào nồng nhiệt của nhân dân.

Ngày 5/10/1959, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan hệ với Chính phủ Nhật Bản thể hiện qua bài trả lời phóng viên báo “Asahi Simbun”: “Vấn đề cốt yếu trong quan hệ giữa hai nước không phải là việc đòi bồi thường, mà tình đoàn kết hợp tác giữa hai dân tộc Việt-Nhật đấu tranh chống chiến tranh và bảo vệ hoà bình là quý hơn hết… Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mong muốn nhân dân hai nước luôn có quan hệ tốt và ngày càng phát triển… Quan hệ buôn bán giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Nhật Bản, nếu được cải thiện, có nhiều triển vọng tốt đẹp, có lợi cho nhân dân cả hai nước chúng ta”.

“Gửi những người Nam Bộ trong quân đội Pháp”, Bác viết: “Đồng bào Nam Bộ có tiếng rất yêu nước, rất anh hùng. Cuộc kháng chiến anh dũng hơn 2 năm nay đã chứng rõ điều đó. Có những đồng bào Nam Bộ muốn giúp nước bởi một con đường khác: Họ theo vào quân đội Pháp, để giúp ta từ bên trong. Đó là khổ tâm mà tôi biết rõ, vì tôi đã nhận được nhiều chứng thực. Vậy, những đồng bào đó, lúc còn ở trong bộ đội địch, thì cần phải tìm mọi cách để giúp quân đội ta. Khi có cơ hội thì lập tức chạy qua với bộ đội ta. Chính phủ và đồng bào luôn luôn sẵn sàng hoan nghênh các bạn”.

Tháng 10/1953, tại Hội nghị cán bộ vùng địch hậu nhằm mục tiêu đoàn kết các lực lượng nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác nói: “Đồng bào công giáo cũng yêu nước. Nếu ta biết kiên nhẫn thuyết phục, giác ngộ, thì nhất định tranh thủ được. Làm được như vậy thì phá được một phần âm mưu của địch và rất có lợi cho việc đoàn kết nhân dân để kháng chiến… Nguỵ binh là đồng bào ta bị địch mê hoặc. Nếu ta vận động khéo, giáo dục cho họ rõ mưu mô của giặc “dùng người Việt đánh người Việt” thì ta có thể làm tan rã hàng ngũ nguỵ binh, phá âm mưu của địch và thu nhiều thắng lợi”…

X&N
bee.net.vn