Tag Archive | Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1920)

NĂM 1920

Tháng 1, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc cùng với một số trí thức Việt Nam dự cuộc họp của Hội địa dư Pháp thảo luận về quyền tự quyết của người Triều Tiên, có đề cập đến vấn đề Đông Dương.

            – Thư của Pie Ghétxđơ, Tổng thanh tra kiểm soát người Đông Dương tại Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đề ngày 12-10-1920. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 14

Hồi 20 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc nói chuyện với các đồng chí thanh niên nhóm 14 (Camarades de la 14c jeunesse) về đề tài Sự tiến triển trong xã hội của những dân tộc vùng châu Á và những lời yêu cầu của xứ An Nam, tại số 3 đường Satô (Château), có khoảng 70 người tham dự.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, sau ngày 16, trước ngày 30

Nguyễn Ái Quốc cho in một số truyền đơn để trả lời những bài báo của Anbe đơ Puốcvin (Albert de Pourville), đăng trên báo La Dépêche coloniale9 viết về Đông Dương. Nội dung truyền đơn vạch rõ những luận điệu xuyên tạc của các bài báo đó.

         – Báo cáo mật ngày 30-1-1920 của Văn phòng Tổng Giám đốc Sở An ninh Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 19

20 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi xem hát ở rạp Nuvô Liricơ (Nouveau Lyrique). Trong khi trò chuyện với một người Việt Nam quen biết cùng đi, Nguyễn Ái Quốc cho biết đang chuẩn bị tài liệu để viết một quyển sách về tình hình Đông Dương, dự định đặt tên là Những người bị áp bức (Les opprimés).

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, trước ngày 29

Nguyễn Ái Quốc nhờ một người Việt Nam quen thân đánh máy một số đoạn cắt trong nhiều sách đã in để làm tài liệu cho cuốn sách đang viết Những người bị áp bức và tỏ ý muốn nhờ mua một số ảnh chiếu để minh hoạ những buổi nói chuyện về tình hình Đông Dương.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc gặp một sinh viên Trung Quốc tên là Tjo So Wang ở nhà số 6, phố Gây Luyxắc. Người này đến Pari vào tháng 8-1919, ở nhà số 159 đại lộ Môngpácnaxơ.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1

Nguyễn Ái Quốc liên hệ với Văn phòng Thông tin của Cộng hoà Triều Tiên đặt tại Pari và được Văn phòng này đồng ý dành mọi điều kiện dễ dàng trong việc sử dụng tất cả những tài liệu, thông tin, tạp chí, đặc biệt là những sách báo tiếng Anh viết về vấn đề thuộc địa, trong đó có tờ Korea Review phát hành ở bang Philađenphia (Mỹ), do nhóm sinh viên người Triều Tiên phụ trách.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của những đảng viên Xã hội. Nhân buổi họp đó, anh phát được một số truyền đơn về bản Yêu sách.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 6

Hồi 9 giờ, Lâm đến nhà Nguyễn Ái Quốc để sắp xếp những đoạn trích trong cuốn sách Những người bị áp bức (Les opprimés) mà anh đang dự định viết.

Hồi 11 giờ 45, Lâm ra về, Nguyễn Ái Quốc đưa cho Lâm một lá thư gửi về Huế, người nhận là Ngô Can, nhờ chuyển lại cho Phong, địa chỉ: Sở Công chính Huế.

Nguyễn Ái Quốc nhờ Lâm ra bờ sông Xen tìm mua cho anh một ít sách có in những báo cáo của Métximi (Messimi) và Viôlê (Violet) để trích đoạn cho cuốn sách đang viết.

            – Mật báo của Giăng. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.141.

Tháng 2, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc trình bày đề tài Chủ nghĩa bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản Quận 2. Anh còn nói về vấn đề ruộng đất công ở Trung Quốc và Việt Nam.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, trước ngày 19

Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ và nói chuyện với một người lính Việt Nam. Câu chuyện đó như sau:

Người lính: Ông đến Pháp để làm một nghề gì chứ?

Nguyễn Ái Quốc: Chỉ khi nào bọn Pháp rút hết khỏi Việt Nam, tôi mới có một nghề.

Người lính: Chúng tôi rất hạnh phúc được về Đông Dương. Chúng tôi sẽ ăn Tết ở nhà.

Nguyễn Ái Quốc: Làm sao anh có thể nhắc đến hạnh phúc được? Anh có biết rằng bao nhiêu người Việt Nam đã chết ở Pháp mà không có ích gì cho Tổ quốc của mình không?

            – Báo cáo của mật thám Giắccơ (Jacques). Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ và nói chuyện với một người lính Việt Nam. Anh hứa với người lính sẽ tặng vài số báo, nhưng chưa in được. Anh nêu ý định viết một cuốn sách bằng tiếng Việt phân phát cho binh lính người Việt để họ nhớ tới đất nước mình.

            – Báo cáo của mật thám Giắccơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (tức Duy Tân) gửi cho chủ nhiệm báo L’Humanité.

         – Báo cáo của mật thám Giắccơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, sau ngày 9

Nguyễn Ái Quốc gặp Mácxen Casanh và Giăng Lôngghê hỏi về việc thư của Hoàng thân Vĩnh San không được báo L’Humanité đăng.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, trước ngày 12

Nguyễn Ái Quốc được báo L’Humanité mời đến trụ sở để cho xem và hỏi ý kiến về bức thư của Hoàng thân Vĩnh San đòi độc lập cho Việt Nam.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc gặp một người Việt Nam tên là Lâm, báo tin đã viết xong cuốn sách Những người bị áp bức.

Anh nói với Lâm về ý định gặp Mácxen Casanh và Giăng Lôngghê đề nghị viết lời tựa cho cuốn sách, và cho Lâm biết đã dành được 300 phrăng để in, sau đó sẽ đến Pông (Pons) làm nghề chụp ảnh để có tiền in lần thứ hai cuốn sách đó.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc nhận được phác thảo bản vẽ bìa cuốn sách Những người bị áp bức do một đảng viên Xã hội trẻ tuổi là hoạ sĩ trang trí vẽ giúp. Nội dung bản vẽ:

Trên bản đồ Đông Dương được trình bày như một con vật dính đầy máu bị trói trong dây xích, nổi lên hình ảnh một tên lính thuộc địa đang giơ tay đánh.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc nói chuyện với thanh niên Quận 13, Pari về chủ nghĩa xã hội.

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ (Devèze). Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc gặp ông Bácđê (Bardet), Thư ký Hội liên minh nhân quyền tại số 6, phố Xơ Rôdali (Soeur Rosalie).

Cùng ngày, anh nhận được nhiều thư gửi từ Anh, Cuba, Bắc Mỹ và Đông Dương.

         – Báo cáo của Giám đốc Tổng mật vụ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, trước ngày 29

Mấy hôm liền, Nguyễn Ái Quốc tiếp ông Bạch Thái Tòng, thợ chụp ảnh ở Xoátxông (Soissons) đến gặp để mượn sách.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc dự mít tinh kỷ niệm ngày 1-5 với nhóm đảng viên Xã hội ở Cremlanh – Bixéttơrơ (Kremlin – Bicêtre). Anh đã lên diễn đàn, đề cập đến vấn đề đang được bàn trên báo L’Humanité“Chương trình hoạt động của nhóm Xã hội đòi ngừng gửi người thuộc địa sang Pháp”.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc đến Bệnh viện Van đơ Graxơ (Val de Grâce) nơi quản Lâm làm việc để thăm anh, anh bị phạt không được ra khỏi bệnh viện, vì anh đã đình công hôm 30-4.

Nguyễn Ái Quốc đã đem báo đến cho Lâm cùng những tin tức của ngày 1-5.

            – Mật báo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.148.

Tháng 5, ngày 5

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Tại Đông Dương đăng trên báo L’Humanité.

Bài viết nêu rõ: “Tại Hải Phòng cũng có những buổi đình công của lính thuỷ. Sự kiện này đã diễn ra vào ngày 15-8 vừa qua, khi hai chiếc tàu sửa soạn đưa một số lớn lính thợ An Nam sang Xiri.

Tốp thợ trên đã từ chối không chịu làm việc, lấy cớ là họ không được trả lương bằng tiền đồng. Hiện thời giá đồng bạc Đông Dương được vào “khoảng 10 quan thay vì 2 quan 50”. Những hãng chuyên chở hàng hải này đã lợi dụng một cách quá đáng, họ trả lương thuỷ thủ bằng tiền phrăng, trong lúc đó công chức được lĩnh đồng bạc Đông Dương.

Người ta bắt mọi người rời khỏi tàu, và những người trong ê kíp đều bị bắt”.

Bài báo viết: “Chúng tôi quyết liệt chống việc gửi lính người An Nam sang Xiri”.

Nguyễn Ái Quốc tố cáo: “Nước Pháp đã để hàng ngàn đồng bào chúng tôi chết đói, và hàng ngàn người bị làm bia thịt cho đạn đại bác ở vùng Trung Đông. Đó là cách nước Pháp đã bảo hộ chúng tôi!”.

         – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.164 – 165.

Tháng 5, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc đưa cho Mácxen Casanh bản thảo cuốn sách Những người bị áp bức để nhờ đề tựa.

Nguyễn Ái Quốc nói rằng Ban quản lý báo L’Humanité đã hứa sẽ in quyển sách này không lấy tiền, báo L’Humanité sẽ bán sách để thu lại vốn.

Nguyễn Ái Quốc còn nói sẽ đưa đến cho Chủ tịch nhóm phụ nữ để xin đề tựa.

            – Mật báo của Giăng ngày 15-5-1920.

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923),  Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.149.

Tháng 7, trước ngày 17

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của một nhóm người Việt Nam tổ chức tại 59 TER phố Bônapác (Bonaparte), nơi ở của Đốc Phủ Bảy. Dự họp có Đốc Phủ Bảy, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Trần Xuân Hồ.

Nguyễn Ái Quốc không phát biểu gì, chỉ chăm chú nghe tranh luận về vấn đề định ngày Quốc khánh tương lai của Việt Nam.

            – Báo cáo của mật thám Giôxenmơ (Josselme). Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 7, sau ngày 17

Nguyễn Ái Quốc đọc tác phẩm của V.I. Lênin: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, đăng trên báoL’Humanité, số ra ngày 16 và 17-7-1920. Trong văn kiện này, Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II10, về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!

Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III”.

            – Báo L’Humanité, ngày 16 và 17-7-1920.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.126.

Tháng 8, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc ốm, phải vào nằm điều trị tại Bệnh viện Côsanh (Cochin).

            – Mật báo của Đơvedơ. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/372.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.109.

Tháng 8, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc đến nhà số 6 phố Buyô (Buot) tìm người chủ gian hàng mà Phan Châu Trinh đã thuê để đặt xưởng ảnh.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối tháng 8

Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc mít tinh lớn do Đảng Xã hội Pháp tổ chức tại rạp xiếc Mùa Đông (Pari) để nghe Mácxen Casanh và L.O. Phơrốtxa (L.O. Frossaard), đại biểu vừa được Đảng cử đi Nga về báo cáo những vấn đề liên quan đến Quốc tế III.

            – Giắc Đuyclô: Những ngày Pari. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.27 – 28.

Tháng 9, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Phan Văn Trường và Khánh Ký gửi từ Mayăngxơ.

Hồi 14 giờ, đến Vécxây thăm Nguyễn Văn Duy; 16 giờ 45 rời địa chỉ này.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 18

Hồi 13 giờ 15, Nguyễn Ái Quốc đi bộ ra bưu trạm 77 ở 55 phố Gôbơlanh để bỏ thư.

14 giờ, đi tàu điện ngầm từ Quảng trường Italia, lên ga 4-9, đi bộ đến số nhà 19 phố 4-9 vào hãng Lôyennơ (Loyenne) và số nhà 27 cùng phố là hãng Cônilơminê (Colileminet) để lấy danh bạ các loại máy ảnh.

Lại tiếp tục đi tàu điện ngầm từ ga Buốcxơ (Bourse) đến ga Satơlê (Châtelet), đi bộ đến Luvơrơ, rồi từ đó đi tàu điện đến Vécxây.

16 giờ 15, đến Viện dục anh Pupônniê (Pouponnier) ở phố Virôphlây (Viroflay) thăm vợ ông Nguyễn Văn Duy.

16 giờ 45, rời Viện dục anh.

18 giờ 20, đi tàu điện về Luvơrơ.

19 giờ 15 về đến nhà, số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 19

Hồi 9 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc đi tàu điện ngầm đến Bảo tàng Bandắc (Balzac) ở số 47 phố Râynua (Reynouard) dự buổi nói chuyện có khoảng 30 người.

12 giờ 30 về nhà, số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 20

Buổi sáng, Nguyễn Ái Quốc nhận được thiếp thư của Ăngđờrê Béctông (André Berthon).

9 giờ 10 đến Bệnh viện Côsanh ở 27 phố Phôbua để chữa nhọt ở tay.

11 giờ 30, về số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 21

Hồi 17 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi chợ quán Vingram (Vilgram) phố Côngxiê (Consier) và cửa hàng ở phố Môphơta (Mauffetard).

17 giờ 30, về đến nhà.

19 giờ 30, đến Thư viện bình dân của những người bạn giáo dục Quận 13, số 61 đại lộ Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc nhận được một lá thư bảo đảm của báo La Bataille.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Hội liên minh nhân quyền (trụ sở ở số 10 phố Uynivécxitê) về việc đóng niên phí cho hội.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 26

Hồi 19 giờ, Nguyễn Ái Quốc tiếp vợ chồng ông Mátxông (Masson) làm nghề thợ máy, ăn cơm tại số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc đi trả ảnh và nhận việc tại nhà ảnh số 35 phố Phroađơvô (Froidevaux).

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc đi Bệnh viện Côsanh lúc 8 giờ. Đến 9 giờ 30 rời bệnh viện.

Buổi chiều, lúc 14 giờ 15 đến nhà số 35 phố Phroađơvô hỏi xin việc làm.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 30

Lúc 10 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi tàu điện ngầm đến nhà hàng Lanlơmăng (L’Allemand) mua đồ làm ảnh.

Lúc 20 giờ 45, đến hiệu cà phê Mâyê (Mayer), số 167 phố Soadi (Choisy) họp Chi bộ 13 Đảng Xã hội. Cuộc họp kết thúc hồi 22 giờ 30.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 3

Buổi sáng, Nguyễn Ái Quốc dự cuộc nói chuyện do Hội Nghệ thuật tổ chức tại Sở Cảnh sát.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phan Châu Trinh, Võ Văn Toàn (còn có tên là Marcel), Ba Sóc và Trần Xuân Hộ rời số 6 Vila đê Gôbơlanh đến 167 đại lộ Soadi dự cuộc họp của Uỷ ban Đệ tam quốc tế, nhóm Quận 13.

            – Mật báo của Đơvedơ ngày 6-10-1920. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SLOTFOM 15/2.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.153.

Tháng 10, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của ông Tixo Duypông (Tissot Dupont) ở 24 đại lộ Crôxnơ (Crosne) mời đến chơi ngày chủ nhật 10-10.

             – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc rời số 6 phố Vila đê Gôbơlanh lúc 6 giờ sáng và đi tới 1 giờ khuya mới về nhà.

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, từ ngày 10 đến ngày 16

Suốt tuần, ngày nào Nguyễn Ái Quốc cũng đến nhà Phan Châu Trinh vào các buổi chiều để sửa ảnh.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư gửi từ Boócđô (Bordeaux) của một người tên là Thuyết, phục vụ trên tàu Manila (Manilla) hoạt động ở vùng nam Đại Tây Dương.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc cùng một số người Việt Nam dự cuộc mít tinh do các đảng viên Đảng Xã hội Quận 13 tổ chức tại Phòng hoà nhạc Ếchxenxiơ (Exelsieur), số 13 Pácgông (Pargon), dưới sự chủ toạ của A.Phrăngxơ (A.France) nhằm lên tiếng ủng hộ một số đồng chí bị giam giữ độc đoán.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc và một số người Việt Nam dự cuộc họp của Chi bộ 13 Đảng Xã hội ở 163 đại lộ Ôpitan (Hôpital).

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc và một số người Việt Nam dự cuộc họp do nhóm Uỷ ban Quốc tế III Quận 13 tổ chức tại 167 phố Soadi.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề  Đông Dương, đăng trên báo L’Humanité. Nhắc lại những cuộc đình công của lính thuỷ Việt Nam ở Hải Phòng ngày 15-8-1920 khi hai chiếc tàu chuẩn bị đưa một số lớn lính pháo Việt Nam sang Xiri (Syrie), bài báo nêu rõ: “Chúng tôi cực lực phản đối việc đưa lính An Nam sang Xiri… Nước Pháp đang để cho hàng triệu anh em chúng ta chết đói, trong khi đó hàng nghìn người khác bị đưa sang Tiểu Á làm bia đỡ đạn”.

            – Báo L’Humanité, ngày 4-11-1920.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.20 – 21.

Tháng 11, ngày 9

9 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc dự mít tinh tại phòng Vagram, đại lộ Vagram (Wagram) do Đảng Xã hội tổ chức để kỷ niệm lần thứ 3 ngày thành lập nước Nga Xôviết. Cùng dự có
M. Casanh, S. Ráppôpo, Rơnu, Tômadi (Tomasie), Ribô (Ribaud), Tanh (Teint), P. Vayăng Cutuyriê…

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc và một số người Việt Nam dự cuộc họp của Chi bộ 13 Đảng Xã hội tại 163 đại lộ Ôpitan.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của Chi bộ 13 Đảng Xã hội tại 167 phố Soadi.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho một người Việt Nam quen biết ở Mácxây, khuyến khích người đó gửi cho những tin tức từ trong nước để làm tài liệu viết báo.

Lá thư này đã bị Sở Kiểm duyệt giữ lại, dịch sang tiếng Pháp và gửi về Bộ Thuộc địa.

            – Bản chụp bức thư bằng tiếng Việt. Lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc nhận được cuốn Tạp chí La Revue Communiste, số 9, kèm theo bản mục lục của tạp chí.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của Chi bộ 13 Đảng Xã hội tại phố Crulơbácbơ (Croulebarbe).

         – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp11 với tư cách là đại biểu Đông Dương.

Đại hội khai mạc lúc 10 giờ 35 phút ngày 25-12-1920 tại phòng họp lớn của nhà Mane ở thành phố Tua (Tours), cách Pari 237km.

Khi Đoàn Chủ tịch giới thiệu Nguyễn Ái Quốc là đại biểu Đông Dương, cả Đại hội đứng dậy vỗ tay. Lần đầu tiên có một người Việt Nam tham gia một đại hội đại biểu của một chính đảng Pháp. Nguyễn Ái Quốc cũng là người bản xứ duy nhất trong số đại biểu các thuộc địa có mặt trong đại hội.

Trong hội trường đại hội, các đại biểu ngồi theo khuynh hướng chính trị. Những người cùng quan điểm ngồi cạnh nhau. Nguyễn Ái Quốc ngồi dãy ghế thứ hai phía trái (nhìn từ Đoàn Chủ tịch xuống), cạnh Pôn Vayăng Cutuyriê và những người thuộc phe tả.

Một nhà báo đã chụp ảnh Nguyễn Ái Quốc và in trên tờ Le Matin12. Ngày hôm sau cảnh sát tìm đến Nguyễn Ái Quốc. Những nghị viên Đảng Xã hội can thiệp, mật thám không dám vào phòng họp và Nguyễn Ái Quốc vẫn đàng hoàng dự đại hội.

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.43.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.48.

Tháng 12, ngày 26

Tại phiên họp buổi chiều của đại hội, sau lời mời của Chủ tịch Đại hội Gútđơ (Goude), Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu Đông Dương đã phát biểu ý kiến.

Trong lời phát biểu, Nguyễn Ái Quốc lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp, vì lợi ích của nó, đã dùng lưỡi lê chinh phục Đông Dương và trong suốt nửa thế kỷ qua, nhân dân Đông Dương không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm. Bằng những sự thật, Nguyễn Ái Quốc tố cáo những sự tàn bạo mà bọn thực dân Pháp đã gây ra ở Đông Dương, và cho rằng “Đảng Xã hội cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức”, rằng “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa… đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa…”.

Nguyễn Ái Quốc đã kết thúc bài phát biểu được Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh bằng lời kêu gọi thống thiết: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”.

            – Bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc, in trong cuốn Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, ấn hành tại Pari, năm 1921. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.22 – 24.

Tháng 12, ngày 29

22 giờ, Đại hội Tua tiến hành bỏ phiếu quyết định việc Đảng ở lại Quốc tế II hay gia nhập Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản).

Sau cuộc bỏ phiếu, nữ đồng chí Rôdơ (Rose), người ghi biên bản tốc ký đại hội, hỏi Nguyễn Ái Quốc:

– Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III?

– Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.49.

            – Báo L’Humanité, ngày 30-12-1920.

Tháng 12, ngày 30

Hồi 2 giờ, Nguyễn Ái Quốc cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Française de L’Internationale Communiste, viết tắt là SFIC).

Từ phút ấy, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản. Là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

             – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.43 – 44.

            – Báo L’Humanité, ngày 30-12-1920.

Tháng 12, từ ngày 25 đến ngày 30

Trong những ngày dự Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ đồng chí Clara Détkin (Clara Zetkin), nữ chiến sĩ cách mạng nổi tiếng của Đức, Uỷ viên Ban Thường vụ  Quốc tế Cộng sản, được Quốc tế Cộng sản cử đến dự đại hội.

            – Giắc Đuyclô: Những ngày Pari. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.31.

            – Bài viết Kỷ niệm 40 năm thành lập Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.238 – 241.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc được cử tham gia công việc của Uỷ ban liên công đoàn Quận 17 Pari, đặt trụ sở tại nhà số 172 phố Lêgiăngđrơ (Légendre), Quận 17.

            – Hăngri Phrađanh: Người đoàn viên công đoàn Quận 17. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.18.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc tham gia cuộc mít tinh tại phòng họp Vagram để phản đối nhà cầm quyền Mỹ đã vu khống và kết án tử hình một cách trái phép hai công nhân người Mỹ là Xáccô (Sacco) và Vandétti (Valzetti), đòi trả lại tự do cho họ.

            – Giăng Lacutuya: Hồ Chí Minh, Nxb. Seuil, Pari, 1967, tr.17 – 21.

            – Báo Nhân dân, ngày 22-5-1975.

Trong năm

Với tên gọi Văn Cô, Nguyễn Ái Quốc thường đến nhà ông Pêra (Péra), thợ ảnh, ở số 4 phố Muchiê Ôbécviliê (Moutier Aubervilliers), Pari để sửa ảnh, phóng ảnh. Đôi lúc Nguyễn Ái Quốc ở lại ăn cơm với gia đình Pêra. Nguyễn Ái Quốc thường trò chuyện với ông Pêra; ông là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, cựu tù nhân chính trị Italia, là người tán thành Quốc tế Cộng sản 1).

            – Theo Léo Figuères, Charles Fourniau: Hồ Chí Minh – đồng chí của chúng ta (Ho Chi Minh – notre camarade), bản tiếng Pháp, Nxb. Xã hội, Pari, 1970, tr.109.

 _______________________

1) Theo lời kể của Hăngri Phơradanh (Henri Fradin), con trai ông Pêra (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Từ năm 1911 đến năm 1919)

NĂM 1911

Khoảng tháng 2

Sau mấy tháng dạy học ở Trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành rời trường đi Sài Gòn, thực hiện hoài bão từng nung nấu là tìm cách sang Pháp và các nước phương Tây để xem “họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào chúng ta” 1).

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, trước ngày 2

Nguyễn Tất Thành bàn với một người bạn thân về chuyện đi ra nước ngoài. Anh nói:

“- Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”.

Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ hai bàn tay:

“Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 13-14.

Tháng 6, ngày 2

Nguyễn Tất Thành xin việc làm ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) 2), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Năm Sao 3) đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille) Pháp.

            – Đơn của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp, ngày 15-9-1911. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 14-15.

Tháng 6, ngày 3

Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, nhận thẻ nhân viên của tàu với tên mới: Văn Ba.

            – Sổ lương của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 5

Nguyễn Tất Thành từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi sang Pháp.

Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Điều đó, hơn mười năm sau chính anh đã trả lời một nhà báo Nga 4) rằng:

“Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời một nhà văn Mỹ 5), Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

            – Bài Thăm một chiến sĩ cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.

            – Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.476-479.

Tháng 6, sau ngày 5

Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài 6).

            – Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn  Đăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910 – 1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 8

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Xingapo (Singapore) theo hành trình của tàu.

         – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 14

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Côlômbô (Colombo) của Xâylan (Ceylan) nay là Xơri Lanca, theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 30

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Xaít (Sa’id) của Aicập theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp  lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 6

Sau một tháng vượt biển, tàu Amiran Latusơ Tơrêvin đến Mácxây, một hải cảng quan trọng của nước Pháp.

Lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành đặt chân lên đất Pháp.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, sau ngày 6

Nguyễn Tất Thành sống những ngày đầu tiên trên đất Pháp, trong thời gian chờ tàu dỡ hàng.

Anh đã được chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở xứ sở của mình, nhận thấy người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương.

Anh nói với người bạn điều anh nghĩ: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 17-18.

Tháng 7, ngày 15

Nguyễn Tất Thành tới Lơ Havơrơ (Le Havre), một hải cảng ở miền Bắc nước Pháp, theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 26

Nguyễn Tất Thành đến Đoongkéc (Dunkerque), một hải cảng của Pháp trên bờ biển Măngsơ (Manche), theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 15

Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa7). Đơn được gửi từ Mácxây ngày 15-9-1911, có đoạn viết:

“Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú.

Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) 8) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”.

            – Đơn ngày 15-9-1911 của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp. Bản chụp bút tích lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, trước ngày 31

Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

         – Hồi ký của Từ Trường Phùng.

            – Sổ lĩnh lương tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31

Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

         – Hồ sơ của Chánh mật thám Trung Kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – D. Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

NĂM 1912

Trong năm

Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông… Đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Một trong những cảnh tượng ấy anh đã trông thấy ở Đaca (Dacar) như sau: “Đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi”.

Cảnh đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời:

“Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 23 – 24.

Tháng 12, trước ngày 15

Nguyễn Tất Thành đến nước Mỹ 9).

            – Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Đêvít Đenlingiơ: Nói chuyện với Hồ Chủ tịch, Tạp chí Libération, tháng 10-1969.

Tháng 12, ngày 15

Từ Niu Oóc (New York), Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha là Nguyễn Sinh Huy. Thư cho biết đã gửi cho ông Nguyễn Sinh Huy ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời. Thư ký tên Paul Tất Thành, kèm theo địa chỉ hòm thư lưu: Số 1, đường Đô đốc Cuốcbê (Courbet), Lơ Havơrơ, Pháp.

            – Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – D. Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

Tháng 12

Cùng với bức thư gửi cho phụ thân, Nguyễn Tất Thành còn gửi một bức thư cho ông Nguyễn Sinh Khiêm thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ. Nguyễn Tất Thành nhờ anh trai vận động xin cho Thành vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Ông Khiêm đã gửi bức thư cho Toàn quyền Anbe Xarô (Albert Sarraut) và lá thư đã được chuyển tới Khâm sứ Trung Kỳ 10).

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917- 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.427- 428.

Từ sau khi đến Niu Oóc

Nguyễn Tất Thành vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ.

Năm 1966, trong một lần tiếp nhà báo Mỹ Đêvít Đenlingiơ (David Delingher), Bác Hồ có nói: “Khi trở về Mỹ ông có thể nói rằng tôi đã đi ở cho người ta ở Brúclin (Brooklin) với lương tháng 40 đôla, còn bây giờ làm Chủ tịch nước Việt Nam tôi được lĩnh 44 đôla”.

“… Tôi làm việc không đến nỗi vất vả lắm và dùng một số thời gian rảnh để học tập và đi thăm những khu vực trong thành phố”.

Người còn nhắc đến chuyện đi xe điện ngầm tới thăm khu Háclem và rất xúc động trước điều kiện sống của người da đen.

            – Đêvít Đenlingiơ: Nói chuyện với Hồ Chủ tịch, Tạp chí Libération, tháng 10- 1969.

Khoảng cuối năm 1912

Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh. Toàn văn bức thư như sau:

Hy Mã Nghi Bá đại nhân,

Cách lâu không tiếp được tôn tín, không hay bác hành chỉ thế nào và sự thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể gặp bác trước lúc bác đi 11) hay không, vì cháu rất cần một ít tôn hội, xin bác trả lời liền cho cháu biết vì chừng nào trong tuần lễ cháu sẽ xuống tàu “đi chưa biết đi đâu”. Kính chúc bác, M. Trường 12), em Dật 13) và các đồng bào yên hảo”.

C. Đ Tất Thành

Số 10 quảng trường Oocsat (Orchard Place)

Xaotamtơn – Anh (Southampton England)

         – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 -1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 429.

NĂM 1913

Khoảng quý I

Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh.

Sau khi đến nước Anh, để sinh sống, anh nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ. Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học tiếng Anh. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, nghĩa là trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư Italia.

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 25-28.

            – Thư Nguyễn Tất Thành gửi cụ Phan Châu Trinh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Quý I

Từ Xuphơrarét (Anh), Nguyễn Tất Thành gửi cụ Phan Châu Trinh (lúc này đang sống ở Pháp) một bài thơ theo thể thất ngôn bát cú. Toàn văn như sau:

       “Xuphơrarét

       Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng,

       Phải có kiên cường mới gọi hùng.

       Vai cứng long lanh ngoài ách tớ,

       Má đào nóng nảy giới quyền chồng.

       Lợi chung dầu sẽ mua về được,

       Kiếp mong chi nài sự có không.

       Ba hột đạn thầm hai tấc lưỡi,

       Sao cho ích giống mấy cam lòng.

       Hy Mã Nghi Bá đại nhân thấu

Cuồng điệt: Tất Thành

            – Bản chụp bút tích. Lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa năm

Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Toàn văn bức thư như sau:

“Hy Mã Nghi Bá đại nhơn,

“Cháu kính chúc bác, em Dật và ông Trạng và các anh em ta ở Pari đều mạnh giỏi. Nay cháu đã tìm nơi để học tiếng.

“Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều.

“Bên ta có gì mới không? Và nếu bác dịch mấy hồi sau 14) xong, xin bác gửi cho cháu.

“Chuyến này bác sẽ đi nghỉ hè ở đâu?

Nay kính

Cuồng điệt: Nguyễn Tất Thành

            – Bút tích bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối năm

Sau hai tuần nghỉ việc đốt lò vì bị cảm, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Đraytơn Cơớc, đại lộ Đraytơn, khu Oét Ilinh (Drayton Court, Drayton Av., West Ealing), Tây Luân Đôn.

Một thời gian sau, Nguyễn Tất Thành lại chuyển sang làm phụ bếp ở khách sạn Cáclơtơn (Carlton), phố Hây Makét, một khách sạn sang nổi tiếng ở Luân Đôn. Anh làm việc dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Étcốpphie (Escophier).

Công việc của anh là dọn dẹp bát đĩa và đồ đạc. Anh làm rất cẩn thận. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng thì anh lại để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp.

Ông già Étcốpphie chú ý tới việc làm đó và hỏi anh:

– Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng như những người khác?

Tất Thành trả lời:

– Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.

Étcốpphie vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng:

– Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền.

Từ đó, Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn.

Những người trong khách sạn cho đó là một việc lớn vì lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.21, 28, 29.

NĂM 1914

Tháng 8, đầu tháng

Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư có đoạn:

“Kính gửi Nghi Bá đại nhơn,

“Tiếng súng đang rền vang và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người thắng.

Các nước trung lập đang còn lưỡng lự và các nước tham chiến chưa rõ được ý họ. Tình hình như vậy, ai nhúng mũi vào thì chỉ có thể đứng về phía này hoặc phía kia. Hình như người Nhật có ý nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”.

Xin gửi lời thăm Nghi bá và em Dật. Xin trả lời cháu sớm về địa chỉ sau đây:

Nguyễn Tất Thành

Số 8 đường Xtêphen Tôttenham, Luân Đôn” 15).

         – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1915

Tháng 4, ngày 16

Nguyễn Tất Thành ký tên Pôn Thành (Paul Thành), từ Anh viết thư cho Toàn quyền Đông Dương, qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn, nhờ chuyển cho cha mình, nhưng bức thư không đến người nhận vì không tìm được địa chỉ.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1917

Khoảng cuối năm

Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp 16).

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.30.

NĂM 1918

Trong năm

Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên gặp Misen Decsini (Michele Zecchini) đảng viên Đảng Xã hội Italia, lúc đó là đại diện cho những nhà cách mạng thuộc địa bên cạnh Đảng Xã hội Pháp.

Theo lời kể của Misen Decsini, bấy giờ Nguyễn Tất Thành là đại diện được uỷ quyền của Hội Lao động hải ngoại đang náu mình trong một căn phòng cho thuê ở phố Saron (Charonne). Lúc đó các đồng chí trong Đảng Xã hội chưa tìm được cho anh giấy tờ hợp pháp. Misen Decsini đã thu xếp cho anh đến một nơi ở mới, Quận 13, tại nhà một người bạn Tuynidi tên là Mốcta (Moktar).

Lúc này chiến tranh chưa kết thúc, các cuộc vây ráp, bắt bớ lính thuộc địa đào ngũ xảy ra liên miên. Để đảm bảo an toàn anh phải hạn chế đi lại, không được để hàng xóm phát hiện. Khi Mốcta không có nhà, anh không được thắp đèn và đốt lửa. Chiều chiều Mốcta đi làm về, nấu bữa tối cho Tất Thành, để dành lại một phần cho ngày hôm sau, chăm sóc Tất Thành như một người anh em.

            – Michele Zecchini: Le caligraphe (Người viết chữ đẹp). Tạp chí Planète-action, tháng 3-1970, tr.26.

Trong năm

Nguyễn Tất Thành đến đảo Rêuyniông (Réunion) thăm cựu hoàng đế Thành Thái đang bị an trí tại đây. Tất Thành đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho vua Thành Thái. Nhớ lại việc này, năm 1947, khi trả lời các vị trong hoàng tộc, vua Thành Thái đã nói:

“Tôi già rồi, tôi không có ý định trở lại cuộc đời chính trị. Vả lại cụ Hồ Chí Minh đã là người tiêu biểu của phong trào cách mạng của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, cụ Hồ Chí Minh không phải là người xa lạ. Ngay từ năm 1918 khi trốn ra ngoại quốc, cụ Hồ Chí Minh đã đến gặp tôi ở đảo Rêuyniông. Từ hồi ấy tôi đã thấy cụ Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc nhiệt thành và sáng suốt”.

            – Báo Cứu quốc, số 748, ra ngày 6-11-1947.

NĂM 1919

Khoảng đầu năm

Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp.

Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Nguyễn Ái Quốc trả lời:

“Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI”.

Vào Đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc có dịp gần gũi và hoạt động với các nhà hoạt động chính trị và văn hoá nổi tiếng của Pháp như Mácxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), Lêông Bơlum (Léon Blum), Raymông Lơphevrơ (Raymond Lefèbvre), Giăng Lôngghê (Jean Longuet), Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau), v.v..

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.39.

Tháng 6, từ ngày 7 đến ngày 11

Nguyễn Tất Thành ở tại số nhà 10 phố Xtốckhôm (Stokholm).

            – Hồ sơ của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, từ ngày 12

Nguyễn Tất Thành ở tại nhà số 56 phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ (Monsieur le Prince).

         – Hồ sơ của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 18

Thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành gửi đến Hội nghị Vécxây (Versailles)2 bản yêu sách của nhân dân An Nam. Dưới bản yêu sách Người ký tên: NGUYỄN ÁI QUỐC. Bản yêu sách gồm tám điểm:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Cùng ngày, Nguyễn Tất Thành, ký tên là Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Tổng thống Mỹ. Toàn văn bức thư như sau:

Pari, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hoà Hợp chúng quốc, Đại biểu ở Hội nghị Hoà bình.

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

Nguyễn Ái Quốc

56, phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ, Pari 17).

Cùng ngày, bức thư với nội dung trên còn gửi đến Đoàn đại biểu Nicaragoa 18).

            – Báo L’Humanité, ngày 18-6-1919.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.32.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.435-436, 437.

Tháng 6

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Nguyễn Ái Quốc phổ thành thơ lục bát để phổ biến rộng rãi trong Việt kiều ở Pháp, có đoạn như sau:

            … Lòng thành tỏ nỗi sút sa,

            Dám xin đại quốc soi qua chút nào.

            Một xin tha kẻ đồng bào

            Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

            Hai xin phép luật sửa sang,

            Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.

            Nhưng toà đặc biệt bất công,

            Dám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.

            Ba xin rộng phép học hành,

            Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương.

            Bốn xin được phép hội hàng,

            Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.

            Sáu xin được phép lịch du,

            Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.

            Bảy xin hiến pháp ban hành,

            Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

            Tám xin được cử nghị viên,

            Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.

            Tám điều cặn tỏ xa gần,

            Chứng nhờ vạn quốc công dân xét tình.

            – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Ai xen Provence (Pháp), Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh (Villa des Gobelins), Quận 13, Pari, ở chung với Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh.

Trong tháng, Nguyễn Ái Quốc viết bài Tâm địa thực dân nhân đọc trên tờ Thông tin thuộc địa, một bài báo khá dài của “một chàng thực dân đã muốn dùng bản Yêu sách của nhân dân An Nam để mở một cuộc tấn công gián tiếp vào chính sách của ông Anbe Xarô, Toàn quyền Đông Dương”.

Bằng giọng văn châm biếm sắc sảo, cách lập luận chặt chẽ, đanh thép, tác giả đi sâu phân tích một số đoạn trong bài báo của “chàng thực dân” đó để vạch trần cái tâm địa của bọn thực dân cho dù nó đã được che đậy một cách khéo léo và “chỉ cho ông thấy rằng cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý của chúng tôi…, cũng như không có gì là giống với chân lý theo quan niệm của những người Pháp tốt ở nước Pháp cả”.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.1 – 5.

            – Tư liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo cáo (từ ngày 18 đến ngày 28-11-1919) của Pie Ghétxđơ (Pierre Guesde), Tổng thanh tra kiểm soát người Đông Dương tại Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 2

Bài viết Vấn đề dân bản xứ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo L’ Humanité3.

Bài báo nhắc lại những nội dung chính của bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây hồi tháng 6-1919, khẳng định nguyện vọng đó của nhân dân Việt Nam là chính đáng; đồng thời tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và tin tưởng rằng nhân dân tiến bộ Pháp sẽ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh vì tự do và công lý của nhân dân Việt Nam.

            – Báo L’Humanité, ngày 2-8-1919.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.6 – 10.

Tháng 8, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Giăng Ajanbe (Jean Ajalbert) 19). Toàn văn bức thư như sau:

Pari, ngày 3-8-1919

Thưa Ngài,

Được biết Ngài quan tâm đến đất nước chúng tôi, tôi xin mạn phép gửi đến Ngài:

1. Bản Yêu sách của nhân dân An Nam;

2. Một bài của báo L’Humanité viết về các yêu sách đó;

3. Một bài báo của Courrier Colonial cũng viết về đề tài đó;

4. Bản tin của Liên minh nhân quyền có đăng bài điều trần của cụ Phan Châu Trinh.

5. Địa chỉ của Ngài là do Giáo sư Gabrien Xailơ (Gabriel Seailles) vui lòng cung cấp cho chúng tôi.

Nguyễn Ái Quốc

6 Villa des Gobelins

         – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 9, trước ngày 2

Nguyễn Ái Quốc tiếp một phóng viên Mỹ – nhờ sự giới thiệu của Đại diện của Chính phủ lâm thời Triều Tiên tại Pari là ông Kim Tchong Wen và Kim Koei Tche, phóng viên Mỹ đã có dịp phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc.

Hỏi : Anh đến Pháp với mục đích gì?

Đáp: Để đòi quyền tự do cho dân An Nam.

Hỏi : Bằng cách nào?

Đáp: Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo tiến lên.

Hỏi: Nhưng đất nước đã sẵn sàng chưa? Các phong trào vũ trang hiện nay ra sao?

Đáp: Tình cảnh nước Việt Nam thật đáng buồn. Ngoài chúng tôi (chỉ một số người yêu nước) chưa có sự chuẩn bị nào cả và các hoạt động vũ trang gần đây đã hoàn toàn thất bại và không có tiếng vang nào…

Hỏi: Từ lúc đến Pari tới nay, anh đã đạt kết quả nào rồi?

Đáp: Ngoài các nghị sĩ, tôi đã gặp tất cả những người chịu giúp chúng tôi. Những người Xã hội nghĩ rằng Chính phủ Pháp không khi nào chấp nhận những yêu cầu của chúng tôi nhưng họ vẫn vui lòng giúp đỡ. Và đó là chỗ dựa quan trọng đối với chúng tôi. Chúng tôi cũng hoạt động trong những tầng lớp khác nữa.

            – Báo cáo của mật thám P. Ôcua (P.Aucourt) ngày 2-9-1919. Tài liệu gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/272.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.104 – 105.

Tháng 9, ngày 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Đông Dương và Triều Tiên, đăng trên báo Le Populaire4.

Nhắc đến sắc lệnh của Thiên Hoàng công bố tại Tôkyô ngày 19-8-1919 với nội dung định rõ quyền bình đẳng giữa người bản xứ Triều Tiên với người Nhật trong tất cả các luật lệ, bài báo so sánh chính sách cai trị của đế quốc Nhật ở Triều Tiên và của đế quốc Pháp ở Đông Dương, nghiêm khắc lên án chính sách ngu dân của Pháp và đặt câu hỏi: nước Pháp có thể đối với Đông Dương ít nhất một cách sáng suốt như Nhật đối với Triều Tiên không?

            – Tư liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo Le Populaire, ngày 4-9-1919.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.11 – 14.

Tháng 9, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc được Anbe Xarô 209) – Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, mời đến trụ sở Bộ Thuộc địa. Anbe Xarô đã đích thân kiểm tra lai lịch của Nguyễn Ái Quốc.

            – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 9, ngày 7

Sau một ngày gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Anbe Xarô. Toàn văn như sau:

Pari, ngày 7-9-1919

Kính gửi Ngài Anbe Xarô, Toàn quyền Đông Dương 21).

Thưa ngài Toàn quyền!

Tiếp theo cuộc trao đổi với Ngài hôm qua, tôi xin phép gởi đến Ngài kèm theo đây bản trình bày các yêu cầu của người An Nam. Vì Ngài có nhã ý nói với tôi rằng Ngài luôn luôn muốn làm sáng tỏ mọi vấn đề, tôi xin phép yêu cầu Ngài cho biết là trong 8 điểm yêu cầu của chúng tôi có điểm nào đã được thực hiện, và chúng tôi phải liên hệ với những tư liệu nào để chứng minh điều đó. Vì tôi xin khẳng định là cả 8 điểm đều còn nguyên vẹn và chưa có điểm nào được giải quyết một cách thoả đáng.

Xin Ngài vui lòng tiếp nhận.

Ký tên: Nguyễn Ái Quốc

6 Vila đê Gôbơlanh, Pari 13

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.420.

Tháng 9, ngày 18

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây do Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp đứng tên, được đăng trên báo Yiche Pao (Nghị xã báo) xuất bản ở Thiên Tân (Trung Quốc).

         – Tài liệu của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo Yiche Pao, ngày 18-9-1919. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng hạ tuần tháng 9

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phan Văn Trường sang Đức, trở về Pháp vào khoảng trung tuần tháng 10 22).

            – Theo Lê Thị Kinh dẫn mật báo của Êđua ngày 5-11-1919. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364 (Dẫn theo Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.53).

Tháng 10, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Thư gửi ông Utơrây, đăng trên báo Le Populaire.

Bài báo tố cáo Utơrây (Outrey) xuyên tạc sự thật về tình hình Đông Dương.

            – Báo Le Populaire, ngày 14-10-1919.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Utơrây 23). Trong bức thư dài này, Nguyễn Ái Quốc vạch trần thái độ xấu xa và những luận điệu xuyên tạc sự thật của ông ta trong các cuộc thảo luận tại Nghị viện Pháp, ngày 18-9-1919.

         – Tài liệu của Cục lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.15 – 19.

Tháng 11, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc gặp ông Pie Pátxkiê 24) (Pierre Pasquier), một quan chức Bộ Thuộc địa Pháp theo giấy mời đề ngày 14-11-1919 của Chánh văn phòng Bộ Thuộc địa.

Cuộc gặp mặt này nói về tổ chức nghi lễ tại Đền Nôgiăng (Nogent), nơi nhà cầm quyền Pháp lập nên để tưởng niệm binh lính Đông Dương đã chết trong chiến tranh 1914 – 1918.

Khi ông Pátxkiê hỏi: “Việc lập đền thờ các tử sĩ Đông Dương ở Nôgiăng sẽ tác động đến dân Nam như thế nào?”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Về tình cảm thì chưa rõ nhưng giá như quan tâm nhiều hơn về vật chất cho vợ con họ thì tốt hơn”.

Nguyễn Ái Quốc nói thêm: “Mỹ sau 10 năm đã cho Philíppin tự trị, Nhật vừa cho Triều Tiên tự trị sau 14 năm. Sao Pháp chưa làm gì cho Đông Dương?”.

Nguyễn Ái Quốc hứa với ông Pátxkiê là sẽ đến dự lễ, nhưng các bạn của anh thì không chắc vì họ còn phải làm việc…

            – Báo cáo của mật thám Êđua. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SLOTFOM 15/1.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.55.

Tháng 12, ngày 1

18 giờ 30 Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ nói chuyện với một vài người Việt Nam đến chơi nhà.

            – Báo cáo của mật thám Giăng (Jean). Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 8

Buổi tối Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Phan Châu Trinh.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ (Sainte Geneviève) và đến nhà Trần Văn Quốc, 44 phố La Cơlê (La Clef), nhưng không gặp.­

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc nhận được một bức thư gửi từ Mayăngxơ (Mayence) – một thành phố của Đức, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ và ở đó đến 16 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đi cùng với Lê Văn Hạo đến nhà bác sĩ Tơri (Trie) ở 47 phố Clôđơ Bécna (Claude Bernard) và ở đó đến 19 giờ 20.

Trước khi về nhà, Nguyễn Ái Quốc gặp và nói chuyện với một người Việt Nam ở đại lộ Gôbơlanh (Gobelins).

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc đến nhà Trần Văn Quốc, hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ, sau đó đến nhà số 40 phố Êcônlơ (Écoles) hỏi thăm ông Hon, trở về nhà hồi 17 giờ 45.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 12

Sáng, từ 10 giờ đến 11 giờ 30, và chiều, từ 13 giờ 50 đến 14 giờ 45, Nguyễn Ái Quốc đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

16 giờ đến Văn phòng Hội liên minh nhân quyền5 ở nhà số 10 phố Uynivécxitê (Université) trong 5 phút.

Từ 18 giờ 45 đến 20 giờ lại đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

Từ 20 giờ 15 đến 20 giờ 35 gặp Trần Văn Quốc ở nhà số 44 phố La Cơlê.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 13

Từ 8 giờ 55 đến 12 giờ 13 và từ 13 giờ 10 đến 13 giờ 50, Nguyễn Ái Quốc ở thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ. Sau đó rời thư viện đến vườn hoa Luýchxămbua (Luxembourg), đi dạo chừng nửa giờ như đang chờ đợi ai.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của toà soạn báo L’Humanité.

Hồi 10 giờ 30, anh đến nhà thợ may Sarông (Charon) ở 8 bis phố Gôbơlanh, hai người đi uống ở quán rượu số 1 phố Gôbơlanh. Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi tàu điện ngầm đến trụ sở báo La Dépêche coloniale.

Trở về nhà lúc 12 giờ 45. Hồi 13 giờ 15, Nguyễn Ái Quốc lại ra khỏi nhà và mất hút phía Quảng trường Italia.

Gần 17 giờ 30, mới thấy về nhà và 15 phút sau lại đến nhà Sarông.

Hồi 20 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc đi bỏ thư tại phòng bưu điện phố Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc nhận được một thư dán tem ga Pari đuy No (Paris du Nord).

Lúc 10 giờ 50, anh ra khỏi nhà, mua một tờ L’Humanité. Sau đó đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ, ở đó đến 11 giờ 55, rồi đi dạo ở vườn hoa Luýchxămbua.

13 giờ, Nguyễn Ái Quốc trở lại thư viện, ở đó đến 16 giờ, rồi lại đi dạo 20 phút ở vườn hoa trước khi về nhà.

19 giờ, Nguyễn Ái Quốc đến nhà số 16 phố Phốtxê Xanhtơ Bécna (Fossée Sainte Bernard). Lát sau, cùng với Đrigiông (Drijon) và Vécđơgien (Verdegene) đến quán rượu ở cùng phố.

20 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc về nhà.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 16

Lúc 14 giờ 35, Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam (một thợ ảnh đã đến nhà Nguyễn Ái Quốc ở mấy ngày) rời nhà, đến phòng bưu điện ở phố Clôđơ Bécna tra bộ Niên giám Pari, rồi đến hiệu sách Tơranh mua một quyển sách. Sau đó đến một nhà chuyên đánh máy chữ ở số 27 phố Clôđơ Bécna thuê sao lại bài viết nhan đề Chính trị Đông Dương.

Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam còn đến các địa chỉ sau đây:

– Nhà ông Lui Blăngsa (Louis Blanchard), bán tranh ảnh, ở 40 phố Êcôlơ (Écoles.)

– Hiệu giầy Lanhcomparablơ (L’Incomparable).

– Quán ăn Phrăngcô Sinoa (Franco Chinois) ở 11 bis phố Cácmơ (Carmes).

– Trụ sở báo La Dépêche coloniale.

– Nhà số 22 phố Satôđoong (Châteaudun).

Lúc 17 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam rời nhà số 22 phố Satôđoong xuống ga tàu điện ngầm Lơ Pôlơchiê (Le Poletier) để trở về nhà.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc rời khỏi nhà lúc 9 giờ 45, đi đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

14 giờ 15, ra khỏi thư viện, đến Trụ sở Hạ nghị viện ghi giấy xin gặp Mácxen Casanh.

15 giờ 45, rời lâu đài Buốcbông (Bourbon) mua một tờ Journal officiel rồi về nhà.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn đến văn phòng của hai tờ báo L’Humanité  Le Populaire hỏi xin việc làm nhiếp ảnh cho Phan Châu Trinh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc gặp Khánh Ký cho biết đã gặp toà soạn báo L’Humanité và báo Le Populaire để tìm cho Phan Châu Trinh một chỗ làm thợ ảnh ở Pari.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 19

Buổi sáng, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi nhà lúc 10 giờ, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

11 giờ 50, rời thư viện đến hiệu ảnh Păngtêông (Panthéon) rồi đến hiệu sách Lasông ê Rơnu (Lachon et Renouf) mua một quyển sách, sau đó trở lại thư viện.

14 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc đến Hạ nghị viện xin gặp Mácxen Casanh; 25 phút sau, rời địa chỉ trên và đi dạo.

16 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc mất hút trong đám đông ở gần Cung điện Luvơrơ (Louvre).

17 giờ 35, Nguyễn Ái Quốc về đến nhà.

Buổi tối, Nguyễn Ái Quốc tranh luận với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Khánh Ký tại nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ hồi 10 giờ 20 đến 11 giờ 45. Mua một tờ L’ Humanité.

17 giờ 30, đến Acađêmi Luyđô chơi bi-a với cụ Phan Châu Trinh.

18 giờ 30, rời Luyđô về số 6 Vila đê Gôbơlanh.

20 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc cùng với một người Việt Nam xuống tàu điện ngầm đến Basti (Bastille) rồi mất hút.

         – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại  (CAOM) tại  Aix en Provence, Hồ sơ  SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.60.

Tháng 12, ngày 22

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc mít tinh do Công đoàn C.G.T6 tổ chức và phân phát tại đấy một số bản Yêu sách của nhân dân An Nam.

         – Thư của Pie Ghétxđơ, Tổng thanh tra kiểm soát người Đông Dương tại Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đề ngày 12-10-1920. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phan Châu Trinh rời số 6 Vila đê Gôbơlanh vào lúc 14 giờ 10, cùng đến phố Clôđơ Bécna có hiệu nhuộm Béctông (Berthon) đưa đồ giặt, đến bác sĩ Trinh không có nhà, gặp một sinh viên độ 32 tuổi, trước ở đường Môngtơpacnaxơ (Montparnasse). Ba người Việt Nam đến gặp họ.

17 giờ 30, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc đi bỏ thư, Nguyễn Ái Quốc về nhà trước.

18 giờ 25, Khương đến gặp Nguyễn Ái Quốc tại 6 Vila đê Gôbơlanh.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ, mua một tờ L’Humanité và một tờ Le Libertaire. Đến số nhà 70, đại lộ Gôbơlanh nhà in Sácpăngchiê (Charpentier) rồi trở về.

13 giờ 30, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

15 giờ 25, đi bỏ thư. Sau đó đi tàu điện ngầm đến ga Ext (Est).

20 giờ trở về.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, trước ngày 26

Nguyễn Ái Quốc nói chuyện với Êđua tại số 6 Vila đê Gôbơlanh về ý muốn lập Hội tương tế Đông Dương, gồm những người dân Đông Dương đã ở ít lâu trên đất Pháp nhằm giữ gìn và phát triển những ý kiến tốt và những kiến thức đã thu lượm được tại Pháp.

Khi Êđua nêu vấn đề do anh ta đang làm việc trong cơ quan nhà nước nên nếu tham gia phải được cấp trên cho phép, Nguyễn Ái Quốc nói: “Dù sao thì tôi tin là Chính phủ không có lý do nào để không cho phép lập một hội không có mục đích chính trị nào cả như vậy. Nếu anh chịu lo thì chắc chắn Nhà nước sẽ cho phép”.

Khi nói đến vấn đề tư pháp, Nguyễn Ái Quốc đả kích mạnh mẽ việc lập toà đại hình ở Bắc Kỳ.

Nguyễn Ái Quốc khẳng định đã tận mắt trông thấy những người dân Trung Kỳ chỉ đến Toà Khâm với tay không để phản đối sưu thuế quá nặng, thế mà người ta đã nổ súng để giải tán họ. Nguyễn Ái Quốc cho rằng biện pháp đó là tàn bạo và vô nhân đạo, cho rằng các quan lại An Nam là nguyên nhân của cuộc nổi loạn và bắn giết đó, sau đó lại xử tội chém hoặc đi đày nhiều người vô tội.

         – Mật báo của Êđua. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 26

Nguyễn Ái Quốc rời số 6 Vila đê Gôbơlanh lúc 15 giờ 25, đến nhà in Cácpăngchiê cùng phố. Mua một tờ Journal du peuple rồi đi mua thuốc và đồ dùng, về nhà lúc 16 giờ 55.

Nguyễn Ái Quốc nhận được một thư từ Ruy Đuy Phôbua, Xanh Đờni.

         – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            –  Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ 25, mua một tờ báo L’Humanité, đi tàu điện ngầm đến ga Rêpuyblic (République) thì mất hút.

12 giờ 10, về tới nhà xách một túi hàng.

14 giờ, ra khỏi nhà, đến bưu điện bỏ một thư.

16 giờ, đến Quảng trường Italia, đi tàu điện ngầm đến chi nhánh Bộ Thương mại xuất nhập khẩu. Mười phút sau ra ôtô buýt rồi mất hút.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

           – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Tháng 12, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ 20, mua một tờ L’Humanité và một tờ Journal du peuple. Đi tàu điện ngầm tới ga Ar Ê Mêchiê (Art et Métiers) rồi mất hút. 12 giờ 35 trở về nhà.

        – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Tháng 12, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 14 giờ 40. Đi tàu điện ngầm từ Quảng trường Italia đến ga Lơ Pelơchiê (Le Pelletier). Dạo chơi một vòng ở Ruy duy Phôbua (Rue du Faubourg). Nhận một thư từ Năngtơi (Nanteuil) và một bưu thiếp từ Gay Luytxăc (Gay Lussac). Có Khương, Lâm và Trần Văn Quang đến.

             – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

              – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Cuối năm

Vào những tháng cuối năm 1919, Uỷ ban Quốc tế III7 của Đảng Xã hội Pháp được thành lập. Mục đích của Uỷ ban này là vận động Đảng gia nhập Quốc tế III và bảo vệ cách mạng Nga đang bị các chính phủ tư sản kể cả Chính phủ Clêmăngxô (Clémanceau) của Pháp, tiến công dữ dội.

Nguyễn Ái Quốc tích cực tham gia các hoạt động của tổ chức này.

Anh thường lui tới phòng họp Hội phổ biến kiến thức ở khu Latinh, phòng họp Muyliê ở gần lâu đài Luýchxămbua, rạp chiếu bóng phố Satô dô (Château d’eau) ở Quận 10, v.v. để dự các cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế III tại Pari. Trong các cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc thường thông báo cho các bạn Pháp về tình hình Việt Nam và những tội ác của thực dân Pháp ở đó.

Nguyễn Ái Quốc cùng một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp đi quyên góp tiền trong các phố Pari để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính phủ Pháp và chính phủ các nước Đồng minh bao vây nước Nga Xôviết. Cùng với việc quyên tiền, Nguyễn Ái Quốc tham gia phân phát các truyền đơn của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi lao động Pháp lên án sự can thiệp vũ trang của Chính phủ Pháp vào nước Nga, hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga8.

            – Giắc Đuyclô: Những ngày Pari. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.28.

            – Báo Nhân dân, ra ngày 22-5-1975.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc tổ chức in bản Yêu sách của nhân dân An Nam thành truyền đơn để tuyên truyền rộng rãi trong công nhân Pháp, binh lính người Việt và Việt kiều
ở Pháp.

Với số tiền ít ỏi dành dụm được, Nguyễn Ái Quốc đến nhà in Sácpăngchiê ở 70 phố Gôbơlanh thuê in 6.000 bản truyền đơn nói trên, và đã phân phát trong các cuộc mít tinh ở Pari và một số thành phố khác. Nguyễn Ái Quốc còn tổ chức những cuộc nói chuyện giới thiệu bảnYêu sách và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đòi độc lập, tự do.

         – Báo cáo mật của Văn phòng Tổng Giám đốc Sở An ninh Pháp, ngày 30-1-1920 về phong trào đòi độc lập của người Đông Dương.

            – Tài liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 ______________________

 1) Theo lời khai của Nguyễn Tất Đạt, thời gian đầu Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thợ máy (école des mécaniciens), sau vài tháng học mới làm phụ bếp trên tàu của hãng Chargeurs Réunis.

2) Tàu A.L.Tơrêvin được đóng tại xưởng Sinazaire (Pháp) hạ thuỷ năm 1901, đăng ký tại cảng Lơ Havơrơ năm 1904, dài 110,02m; rộng 15,21m; cao 8,046m; sức chở 3.436 tấn; tốc độ tối đa 12 hải lý/giờ.

3) Hãng Năm Sao chính là Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) trên ống khói có năm ngôi sao năm cánh nên dân ta gọi nôm na là hãng Năm Sao.

4) Nhà báo, nhà thơ Nga Ôxíp Manđenxtam (B.T).

5) Nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông (B.T).

6) Theo hồi ức của một số học sinh cũ của Trường Dục Thanh, bức thư đó đã được đọc cho thầy trò của trường nghe trong bữa tiệc tiễn số học sinh ra Huế học.

7) Trường Thuộc địa (école Coloniale) được thành lập năm 1885 tại Pari với mục đích đào tạo những công chức để gửi sang các nước thuộc địa làm việc. Học viên chủ yếu là người Pháp, rất ít người của các nước thuộc địa, trừ một số do chính quyền ở thuộc địa gửi sang.

8) Lá đơn trên đây viết ngày 15-9-1911 từ Mácxây đặt ra một vấn đề mới để nghiên cứu thêm: sau khi tàu Amiran Latusơ Tơrêvin đến Lơ Havơrơ, Nguyễn Tất Thành chưa rời tàu để đi làm vườn như các tài liệu trước đây viết. Trong sổ lương còn ghi rõ: Văn Ba lĩnh lương tại Sài Gòn vào ngày 16-10-1911 trong chuyến đi của tàu từ Đoongkéc về Hải Phòng.

9) Chúng tôi giới thiệu một tài liệu mới tìm được. Đó là Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn gửi Chánh mật thám Huế và Giám đốc Tổng mật vụ Phủ Toàn quyền Hà Nội. Bức điện đó đánh đi từ Sài Gòn ngày 13-11-1923 viết:

“Trong quá trình khẩn trương và được tiến hành với tất cả tinh thần trách nhiệm, tôi đã tìm thấy trong tài liệu lưu trữ bức thư gốc gửi Khâm sứ Trung Kỳ, đề tại Niu Oóc ngày 15-12-1912, ký tên Paul Tất Thành, con trai Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Bức thư đến Nam Kỳ vào cuối năm 1912. Lúc đó Nguyễn Sinh Huy đã có ở đây. Từ lâu ông Huy không có mối liên lạc gì với con trai, chỉ thật hoạ hoằn lắm mới nhắc tới con trai”.

Qua tài liệu này, đối chiếu với một số nguồn tài liệu khác, chúng tôi cho rằng Nguyễn Tất Thành đã có một thời gian sống ở Mỹ vào cuối năm 1912 đầu năm 1913.

10) Ngày 25-5-1912, Khâm sứ Trung Kỳ đã gửi Công văn số R28 – 6971 (lưu tại CAOM – Pari) gửi Toàn quyền Đông Dương, nội dung như  sau: “Phúc Công văn số 263 chuyển đơn của Nguyễn Sinh Khiêm xin cho em là Nguyễn Tất Thành vào Trường Thuộc địa, xin báo Ngài là ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

11)Chỉ việc cụ Phan Châu Trinh đang bị phái hữu trong Bộ Thuộc địa ép phải đi khỏi Pari (B.T).

12) Tức luật sư Phan Văn Trường (B.T).

13)  Em Dật, tức Phan Châu Dật, con trai cụ Phan Châu Trinh (B.T).

14) Chỉ tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ diễn ca do Phan Châu Trinh dịch từ tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Sài Tử Lang xuất bản năm 1885, dựa theo bản dịch Hán văn của Lương Khải Siêu, thành 7.000 câu thơ lục bát. Sách gồm 9 hồi, hồi thứ 9 còn dở dang. Tác phẩm đặt vấn đề về quyền độc lập, tự do, dân quyền ở các nước thuộc địa trên thế giới những năm 50 của thế kỷ XIX. Năm 1926, Ngô Đức Kế cho in lần đầu ở Hà Nội nhưng chưa kịp phát hành đã bị tịch thu hết (B.T).

15) Về địa chỉ này, đến tháng 6 năm 1915 Đại sứ quán Pháp tại Anh đã báo cho Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh biết (Theo Hồ sơ số FO.372.668.33562).

16) Về thời gian Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, số đông các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp khoảng cuối năm 1917.

17) Sau khi nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc, Đại biện sứ quán Mỹ tại Pari đã có thư trả lời. Toàn văn như sau:

“Đoàn Mỹ tại Hội nghị Hoà bình Pari, ngày 19-6-1919.

Thưa ông Nguyễn Ái Quốc,

Đại tá Haoxơ (Haus) giao cho tôi báo để ông biết là đã nhận được bức thư của ông đề ngày 18-6-1919 và cảm ơn ông đã gửi cho chúng tôi bản Yêu sách của nhân dân An Nam nhân dịp chiến thắng của Đồng minh.

Xin ông nhận cho những tình cảm quý trọng của tôi.

Đại biện sứ quán Mỹ

Hôm sau Đoàn Mỹ lại gửi tiếp một bức thư khác:

“Đoàn Mỹ tại Hội nghị Hoà bình Pari, ngày 20-6-1919.

Kính gửi ông Nguyễn Ái Quốc,

Tôi lấy làm hân hạnh báo để ông biết chúng tôi đã nhận được thư ông đề ngày 18-6-1919 và xin nói rằng chúng tôi sẽ trình thư đó lên Tổng thống”.

Thư ký riêng của Tổng thống Mỹ

(đã ký)

18) Ngày 19-6-1919 Đoàn đại biểu Nicaragoa đã viết thư trả lời. Toàn văn như sau:

Khách sạn  Rúytxi (Russie), số 1 phố Đơ Ruyô (De Ruyo), ngày 19-6-1919.

Thưa ông Nguyễn Ái Quốc,

Tôi hân hạnh báo để ông biết chúng tôi đã nhận được thư của ông cùng với bản Yêu sách của nhân dân An Nam mà ông gửi cho ông Xanvađo Xamôrô, đại biểu Nicaragoa tại Hội nghị Hoà bình.

Ông Xamôrô giao cho tôi chuyển lời cảm ơn ông về bản tài liệu nói trên đã làm cho ông ta hết sức chú ý.

Xin ông nhận ở đây những tình cảm quý trọng của tôi.

Thư ký Đoàn đại biểu Nicaragoa

(đã ký)

19) Giăng Ajanbe: nhà văn, nhà báo Pháp đã từng đến Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều bài viết về Việt Nam đăng trên các báo Pháp (B.T).

20) Anbe Xarô thời điểm này là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa. Trước đó ông ta là Toàn quyền Đông Dương từ tháng 11-1911 đến tháng 1-1914 và nhiệm kỳ thứ hai từ tháng 1-1917 đến tháng 5-1919 (B.T).

21)Lúc này Anbe Xarô là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn ghi là Toàn quyền Đông Dương (B.T).

22) Mật báo viết: “Sau khi nói chuyện dài dòng (với một chàng trai ở Bộ Thuộc địa), tôi đã dắt dẫn anh ta đến chuyện Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường. Qua câu chuyện này thì thấy Phan Văn Trường còn ở Đức, nơi anh ta đã sang từ hai tháng nay cùng với Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc quay về Pari có lẽ từ một tuần nay…”.

23) Bức thư đề ngày 16-10-1919, đánh máy bằng chữ Pháp, dài ba trang. So với bài Thư gửi ông Utơrây đăng trên tờ Le Populaire ngày 14-10-1919 thì dài hơn và viết tỷ mỉ hơn.

24) Pie Pátxkiê sau này là Toàn quyền Đông Dương từ ngày 26-12-1928 đến năm 1930 và tiếp đó là năm 1931 – 1932 (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Từ năm 1904 đến năm 1910)

NĂM 1904

Tháng 4, ngày 13

Nguyễn Tất Thành chịu tang bà ngoại (theo âm lịch là ngày 28 tháng 2 năm Giáp Thìn).

Đây là cái tang lớn của cả gia đình. Sở dĩ ông Nguyễn Sinh Sắc học hành và đỗ đạt được chủ yếu nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của gia đình vợ. Bà ngoại cũng đã dành cho Thành và những người cháu sớm mồ côi mẹ lòng yêu thương sâu sắc.

             – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

Tháng 4, sau ngày 13

Sau khi bà ngoại mất, Nguyễn Tất Thành theo cha từ Võ Liệt trở về Kim Liên để có điều kiện lui tới Hoàng Trù chăm lo hương khói cho gia đình bên ngoại. Nguyễn Tất Thành được phụ thân gửi đến học một thời gian ngắn với thầy Trần Thân ở làng Ngọc Đình, cạnh làng Kim Liên.

         – Biên Bản Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

             – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.42 – 43.

Khoảng tháng 6, tháng 7

Nguyễn Tất Thành được chứng kiến cảnh thực dân Pháp và quan lại bắt phu trong vùng hoàn thành gấp rút đoạn đường từ Cửa Rào (miền Tây Nghệ An) đi Trấn Ninh. “Vì bọn đốc công Pháp tàn bạo, nước độc và lương thực thiếu nên nhiều người đi phu bị chết, những người sống thì đều đau ốm”, nhân dân than thở và oán thán:

“Ai đi đến chốn Cửa Rào

Nhớ mang chiếc chiếu bó vào trải ra”.

Bó vào là để chôn, trải ra là để nằm dọc bờ dọc bụi. Ngày lên đường đi phu người ta thường nhớ kỹ để sau này làm giỗ.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.10.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.47 – 48.

            – Nhiều tác giả: Bác Hồ – hồi ký, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.26 – 27.

Nửa cuối năm

Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian này ông Nguyễn Sinh Sắc dạy học tại nhà ông Nguyễn Bá Uý, ở thôn Hạ, xã Chính Trung, tổng Du Đồng, phủ Đức Thọ (nay là xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ).

Trong thời gian dạy học, ông Nguyễn Sinh Sắc đã tổ chức những buổi bình văn thơ, có lúc kéo dài tận khuya. Nguyễn Tất Thành thường chăm chú lắng nghe các buổi bình thơ đó.

Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, làng Trung Lễ, quê hương của Lê Ninh, thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v..

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

                  – Lời kể của bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, cháu nội ông Nguyễn Bá Uý.

NĂM 1905

Tháng 7

Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Huy đi gặp các sĩ phu ở vùng đó 1).

Chính trong thời gian này, ông Nguyễn Thức Canh đến Kim Liên tìm Nguyễn Tất Thành để rủ đi xuất dương du học (phong trào Đông Du) nhưng không gặp 2).

        – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.13.

            – Trần Trọng Khắc: Năm mươi bốn năm hải ngoại. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1957, tr.59 – 60.

Khoảng tháng 9

Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14km.

Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và chiều thứ bảy thường đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.

Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI 3).

            – Chưa hết năm học, Tất Thành cùng cha vào Huế nhân dịp cha vào Kinh đô nhận chức.

            – Tài liệu của Khu di tích Kim Liên và Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh.

            – Hồi ký của ông Chu Văn Phi, người cùng học lớp dự bị với Nguyễn Tất Thành. Tài liệu lưu tại Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ An.

NĂM 1906

Cuối tháng 5

Nguyễn Tất Thành cùng Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế trong dịp ông Nguyễn Sinh Huy vào kinh đô nhậm chức.

Những người đỗ cùng khoa với ông Nguyễn Sinh Huy đều đi làm thừa biện từ năm 1903, sau kỳ thi hai năm. Ông Nguyễn Sinh Huy không muốn đi làm quan, đã một vài lần lấy cớ ốm đau, chịu tang mẹ vợ, v.v. để nấn ná ở lại quê nhà. Song không thể trì hoãn thêm được nữa, cuối tháng 5-1906, ông phải vào Huế để chờ bổ nhiệm 4).

          – Tờ trình của Bộ Lại, ngày 15 tháng 4 (nhuận) năm Thành Thái thứ 18. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

               – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.53.

Từ tháng 7

Nguyễn Tất Thành cùng cha và anh ở tại căn buồng trong dãy “Thuộc viên”, cấp cho ông Nguyễn Sinh Sắc gần cửa thành Đông Ba (Huế). Dãy nhà này nguyên là trại lính “phòng thành”, được sửa chữa lại làm nơi ở cho các quan nhỏ làm việc trong sáu bộ của Hoàng triều. Anh em Nguyễn Tất Thành ngoài thì giờ học phải thay nhau lo việc nội trợ giúp cha.

             – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.53.

Tháng 9

Nguyễn Tất Thành vào học lớp dự bị (cours préparatoire) tại Trường tiểu học Pháp – Việt tỉnh Thừa Thiên 5).

Trường đặt trước cổng thành Đông Ba và xây trên nền của đình chợ Đông Ba ngày xưa nên nhân dân quen gọi là Trường Đông Ba. Trường dạy cả ba thứ chữ: chữ quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán.

Ngoài việc học ở nhà trường, Nguyễn Tất Thành còn nhờ người mượn sách ở Lầu tàng thư (nơi lưu trữ sách và các loại văn thư của triều Nguyễn) về đọc.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

            – Tư liệu khảo sát năm 1975 và năm 1976 của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1907

Tháng 9

Nguyễn Tất Thành vào học lớp sơ đẳng (cours élémentaire) 6) tại Trường tiểu học Pháp – Việt tỉnh Thừa Thiên.

         – Hồi ký của các ông Lê Thiện, Lê Thanh Cảnh. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1908

Tháng 4, ngày 12

Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên.

Thời kỳ này, hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước, nông dân các tỉnh Trung Kỳ nổi dậy chống thuế 1. Họ đi tay không. Họ chỉ đòi giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”.

Vì những hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành đã bị thực dân Pháp để ý theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Sắc cũng bị chúng khiển trách với lý do đã để cho con trai có những hoạt động bài Pháp.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.12.

            – Hồ sơ của mật thám Pháp. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8

Nguyễn Tất Thành với tên gọi Nguyễn Sinh Côn có thể được nhận vào Trường Quốc học Huế, theo thư của ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) gửi ông Khâm sứ Trung Kỳ.

            – Thư của ông Sukê (Chouquet) ngày 7-8-1908 7). Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ hải ngoại (CAOM), ký hiệu RI tủ GGI, hộp RSA.

            – Báo Lao động số Tết Ất Dậu (2005), bài của Nguyễn Đắc Xuân.

Tháng 9

Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế.

Thời kỳ này Trường Quốc học Huế (Quốc gia học đường) có các lớp sơ đẳng, trung đẳng và cao đẳng (cours supérieur). Trường dạy Pháp văn, Việt văn và Hán văn, ngoài ra còn dạy các môn khoa học khác. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dạy trong trường.

Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến bọn thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, nhà trường ca ngợi chế độ thực dân phong kiến.

Nguyễn Tất Thành còn được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.

         – Hồi ký của ông Lê Thiện, Lê Thanh Cảnh. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

             – Hồi ký của La Hoài, đăng trong Tập san Hội ái hữu Quốc học, số 2. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1909

Khoảng đầu tháng 6

Nguyễn Tất Thành theo cha vào huyện Bình Khê 8) thuộc tỉnh Bình Định (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) nhân ông Nguyễn Sinh Sắc được cử nhậm chức tri huyện ở đó 9). Thời gian ở Bình Khê, Nguyễn Tất Thành thường được phụ thân dẫn đi thăm các sĩ phu trong vùng và thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn, nơi phát tích của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.

         – Tờ trình của Bộ Lại ngày 29-5-1909. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh với mật thám Pháp ngày 7-5-1920. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Nguyễn Tất Thành ở Bình Định, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ – Ban Khoa học Kỹ thuật Tỉnh uỷ Bình Định xuất bản năm 1991, tr.36.

Từ tháng 9

Để tiếp tục việc học tập, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến Quy Nhơn để học thêm tiếng Pháp với thầy giáo Phạm Ngọc Thọ 10) dạy tại trường Tiểu học Pháp – Việt Quy Nhơn theo chương trình lớp cao đẳng (cours supérieur).

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo Thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội, tháng 2-1987.

            – Lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh với mật thám Pháp ngày 7-5-1920. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồi ức của bà Phạm Ngọc Diệp, chị ruột ông Phạm Ngọc Thạch. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1910

Tháng 1, sau ngày 17

Nguyễn Tất Thành được tin cha bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế.

         – Tờ trình của Bộ Hình ngày 19 tháng 8 năm Duy Tân thứ 4. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

             – Điện của Khâm sứ Trung Kỳ gửi Công sứ Phan Thiết, ngày 10-11-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng đầu tháng 9

Trên đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết. Do hết tiền, anh phải xin vào làm trợ giáo (moniteur), dạy môn thể dục tại Trường Dục Thanh 11), một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907.

            – Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Đăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910 – 1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.13.

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

NĂM 1910 – 1911

Từ nửa sau tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911

Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Thời gian đầu, thầy Thành ở nhờ nhà cụ Hồ Tá Bang, sau chuyển ra ở cùng với học sinh nội trú của trường tại một căn nhà có tên gọi là nhà Ngư trong vườn cụ Nguyễn Thông.

Thầy dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc học sinh. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước, chẳng hạn bài Á tế á ca, bài Ca hớt tóc, v.v.. Thầy phụ trách thể dục buổi sáng của nhà trường, chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng, như động Thiềng Đức, bãi biển Thương Chánh.

         – Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Đăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910 – 1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ  tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.15.

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

——————–

1) Trong số các sĩ phu đó có ông Nguyễn Quang Đoàn, con trai của lãnh tụ chống Pháp Nguyễn Quang Bích.

2) Trong cuốn Hồi ký Năm mươi bốn năm hải ngoại của Trần Trọng Khắc (tức Nguyễn Thức Canh) có đoạn: “Tôi cùng cụ Sào Nam ở chung trong một thuyền. Chín mười ngày sau, lúc các đồng chí đã đến họp, bàn bạc xong, cụ lên đường ra Bắc, tôi cùng Ngư Hải tiên sinh đồng đi cáo biệt với cách mạng đồng chí và tìm thanh niên xuất dương du học. Cụ Phó bảng Thái Sơn đương thời có tặng tôi một bài thơ thất ngôn tuyệt cú để làm quà tiễn biệt. Chúng tôi trước tới nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc rủ anh Nguyễn Sinh Cung đồng đi, nhưng anh Cung đã đi ra Bắc không được gặp”.

3) Năm 1923, trả lời nhà thơ Ôxíp Manđenxtam, Nguyễn Ái Quốc nói: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI”.

Những tài liệu cũ đều ghi Nguyễn Tất Thành vào Huế năm 1905 và đều chưa có tài liệu về việc Nguyễn Tất Thành học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp – bản xứ tại Vinh.

Qua tờ trình của Bộ Lại ngày 6-6-1906 và hồi ký trên đây, chúng tôi cho rằng Nguyễn Tất Thành tiếp xúc với khẩu hiệu trên ở thời điểm năm học 1905 – 1906 tại Vinh (Nghệ An).

Theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, loại trường Pháp – bản xứ được thiết lập tại tỉnh lỵ các tỉnh trên toàn cõi Việt Nam từ năm 1905.

4) Trong tờ trình của Bộ Lại đề ngày 15-4 (nhuận) năm Thành Thái thứ 18 (tức ngày 6-6-1906) có ghi rõ: “Mới đây theo lời bẩm của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (bốn mươi lăm tuổi, người tỉnh Nghệ An) viên này dự trúng phó bảng kỳ thi Hội khoa Tân Sửu năm Thành Thái thứ 13. Lần đó về thăm quê nhà xong việc bị bệnh ở lại quê quán uống thuốc, nay bệnh đã khỏi đến bộ tôi đợi mệnh”.

Qua tài liệu này, chúng ta biết được ông Nguyễn Sinh Huy cùng hai người con trai đã đến Huế vào cuối tháng 5-1906 và tháng 6-1906 mới nhận chức Thừa biện Bộ Lễ.

5) Theo lời khai của Nguyễn Tất Đạt ở Sở mật thám Huế ngày 19-3-1920: 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế. Nguyễn Tất Đạt làm thợ máy in tay ở Toà Khâm sứ, còn Nguyễn Tất Thành tiếp tục học ở Trường Pháp – Việt. Nguyễn Tất Thành đỗ sơ đẳng tiểu học năm 1908 và được vào học tại Trường Quốc học Huế.

6) Về việc học tập của mình, có lần Bác nói với đồng chí thư ký của Bác rằng: Bác học chính thức trên ghế nhà trường chỉ hết lớp nhì của bậc tiểu học (theo nhật ký của đồng chí Vũ Kỳ. Bác nói vào tối ngày 27-8-1945).

Đối chiếu toàn bộ quá trình, chúng tôi cho rằng Bác học lớp dự bị (préparatoire) tại Vinh vào năm 1905 – 1906 nhưng chưa học hết năm học, vào Huế Bác học lại lớp dự bị và tiếp đó học lớp sơ đẳng (cours élémentaire) tại Trường tiểu học Đông Ba vào các năm học 1906 – 1908.

7) Toàn văn thư của ông Sukê trả lời Công văn số 526 ngày 4-8-1908 của Khâm sứ Trung Kỳ như sau:

Huế, ngày 7 tháng 8 năm 1908.

Tiếp theo thư số 526 đề ngày  4-8 năm nay của Ngài, tôi hân hạnh báo cho Ngài rõ có thể tiếp nhận vào Trường Quốc học học sinh có tên Nguyễn Sinh Côn, người gốc Nghệ An, học sinh Trường Pháp – Việt tỉnh Thừa Thiên.

Ký tên: Chouquet.

Qua thư của ông Sukê và lời khai của Nguyễn Tất Đạt ngày 19-3-1920 thì tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành mới vào học Trường Quốc học Huế.

8) Lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh với mật thám Pháp ngày 7-5-1920 nói rõ lúc thân phụ của bà đi nhậm chức tri huyện Bình Khê có đưa Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt đi cùng.

 Đối chiếu với nguồn tài liệu khác: Bác nói với đồng chí Phạm Ngọc Thạch rằng, lúc Bác vào Quy Nhơn thì Phạm Ngọc Thạch mới sinh (7-5-1909), như vậy Bác có mặt ở Quy Nhơn cùng lúc với phụ thân đến nhậm chức vào khoảng đầu tháng 6-1909.

9) Trong tờ trình của Bộ Lại ngày 29-5-1909 (ngày 14-4 năm Duy Tân thứ 3) ghi rõ:

“Bộ Lại tâu,

Phụng Chiếu tri huyện huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định) hiện nay đang khuyết (do Hồ Tiếu Khanh dính líu tiền nong bị triệt hồi chờ xét), tỉnh ấy đã phái viên hậu bổ Phạm Lê Doãn kiêm tạm.

Bộ tôi chọn trong các người tại chức lâu năm đang được bổ dụng (là các ông trước tác tòng chức hành tẩu Bộ Lễ Lê Văn Tường, trước tác tòng chức thừa biện Bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy, biên tu tòng chức hành tẩu Bộ Hình Nguyễn Đình Quảng), 12 ngày trước nhóm bàn, tiếp công văn trả lời của quý Khâm sứ đại thần Gơrôlô rằng y bổ Nguyễn Sinh Huy làm tri huyện Bình Khê. Xét trước tác tòng chức thừa biện Bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy (bốn mươi tám tuổi, người tỉnh Nghệ An, đỗ phó bảng tháng 4 năm Thành Thái thứ 13 bổ thụ chức kiểm thảo, làm thừa biện Bộ Lễ, tháng 2 năm Duy Tân thứ 2 thăng chức tu soạn thư trước tác, tháng 3 cùng năm lĩnh chức trước tác thực thụ) xin cải bổ chức đồng tri phủ lãnh chức tri huyện huyện này”.

10) Ông Phạm Ngọc Thọ là thân sinh cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, lúc đó là trợ giáo hạng nhì (instituteur auxiliaire 2e classe) của Trường tiểu học Pháp – Việt Quy Nhơn.

11) Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết, được Nxb. Văn học in tại Hà Nội. Khi đọc bài Quê hương và thời niên thiếu của Hoài Thanh và Thanh Tịnh viết, Bác nói với đồng chí thư ký hai ý:

– Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.

– Bác không dạy học ở Phan Thiết lâu đến “bảy, tám tháng” như Hoài Thanh và Thanh Tịnh đã viết.

(Ý kiến của đồng chí Vũ Kỳ trong buổi làm việc với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương về bản thảo Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh).

– Theo Nguyễn Tất Đạt, lương tháng trợ giáo của Nguyễn Tất Thành là 8 đồng.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Từ năm 1890 đến năm 1903)

NĂM 1890

Tháng 5, ngày 19

Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự1), tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Nguyễn Sinh Cung chào đời vào lúc thực dân Pháp đã đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam. Phong trào khởi nghĩa chống Pháp theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi tuy bị đàn áp nhưng thực dân Pháp vẫn không dập tắt được tiếng súng kháng chiến của nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Nghệ – Tĩnh và Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế… Ngay ở vùng Nghệ – Tĩnh, nhiều sĩ phu yêu nước vẫn đang ngày đêm lo nghĩ về con đường cứu dân cứu nước thoát khỏi vòng nô lệ.

Thân phụ của Người là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862 2) quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Ông Sắc vốn xuất thân từ gia đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm lụng và ham học. Vì vậy ông được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành, ông thành hôn với người con gái đầu của cụ. Cho đến năm 1890, ông Sắc chưa thi cử và đỗ đạt gì.

Thân mẫu của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con ăn học.

Lúc này ông Sắc, bà Loan đã có ba người con.

Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.

Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884 3).

Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888 4).

Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù.

             – Gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Kim Liên. Tài liệu lưu tại Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

                – Biên bản Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Bài viết Xã Nam Liên và làng Kim Liên, quê hương của Hồ Chủ tịch. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 5-1965, tr.7 – 8.

 TỪ NĂM 1890 ĐẾN NĂM 1895

Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại.

Ông ngoại là Hoàng Đường, thuộc dòng dõi Nho học, mở trường dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng.

Bà  ngoại  là  Nguyễn  Thị  Kép, cũng  là  con một gia đình có truyền thống Nho học, làm ruộng để nuôi gia đình.

Nguyễn Sinh Cung nhỏ tuổi nhất trong nhà nên được mọi người trong gia đình yêu thương và chăm sóc nhiều hơn.

Là một thiếu nhi thông minh, Nguyễn Sinh Cung thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ. Điều gì đã biết thì Nguyễn Sinh Cung nhớ rất lâu, đặc biệt là những chuyện cổ tích, những câu hát phường vải mà bà ngoại và mẹ thường kể.

            – Biên bản Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ tại Nghệ An, năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.15-16.

Tháng 5, ngày 22, năm 1893

Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại, mất ngày 7 tháng 4 năm Quý Tỵ (22-5-1893).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.15.

Khoảng tháng 6, năm 1894

Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: cha đậu cử nhân, khoa thi Giáp Ngọ năm Thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An 5).

            – Quốc triều Hương khoa lục, Long cương tàng bản, xuất bản năm Thành Thái thứ 11 – Kỷ Dậu (1899).

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

Khoảng gần cuối năm 1895

Sau khi đậu cử nhân (1894), ông Nguyễn Sinh Sắc vào kinh đô Huế dự thi Hội, nhưng không đỗ.

Ông xin vào học trường Quốc Tử Giám để chuẩn bị thi Hội kỳ sau. Được tiếp nhận, ông về quê đưa vợ và hai con trai cùng vào Huế; gửi con gái là Nguyễn Thị Thanh ở lại nhờ mẹ vợ nuôi.

Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An vào Huế chưa có đường xe lửa và ôtô. Mọi người đều đi bộ, trẻ con thường được ngồi trong quang gánh, vất vả nhiều ngày dọc đường mới tới được kinh đô Huế.

Tới Huế, lúc đầu gia đình Nguyễn Sinh Cung phải ở nhờ những người quen, sau ở tạm trong một gian của trại lính gần Viện đô sát.

             – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.19-20.

             – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

NĂM 1898

Gần cuối năm

Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha về làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế khoảng 7km. Theo lời mời của ông Nguyễn Sĩ Độ, ông Nguyễn Sinh Sắc về đây dạy chữ Hán cho một số học sinh trong làng.

Ông Nguyễn Sinh Sắc và hai con ở trong nhà người em ông Nguyễn Sĩ Độ là Nguyễn Sĩ Khuyến (lúc này ông Khuyến chưa lập gia đình, nhà bỏ không. Ngôi nhà này hiện nay đã được công nhận là di tích).

Nguyễn Sinh Cung bắt đầu học chữ Hán từ đây. Với trí nhớ tốt, các bài học Nguyễn Sinh Cung chỉ đọc ba, bốn lần là thuộc 6).

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

            – Hồi ức của ông Nguyễn Sĩ Tích (cháu ông Nguyễn Sĩ Độ).

            – Tư liệu của Đoàn Khảo sát di tích Hồ Chí Minh năm 1975.

NĂM 1900

Gần cuối năm

Nguyễn Sinh Cung vẫn ở Huế với mẹ trong thời gian ông Nguyễn Sinh Sắc đi làm giám thị kỳ thi Hương tại Thanh Hoá, đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng.

Cuối năm bà Hoàng Thị Loan sinh người con thứ tư, vì ông Sắc đi vắng, bà lại thiếu sữa phải cho con đi bú nhờ nên bà con gọi đùa là Xin, nhưng Xin quá yếu, đã mất sau một thời gian rất ngắn.

            – Tư liệu của Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế.

 NĂM 1901

Tháng 2, ngày 10

Nguyễn Sinh Cung chịu tang lớn trong tuổi thiếu niên: bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu lâm bệnh qua đời tại Huế (theo âm lịch là ngày 22 tháng 12 năm Canh Tý) 7). Bà đã được những người láng giềng thân thiết lo việc mai táng, vì lúc này ông Nguyễn Sinh Sắc sau khi coi thi ở Thanh Hoá đã trở về Kim Liên và đang ở quê nhà.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.24.

                – Công văn mật số 711 của Chánh sở điều tra trung ương và Tổng mật vụ. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Sau tháng 2

Sau khi mẹ mất, Nguyễn Sinh Cung được cha đưa về Nghệ An, gửi bà ngoại chăm sóc.

Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.25.

            – Theo Hồi ức của cụ Trần Thị Huy, năm 1963. Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồi ký của đồng chí Võ Thúc Đồng – nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ – Tĩnh.

Tháng 5

Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: thân phụ đậu Phó bảng khoa thi Hội Tân Sửu, năm Thành Thái thứ 13 8).

            – Quốc triều khoa bảng lục, Long cương tàng bản, xuất bản năm Thành Thái thứ 18 – Bính Ngọ (1906).

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

Khoảng tháng 9

Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình chuyển về sống ở quê nội là làng Kim Liên (làng Sen).

Theo tục lệ hồi ấy, ông Nguyễn Sinh Sắc được làng Kim Liên đón về và được làng cấp đất công, xuất quỹ công làm một ngôi nhà để mừng ông (ngôi nhà và mảnh vườn đó từ năm 1957 được phục chế và trở thành Khu di tích Kim Liên).

Về nhà mới, ông Sắc thường răn dạy các con ông: “Vật dĩ quan gia vi ngô phong dạng” (nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) 9).

Tuy đã đỗ đạt nhưng ông Nguyễn Sinh Sắc và gia đình vẫn sống thanh bạch, đạm bạc.

Cũng nhân chuyện về sống ở quê nội, ông Nguyễn Sinh Sắc làm lễ “vào làng” cho hai con trai, với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).

– Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

– Lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh với mật thám Pháp ngày 7-5-1920. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 Sau tháng 9

Nguyễn Tất Thành được phụ thân gửi học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý ở trong làng Kim Liên. Thầy Vương Thúc Quý là người con độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương của huyện Nam Đàn, người đã hy sinh trong cuộc càn quét của giặc Pháp tại Kim Liên. Mang nặng nợ nước thù nhà, thầy Quý tuy đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học và cùng các sĩ phu yêu nước trong vùng âm mưu chống Pháp. Nhà thầy Quý là nơi các sĩ phu yêu nước thường lui tới, trong đó có các ông Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân… Những hôm nhà có khách, Nguyễn Tất Thành thường được thầy Quý lưu lại giúp đun nước, pha trà… Nhờ đó Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi luận bàn thời cuộc của các sĩ phu yêu nước.

            – Tư liệu hồi ký. Tài liệu lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ An.

 KHOẢNG NĂM 1901 – 1902

Nguyễn Tất Thành bước đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng. Trong tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu kể lại rằng: Nguyễn Tất Thành thường nghe Cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:

                          “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

                           Lập thân tối hạ thị văn chương”.

Nghĩa là:

                            “Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách

                            Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.

Nguyễn Tất Thành còn tìm đọc những cuốn sách mà các bậc cha chú thường nhắc tới và được phụ thân dẫn đi thăm các di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh trong vùng. Ngoài việc học tập, Nguyễn Tất Thành thường cùng bạn bè chơi các trò chơi của tuổi thiếu niên như đánh khăng, đánh trận giả, câu cá, bẫy chim, đánh vật… hoặc rủ nhau thăm các thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử trong vùng như Núi Chung, Đền Thánh Cả, Chùa Đạt, Đền Độc Lôi… Nơi Nguyễn Tất Thành thường lui tới nhiều nhất là lò rèn ông Điền và giếng Cốc ở gần nhà.

Có lần Nguyễn Tất Thành làm chung cùng các bạn trong làng một cái diều sáo. Làm xong đem thả, diều không lên. Sửa mấy cũng không được, các bạn nản chí bàn phá đi làm lại cái khác. Nguyễn Tất Thành không nghe theo các bạn và tiếp tục sửa chữa. Đến khi diều tung gió bay cao, các bạn hỏi về cách sửa chữa, Nguyễn Tất Thành chỉ vẽ cho các bạn và bảo: “Cứ kiên trì chịu khó là được”.

Một lần khác, cùng các bạn câu cá ở cái ao gần nhà bà ngoại ở làng Trùa. Khi một bạn giật mạnh cần câu, lưỡi câu sắc nhọn, mắc vào tai Nguyễn Tất Thành, máu ra nhiều các bạn rất lo sợ. Nhưng Nguyễn Tất Thành nén chịu đau, bình tĩnh rút lưỡi câu ra, nhờ các bạn lấy “lá niệt” rửa sạch, đặt vào chỗ vết thương để cầm máu, và dặn các bạn đừng nói cho bà ngoại biết kẻo bà lo. Vết thương này sau thành sẹo, để dấu ấn ở tai Nguyễn Tất Thành.

            – Phan Bội Châu niên biểu, Nxb. Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1955, tr.30.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ -Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.26, 30.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

NĂM 1903

Mùa xuân

Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy chữ Hán tại nhà ông Nguyễn Thế Văn.

Xã Võ Liệt là một xã có truyền thống yêu nước. Đó là quê hương của Phan Đà, người thanh niên mới 17 tuổi đã đứng ra chiêu tập nghĩa binh, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Đó cũng là quê hương của Trần Tấn, người khởi xướng cuộc khởi nghĩa năm Giáp Tuất (1874) của văn thân Nghệ – Tĩnh.

Trong thời gian theo cha đến học ở Võ Liệt, Nguyễn Tất Thành lại có dịp nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình.

            – Tư liệu của Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ -Tĩnh: Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.41 – 42.

________________________________

1) Xã Chung Cự vốn có truyền thống nho học từ lâu đời. Theo Đăng khoa lục, từ đời Lê Dương Hoà (1635) đến năm 1919 là khoá thi Hương, thi Hội cuối cùng, qua 96 khoa thi, toàn xã Chung Cự đã có 193 người đậu, tính từ hiệu sinh và tú tài trở lên. Là vùng đất có truyền thống yêu nước. Khi vua Hàm Nghi chạy ra Sơn Phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần Vương, ở Chung Cự có ông Vương Thúc Mậu lập đội nghĩa binh đóng ở núi Chung (gọi là Chung Nghĩa Binh) để chống Pháp. Dân Chung Cự và các xã lân cận theo ông rất đông. Đội Chung Nghĩa Binh đã nhiều phen làm cho giặc Pháp và quan lại Nam Triều phải lao đao.

2) Về năm sinh của ông Nguyễn Sinh Sắc, trước đây có sách ghi là năm 1863 nhưng các văn bản của triều Nguyễn bổ nhiệm ông, cũng như danh sách trúng tuyển kỳ thi Hội năm Thành Thái thứ 13 đều ghi ông sinh năm Nhâm Tuất (1862).

Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết: ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng mất (7-1864). Từ đó chúng tôi cho rằng ông Sắc sinh năm 1862.

3) Chị và anh của Nguyễn Sinh Cung đều là những người yêu nước và có tham gia phong trào yêu nước. Bà Nguyễn Thị Thanh đã từng nuôi giấu các thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp, bí mật vận động tiếp tế lương thực cho nghĩa quân và tham gia Duy Tân hội. Năm 1918 bị thực dân Pháp bắt, đày đi Quảng Ngãi, sau đó đưa về quản thúc ở Huế.

4)Ông Nguyễn Sinh Khiêm đã từng tham gia biểu tình chống thuế ở Thừa Thiên, sau về quê tham gia phong trào Duy Tân. Năm 1914, Nguyễn Sinh Khiêm bị thực dân Pháp bắt, đày đi Nha Trang, rồi đưa về quản thúc ở thôn Phú Lễ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

5) Trong danh sách khoa thi Hương Giáp Ngọ, năm Thành Thái thứ 6 có ghi Nguyễn Sinh Sắc.

6) Theo lời kể của người nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, có một hôm ông Nguyễn Sinh Sắc đi vắng, Nguyễn Sinh Cung cất sách đi chơi. Bạn bè khuyên Cung vào học bài thì Nguyễn Sinh Cung đã đọc thuộc lòng một mạch bảy trang sách cho các bạn nghe.

7) Theo lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh (5-1920) với Sở mật thám thì bà Hoàng Thị Loan mất ở Huế ngày 19 tháng Chạp năm Thành Thái thứ 12 (2-1901).

8) Sách Quốc triều khoa bảng lục viết về kỳ thi này có những điều đáng chú ý như sau:

Có 4 bài đạt 6 điểm ở môn thi thứ ba (tam trường) của các ông Lê Ngải, Nguyễn Đình Hiến, Hoàng Đại Bỉnh và Nguyễn Sinh Huy. Ông Nguyễn Sinh Huy được Hội đồng Bộ phúc tra “quảng thủ” (lấy nới rộng).

Kỳ thi này có 9 người trúng “đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” và 13 người trúng “phó bảng”.

Ông Nguyễn Sinh Huy xếp thứ 11 trong số 13 vị phó bảng và được ghi như sau: “Nguyễn Sinh Huy, trước mang tên Sắc, Nghệ An – Nam Đàn – Kim Liên. Sinh năm Nhâm Tuất, tuổi 40. Đậu cử nhân năm Giáp Ngọ. Được đỗ “lấy rộng thêm”. Tài liệu này nói rõ ông sinh năm 1862.

9) Qua hồi ký của nhiều người, ông Nguyễn Sinh Sắc đã lấy vôi viết các chữ Hán đó lên xà nhà.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Lời giới thiệu)

HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

1

1890 – 1929

(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung)

————————————————

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HÀ NỘI – 2005

————————————————

TỔNG CHỦ BIÊN

GS. ĐẶNG XUÂN KỲ

————————————————

PHÓ TỔNG CHỦ BIÊN

GS. SONG THÀNH

————————————————

NHÓM BIÊN SOẠN

NGUYỄN HUY HOAN (Chủ biên)

PGS, TS. CHƯƠNG THÂU

NGÔ VĂN TUYỂN

NGUYỄN TRỌNG THỤ


LỜI GIỚI THIỆU

Từ lâu, nhân dân ta, bạn bè, đồng chí và kiều bào ta ở nước ngoài vẫn mong muốn có một bộ sách lớn, công bố đầy đủ những tư liệu chính xác, đã qua xác minh khoa học, về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng “vô cùng oanh liệt và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, giúp cho cán bộ và nhân dân ta có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học tập sâu sắc về tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người.

Các nhà nghiên cứu khoa học về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, lịch sử Đảng và phong trào công nhân, lịch sử các đoàn thể quần chúng và cách mạng nước ta mong muốn có một bộ sách sưu tập tương đối đầy đủ và hệ thống những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng, Mặt trận dân tộc thống nhất, Nhà nước và Quân đội nhân dân, người mở đầu và đặt nền móng cho các khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một bộ sách như vậy có tác dụng tra cứu và tham khảo rất bổ ích đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở trong và ngoài nước.

Các nhà văn nghệ, sáng tác tiểu thuyết, sân khấu, điện ảnh, hội hoạ… mong muốn khai thác từ biên niên tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh những sự kiện chân thực, sinh động, cụ  thể trong cuộc đời của Người từ thời niên thiếu cho đến khi qua đời, để sáng tạo nên những công trình nghệ thuật tương xứng với tầm vóc vĩ đại của Người, góp phần vào sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, mãi mãi “Sống, chiến đấu, lao động, học tập, theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Năm 1992, trong dịp kỷ niệm lần thứ 102 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, sau nhiều năm chuẩn bị và biên soạn, đã cho ra mắt bạn đọc tập đầu tiên của công trình nhiều tập Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử.

Sau hơn 10 năm bộ sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến góp ý cũng như nhận được nhiều tư liệu quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến nay, theo yêu cầu của bạn đọc, chúng tôi phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản lần thứ hai bộ sách này.

Biên soạn công trình này, chúng tôi hy vọng giúp bạn đọc có điều kiện nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn công lao to lớn, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, thấy rõ thiên tài trí tuệ và phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp của một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời là một con người giản dị, khiêm tốn, gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người.

Qua tấm gương cao đẹp, trọn vẹn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Bác Hồ kính yêu, công trình sẽ giúp bạn đọc rút ra được những bài học bổ ích về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, đạo đức – phẩm chất của con người mới xã hội chủ nghĩa, niềm tự hào vô hạn về lãnh tụ vĩ đại, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng do Bác Hồ sáng lập, mãi mãi đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, thực hiện bằng được mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Xưa nay, tiểu sử vĩ nhân có thể được trình bày dưới nhiều thể loại: niên phổ, niên biểu, biên niên sự kiện, biên niên tiểu sử, tiểu sử khoa học, truyện danh nhân, v.v..

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử là một công trình lịch sử được trình bày dưới hình thức biên niên. Nhưng khác với niên biểu hay biên niên sự kiện trong đó chỉ liệt kê tóm tắt năm tháng xảy ra các sự kiện chính, đánh dấu bước chuyển biến trong cuộc đời và tư tưởng của vĩ nhân, mà không lược thuật nội dung các sự kiện, còn biên niên tiểu sử là một cuốn sử với đầy đủ các yếu tố niên đại, nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh… được ghi chép lại theo trình tự thời gian diễn ra các sự việc, lời nói, bài viết, hành động, sinh hoạt, giao tiếp, v.v. của vĩ nhân đối với thời đại, đất nước, dân tộc, giai cấp, gia đình, họ hàng, bạn hữu, kẻ thù…; từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, trong đời sống chung và đời sống riêng, thể hiện lãnh tụ vừa như một vĩ nhân, vừa như một người bình thường.

Biên niên tiểu sử được kết cấu theo đơn vị thời gian: năm, tháng, ngày, có khi đến từng giờ. Với một phương pháp ghi chép có vẻ tản mạn, ngẫu nhiên, có biến cố gì ghi nấy, song toàn bộ nội dung của nó bao giờ cũng được nhận thức, phản ánh, diễn đạt theo quan điểm chính trị, tư tưởng, đạo đức của một giai cấp nhất định. Trong biên niên tiểu sử, người đọc được tiếp xúc với một khối lượng tư liệu phong phú, nhiều sự kiện cụ thể, tuy được thể hiện bằng văn lịch sử; nhưng lại sinh động, đáp ứng được yêu cầu của nhà nghiên cứu lẫn người đọc thông thường.

Quan niệm về tính chất và đặc điểm của thể loại biên niên tiểu sử như trên đã định hướng cho các soạn giả trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về nội dung và phương pháp biên soạn biên niên tiểu sử của Bác Hồ.

Trước hết là việc lựa chọn sự kiện đưa vào biên niên. Nói chung, toàn bộ những sự kiện có ý nghĩa trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (với tư cách là chủ thể hành động) đã sưu tầm được, qua chọn lọc, xác minh, đều có thể đưa vào biên niên. Những sự kiện này bao quát các lĩnh vực:

– Trước tác: Bao gồm các tác phẩm lý luận chính trị, văn hoá, văn nghệ, thư từ – điện văn, bài báo, tài liệu dịch, bài phát biểu, lời kêu gọi… đã công bố ở trong và ngoài nước.

– Các văn kiện của Đảng và Nhà nước: Bao gồm các hiệp định, tạm ước, tuyên ngôn, tuyên bố, sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết hoặc các tài liệu tương tự do Bác Hồ trực tiếp thảo hay ký công bố trên danh nghĩa Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng…

– Hoạt động: Bao gồm các cuộc tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản, Hội nghị các Đảng anh em, các Đại hội Đảng, Quốc hội, Hội đồng Chính phủ, Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn; các cuộc họp với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, với các tổ chức kinh tế – xã hội, tham dự các cuộc mít tinh, bầu cử, đại hội liên hoan, các cuộc tiếp khách trong nước và ngoài nước; các cuộc đi thăm các nước, các ngành, các địa phương, các đơn vị tiên tiến, thăm gia đình các giới trong dịp Tết cổ truyền, v.v..

– Những sự kiện có ý nghĩa trong đời sống riêng: Ví dụ bữa cơm với bà Thanh, thư gửi họ Nguyễn Sinh về việc ông Khiêm tạ thế, sự kiện về thăm quê, những lần đi chữa bệnh, đi thăm danh lam, thắng cảnh, v.v..

Tóm lại, đối với cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại như Bác Hồ, chúng tôi không đặt vấn đề phân biệt sự kiện lịch sử và sự kiện bình thường. Có những sự kiện nhỏ nhưng ý nghĩa lớn, đem lại cho người đọc một nhận thức đầy đủ về lãnh tụ, vừa như một vĩ nhân, vừa như một người bình thường. Các soạn giả sẽ không đưa vào biên niên những sự kiện được coi là gián tiếp (như việc nước ngoài tặng huân chương, việc lấy tên Người đặt cho các giải thưởng, các quảng trường, đường phố, con tàu,…) và những sự kiện chưa được các nguồn tài liệu chính xác khẳng định.

Trong các nguồn tài liệu, sau khối tác phẩm và văn kiện, khối hồi ký cách mạng và các sách chuyên khảo có liên quan đến tiểu sử Bác Hồ là một nguồn tham khảo quan trọng. Trong việc sử dụng hồi ký, chúng tôi đặc biệt coi trọng hồi ký của các đồng chí lãnh đạo là học trò, người cộng sự gần gũi của Bác Hồ, nhất là những hồi ký được xuất bản khi Người còn sống. Giá trị các hồi ký vốn khác nhau và giữa các hồi ký còn có chỗ chưa khớp với nhau do các tác giả nhầm lẫn hoặc có thêm thắt một số chi tiết nào đó. Chúng tôi cố gắng tránh dựa hẳn vào một hồi ký riêng biệt mà phải qua đối chiếu, so sánh nhiều hồi ký với nhau để khôi phục lại những chi tiết, sự kiện còn thiếu trong biên niên tiểu sử của Bác Hồ.

Các sách chuyên khảo có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó các tác giả đã chỉ ra được các nguồn xuất xứ ở các kho lưu trữ nước ngoài mà chúng tôi chưa có điều kiện tiếp xúc, chúng tôi cũng khai thác và sử dụng ở mức độ cần thiết, có chú thích để chờ tra cứu thêm.

Đối với tài liệu, báo cáo của mật thám – chỉ điểm về hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc ở trong nước và nước ngoài, sau khi phê phán và tước bỏ sự xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện được nhìn nhận theo quan điểm của chúng, chúng tôi cũng khai thác và sử dụng có cân nhắc những chi tiết khách quan được ghi lại trong đó như thời gian, địa điểm diễn ra hành động, những con người và những sự việc có liên quan tới sự kiện được nói đến trong những báo cáo ấy.

Dựng lại được nội dung xác thực, khách quan của các sự kiện lịch sử là một quá trình. Nhưng đưa hay không đưa sự kiện nào vào biên niên tiểu sử, ngoài tính khách quan, tính lịch sử, còn phải tuân theo nguyên tắc tính đảng của sử học mácxít, nghĩa là còn phải tính đến những nhiệm vụ hiện nay của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội của nước ta, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc… Mỗi sự kiện có nhiều tầng ý nghĩa, ngoài mối quan tâm về lịch sử còn phải quan tâm đến ý nghĩa của nó đối với thời đại hiện nay. Do đó, bạn đọc có thể hiểu vì sao còn có những sự kiện chưa được đưa vào biên niên trong lần xuất bản này.

Về phương pháp trình bày, thể hiện, biên niên tiểu sử có những quy tắc riêng buộc phải tuân theo để đảm bảo tính nhất quán của thể loại. Trên nét lớn, mỗi sự kiện có thể được trình bày theo các công đoạn sau đây:

– Thời gian: năm, tháng, ngày, có thể đến giờ, nếu không biết giờ thì ghi: buổi sáng, trưa, chiều, tối, đêm. Có sự kiện diễn ra một ngày, một buổi, một giờ. Có sự kiện lớn diễn ra nhiều ngày (Đại hội Đảng, các Hội nghị Trung ương, v.v.) thì ghi ngày mở đầu và ngày kết thúc. Trong một đại hội nhiều ngày, Bác Hồ có nhiều lần phát biểu, lần nào vào ngày nào, giờ nào đều được trình bày riêng.

– Địa điểm: được ghi theo địa danh lúc xảy ra sự kiện.

– Nội dung sự kiện: thông tin ngắn gọn, chính xác, đầy đủ về nội dung sự kiện, việc làm, cách làm, nhân vật, đối tượng tiếp xúc, câu nói tiêu biểu phản ánh quan điểm, tư tưởng, đạo đức, phong cách… của Bác Hồ. Trong một số trường hợp, chúng tôi đã dẫn lại những câu, những chữ hay nhất của lãnh tụ để người đọc được tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng của Người, cá biệt cũng có khi thêm cả nhận xét, đánh giá của người đương thời đã tham gia, chứng kiến sự kiện (là bạn hữu hay đối phương) hoặc nêu lên ý kiến của chính Bác Hồ khi còn sống có dịp nhắc lại sự kiện ấy.

– Các nguồn xuất xứ của sự kiện: chỉ rõ lấy từ đâu, văn kiện, tác phẩm, báo chí, tác giả, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản, trang bao nhiêu, để giúp bạn đọc có thể trực tiếp tra cứu khi cần thiết.

Về cách thể hiện các danh từ riêng (tên người, tên đất, tên các tổ chức văn hoá – xã hội…) ở Việt Nam và Trung Quốc, chúng tôi dựa theo các quy ước thông dụng trên sách báo hiện nay. Về tên riêng nước ngoài thuộc các ngữ hệ Ấn – Âu, chúng tôi phiên âm theo gốc của nước đó và để nguyên tự dạng trong ngoặc (ví dụ: hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis), thành phố Brúclin (Brooklyn)) và chỉ ghi một lần nếu tên đó còn xuất hiện trong các sự kiện sau. Đối với các cơ quan ngôn luận, thông tấn, báo chí, theo xu hướng chung của thế giới hiện nay, chúng tôi để nguyên văn, in nghiêng, không dịch, ví dụ: Báo L’Humanité, Inprekorr. Đối với các danh từ riêng gốc Nga thì chuyển từ chữ cái Nga sang chữ cái Latinh, ví dụ: Hãng thông tấn ROXTA, Tạp chí Ogoniok, v.v..

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử là một công trình lớn, nhiều tập, tổng số tập phụ thuộc vào số lượng tư liệu, sự kiện đã được sưu tầm và xác minh. Khác với tiểu sử khoa học được phân chia theo giai đoạn, biên niên tiểu sử – như tên gọi của nó – ghi chép sự việc theo năm tháng, nên chia tập, có chiếu cố đến các mốc lịch sử lớn, nhưng chủ yếu chia theo số lượng các sự kiện, nhằm đảm bảo cho độ dày của mỗi tập không quá chênh lệch nhau.

Mấy năm qua, Viện Hồ Chí Minh đã sưu tầm và xác minh được khoảng một vạn sự kiện về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ thời niên thiếu đến lúc qua đời. Trong công việc này chúng tôi đã nhận được sự cộng tác và giúp đỡ của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Cục Lưu trữ Nhà nước (cơ sở I và II), Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Bảo tàng Cách mạng; của nhiều cơ quan, thư viện, học viện, bảo tàng; của các vị nhân sĩ, trí thức, cán bộ lão thành cách mạng, kiều bào nước ta ở nước ngoài; của Cục Lưu trữ Viện Mác – Lênin trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây và nhiều cơ quan hữu quan khác ở Hà Nội và các địa phương.

Nhân dịp bộ sách lần lượt được ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với mọi sự giúp đỡ to lớn nói trên. Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các vị học giả, giáo sư, cán bộ khoa học, đã nhiệt tình cộng tác với chúng tôi từ bước đầu xây dựng đề cương công trình, hội thảo phương pháp biên soạn, đến đọc, góp ý kiến hoàn chỉnh bản thảo.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành biên soạn theo những bước đi thận trọng, nhưng việc viết biên niên của lãnh tụ vô sản theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta còn là vấn đề mới và khó, do trình độ có hạn, nhất là chưa có điều kiện khảo sát tận nơi những sự kiện, những tư liệu gốc còn lưu trữ ở các nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc, chưa được tiếp xúc với các sổ tay, bản thảo, biên bản các cuộc họp Trung ương và Bộ Chính trị… mà Bác Hồ có tham dự và phát biểu, v.v.. Vì vậy, chắc chắn công trình không tránh khỏi còn những khiếm khuyết chưa khắc phục ngay được.

Chúng tôi thành thật mong mỏi bạn đọc xa gần chỉ bảo cho những điều bổ ích sau lần xuất bản thứ hai này.

Hà Nội, ngày 6 tháng 1 năm 2006
VIỆN HỒ CHÍ MINH

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Báo chí với phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Hưởng ứng lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã tích cực hưởng ứng, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần quan trọng trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Ngày 27/3/1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, nhằm động viên mọi lực lượng phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc ta. Tiếp đến, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Lời kêu gọi của Bác được đăng trên Báo Cứu quốc ngày 24/6/1948 và đã đến với mọi tầng lớp nhân dân ở khắp mọi miền của Tổ quốc, đáp ứng với sự mong đợi và được nhân dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng sôi nổi, rộng khắp, mang lại nhiều hiệu quả to lớn, thiết thực.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 1/5/1952

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua mang tính cách mạng, tính nhân văn sâu sắc và có giá trị thực tiễn to lớn, lâu dài, bởi “mục đích của thi đua yêu nước là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”; thi đua yêu nước là “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”. Bác căn dặn: Bổn phận của người Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua… Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, trai gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa.

Và Người kêu gọi: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua…”. Trong quan điểm của Người, thi đua là một cách tốt nhất, hiệu quả nhất để khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường của đông đảo quần chúng nhân dân và khí phách, lòng tự hào dân tộc.

Báo chí là một lực lượng trong đội quân xung kích trên lĩnh vực tư tưởng  văn hóa của Đảng. Báo chí làm tốt nhiệm vụ là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và là diễn đàn của nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, góp phần hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ chính trị đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đóng vai trò tích cực trong việc phổ biến, tuyên truyền chủ nghĩa Mác  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao dân trí và thoả mãn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Đồng thời, cổ vũ những điển hình tốt, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận, chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình”; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giáo dục thẩm mỹ; góp phần vào việc phát hiện, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; sáng tạo những giá trị văn hóa mới, xây dựng con người Việt Nam hiện đại, phát triển và xã hội hóa giáo dục; góp phần tăng cường ổn định chính trị, tạo ra bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội; mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bạn bè trên thế giới. Đồng bào Việt Nam ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế nắm bắt thông tin kịp thời về Việt Nam, phục vụ cho việc phát triển kinh tế  xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, tăng cường công tác đối ngoại. Báo chí còn là công cụ có hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hội …

Báo chí còn là lực lượng góp phần tạo nên sức lan tỏa của phong trào thi đua yêu nước cả nước. Thông qua ngòi bút, ống kính của phóng viên, các phong trào thi đua yêu nước của cả nước đã phát hiện được những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, từ đó tuyên truyền, nhân rộng. Phong trào thi đua yêu nước của cả nước có được kết quả to lớn như thời gian qua có phần đóng góp rất quan trọng của báo giới. Thi đua giữ vững tôn chỉ mục đích trong báo giới không chỉ tác động tới riêng hệ thống báo chí mà còn thực hiện sứ mệnh cổ vũ tập thể, định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, khuyến khích và nâng cao hiệu quả thi đua toàn xã hội.

Chúng ta hiện có một hệ thống báo chí với đầy đủ các loại hình: Báo in, báo nói, báo hình, báo mạng điện tử với trên 17.000 hội viên người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo, hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng chục ngàn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn, tiếp thị, quảng cáo, phát hành. Báo chí đã có nhiều bài viết, phóng sự cổ vũ, động viên kịp thời cho các phong trào thi đua yêu nước. Phương pháp đưa tin của đội ngũ phóng viên đã có nhiều đổi mới, cải tiến giúp phát hiện gương điển hình tiên tiến, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước trên toàn quốc.

Trong những năm qua, nhiều cơ quan báo chí đã xây dựng và kiên trì thực hiện những quy định mang tính nguyên tắc giữ vững tôn chỉ, mục đích, bảo đảm thông tin tích cực, lành mạnh; khuyến khích việc phát hiện và cổ vũ những gương điển hình tiên tiến; phát động và tổ chức nhiều phong trào hành động cách mạng, hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện có ý nghĩa, mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiều phong trào thi đua yêu nước được tổ chức bằng hình thức đa dạng, phong phú, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao. Trọng tâm thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế  xã hội và phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đặc biệt trong đợt I (2011 – 2013), các nhà báo trên cả nước đã hưởng ứng, tích cực tham gia Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Các phong trào thi đua trong lĩnh vực báo chí đã được phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, đổi mới cả về nội dung và hình thức. Hầu hết các tờ báo lớn đều mở chuyên mục, chuyên trang tuyên truyền về xây dựng phong trào nông thôn mới, Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và gương người tốt, việc tốt… Điển hình như: Báo Nhân dân với chuyên mục “Gương sáng, việc hay Hà Nội”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam với chuyên mục “Thi đua yêu nước”, Báo Hà nội mới với mục “Nét đẹp người Thủ đô”, “Xây dựng nông thôn mới Hà Nội”; Báo Lao động với chuyên mục “Bình dị mà cao quý”… Các cơ quan báo chí còn tích cực xây dựng, huy động, tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện nhằm quyên góp vào các quỹ nhân đạo, từ thiện hàng trăm tỷ đồng, xây dựng gần 1.000 nhà tình nghĩa, tặng hàng nghìn suất quà và sổ tiết kiệm… cho các đối tượng chính sách trên cả nước. Các phong trào thi đua nói trên đã thấm sâu vào các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo, đội ngũ phóng viên và hội viên, có sức lan tỏa to lớn, trở thành động lực, sức mạnh của tất cả các cơ quan báo chí Việt Nam.

Tuy nhiên, trong năm qua, công tác tuyên truyền về phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, giới thiệu và tuyên truyền các gương điển hình tiên tiến trên báo chí và các phương tiện truyền thông vẫn còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng theo tinh thần Chỉ thị 39 của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước”. Báo chí và các đài phát thanh truyền hình chưa chú trọng về thời gian, thời lượng đúng mức để tuyên truyền về công tác này…; còn thiếu những tác phẩm về phong trào thi đua, gương người tốt việc tốt. Những sáng kiến các phong trào thi đua hiện nay chưa phong phú. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần quan tâm hơn, cân nhắc về thời lượng, thời gian, hình thức đưa tin phong phú, đa dạng trong công tác tuyên truyền về phong trào thi đua yêu nước. Một số báo xem nhẹ việc phát hiện, biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt.

Ngoài ra, các cơ quan báo chí cần đề xuất, tham mưu cho Lãnh đạo Ðảng và Nhà nước những điểm cần đổi mới, tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức, phát động phong trào thi đua, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong công tác thi đua yêu nước.

Năm 2013 là năm kỷ niệm 65 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), đồng thời cũng là năm Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01 về tổ chức sự kiện lớn này. Theo đó, các phong trào thi đua yêu nước sẽ tập trung vào chủ đề “Đồng thuận cao, thi đua giỏi, về đích sớm”, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế  xã hội.

Việc tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, gương điển hình tiên tiến cần đẩy mạnh hơn nữa với sự tăng cường chỉ đạo, phối hợp của cơ quan liên quan: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Thi đua  Khen thưởng Trung ương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam… Mặt khác, tăng cường thời lượng, chuyên mục về gương người tốt, việc tốt, đặc biệt là những gương lao động trực tiếp như: Người lao công, hiệp sỹ đường phố… để cổ vũ, động viên, nhân rộng những điển hình tiên tiến, góp phần thực hiện mục tiêu đặt ra của đất nước.

Bám sát nhiệm vụ chính trị của báo chí Việt Nam, không ngừng đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo, gắn hoạt động thi đua của Hội Nhà báo với hoạt động thi đua của các cơ quan báo chí; lấy việc thực hiện nhiệm vụ của báo chí nói chung và của mỗi cơ quan báo chí làm mục tiêu và nội dung thi đua chính của mỗi cơ quan, tổ chức Hội; đưa phong trào thi đua của cơ quan báo chí, của Hội thật sự trở thành động lực thúc đẩy, động viên, cổ vũ các tổ chức Hội, hội viên, phóng viên phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của báo chí Việt Nam trong thời gian tới.

Nội dung thi đua thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua  khen thưởng của báo chí tập trung vào các vấn đề chính như: Đổi mới và tăng cường các giải pháp, hình thức giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, phóng viên; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhà báo, hội viên; tham gia có hiệu quả vào công tác quản lý và chỉ đạo báo chí; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phóng viên, hội viên. Đồng thời, các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo tiếp tục triển khai sâu rộng Cuộc thi đợt II (2013 – 2015) về sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam.

Tiến hành thường xuyên, liên tục công tác thi đua  khen thưởng, gắn với các hoạt động công tác của các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo; nâng cao chất lượng của giải Báo chí quốc gia; triển khai có hiệu quả công tác hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao hàng năm; góp phần động viên, cổ vũ các nhà báo thi đua sáng tạo nhiều tác phẩm hay, có tác động tốt đối với xã hội.

Cách mạng nước ta bước sang thời kỳ mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Bên cạnh những thuận lợi to lớn, chúng ta cũng đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước trong mỗi con người vì mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các cơ quan báo chí cần được nhận thức đầy đủ và thực hiện một cách sâu rộng, hiệu quả.

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…”. Với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước và thực hiện tư tưởng của Bác về thi đua yêu nước, với ý thức thực hiện kiên quyết, đồng bộ những biện pháp đã đề ra của cơ quan báo chí và cơ quan chủ quản báo chí, nhất là việc vận dụng sáng tạo Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan báo chí Việt Nam tích cực tham gia công tác thi đua; tiếp tục khẳng định là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa của Đảng; nhất định sẽ có bước chuyển mạnh mẽ, tích cực, vững chắc, khắc phục nhanh các yếu kém, khuyết điểm, để báo chí nước ta luôn làm tròn chức năng và sứ mệnh cao cả của mình trên mặt trận chính trị, tư tưởng, nhất là tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước; đóng góp tích cực hơn nữa vào công tác thi đua của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; đi vào các mũi nhọn của đời sống xã hội để phát hiện các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; quyết tâm tạo ra phong trào thi đua sâu rộng trong cả nước, để lập nhiều thành tích, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, phát triển chung của cả nước, từng bước xây dựng đất nước ta ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Nguyễn Huy Ngọc

dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Nhà báo Hồ Chí Minh và câu chuyện “Viết cho ai”

Sau này, khi đã có một sự nghiệp viết, trong đó có một sự nghiệp văn chương lớn; đã là nhà thơ lớn của dân tộc với Nhật ký trong tù; đã là tác giả Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Bác vẫn chỉ nhận mình là người viết báo, là nhà báo cách mạng. Một sự nghiệp báo chí – đó quả là dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Những kinh nghiệm làm báo, viết báo, Bác đã nhiều lần nói với giới nghề nghiệp; và bài học làm báo, viết báo được Bác quan tâm trước hết, đó là bài học: Viết cho ai xem?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Wilfred-Burchett

Bài nói đầu tiên của Hồ Chí Minh về câu chuyện này là bài Cách viết, tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương, ngày 17.8.1952; rồi được trở lại, lần thứ 2, trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, ngày 18.9.1962.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi:

– Viết cho ai xem?

– Viết để làm gì?

– Viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”

Điều cần lưu ý, tuy chỉ là bài nói với giới báo chí; nhưng rồi do sự cần thiết, chúng ta chủ trương vận dụng ý kiến của Hồ Chí Minh cho mọi dạng viết, mọi binh chủng chữ nghĩa, trong đó có cả văn chương – học thuật.

Và khi đặt lên vị trí số 1 câu chuyện Viết cho ai xem? chúng ta hiểu đấy là sự đánh dấu bước chuyển quan trọng nhất của nền báo chí cách mạng ở Việt Nam thế kỷ XX. Bởi, mối quan tâm đến công chúng, trước hết là công chúng cần lao, những người dân lam lũ, đói khổ, đó là minh chứng cho một bước ngoặt vĩ đại trên con đường dân chủ hóa đời sống con người. Đặt câu hỏi Viết cho ai xem? là nhằm giải quyết nhu cầu của quần chúng đông đảo; nhằm giác ngộ, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường cách mạng, vào một cuộc sống đầy ắp các hoạt động biến cải. Và quần chúng, trong một giai đoạn lịch sử nào đó còn là thất học, hoặc còn đang thanh toán nạn mù chữ; họ liên tục là đội quân hùng hậu, đóng vai trò chủ lực trong các cuộc cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Một sự nghiệp làm báo, viết báo, có thể nói là vĩ đại, đối với dân tộc Việt Nam ngay trong bóng đêm của chế độ thuộc địa, bắt đầu từ Le Paria (Người cùng khổ) trên địa bàn Paris, với số đầu, ra ngày 1.4.1923. Đó là chặng đường đầu tiên trên hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc, nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông, trong đó nổi lên hai nhân vật trung tâm là những tên chủ thực dân và những người nô lệ trên khắp thế giới da màu. Cùng với việc làm tờ Le Paria, Nguyễn còn viết cho nhiều tờ báo khác ở Paris như Nhân đạo, Dân chúng, Đời sống thợ thuyền… và hoàn thành tác phẩm lớn, đầu tay, mang tên Bản án chế độ thực dân Pháp – năm 1925. Viết bằng tiếng Pháp, đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn là người của chính quốc và những nơi là thuộc địa của Pháp. Nhưng một đối tượng đọc khác mà Nguyễn không lúc nào không khao khát hướng tới – đó là những người Việt xa xứ trên đất Pháp – vào thời Nguyễn ở Paris, đã lên đến 10 vạn người; cùng với 25 triệu đồng bào quê hương còn đắm chìm trong tối tăm, đói khổ. Và đó là lý do, để, cùng với tờ Le Paria, hai năm sau, Nguyễn còn mong muốn cho ra mắt tờ Việt Nam hồn bằng tiếng Việt: “… Cũng vì nghĩ thế/ Tôi muốn làm ra/ Một báo tiếng ta/ Cho đồng bào đọc”.

Cũng như trước đó, từ năm 1919, sau khi gửi Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gồm 8 điểm, bằng tiếng Pháp, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, đến năm 1922, Nguyễn còn soạn một bản Việt Nam yêu cầu ca bằng tiếng Việt, dài 56 câu, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, để bí mật phân phát trong các giới công nhân và binh sỹ An Nam ở Marseille.

  Bằng nay gặp hội giao hòa
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình

     …

            Một xin tha kẻ đồng bào
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam
Hai xin pháp luật sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
Ba xin rộng phép học hành
Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

    (…)

Ý thức về người đọc, luôn luôn là một niềm canh cánh trong sự nghiệp viết của Nguyễn.

Hành trình tìm đường của Nguyễn Ái Quốc là từ Đông sang Tây, từ dân tộc mà ra nhân loại. Nhưng đích đến cuối cùng của Bác là trở về phương Đông, về với dân tộc. Trong sự nghiệp báo chí và văn chương của Bác, cần chú ý khu vực những bài Bác viết bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Nhưng cuối cùng, hoặc trên hết, là niềm mong muốn viết bằng tiếng Việt. Có thể nói đó là niềm khao khát lớn của Bác mà bất cứ lúc nào có dịp, có hoàn cảnh, Bác đều nghĩ đến và quyết tâm thực hiện.

Năm 1941, sau khi về nước, ông ké cách mạng – Già Thu, rồi sẽ lấy tên Hồ Chí Minh, đã sáng lập và chủ trì tờ báo Việt Nam độc lập ở căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng. Đó là tờ báo có sứ mệnh giáo dục, tuyên truyền quần chúng hướng tới cao trào Tổng khởi nghĩa đang sắp tới gần. Một tờ báo nhằm vào công chúng, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, thất học, đang khao khát đến với cách mạng – tất nhiên nội dung phải được chuyển tải dưới một hình thức giản dị, phổ cập, dễ hiểu. Và đó là lý do, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã làm trên ba mươi bài thơ tiếng Việt – những bài với tên gọi rất giản dị như Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đăng trên Việt Nam độc lập.Những bài như Hòn đá to để nói lên sức mạnh đoàn kết; như Nhóm lửa, để nói phương thức làm cách mạng… trong dạng thức cô đúc và dễ hiểu nhất. Thậm chí đến cả tên báo làViệt Nam độc lập, Bác còn chủ trương rút ngắn, chỉ còn là Việt Lập, để cho quần chúng dễ nhớ, dễ thuộc. Ngay cả tên Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh cũng được Bác cho gọi tắt là Việt Minh.

Điều cần lưu ý: Người viết những bài thơ giản dị như vậy chính là người đã viết các truyện và ký rất sắc sảo, theo phong cách hiện đại bằng tiếng Pháp ở Paris ngót 20 năm về trước; và chỉ vài năm sau, sẽ viết 135 bài thơ bằng chữ Hán với phong cách rất cổ điển và rất hiện đại trong Ngục trung nhật ký.

Như vậy, có thể nói câu chuyện Viết cho ai? là mối quan tâm hàng đầu của nhà cách mạng, nhà báo cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Và đó là lý do cơ bản tạo nên mối giao cảm lớn, sự đồng tâm nhất trí giữa dân tộc Việt Nam và lãnh tụ kính yêu của mình, trong suốt thế kỷ XX – thế kỷ đứng trước hai yêu cầu lớn: cách mạng hóa và hiện đại hóa mà Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò khởi xướng và kết hợp một cách trọn vẹn nhất.

Cùng với câu hỏi Viết cho ai? còn là câu hỏi: Viết để làm gì? và Viết như thế nào? để làm nên một bộ ba quan trọng cho một sự nghiệp viết có độ dài 50 năm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tính từ bản Yêu sách… viết năm 1919 đến Di chúc năm 1969. Một sự nghiệp viết rất linh hoạt, đa dạng, gồm nhiều chủng loại, trong đó có một sự nghiệp báo chí vĩ đại, và một sự nghiệp văn chương với những giá trị vĩnh cửu, để tạo nên nền móng và tinh hoa cho nền văn hóa mới Việt Nam thế kỷ XX.

Gs Phong Lê

Theo daibieunhandan.vn
Vkyno (st)

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015

Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam ban hành Kế hoạch số 226/KH-HNBVN về việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi được nghiên cứu, quán triệt, nhiều Hội xây dựng chương trình hành động chung và hội viên cũng đăng ký thực hiện theo chỉ tiêu riêng của từng hội viên.

Ở Trung ương, các Liên chi hội, Chi hội trực thuộc, ngoài việc xây dựng, phổ biến nội dung các văn bản đến cán bộ, hội viên và tổ chức học tập các chuyên đề, còn xây dựng Bộ Quy tắc tác nghiệp nhằm hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của những người làm báo trong Đài theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vị, gắn với quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam.

Ở địa phương, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố phối hợp với Ban Tuyên giáo và các cơ quan báo chí căn cứ Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành ủy và Kế hoạch số 226/KH-HNBVN xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Nhiều Hội có văn bản hướng dẫn đến Chi hội tổ chức cho cán bộ, hội viên gắn việc học tập, nghiên cứu, quán triệt và thực hiện tại đơn vị với nhiệm vụ chính trị của của Hội và của từng cơ quan báo chí, từng hội viên có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trong đó hội viên là đảng viên phải thể hiện tính tiên phong, luôn đi đầu đảm nhận những công việc khó, ủng hộ cách làm mới, thực hành tiết kiệm, không lãng phí, không quan liêu.

Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã sáng tạo hàng nghìn tác phẩm về chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các tác phẩm tập trung ca ngợi, làm nổi bật tư tưởng, đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phản ánh sinh động việc tổ chức thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các địa phương, tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong cả nước; biểu dương những đơn vị, địa phương làm tốt, phê bình những nơi làm chưa tốt; giới thiệu những kinh nghiệm tổ chức tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát hiện, nêu gương, nhân rộng những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các cấp Hội lựa chọn hơn 300 tác phẩm gửi về dự thi Giải thưởng về sáng tạo sáng tạo, quảng bá tác phẩm báo chí viết về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để Hội Nhà báo Việt Nam thẩm định.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn nhiều Hội chưa chỉ đạo các Chi hội trực thuộc xây dựng được chương trình, nội dung cụ thể cho hội viên. Việc kiểm tra, theo dõi việc “làm theo” ở một số hội viên, nhà báo chưa được thường xuyên, liên tục và chưa trở thành hành động tự giác, phong trào chưa rộng khắp, một số ít các nhà báo chưa xem việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm hàng ngày của mình. Việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác trong các Liên chi hội, Chi hội cũng còn một số mặt hạn chế. Việc xác định mục tiêu đối với việc học tập và làm theo Bác ở nhiều đơn vị còn chung chung, trừu tượng, khó có cơ sở để đánh giá, kiểm tra mức độ đạt được ở mức nào.

Theo nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Báo chí cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Báo chí cách mạng Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, rơi vào cảnh đen tối, nhân dân phải chịu bao khổ cực lầm than. Lúc bấy giờ báo chí cách mạng nước ta ra đời với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ những người yêu nước đấu tranh cách mạng đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Đồng thời, phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

ImageBác Hồ viết báo bằng máy đánh chữ. (Ảnh tư liệu)

Nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời đã 88 năm (21/6/1925 – 21/6/2013), kể từ khi tờ “Báo Thanh Niên” đầu tiên ra đời cho đến nay, những thế hệ nhà báo nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Và không thể nào quên người đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, cũng là một nhà báo xuất sắc, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng nước ta, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, lãnh tụ vĩ đại vô vàn kính yêu của dân tộc ta. Giờ đây, đã 44 năm Bác đã đi xa (từ 1969 đến nay), song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác trên từng lĩnh vực mãi luôn in đậm trong lòng dân tộc ta. Cũng như những quan điểm, tư tưởng và lời dạy của Bác về báo chí đến nay vẫn còn nguyên giá trị từ tính chất, nội dung và những nhiệm vụ trong bất kỳ hoàn cảnh nào của mỗi giai đoạn lịch sử đất nước.

Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Nhìn lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngoại cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí là phương tiện, là vũ khí sắc bén, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng cho dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Bác đã để lại cho đội ngũ làm báo những bài học sâu sắc và nhớ lại ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ “Báo Thanh niên” – cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Thời ấy “Báo Thanh Niên” với 88 số, mở ra lớp đào tạo 300 cán bộ đều do Bác Hồ khởi thảo, chủ trì, giảng dạy là sự mở đầu một cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thời gian đầu báo ra mỗi tuần một kỳ với trên 500 tờ, sau đó do điều kiện khó khăn, báo ra 3 tuần, thậm chí 5 tuần một kỳ. Các tổ chức cách mạng trong nước ta đã dùng tờ báo để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng; làm cầu nối truyền thông điệp và truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước ta.

Bác Hồ là người đã sáng lập ra nền báo cách mạng nước nhà, Bác đặt nền móng, Bác khơi nguồn cho báo chí cách mạng nước nhà phát triển, cũng như Bác tham gia viết báo suốt cả đời làm cách mạng. Những bài báo do Bác viết thật giản dị, dễ hiểu và vô cùng sâu sắc. Bác viết nhiều thể loại: chính luận, tuyên ngôn, tin ngắn, dài, tin bình, trào phúng, ký, hiệu triệu, thơ tự sự, trữ tình… và được ký bằng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Những bài báo Bác viết, được xem đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng. Bài báo cuối cùng Bác viết: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một nhà văn hóa nổi tiếng của Liên Xô đã nhận xét: “Nguyễn Ái Quốc là một nhà văn hóa lớn. Phong cách viết báo của Người thường đi thẳng vào đề, làm rõ tư tưởng trung tâm sự kiện bằng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, ngôn ngữ thông tin đại chúng”.

ImageBác Hồ đọc báo nhân dân. (Ảnh tư liệu)

Quan tâm đặc biệt đến nền báo chí cách mạng nước nhà, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (16/4/1959), Bác đã chỉ rõ: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với Bác, để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Bác khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến nhân dân”. Bác còn nói với các nhà báo: “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”. Đến Đại hội lần thứ III (8/9/1962), Bác lại nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Quan điểm, tư tưởng của Bác để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để cộng đồng hiểu nhau hơn, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Bác đòi hỏi cán bộ báo chí cách mạng phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và nhận thức. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng”. Bác còn căn dặn: “Viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch”. Bác cũng từng nhắc nhở: “Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Viết để làm gì? Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”. Từ đó, Bác dạy: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Bác phê phán: “Viết ba hoa, dây cà dây muống là hình như để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy” và Bác chỉ trích: “Có người muốn làm cái gì để lưu danh thiên cổ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng, những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra”. Bác nhắc nhở đội ngũ nhà báo phải cẩn thận: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc đi đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu, những chữ thừa vô ích bỏ đi”; “Viết phải thiết thực”; “Nói có sách, mách có chứng”…

Nhớ đến công ơn, công lao trời biển của Bác, thế hệ những người làm báo nước ta đã tích cực rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trau dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng, để xứng đáng là học trò của Bác và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra. Nhất là trong thời đại ngày nay, thời kỳ của sự hội nhập báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một bước ngoặt không thể quên được. Hơn bao giờ hết, đội ngũ nhà báo cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng, cần bản lĩnh khẳng định rằng dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài kính yêu vô vàng của Việt Nam sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo cho đến nay. Do đó, hiện tại và mãi mãi về sau, đội ngũ cán bộ làm báo phải luôn lấy tư tưởng, quan điểm của Bác làm kim chỉ nam cho nghề nghiệp của mình; học nhiều điều từ sự nghiệp làm báo, làm cách mạng của Bác; không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tấm gương của Bác, bằng ra sức nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sát cuộc sống nhân dân, để tuyên truyền, vận động chuyển tải thông tin có ích đến với nhân dân. Đó là cách người làm báo tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức và chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

ImageĐồng chí Nguyễn Thành Phong – Bí thư Tỉnh ủy họp mặt báo chí tỉnh nhà nhân dịp đầu xuân 2013. (Ảnh: H.C)

Theo dòng lịch sử của đất nước, báo chí cách mạng Bến Tre cũng đã sớm có mặt và liên tục hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy từ những năm 1930 đến nay. Báo chí tỉnh ra đời nhằm phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động cách mạng quần chúng, giáo dục đảng viên và đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng. Tờ báo đầu tiên mang tên “Dân Cày” được xuất bản sau khi liên Tỉnh ủy Bến Tre – Mỹ Tho được thành lập vào tháng 6/1930. Khi Đảng bộ Bến Tre tách ra thành một Đảng bộ độc lập, thì tháng 5/1930 Tỉnh ủy cho ra tờ “Búa Liềm”. Đến tháng 8/1933 thì có tờ “Tranh Đấu”, tiếp theo là tờ “Cờ Chiến Đấu” ra đời phục vụ cho việc phát động phong trào Đông Dương đại hội và chỉ đạo các cuộc đấu tranh vì dân sinh, dân chủ liên tục nổ ra trong tỉnh suốt từ năm 1936-1939. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại, Đảng bộ Bến Tre bị địch đánh khốc liệt, cơ sở Đảng nhiều nơi tan rã. “Ủy ban Sáng Kiến” lúc bấy giờ (như Tỉnh ủy lâm thời) được thành lập và cho phát hành ngay tờ báo “Sự Thật” vào tháng 4/1944. Đây là tờ báo bí mật cuối cùng của Bến Tre trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị. Báo “Sự Thật” vẫn tồn tại hoạt động đều đặn; đến năm 1945 bước sang giai đoạn kháng chiến chống Pháp thì được thay tên mới là báo “Hy Sinh”. Ngay từ khi ra đời tờ báo “Hy Sinh” đã có những đóng góp hiệu quả trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia “Tuần lễ vàng”, vận động bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, cùng các phong trào toàn dân sẵn sàng chiến đấu, thanh niên tòng quân, thành lập các đội cảm tử quân…. Sau này, tờ báo “Hy Sinh” được đổi tên mới là “Đoàn Kết” và tồn tại đến cuối năm 1950 thì nhường chỗ cho tờ “Thông tin Bến Tre” ra đời, được in chì, phát hành đều đặn mỗi tuần 01 kỳ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, để hướng dẫn và chỉ đạo cuộc đấu tranh chính trị trong hoàn cảnh mới, Tỉnh ủy cho ra đời tờ “Hòa bình thống nhất” phát hành rộng rãi trong nhân dân và duy trì hoạt động cho đến ngày nổ ra cuộc Đồng Khởi long trời lở đất vào ngày 17/1/1960. Đến tháng 3/1960, tờ “Hòa bình thống nhất” được đổi thành báo “Chiến Thắng”, được in sáp, phát hành từ 700 – 1.000 bản/kỳ. Đến ngày 25/12/1960 nhân dịp chào mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra đời, báo “Chiến Thắng” bắt đầu in chữ chì và giữ vững suốt đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đặc biệt, cùng tồn tại hoạt động với báo “Chiến Thắng” suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, còn có tờ báo “Văn nghệ Bến Tre” và tờ báo “Cứu nước cứu đạo”. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 11/11/1976, nhân ngày khai mạc Đại hội Đảng bộ, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định đổi tên báo “Chiến Thắng” thành báo “Đồng Khởi” cho đến ngày nay. Và sau đó đến ngày 20/12/1976 Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Đài Phát thanh Bến Tre, đến ngày 07/3/1995 thành lập Đài Truyền hình Bến Tre; ngày 23/11/1978 Chi hội Nhà báo tỉnh Bến Tre cũng chính thức được thành lập và đến ngày 16/12/2004 là Hội Nhà báo Bến Tre; báo Điện tử của báo Đồng Khởi tiếp tục được ra đời vào ngày 23/10/2007… và còn nhiều chuyên san, tạp chí, thông tin nội bộ, bản tin, báo điện  tử…  của các sở, ngành, đoàn thể tiếp nối ra đời và có mặt hàng tháng, quý… trên địa bàn tỉnh nhà. Có thể nói, báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử ra đời ở tỉnh ta đang trở thành kênh thông tin thống nhất, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sinh hoạt thông tin, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và ngày càng phát huy hiệu quả tiếng nói của Đảng bộ, của hệ thống chính trị và diễn đàn làm chủ của nhân dân Bến Tre. Điều đó, đã minh chứng nhiều năm qua lãnh đạo tỉnh đã quan tâm đặc biệt đến công tác báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ nhà báo trong tỉnh không ngừng phát triển, ngày càng lớn mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động báo chí. Thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của Bác, đội ngũ nhà báo của tỉnh cũng đã tích cực nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo ra những ấn phẩm báo chí đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, định hướng dư luận, động viên khích lệ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua sản xuất, kinh doanh; phát triển kinh tế  – xã hội; xây dựng đời sống văn hóa; xây dựng nông thôn mới; phát huy tuyên truyền người tốt việc tốt, cổ vũ động viên những con người mới, những nhân tố mới, những tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp đổi mới quê hương; tuyên truyền chủ quyền biển đảo và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền Tổ quốc Việt Nam…. Và thực tế báo chí của tỉnh nhà nhiều năm qua đã làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, chính quyền với nhân dân; là diễn đàn của nhân dân; tiếp thu sự phê bình của nhân dân; góp phần giáo dục toàn dân; đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội; tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

ImageHọp mặt báo chí tỉnh Bến Tre tại huyện Giồng Trôm nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là những quan điểm, tư tưởng của Bác đã trường tồn gắn liền với nền báo chí cách mạng Việt Nam suốt 88 năm qua, đã góp phần cho đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức. Những quan điểm, tư tưởng của Bác để lại cho nền báo chí cách mạng nước nhà là một kho tàng quý báu, đội ngũ nhà báo hôm nay và mai sau của nước ta nói chung, Bến Tre nói riêng cần phải luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, lĩnh vực báo chí ngày một đổi mới, hiện đại và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Vì vậy, đòi hỏi người làm báo tiếp tục học tư duy, học phong cách và đạo đức làm báo của Bác, để góp phần phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, trước hết đội ngũ nhà báo cần thể hiện trong việc làm sáng tỏ đường lối, chủ trương và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta; động viên và cổ vũ lòng hăng hái, tinh thần phấn đấu của nhân dân vì sự nghiệp đổi mới đất nước… Và phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam còn được thể hiện trong việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phê phán các luận điệu xuyên tạc và các hành vi chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam ta.

Nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2013), những người làm báo hôm nay thật vinh dự, tự hào vì có Bác, nhà báo cách mạng vĩ đại, người thầy lỗi lạc của báo chí cách mạng Việt Nam. Mỗi nhà báo, để trở thành nhà báo cách mạng thật sự chân chính, hãy tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác; nâng cao trách nhiệm của người làm báo, phải có đạo đức cách mạng, nhất là chí công vô tư, cái tâm trong sáng, có hiểu biết rộng; không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị, để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng trình độ về mọi mặt, hiểu biết ngoại ngữ, lăn lộn thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đặc biệt, kiên định lập trường tư tưởng, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng do Bác sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo suốt 88 năm qua. Có như thế, đội ngũ nhà báo mới thật sự xứng đáng góp phần nâng cao tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong việc tuyên truyền, động viên, cỗ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phấn đấu đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Tham khảo tư liệu HCM toàn tập và Thông tin nội bộ BTG TU Bến Tre)

Theo bentre.gov.vn
Vkyno (st)

“Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” – lời Bác dạy đậm nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình

TS. Nguyễn Thị Kim Dung (Phó Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh)
Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa.

Lúc sinh thời, là người tổ chức, giáo dục, rèn luyện đội ngũ CBCS Công an ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ bảo sâu sắc, ân tình. Trong lời dạy về “Tư cách người Công an cách mệnh” cách đây 65 năm, Người nhắc nhở: “Cần thường xuyên làm cho anh, chị em Công an nhận rõ Công an của ta là CAND, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”.

Để xứng đáng với vinh dự, trách nhiệm vẻ vang ấy, người cán bộ Công an phải rèn luyện về tư cách, đạo đức theo 6 điều dạy của Người; đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo xây dựng đội ngũ CAND trong sạch, vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Trong thực tiễn hoạt động của lực lượng CAND, do sống, chiến đấu và công tác gắn bó với nhau hằng ngày, cùng vào sinh ra tử, khó khăn gian khổ đều có nhau… nên rất dễ nể nang, bỏ qua, vì sợ mất lòng nhau khi đóng góp ý kiến xây dựng trong kiểm điểm công tác cũng như ứng xử trước khuyết điểm, sai phạm của đồng đội.

Nếu đấu tranh tư tưởng không tốt, không đặt đạo đức cách mạng, lợi ích đại cục lên trên thì sẽ dẫn đến suy nghĩ và hành động không đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích là: “Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình”().

Nhằm tránh những sai lầm đó và nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; với lực lượng CAND, trong điều dạy về tư cách người Công an cách mạng, Người nêu rõ: “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ”. Đây là điều dạy mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Người nêu quan điểm phê bình là để cho cán bộ, đảng viên, tổ chức được tốt hơn; do đó, thái độ phê bình phải thân tình, yêu thương, khích lệ tâm đức người có lỗi lầm, không làm cho người có sai phạm bi quan, chán nản, bất mãn, uất ức. Tự phê bình và phê bình chính là giúp đỡ đồng chí, đồng đội, khơi dậy nhiệt tình trong mỗi con người, làm cho cán bộ, đảng viên phấn khởi tin tưởng, phát huy ưu điểm, hăng hái tự vượt qua trở ngại của chính mình để tiến lên.

I. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh xác định quan điểm tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển tất yếu của chính đảng vô sản, là vũ khí cần thiết và sắc bén giúp chúng ta sửa sai lầm và phát huy ưu điểm.

Vì thế, “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến cùng đoàn kết. Đoàn kết phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”().

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc cán bộ, đảng viên “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”. “Khéo” có nghĩa là phê bình mình cũng như phê bình người phải “rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật”, không nể nang, không thêm bớt. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Phê bình việc chứ không phải phê bình người. “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”. “Cho nên, đảng viên và cán bộ cần phải nâng cao giác ngộ tư tưởng, ngăn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thu lời phê bình của người khác”().

Đây là một thái độ nghiêm túc, một cách nhìn nhận vừa thể hiện tinh thần đấu tranh triệt để nhưng cũng rất giàu lòng nhân ái vì con người, trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự.

Do đó, tự phê bình và phê bình còn “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh”(). Phải nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không tô hồng hoặc bôi đen…

II. Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” trong 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách, đạo đức người Công an cách mạng là sự đúc kết, kế thừa truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, là một nội dung có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Lời dạy của Người “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” hàm chứa những nội dung tư tưởng thân ái, biết cách giúp đỡ đồng đội thông qua tự phê bình và phê bình để cùng nhau khắc phục khuyết điểm, trở thành một phương châm hoạt động mang tính cách mạng và khoa học.

“Đồng sự” là đồng đội, đồng chí cùng công tác trong một đơn vị, rộng hơn, đó chính là toàn thể CBCS Công an cùng chiến đấu cho sự nghiệp bảo vệ ANCT và giữ gìn TTATXH. “Đối với đồng sự” – Bác muốn nói đến mối quan hệ của mỗi thành viên trong một tổ chức, nhân tố tạo nên sức mạnh của tổ chức. Bởi vì, tổ chức và cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tổ chức mạnh sẽ tạo điều kiện cho từng cá nhân phấn đấu tốt và ngược lại, từng cá nhân phấn đấu tốt là điều kiện để xây dựng tổ chức đoàn kết, vững mạnh. Tổ chức là nơi tạo sự liên kết, sự hợp đồng giữa những cá nhân, do vậy yêu cầu phải có những cá nhân tốt thì tổ chức mới mạnh.

Do đó, vì lợi ích chung, vì mục tiêu chung của tập thể mà các cá nhân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện mình để gắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau chính là nhằm xây dựng tổ chức, đơn vị vững mạnh, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng, đồng thời qua đó mà nâng cao sức mạnh của từng người.

Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa. Phương châm xử thế thấm đậm truyền thống nhân văn và tính khoa học, cách mạng đó, 65 năm qua, đã được các thế hệ CBCS Công an ghi lòng tạc dạ, trở thành một nét đẹp trong truyền thống đạo đức của lực lượng CAND, lực lượng được Đảng và Bác Hồ giao cho trọng trách là “Thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng”.

Tuy nhiên, trong thời kỳ cách mạng mới, khi tuyệt đại đa số CBCS Công an một lòng một dạ trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân, nêu tấm gương sáng về tình đồng chí, đồng đội, thì ở nơi này, nơi khác, có một bộ phận CBCS đã có biểu hiện xa rời lý tưởng và đồng đội, làm giảm lòng tin của nhân dân.

Chính vì vậy, việc quán triệt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên tinh thần điều dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” của Người lúc này có ý nghĩa rất thiết thực.

Tại Hội nghị lần thứ 4 (Khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và ra Nghị quyết số 12 – NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết nêu rõ: “Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả”.

Nghị quyết cũng xác định rõ: “mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý kiểm điểm, liên hệ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân thành, gắn với thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm theo cương vị công tác”.

Đó là yêu cầu cấp thiết chung của toàn Đảng cũng như đối với lực lượng CAND để tăng cường đoàn kết nội bộ, đề cao kỷ luật, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, là một trong những nội dung công tác chính trị quan trọng nhất nhằm xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ANQG, TTATXH thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay

N.T.K.D.
cand.com.vn

Lực lượng CAND phải luôn hoàn thiện bản thân theo lời Bác Hồ dạy

QĐND Online – Sáng 4-6, Bộ Công an tổ chức Lễ kỷ niệm 65 năm Công an nhân dân (CAND) học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy (11-3-1948/11-3-2013); 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11-6-1948/11-6-2013) và biểu dương các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua của lực lượng CAND. Các đồng chí: Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã đến dự và phát biểu.

Lãnh đạo Bộ Công an đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới dự Lễ kỷ niệm 65 năm Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy.

Trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vô cùng gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc để khơi dậy tinh thần yêu nước, động viên sức lực của toàn dân vào cuộc kháng chiến, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong suốt 65 năm qua, cùng với phong trào thi đua của nhân dân cả nước, phong trào thi đua yêu nước trong lực lượng CAND luôn phát triển mạnh mẽ với các hình thức và nội dung phong phú, sinh động, phù hợp với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, như phong trào “Bảo vệ trị an”, “Bảo mật phòng gian”, “Vì an ninh Tổ quốc”, “CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”… Những phong trào đều bám sát, triển khai thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách người công an cách mạng. Từ năm 2008 đến nay, phong trào thi đua “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, gắn kết chặt chẽ với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng xây dựng lực lượng công an không ngừng lớn mạnh, trưởng thành. Trong 65 năm qua, lực lượng CAND đã có hơn 90 tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh; hàng trăm tập thể, cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng các huân, huy chương, góp phần làm nên trang sử vẻ vang của lực lượng công an.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận, đánh giá cao lòng trung thành, sự hy sinh và những cống hiến to lớn của các thế hệ CAND trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Chủ tịch nước nêu rõ: “Trong công tác và chiến đấu, có hàng ngàn tấm gương công an anh dũng hy sinh vì Tổ quốc; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ công an ngày đêm tận tụy, âm thầm vượt qua mọi gian khổ khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ gìn kỷ cương phép nước, cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Thống nhất cao với những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của phong trào thi đua “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” trong giai đoạn tới, lực lượng công an cần tiếp tục tổ chức trong toàn lực lượng việc học tập, quán triệt sâu sắc 6 điều Bác Hồ dạy đối với người công an cách mạng; đưa việc học tập, làm theo 6 điều Bác dạy trở thành một nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong sinh hoạt định kỳ của các tổ chức đảng, đơn vị; không ngừng nỗ lực học tập rèn luyện, hoàn thiện bản thân như lời dạy của Bác Hồ. Bên cạnh đó, lực lượng CAND cần làm tốt công tác xây dựng Đảng, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ”.

Tin, ảnh: TUẤN NAM
qdnd.vn

Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, 65 năm Ngành Công an thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc” và triển khai mô hình Ban Chấp hành Hội Phụ nữ trong Công an nhân dân, sáng 6/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, Đoàn đại biểu Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an đã về báo công dâng Bác.

phu-nu-cong-anKhông khí báo công trang nghiêm của Đoàn trên Quảng trường Ba Đình

          Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc và lực lượng Công an nhân dân, trong 5 năm qua, các cấp Hội Phụ nữ Công an luôn năng động, sáng tạo triển khai các hoạt động Hội và phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương, sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc”. Phong trào đã thể hiện ý chí quyết tâm, sáng tạo, kết hợp tư tưởng chỉ đạo của Bác, chủ trương, đường lối của Đảng, sự chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam một cách đầy đủ, sinh động trong cuộc sống, công tác và chiến đấu. Điều này đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, hội viên Phụ nữ Công an thi đua rèn luyện, lập thành tích đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm triển khai thực hiện, công tác Hội ngày càng có nhiều đổi mới, với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, là ngôi nhà chung để tập hợp đoàn kết trong cán bộ, hội viên phụ nữ. Đặc biệt phong trào thi đua của Phụ nữ Công an được triển khai với hàng trăm mô hình, công trình, phần việc và các hoạt động thiết thực, trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của cán bộ, chiến sỹ và hăng hái, thi đua thực hiện trong toàn thể Phụ nữ Công an.

Qua hoạt động công tác Hội và phong trào thi đua, Phụ nữ Công an đã được tôi luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác để từng bước thấm nhuần và hành động theo lời dạy và tấm gương đạo đức cách mạng của Người.

Trong 5 năm qua, phong trào thi đua của Phụ nữ Công an nhân dân đã đạt nhiều thành tích, được các cấp tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 tập thể được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng.

Nhân dịp này, Bộ Công an đã tặng Bằng khen cho 69 tập thể và 67 cá nhân tiêu biểu cho phong trào thi đua của phụ nữ Công an nhân dân, trong đó có phụ nữ Công an Hà Nội, đã có 656 lượt hội viên có sáng kiến nổi bật trong công tác chuyên môn; 977 đồng chí trực tiếp tham gia các chuyên án, bóc gỡ, đấu tranh ngăn chặn và xử lý nhiều đối tượng, đường dây tội phạm; 200 lượt đồng chí làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, được các cấp biểu dương khen thưởng; có 7 đề tài cấp nhà nước, 60 đề tài cấp bộ, 363 đề tài cấp cơ sở do phụ nữ làm chủ nhiệm được đánh giá xuất sắc và từng bước ứng dụng vào thực tiễn; 9199 học viên đạt danh hiệu xuất sắc, 143 học viên ưu tú, 8 hội viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú.

Đặc biệt, thông qua hoạt động Hội đã xuất hiện hàng trăm tấm gương Phụ nữ Công an xuất sắc trong các lĩnh vực công tác. Họ đã không ngại khó khăn, gian khổ ngày đêm tận tuy, sáng tạo, kiên cường lập công trên trận tuyến bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc.

Trước anh linh của Người, Phụ nữ Công an nhân dân xin bày tỏ lòng thành kính đối với Người, kính dâng lên Người lòng biết ơn vô hạn, lòng tận trung với Đảng, hiếu với dân; nguyện đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cùng lực lượng Công an nhân dân thực hiện nghiêm túc di huấn 6 điều Bác dạy; hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó, xứng đáng với niềm tin yêu và những lời dạy sâu sắc của Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn