Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người vun đắp tình hữu nghị Việt Nam với thế giới

Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế tại Mát-xcơ-va năm 1955. Ảnh tư liệu

QĐND – Ngay từ những ngày đầu giành lại độc lập cho dân tộc và đến mãi sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương sáng trong việc vun đắp tình hữu nghị của Việt Nam với chính phủ, nhân dân các nước trên thế giới. Dưới đây là những câu chuyện về tình hữu nghị ấy.

Bức tranh thêu tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 13-5-2006, bà Giên Coi-lơ, cháu dâu của Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ, đã trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bức tranh thêu tùng hạc, một kỷ vật quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ tháng 10-1945.

66 năm trước, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, cũng là lúc nước ta chớp thời cơ, giành được độc lập. Đội quân G5, đơn vị cứu tế xã hội của Hoa Kỳ đối với quân Đồng minh do Đại tá L.Noóc-ling-giơ đứng đầu đến Hà Nội, với sứ mệnh nhân đạo là giải phóng tù binh đang bị Nhật giam giữ, đồng thời chăm sóc, hỗ trợ thuốc men, lương thực cho những số phận bất hạnh đến từ các nước khác nhau. Đoàn cứu tế xã hội Hoa Kỳ đến Hà Nội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam quan tâm, giúp đỡ.

Đầu tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đại tá L.Noóc-ling-giơ để bàn việc giúp đỡ, vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Sự kiện này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, ngày 9-10-1945.

Bức tranh dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân, trên nền vải thô màu vàng nhạt, những đường thêu đã làm hình ảnh chim hạc đậu trên cây tùng hiện lên sinh động, cùng lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh: “Best greetings from Ho Chi Minh, Oct. 1945” (Những lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1945). Đường bo bằng vải xa-tanh màu đỏ nâu càng tôn thêm vẻ đẹp tinh tế của tặng vật.

Sinh thời, Đại tá L.Noóc-ling-giơ treo bức tranh này ở nơi trang trọng nhất trong nhà riêng của ông, tại Niu Y-oóc. Trải qua hơn 60 năm, bức tranh được gia đình Đại tá L.Noóc-ling-giơ gìn giữ, rồi vượt hàng nghìn cây số, từ nước Mỹ bên kia bán cầu, trở về Việt Nam, với một thông điệp hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Rây-mông Ô-brắc

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Ba-ga-ten ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Rây-mông Ô-brắc có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Rây-mông Ô-brắc 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Ô-brắc và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Sau này, thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác. Mỗi buổi sáng, người nhà ông Ô-brắc mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hằng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Pa-ri tiếp khách, mà mời về nhà ông Ô-brắc.

Ông Ô-brắc kể lại rằng, cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Ô-brắc sinh cháu Ê-li-da-bét. Bác đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Người gọi Ê-li-da-bét là Ba-bét. Gia đình ông Ô-brắc vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Vào những dịp sinh nhật Ba-bét, Người thường gửi thư và quà tới ông bà Ô-brắc và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để Ba-bét may áo cưới.

Ba-bét sau này là giáo viên và có ba người con. Những món quà của Bác Hồ tặng, Ba-bét vẫn giữ gìn như những kỷ vật. Ba-bét đã nói với chồng và các con: “Chúng ta đang sống lại một kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời mà Bác Hồ đã dành cho chúng ta”.

Sau năm 1946, ông Ô-brắc đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và Vịnh Hạ Long. Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pa-xtơ H.Ma-cô-vích sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông Ô-brắc đã viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Rây-mông Ô-brắc. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít-tinh có hàng vạn người dự tại Thủ đô Niu Đê-li, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J.Nê-ru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Nê-ru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Nê-ru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít-tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Nê-ru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại của họ về Bác Hồ.

Trong chuyến thăm này, tại một bữa tiệc do Thủ tướng Nê-ru chiêu đãi Bác Hồ có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng thìa, dĩa mà dùng 5 ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Nê-ru: “Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói chuyện với người yêu lại phải qua ông phiên dịch”. Nghe Bác Hồ nói vậy, cả bàn tiệc cười vang làm cho không khí bữa tiệc hôm đó rất vui vẻ và thân mật.

Bác Hồ với ba người con đỡ đầu

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn dành sự quan tâm và tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi trong và ngoài nước, bởi đó là những chủ nhân tương lai của nước nhà và nhân loại. Tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho thiếu nhi trong nước và quốc tế thể hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, trong đó có cả tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho những người con đỡ đầu của mình.

Ngoài Ba-bét, người con đỡ đầu đầu tiên, Bác Hồ còn có hai người con khác, một là người Đức, người thứ hai là người Nga. Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man ở miền Nam nước Đức có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19- 5-1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Oan-thơ Hát-man, cha mẹ của Kơ-nớt, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man làm con đỡ đầu.

Tại Việt Bắc, mặc dù bộn bề công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp và kiến thiết đất nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian viết thư trả lời ông bà Hát-man. 5 tháng sau ngày gửi thư, ông bà Hát-man đã nhận được thư trả lời của Người. Bức thư được đánh máy trên giấy với nội dung: “Tôi thân ái mừng bà và ông vừa có cháu trai là Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man. Tôi cảm ơn bà và ông đã gửi thư và ảnh cho tôi. Và tôi rất vui lòng nhận cháu làm con đỡ đầu. Tôi gửi biếu cháu một bức ảnh nhỏ và một đồng Việt Nam để làm kỷ niệm. Tôi chắc rằng ở trong nước Đức dân chủ nhân dân và dưới sự chăm sóc của Chủ tịch W.Pi-ếch và của Đảng, bà và ông sẽ nuôi dạy cháu mau lớn, vui vẻ, mạnh khỏe, mai sau cháu sẽ thành một chiến sĩ tốt trong sự nghiệp phát triển nước Đức xã hội chủ nghĩa, gắn chặt tình thân thiện giữa hai dân tộc Đức – Việt và giữ gìn dân chủ cùng hòa bình thế giới. Tôi gửi bà và ông lời chào thân ái, và gửi cháu nhiều cái hôn. Việt Nam 15-9-1951, Hồ Chí Minh”.

Nhận được thư của Bác, gia đình ông Hát-man vô cùng xúc động, bởi tình cảm và sự quan tâm mà Người đã dành cho gia đình ông. Vào dịp Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man tròn 3 tuổi, Bác gửi tặng gia đình ông Hát-man một bức ảnh Người. Bức ảnh Người chụp chung với một bé gái, phía sau Bác viết: “Thân ái gửi con đỡ đầu yêu quý Kơ-nớt Vôn-gang W.Hát-man. Việt Nam, 19-5-1954 – Hồ Chí Minh”.

Gia đình ông Hát-man rất trân trọng những tình cảm của Bác Hồ dành cho họ. Các bức ảnh chụp chung trong dịp Người sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức được lưu giữ như những kỷ vật, dù thời gian trôi qua đã nhiều năm. Còn với người con đỡ đầu của Bác, dù lúc còn học ở trường, khi tham gia quân đội hay là cán bộ kỹ thuật làm việc tại một xí nghiệp lai bò giống, Kơ-nớt đều mang theo bên mình một trong những tấm ảnh chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn cô bé người Nga, I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a, được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu trong trường hợp khác.

I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a sinh vào mùa xuân năm 1958, là con của nhà báo Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích và vợ là bác sĩ An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na, ở thành phố Giu-cốp-xki, ngoại ô Mát-xcơ-va. Mặc dù chưa một lần được gặp hay nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, nên khi sinh con gái, họ đã viết thư gửi Người. Bức thư viết: “Chúng cháu được biết, tình yêu của Người đối với trẻ em và của trẻ em đối với Người vô cùng sâu sắc. Theo phong tục Nga cổ truyền, một phong tục tốt đẹp ở nước Nga, chúng cháu chân thành đề nghị Người làm cha đỡ đầu của đứa con nhỏ của chúng cháu – con gái tên là I-ri-sơ-ca”.

Không lâu sau ngày gửi thư, gia đình đã nhận được thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết: “Cô An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na và chú Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích thân mến! Tôi đã nhận được thư của cô chú và chân thành cảm ơn cô chú đã mời tôi làm cha đỡ đầu cho con gái của cô chú. Tôi mong rằng, sự nhận lời của tôi sẽ thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Liên Xô. Hôn con gái đỡ đầu bé nhỏ của tôi và chúc cháu được mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc cô chú đạt nhiều thành tích trong công tác, trong cuộc sống. Chào thân ái, Hồ Chí Minh”.

Cùng với lá thư, còn có một bức ảnh chân dung của Người, trên đó viết dòng chữ Nga: “Hôn con I-ri-sơ-ca, chúc con mạnh khoẻ và hạnh phúc! Cha nuôi Hồ”./.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cách thức tiếp thu di sản tư tưởng nhân loại ở Hồ Chí Minh

Luận giải nội dung trong những tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu từ di sản tư tưởng nhân loại (Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Tôn Dật Tiên, Mác – Lênin,…), trong bài viết này, tác giả đã khẳng định: Mặc dù tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và nhân loại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân. Nguyên lý triết học chi phối cách tiếp biến các giá trị tư tưởng này không chỉ là quan điểm toàn diện, chỉnh thể, mà còn là tinh thần khoan dung và gắn kết với thực tiễn Việt Nam.

Sinh thời, trong một lời tự bạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”(1)

Đọc những lời viết trên, khi tiếp cận với tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và V.I.Lênin. Không ít người lại khẳng định tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung Nho giáo rõ rệt và chính sách phát triển đất nước Việt Nam của Người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, nhất là khi Người viết: “Tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng. Thượng đế và Tổ quốc muôn năm”(2) thì nhiều người tin rằng lòng nhân ái, khoan dung của Jêsu là một mẫu mực đối với “người học trò nhỏ” Hồ Chí Minh.

Sự thật thì tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng tiếp cận và tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, đã từng “ mưu cầu hạnh phúc cho loài người”. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Mác – Lênin, Tôn Dật Tiên, mà còn tiếp thu cả Phật giáo, hệ tư tuởng tư sản; ca ngợi cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ; tiếp cận với tư tưởng về nhà nước của A.Lincôn; cổ vũ tinh thần yêu nước của đạo Cao Đài, Hoà Hảo. Hồ Chí Minh đã từng viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca”(3).

Tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và của nhân loại, mặc dù Người tiếp nhận các giá trị từ truyền thống văn hoá của dân tộc và loài người tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận động trong lịch sử dân tộc và loài người, xác lập thành nền tảng tư tưởng của thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại mà nhân dân Việt Nam đã nâng các giá trị truyền thống lên một tầm cao mới và hiện diện trước loài người như một dân tộc anh hùng, văn minh, lịch thiệp, hiện đại.

Mỗi nhà tư tưởng lớn trong văn hoá nhân loại đều có sắc thái riêng của mình. Hồ Chí Minh nói mình là “một người học trò nhỏ” của Khổng Tử! Thật ra, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ khác về cơ bản, mà còn vượt rất xa tư tưởng của Khổng Tử trên mọi phương diện. Hồ Chí Minh ca ngợi ưu điểm của học thuyết Khổng Tử là tu dưỡng cá nhân, song ngay từ năm 1927, Người đã viết: “Khổng giáo dựa trên 3 sự phục tùng: quân – thần; phụ – tử; phu – phụ và năm đức chủ yếu: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Khổng Tử đã viết Kinh Xuân thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”… Ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức. Nếu Khổng Tử sống ở thời đai chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng”(4).

Theo Hồ Chí Minh, về mặt học thuyết thì tư tưởng của Khổng Tử là hệ tư tưởng chỉ phù hợp với “một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi” và do vậy, trên phương diện hệ thống, nó không thể phù hợp với xã hội mới. Song, về yếu tố, nó thiên về triết lý nhập thế, hành đạo giúp đời, mong muốn thế giới đại đồng có những kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ; mặc dù không phải nội dung của mọi yếu tố này đều mang ý nghĩa tiến bộ. Khi nghiên cứu nội dung của những yếu tố trong học thuyết của Khổng Tử, Hồ Chí Minh đã tách chúng ra khỏi ý thức hệ của giai cấp phong kiến thống trị, giai cấp từng tạo sự bất bình đẳng về giới tính, thế hệ, giai cấp và dân tộc. Người cũng sử dụng những khái niệm nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư của Nho giáo, nhưng đó là Nho giáo đã Việt Nam hoá, mang rất nhiều yếu tố dân tộc và tam giáo đồng hành. Những yếu tố này đã được Người xây dựng nội hàm cách mạng và hiện tại trong hệ thống tư tưởng của mình. Nội hàm của những khái niệm này khác hoàn toàn với nội hàm thuộc hệ tư tưởng Nho giáo.

Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã ca ngợi lòng nhân ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Chúa Jêsu đã kêu gọi con chiên của Chúa “Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cho phước cho kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sĩ phục mình”. Chúa Jêsu dạy con người không tham lam, trộm cắp, hãy sống trong sạch, hãy cho khi người ta xin. Hồ Chí Minh đã đọc rất kỹ Tân ướcCựu ước, hiểu thấu đáo sách Mathiơ và Luca. Người thấy nhân tố thương yêu con người thì Thiên Chúa giáo với Khổng giáo cũng cùng chung một ưu điểm. Trong một bức thư phúc đáp ngài G.Bidon, Thủ tướng của Chính phủ Pháp – nước đang xâm lăng Việt Nam lúc đó, Người đã viết: “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”(5). Nhấn mạnh lòng thương người của một số học thuyết tôn giáo, một lần khác, Người lại viết: “Chúa Jêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(6). Tiếp thu tư tưởng nhân ái bao la của Đức Chúa Jêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “cách đây 2000 năm, Đức Chúa Jêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được”(7).

Vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà còn phải hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh. Khi tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải thoát những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực. Khi đồng cảm với triết lý thương người của Đức Chúa Jêsu, Người không dừng lại ở triết lý ấy trong suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn. Giáo sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứu tình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã viết rằng: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những lớp người hèn yếu, lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức, lực lượng của mình”(8).

Khi tiếp thu các tư tưởng nhân ái bao la của các bậc đại nhân tiền bối, Hồ Chí Minh không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do cho con người. Triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người chính là hệ quả của cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.

Ai cũng biết Hồ Chí Minh là một người mácxít. Trong lời tự bạch dẫn ở trên, Người đã ca ngợị phương pháp làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác. Chính chủ nghĩa Mác – Lênin đã thức tỉnh và làm hoàn thiện chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với thời đại mới. Khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cách nhìn mới về thế giới cho mình, Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(9).

Hoàn toàn tin theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Người đã xuất bản báo LeParia, viết báo L’humanitéLa vie Ouvriere, công bố Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách Mệnh và nhiều tác phẩm lớn khác. Trong ý tưởng triết học của Người, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác là một thế giới khoa học, là một vũ khí cách mạng mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Nhiều người thấy Hồ Chí Minh vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp luận mácxít đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tư tưởng của chủ nghĩa Mác được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Chính Người đã chỉ ra rằng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại”(10).

Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác đã chỉ dẫn cho Hồ Chí Minh mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động… Phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(11). Do vậy, theo Người, “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình… Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”, chứ không phải “học thuộc lòng”, “học để trang sức”(12).

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy hội tụ những giá trị nhân văn cao cả trong các học thuyết Khổng Tử, Jêsu, C.Mác và V.I.Lênin, nhưng tư tưởng đó là tư tưởng Hồ Chí Minh chứ nhất định không thể là tư tưởng Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Mác – Lênin hay Tôn Văn. Một số người đã dựa vào lời tự bạch của Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta” để cho rằng, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Tôn Văn biểu hiện khá rõ nét trên nhiều lĩnh vực chính trị quan trọng.

Chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Trung Sơn là một học thuyết nằm trong phạm trù cách mạng tư sản khi phong trào duy tân nổi lên ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, học thuyết dân quyền với những nội dung dân sinh, dân trí, dân khí đã được các nhà ái quốc trong phong trào Duy Tân đề xướng. Hồ Chí Minh ngưỡng mộ Tôn Dật Tiên không chỉ ở chủ thuyết dân tộc, dân quyền, dân sinh, mà còn tìm hiểu chủ trương “Liên Nga, liên cộng, phù trợ công” này của ông. Tôn Dật Tiên đã phê phán đạo đức học của HánTống Nho, đồng thời xây dựng lý tưởng đạo đức thiên hạ vị công.

Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở quan điểm về chủ nghĩa dân tộc. Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn quan tâm sâu sắc đến quyền lợi dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng đã nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Cùng với chủ nghĩa dân tộc, Người cũng rất quan tâm tới xây dựng một nền đạo đức mới vượt qua học thuyết đạo đức của Khổng Tử. Song, trong tư tưởng của Người, chủ nghĩa dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế. Người viết: “Khi chủ nghĩa dân tộc… thắng lợi, thì… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(13).

Hồ Chí Minh đã nói tới độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhân dân. Ở Người, đặc điểm nổi bật là tin tưởng sắt đá vào sức mạnh của nhân dân. Phạm trù nhân dân đã tạo nên sức sống và sự sáng tạo to lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(14). Tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân với ý nghĩa nhân dân là người có thể cách mạng tới cùng thì không thể giống với tư tưởng dân sinh của Tôn Văn.

Rõ ràng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có sự tiếp thu nhiều di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại, nhưng đây là một sự tiếp biến đặc biệt, sự tiếp biến vượt gộp để tạo ra một giá trị tư tưởng độc đáo, mới mẻ, cách mạng. Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ nền tảng tinh thần sâu sắc nhất là những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường và ý thức đoàn kết. Song, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết dân tộc truyền thống. Nếu Hồ Chí Minh chỉ là hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống thì tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không vượt qua chủ nghĩa dân tộc chật hẹp của nhiều nhà tư tưởng trong nền văn hoá truyền thống Việt Nam. Cũng thế, nếu Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu sự tu dưỡng trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử, lòng nhân ái của Jêsu, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác và chính sách Tam dân của Tôn Dật Tiên thì tư tưởng của Người cũng không vượt qua được những hạn chế của thời đại phản ánh trong hệ tư tưởng của những nhà tiền bối. Chính nhờ đã cởi bỏ đựơc chiếc dây ràng buộc học thuyết của các vị tiền bối trong khuôn khổ tính thời đại của họ mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã mang giá trị của thời đại mới, vượt hẳn những tư tưởng của thời đại đã qua. Hồ Chí Minh đã tiếp biến nhiều tư tưởng của các vị tiền bối và các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật và những phong trào cách mạng lớn đang dâng lên cuồn cuộn ở thế kỷ XX: phong trào dân chủ, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh đã vượt qua chiếc áo chật trong tư tưởng tu thân của Khổng Tử. Chủ nghĩa nhân văn hành động của Hồ Chí Minh đã vượt xa lòng thương người của tôn giáo Jêsu. Sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác vào việc giải quyết những vấn đề dân tộc ở Việt Nam đã làm phong phú phép biện chứng duy vật và mang một sức mạnh mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước quốc tế ở Hồ Chí Minh khác hẳn với chủ nghĩa vị quốc chật hẹp. Quan điểm về tính nhân dân với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh khác rất xa với chủ nghĩa Tam dân Tôn Trung Sơn. Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh là phong cách tư duy tổng hợp, khái quát, độc lập, tự chủ, sáng tạo gắn với thực tiễn đang vận động.

Tiếp biến nhiều dòng tư tưởng trong di sản tinh thần của nhân loại, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng được hình thành trong ba phong trào lớn của thế kỷ XX, nhằm đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, đất nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, góp phần ổn định tình hình thế giới, phát triển hữu nghị giữa các dân tộc, vì tiến bộ xã hội và sự phát triển tốt đẹp các giá trị cá nhân và cộng đồng con người và tự nhiên.

Cách tiếp thu các di sản tư tưởng nhân loại của Hồ Chí Minh đã xác lập hệ tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo, thống nhất bởi bốn tiểu hệ thống:

Thứ nhất là chủ nghĩa yêu nước và tình yêu con người. Đó là tình yêu những con người bị áp bức, bị bóc lột; là chủ nghĩa yêu nước quốc tế kết hợp với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh cá nhân với sức mạnh cộng đồng trên cơ sở tư tưởng nền tảng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Thứ hai là tư tưởng xây dựng nhà nước kiểu mới. Đó là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở một nền dân chủ của dân, do dân, vì dân và sức mạnh thuộc về nhân dân.

Thứ ba là tư tưởng về tương lai của con người, của xã hội loài người, của đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một chủ nghĩa xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là “xã hội văn hoá cao”.

Thứ tư là tư tưởng về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, con người và tự nhiên. Đó là những tư tưởng lớn về một thế giới hoà bình, đầy tình hữu nghị, về một môi trường tự nhiên thân thiện, tươi đẹp và trong lành.

Bốn tiểu hệ thống này liên kết với nhau bởi quan điểm toàn diện nhằm gắn sự phát triển đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con người, truyền thống với hiện đại, cá nhân với xã hội, dân tộc với quốc tế, con người với tự nhiên.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân, khi tiếp biến các giá trị tư tưởng của truyền thống và nhân loại. Nguyên lý triết học chi phối cách thức tiếp biến các giá trị tư tưởng truyền thống và nhân loại không chỉ là quan điểm chỉnh thể, toàn diện mà còn là tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh. Có lần Người đã tự bạch rằng: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể… chí công vô tư”, “sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”(15).

Yêu con người, yêu đồng loại, yêu người cùng khổ, tin tưởng và yêu thương nhân dân, yêu thiên nhiên từ mầm lá đến nhành hoa, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận đối thoại giữa các chính kiến là nhân cách Hồ Chí Minh, khi tiếp biến các di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại. Nhờ cách tiếp thu sáng tạo những di sản này để mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc và loài người và với nhiều cống hiến khác trong giáo dục nghệ thuật, giao lưu quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được UNESCO tôn vinh là một anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại./.

__________________________

(1) Hồ Chí Minh Truyện (Bản dịch Trung văn của Trương Niêm Thức. Bát Nguyệt xuất bản xã Thượng Hải xuất bản, 1949). Dẫn theo: Phan Văn Các. Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.490.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.197.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr.453 – 454.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.267.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.6, tr.225.
(7) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.272.
(8) Trần Văn Giàu. Vĩ đại một con người. Nxb Long An, 1990, tr.92.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.127.
(10) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.464 – 465.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.496.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.292.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.467.
(14) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.279.
(15) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.279, 644.

ĐỖ HUY
(Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

vientriethoc.com.vn

Đọc Di chúc của Bác Hồ nghĩ về thực hành tiết kiệm chống lãng phí

(TCTG) – Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và điều đó có một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc cũng như trong hoà bình, xây dựng, kiến thiết nước nhà.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử. Di chúc của Người là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó tinh hoa, tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người; là những lời dặn chứa chan tình cảm của Người cho toàn Đảng, toàn dân và là di sản tinh thần vô giá để lại cho muôn đời con cháu. Di chúc cũng là những suy nghĩ, trăn trở, tâm huyết của Người về vấn đề xây dựng Đảng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, về nhân dân lao động, về bồi dưỡng cách mạng cho thế hệ sau, về phong trào đoàn kết quốc tế…

Bên cạnh đó, Di chúc của Người còn gây xúc động mạnh mẽ cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam khi nói đến việc riêng. Người chỉ dành vài dòng nói về việc riêng của mình “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có điện thì điện táng càng tốt hơn”(1).

Những lời dặn của Người về việc tang lễ khi Người đi xa là việc rất riêng tư nhưng vẫn vì công việc chung của đất nước, vì tình thương yêu vô hạn với đồng bào. Đó chính là những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và điều đó có một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc cũng như trong hoà bình, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Không phải đến lúc chuẩn bị cho việc sẽ “đi xa” Bác mới đề cập đến vấn đề này mà chỉ một ngày sau khi thành lập nước, khi nói về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Người đã nhấn mạnh: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện; nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian dảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nghĩa vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tư tưởng nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”(2).

Theo Bác, thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” là nền tảng của đạo đức cách mạng, của người cán bộ cách mạng. Người đã chỉ ra một cách cụ thể tiết kiệm là gì? Vì sao phải tiết kiệm? Tiết kiệm những gì? và ai cần tiết kiệm? Người khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần; là một dân tộc văn minh tiến bộ”(3). Bác dạy “Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to; Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra.” “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là tiết kiệm”.(4). Người luôn hiểu rằng “Một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào”.

Đi đôi với việc thực hành tiết kiệm phải chống lãng phí, chống bệnh quan liêu, vì theo Bác, ruộng đất, máy móc không tự nó làm ra của cải mà phải do sức lao động của con người sáng tạo nên. Do đó, nếu làm ra được bao nhiêu lại tiêu xài hết bấy nhiêu thì không lại hoàn không; “sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống”. “Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô”. Bác nghiêm khắc phê phán những việc làm gây ra sự lãng phí, tổn thất về thời gian, sức lao động, vật tư, tiền bạc của nhân dân và nhà nước. Bác chỉ rõ, nguồn gốc của việc gây ra bệnh lãng phí, đó là bệnh quan liêu và “hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, hoặc tính toán không cẩn thận”, “hoặc vì bệnh hình thức xa xỉ phô trương” “hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công”. Vì thế phải kiên quyết chống bệnh lãng phí, chống thói họp lu bù, chống việc làm ẩu để sản phẩm làm ra không sử dụng được, chống việc liên hoan ăn uống bừa bãi. Hoang phí cũng là một tội ác bởi chính nó đã góp phần không nhỏ trong việc gây nên những tiêu cực của xã hội.

Muốn làm tốt việc tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu thì cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành trước và phải biến nó thành một phong trào quần chúng rộng rãi. Trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ lần thứ 6 của Đảng, ngày 18-01-1949, Bác nhấn mạnh “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Hô hào tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước”(5).

Cùng với những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, cuộc đời của Người chính là tấm gương mẫu mực, minh chứng về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm chính để toàn Đảng, toàn dân học tập, noi theo.

Sinh thời, Bác Hồ cũng không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Ngay từ những ngày đầu mới dành được chính quyền, Bác vẫn cùng ăn cơm chung với anh em trong cơ quan Bắc Bộ Phủ, cũng một suất ăn bình thường như các đồng chí khác. Trở về Hà Nội lần thứ hai, sau kháng chiến chống Pháp, với cương vị là Chủ tịch nước, nhưng Bác không ở Dinh toàn quuyền lộng lẫy, khang trang mà ở ngôi nhà của một người thợ điện cũ chỉ có 3 phòng nhỏ đơn sơ. Đến ngày 17-5-1958, Bác chuyển hẳn sang ngôi nhà sàn gỗ mà ngày nay đã đi vào huyền thoại đẹp đẽ của cuộc đời Người…

Sau 5 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với những kết quả đạt được và kinh nghiệm rút ra từ những hạn chế, yếu kém, Đảng ta quyết tâm “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí”; coi đó “là nhiệm vụ rất quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước”(6). Đây cũng là một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực hiện được những điều đó không những có ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay mà còn mãi mãi có ý nghĩa, tác dụng to lớn cho các thế hệ mai sau để “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(7), thoả lòng mong muốn cuối cùng của Người trước lúc đi xa./.

Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

_____________________

(1) – Bác Hồ viết Di chúc, Hồi ký của Vũ Kỳ, Thế Kỷ ghi, Nxb Thuận Hoá, Huế 2005, Tr.151.
(2) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 4, Tr.8
(3) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXb CTQG, H.2002, tập 5, tr.642
(4) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 5, tr.637
(5) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 5, tr.552

bqllang.gov.vn

Tượng đài và các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thế giới

Châu Mỹ:

*- Cu Ba:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô La Habana

2- Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo.

Trước đây là trường cấp II ở nông thôn Bainon (Esbec de Saihoa). Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, ngày 23/3/1974, Chủ tịch Phidel Castro và đồng chí Phạm Văn Đồng đến thăm và chính thức khánh thành trường. Trong cuộc mít tinh trọng thể, Chủ tịch Phidel Castro đã quyết định trường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi thành lập đến nay, trường là một trong hai cơ sở mạnh trong các hoạt động đoàn kết, hữu nghị với Việt Nam và là một trong hai cơ sở đầu tiên được Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu ba công nhận: Chi hội hữu nghị với Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trường thường xuyên tiến hành các đợt sinh hoạt tư tưởng, tổ chức hội thảo, hội nghị và các hoạt động chính trị văn hoá, thể thao… nhân các ngày lễ kỷ niệm lớn của Việt Nam, đặc biệt là nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3- Trường cấp I Bác Hồ (Escuele Semi-internado Primaria Tio Hồ) ở Thủ đô La Habana. Trường thuộc quận Playa, Thủ đô La Habana.

Ngày 1/9/1976, theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba, Trường được thành lập và mang tên Bác Hồ để bày tỏ tình đoàn kết, hữu nghị của Cuba với nhân dân Việt Nam.

Châu Âu:

*- Cộng hoà Liên bang Nga:

1- Quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô Mátxcơva.

2- Đại lộ Hồ Chí Minh ở thành phố Ulianốpxcơ.

*- Hunggari:

1- Đài tưởng niệm Hồ Chí Minh tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách Thủ đô Budapest khoảng 220km.

*- Pháp:

1- Nhà số 9, ngõ Công Poanh (Compoint) quận 17, Paris.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở đây 20 tháng, từ 14/7/1921 đến 14/3/1923. Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm uỷ viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập, kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Ngày 14/3/1923, Người rời nhà số 9 ngõ Công poanh, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là toà soạn báo Le Paria..Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích.

Năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Môngtơrơi (Montreuil) đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Lịch sử Môngtơrơi.

Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

2- Bảo tàng Lịch sử sống Môngtơrơi.

Những kỷ vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ sống tại Pháp và đặc biệt là ở ngôi nhà số 9 ngõ Công Poanh được đưa về đây và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh”.

Ngày 19 tháng 5 năm 2005,chính quyền thành phố Môngtơrơi đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong khuôn viên bảo tàng.

Châu Á:

*- Trung Quốc:

1- Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh.

Nơi đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến 4/1927. Tầng dưới của ngôi nhà là cửa hàng bán tạp hoá. Lớp học và chỗ ở của các học viên ở tầng 3. Trước cửa nhà có gắn tấm biển đề “Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban” bằng chữ Hán. Chính từ những bài giảng của Người, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã tập hợp lại và xuất bản thành cuốn “Đường Cách mệnh”, tác phẩm lý luận cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, được những nhà cách mạng Việt Nam cuối những năm 20 của thế kỷ XX coi là cuốn “cẩm nang, sách gối đầu giường của mình”.

2- Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở khách sạn này từ cuối năm 1943 đến 9/1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Hiện nay, khách sạn là nhà số 2, đường Liễu Thạch, thành phố Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong thời gian ở đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Tại đây, Người cũng đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, chắp nối liên lạc với Đảng ta, chuẩn bị điều kiện để trở về nước, tiếp tục lãnh đạo phong trào. Hiện nay, thành phố Liễu Châu đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh…. Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.
Ngôi nhà đã được gắn biển (Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh) năm 2001.

*- Ấn Độ:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Giaoaháclan Nêru, ở thành phố Cancútta.

2- Tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh

*- Thái Lan:

1- Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom.

Tháng 7 năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm (Thái Lan). Từ Băng Cốc, Người đã đi đến những nơi có Việt Kiều như Phì Chịt, Udon Thani, Sacon Nakhon… Khoảng cuối năm 1928, Người đến bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín ở trong nhà ông Võ Trọng Đài. Ngôi nhà này ở phía sau mảnh đất của ông Huê Đạm và bà Nguyễn Thị Nuôi. Khi thấy ông Chín khuyên mọi người làm nhà đàng hoàng để làm nơi sinh hoạt, gọi là nhà Hợp tác thì vợ chồng ông Huê Đạm đã hiến mảnh đất ấy làm trụ sở Hội và làm nơi ở cho anh em độc thân. Những ngày xây dựng nhà Hợp tác, ông Chín tham gia tất cả các công việc, như đóng gạch, dựng nhà, lợp mái…

Nhà Hợp tác có ba gian, mỗi gian rộng khoảng 20m2. Mái lợp ngói gỗ, vách nhà thưng ván lá sách cả bốn phía. Cửa lớn, cửa nhỏ đều bằng gỗ, nền nhà lát gạch vuông do hội viên Hội hợp tác tự đóng lấy. Nhà ngăn đôi theo chiều dọc. Nửa nhà phía trước hoàn toàn để trống. Gian giữa đặt một bàn con, hai bên có vài chiếc ghế dài dùng để hội họp hoặc học tập. Nửa nhà phía sau, hai gian bên dùng làm phòng ngủ, có phản gỗ để nằm, có cửa sổ và hai cửa ra vào phòng. Các cháu học sinh ở lớp học bên nhà hàng xóm thường ra sân Hợp tác chơi, ông Chín cũng có lúc ra vui chơi với các cháu.

Những người ở đây phần lớn là những thanh niên yêu nước được đưa từ trong nước sang. Họ chỉ ở đây một thời gian, rồi bắt liên lạc đi Uđon, Phì Chịt… Dù chỉ ở trong thời gian ngắn, nhưng ho ăn mặc giống như người dân bản, tham gia lao động, xay thóc, giã gạo với bà con. Nhà Hợp tác ở bản Mạy thực sự trở thành trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước.

Trong thời gian ở đây, ông Chín đã động viên mọi người học tiếng Thái để hiểu phong tục, tập quán và được cư dân bản địa quý mến. Chính Người cũng nêu một tấm gương về tự học. Người còn chủ trương mở trường học cho trẻ em, dạy trẻ em chữ Việt để các em không quên gốc gác. Ông khuyên mọi người phải biết đoàn kết giữa người Việt với người Thái, người Việt với người Việt. Những điều ông Chín dạy đã trở thành bài học cho các thế hệ Việt kiều ở bản Mạy nói riêng và Việt kiều ở Thái Lan nói chung: Dù sống nơi đâu cũng luôn hướng về Tổ quốc và hết lòng đoàn kết hữu nghị với nhân dân nước bạn.

Tháng 1 năm 2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc.

Châu Phi:

*- Cộng hoà Mađagátxca:

– Quảng trường và tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivô.

*- Cộng hoà nhân dân Ănggôla:

– Đại lộ Hồ Chí Minh tại Thủ đô Luanđa.

Theo Lamdong.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Giải phóng Thủ Đô 10/10/1954: Những chuyện bây giờ mới kể

Nhân dân Hà Nội mừng đón đoàn quân giải phóng ngày 10/10/1954. Ảnh:Tư liệu

Tiếp quản Sở Trước bạ

Hà Nội có Sở Trước bạ và quản thủ điền thổ do người Pháp lập ra từ những năm đầu thế kỷ XX khi tiến hành mở mang thành phố (vì vậy Sở mang tên quản lý ruộng đất – điền thổ – chứ chưa phải quản lý nhà đất như tên gọi ngày nay). Bên cạnh đó là Sở Địa chính phụ trách đất đai cả xứ Bắc kỳ. Lại có Phòng Pháp chế nhà cửa tại tòa Thị chính nơi người dân đến giao dịch mua bán bất động sản.

Tháng 9/1954, cơ sở báo cho cán bộ ta biết đối phương có âm mưu mang theo vào Sài Gòn tất cả những hồ sơ, tài liệu về nhà đất Hà Nội. Những hồ sơ gốc này được bảo mật và sắp xếp trong những ô, ngăn tủ chuyên dụng, bảo đảm yêu cầu tra cứu sử dụng tiện lợi.

Vậy mà tất cả những hồ sơ nhà cửa đất cát sở hữu công và tư nhân, qua đó có thể vẽ lại chân dung diện mạo Thăng Long Hà Nội xưa, đang bị đóng hòm, chuyển xuống Hải Phòng rồi lên tàu thủy đưa vào Nam. Mục đích thâm hiểm của đối phương là sẽ gây cho Hà Nội rối loạn về quản lý nhà đất. Mất hồ sơ gốc thì người dân sẽ dựa vào đâu, chính quyền sẽ dựa trên cơ sở nào để hoạch định phát triển thành phố, để giải quyết những vụ phân chia tài sản, tranh chấp nhà cửa đất đai? Người dân sống ở nhà quê phải có ruộng vườn, ở thành thị phải có nhà đất. Không một tấc cắm dùi là câu tục ngữ nói lên sự gắn bó mật thiết giữa đất với người.

Bất chấp mọi hiểm nguy, những người làm việc ở sở quản lý điền thổ đã bí mật mang từng chồng hồ sơ đi phân tán cất giấu. Cho đến khi ô tô nhà binh xịch đỗ trước cổng sở thì nhân viên vắng mặt, những hòm tài liệu rõ ràng được khóa, niêm phong cẩn thận đã không cánh mà bay!

Vậy mà đúng ngày quy định, khi cán bộ ta về tiếp quản thì các công chức, nhân viên Sở Trước bạ và quản lý điền thổ có mặt đông đủ và các hòm, gói, cặp hồ sơ nhà đất được chở tới cơ quan, sắp xếp gọn gàng trật tự như cũ, trong các ngăn, tủ đúng theo quy tắc quản lý tiên tiến, khoa học, văn minh. Và bất ngờ, ông giám đốc Sở Trước bạ Trần Văn Du xuất hiện, bàn giao cho cán bộ tiếp quản toàn bộ hồ sơ, tài liệu, tài sản của Sở. Mấy ngày qua ông phải đi trốn vì lo bị ngụy quyền bắt vào Sài Gòn, cho dù được hứa hẹn đi theo họ thì sẽ được trọng dụng, lương tăng cao hơn rất nhiều. Và chính ông, những ngày qua đã cùng nhân viên tích cực cất giấu, phân tán những bộ hồ sơ vô giá.

Mấy ai biết những người làm việc trông coi giấy tờ sổ sách điền thổ một thời chưa xa ấy đã lặng lẽ góp phần nhỏ bé vào thành công to lớn tiếp quản Thủ đô và cũng nhờ đó, việc quy hoạch mở mang thành phố, công tác quản lý nhà đất ở Hà Nội những năm sau này được nền nếp, ổn định, để lại tín xác cho những “sổ đỏ” hôm nay.

Trong số công chức lưu dung (danh từ chỉ những người làm việc dưới chế độ cũ ở lại làm việc sau ngày giải phóng Thủ đô) duy nhất có ông Du được Ủy ban Hành chính Hà Nội giữ nguyên chức Giám đốc Sở. Gia đình ông cũng được công nhận là “cơ sở kháng chiến”, được tặng Bằng khen.

“Không phải gạo đâu”

Hà Nội giải phóng được 15 ngày thì dân thành phố nhao lên vì… thiếu gạo ăn. Bề ngoài không khí vẫn vui tưng bừng. Cổng chào dựng khắp nơi, cờ đỏ sao vàng, đèn hoa kết treo lộng lẫy. Tiếng hát sol lá sol, đêm múa sạp vui tưng bừng. Nhưng gạo?…

Những năm người Pháp tạm chiếm Hà Nội, các gia đình được ăn gạo “bông” từ Sài Gòn chở ra. Nhiều người chê gạo bán theo sổ nhân khẩu tuy rẻ nhưng thổi không ngon cơm nên vẫn đong gạo quê từ các “đại lý” có nguồn từ lính ngụy ăn cướp chở về và từ bà con nông dân ngoại thành gánh vào bán lẻ. Lúc này, Hà Nội thiếu gạo! Bọn đầu cơ thính nhạy tung tin gây hoang mang. Các nhà giàu tích trữ gạo. Giá gạo tăng vòn vọt. Đài nước ngoài đưa tin chính phủ Hồ Chí Minh để dân đói!

Theo ngành lương thực báo cáo thì ta không thiếu lương thực. Nhưng khó khăn trước mắt vì các kho của nhà nước chỉ trữ thóc, việc xay xát dựa vào thủ công. Phương tiện vận chuyển rất thiếu thốn. Những người gánh gạo bán rong chẳng hiểu sao mất hút sau ngày tiếp quản. Mà tâm lý người tiêu dùng ở thành phố mới giải phóng rất dễ bị kích động.

Thế rồi. Thật đáng ngạc nhiên, người ta thấy từng đoàn ô tô chở gạo về các kho trong nội thành. Những kho gạo mậu dịch mới đặt thêm ở phố hàng Chiếu, hàng Khoai gần chợ Đồng Xuân chợ Bắc Qua, ga xe lửa đầu cầu Long Biên là nơi ngày đêm rất đông người tụ họp buôn bán. Theo đoàn xe tải là những anh bộ đội áo xanh mũ nan giày vải. Các anh khuân những bao đay căng phồng, nặng trịch, xếp cao tận nóc kho. Nhìn kho, nhìn gạo, các bà nội trợ bảo nhau:

– Cứ nghe tin đồn nhảm nữa đi!

Chẳng ai đong gạo tích trữ nữa, việc làm này bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nhưng cái chính là có thêm nhiều cửa hàng bán lẻ cho khách mua dễ dàng, mua không hạn chế. Người ta còn bảo nhau:

– Ra cảng Phà Đen mà xem, hàng trăm tấn gạo phủ bạt nằm chờ ô tô chuyển vào kho kia kìa.

Chính các bà nội trợ là những người “làm công tác tư tưởng” hiệu quả nhất. Chỉ trong ít ngày, thị trường lương thực ổn định, lòng dân yên.

Là một trong những người được “trưng dụng” tham gia công tác đột xuất ngày ấy, người viết bài này quen bác công nhân bát tê (ngày nay gọi là cửu vạn) biệt danh tên Ba Tạ vì trong một cuộc thi tài ông đã vác nổi trên vai ba tạ gạo. Ba Tạ nốc rượu như uống nước lã, thuộc Kiều, mê truyện Tam quốc. Chiều tà trên phố hàng Muối, ông Ba Tạ mượn chén tự hào khoe mình góp phần phục vụ “chiến dịch” chạy gạo cho dân Hà Nội ngày đầu tiếp quản. Bất chợt ông vỗ đùi khen:

– Cụ Hồ thánh thật! Việt Minh giỏi thật!

Rồi ông ghé tai tôi, nói nhỏ:

– Phục các anh sát đất. Tình cờ tôi phát hiện có nhiều bao không phải là bao gạo!

Một đời làm phu khuân vác, cái vai ông chạm vào bao tải là biết bên trong đựng gạo hay những hạt không phải gạo. Nhưng ông đã giữ kín điều mình biết rõ, vì một điều gì đấy hết sức thiêng liêng.

Hôm nay, tự nhiên ngồi nhớ đến ông Ba Tạ. Ông là người đã góp phần giữ cho dân tình thành phố này yên ổn trong những ngày đầu chính quyền ta tiếp quản thành công. 55 năm đã qua, xin kể lại chuyện này.

Theo baotintuc.vn
Lê Văn Ba (Cựu tù Chính trị Hỏa Lò)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời nhắc nhở của Bác kính yêu

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh: Tư liệu

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Theo chủ trương của Đảng, các cơ quan Trung ương, các Bộ ngành rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã vạch ra.

Tính mạng, tài sản nhân dân là trên hết

Một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lúc đó là tổ chức tốt việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Kế hoạch tiếp quản Thủ đô Hà Nội được Trung ương Đảng chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Ngày 19/7/1954, Hội đồng Chính phủ thông qua 8 chính sách đối với Thủ đô Hà Nội cũng như các thành phố mới được giải phóng và 10 điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ, công nhân và công an khi vào thành phố.

Ngày 6/9/1954, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng uỷ tiếp quản Thủ đô Hà Nội do đồng chí Trần Quốc Hoàn – Ủy viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Công an làm Bí thư. Đặc biệt, trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho bộ đội, công an và cán bộ. Người nhắc nhở: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn không chịu khuất phục nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “viên đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không thấy”

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, lực lượng CAND đã kịp thời rút kinh nghiệm trong việc duy trì trật tự cách mạng ở những nơi quân Pháp bị ta tiến công phải rút chạy như thị xã Hà Nam, Phát Diệm, thành phố Nam Định, để xây dựng kế hoạch tiếp quản thủ đô Hà Nội chặt chẽ và sát hợp. Căn cứ vào nhu cầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội của Trung ương, Bộ Công an xác định nhiệm vụ của CAND là: “Thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn gián điệp phản động, bọn tàn binh cũ và bọn côn đồ đang phá hoại để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và bảo vệ các cơ quan xí nghiệp, kho tàng của quốc gia”.

Biện pháp cụ thể khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội của lực lượng CAND là: “Ra sức xây dựng cơ sở, điều tra tìm kiếm bọn tay sai địch cài lại, những âm mưu hoạt động của chúng, chú trọng nắm tình hình bọn tàn binh côn đồ, lưu manh, đặc biệt là danh sách, địa chỉ, lý lịch, chỗ ở của bọn đầu sỏ, thu thập tình hình chính trị xã hội, tranh thủ số nhân viên cũ tình nguyện ở lại với ta, giữ gìn tài liệu, dụng cụ”. Đồng thời mở các lớp tập huấn về công tác tiếp quản. Nhằm quán triệt tình hình nắm vững chính sách, kỷ luật khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Bồi dưỡng nghiệp vụ về thu hồi các cơ quan công sở của địch. Mặt khác, lực lượng công an xác định trách nhiệm phục vụ và nắm tình hình các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng. Có kế hoạch bảo vệ các cơ quan đó, hạn chế thấp nhất thiệt hại về cơ sở vật chất khi tiếp quản.

Ngày tiếp quản Thủ đô đã đi vào lịch sử. Ảnh: Tư liệu

Ngày đi vào lịch sử

Lực lượng Cảnh vệ CAND có nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về tiếp quản thủ đô. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị – Uỷ viên Trung ương Đảng thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác và các đồng chí lãnh đạo cấp cao về lại Thủ đô Hà Nội.

Trên tinh thần đó, đồng chí Lê Thanh Nghị nhanh chóng thành lập tổ tiền trạm và trực tiếp chỉ định những đồng chí tham gia gồm: Đồng chí Tạ Quang Chiến (Văn phòng Phủ Thủ tướng) phụ trách Thanh niên xung phong làm Tổ trưởng; đồng chí Phan Văn Xoàn và đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ); đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu); đồng chí Tạ Đình Hiểu (Chính uỷ Trung đoàn 600). Tổ công tác nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát, phối hợp lực lượng công an địa phương có liên quan kết hợp bảo vệ.

Ngày 8/10/1954, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã về Hà Nội trực tiếp chỉ đạo công tác tiếp quản. Bộ trưởng đã chỉ định gần 200 trinh sát vào nội thành bám sát các mục tiêu quan trọng như Sở Mật thám và các cơ sở của địch trong thành phố. Ta còn bố trí lực lượng bảo vệ an ninh – trật tự dọc các tuyến đường chuẩn bị cho các lực lượng vào tiếp quản thủ đô. Ngay buổi chiều 8/10/1954 tướng Mát – xông (Masson), Tư lệnh các đơn vị thoái triệt đã tổ chức lễ cuốn cờ trong thành Hoàng Diệu (Hà Nội).

Ngày 9/10/1954, Uỷ ban Quân chính Hà Nội được thành lập. Theo kế hoạch tiếp quản thủ đô, các tổ tự vệ, công an nội thành làm nhiệm vụ dẫn đường cho các lực lượng tiếp thu từng công sở, xí nghiệp, vị trí quân sự, từng đường phố, thôn xã. Không khí những ngày này ở thủ đô Hà Nội thật náo nhiệt, đồng bào Hà Nội đổ ra kín hai bên đường với nhiều lời hô, lời chào, những cánh tay giương cao vẫy cờ, hoa, những nụ cười… Trên tất cả các xe tiến vào Hà Nội, anh chị em đứng lên nhoài người ra thành xe vẫy mũ, vẫy khăn và không cầm được nước mắt xúc động của giờ phút gặp gỡ ban đầu. Tiếp quản đến đâu có lực lượng bộ đội, công an, tự vệ canh gác bảo vệ đến đó.

Ngày 10/10/1954, theo sự phân công lực lượng công an Hà Nội tiếp quản Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Trại giam Hoả Lò và các quận, đồn cảnh sát của địch. Khi vào chiếm lĩnh, ta đã tuyên bố giải tán các tổ chức cũ của địch, thành lập các tổ chức mới của công an, đồng thời bảo vệ, quản lý toàn bộ cơ sở, tài liệu, phương tiện trong các cơ quan này.

Căn cứ vào chủ trương của Đảng uỷ tiếp quản và Uỷ ban Quân chính, công an Hà Nội đã tổ chức cho các đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, mật thám, chỉ điểm của địch ra trình báo. Qua công tác đăng ký đối tượng, kết hợp với lực lượng trinh sát và phát động quần chúng, công an Hà Nội đã nắm được 12.000 đối tượng các loại, trong đó có 203 sĩ quan, 2.840 hạ sĩ quan, hơn 7.800 ngụy quyền, gián điệp, mật vụ chỉ điểm của địch.

Về công tác bảo vệ lãnh tụ, trong vòng hai tháng, lực lượng Cảnh vệ CAND đã bảo vệ an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước trở lại Thủ đô Hà Nội. Những ngày đầu tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ ở và làm việc trên tầng 2 của ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là bệnh viện Trung ương Quân đội), có một trung đội lực lượng vũ trang – Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài, bên trong có lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác 24/24 giờ.

Mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng, Phục Quốc.. liên tiếp chống phá, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại ta, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ, nhưng với sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Trung ương Đảng và trực tiếp là Bộ Công an, các lực lượng trong ngành công an đã bảo vệ an toàn Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các cơ quan Trung ương tiếp quản và duy trì ổn định an ninh – trật tự ở Thủ đô Hà Nội. Từ đây miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Theo Giadinh.net.vn (Nguyễn Đức Quí)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.v

Những người cận vệ Bác Hồ

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già“.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Theo CAND.com.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhân cách người cán bộ lãnh đạo quân đội

Trong cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo quân đội. Hệ thống quan điểm và tư tưởng của người về xây dựng phẩm chất và năng lực, nhân cách cho đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng chứa đựng những nội dung lý luận sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Trong đó tư tưởng và quan điểm của người về vấn đề năng lực luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ quân đội nhất là trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách của người cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, trong đó nổi lên là vấn đề năng lực và đạo đức. Việc rèn luyện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ then chốt, thường xuyên của công tác cán bộ.

Như mọi người cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự, lĩnh vực luôn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định, chế độ của quân đội, lĩnh vực bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tiêu biểu trên mặt trận củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, thì càng phải thể hiện đầy đủ những phẩm chất nhân cách cần thiết đó. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự còn phải thể hiện là những người tiêu biểu cho “nhân, trí, dũng, tín, liêm, trung”; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tư cách của người cầm quân; coi trọng giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng; không ham danh lợi, chức quyền.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách người cán bộ thể hiện trước hết ở lòng “trung với nước, hiếu với dân”.Người coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là yếu tố cơ bản của nhân cách người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dẫu biết rằng đi làm cách mạng thì có thể bị tù đày, nhiều gian khổ, thậm trí hi sinh cả tính mạng. Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn còn đó đối với người cán bộ lãnh đạo. Có người không hy sinh bởi mũi tên, hòn đạn trong cuộc chiến đấu khốc liệt để bảo vệ Tổ quốc, nhưng trong hòa bình xây dựng lại bị “chết” bởi những “viên đạn bọc đường”, sa vào tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu – những căn bệnh mà Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Trung với nước là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Người cán bộ lãnh đạo là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích đặt ra cho mọi người, trong đó có lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của tập thể và lợi ích của Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh cho rằng, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý đến lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, có lợi ích của cá nhân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: vào Đảng là tự nguyện; nếu vào Đảng mà sợ hy sinh thì đừng vào Đảng hoặc khoan hẵng vào, để khi nào rèn được đức tính hy sinh rồi hãy vào. Mọi người, kể cả những cán bộ lãnh đạo, quản lý được khuyến khích làm giàu, nhưng đó là làm giàu chính đáng, chứ không phải làm giàu với bất cứ giá nào, làm giàu bất chấp đạo lý, làm giàu bằng tham nhũng, dùng mọi biện pháp kể cả vi phạm pháp luật để làm giầu, lấy của công làm của riêng đặt lợi ích của riêng mình lên trên tập thể.

Thực hiện đúng quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Sức mạnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị là lấy từ nơi dân, cho nên dân luôn luôn là gốc của cách mạng, đúng như Hồ Chí Minh đã nêu và sau này, Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tổng kết. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hiện nay ở không ít nơi, không ít người trong bộ máy của hệ thống chính trị xa dân, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, mị dân, theo đuôi quần chúng. Người cán bộ phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh”; phải làm cho dân giác ngộ; chớ có “vác mặt quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”; đừng có tưởng cứ “dán lên trán hai chữ cộng sản” là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục mà phải thực sự yêu dân, kính dân.

Còn “hiếu với dân” là bao hàm cả hiếu với cha mẹ, có tình yêu thương trong gia đình, nghĩa là có một “đời tư trong sáng”. Trong khái niệm “nhân cách” của một con người, thường người ta hiểu có điểm nhấn về mặt này nhiều hơn. Đứng trước dân, đang ở vị trí lãnh đạo, quản lý mà người cán bộ, đảng viên nêu gương xấu, gương mờ trong đời tư (chẳng hạn như tư cách đạo đức, lối sống không tốt; tác phong, phong cách chưa tốt; con cái hư; bản thân thì chưa đối xử tốt với vợ (chồng) con, với ông bà, cha mẹ, với anh em, v.v.) thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không lãnh đạo, quản lý được ai một cách thực chất; nói không ai nghe, làm không ai theo, là đạo đức giả, gây phản cảm. Hiếu với dân không ở đâu xa, mà trước hết chính ngay ở trong gia đình, họ tộc, xóm giềng của bản thân người cán bộ lãnh đó.

Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – điều mà Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Cần, theo quan điểm của Hồ Chí Minh ngoài việc đòi hỏi người cán bộ phải cần cù, siêng năng, chịu khó, biết vượt qua khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng năng suất lao động. Đây là một quan điểm hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin khi coi năng suất lao động chính là một điều kiện cốt yếu để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Năng suất lao động của mỗi cá nhân là điều kiện để tạo thành năng suất lao động xã hội, nhưng điều đó mới chỉ nói lên phần nào sự phát triển kinh tế, chứ chưa phản ánh được nhiều tăng năng suất lao động xã hội. Đức tính “cần” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay là phải chú ý tới hiệu quả, chất lượng công tác, phải đo được bằng kết quả cụ thể của từng người, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị.

Kiệm, theo Hồ Chí Minh, đó là tiết kiệm. Đáng chú ý là tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay diễn ra khá nặng và đang có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền như “gió vào nhà trống”. Thực tế hiện nay, lãng phí biểu hiện ở nhiều mặt: lãng phí tiền của trong đầu tư; lãng phí trong chi tiêu; lãng phí thì giờ, v.v.. Điều đáng chú ý nhất, đáng nhấn mạnh nhất trong quan điểm này của Hồ Chí Minh là ở chỗ, kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì phải chi, việc gì chưa đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Đây chính là bài học cơ bản nhất, lâu dài nhất, cần phải học cả đời người, đối với mọi đối tượng, từ con người bình thường và càng đặc biệt hơn đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Ngày nay, đời sống đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, nhưng những nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu ra trên đây còn nguyên giá trị, kể cả sau này khi nước ta đã trở nên giàu có, mỗi người, mỗi gia đình đều khá giả hơn. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo quan điểm và tấm gương của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hoá nhân cách.

Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đức “liêm” của con người ta là điểm để phân biệt con người với con vật. Liêm là liêm khiết, là trong sạch, không tham ô, tham lam (cả tiền bạc, địa vị,v.v..). Đức tính liêm khiết là một biểu hiện rất rõ của nhân cách con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, người cán bộ không những cần rèn cho mình đức tính không tham lam, không tham nhũng mà còn phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những biểu hiện tham nhũng. Hồ Chí Minh gọi tham ô, lãng phí, quan liêuvới đúng nghĩa của nó là “giặc nội xâm”. Chúng ta cần chú ý cách gọi của Người; nếu coi tham nhũng là “nạn” hay mạnh hơn là “quốc nạn”, thì phải dùng phương pháp chống nạn, quốc nạn; còn đã gọi đó là giặc thì phải dùng phương pháp chống giặc. Điều chú ý nữa trong vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này là phải đề phòng và khắc phục bệnh tham danh vọng, địa vị. Trong thực tế, đã có không ít người tìm mọi cách “hạ bệ” nhau, nói xấu nhau, kèn cựa, níu kéo nhau, nịnh bợ, cơ hội,… trong công tác cán bộ, công tác nhân sự để kiếm chác chức vụ. Với những biện pháp, thủ đoạn để có được chức vụ này nọ hay gọi là “chạy chức, chạy quyền”, thì đó là điều đáng báo động về nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Chính, theo quan điểm của Hồ Chí Minh là không tà, là thẳng thắn; việc thiện dù nhỏ cũng cố làm, việc ác dù nhỏ cũng cố tránh. Rèn luyện đức tính “chính” theo quan điểm của Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có thái độ rõ ràng, trong cuộc sống và công tác luôn yêu cái thiện, ghét cái ác; luôn hành động, làm gương cho mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”.

Chí công vô tư là một đức tính nữa của nhân cách người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh đề cập. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ bệnh mà Hồ Chí Minh cho đó là “bệnh mẹ” đẻ ra muôn vàn “bệnh con”. Rèn đức tính này theo gương Hồ Chí Minh, người cán bộ phải luôn có ý thức và hành động chăm lo đến lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Với bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ coi chức Chủ tịch nước của mình là do dân uỷ thác và mình phải có bổn phận làm tròn cái sự uỷ thác đó. Trong điều kiện hiện nay, người cán bộ phải vừa tôn trọng tập thể, bảo đảm dân chủ, người cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tính quyết đoán mới có thể hoàn thành tốt mọi công việc và nhiệm vụ được giao.

Người cán bộ thể hiện ở thường xuyên nói đi đôi với làm. Đạo đức cách mạng không phải cứ tự nhiên mà có, mà phải là kết quả của sự rèn luyện thường xuyên trong suốt cuộc đời. Tự giác, tự nguyện, tự tu dưỡng nhân cách phải trở thành nếp sống hằng ngày của người cán bộ. Hồ Chí Minh quan niệm: “một con người hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến thì hôm nay không còn là vĩ đại nữa, nếu lòng mình không trong sáng”.

Nhân cách của người cán bộ còn biểu hiện ở mối quan hệ thống nhất giữa nói và làm, điều mà trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Nói thì phải làm”. Hiện nay, có không ít cán bộ chỉ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về nói đi đôi với làm; Người còn làm nhiều hơn nói. Là người cán bộ mà nói không đi đôi với làm thì sẽ bị sa vào lối đạo đức giả, phản tác dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Đất nước ta đang cần những tấm gương mẫu mực, luôn biết học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chỉ có như vậy người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo quân đội nói riêng sẽ tạo nên sức mạnh của toàn hệ thống chính trị thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giữ chức vụ càng cao, trọng trách càng lớn càng phải đòi hỏi nhiều hơn về nhân cách, tư tưởng, phong cách. Nếu không là tấm gương sáng thì người cán bộ không thể nào lãnh đạo được quần chúng, đó là sự thật, là những điều đơn giản mà ai cũng có thể nhìn thấy.

Tâm Trang

bqllang.gov.vn

Bác Hồ nói về thi đua yêu nước

Nguồn: tagvn.com

Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề thi đua yêu nước, coi đó là một bộ phận không thể thiếu được trong công tác quản lý của Nhà nước, đồng thời là tấm gương mẫu mực trong mọi phong trào thi đua do chính Người khởi xướng.

Kể từ khi người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, ngày 11-6-1948 cho đến khi đi vào cõi bất tử. Người đã có hơn 40 bài nói, bài viết đề cập đến thi đua yêu nước.

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước phát triển, lan rộng, trở thành các cao trào cách mạng của nhân dân, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng nước ta.

Ngày 01-5-1952, tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, Người nhấn mạnh “Thi đua là yêu nước: Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực… Yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất…”

Báo Nhân Dân, số 15, ngày 05-7-1951, đã đăng bài viết của Người với bút danh C.B: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”. Mở đầu bài báo, Người viết: “Thi đua ái quốc… Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do”.

Trong thư gửi thanh niên về thi đua ái quốc, ngày 01-8-1951, Người ân cần chỉ bảo: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua làm cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi…”. “Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hòa 3 nhiệm vụ với nhau: gia tăng sản xuất, công việc hàng ngày và học tập (chính trị, văn hóa, tình hình trong nước và thế giới).”

Trong lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công đăng trên Báo Sự Thật, số 116, ngày 01-8-1949, Người chỉ rõ: “Trong các việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính…”

Ngày 11-6-1948, Người ra lời kêu gọi thi đua ái quốc”, trong đó có đoạn: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều…
Cách làm là: dựa vào:
Lực lương của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân”.

Người mãi là nguồn cảm hứng lớn lao, là niềm tin tất thắng dạt dào…
Nguồn: sưu tầm

Thi đua trở thành một phong trào rộng khắp, liên tục trên tất cả các lĩnh vực. Trong thơ chúc Tết năm Kỷ Sửu (1949), Người viết:

“Người người thi đua
Ngành ngành thi đua
Ngày ngày thi đua
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”

Rõ ràng, bài thơ đó có ý nghĩa bao quát tính toàn diện, tính liên tục của thi đua.

Trong Lời kêu gọi thi đua, ngày 01-8-1949, Người một lần nữa nhấn mạnh tính liên tục của thi đua” “Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ”.

Thi đua phải thiết thực, gắn với công việc hàng ngày của mỗi người, đem lại lợi ích cho cá nhân, cho cộng đồng và cho đất nước. Cũng trên Lời kêu gọi nói trên, Người viết: “Tưởng lầm rằng thi đua là một công việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”.

Người còn căn dặn: “Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững… Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm… Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực”.

Người yêu cầu mọi phong trào thi đua yêu nước đều phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời biểu dương, nêu gương, khen thưởng. Những hình thức khen thưởng đều có tác dụng động viên, khích lệ những người tham gia phong trào. Trong Thư gửi thanh niên, ngày 01-8-1951, Người viết: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”.

Một quan điểm hết sức quan trọng của Người là cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927), Người đã nêu 23 điều về “Tư cách một người cách mệnh”, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”. Có lần, Người còn nhấn mạnh:

“Cán bộ xung trước,
Làng nước theo sau.
Việc khó đến đâu,
Cũng làm được hết”.

Trong bài phát biểu trước các chiến sĩ thi đua, ngày 03-5-1952, Người đã dạy: “Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”. Người cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Và vẫn luôn là Người – hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, gần gũi với triệu dân,
không lúc nào nguôi ưu tư về vận mệnh dân tộc.
Nguồn: sưu tầm

Trong Lời chào mừng Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ hai, Người căn dặn các anh hùng, chiến sĩ thi đua và mọi người” “Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng… Các anh hùng và chiến sĩ thi đua cần phải luôn luôn dìu dắt, giúp đỡ những người chung quanh mình cùng tiến bộ. Mọi người đều phải cố gắng tiến kịp các anh hùng, chiến sĩ; anh hùng, chiến sĩ thì cần tiến mãi không ngừng”.

Trên 60 năm qua, hưởng ứng lời kêu gọi của Người, phong trào thi đua ái quốc được tiếp thêm sức mạnh, tiếp tục phát triển, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của đất nước, để lại những dấu ấn sâu đậm, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng của dân tộc.

Thấm nhuần và thực hiện sáng tạo những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự nghiệp thi đua yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác thi đua khen thưởng cần tập trung khắc phục những yếu kém, tạo sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện, thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Phong trào thi đua yêu nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị. Thi đua thực chất là công tác vận động quần chúng tham gia phong trào thực hiện những nhiệm vụ cụ thể.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nguyện chung sức, chung lòng, năng động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, phát huy truyền thống yêu nước, biến các phong trào thi đua thành động lực cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo nguồn: http://www.impe-qn.org.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong thơ các nhà sư

Tôi dừng lại khá lâu trong phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem những bài thơ của sư bà viết về Bác.

GIAO HƯỞNG

Chùa Cần Linh dù tên chữ hàm nghĩa rất hay, rất đẹp, song người dân thành phố Vinh vẫn thích gọi là chùa Sư Nữ, bởi vì từ trước đến nay các nhà sư trụ trì đều là sư nữ.

Sinh thời, “quan đốc học” Nguyễn Tài Đại (1921- 2005) có lần bộc bạch với tôi: Năm 1945 chừng mới 20 tuổi, sư cô Thích Diệu Niệm đã về trụ trì chùa Cần Linh. Ngôi chùa vốn đẹp nổi tiếng, từ ngày có sư cô “sắc nước hương trời” về trụ trì, chùa càng rực rỡ giữa hữu tình sông nước trời mây, càng nổi tiếng trong tâm thức người đời. Rồi một đồn mười mười, đồn trăm, hầu như tháng nào anh Đại cũng rủ mấy bạn trai vào chùa vãng cảnh để “tiện thể” được ngắm dung nhan “hơn hẳn các mỹ nhân trong tranh ta lẫn tranh Tàu” của sư cô trụ trì, nhờ đó anh Đại biết sư Thích Diệu Niệm có tài làm thơ.

Mùa thu Bính Tý (1996) mấy chủ nhật liền tôi chủ định vãng cảnh chùa Sư Nữ. Trong dòng người đến chùa sáng chủ nhật ấy, tôi nêu nguyện vọng muốn được gặp sư bà Thích Diệu Niệm, người suốt đời gắn bó với ngôi chùa này. Một ni cô lẳng lặng đi vào trong, lát sau ni cô ấy trở ra chắp hai tay trước ngực:

– Sư bà Thích Diệu Niệm mời lữ khách vào tham quan nội thất.

Sáng ấy, sư bà Thích Diệu Niệm dẫn tôi đi xem các công trình kiến trúc của chùa. Chùa được dựng cuối thời Lê, có gần 100 pho tượng. Năm 1992, chùa được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa Quốc gia.

Sư bà vui vẻ cho tôi biết: Chắp tay chào nhau cung kính không phải là đặc trưng của riêng nhà Phật, từ xưa cách chào này đã rất thông dụng trong xã hội Việt Nam. Hình ảnh chắp tay thể hiện ý nghĩa hiệp chưởng – liên hoa thủ. “Hiệp chưởng” (hai bàn tay chụm lại) biểu trưng cho sự hòa hợp bình đẳng, hiệp sức chung lòng vì mục đích tốt đẹp cao cả. “Liên hoa thủ” (bàn tay hoa sen), chắp tay là biểu trưng của nụ búp sen, tuy chưa nở nhưng vẫn đủ đầy đặc trưng tốt đẹp của hoa sen – loài hoa biểu trưng nhiều ý nghĩa trong giáo lý đạo Phật. Chắp tay xã giao là “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”, hiểu nôm na là chúc mọi người đạo đức vẹn toàn, được vậy thì sẽ tiến tới thành Phật! Sau ngày người Pháp sang đô hộ nước ta, họ mang theo động tác bắt tay, kiểu chào của người phương Tây, dần người mình chạy theo mốt của người Tây mà đánh mất cái đặc trưng rất đẹp của tổ tiên mình!

Tôi dừng lại khá lâu trong gian phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem hết những bài thơ của sư bà viết về Bác và về tu hành. Những bài thơ được thể hiện trên giấy khổ lớn, có bài đã lồng vào khung lớn, có bài được sư bà dán trực tiếp lên tường của gian thờ. Dường như đoán biết vị khách lãng du tìm hiểu nội dung những bài thơ là có chủ địch, sư bà cho phép tôi chép vào sổ tay cả 9 bài thơ: Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam, Ơn Bác Hồ, Kính viếng bà Hoàng Thị Loan từ mẫu, Kính viếng hương hồn liệt sĩ, Mùa Xuân đến, Đệ tử, Hòa đàm, Khuyên tu, Không đề.

Sư bà Thích Diệu Niệm đã viên tịch hơn 10 năm rồi, như một nén tâm nhang kính dâng hương hồn bà, tôi xin lược trích giới thiệu 4 khổ thơ thứ 1,4,5,9 và 2 câu kết bài thơ Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam của sư bà khả kính:

BÁC HỒ LÀ BỒ TÁT GIÁNG VIỆT NAM

Có chính sách của Bác Hồ bảo đảm
Được tự do tín ngưỡng hợp lòng dân
Cả Việt Nam Phật giáo vững tinh thần
Tin tưởng Bác như mùa xuân hoa nở…
Lời Di chúc của Bác Hồ ghi tạc
Đoàn kết nhau gánh vác lấy non sông
Có tài năng và đạo đức chung lòng
Xây dựng nước nhà thành công vững chắc.
Công và của bỏ ra không ngần ngại
Quyết treo gương bác ái giữa toàn dần
Nghiên cứu trong đạo đức với tinh thần
Hồ Chủ tịch chí công – nhân độ nhất…
Bác đưa lại tự do và hạnh phúc
Phá xích xiềng áp bức, chống xâm lăng
Là vĩ nhân văn hóa vượt tài năng
Dựng lại nước phải chăng tài bậc Thánh
Nhìn ảnh Bác, cảm thấy người đạo hạnh
Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam.

Ngày 23/1/2010, tôi và một đồng nghiệp đến Ban Quản lý dự án tôn tạo, mở rộng Khu Di tích lịch sử – văn hóa Nam Đàn. Sau đó, chúng tôi cùng ông Nguyễn Vương Lộc, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Nghệ An, lên Khu Di tích Kim Liên dâng hương viếng Bác. Từ làng Chùa, Hoàng Trù quê ngoại, khi chúng tôi chuẩn bị lên xe sang làng Sen, Kim Liên quê nội, bỗng gặp một đám khách từ ngoài cổng đang tiến vào, người vận áo dài cà sa màu vàng dẫn đầu, tiếp sau là các vị tăng ni, phật tử vận áo dài màu nâu.

Người dẫn đường đưa đoàn khách từ Vinh lên cho hay: Đây là đoàn khách từ TP Hồ Chí Minh ra, là khách của cơ quan anh, người dẫn đầu vận áo dài cà sa màu vàng là Thượng tọa Thích Thiện Chiếu, Phó Ban Từ thiện – xã hội trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Kỳ Quang 2, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Đoàn ra Vinh mấy ngày, đầu chiều đoàn sẽ bay vào TP Hồ Chí Minh. Sáng nay, anh thay mặt cơ quan tháp tùng Thượng tọa Thích Thiện Chiếu và các thành viên trong đoàn lên dâng hương viếng Bác.

Từ giờ phút đó chúng tôi sáp nhập vào đoàn khách đến từ TP Hồ Chí Minh để cùng sang làng Sen, lên núi Động Tranh, xã Nam Giang viếng mộ bà Hoàng Thị Loan. Khi đoàn dừng nghỉ dưới chân núi Động Tranh, tôi thấy Thượng tọa Thích Thiện Chiếu sử dụng đầu ô-tô làm bàn và ông đứng viết. Lát sau Thượng tọa cùng với mọi người trong đoàn vào quán ngồi uống nước chè xanh, ăn kẹo lạc, Thượng tọa xúc động đọc bài thơ ông vừa sáng tác trên đường từ làng Chùa, làng Sen đến núi Động Tranh. Đọc xong, Thượng tọa đồng ý cho bấm ảnh bản gốc bài thơ để lưu giữ một kỷ niệm đáng nhớ được gặp vị Thượng tọa phương nam trên vùng đất thiêng liêng quê Bác.

SÁNG MÃI ƠN NGƯỜI

Chủ trương đoàn kết đến thành công
Tịch mặc vẫn yên quyết một lòng
Bác dạy tự do duy hữu nhất
Hồ công độc lập thị vô song
Chí linh hòa kiệt lừng Âu Á
Minh trí hùng anh giống Lạc Hồng
Vĩ tận ơn Người lưu sử sách
Đại đồng chủ nghĩ khắp non sông.

Theo dvt.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở Trường Sa

Bức ảnh Bác Hồ với chiến sĩ Hải quân đã trở thành kỷ vật truyền thống có ở hầu khắp các đơn vị hải quân. Ảnh T.D.H

Trên các đảo nổi, đảo chìm và trên từng nhà Dàn DKI của quần đảo Trường Sa, thời tiết vô cùng khắc nghiệt vẫn hiện hữu và tràn trề sức sống của cây bàng quả vuông – loại cây đặc trưng thích nghi sóng gió. Dù cuộc sống, sinh hoạt, chiến đấu còn khó khăn nơi đầu sóng ngọn gió nhưng với chiến sỹ và nhân dân trên đảo hình ảnh Bác Hồ kính yêu – hiện thân của niềm tin, ý chí, sự bao che rất ấm áp, thiêng liêng.

Tôi về Trường Sa trong những ngày đầu tháng năm nồng nàn nắng gió. Lần đầu tiên trong đời bâng khuâng đặt chân lên các đảo nổi, đảo chìm, các nhà Dàn DKI… đưa tầm mắt nhìn ra biển khơi ngút ngàn sóng bạc mới thấm thía đất nước mình rộng lớn vô cùng. Và, biển cả đại dương mênh mông vô cùng tận! Lần đầu tiên, đưa tay sờ vào cột mốc Bia chủ quyền trên đảo Trường Sa Lớn, chợt nghe trong hồn dâng lên tình yêu đất nước rớm lệ. Bởi lần đầu tiên được đến với Trường Sa nên với tôi cái gì cũng mới lạ, cũng đáng quý và được tôi “ghi chép” vào lòng! Đúng như người ta nói, đặc trưng của đảo thời tiết khí hậu quanh năm rất khắt nghiệt; mỗi năm chỉ có 3 tháng (giữa tháng giêng đến giữa tháng tư âm lịch) biển yên sóng lặng những tháng còn lại mưa nắng, bão giông rất thất thường.

Nơi đất trời khắt nghiệt vậy, cuộc sống vẫn cứ sinh sôi, cây lá vẫn tươi xanh sau từng mùa bão nổi đi qua. Rau muống biển nở hoa tím ngời ven mặt nước; cây phong ba, bàng quả vuông cứ vươn cao như ưỡn tấm ngực chắn gió đại dương che chở con người. Bàng quả vuông nở hoa vào mùa xuân làm xao xuyến lòng người trên đảo và kết trái có hình thù bốn cạnh vuông vức rất đẹp và lạ mắt, món quà kỷ niệm của đảo với đất liền mỗi khi có chuyến công tác ra thăm…

Đi đến tất cả các đảo nổi, đảo chìm, nhà Dàn DKI và vào thăm 07 gia đình dân đầu tiên của huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) tình nguyện ra Trường Sa Lớn định cư, tôi nhận ra một điều rất đặc biệt: Trong mỗi nơi tôi đến đều lập bàn thờ Bác Hồ kính yêu. Bàn thờ Bác được đặt nơi cao nhất, trang trọng nhất với hoa tươi, quả ngọt đơm đầy và được nhang khói mỗi ngày. Trong 7 hộ dân sống ở Trường Sa, có 2 hộ theo đạo Thiên chúa giáo, bàn thờ Bác Hồ được đặt cao hơn tượng chúa. Chị Nguyễn Thị Hạnh (người có đạo) nói: “Thờ Bác Hồ trong nhà thấy ấm áp và thêm vững tin”. Hầu hết những công dân đảo đều cho rằng ngoài thờ cúng ông bà, thờ cúng Bác Hồ để Bác linh thiêng phù hộ cho biển yên sóng lặng, cuộc sống yên bình trên đảo xa…

Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa.

Không ở đâu như ở Trường Sa, hình ảnh Bác Hồ thật gần gũi và ấm áp đến diệu kỳ. Hình ảnh Bác có ở khắp nơi: Tượng đồng lớn đặt tại Nhà Tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo, trong các hội trường, phòng họp, nhà khách Thủ đô, trên Tháp cao của tại các nhà Dàn DKI giữa sóng gió biển khơi với chòm râu trắng như cước, trong chiếc mũ Hải quân với nụ cười hiền hậu và rất đỗi gần gũi trong mỗi hộ dân…Đi giữa mênh mông trời nước Trường Sa, những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu chợt ùa về:

“Bác ở Điện Biên. Bác ở Trường Sơn
Bác ở Trường Sa, Bác ở rừng biên giới
Đất nước gian nan mỗi lần gặp tới
Chúng con đi, có Bác ở bên mình”.

(Những khúc ca về Bác)

Bất cứ ở nơi đâu khó khăn, gian nan nhất đều có Bác gũi gần. Bác là hiện thân của niềm tin, dũng khí, bình dị mà thật lớn lao tỏa ánh nắng chan hòa sưởi ấm giá rét giữa phong ba; động viên cán bộ, chiến sỹ và nhân dân biết vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh chung sức chung lòng dựng xây non sông gấm vóc. Bác là hiện thân của sức mạnh đoàn kết, của tình quân dân gắn chặt vững bền như cây phong ba giữa miền đất đảo cắm sâu rễ vào từng thớ đất thiêng liêng, tỏa bóng mát giữa nghìn trùng khơi… Cảm xúc trong tôi chợt dâng tràn:

Trồng rau xanh trên đảo Trường Sa.

“Không ở đâu như ở Trường Sa
Hình ảnh Bác Hồ gũi gần
Hiện thân
Niềm tin, dũng khí…
Để anh lính đảo tui rèn ý chí
Vượt mọi hiểm nguy: bão dữ, phong ba
Sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc sơn hà”

Đã bốn mươi hai năm rồi “vắng Bác”, nhưng trên mọi nẻo đường đất nước như vẫn còn in dấu chân Bác mới đi qua. Tháng năm về Trường Sa, ta gặp Người ở đấy…

Theo Thanh Hồng
Suckhoedoisong.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những đặc điểm sau:

Một là, trung với nước hiếu với dân

Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.

Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.

Hai là, yêu thương con người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Người viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái… không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.

Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”.

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người

Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi“, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân“; phải trong sạch, không tham lam; “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”. Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc“. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ“.

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề “bốn phương vô sản đều là anh em“; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện của mỗi người.

– Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu biểu.

– Xây đi đôi với chống.

Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác, đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.

– Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“.

Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra sự nguy hiểm của bệnh “cá nhân”, đó là nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ.

Ngay từ năm 1952, Người đã nêu rõ những tệ nạn cần phải chống gồm ba loại hình là tham ô, lãng phí, quan liêu. Người coi những tệ nạn đó là tội ác, là kẻ thù khá nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” phá từ trong phá ra. Người đã chỉ rõ tội lỗi của những kẻ tham ô, lãng phí quan liêu cũng nặng như tội lỗi “Việt gian, mật thám”. Người cho rằng: “Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”.

Cuộc sống đang đòi hỏi phải làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh đời sống đạo đức của xã hội. Hai mặt đó phải tiến hành song song. Phải khắc phục các nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực; càng phải khắc phục nguyên nhân đã để cho các tệ nạn tiêu cực phát triển. Trong cuộc đấu tranh này, phải lấy việc xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt, như đã được nêu ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng.

Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

Theo Báo Bắc Kạn

bqllang.gov.v