Tag Archive | Hồ Chí Minh

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

“Công tư đều lợi. Chủ thợ đều lợi…”

– Ngày 5/6/1953, Bác viết bài “Chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ” (ký tên là Đ.X) đăng trên tờ “Cứu Quốc” xác định những nguyên lý cho sự phát triển với 4 chính sách cơ bản là:

“1. Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải ra sức phát triển và ủng hộ nó.

Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ.

Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp nó phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đa số nhân dân.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ An.

2. Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

3. Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh công nông.

4. Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai thác lâm thổ sản để bán cho nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng”.

Đây có thể coi là văn bản đầu tiên, Bác đề cập tới những nguyên lý kinh tế vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc đang tiến dần tới đỉnh điểm ác liệt. Con đường phát triển đất nước đang đòi hỏi phải sớm có một lý luận giữa lúc những quan điểm du nhập từ “nước bạn” về con đường xây dựng kinh tế đang từng bước ảnh hưởng vào đội ngũ cán bộ Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Lương y phải kiêm từ mẫu”

 – Ngày 4/6/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ chứng kiến lễ tuyên thệ của Phó Giám đốc Ngân hàng Quốc gia, nghe báo cáo chiến thắng ở khu III của “Chiến dịch Quang Trung” lần đầu tiên quân đội ta đánh công kiên ở đồng bằng dẫn đến cái chết của con trai Thống chế De Lattre de Tassigny tại mặt trận Ninh Bình.

Chính phủ cũng thông qua chủ trương và văn bản điều lệ của thuế nông nghiệp.

Tổng kết phiên họp, Bác nêu lên 2 kết quả: “1. Thành công của phiên họp là đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vấn đề kinh tế-tài chính. Đó là một sự chuyển hướng lớn. 2. Muốn thực hiện được công tác quan trọng trên thì trong nội bộ tư tưởng phải thông suốt, phải dựa vào dân và thực hành dân chủ”.

Cũng trong tháng 6/1951, Bác gửi thư cho Hội nghị tình báo với lời căn dặn: “Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng. Mọi công tác, nhất là công tác tình báo phải tránh chủ quan, khinh địch, hiếu danh và cá nhân chủ nghĩa”.

Ngày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý TháiNgày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý Thái

Tháng 6/1953, Bác viết thư cho Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc với những huấn thị: “Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công… Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế cần phải: thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu”.

Cũng trong tháng 6/1953, trong thư gửi Hội nghị cán bộ Tổng cục Cung cấp, Bác căn dặn: “Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Phải thật lòng thương yêu binh sĩ. Phải chỉnh đốn tổ chức và công tác và mở rộng dân chủ”.

Còn trong thư gửi “Lớp chỉnh huấn cơ quan”, phân tích vì sao phải chỉnh huấn, Bác cho rằng vì: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác như: tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ; không yên tâm công tác, ham địa vị danh tiếng; lãng phí, tham ô, quan liêu, mệnh lệnh”.

X&N
bee.net.vn

“Làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”

– Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành, xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng Năm sao (Charges Réunis) đang chuẩn bị rời bến cảng Sài Gòn qua cảng Marseille của nước Pháp, để xin việc.

Sách “Những mẩu chuyện về đời của Hồ Chủ tịch” kể lại rằng, trước đó, Nguyễn Tất Thành đã bàn với một người bạn về ý định ra nước ngoài: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.

Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không? Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ 2 bàn tay: Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng Vận tải Hợp nhất với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong phận sự của một thuỷ thủ mang tên “Văn Ba” làm việc trên chiếc tàu “La Touche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp nhất rời bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.

Nói về sự lựa chọn con đường đi sang Pháp, trong một cuộc trao đổi với nhà báo Nga Oxip Manđenxtam (12/1923), Bác cho biết: “Năm tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Lui Xtơrông, Bác kể: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Ra đi vào Mùa hè nóng bỏng năm 1911 từ một cửa biển cực nam của Tổ quốc (Sài Gòn) để đúng 30 năm sau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc từ một địa đầu núi rừng phía Bắc. Tại Pác Pó (Cao Bằng), Bác làm một bài thơ nhắc đến 2 bàn tay của mình: “Non xa xa/ Nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà!”.

Chặng hải trình đầu tiên sau khi rời cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) vào ngày 5/6/1911, tàu “Đô đốc La Touche Tréville” ghé cảng Singapore (8/6), cảng Colombo, Sri Lanka (14/6), Cảng Sa’id, Ai Cập (30/6) và đến cảng đầu tiên của nước Pháp, cảng Marseille (6/7/1911).

X&N
bee.net.vn

Lời hứa với thiếu nhi của Bác 60 năm trước

– Ngày 1/6/1950, báo “Sự Thật” đăng “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc” trong đó Bác viết: “Ngày 1/6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới… Vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người cướp của. Vì vậy người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến…”.

Và người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”.

 01-6-1969 bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên,nhi đồng,bút danh TL.jpgNgày 1/6/1969, bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, bút danh TL.

Quan tâm đến trẻ em với Bác Hồ là một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ năm 1941, khi Mặt trận Việt Minh mới thành lập, Bác đã coi trẻ em là một lực lượng của cách mạng.

Trên báo “Việt Nam Độc lập”, Bác đăng bài thơ “Trẻ con”, trong đó có đoạn: “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn biết ngủ, học hành là ngoan/ Chẳng may vận nước gian nan/ Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng… Vậy nên con trẻ nước ta: Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra dành một vai/ Bao giờ đánh đuổi Nhật Tây/ Trẻ em ta sẽ là bày con cưng”.

Năm 1942, Bác viết bài thơ “Trẻ chăn trâu” đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” (21/11/1942): “…Chăn trâu mấy trẻ con con/ Cùng nhau hát xướng véo von trên gò/ Vì ai ta chẳng ấm no?/ Vì ai, ta đã phải lo cơ hàn?/ Vì ai, cha mẹ nghèo nàn?/ Vì ai, nhà cửa, giang san tan tành?/ Vì ai, ngăn cấm học hành?/ Vì ai, ta phải chịu vành dốt ngây?/ Ấy là vì Nhật vì Tây… Cùng nhau đánh đuổi Nhât Tây/ Anh em ta mới có ngày vinh hoa/ “Nhi đồng Cứu quốc” hội ta/ Ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh/ Ấy là bộ phận Việt Minh/ Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”.

Ngày 15/5/1961, Bác viết thư gửi thiếu niên và nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong với câu kết luận: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Lá thư cũng đề cập tới nội dung mà sau đó trở thành một cuộc vận động giáo dục sâu rộng “5 điều Bác Hồ dạy”, đó là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Sau này nhiều lần Bác viết về thiếu nhi với tình yêu và trách nhiệm dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Ngày 1/6/1969, nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi cuối cùng trong cuộc đời mình, Bác viết bài báo“Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”:

“Nói chung trẻ con ta rất tốt… Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

X&N
bee.net.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

 – Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành  lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường  Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là  đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các  khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân”  cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Di sản Hồ Chí Minh về hợp tác giữa các dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu TTXVN).

“Di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc” là chủ đề thảo luận của phiên thứ hai của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay,” do Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức sáng 13/5.

Đây là dịp để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm rõ hơn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tập trung thảo luận các nội dung Hồ Chí Minh – chiến sĩ đấu tranh kiên cường vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc; ý nghĩa Di sản Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc trong thời đại ngày nay.

Các tham luận nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc. Trong mọi hoàn cảnh, Hồ Chí Minh luôn hướng tới hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc.

Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác cùng phát triển và chính sách đối ngoại rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam hiện nay là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại do Hồ Chí Minh khởi xướng từ năm 1947 là Việt Nam “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai.”

Hồ Chí Minh đến với nhân loại tiến bộ bằng tình yêu đối với hòa bình và bằng việc tổ chức nhân dân Việt Nam đấu tranh giành hòa bình và xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và với cộng đồng quốc tế.

Là chiến sĩ kiên cường trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh đã để lại những di sản có ý nghĩa lớn lao đối với thời đại ngày nay.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Việt Nam từ một dân tộc bị áp bức, sống khổ cực trong chiến tranh đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, tự do và bình đẳng, hữu nghị với cộng đồng quốc tế. Đây là câu trả lời cho tất cả các quốc gia đang đấu tranh để có một nền hòa bình chân chính và là một Di sản nổi bật của Hồ Chí Minh đối với thời đại ngày nay.

Lời kêu gọi “không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh có thể coi như một bản Thông điệp sống động đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển, đa sắc tộc trước xu thế phát triển của thời đại: cần có quyết tâm cao và tránh sự mất độc lập, tự chủ về đường lối. Bài học xương máu là chỉ có hoà bình thực sự khi gắn hòa bình với độc lập và thống nhất dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, những bài học của Hồ Chí Minh về phương pháp ứng xử nhân nhượng có nguyên tắc trong đấu tranh vì hòa bình và trong quan hệ quốc tế thực sự là một di sản có giá trị để bảo vệ hòa bình hiện nay.

Những người từng đối thoại với Hồ Chí Minh đều tỏ lòng kính trọng đối với “một con người mềm dẻo, kiên nhẫn, ôn hòa, luôn luôn tìm cách hòa giải về thể thức chuyển hóa,” đều ca ngợi Hồ Chí Minh là “người luôn luôn biết giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi.”

Hồ Chí Minh là người đã bắc những nhịp cầu hữu nghị, đẩy mạnh việc giao lưu, tiếp xúc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc – một cơ sở để duy trì và củng cố hòa bình. Sau khi Việt Nam giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục nhân dân về lòng yêu hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, biết kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hợp tác rộng rãi của Việt Nam với thế giới trên mọi lĩnh vực.

Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu ái, đoàn kết, thân thiện giữa các dân tộc, không phân biệt chủng tộc và màu da.

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trưởng Ban chỉ đạo Công tác tư tưởng, lý luận và văn hóa Trung ương Xamản Vinhakệt phát biểu nhấn mạnh, tình đoàn kết Việt-Lào đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục từ khi có chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam.

Người luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế , vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước. “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình.” Trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào,” ông Xamản Vinhakệt nhấn mạnh.

Ông Xamản Vinhakệt nêu rõ: “Trong suốt cuộc hành trình lịch sử này, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nguyện cùng với nhân dân Việt Nam tiếp tục tăng cường củng cố và vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước.”

Với bài tham luận có tiêu đề ngắn gọn “Hồ Chí Minh”, ông Raymon Aubrac, cao ủy danh dự Cộng hòa Pháp, đã bày tỏ tình cảm yêu mến, quý trọng của mình đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Khiêm tốn và giản di, Bác Hồ là một chính khách mà rất nhiều người mong muốn làm được như vậy,” là cảm nhận của ông qua những lần được gặp Bác Hồ.

Ông nhấn mạnh: “Trong các chiến lược chính trị và quân sự của các cuộc đấu tranh vì nền độc lập, Bác Hồ luôn luôn tìm kiếm các cơ hội để thiết lập nền hòa bình. Là người đứng đầu Chính phủ, trong các cuộc gặp gỡ nhà báo và trong các buổi công khai ngôn luận, Người luôn biết cách chứng minh với dư luận thế giới rằng Người từ chối việc sỉ nhục kẻ thù và luôn đề nghị các giải pháp cho phép họ giữ được thể diện…”

Các đại biểu cùng thống nhất với nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.”

Di sản Hồ Chí Minh không chỉ là hòa bình hữu nghị và tiến bộ ở Việt Nam mà còn là tác động lớn lao của nó đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của toàn nhân loại trong thời đại ngày nay./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

Người con Nam bộ với vị cha già của dân tộc

Hồ Chủ tịch trên đường đi chiến dịch biên giới. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Giữa những ngày tháng Năm, trong lúc toàn dân nô nức kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng tôi đã tìm gặp anh Ngô Long Minh, một chứng nhân lịch sử – một thanh niên Nam bộ đã được ra Bắc gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc năm 1953.

Trong ngôi nhà riêng của mình, nằm trong con hẻm đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Minh đã bồi hồi nhớ lại và xúc động kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm lần đầu gặp Bác Hồ, mà theo anh, đó là những giây phút hạnh phúc nhất của đời anh.

“Giữa năm 1952, rời miền Đông Nam Bộ, đoàn chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình ra Bắc. Sau hơn 7 tháng trời gian nan vất vả, trèo non vượt suối, đến đầu năm 1953, chúng tôi đã ra đến Việt Bắc, và đã vinh dự được gặp Bác Hồ.

Hôm ấy, vào buổi chiều tối, chúng tôi được đưa đến một hội trường lớn giữa núi rừng Việt Bắc, có mặt các lãnh đạo trung ương Đảng, Chính phủ và đông đảo các cán bộ. Chúng tôi thấy có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhiều lãnh đạo trung ương và đông đảo các anh hùng chiến sĩ thi đua; những người vừa tham gia chiến dịch biên giới Tây-Bắc trở về.

Lúc đó hội trường đã gần kín hết chỗ. Là những người đến sau, chúng tôi phải kẻ đứng người ngồi. Tuy đông người nhưng không khí vẫn rất trật tự. Riêng tôi thì cứ rạo rực, bồn chồn đứng ngồi không yên, vì có nghe tin hôm nay có Bác Hồ đến. Và không ngờ Bác đã đến. Niềm khát khao, mơ ước bấy lâu nay của chúng tôi đã trở thành sự thật.

Trong lúc mọi người ai cũng mang nỗi khát khao, đợi chờ được thấy Bác, thì bổng có tiếng vọng từ phía trước: “Bác Hồ đến! Bác Hồ đến! Bác Hồ….”. Tất cả trong hội trường đồng loạt đứng dậy và hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Trong tiếng hô vang dậy kéo dài của mọi người, tôi tranh thủ len lỏi chạy lên phía trước để mong sao được thấy Bác ở khoảng cách gần nhất. Khi vừa thấy Bác, tôi không kềm được cảm xúc và hô vang “Bác đây rồi! Bác đây rồi!”

Tôi thấy nước mắt mình cứ tràn ra trong một niềm vui sướng, hạnh phúc không bờ bến. Tiếng hô của tôi đã hòa lẫn trong tiếng vỗ tay hoan hô Bác Hồ như sấm dậy của mọi người.

Sau phút giây không dằn được cảm xúc của mọi người, không khí lắng xuống, bởi mọi người ai cũng muốn nhìn thấy Bác thật kỹ. Ở miền Nam, chúng tôi chỉ thấy ảnh của Bác và nghe những câu chuyện kể về Bác, nhưng sao lần đầu gặp Bác, chúng tôi vẫn thấy Bác gần gũi quá, quen thuộc quá, thân thương quá.

Vẫn bộ áo quần bà ba màu chàm giản dị, khuôn mặt quắc thước, hiền từ với chòm râu dài phất phơ… Bác Hồ đẹp như một ông tiên trong câu chuyện cổ tích. Mọi người lần nữa không kiềm được cảm xúc, lại vỗ tay vang dậy “Hồ Chủ tịch muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”

Bước lên diễn đàn, Bác đưa cả hai cánh tay về phía trước, ra hiệu ngồi xuống, mọi người mới chịu ngồi. Hội trường im phăng phắc, mọi người ai nấy đều cố mở đôi mắt thật to để thu được hình dáng của Bác vào mắt mình nhiều nhất. Lời đầu tiên Bác nói: “Các cháu Nam Bb ở đâu, đứng dậy cho bác xem mặt!”

Tất cả chúng tôi đồng loạt đứng lên để được thấy rõ Bác và mong được Bác nhìn thấy mình. Thấy chúng tôi còn có những người đứng sau xa, Bác liền bảo: “Các chú ngồi hàng trước lùi về phía sau, ưu tiên nhường chỗ cho các cháu Nam Bộ lên ngồi phía trước cho Bác nhìn rõ mặt hơn!”

Tiếng vỗ tay lại vang lên. Nhiều cán bộ trung ương, chính phủ đã vui vẻ lui về hàng sau, nhường chỗ cho chúng tôi, những đứa con của miền Nam được lên ngồi gần Bác. Chúng tôi sung sướng đến nghẹn ngào, không nói nên lời và hầu như ai cũng không cầm được những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng của mình.

Bác đưa ánh mắt trìu mến với tình thương bao la nhìn chúng tôi. Tôi nhớ rất rõ, lời đầu tiên của Bác đã trầm ấm vang lên, rót vào tai, thấm vào lòng chúng tôi từng tiếng:

“Hôm nay muôn dặm một nhà
Cho người thấy mặt để ta thỏa lòng!”

Chúng tôi hiểu rằng, Bác Hồ đã dành cho miền Nam những tình cảm sâu nặng, thiêng liêng. Tấm lòng của Bác đối với nhân dân Nam Bộ cũng như nhân dân cả nước thật bao la như trời biển, như lời Bác thường nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi.”

Trong tình cảm ruột thịt chan hòa của những người con cùng chung một Tổ quốc Việt Nam . Không phân biệt kẻ Bắc, người Nam, chúng tôi đang sum họp một nhà, dưới ánh mắt vui sướng của vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Có niềm vui, niềm hạnh phúc nào như hôm nay!. Tôi và tất cả mọi người hôm đó đều có chung suy nghĩ như thế!”/.

Lê Bá Lư (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bác nói về chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số

– Ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự hop Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc Thiểu số và vấn đề tài chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku. Thư có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Muờng hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…

d4/1960 Bác Hồ chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc tất cả đồng bào.

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Trước đó, ngày 23/11/1945 nói chuyên với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, vốn là căn cứ địa của cách mạng về thăm Thủ đô Độc lập, Bác đã biểu dương: “Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó, ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, oán ghét bọn giặc xâm lăng… Tôi nhờ anh chị em về nói với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà, và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng chung hưởng”.

Và ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị các dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác khẳng định chính sách của Nhà nước ta là: “ 1. Dân tộc bình đẳng; Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ được sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt; a) về kinh tế sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng; b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”…

Có thể nói đó là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề các dân tộc thiểu số trên đất nước ta.

  X&N
bee.net.vn

Sửa đổi Hiến pháp

– Ngày 18/4/1958, tại phiên họp buổi chiều của Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo trước toàn thể đại biểu quá trình xây dựng và nội dung bản dự thảo “Hiến pháp sửa đổi”.

Bác hứa với Quốc hội “sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta”.

Hai năm sau, ngày 15/4/1960, trong bài diễn văn kết thúc kỳ họp thứ 12, cũng là kỳ họp kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá kỳ họp thứ 8 “có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng” vì nó triển khai việc sửa đổi Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đến kỳ họp tiếp theo, kỳ họp thứ 9 vào cuối năm 1959, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi và ban hành vào ngày đầu tiên của năm 1960.

4-1959 HCM chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.jpg (56KB)Tháng 4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.

Cần lưu ý rằng, ngay tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, diễn ra vào tháng 11/1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cũng là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhưng đáng tiếc rằng, Bản Hiến pháp này chưa kịp ban hành thì chiến tranh bùng nổ trên toàn quốc (19/12/1946).

Vì thế, cho dù Bản Hiến pháp 1946 được đánh giá như một nội dung mẫu mực của một bộ luật cơ bản xác lập thể chế Dân chủ – Cộng hoà, không chỉ xác lập một sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn xác định một thể chế tiên tiến trong nền chính trị của thế giới, nhưng nó chưa bao giờ được chính thức ban hành.

Vì thế, bản Hiến pháp sửa đổi được tổ chức soạn thảo tại kỳ họp thứ 8 và thông qua tại kỳ họp thứ 9 chính là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành!

Điểm lại những dấu ấn của Quốc hội khoá I: cuộc Tổng tuyển cử tổ chức vào ngày 6/1/1946 bầu ra 333 đại biểu, được bổ sung không qua bầu cử 70 đại biểu dành cho 2 đảng đối lập với Việt Minh là Việt Quốc và Việt Cách. Đại biểu trẻ nhất 22 tuổi (chính là nhà văn Nguyễn Đình Thi) và cao tuổi nhất là 64 tuổi (cụ Ngô Tử Hạ, nhân sĩ công giáo).

Có 4 đảng chính trị là Dân chủ, Xã hội và 2 đảng trên cùng Nhóm Mác xít (bộ phận công khai của Đảng Cộng sản tự giải tán từ 11/1945). Sau những biến cố chiến tranh đã có 116 đại biểu bị tước quyền, còn lại 287 đi theo kháng chiến đến ngày kết thúc thắng lợi.

Nổi bật là những tấm gương của các đại biểu đã hy sinh trở thành những vị liệt sĩ trong Quốc hội: Luật sư, một trí thức công giáo ở Gia Định bị thực dân giết hại ngay trong tháng 7/1946; Bác sĩ Huỳnh Bá Nhung ở Rạch Giá, nhà cựu học Lê Thế Hiểu đại biểu Quảng Trị, bác sĩ Nguyến Văn Luyện, và học giả Nguyễn Văn Tố, vị Trưởng ban thường trực Quốc hội (chủ tịch) đầu tiên, bị giặc Pháp bắt, tra tấn, dụ dỗ không được đã giết hại.

Đánh giá về Quốc hội khoá I, Bác nói: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do. Suốt 14 năm, Quốc hội đã đoàn kết nhân dân, giúp đỡ Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi và thực hiện nhiều chính sách to lớn ích nước lợi dân”.

X&N
bee.net.vn

“Ai là anh hùng?”

– Ngày 17/4/1952, báo “Nhân Dân” đăng bài “Ai là anh hùng?” của Bác (ký bút danh C.B). Thông qua câu chuyện trao đổi giữa một nhóm chiến sĩ về câu hỏi này, bài báo kết luận bằng lời giải thích của chính trị viên, cũng là của tác giả bài viết: “Người anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Bước sang cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tài liệu “Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng” nhằm đưa ra những tiêu chí cho hiện thực phong phú của công cuộc cách mạng và nhu cầu phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong một thời kỳ đầy thử thách ác liệt của đất nước. Tác giả đã khái quát thành 5 điểm chủ yếu:

1. Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu hy sinh, lao động quên mình.

HCM xem kế hoạch bắn DKB - A12 chuan bi cho Mau Than 68 - Copy.jpg (19KB)Bác xem kế hoạch bắn DKB – A12 chuẩn bị cho Mậu Thân 68

2. Chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống

3. Quyết tâm đi sâu vào khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu

4. Nêu cao ý thức làm chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lối quần chúng

5. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

Cũng vào đầu năm 1966, khi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước, Bác nói: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng… Vì vậy các anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn…”

X&N
bee.net.vn

“Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc”

– Ngày 16/4/1959, đến thăm Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí” Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo ở ngoài nước và trong nước cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Ưu điểm của các cô các chú không ít, nhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều… Cái bệnh dùng chữ là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên có những chữ ta không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài…

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi”.

aBác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái (48KB); BNHCM Ngày 16-4.doc (28KB)Bác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái Nguyên.

Nói về làm báo cũng là một lao động nặng nhọc, Bác chia sẻ: “…Nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ, phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng

Bác đã dành nhiều thời gian để nói đến những kỷ niệm cũng là những kinh nghiệm của một người viết báo và làm báo, trong đó có kỷ niệm “Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được.

Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tolstoi, thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được… Từ đó mình bắt đầu viết những truyện ngắn. Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe.

Viết xong đưa đến báo Nhân Đạo (L’ Humanité) và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm,  chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”.

Cách mấy hôm sau, thấy chuyện của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 France tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo. Với 50 France đó mình có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…”

Phần cuối bài nói, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động… phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu ..  Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”.

X&N
bee.net.vn