Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn