Tag Archive | Tập 6 (1950 – 1952)

Thư gửi Ban chỉ huy và các chiến sĩ mặt trận Hoà Bình (25-2-1952)

Nhân dịp giải phóng Hoà Bình, tôi thay mặt Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi:

– Ban chỉ huy mặt trận,

– Toàn thể cán bộ quân, dân, chính hoạt động ở mặt trận và toàn thể các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,

– Đồng bào đi dân công phục vụ chiến dịch và đồng bào địa phương đã giúp đỡ bộ đội.

Tôi gửi lời hỏi thǎm anh em thương binh.

Tôi có lời an ủi đồng bào vùng mới được giải phóng và khuyên đồng bào phải tổ chức đoàn kết, lo tǎng gia sản xuất để cải thiện đời sống và hǎng hái tham gia kháng chiến.

Thắng lợi này là do sự lãnh đạo đúng đắn và do quân dân đoàn kết nhất trí.

Tôi cǎn dặn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào: chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch.

So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tǎng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 25 tháng 2 nǎm 1952
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 2024, ngày 29-2-1952.
cpv.org.vn

Cần và kiệm (29-2-1952)

Cần là thi đua sản xuất cho mau, cho tốt, cho nhiều. Kiệm là thi đua tiết kiệm, không lãng phí, quý trọng của công.

Nếu chỉ Kiệm mà không Cần, thì sản xuất được ít, không đủ dùng. Nếu Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào, xào chừng ấy, kết quả là không lại hoàn không.

Cho nên Cần và Kiệm là như tay phải và tay trái. Hai tay không thể thiếu một.

Đồng chí Vương Bích Quát, đốc công xưởng giấy, đã biết Cần (cố gắng tìm tòi và bàn bạc với anh em), đã đạt được kết quả Kiệm, là mỗi ngày giảm được 500 cân than, đáng giá 15 vạn đồng, lại do đó, anh chị em không vì thiếu than mà phải tạm ngừng sản xuất.

Đó là một việc đáng nêu làm gương mẫu.

Nếu các đốc công 100 nhà máy đều có sáng kiến như đồng chí Quát thì mỗi tháng sẽ tiết kiệm cho công quỹ được 450 triệu đồng, mỗi nǎm 5.400 triệu đồng, một số tiền khá to để dùng vào việc ích lợi khác cho dân, cho nước. Vì lẽ đó, mà Hồ Chủ tịch luôn luôn kêu gọi chúng ta thực hành Cần và Kiệm. Toàn thể anh em lao động ta học được kinh nghiệm của đồng chí Quát thì kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2024, ngày 29-2-1952.
cpv.org.vn

Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt (3-3-1952)

Nhân dân ta có câu hát:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước, thì thương nhau cùng”.

Không bao giờ ý nghĩa câu hát ấy được thực hiện rõ rệt như ngày nay trong chính sách đại đoàn kết của Đảng, Mặt trận và Chính phủ. Cũng không đâu thực hiện sự đoàn kết ấy sâu rộng và thấm thía hơn giữa quân đội và nhân dân ta.

Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: cơm quân đội ǎn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tǎng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ǎn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Vềphía nhân dân thì ai cũng biết rằng: có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ǎn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: các chiến sĩ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó, nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội.

Lòng yêu mến lẫn nhau giữa quân và dân rất rõ rệt ở các chiến dịch. Trong chiến dịch Hoà Bình và Liên khu III hiện nay, nó càng rõ rệt thêm.

Hàng nghìn hàng vạn đồng bào, gái trai già trẻ, đã hǎng hái tham gia dân công, phục vụ chiến dịch. Nhiều người đã làm xong phiên mình, lại xung phong thêm mấy phiên nữa. Tại mặt trận sau lưng địch, đồng bào nhường cơm sẻ áo cho bộ đội, cùng bộ đội đánh giặc. Đánh xong giặc, lại ra sức củng cố cơ sở, xây dựng làng chiến đấu, chuẩn bị chống càn quét.

Theo phong tục ta, ngày Tết là một ngày rất quan trọng. Trên thì cúng bái tổ tiên, dưới thì sum họp gia đình. Vì vậy, dù đi xa hay công việc cấp bách thế nào, đồng bào cũng tìm về nhà ǎn Tết. Nhưng trong dịp tết vừa rồi, đồng bào đi dân công đã tình nguyện ở lại với bộ đội trước mặt trận. Các đồng bào ấy nói: “Đánh thắng giặc, nǎm sau ǎn Tết càng vui hơn”. Lời nói giản dị, ý nghĩa sâu xa. Nó vừa tỏ rõ nhân dân yêu mến bộ đội, bộ đội biết làm cho nhân dân yêu mến, vừa tỏ rõ lòng quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và nhân dân.

Do lòng yêu mến ấy, mà có nhiều mẩu chuyện rất cảm động. Vài ví dụ:

– Nhiều xóm ở gần mặt trận, đồng bào đã tự động nhường nhà cho bộ đội làm trại quân y, người nhà thì lên lán hoặc lấy lá lấy rơm làm lều ở tạm. Đồng thời suốt ngày suốt đêm, xay thóc giã gạo để tiếp tế cho bộ đội.

– Làng X. ở gần đường. Đèo dốc, đường trơn, khó đi. Mỗi đêm, các em nhi đồng cầm đóm đi trước, các cụ mẹ chiến sĩ gánh trấu đi sau. Khi đoàn thương binh đến gần, thì cháu soi đường, bà rắc trấu, để những người khiêng thương binh đi cho dễ. Có khi sương sa gió lạnh, các bà, các cháu vẫn vui vẻ chờ suốt đêm.

– Nhiều bà cụ và chị em gánh quà bánh đi hàng 5,7 ngày, đến nấu nướng cho chiến sĩ ǎn Tết. Ngày Tết xong, lúc chia tay, các cụ, các chị khóc, các chiến sĩ cũng rơi nước mắt.

– Bà cụ V… hơn 70 tuổi (đồng bào Mèo) tự mình lǎn cối và chày từ đỉnh núi xuống, rồi ở luôn tại mặt trận để bày cho các chiến sĩ cách làm gạo dễ dàng.

– Em Nguyễn Thị Vạn 16 tuổi, và em Nguyễn Thị Thanh 17 tuổi (hai em ở hai nơi khác nhau), đã xung phong giúp đỡ thương binh. Bǎng bó, giặt gịa, nấu nướng, sǎn sóc việc gì các em cũng xung phong, việc gì cũng làm chu đáo. Tính nết hai em lại vui vẻ, cho nên anh em thương binh và anh chị em dân công đều rất yêu mến hai em.

– Ông K…, có vợ và 5 con còn nhỏ, khi xung phong đi dân công, còn dặn dò vợ lo cấy chiêm trồng màu, để mùa sau cung cấp nhiều lương thực hơn cho bộ đội.

Những mẩu chuyện cảm động như thế rất nhiều.

Vì lòng yêu mến bộ đội, mà nhân dân nảy ra nhiều sáng kiến, để vượt mọi khó khǎn.

Vì lòng yêu mến nhân dân, mà bộ đội càng thêm dũng cảm khi ra trận diệt giặc.

Vì lòng yêu mến lẫn nhau, mà nhân dân càng ra sức thi đua tǎng gia sản xuất, bộ đội càng ra sức thi đua diệt giặc lập công.

Hồ Chủ tịch nói: Quân dân nhất trí, ta nhất định thắng, giặc nhất định thua, là như thế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta, tình đoàn kết giữa quân và dân đã thành một lực lượng vô cùng to lớn mạnh mẽ. Chính vì tình đoàn kết ấy mà ta đã thắng nhiều chiến dịch, và sẽ thắng nhiều nữa. Chính vì tình đoàn kết ấy, mà kháng chiến nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Quân dân đoàn kết, là đường thành công.

C.B.

Báo Nhân dân, số 47 – 48, ngày 3-3-1952.
cpv.org.vn

Nguỵ binh giác ngộ (3-3-1952)

Gần đây, vì địch thất bại nhiều, ta thắng lợi luôn, nên từ Nam đến Bắc, nhiều nguỵ binh đã giác ngộ quay về với kháng chiến. Vài thí dụ:

Đêm 21-12-1951, anh Lê Vǎn Mơ, nguỵ binh đóng ở một tháp canh trong tỉnh Biên Hoà (Nam Bộ) đã diệt 4 tên quan Pháp, rồi mang 4 khẩu súng ra theo bộ đội ta.

Đêm 23-12-1951, bộ đội ta bao vây đồn Mạc Thượng (huyện Lý Nhân, Hà Nam). Chiến sĩ ta và một vị linh mục kêu gọi giải thích. Cả trung đội nguỵ binh đem súng ra hàng.

Đại đa số nguỵ binh là những thanh niên bị bắt buộc hoặc bị lừa bịp mà đi lính cho giặc. Nhưng họ vốn cũng có lòng yêu nước và ghét giặc. Ta giải thích rõ cho họ, khoan hồng với họ, thì họ sẽ giác ngộ và quay về với Tổ quốc. Nhiều lần, sự thực đã chứng tỏ như vậy. Cho nên cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, nguỵ vận, xem đó là một nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn hao binh, mà được cả người lẫn súng. Và do đó, ta sẽ phá tan mưu mô của địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

C.B.

Báo Nhân dân, số 47-48, ngày 3-3-1952.
cpv.org.vn

Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ (8-3-1952)

Thân ái gửi chị em trong nước và chị em kiều bào ở ngoài nước,

Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến. Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hǎng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là một lực lượng trong Quốc tế phụ nữ.

Nhân dịp 8-3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, như cô Nguyễn Thị Cúc và nhiều người khác. Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ.

Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng.

Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu.

Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em giúp thương binh đã hoà lẫn lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành một mối yêu thương không bờ bến, mà giúp đỡ chiến sĩ và sǎn sóc thương binh như con em ruột thịt của mình.

Nói chung là phụ nữ ở vùng tạm bị chiếm, nói riêng là các nữ du kích, không quản khó nhọc nguy hiểm, ra sức giúp đỡ chiến sĩ và cán bộ, hǎng hái đấu tranh chống quân thù.

Hàng vạn phụ nữ Kinh, Thổ, Nùng, Mán, Mèo xung phong tham gia dân công, không quản trèo đèo lội suối, ǎn gió nằm sương.

Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan hǎng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém đàn ông.

Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm một phần lớn trong số người dạy cũng như trong số người học.

Nhiều chị em tiểu tư sản, trước kia quen đời sống phong lưu, nay cũng chịu khó làm lụng, tǎng gia sản xuất. Đó là một sự cải tạo lớn, một tiến bộ lớn về tư tưởng và tinh thần.

Tôi rất vui lòng thấy rằng trong mọi ngành hoạt động, các cháu nữ thanh niên đều xung phong, đều có thành tích khá.

Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.

Các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn, thì phong trào phụ nữ chắc rộng hơn, mạnh hơn nữa.

Nhiệm vụ chính của phụ nữ ta ngày nay là:

– Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới.

– Thi đua tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, hǎng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.

– Hǎng hái tham gia chính quyền.

– Giúp đỡ bộ đội.

– Bảo vệ nhi đồng.

Phụ nữ trong vùng tạm bị chiếm thì ra sức chống địch bắt chồng con, anh em đi lính, phá mưu mô địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

– Chị em kiều bào ở nước ngoài thì ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào trong nước về mọi mặt.

Chúc toàn thể phụ nữ tiến bộ và thành công nhiều.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 8 tháng 3 nǎm 1952
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 49, ngày 13-3-1952.
cpv.org.vn

Nam nữ bình quyền (8-3-1952)

Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó.

Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn nǎm để lại. Vì nó ǎn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội.

Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu. Vài thí dụ: Sau khi Trung Quốc cách mạng thành công, chia xong ruộng đất; ban bố luật mới về việc lấy vợ gả chồng, thì có nơi 9 phần 10 vụ kiện thuộc về vấn đề vợ chồng. ở tỉnh Sơn Đông trong 10 tháng nǎm 1950, có 1200 phụ nữ tự sát, 9 huyện ở tỉnh Giang Tô trong 4 tháng có 119 phụ nữ tự sát. ở khu Tân An (huyện Lục An) trong 6 ngày 4 phụ nữ bị đánh chết.

Ngày trước những việc thê thảm như thế còn nhiều gấp mấy. Song không ai lo đến. Ngày nay Chính phủ nhân dân đang ra sức giải thích tuyên truyền giáo dục, cải tạo tư tưởng để chống bọn phong kiến đó.

Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, vǎn hoá, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công.

Viết ngày 8-3-1952.
Sách Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1970, tr.31.
cpv.org.vn

Bài nói tại buổi phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm (17-3-1952)

Nǎm nay chúng ta cũng có một cuộc Hội nghị cán bộ chính quyền, nhưng nǎm nay Hội nghị có một ý nghĩa đặc biệt. Trước kia chúng ta đã cố gắng làm công tác sản xuất và tiết kiệm một cách có kế hoạch nhưng còn thiếu sót. Nǎm nay chúng ta có một kế hoạch sản xuất và tiết kiệm đầy đủ hợp lý hơn.

I- Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm

Vì ý nghĩa đặc biệt ấy nên có Quốc hội, Mặt trận, Chính phủ trung ương, có cán bộ từ Nam chí Bắc tham dự Hội nghị này. Do ý nghĩa đặc biệt ấy với sự giúp đỡ của Quốc hội, của Mặt trận, với sự cố gắng của Chính phủ, với sự thi đua thực hiện của bộ đội và nhân dân, kế hoạch sản xuất và tiết kiệm sẽ thành công.

Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương cǎn cứ theo kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương mình, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình, ǎn khớp với kế hoạch chung.

Vì vậy từ khu đến tỉnh, huyện, cho đến xã phải làm thế nào cho kế hoạch đó thiết thực và nhất định phải làm cho kỳ được. Làm kế hoạch một cách dân chủ như vậy, chúng ta nhất định thành công.

Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm muốn thành công cần ba điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hoà, và nhân hoà là chính.

Nhân hoà gồm có 3 lực lượng:

– Đoàn thể và Chính phủ,

– Bộ đội và nhân dân,

– Cán bộ.

Kinh nghiệm đã tỏ rằng chính sách, phương châm của Chính phủ và Đoàn thể là đúng. Kinh nghiệm cũng đã tỏ rằng bộ đội và nhân dân bao giờ cũng sẵn sàng chịu đựng hy sinh, bất kỳ trong mọi việc lớn nhỏ.

Kinh nghiệm cũng tỏ rằng chúng ta có 2 hạng cán bộ:

Hạng thứ nhất là những cán bộ nắm vững chính sách, phương châm của Chính phủ và Đoàn thể, học tập kỹ càng và cố gắng làm cho đúng chính sách đó. Vì vậy họ thành công. Thành công vì cán bộ quân dân chính đã đoàn kết nhất trí, phân công rạch ròi, hợp tác chặt chẽ, đi đúng đường lối nhân dân, học hỏi nhân dân, bàn bạc mọi việc với nhân dân và cùng nhân dân quyết định.

Trái lại có hạng cán bộ không chịu khó học tập chính sách, phương châm của Chính phủ, của Đoàn thể, có khi tự tiện thay đổi châm chước chính sách và phương châm ấy. Vì quân, dân, chính không đoàn kết chặt chẽ, vì thiếu phối hợp công tác, vì không đi đúng đường lối nhân dân, không cùng nhân dân bàn bạc, quan liêu, mệnh lệnh đối với nhân dân, hoặc theo đuôi nhân dân. Hạng cán bộ này thất bại.

Vậy những cán bộ đã làm đúng thì cố gắng mà tiến tới mãi và cán bộ nào chưa làm đúng thì cố sửa chữa làm cho đúng.

II- Chống quan liêu, tham ô, lãng phí

Bây giờ Chính phủ, Đoàn thể, nhân dân, bộ đội đang ra sức thi đua tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng như đang vun trồng một rừng cây. Rừng cây thì chắc chắn nở hoa sinh quả; nhưng cũng có những con sâu mọt rút lá, cắn hoa, khoét quả. Chúng ta phải tiêu diệt các con sâu mọt ấy: ấy là bệnh quan liêu, nạn tham ô lãng phí. Cho nên Chính phủ, Đoàn thể đề ra việc chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu và kêu gọi các cơ quan, các ngành, các địa phương tiến hành công tác này.

Nói đến tham ô, có người chỉ nghĩ đến ǎn cắp của công làm của tư mà không thấy thứ tham ô gián tiếp. Thí dụ một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hàng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ǎn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân.

Có người lại nói tham ô mới có tội, còn lãng phí thì không có tội. Thực ra việc khác nhau nhưng kết quả vẫn hao tổn của công, của Chính phủ, của nhân dân. Tham ô có hại; nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến: lãng phí của cải, thì giờ, lực lượng của nhân dân, của Chính phủ. Thí dụ: lãng phí trong việc huy động dân công phục vụ chiến dịch, lãng phí trong việc tiêu dùng đạn dược, vật liệu, tiền bạc, của cải. Thí dụ ở xã Đại Đồng (Liên khu IV) ǎn mừng kết quả thu thuế nông nghiệp, người ta đã thịt 102 1 con bò. ở Liên Xô lúc lập các nông trường tập thể, nhân dân phải tranh đấu chống bọn phản động giết trâu bò. ở Trung Hoa cũng vậy. Thế mà ở ta có cán bộ bảo nhân dân giết trâu bò. Tuy đó chỉ là một nơi và giết để ǎn mừng, nhưng cũng là lãng phí. Tôi rất đau lòng cho của cải của nhân dân, cho sự khờ dại của cán bộ.

Vì đâu mà có lãng phí và tham ô ?

Vì cán bộ phụ trách lãnh đạo các cấp, các ngành quan liêu không đi sát công việc, cán bộ, quần chúng nhân dân. Có thể nói bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô lãng phí nảy nở được.

Vì thế muốn chống tham ô, lãng phí, phải chống bệnh quan liêu. Nhưng tiến hành phải có chuẩn bị, có kế hoạch, có lãnh đạo, có trọng tâm. Vậy bất kỳ ngành nào, địa phương nào cũng phải giáo dục cho cán bộ, nhân dân, chiến sĩ gớm ghét nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu.

Đối với nơi nào, ngành nào mà 3 bệnh ấy đặc biệt nghiêm trọng thì Chính phủ, Đoàn thể sẽ có chỉ thị giúp nơi ấy, ngành ấy tiến công trước. Nếu tiến công lu bù thì sẽ thất bại. Công, của là của nhân dân thì nhân dân, bộ đội có quyền phê bình cán bộ nếu cán bộ làm sai. Chính quyền, Đoàn thể và các cấp chỉ huy quân đội phải cố gắng giáo dục hướng dẫn nhân dân và chiến sĩ làm việc ấy.

III- Thi đua ái quốc

Bây giờ nói đến thi đua ái quốc.

Chúng ta đã có kinh nghiệm thi đua ái quốc mấy nǎm. Bộ đội, nhân dân rất cố gắng và có nhiều thành tích. Nǎm nay việc tǎng gia sản xuất và tiết kiệm là nội dung của thi đua ái quốc. Muốn thành công, cán bộ cần giải thích, tuyên truyền, cổ động theo dõi rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm, thúc đẩy giúp đỡ người lạc hậu, khen thưởng người có công. Điểm ấy cán bộ các nơi còn thiếu sót nhiều.

Thí dụ việc khen thưởng, Chính phủ, Đoàn thể và chính tôi nhắc nhở luôn, nhưng các địa phương quên. Có những ông bà cụ già ngoài bảy tám mươi tuổi, những em bé 14, 15 tuổi thi đua rất đắc lực (như ở Cao Bằng tôi có đi đến nơi hỏi ra mới biết). Tôi nhắc tỉnh nào cũng có những người xuất sắc như vậy nhưng các nơi không có báo cáo. Có những gia đình 4 con ở bộ đội, cha mẹ là chiến sĩ lao động, mà địa phương không biết. Lại có những cán bộ anh hùng mà các địa phương cũng không biết. Thí dụ một cô bé 19 tuổi làm giao thông trong vùng địch bị địch bắt 4 lần, bị tra tấn dã man, sau đã thoát được và đã biên thư cho tôi, kể “mỗi khi bị tra tấn thì cháu nhất định không nói, vì nói ra thì làm hỏng việc kháng chiến; mỗi khi đau thì cháu nhớ cháu là một đảng viên”.

Vì vậy, lần nữa tôi yêu cầu cán bộ địa phương phải nhớ và chú ý thúc đẩy người lạc hậu, khen thưởng người đắc lực. Xã, tỉnh, khu tuỳ thành tích mà khen thưởng, thành tích đặc biệt thì báo cáo lên Chính phủ. Chúng ta phải học kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc trong việc khen thưởng, vì khen thưởng khuyến khích rất nhiều, vì khen thưởng là tổng kết và phổ biến kinh nghiệm ra cho mọi ngành hoạt động (thí dụ có người lao động Liên Xô trồng thuốc lá được 3 lần thưởng anh hùng lao động).

Về ý nghĩa thi đua thì cán bộ chưa hiểu thật sâu rộng:

1. Các nước tư bản chủ nghĩa không có tài gì thi đua; chỉ có xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân mới thi đua được. Ta thắng bọn đế quốc ở chỗ đó.

2. Nhờ thi đua mà nhân tài càng phát triển, của cải càng dồi dào, nhân dân càng sung sướng.

Nay ta kháng chiến để xây dựng một nước dân chủ mới, chỉ có thi đua mới giúp ta tiến bộ trên con đường ấy.

Vậy từ đây về sau cán bộ phải làm cho mọi người khác hiểu ý nghĩa ấy của thi đua ái quốc.

IV – Kết luận

Tóm lại ta có hai việc phải làm và ba điều phải chống.

Hai việc phải làm là:

1. Thi đua giết giặc lập công.

2. Thi đua tǎng gia sản xuất và tiết kiệm.

Ba điều phải chống là:

1. Nạn tham ô.

2. Nạn lãng phí.

3. Bệnh quan liêu.

Chúng ta nhất định làm được. Những cán bộ già còn nhớ thời kỳ bí mật, chúng ta không có tiền, không có nhà ở, không có cơm ǎn mà còn làm cách mạng thành công. Nay chúng ta có chính quyền, có mặt trận, có bộ đội, có đoàn thể nhân dân hưởng ứng, hơn nữa, có các nước bạn giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất, thì nhất định chúng ta sẽ thành công trong hai công tác và ba điều chống nói trên.

Vì vậy, trước khi ra về, các cán bộ phải hứa với Chính phủ, với Đoàn thể, với chiến sĩ và nhân dân quyết thực hiện cho kỳ được kế hoạch sản xuất và tiết kiệm.

Kết luận: Liên Xô kiểu mẫu trước

Việt Nam bắt chước sau

Tǎng gia và tiết kiệm

Ta cố gắng làm mau

Thế là:

Kháng chiến thắng lợi, dân giàu nước sang.

Nói ngày 17-3-1952.
Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm (3-1952)

Nǎm 1951, Chính phủ đã nêu cao công tác kinh tế tài chính, đặc biệt là công tác thuế nông nghiệp, coi đó là công tác trung tâm của Chính phủ. Nhờ đó mà nǎm nay, Chính phủ đặt được kế hoạch sản xuất và tiết kiệm.

Thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là bồi dưỡng và tích trữ lực lượng dồi dào để kháng chiến lâu dài, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công, để đưa kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi. Cho nên, ở vùng tự do, thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là công tác trung tâm của nhân dân, của Chính phủ và của Đoàn thể. ở vùng du kích và cǎn cứ du kích, đó là một công tác rất quan trọng.

Để thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, chúng ta phải gây một phong trào quần chúng sâu rộng và bền bỉ. Phải tuyên truyền, vận động, tổ chức, lãnh đạo nhân dân hǎng hái tham gia công việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch. Phải đặt phong trào sản xuất và tiết kiệm làm trung tâm của phong trào thi đua ái quốc. Mỗi địa phương, mỗi đơn vị, mỗi gia đình đều nên ký giao kèo thi đua thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm riêng của mình để hoàn thành kế hoạch chung của Chính phủ .

Để thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, các cơ quan, bộ đội, nhà máy, trường học, v.v. phải chống nạn tham ô, lãng phí. Phải sử dụng tiền của, sức lực và thời giờ của nhân dân cho hợp lý. Phải chống bệnh quan liêu vì đó là nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí.

Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân đóng góp. Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, để cải thiện đời sống của bộ đội và nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh. Có như thế nhân dân mới càng thấy Chính phủ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, Chính phủ là Chính phủ của nhân dân. Như thế, nhân dân sẽ càng hǎng hái đoàn kết và kháng chiến.

Cán bộ kinh tế và tài chính, cán bộ nông hội và công đoàn là những chiến sĩ phải xung phong trên mặt trận sản xuất và tiết kiệm. Cán bộ các ngành khác cần phối hợp chặt chẽ công tác của mình với công tác sản xuất và tiết kiệm.

Khẩu hiệu chung của chúng ta là:

– Bộ đội thi đua diệt giặc lập công,

– Nhân dân thi đua sản xuất, tiết kiệm.

Bộ đội ta đã liên tiếp chiến đấu bền bỉ suốt 3 tháng ở chiến trường Hoà Bình và khắp nơi, và đã thắng to. Đồng bào và cán bộ ta phải thi đua với bộ đội, phải ra sức thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm để bồi dưỡng và tích trữ lực lượng cho quân và dân ta đánh thắng hơn nữa, đánh thắng hơn mãi, cho đến ngày kháng chiến thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 3 nǎm 1952
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 50, ngày 20-3-1952.cpv.org.vn

Thăm nơi lưu giữ dấu chân Bác Hồ ở Thái Lan

Từ lâu, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Udon Thani đã trở thành niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam đang sinh sống tại Thái Lan. Khu tưởng niệm nằm ở làng Nọng Ôn, xã Xiêng Phin, tỉnh Udon Thani, cách Băng-cốc khoảng 600 km về phía đông bắc.

ban tho bac ho o thai lan Bàn thờ Bác tại khu tưởng niệm. Ảnh: Ngọc Hải

Lưu giữ dấu chân Người

Tháng 7/1928, để phát triển phong trào yêu nước chống thực dân, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc từ Châu Âu về Thái Lan hoạt động. Thời gian ở đây, Bác có nhiều tên gọi khác nhau như ông Thọ, Nam Sơn, Chín. Mọi người gọi thân mật là Thầu Chín (tức là Ông già Chín).

Những ngày tháng ở làng Nọng Ôn, Thầu Chín đã được bà con Việt Kiều và nhân dân Thái Lan đùm bọc. Thầu Chín sống và sinh hoạt như mọi người, cùng đào giếng, vỡ đất làm vườn trồng rau, chăn nuôi lợn gà. Tác phong giản dị trong cuộc sống và sinh hoạt của Người đã cổ vũ tinh thần yêu nước trong kiều bào và gây dựng tình cảm thân thiết hơn của nhân dân Thái Lan đối với Bác và cách mạng Việt Nam.

Năm 2002, chính quyền Thái Lan và Hội người Việt tỉnh Udon Thani đã thống nhất phục hồi, xây dựng và phát triển nơi đây thành Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là Trung tâm nghiên cứu, học tập lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban xây dựng đã phối hợp, vận động bà con Việt kiều ở Udon cùng các địa phương khác quyên góp được 20.000 USD để mua khu đất gần 1 héc-ta chuyển giao cho xã Xiêng Phin để tiến hành phục dựng lại. Khu di tích theo lời kể của một số nhân chứng Việt kiều và giới chức trách Thái Lan. Công trình nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của các cơ quan địa phương, thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà khoa học và đông đảo nhân dân tỉnh Udon Thani và các tỉnh đông – bắc Thái Lan. Việc xây dựng Khu tưởng niệm đáp ứng mong mỏi của bà con người Việt, những tình cảm, sự ngưỡng mộ của cộng đồng người Thái Lan đối với Bác Hồ kính yêu và với dân tộc Việt Nam.

Nổi bật trong Khu di tích là phần mô phỏng ngôi nhà Bác đã ở và làm việc trong thời gian hoạt động cách mạng. Trong nhà có khá nhiều hiện vật mà bà con Việt kiều đã lưu giữ, sưu tầm phỏng theo những đồ dùng mà Bác Hồ đã sử dụng năm xưa. Khu nhà có gian bếp, giếng nước, vườn rau, hàng rào râm bụt, có kho thóc, chuồng lợn, chuồng gà. Tất cả đều mang dáng dấp, hình bóng quê hương Việt Nam…

Tòa nhà đa năng trong Khu di tích được xây dựng khang trang, rộng rãi. Đây là nơi nơi tụ họp của bà con Việt kiều trong những dịp lễ, Tết hay sinh nhật Bác, Ngày Quốc khánh 2/9.

du-khach tham khu luu niem BH o thai lan .JPGDu khách tham quan Khu tưởng niệm. Ảnh: Tuấn Long

Khu nhà đa năng có bàn thờ tưởng niệm Bác, có phòng trưng bày các hình ảnh về cuộc đời hoạt động của Bác tại Thái Lan, về cuộc sống sinh hoạt của bà con Việt kiều và mối quan hệ Việt – Thái. Phòng trưng bày hiện đang lưu giữ rất nhiều hình ảnh, tư liệu quý: Những câu chuyện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan; bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người ở Thái Lan; bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với kiều bào Thái Lan về nước ngày 10/1/1960; mô hình nhà sàn Bác Hồ…

Sâu nặng nghĩa tình

Đến Udon Thani thăm khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người được chứng kiến tình cảm sâu đậm, lòng yêu nước, tình yêu thương đùm bọc nhau, một lòng đi theo Bác của cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Năm nay 68 tuổi, ông Trần Trọng Tài (tên Thái Lan gọi là Chun) đã rời gia đình ở Băngcốc để về đây tình nguyện tham gia Ban Quản lý Khu di tích, ngày ngày đón những đoàn du khách đến thăm, thắp những nén nhang tưởng nhớ Người.

Mỗi lần được tin có đoàn du khách từ Việt Nam sang thăm, bà Đào Thị Son, 79 tuổi, lại chọn mặc những bộ quần áo đẹp nhất và có mặt ở Khu di tích từ rất sớm để đón những người thân của mình.

Trong không khí đầm ấm, bà Trần Thị Bạch Vân, 63 tuổi, lại hát những bài dân ca, các ca khúc về Bác Hồ, về quê hương đất nước như “Trông cây lại nhớ đến Người”, “Người ơi người ở đừng về”…

Bà Vũ Thị Tin, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt kiều tỉnh Udon Thani, thành viên Ban Quản lý Khu di tích hồ hởi cho biết: Khu di tích đã đón trên 100.000 lượt khách đến thăm. Đây là một trong những địa điểm du lịch lịch sử đông nhất tại Thái Lan.

Chia tay Udon Thani, ấn tượng tốt đẹp về những việc làm son sắt, tình nghĩa của người dân Thái Lan dành cho Bác Hồ kính yêu còn đọng mãi trong lòng mỗi du khách đến Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ý nghĩa văn hóa và lịch sử, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Udon Thani còn là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Thái Lan, là tấm lòng thành kính của người dân Thái Lan, của kiều bào với Bác Hồ kính yêu và với dân tộc Việt Nam./.

Theo http://www.xaluan.com
Kim Yến(st)
cpv.org.vn

Thư gửi Trung đoàn (64 3-1952)

Bác rất vui lòng đã nhận được báo cáo của các chú ngày 15 và 27-1-1952, với chiếc mề đay và phù hiệu của đội Hổ xám. Toàn Trung đoàn dũng cảm trong lúc đánh giặc, nhất là biết dân vận trong ngày thường. Thế là rất tốt. Bác nhắc lại, các chú phải:

Tǎng cường đoàn kết nội bộ, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, đoàn kết giữa quân và dân, cố gắng tiến bộ mãi, chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch. Như vậy thì các chú sẽ thu được nhiều thành tích vẻ vang hơn nữa.

Bác mong các chú cho Bác biết rõ tên tuổi các đồng chí: Đại, Thìn, Trì và cô Thép. Chuyển lời khen ngợi của Bác cho Ban quân y và đồng bào làng Lai Xá và những làng đã ra sức giúp đỡ bộ đội.

Bác chờ nhiều tin thắng lợi của các chú.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1952
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các
lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.132.
cpv.org.vn

Tuyên truyền cộng sản? (1-4-1952)

“Ai mong muốn Mỹ phát động một cuộc chiến tranh chống Nga cộng sản thì người ấy là người phạm tội ác to, chống lại lời thứ 5 của Đức Chúa: “Mi sẽ không giết người”.

“Nếu Pháp đã ký điều ước quân sự với Mỹ, và nếu Mỹ mở cuộc chiến tranh “phòng ngừa” chống Nga, thì thế nào? Trả lời thiết thực là: Hiệp ước ấy sẽ hoàn toàn không có giá trị. Chẳng những Pháp không buộc phải thi hành điều ước ấy, mà Pháp lại không có quyền hợp tác với Mỹ”.

Phải chǎng đó là lời tuyên truyền của những người cộng sản Pháp?

Thưa không phải. Đó là lời của Giám mục Ǎngxen đã đǎng trên tờ báo hàng tuần của Công giáo tỉnh Lyông ở Pháp (12-1951).

Giám mục Ǎngxen còn nói rõ: chiến tranh xâm lược là tội ác, nhưng chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc thì cần, thì đúng.

Xem đó thì biết rằng: Những người công giáo Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, làm hại đồng bào, chẳng những là Việt gian, mà cũng là giáo gian. Còn những đồng bào công giáo kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì những đồng bào ấy thật thà

Phụng sự Đức Chúa

Phụng sự Tổ quốc .

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 2046, ngày 1-4-1952.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn quốc

Kế hoạch thi đua tǎng gia sản xuất và tiết kiệm do Chính phủ đề ra, đã được Ban Thường trực Quốc hội đồng ý. Đã được Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Liên – Việt đồng ý. Đã được các đoàn thể nhân dân đồng ý. Đã được đại biểu chính quyền các khu, các tỉnh, và đại biểu quân đội ta thảo luận kỹ và đồng ý.

Nghĩa là kế hoạch này là một kế hoạch rất dân chủ, rất thiết thực, rất ích nước lợi dân.

Vậy, tôi yêu cầu cán bộ các ngành, các đơn vị, từ trung ương đến khu, đến xã phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng, phải hiểu biết rất rõ ràng kế hoạch này. Tôi yêu cầu các cán bộ thấm nhuần kế hoạch rồi phải giải thích tuyên truyền cho mọi chiến sĩ, mọi người thấm nhuần kế hoạch, để thực hiện kế hoạch cho kỳ được .

Thực hiện kế hoạch này chẳng những có ý nghĩa kinh tế to lớn, mà lại có ý nghĩa chính trị to lớn. Nó giáo dục cán bộ và nhân dân về quyền hạn và nhiệm vụ dân chủ. Nó thắt chặt thêm mối đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân. Nó nâng cao trình độ chính trị của cán bộ, của chiến sĩ và nhân dân. Nó gắn liền lòng yêu nước với tinh thần quốc tế. Cho nên, trong lúc thực hiện kế hoạch, chiến sĩ, nhân dân và cán bộ phải thật thà tự phê bình và phê bình để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, để cùng nhau tiến bộ. Mà trong phong trào phê bình và tự phê bình ắt phải có chuẩn bị và lãnh đạo, cho nên các cán bộ cao cấp phải xung phong, phải làm gương mẫu.

Tình hình quốc tế rất thuận lợi cho ta. Đồng bào ta hǎng hái, chiến sĩ ta dũng cảm, cán bộ ta cố gắng, Chính phủ và Đoàn thể lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, tôi chắc rằng chúng ta nhất định thực hiện đầy đủ kế hoạch này.

HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Trung tâm
lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn