Tag Archive | Hồ Chí Minh

“Câu chuyện cái đồng hồ” – Bài học về sự đoàn kết

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớy một số người đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)


Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1/ Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn trức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2/ Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3/ Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

N.Q.T (quận 12) – ảnh PXL
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở Trại Kim Đồng

Sáng thứ 2,ngày 11/6/2012, đại diện Chi bộ Hành chính sự nghiệp đã kể một câu chuyện về tấm gương và đạo đức của Bác với chủ đề: “Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở Trại Kim Đồng”.

Một sáng đẹp trời, Bác Hồ đã đến với các cháu ở trại Kim Đồng. Ngay từ phút đặt chân đến cổng trại nhìn bờ rào dăng dây thép gai, trong mắt Bác hiện lên sự nhức nhối. Nói với các cán bộ phụ trách giọng Bác nhẹ nhàng, nhưng vô cùng thấm thía:

– Đây là nơi nuôi dạy các cháu mồ côi, được mang tên liệt sĩ Kim Đồng, sao các cô, các chú lại rào dây thép gai như một nhà tù thế này?

Chú Thuận thưa:

– Dạ thưa Bác, cơ ngơi của thời đại cũ để lại đấy ạ!

Bác lắc đầu: Các cô, các chú phảI tháo gỡ đám dây thép gai ngay. Chế độ cũ nhóm các cháu vào đây, chúng ta tiếp tục nuôi dạy vì tương lai của các cháu.

Bác đi vào từng căn phòng ở, phòng ăn, phòng học, nơi các cháu vui hơi. Bác khen: “Được cái gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng còn – Bác hỏi cán bộ phụ trách trại – còn thế nào, các cô, các chú biết không?

Mọi người nhìn Bác, vừa xúc động vừa lúng túng. Rồi chú Thuận mạnh dạn đáp:

– Thưa Bác, các cháu ở trại còn chật chội ạ.

Bác Hồ mỉm cười:

– Chú nói mới đúng một phần nhỏ thôi. Đối với các cháu mồ côi, điều lớn nhất là phải bù đắp tình thương. Các cháu đã không còn bố mẹ, thì các cô, các chú ở đây là bố, là mẹ của các cháu. Các cô, các chú nuôi dạy các cháu thì phải đem cả tấm lòng làm mẹ, làm cha mà cư xử, mà săn sóc, mà dạy bảo. Bác thấy ở đây, đối với các cháu, còn cái vẻ “trại lính”, thiếu cái ấm cúng của gia đình. Dạy cho các cháu vào khuôn phép, sống có kỷ luật, trật tự là đúng. Nhưng không được để các cháu mất cái hồn nhiên, mất cái vui tươi, thoải mái. Đừng biến các cháu thành các “ông cụ non”. Các cô, các chú phảI làm sao cho các cháu thấy trại Kim Đồng là gia đình của các cháu, đi xa các cháu nhớ, lúc ở nhà các cháu vui. Được như vậy thì cần gì phải rào dây thép gai, phải canh phòng nghiêm ngặt với các cháu?

Bác lại hỏi:

– Những cháu kém có nhiều không?

– Thưa Bác, còn nhiều lắm ạ.

– Nhiều là bao nhiêu?

Đồng chí phụ trách hơi bối rối. Bác nói ngay:

– Quản lý các cháu thì cần biết cụ thể từng cháu một, biết chắc chắn cái dở, cái hay của mỗi đứa. Có như vậy thì dạy mới có kết quả tốt.

Bác bảo chú Thuận đứng lên:

– Cho Bác gặp cháu nào kém nhất trại.

Em Quốc đứng khoanh tay trước mặt Bác, Bác cúi xuống vuốt ve nhè nhẹ tóc em. Bác hỏI:

– Tên cháu là gì?

– Thưa Bác tên cháu là Quốc lủi ạ!

Bác nhìn em, ái ngại:

– Ai đặt cho cháu cái tên ấy?

– Dạ thưa, các bạn gọi cháu thế ạ.

– Vì sao các bạn gọi cháu là Quốc lủi?

– Thưa Bác… Cháu… Cháu hay trốn trại. Cháu chui qua hàng rào, lủi vào các ngõ phố ạ.

Sao cháu không chịu ở trong trại mà lại trốn ra bên ngoài?

– Thưa Bác… ở trong trại khổ cực lắm ạ.

– Khổ cực như thế nào?

– Dạ chúng cháu bị gò bó đủ thứ ạ.

– Cháu nói rõ sự gò bó cho Bác nghe nào?

– Thưa Bác…

Quốc nhìn Bác Hồ mà nước mắt trào ra, nghẹn ngào không nói lên lời. Bác xoa đầu em, Bác đã hiểu thấu tất cả, dù em chưa nói ra được những điều muốn thưa với Bác. Bác khuyên Quốc: “Từ nay cháu phải phấn đấu bỏ cái tên “lủi”, giữ lại cái tên Quốc…”. Nước mắt càng giàn giụa trên hai má Quốc.

Bác Hồ cầm tay em Quốc đi ra chỗ cả trại đang tập hợp đón đợi Bác. Bác thân mật kể cho các em nghe một số gương tốt của thiếu nhi trong kháng chiến chống Pháp, gương tốt của thiếu nhi ở Liên Xô và các nước bạn. Các em đã không cầm được nước mắt khi nghe Bác kể về thời niên thiếu của Bác, Bác đã từng thèm một cái đồ chơi, ước ao một bộ quần áo mới để mặc Tết. Bác cũng đã mồ côi mẹ từ năm lên chín, lên mười. Bác đã phải bế em trèo trẹo bên hông đi xin sữa cho em sau ngày mẹ qua đời.

Bác căn dặn các em như ông dặn cháu:

– Các cháu phải vâng lời các cô, các chú phụ trách. Thiếu nhi thì phải ngoan, phải thật thà, lễ phép với người lớn, kính trọng người già, giúp đỡ người tàn tật yếu đau. Các cháu ở trong tập thể với nhau càng phảI thương yêu nhau như anh chị em ruột thịt. Và phải dũng cảm sửa chữa những khuyết điểm, những thói hư tật xấu để lớn lên làm người chủ của đất nước, đừng để mình là cái gánh nặng của xã hội…

Rồi Bác bảo:

– Các cháu có hứa làm được điều Bác căn dặn không nào?

Một tiếng “có” vang lên, đều khắp và sôi nổi. Bác còn dặn thêm các em là noi gương dũng cảm của liệt sĩ Kim Đồng trong học tập và rèn luyện, em nào đạt kết quả tốt, được ban phụ trách báo lên Bác, Bác sẽ gửi phần thưởng. Và Bác thân mật hẹn: “Nếu cả trại cùng tiến bộ vượt bậc, Bác sẽ còn về thăm các cháu nhiều lần nữa”.

Ngày hôm ấy, Bác đã để lại rất nhiều quà để chia cho các em. Nhận phần quà của Bác cho, nhiều em đã không ăn, cất làm kỷ niệm.

Từ hôm đó trong từng đôi mắt của các em, ngời lên niềm vui nhận quà Bác. Em Quốc không lủi ra ngoài trại nữa mà giữ gìn mình như giữ gìn kỷ niệm của Bác trong trái tim.

Theo website Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh
tcvg.hochiminhcity.gov.vn

Những sinh nhật giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Để tránh tổ chức, tiếp đón linh đình, dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đi thăm chùa, đi công tác hay làm thơ tự trào…

‘Người bạn Pháp của Việt Nam’ kể chuyện Hồ Chí MinhHồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

Nhà sử học Dương Trung Quốc vừa xuất bản cuốn “Hồ Chí Minh – Ngày này năm xưa” với mục đích tập trung phản ánh các sự kiện, công việc thường ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo ông Quốc, trong “Ngày này năm xưa“, việc sắp xếp sinh nhật của Hồ Chủ tịch theo trình tự thời gian đã giúp người đọc thấy rõ được cách ứng xử rất giản dị, đời thường, tránh hình thức linh đình của người đứng đầu nước. Trong dịp sinh nhật, Hồ Chủ tịch cũng hay làm thơ với giọng tự trào để mọi người coi đây là việc bình thường.

Ảnh tư liệu.Bác Hồ và đại biểu phụ nữ dân tộc ít người tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3/1961. Ảnh tư liệu.

VnExpress.net trích đăng cuốn sách “Hồ Chí Minh – Ngày này năm xưa:

Lần đầu tiên, ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố vào năm 1946, do vậy, ngày 19/5/1946 cũng là lần đầu tiên một hình thức mừng sinh nhật được tổ chức như để biểu thị khối đoàn kết của nhân dân quanh vị nguyên thủ của một quốc gia non trẻ đang đương đầu với những thử thách to lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia hơn là một sự sùng bái đối với một lãnh tụ.

Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi lại hình ảnh các cháu thiếu nhi nội ngoại thành thủ đô vốn là trẻ bán báo hay trẻ mồ côi tại ngôi trường Bác đã từng đến thăm… đánh trống ếch mang theo những huy hiệu là các con chữ “i tờ” của phong trào diệt dốt đến tặng Chủ tịch nước và hát những bài ca cách mạng. Tiếp đó là đoàn đại biểu các chiến sĩ Nam bộ từ chiến trường ra công tác và đoàn đại biểu Văn hóa Cứu quốc đến chúc thọ người khởi xướng và lãnh đạo cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc.

Đáp lại tình cảm của mọi người, Bác nói với các chiến sĩ Nam bộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to cái ngày sinh nhật của tôi, chứ tuổi năm mươi sáu chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như là thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình”.

Còn với các chiến sĩ văn hóa đến xin khẩu hiệu cho phong trào “Đời sống mới”, Bác đề xuất câu: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” và giải thích: “Hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời mà sống. Những việc đó ngày xưa ông cha ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những việc không khi nào trở thành cũ cả. “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” đối với đời sống mới cũng vậy”.

Ngày 19/5/1947, giữa lúc chiến tranh lan rộng ra cả nước, sinh nhật Bác diễn ra tại một địa điểm bí mật trên chiến khu ở Sơn Dương (Tuyên Quang) chỉ với một bó hoa rừng của những người thân cận đang bảo vệ người đứng đầu cuộc kháng chiến. Nhưng Bác đã dành bó hoa ấy để đi viếng người cấp dưỡng của mình vừa qua đời vì sốt rét.

Đáp lại những lời chúc mừng sinh nhật vào năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân. Thư có đoạn: “Đồng bào yêu mến chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực, chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào làm thế nào cho con cháu chúng ta và muôn đời về sau được sung sướng và tự do”.

Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7/1960. Ảnh tư liệu.

Vào dịp 19/5/1949, đáp lại đề nghị tổ chức lễ sinh nhật, Bác làm bài thơ “Không đề”: “Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà / Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già / Chờ cho kháng chiến thành công đã / Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”. Sau ngày sinh nhật, Bác gửi thư cảm ơn các tầng lớp nhân dân đã mừng thọ và hẹn: “Đến ngày toàn quốc ăn mừng hoàn toàn thắng lợi, trong cuộc kỷ niệm to ấy, tôi sẽ vui vẻ tiếp đồng bào và chiến sĩ, kèm thêm một kỷ niệm nhỏ là Ngày sinh nhật của tôi”.

Ngày 19/5/1950, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Thác Dẫng (Tuyên Quang), đáp lại tình cảm của mọi người, Bác làm một bài thơ tự cảm về tuổi tác của mình: “Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán / So với ông Bành vẫn thiếu niên / Ăn khỏe ngủ ngon, làm việc khỏe / Trần mà như thế kém gì tiên!”.

Đến dịp 63 tuổi (19/5/1953), Bác làm bài thơ chữ Hán “Thất cửu”: “Nhân vị ngũ tuần thường thán lão / Ngã kim thất cửu chính khang cường / Tự cung thanh đạm, tinh thần sảng / Tố sự thung dung nhật nguyệt trường”. (Nhà thơ Xuân Thủy dịch: “Chưa năm mươi đã kêu già / Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đang trai / Sống quen thanh đạm nhẹ người / Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”).

Ngày 19/5/1954, lễ mừng sinh nhật hòa chung với không khí đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ bằng cuộc gặp gỡ của Bác với đại biểu là những chiến sĩ có thành tích tiêu biểu từ chiến trường trở về chiến khu. Bác đã gắn huy hiệu cho chiến sĩ trẻ bắt sống tướng De Castries. Và trong cuộc gặp còn có một vị khách đặc biệt là nhà điện ảnh Xô viết Roman Karmen, người đang thực hiện những bộ phim về Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Sau ngày hòa bình, Bác thường vắng mặt ở nhà để tránh những cuộc tiếp mừng sinh nhật. Ngày 19/5/1958, Bác đi thăm chùa Hương; Dịp sinh nhật năm 1959, Bác đi thăm chùa Tây Phương.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi vui liên hoan văn nghệ nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tháng 5-1969Bác Hồ và các cháu thiếu nhi vui liên hoan văn nghệ nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tháng 5/1969. Ảnh tư liệu.

Từ năm 1960 đến 1967, vào trung tuần tháng 5, Bác thường sang Trung Quốc để làm công tác ngoại giao, tranh thủ nước bạn ủng hộ cuộc kháng chiến đang diễn ra ngày càng ác liệt ở trong nước.

Riêng ngày 19/5/1965, trong dịp sang Trung Quốc, Bác thăm Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử và làm bài thơ “Phỏng Khúc Phụ”: “Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ / Cổ tùng cổ miếu lương y hy / Khổng gia thế lực kim hà tại / Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi”. (Đặng Thai Mai dịch: “Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ / Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa / Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ? / Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”).

Ngày 19/5 của 2 năm cuối cùng (1968 và 1969), vào khoảng thời gian từ 9 đến 10h sáng, Bác đều dành để xem và sửa lại “Di chúc”, sau đó tiếp chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu (cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định). Dường như vào thời điểm chiến tranh còn gian khổ và nước nhà chưa thống nhất, những tình cảm sâu nặng nhất Bác luôn muốn dành cho miền Nam ruột thịt.

Tiến Dũng ghi
vnexpress.net

‘Người bạn Pháp của Việt Nam’ kể chuyện Hồ Chí Minh

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí MinhGiới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự.

“Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói.

6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu.

“Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh.

“Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại.

Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh.

Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Nguyễn Hưng
vnexpress.net

Hồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

“Đúng 7h tối, có tiếng còi ô tô, “Bác đến”, một thành viên kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ”, bà cụ Vinh, nữ văn công Nghệ An năm xưa nhớ lại.

Những sinh nhật giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hai lần Hồ Chủ tịch về thăm quê (năm 1957 và 1961), có một người phụ nữ đã hát dân ca Nghệ Tĩnh cho Người nghe. Sau đó cô được ra tận Phủ Chủ tịch để cất lên những lời ca ngọt ngào xứ Nghệ. Gần 48 năm qua kể từ lần cuối được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Lệ Vinh nguyên là cán bộ nhà văn hóa Trung tâm thành phố Huế, ngày nay vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác.

Bà Vinh quê ở Thanh Hóa, trước kia làm trong đoàn văn công Nghệ An, cho biết, trong những ngày tháng công tác đã qua, bà rất vinh dự được gặp Hồ Chủ tịch 3 lần, mà 2 lần lại đúng vào lúc Người về thăm quê ở Nghệ An. Bà xúc động: “Đó là những giờ phút hạnh phúc nhất của đời tôi, để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng không thể phai nhòa đối với vị cha già dân tộc.”

Người phụ nữ 79 tuổi nhớ lại, cuối hè năm 1957, tin Hồ Chủ tịch về thăm quê lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tạo nên niềm vui to lớn trong lòng nhân dân xứ Nghệ. Mọi người tập trung tại sân vận động thành Vinh để chào đón và nghe cụ Hồ nói chuyện. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, cả biển người im phăng phắc, tất cả đang hướng về phía Người, lắng nghe lời dạy: “Cán bộ phải chí công vô tư, phải đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phải đoàn kết, gương mẫu…”

“Đang nói, Người bỗng xin phép cởi áo ngoài cho mát. Tất cả mọi người đều rộ lên cưòi thoải mái. Thật tự nhiên cởi mở, thân mật như cha nói với con”, bà cụ trầm ngâm nhớ lại.

Ngày hôm sau, Hồ Chủ tịch về thăm quê ở Kim Liên. Khi trở về thành Vinh, Người đi xe mui trần, nhân dân lại được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ cách mạng. “May mắn làm sao, lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ đứng gần xe Người. Cụ mặc quần áo kaki giản dị, mái tóc trắng bạc, nước da hồng hào, đứng thẳng dậy giơ tay chào đồng bào, mắt sáng long lanh và hiền từ. Mọi người nhìn Người hoan hô không ngớt.”, bà Vinh kể lại.

Hồ Chủ tịch phát kẹo cho đoàn văn công Nghệ An cuối năm 1961 sau khi xem biểu diễn. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Cuối năm 1961, Hồ Chủ tịch lại về thăm quê lần thứ hai. Hôm ấy, đoàn văn công Nghệ An đang luyện tập thì nhận được chỉ thị của tỉnh ủy: Văn công sẽ biểu diễn phục vụ vị lãnh đạo và Người muốn nghe dân ca Nghệ Tĩnh. Cả đoàn đều reo mừng, sung sướng. Lúc bấy giờ đoàn văn công Nghệ An chỉ chủ yếu hát chèo, hát mới, diễn kịch nói chứ không có tiết mục dân ca. Diễn viên hầu hết đều là lớp trẻ mới lên nên chưa ai biết hát dân ca. Bà Vinh nói: “Ơn lãnh tụ đối với mỗi người như trời biển, vậy mà chúng tôi những người làm công tác văn nghệ lại không đáp ứng được một nhu cầu nhỏ của Người. Thật là một điều thiếu sót.”

Dòng suy tư ấy đưa bà Vinh về lại những năm tháng chống Pháp phải sơ tán lên Nam Đàn, cạnh bờ sông Lam. Nơi đó, man mác những chuyến đò dọc ngang mang đầy tiếng hát âm vang của hàng chục cô gái kéo sợi và tiếng hát đò đưa, ví dặm, ví phường vải, ru con ấy… Vậy là cô gái văn công khi ấy đánh bạo xung phong hát dân ca Nghệ cho Hồ Chí Minh nghe.

Bà kể lại: “Tôi thử hát nhẩm cho đoàn nghe, một đồng chí lớn tuổi trong đoàn bảo tôi hát đúng và nghe cũng được. Tôi sung sướng quá”. Trong lúc đó Ty văn hóa cũng mời được một “cây” hát dân ca. “Một chị ở Nam Hồng, Nam Đàn được mời về. Nhưng được biết cái vinh dự lớn quá, sợ mình không tự chủ được nên chị nhận giúp tôi luyện giọng”, bà Vinh kể tiếp.

Đến ngày diễn, lúc đó đã 4h chiều, bà Vinh đang bận rộn với một bài thơ lục bát khá dài. Tâm trạng bà lúc này rất khó tả: “Tôi hồi hộp lắm, học và tập đến quên ăn, quên ngủ, nhưng vẩn chưa dám tin ở mình”. 6h30 tối xe đưa đoàn văn công đến hội trường công an vũ trang tỉnh để chuẩn bị hóa, phục trang.

Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô. “Bác đến”, một thành viên trong đoàn kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ. Phút chốc cụ Hồ đã đến ngay bên cạnh cả đoàn văn công, nhẹ nhàng như một ông tiên có phép. Thì ra Người đã vào từ cửa sau. Cả đoàn văn công đứng sững như tượng. Rất thoải mái Hồ Chí Minh giơ tay chào, thăm hỏi sức khỏe từng người và dặn hóa trang cho đẹp, diễn cho tốt… Hành động của Người làm những lo lắng, hồi hộp của cả đoàn lắng xuống.

Cụ Hồ chụp ảnh với đoàn văn công Nghệ An tại Phủ Chủ tịch năm 1962. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Trong toàn bộ buổi diễn có thể nói tiết mục dân ca được xem là then chốt, được xếp vào giữa chương trình để có thời gian chuẩn bị.

“Bước ra sân khấu, tôi cố lấy lại bình tĩnh, tự chủ hơn, tôi nhìn Bác, lại nhìn khán giả, tự nhiên cảm thấy một luồng động viên to lớn. Tôi bắt đầu hát, dường như tôi đã “mê” đi trong sự nhập vai, đồng thời cần phải “tỉnh” trong ý thức trách nhiệm nghệ thuật. Cái phần “tỉnh” của tôi đang đưa mắt nhận ra Người đang nhìn tôi chăm chú, còn phần “mê” đưa tôi sống cùng tâm tình của cô gái đưa tiễn người yêu”, người nữ văn công năm xưa nói và bắt đầu hát nhè nhẹ lời ca năm nào: “Ra về răng được mà về, bức thư chưa gửi lời thề chưa trao…”.

Tiết mục hát ví phường vải của cô làm Hồ Chí Minh xúc động. Người rút khăn tay chấm nước mắt khi nghe tiếng hát khơi gợi thời xa xưa của mình, sau đó nói với ông Nguyễn Sĩ Quế, Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An bấy giờ: “Nên khen cháu gái hát dân ca, vì ngày xưa người ta chỉ hát ví ở sân nhà, ngoài đồng, trên sông. Nay cháu đã mạnh dạn đưa lên sân khấu mà lại hát có tình có ý, nghe hay, có sáng tạo”.

“Sau này Ty văn hóa Nghệ An đã gửi thư khen ngợi tôi có cố gắng hát dân ca phục vụ Người về thăm quê hương”, Bà Vinh với giọng tự hào kể lại.

Hôm ấy, sau khi buổi diễn kết thúc, cả đoàn văn công sung sướng ra sân khấu chào Hồ Chủ tịch. Người nhanh nhẹn bước lên sát sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, tươi cười: “Các cháu diễn tốt Bác thưởng kẹo, có thích ăn kẹo không?” cả đoàn đồng thanh: “Thưa Bác có ạ”. Người nhìn khắp lượt xem chưa phát kẹo cho ai. Nhà thơ Xuân Tiến, cán bộ Ty văn hóa đưa hai tay ra thưa: “Cháu xin Bác”. Đầy vẻ hóm hỉnh, vị cha già dân tộc thu lại lẵng kẹo và nói: “Chú có phải diễn viên đâu mà cho chú”. Mọi người bật cười vui vẻ.

Người nữ văn công năm xưa Nguyễn Thị Lệ Vinh với những bức ảnh chụp với Bác Hồ. Ảnh: Tường Vi

Chưa đầy một năm sau, mùa hè 1962, đoàn văn công Nghệ An ra Hà Nội tập huấn để dự hội toàn miền Bắc. Tại đây bà Vinh lại có cơ hội gặp được Hồ Chí Minh lần nữa. Lúc ấy toàn miền Bắc đang có phong trào tiết kiệm gạo ủng hộ miền Nam, mỗi bữa chỉ có 2 lạng gạo, thêm phần luyện tập căng thẳng, thời tiết thì nắng nóng. Vậy mà khi biết đoàn được biểu diễn phục vụ Hồ Chủ tịch với vở chèo “Cô gái sông Lam” thì tất cả mọi người như được uống thuốc tiên vậy. Không ai kêu ca, không thiết nhọc nhằn, mệt mỏi gì nữa. Tất cả đều hăng say luyện tập trông chờ ngày gặp Người.

Khoảng 5 ngày sau, xe đoàn văn công Nghệ An đến Phủ Chủ tịch. Đây là lần đầu mọi người đến đây, mọi thứ đều hết sức mới lạ. Khi các văn công vào hóa trang, lại một lần nữa vị lãnh tụ làm mọi người bất ngờ. “Người đến sớm hơn thường lệ, vào thăm chúng tôi trước giờ diễn, vui vẻ hỏi quê quán từng người. Không khí căng thẳng ban đầu đã bị hóa giải bởi những lời hỏi han, những câu đùa thân mật của cụ”, bà Vinh kể.

Người nữ văn công nhớ: Với anh Nghĩa, quê ở Nghi Lộc, Người nhại lại bằng tiếng địa phương: “Nghi Lộc à? Con méo! Con méo!” (con mèo). Đến anh Thái Quang Ngoạn, trưởng đoàn quê ở Thừa Thiên – Huế, Người giả bộ lắc đầu: “Rứa là không phải Nghệ An bầy choa”. Mọi người cười rộ lên. Bà Vinh nói: “Cụ quay sang hỏi tôi. Tôi trả lời: “ Cháu ở Vinh ạ”. Người nhìn tôi gật đầu, nhớ ra cô gái hát dân ca ngày nào. Lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ, Cụ âu yếm hỏi đùa: “Cháu này cũng đi biểu diễn à?”. Rồi Người dặn dò chúng tôi diễn cho hay, Cụ sẽ ngồi xem đến hết”.

Sau buổi diễn, Người thưởng một huy hiệu Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Trung Phong, Trưởng phòng văn nghệ Ty Văn hóa là tác giả kịch bản. Cả đoàn lặng đi vì xúc động. Người chụp chung với đoàn văn công một bức ảnh làm kỷ niệm.

Sau đó Hồ Chủ tịch dặn các cán bộ phụ trách mời ăn bánh uống nước. Các đồng chí phụ trách chân tình trò chuyện: “Các cậu là sướng nhất. Trước tới nay, nhiều đoàn vào phục vụ, nhưng vì tuổi cao ít khi Bác xem quá một tiếng, thế mà hôm nay Người xem hơn 2 tiếng đồng hồ”. Chỉ từng ấy thôi đã khiến bao trái tim trong đoàn thổn thức, nhiều dòng nước mắt sung sướng và biết ơn dâng trào.

“Người đã giúp cho chúng tôi nhận thức đúng hơn về giá trị quan trọng của dân ca nói riêng và giá trị lớn lao của văn nghệ nói chung”, bà Vinh đúc kết.

* Nghe Lời Bác dặn trước lúc đi xa

Tường Vi
vnexpress.net

Ngành Y tế Thủ đô báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2013), ngày Bác viết thư động viên và giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Y tế; trong không khí sôi nổi của cả nước bước vào mùa Xuân mới, với khí thế thi đua lập thành tích mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sáng 26/12/2013, ngành Y tế Thủ đô đã tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo những thành tích đạt được trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân năm 2012. Tham dự buổi Lễ có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Giám đốc Sở, Ban Chấp hành Công đoàn ngành, lãnh đạo các phòng chức năng của Sở, các đồng chí lãnh đạo các đơn vị trong toàn ngành, đại diện cho hơn 17.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ngành Y tế Hà Nội.

Y te thu do bao congTS. TTƯT Nguyễn Khắc Hiền – Thành ủy viên, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội báo cáo thành tích ngành Y tế Thủ đô tại Lễ báo công

Năm 2012, ngành Y tế Thủ đô đã trải qua rất nhiều khó khăn phức tạp, nhưng được sự quan tâm của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố và của các cấp, các ngành, sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, ngành Y tế Thủ đô đã đạt được những thành tựu to lớn trong nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn Thủ đô, điển hình là chủ động tuyên truyền và triển khai đồng bộ các biện pháp giám sát dịch và xử lý phòng chống dịch bệnh tại các địa phương, kiểm soát và khống chế thành công các dịch bệnh trên địa bàn thành phố như cúm A/H5N1, sốt xuất huyến, dịch chân, tay, miệng…; chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở điều trị của thành phố ngày một nâng cao, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh ngày càng tốt hơn, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, chất lượng tốt được triển khai; mạng lưới y tế cơ sở luôn được củng cố và kiện toàn, các chương trình mục tiêu y tế quốc gia và của thành phố đều hoạt động có hiệu quả; đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống ngành Dân số Việt Nam, đầu tư xây dựng mới 5 trụ sở, cải tạo và nâng cấp 4 trụ sở của Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình các quận, huyện. Triển khai tốt công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo yêu cầu của Bộ Y tế và UBND thành phố; tăng cường công tác chỉ đạo tuyến và luân chuyển cán bộ, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 1816 của Bộ Y tế về việc cử cán bộ hỗ trợ các tỉnh Lai Châu và Điện Biên, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân các địa phương. Cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại thuốc, hóa chất phục vụ khám, chữa bệnh, phòng chống dịch, phòng chống thiên tai, thảm họa và các hoạt động lớn trên địa bàn. Công tác xã hội hóa trong Ngành được chỉ đạo triển khai ở nhiều đơn vị và đã phát huy hiệu quả tích cực góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho tuyến trên. Đã xây dựng và hoàn thành quy hoạch phát triển ngành Y tế Thủ đô đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, có kế hoạch xây dựng mới bệnh viện 1000 giường tại huyện Mê Linh và Bệnh viện Nhi Hà Nội tại huyện Đan Phượng. Duy trì phong trào thi đua trong toàn Ngành, năm 2012 đã có 3 thầy thuốc được đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, 32 thầy thuốc được đề nghị phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú, 01 Công dân Thủ đô ưu tú, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 01 Huân chương Lao động hạng Nhì, 03 Huân chương Lao động hạng Ba….

Hưởng ứng phong trào thi đua của UBND thành phố: “Phát huy truyền thống 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Đảng bộ – Chính quyền và nhân dân Thủ đô đoàn kết, năng động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015”, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Y tế Thủ đô xin hứa với Bác sẽ quyết tâm thực hiện những điều Bác căn dặn ngành Y tế, thực hiện y đức của người thầy thuốc, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Thành ủy, nhiệm vụ của Thành phố, kế hoạch năm 2013 của Ngành, xứng đáng là niềm tự hào của Thủ đô anh hùng./.

Lan Hương
Vkyno (st)

Dâng Người tiếng hát mùa Xuân

Những ngày đầu năm 2013, tiếp nối thành công Chương trình “Vang câu Quan họ bên Lăng Bác Hồ” của Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội biểu diễn Chương trình “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” đã đọng lại những tình cảm sâu đậm về Đảng, Bác Hồ, về mùa Xuân đất nước và hình ảnh người nghệ sỹ – chiến sỹ “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào và bầu bạn quốc tế đến tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hơn 12 giờ, gần 3 tiếng nữa mới đến giờ biểu diễn, mà hơn 70 cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội đã có mặt ở khu vực vườn tre phía Nam Lăng Bác. Dù những buổi hợp luyện trước tại Trường đã thuần thục, nhưng đến đây, bên Lăng Bác Hồ ai nấy đều bồi hồi xúc động. Thiếu tá Hồ Hoàng Hà, Giảng viên của Nhà trường, người dẫn chương trình, bày tỏ: “Được biểu diễn trước hàng tre bên Lăng Bác Hồ làm chúng tôi cảm xúc trào dâng. Dường như mình hát cho Bác nghe. Dường như hát ở nơi đây mỗi nghệ sỹ mới bộc lộ được những điều sâu kín, thiêng liêng để dâng lên Bác, mà bình thường mình không thể nói lên lời. Chỉ thông qua nghệ thuật, chúng tôi mới diễn tả được. Bởi Bác là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, nhưng thân thiết như người cha trong mỗi chúng tôi”.

Dang nguoi tieng hat mua xuan1Các nghệ sỹ, ca sỹ chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu tới tham dự buổi biểu diễn 

Chương trình được tổ chức vào chiều thứ Bảy, ngày 02/02/2013, nhưng dưới hàng ghế đại biểu có sự hiện diện của các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thủ trưởng Cục Tuyên huấn; Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp đối với các hoạt động văn hoá nghệ thuật ở Lăng Bác và đông đảo khán giả là các cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác Hồ, cùng đồng bào, khách quốc tế tham quan khu vực Lăng.

Mở đầu chương trình, dàn Quân nhạc đã vang lên các ca khúc “Chào mừng Đảng Cộng Sản Việt Nam”; “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi”; “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” và “Việt Nam quê hương tôi”, của các nhạc sỹ: Đỗ Minh; Huy Du; Trần Kiết Tường và Đỗ Nhuận. Tiếng kèn trầm bổng, hào hùng vang lên những giai điệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước, đã bừng lên sức Xuân và gieo vào lòng người niềm tin về mùa Xuân tươi đẹp của dân tộc.

Những tràng pháo tay rộn vang cổ vũ, nhưng chưa san lấp được khoảng cách không gian giữa các nghệ sỹ với khán giả. Bởi đây mới là buổi biểu diễn thứ hai của các nghệ sỹ, ca sỹ ở các đoàn nghệ thuật, nên đồng bào và du khách quốc tế còn phần nào e ngại. Sau khi Thiếu tướng, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu: “Năm tới Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội sẽ phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp tục tổ chức các chương trình văn hóa văn nghệ ở Lăng Bác Hồ. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng, nên mọi người hãy tiến lại gần và có thể giao lưu, múa cùng nghệ sỹ”, mọi người đều cảm nhận thật gần gũi, cùng xích lại gần hơn, để cảm nhận rõ hơn những tiết mục biểu diễn của các nghệ sỹ, ca sỹ.

Tiếp nối phần nhạc dân tộc với các tiết mục: Hòa tấu: “Nhã nhạc cung đình Huế”; đọc tấu sáo: “Cánh chim tự do” và đọc tấu đàn bầu “Cung đàn đất nước” do dàn nhạc dân tộc, cùng các nghệ sỹ Vàng Minh Dương và Thu Thủy  thể hiện. Vẫn ca khúc ấy, rất đỗi quen thuộc, mà hôm nay, giữa không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử, lòng người bỗng thấy dạt dào, xao xuyến, rưng rưng. Trong niềm vui đó, chị Phạm Thanh Hằng, ở Ba Đình Hà Nội đã chia sẻ : “Lời ca, tiếng hát của các ca sỹ đã giúp tôi hiểu thêm về Đảng, về Bác Hồ, về con người và đất nước. Tôi thật sự tự hào mình là người Việt Nam. Và thông qua những chương trình như thế này, tôi cảm nhận mọi người càng thêm tin yêu đất nước chúng ta”. Ông Nguyễn Bá Tống, đến từ Phú Thọ mong muốn: “Văn hoá văn nghệ giúp tôi tinh thần thoải mái hơn, sức khoẻ tốt hơn. Tôi mong muốn mỗi tháng ít nhất được xem một chương trình văn nghệ bổ ích như thế này”. Không chỉ đồng bào trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài chưa hiểu rõ tiếng tiếng Việt, chưa hiểu hết những nét đẹp truyền thống văn hoá của Việt Nam, nhưng qua giai điệu các bài hát và ngôn ngữ của âm nhạc, họ đều chăm chú dõi theo và trầm trồ khen ngợi.

Sôi động với những bài ca: “Chúng con canh giấc ngủ cho người”; “Anh hùng Núp”; “Tình ca Tây Nguyên”; “Bài ca người lính”; “Vệt nắng”; “Chuyện đời lính”; “Nắng thao trường”, do các ca sỹ trẻ : Minh Thế; Thúy Hà ; Mai Trang; Đông Hùng và dàn nhạc dân tộc thể hiện, đã tạo nên một âm hưởng mới, âm hưởng khát vọng của tuổi trẻ về mùa Xuân, về cuộc sống và nhiệm vụ của những người chiến sỹ. Vừa được hát cho Bác và mọi người nghe, nghệ sỹ Mai Trang – Giảng viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội bồi hồi xúc động: “Đây là một vinh dự đặc biệt, đối với bất cứ ca sỹ, nghệ sỹ nào cũng mong muốn được hát cho Bác nghe và được đem nét đẹp truyền thống văn hoá của đất nước mình phục vụ đồng bào, khách quốc tế”. Nghệ sỹ Mai Trang còn mong muốn có nhiều chương trình giao lưu văn nghệ giữa các chiến sỹ làm nhiệm vụ bên Lăng Bác và học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.

Tiết mục song ca “Mừng Xuân mới” do Mai Trang cùng Đông Hùng và dàn nhạc thể hiện đã khép lại chương trình nghệ thuật “Dâng Người tiếng hát mùa Xuân”. Hơn một giờ đồng hồ, các đại biểu và khán giả được đắm mình trong không gian nghệ thuật tràn ngập âm hưởng của mùa Xuân, lay động lòng người của dàn quân nhạc, nhạc cụ dân tộc và những lời ca, tiếng hát của các giảng viên, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. Chương trình nghệ thuật“Dâng Người tiếng hát mùa Xuân” thực sự là món quà tinh thần giàu ý nghĩa, một chương trình nghệ thuật đích thực cả về âm nhạc lẫn thị giác dành cho khán giả, nhân dịp “Mừng Đảng, mừng Xuân” của đất nước. Thay cho lời kết, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đại biểu, các ca sỹ, nghệ sỹ cùng đồng bào, khách quốc tế và chúc : “Cán bộ, giảng viên, học viên Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội tiếp tục thành công trên con đường hoạt động nghệ thuật và nhiệm vụ “trồng người”, ươm nhiều tài năng nghệ thuật phục vụ Quân đội, phục vụ đất nước và thường xuyên đến biểu diễn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Bức huyết thư gửi tới Bác Hồ của người tử tù chỉ huy biệt động Sài Gòn

Việt Nam - Hồ Chí MinhĐó là liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người chỉ huy mưu trí can trường của Ban Công tác Một – tiền thân lực lượng biệt động Sài Gòn ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Một người tử tù với 2 bản án tử hình trong hầm tối đã viết huyết thư gửi lên Bác Hồ và trên pháp trường đã ra cho kẻ địch ba điều kiện: Không cần trói, không cần bịt mắt và được hát Quốc ca. 15 năm sau cũng tại trường bắn này đã xuất hiện liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với tư thế hiên ngang bất tử như thế. Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi thì cả nước đã biết, còn liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính – người lãnh đạo tiền thân của biệt động Sài Gòn nức tiếng thì bao điều vẫn còn bỏ ngỏ…

Tung hoành giữa Sài Gòn

Liệt sỹ anh hùng Nguyễn Đình Chính sinh ra ở làng Nguyễn, huyện Đông Hưng, Thái Bình, sau lên sinh nhai ở Thị trấn Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 4 năm 1944, anh vào Sài Gòn làm tại Xưởng Sửa chữa tàu Ba Son của Hải quân Pháp. Chỉ mấy tháng làm lính, Chính đã nhận ra cái “vỏ” bình đẳng trong Hải quân Pháp và anh đã cùng thầy đội Thăng – người thường đứng về lính thợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đánh chìm chiến hạm Su – ren của Pháp. Tiếc rằng kế hoạch đang tiến hành thì bị lộ, thầy đội Thăng bị bắt còn Nguyễn Đình Chính bị địch truy nã.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Đình Chính được cách mạng giao nhiệm vụ huấn luyện 2 Tiểu đoàn dân quân địa phương để lùng bắt những ổ cướp trong vùng Lộc Ninh, Dầu Tiếng. Khi tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu, anh trở về mặt trận Lái Thiêu là Trưởng ban Ban Võ khí, rồi làm Trưởng ban Ban Công tác Một – đơn vị tiền thân của biệt động giữa sào huyệt giặc Pháp ở Sài Gòn. Ban Công tác Một do Nguyễn Đình Chính chỉ huy chiến đấu trong hoàn cảnh vũ khí cực kỳ thiếu thốn. Có súng lại không đạn, lựu đạn làm ra nhiều nhưng nổ ít, có khi ném trúng địch rồi, lựu đạn không nổ, địch quay ra tấn công lại. Nhưng dưới sự chỉ huy tài trí, dũng cảm của anh, tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn Ban, đơn vị đã chiến đấu nhiều trận và lập nhiều chiến công làm nức lòng nhân dân Sài Gòn, làm cho kẻ thù khiếp sợ, báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp quyết liệt đã bắt đầu ngay tại sào huyệt của chúng.

Xin trích một số đoạn nhật ký được chép lại từ sổ tay ghi lại những trận đánh mà đơn vị Nguyễn Đình Chính trực tiếp thực hiện: “… Tên Cố vấn Hội đồng Nam Kỳ Bê-đi-a bị ám sát bằng lựu đạn ở góc đường Ta-be Véc-đoong. Lựu đạn nổ, tên này bị thương. Vụ ám sát tên Đông Phương Sóc, cảnh sát đặc biệt miền Đông “P.S.E” ở đường Nô-rô-đôm làm tên này bị thương. Một ổ phản động do tên Nguyễn Trọng Hiền cầm đầu bị giết trọn 5 mạng bằng dao găm ở 218 đường La-gơ-răng-đi-rơ. Tên Nguyễn Văn Khoa – nhân viên sưu tầm đặc vụ ở Ca-ti-na bị giết bằng dao găm ở đường Gác-sơ-ri. Tên Ba-lư – một tên khát máu ở Sở Liêm phóng Ca-ti-na bị quân ta vô tận nhà tước khí giới và đâm ba nhát dao. 30.000 lít xăng của địch bị tiêu hủy ở Nhà Bè. Hai Việt gian nghênh ngang qua cầu chữ Y làm tiền bị thủ tiêu… Đặc biệt trận đánh cách đây đúng 60 năm đêm 30 Tết  Đinh Hợi 1947, sau Ban Công tác nội thành Sài Gòn mà nòng cốt là Ban Một đã đồng loạt tiến công nhiều bốt Đồn cảnh sát địch. Ban công tác Một đã bất ngờ tập kích vào các bốt cảnh sát địch ở cầu Mac-ma-hông, cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè… gây sự khủng khiếp trong hàng ngũ giặc…”

Theo bản cáo trạng của Toà án Pháp thì chưa đầy hai năm, Nguyễn Đình Chính đã chỉ huy và cùng Ban Công tác Một tham gia chiến đấu 57 trận lớn nhỏ giữa Sài Gòn, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ, từng được giao trọng trách bảo vệ Khu trưởng Nguyễn Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) giữa sào huyệt giặc.

Trưa 16 – 2 – 1947, Nguyễn Đình Chính cùng đồng chí Bát Tròn đã bị Mật thám Pháp bắt khi đến một cơ sở ở quận Phú Nhuận lấy tiền mua thuốc chạy chữa cho một trinh sát trẻ bị thương.

Được tin bắt được Nguyễn Đình Chính, cả bọn mật thám đến xem mặt anh. Tên Ba Danh – Chánh mật thám liên bang trực tiếp chỉ huy tra khảo. Hắn giở trò mua chuộc Chính hòng moi danh sách cán bộ chiến sỹ trong Ban Công tác Một, các ngoại kiều, trí thức, tư sản Việt Nam mà Trung tướng Nguyễn Bình đã gặp. Ba ngày đầu chúng bắt Chính ngồi xem chúng tra tấn Bát Tròn. Ngày thứ tư, hàng chục đứa dùng gậy, dùng búa thi nhau đánh, đánh để Chính khai và cũng để trả thù những cuộc tấn công do anh chỉ huy đánh thẳng vào lực lượng mật thám và cảnh sát địch. Chính đau quá chết ngất, tỉnh lại, chúng lại đánh tiếp. Chúng cùm tay, cùm chân, đóng hàm thiếc vào mồm để anh không chửi chúng được. Bọn Hải quân Pháp cũng đến kết hợp tra tấn. Song tất cả mọi kỹ thuật tra tấn hiện đại của người Pháp đều bất lực trước ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối của Nguyễn Đình Chính. Trong lúc bị tra tấn, có cơ hội là Nguyễn Đình Chính lên án thực dân Pháp. Một lần, anh đã dùng cả hai tay bị còng đập vỡ mặt một tên mật thám. Suốt 3 tháng ròng tra tấn dã man không moi được gì, đầu tháng 5 năm 1947, địch buộc phải đưa Nguyễn Đình Chính vào Khám lớn Chí Hoà. Tại đây, anh đã cùng lực lượng xung kích dẹp nạn “đầu gấu” trong tù, làm cho không khí trong tù đỡ ngột ngạt hơn.

Tháng 10 năm 1947, Toà án binh thủy quân Pháp đã tuyên án tử hình Nguyễn Đình chính vì hai tội: “Âm mưu đánh đắm chiến hạm Su-ren của Pháp và tội đảo ngũ”. Tuyên án xong lập tức Nguyễn Đình Chính bị chúng đưa xuống hầm tử hình 18A – Khám lớn Chí Hoà. Ít lâu sau, thực dân Pháp còn mở tiếp một phiên toà để xử Nguyễn Đình Chính về tội “chống lại nhà cầm quyền Pháp, làm tan rã quân đội Pháp… phương hại đến an ninh quốc gia (!)” và tuyên tiếp bản án tử hình thứ hai. Tại phiên toà này, Nguyễn Đình Chính đã đanh thép đọc bản tự bào chữa bằng tiếng Pháp. Lời văn sâu sắc, giọng nói hùng hồn, Nguyễn Đình Chính đã biến pháp trường thành nơi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, chỉ ra tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Hồi tôi và anh Bình (Trung tướng Nguyễn Bình) ở căn cứ Vườn Thơm, đôi lần Nguyễn Đình Chính từ Sài Gòn ra báo cáo. Lực lượng võ trang của ta một hai năm đầu kháng chiến còn non trẻ, nhất là Thành phố đã bị chiếm như Sài Gòn, địch hơn hẳn ta về quân số và vũ khí, nhưng Chính nổi tiếng là một chỉ huy gan góc. Bị địch bắt, Chính chịu đựng mọi cực hình tra tấn. Các đồng chí cùng ở tù với Chính đều ca ngợi, kính phục. Anh ấy lạc quan cho tới khi ra pháp trường…”.

Trong những ngày đợi chờ lên đoạn đầu đài, Nguyễn Đình Chính đã chạy đua với thời gian: Tìm cách vượt ngục, viết huyết thư gửi lên Bác Hồ, hồi ký, nhật ký, viết báo, viết thư cho mẹ đẻ, cho người má nuôi, cho người yêu của mình là Nguyễn Thị Phẩm. Nguyễn Thị Phẩm cũng là một nữ biệt động Ban Công tác Một – người con quê hương Thái Bình. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, tình yêu của họ đã nảy nở. Hai người yêu nhau, rất gần nhau mà không dám công khai báo cáo tổ chức, không dám làm đám cưới. Bởi như vậy, họ không được ở nội thành trực tiếp chiến đấu. Trong hai cuộc kháng chiến có những mối tình cao cả và thiêng liêng như thế!

Bức huyết thư từ hầm tối gửi tới Bác Hồ

Trong những ngày ở hầm tối Khám lớn Chí Hoà. Nguyễn Đình Chính đã nhờ người má nuôi tìm cách chuyển ảnh Bác Hồ vào trong hầm tối và nhờ má tìm cách chụp được bức hình của anh dưới địa ngục trần gian để gửi tới Bác. Tấm ảnh Bác Hồ đã vượt qua bao vọng gác nghiêm ngặt của nhà tù xuống hầm tối nơi giam giữ người tử tù Nguyễn Đình Chính. Đặc biệt ngay sau khi lĩnh tấm thẻ bài tử hình thứ hai, về đến hầm tối, trước tấm hình người Bác kính yêu, Nguyễn Đình Chính đã lấy máu viết liền 4 trang huyết thư gửi tới Bác Hồ, trong đó có đoạn : “Thưa Cha, con sung sướng vì Người Cha bất diệt sẽ nhận được vài hàng vĩnh biệt của đứa con yêu… Gần hai năm trời đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, con, một chiến sỹ ly hương chỉ biết đem xương máu ra phụng sự Tổ Quốc. Con đã thi hành hết nhiệm vụ và bổn phận để xứng đáng là trai thời loạn, là con của Cha… Ngày chết của con lặng lẽ tới lúc nào? Con chưa hề thấy nao lòng với cái chết. Con thiết nghĩ đã là chiến sỹ thì chết ở cảnh nào cũng vì Tổ Quốc. Bao cái chết anh dũng của các chiến sỹ Việt Nam vẫn sáng tỏ và in sâu trong tâm trí con… Sau khi dừng bút con trịnh trọng đặt bức thư này trên bàn thờ Tổ Quốc, bày biện đơn sơ, quay mặt về hướng Bắc, gửi tới Cha tất cả lòng kính trọng của đứa con yêu sắp trả xong nợ nước..”

Sáng 9/2/1949, Giặc Pháp đã đem xử tử hình Nguyễn Đình Chính tại trường bắn Chí Hòa. Nguyễn Đình Chính lúc này mới 24 tuổi. Luật sư Nguyễn Chí Vịnh người đã có mặt trong trường bắn kể lại: “Nguyễn Đình Chính rất bình tĩnh ra ba điều kiện: Không cần bịt mắt, không cần trói và được hát Quốc ca”. Nguyễn Đình Chính đã ngã xuống và lặng lẽ hóa thân vào đất mẹ. 45 năm sau Đảng, Nhà nước mới truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sỹ cho anh. Tại thành phố mang tên Bác có một mái trường và một con đường mang tên Nguyễn Đình Chính và ở Thành phố Thái Bình quê hương cũng có một con đường mang tên anh.

Thật không ngờ 15 năm sau cũng tại trường bắn này lại xuất hiện người anh hùng với những hành động, lời nói hiên ngang bất khuất, một tình yêu lứa đôi sâu nặng, một tình yêu đất nước nồng nàn, một tấm lòng kính yêu Bác vô hạn. Đó chính là liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi! Bất chấp mọi ngón đòn tra tấn dã man của kẻ thù Mỹ – Ngụy, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trên pháp trường anh Trỗi đã bình thản nhìn thẳng vào mười họng súng của kẻ thù và trước khi hy sinh anh đã gọi Bác kính yêu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Liệt sỹ Anh hùng Nguyễn Đình Chính, liệt sỹ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi  – những liệt sỹ biệt động quả cảm anh hùng, sự tiếp nối tuyệt vời lòng kính yêu và ngưỡng vọng Bác Hồ .

Lã Quý Hưng
Theo Thaibinh.gov.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện nhỏ về Bác Hồ với Tết trồng cây

Những năm 60 của thế kỷ trước, tôi là cán bộ phòng tuyên truyền của Tổng cục Lâm nghiệp. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, cán bộ tuyên truyền ngành lâm nghiệp chúng tôi lại bận rộn vô cùng. Đó là việc chuẩn bị cho “Tết trồng cây” do Bác Hồ khởi xướng.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Năm 1969, không ai ngờ đó là năm cuối cùng Bác Hồ đi trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây cũ). Tôi là người được bác Nguyễn Tạo – Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – cử đi đưa công văn lên Văn phòng Phủ Chủ tịch. Công văn báo cáo việc trồng cây của các tỉnh và kế hoạch phát động “Tết trồng cây”, đồng thời đề xuất, bố trí địa điểm để Bác chọn và đến trồng cây.

Năm ấy,  đọc xong  báo cáo của các tỉnh, Bác đề nghị ông Nguyễn Tạo mời Bí thư tỉnh Nghệ An cùng đến Phủ Chủ tịch để báo cáo  thêm những vấn đề xung quanh về “Tết trồng cây”. Thấy Bí thư Nghệ An xách chiếc cặp to, Bác hỏi luôn: “Cặp của chú đựng gì mà to thế?”. Đồng chí bí thư bị hỏi bất ngờ nên hơi lúng túng: “Dạ thưa Bác, cháu mang đủ tài liệu của tỉnh để báo cáo Bác”. Bác bảo: “Hôm nay Bác không hỏi chú  nhiều, mà chỉ hỏi một việc về Tết trồng cây của tỉnh chuẩn bị và đã thực hiện như thế nào”.

Nghe đến đây, Bí thư Nghệ An thở phào nhẹ nhõm, liền báo cáo Bác: “Thưa Bác, năm nay Nghệ An đã phát động “Tết trồng cây” sớm, hiện đã trồng được một triệu bảy nghìn sáu trăm tám mươi cây, và sau cấy,  chúng cháu sẽ trồng tiếp mười lăm nghìn cây nữa ạ!”. Nghe xong Bác khen: Tỉnh Nghệ An quê Bác trồng cây như thế là tốt. Nhưng Bác muốn hỏi, Nghệ An trồng hàng triệu cây, vậy có bao nhiêu cây chết, chú có cho đếm được không?

Đồng chí bí thư không trả lời được, Bác nói tiếp: Nghệ An cũng là quê Bác, các chú làm không tốt thì Bác vui sao được, các chú chỉ nghĩ đến thành tích mà không nghĩ đến hậu quả, thế cũng là chưa thật thà với nhân dân. Trồng cây nào phải sống tốt cây ấy, phải biết chăm sóc cây, không để lãng phí công sức và của cải vật chất. Vậy “Tết trồng cây” năm nay Nghệ An phải làm tốt hơn nữa để bác vui.

Đồng chí bí thư xin hứa thực hiện thật tốt lời dặn dò vừa thân tình vừa như phê bình nhẹ nhàng của Bác. Quay về phía đồng chí Nguyễn Tạo, Bác nói: Chú Tạo phát động báo chí viết bài chú ý đến việc trồng cây nào sống tốt cây ấy.

Mấy ngày sau, trên báo Nhân Dân đã có bài  “Trồng cây nào sống tốt cây ấy” của Bác. Xúc tiến những chỉ thị của Bác, một tuần sau, các báo đều đồng loạt có bài viết về “Tết trồng cây”, phát động phong trào “Ông trồng cháu chăm”, rồi hàng loạt tranh cổ động in ra với câu ca: “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Vâng lời bác dạy ta gây nên rừng…”. Lúc đầu “Tết trồng cây” còn là phong trào quần chúng,  chưa có quy hoạch cụ thể, vì thế chất lượng cây trồng chưa cao, từng vùng chưa chọn giống cây phù hợp. Sau này khi đi kiểm tra, đồng chí Võ Nguyên Giáp thấy nhiều đồi cây ít được chăm sóc, vì thế đã đề xuất: Thà có một cánh rừng của nhân dân còn hơn để đồi trọc của Nhà nước. Và cũng chính vì ý kiến ấy mà một số chính sách của Nhà nước đã dần dần phù hợp với đời sống, nguyện vọng của nhân dân. Việc giao đất, giao rừng cho gia đình và tập thể hoặc cá nhân đã được thực hiện.

Tết này của năm Quý Tỵ – 2013, đã hơn nửa thế kỷ, lời kêu gọi của Bác Hồ và chính Bác phát động “Tết trồng cây” vẫn mãi còn giá trị và đã đi vào nếp sống thường nhật của nhân dân. Đó là nếp sống văn hóa đầy tính nhân văn, song rất hiệu quả về kinh tế. Tầm nhìn của Bác như đã thấy trước những nguy hại của hiệu ứng nhà kính, của nền công nghiệp hiện đại đang hủy hoại môi trường, và cũng vì thế mà Bác nói: Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và chăm sóc.

Ấy thế mà nhiều cánh rừng của chúng ta hôm nay đang bị xâm hại, lâm tặc đang hoành hành, sự quản lý lỏng lẻo, thậm chí một vài nơi kiểm lâm còn tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, đấy là tội ác! Giờ đây, mỗi lần Tết đến, chúng tôi lại càng nhớ những ngày đầu xuân được đi theo Bác trồng cây. Bác làm thơ, viết báo, lại còn  trực tiếp đi trồng cây, nói chuyện với nhân dân, vận động mọi người tham gia thiết thực “Tết trồng cây”. Tôi cũng được biết, câu thơ “ Mùa xuân là Tết trồng cây / Làm cho đất nước mỗi ngày một xuân”, sau Bác sửa thành “càng ngày càng xuân”. Nhớ lời Bác, chúng ta hãy giữ vững và phát huy nét đẹp ấy trở thành một mỹ tục làm cho “Tết trồng cây” như một ngày hội lớn và đó chính là chúng ta  đã biết “Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh” không trở thành hình thức.

TRẦN TRƯƠNG
baodanang.vn

Bác Hồ với báo Tết của thiếu nhi Hải Dương


Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam Tết 1969.

Mùa Xuân này các bạn và các em có thể xem hàng trăm loại báo tết, trình bầy đẹp đẽ về hình thức, phong phú về nội dung, thể tài với nhiều khuôn khổ khác nhau theo tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo. Nhưng các bạn và các em khó tìm thấy một tờ báo ra đời cách đây hơn 60 năm của các em thiếu niên nhi đồng ở một tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Tờ báo ấy bản in gốc nay chỉ còn ở Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Đó là tờ báo “Xung phong” cơ quan ngôn luận của thiếu nhi yêu nước tỉnh Hải Dương – số tết Mậu Tý, khổ 20*16 dày 16 trang, do anh Quản Tập chủ biên.

Báo “Xung phong” được in hai mầu đỏ và đen, ngoài bìa 1 có vẽ hình hai em bé, một nam, một nữ đứng bên nhau, bụ bẫm, xinh xắn tươi cười hướng về tương lai. Giữa bìa là cảnh một cây nêu bằng ngọn mác xuyên thủng tên thực dân Pháp mũi lõ. Phía xung quanh chân cây “nêu” là bầy các em nhỏ đang quây quần ríu rít. Phía xa nữa là cảnh làng quê lũy tre xanh, lô nhô cờ đỏ sao vàng.

Ngay tết năm ấy, báo vừa xuất bản xong hãy còn thơm mùi mực, các em bàn nhau gửi lên chiến khu Việt Bắc kính biếu Bác Hồ. Bác nhận được báo “Xung phong” đúng vào dịp Tết Nguyên đán năm đó. Đọc xong, Bác tự tay đánh máy vào tấm danh thiếp một bức thư trả lời bằng 8 câu thơ lục bát:

“Bác nhận được báo “Xung phong”
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành.
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật mới thành cháu ngoan.
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn”.

Vậy là trong làng báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và Lịch sử, danh mục báo chí ở Việt Nam, có thêm tư liệu về tờ báo“Xung phong”. Càng vinh dự đó là tờ báo yêu nước đầu tiên của trẻ em cấp tỉnh lại được Bác Hồ gửi thư khen, động viên các cháu. Xuân Mậu Tý (1948) các cháu kính biếu báo tết Bác, Bác tặng thơ các cháu, cả hai món quà đều ý nghĩa. Già yêu trẻ, trẻ kính già.

LÊ HỒNG THIỆN
baohaiduong.vn

Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn

Những tiên đoán về Hồ Chí Minh

QĐND – Đối với các thiên tài và vĩ nhân, người ta không thể đánh giá cao thấp, mà chỉ có thể xem xét, đánh giá họ qua phát hiện và giải quyết những nhiệm vụ mà thời đại đã đặt ra cho nhân loại hoặc cho dân tộc mình. Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta là như vậy.

Tiên đoán của cụ Phan Châu Trinh

Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan luôn dành cho Anh một niềm tin và cả sự tôn trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Trong một bức thư đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã viết rằng: Nguyễn Ái Quốc “như cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan tin rằng, không bao lâu nữa “cái chủ nghĩa mà Anh tôn thờ (ý nói chủ nghĩa Mác – Lê-nin) sẽ sâu rễ bền gốc trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, trước khi qua đời cụ Phan đã thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng: ”Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”(1).

Tiên đoán của một nhà thơ lớn của Liên Xô

Vào năm 1923, khi Nguyễn Ái Quốc làm việc ở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va, một lần nhà thơ Liên Xô là Ô-xíp Man-đen-xtam đến thăm Nguyễn Ái Quốc. Trả lời câu hỏi của nhà thơ, vì sao phải ra nước ngoài hoạt động, Nguyễn Ái Quốc đã nói: Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng, bác ái… tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những từ ấy. Chuyến thăm này đã được Ô-xíp Man-đen-xtam viết lại trong bài “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản” (trên tờ báo “Tia lửa nhỏ”, Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1923). Trong bài báo nói trên, nhà thơ đã nhận xét: “Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là văn hóa tương lai…”(2).

Tiên đoán của luật sư F.H Lô-dơ-bai

Vào năm 1931, trong thời kỳ hoạt động Cách mạng ở Hồng Công, Bác Hồ đã bị cảnh sát Hồng Công bí mật bắt giam theo “đặt hàng” của mật thám Pháp. Biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu đã đến gặp luật sư Phrăng-xít Hăng-ri Lô-dơ-bai – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Công nhờ giúp đỡ. Luật sư F.H Lô-dơ-bai với những thông tin về Nguyễn Ái Quốc và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã không ngại nguy hiểm, khó khăn, qua 9 phiên tòa xét xử, bác bỏ những cáo buộc của thẩm phán, cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nanh vuốt của thực dân Pháp. Sau này, ông nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

———-

(1) – Theo “117 chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh” – Ban Tuyên giáo Trung ương.

(2) – Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, HN,1981, Tr 477,478.

LỆ CHI
qdnd.vn