Tag Archive | Dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc

Một trong những di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho cách mạng Việt Nam là phong cách làm việc. Phong cách làm việc đó được coi là một nét đặc sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nâng cao địa vị lãnh đạo của Đảng.

PHONG CÁCH QUẦN CHÚNG

Phong cách này bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bác có lòng tin vô tận đối với quần chúng. Bác luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, và coi đó nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bác nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức Đảng , cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Bác nói: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì ta phải bỏ đi hoặc sửa lại…”.

Với lòng nhân ái bao la đối với quần chúng, Bác Hồ thâm nhập vào quần chúng bằng phong cách thật sự của người cán bộ quần chúng, với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở.

Bác nói: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Một vấn đề quan trọng trong phong cách quần chúng của Bác Hồ là phải chống chủ nghĩa cá nhân. Bác đã kịch liệt phê phán chủ nghĩa cá nhân, cho đó là một thứ vi trùng phá hoại cơ thể người cán bộ, đảng viên làm cho họ không thể làm việc gì cho sự nghiệp cách mạng, dù người đó tài giỏi mấy.

PHONG CÁCH LÀM VIỆC KHOA HỌC

Bác Hồ dạy: “Gặp mỗi vấn đề phải suy tính kỹ lưỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy”.

Muốn quyết định đúng mọi vấn đề, trước hết phải “điều tra nghiên cứu rõ ràng”. Có nắm chắc tình hình thì đề ra chính sách mới đúng. Và mỗi khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, phải biết tổng kết rút kinh nghiệm để làm “khuôn phép” cho những công việc khác, coi đó là “chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.

Để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác, Bác dạy phải biết lựa chọn cán bộ và sử dụng cán bộ. Bác căn dặn phải chí công vô tư trong tuyển chọn, xem xét cán bộ, bố trí cán bộ. Bác phê phán gay gắt những bệnh ưa nịnh hót, ghét những người chính trực…Khi giao công tác cho cán bộ thì phải làm cho họ yên tâm công tác, vui thú công tác. Quá trình người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thì phải tổ chức kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ trên xuống và từ dưới lên một cách có hệ thống. Có như vậy mới đánh giá được hoạt động của cán bộ, đảng viên và còn đánh giá được những chủ trương, chính sách đề ra có đúng hay không?

PHONG CÁCH LÀM VIỆC THIẾT THỰC,CỤ THỂ

Bác Hồ nghiêm khắc lên án bệnh “hữu danh vô thực”, bệnh hình thức, khi ra chỉ thị, nghị quyết thì không gắn với điều kiện thực tế, không gắn với quần chúng và cơ sở. Trong chỉ đạo thực hiện thì không có kế hoạch cụ thể, biện pháp cụ thể, không kiểm tra, kiểm soát, không tổng kết rút kinh nghiệm.

Bác chỉ rõ: Khi ra quyết định công tác hay khi định ra cách tổ chức thực hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan tưởng tượng mà không đi sâu sát thực tế. Người kịch liệt phê phán những lối làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suýt ra nhiều, “để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại rỗng tuếch”.

PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG

Bác Hồ nói: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông giàu tình cảm và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo. Thực tế cho thấy, nếu một cán bộ, đảng viên “nói một đằng, làm một nẻo” thì trước con mắt của nhân dân, họ không còn là người chiến sĩ tiên phong nữa, họ tuyên truyền sẽ chẳng ai nghe nữa. Và thực chất, họ đã tự tước mất vai trò của người lãnh đạo.

Bác Hồ còn rất coi trọng việc xây dựng làng, xã, huyện, tỉnh kiểu mẫu, những “người tốt, việc tốt”. Từ những nhân tố mới làm gương mẫu nhân rộng ra, dấy lên phong trào thi đua học tập và làm theo, tạo nên khí thế cách mạng hào hùng trong sản xuất công tác. . . rộng khắp trong cả nước.

Bác Hồ, ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, rất quan tâm rèn luyện cho cán bộ, đảng viên không những về mặt phẩm chất, đạo đức mà còn rèn luyện về phong cách làm việc.

Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (năm 1927) và “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), Bác Hồ đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là người có phẩm chất đạo đức cách mạng, vừa phải có năng lực mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, trong đó phong cách làm việc là một nhân tố quan trọng cấu thành phẩm chất và năng lực cán bộ. Và suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu tấm gương sáng ngời về phong cách làm việc. Phong cách và đức độ của Người đã làm cho quần chúng nhân dân tự đáy lòng mình , đã đặt cho Người cái tên gọi hết sức thân thương người Bác, người Cha.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến tất cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Chính phẩm chất cao đẹp đó, Người đã xây dựng cho mình phong cách làm việc mà Đảng ta đã trân trọng gọi là phong cách Hồ Chí Minh.

Nguyễn Xuyến

cpv.org.vn

Nghĩ về bài học giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên của Bác

Cách sống giản dị của Bác là đức tính để mọi người học tập

(VOV) – Niềm mong mỏi của Bác ở mỗi cán bộ, đảng viên, lãnh đạo có thể trở thành hiện thực hay không đòi hỏi mỗi người cần thấm nhuần những bài giảng kinh điển của Bác

Nói đến vai trò của người cán bộ trong phong trào cách mạng quần chúng, Bác Hồ đã từng khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi thắng lợi”, cán bộ nào phong trào ấy”. Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn dành thời gian tâm sức cho công tác đào tạo bồi dưỡng, giáo dục cán bộ để họ thực sự là “công bộc”, là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy tâm huyết

Ngay từ năm 1925, khi từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cho Đảng sau này. Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (tập hợp những bài giảng của Bác), Bác đã đặt lên hàng đầu tư cách người cán bộ cách mạng: “…Tự mình phải cần kiệm, hoà mà không tư, cẩn thận mà không nhút nhát, nhẫn nại, hay nghiên cứu xem xét, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói đi đôi với làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng về ham muốn vật chất…”.

Những lời dạy tâm huyết của Bác đã thực sự trở thành mục tiêu phấn đấu của nhiều thế hệ cách mạng tiền thân của Đảng. Nhờ vậy trong những thời điểm khó khăn nhất của cách mạng, nhiều cán bộ đảng viên bị bắt, bị tù đày, tra tấn, đến tận lúc hy sinh vẫn một lòng trung kiên nêu cao phẩm chất trong sạch, khí tiết bất khuất của người cộng sản, như Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Tô Hiệu, Hà Huy Tập…

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Khi ấy, yêu cầu về phẩm chất năng lực của người cán bộ đảng viên đòi hỏi ngày càng cao và bức thiết hơn. Chính vì vậy, ngay sau khi cách mạng thành công, ngày 14/11/1945, trên Báo Cứu Quốc, Bác đã viết bài “Nhân tài và kiến quốc”, kêu gọi người có tài, có đức ra giúp nước. Tiếp đến trong lễ ra mắt Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ngày 28/5/1946, đề cập đến công tác cán bộ, Bác khẳng định: “…Những công việc của nước, của dân không thể giao cho những kẻ bất tài, thất đức. Vì vậy, phải tập hợp được những người tài đức, những nhân tài để gánh vác việc chung…”. Tiếp đến ngày 20/11/1946, trên Báo Cứu Quốc, Bác viết bài “Tìm người tài đức”, kêu gọi các địa phương trong cả nước giới thiệu những người tài đức có thể làm được những việc ích nước, lợi dân: “…Trong 20 triệu đồng bào, chắc không thiếu người tài đức, e vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin nhận…”.

Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã tập hợp quanh mình nhiều nhân tài của đất nước, không phân biệt thành phần xuất thân, nhưng đều hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân, như Chí sỹ Huỳnh Thúc Kháng, Thượng thư triều Nguyễn Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hoè… và các nhân sỹ trí thức như Phan Anh, Phạm Quang Lễ, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Tạ Quang Bữu…

Kẻ địch bên trong của cách mạng

Thực tế trong thời điểm gay go nhất của lịch sử, vận mệnh dân tộc đang “nghìn cân treo sợi tóc”, chính quyền non trẻ phải đương đầu với trùng điệp khó khăn, thù trong, giặc ngoài, đại bộ phận cán bộ thấm nhuần lời dạy của Bác vẫn chung sức chung lòng chiến đấu quên mình trên các mặt trận kháng chiến, kiến quốc. Nhưng cũng không ít cán bộ đảng viên bắt đầu sa sút phẩm chất đạo đức, chuyên quyền độc đoán, xa rời quần chúng nhân dân. Để chặn đứng biểu hiện này, tháng 10/1947, tại Chiến khu Việt Bắc, trong khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt, Bác Hồ đã viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó Người chỉ ra nhiều căn bệnh đang gặm nhấm dần tư cách đạo đức của không ít cán bộ đảng viên. Đó là: bệnh lợi dụng chức quyền: “…dùng của công làm việc tư, lợi dụng thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào…”; Bệnh giấu dốt: “…biếng học hỏi, biếng suy nghĩ, việc dễ tranh lấy cho mình, việc khó đẩy cho người khác, không chịu học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình, việc gì cũng muốn làm thầy người khác…”; Bệnh háo danh, “…chỉ chịu được sướng không chịu được khổ, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không ham làm các công tác thiết thực…”; Bệnh bè phái: “…ai không hợp với mình thì tốt cũng cho là xấu, hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, dìm người đó xuống…”; Bệnh quan liêu công thần: “…luôn tự cho mình là cách mạng già, cách mạng cũ, việc to không làm nổi, việc nhỏ không chịu làm…”.

Bác gọi những căn bệnh này là kẻ địch bên trong của cách mạng, và Người chỉ ra liều thuốc tốt nhất để khắc phục những căn bệnh này là mỗi cán bộ đảng viên phải giữ vững nguyên tắc phê và tự phê bình trong Đảng: “…Phê và tự phê bình cốt giúp nhau sửa chữa, tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, cốt để đoàn kết, thống nhất nội bộ…”.

Đã hơn 60 năm trôi qua, nhưng những căn bệnh ấy đến nay vẫn còn hiện hữu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở; vẫn còn nóng hổi tính thời sự trong việc đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ hiện nay. Đây chính là nỗi lo thường xuyên của Bác đối với cán bộ, đảng viên của một Đảng cầm quyền. Vì thế, trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Bác vẫn không ngừng trăn trở niềm mong mỏi: “…Mỗi cán bộ đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”.

Niềm mong mỏi ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có trở thành hiện thực hay không? Trước thực trạng những “căn bệnh” mà Người nêu lên từ hơn 60 năm trước đang có nguy cơ gia tăng trong bộ máy công quyền, những bài học kinh điển của Bác trong việc bồi dưỡng, đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ đảng viên trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay càng phải được quan tâm coi trọng, đặc biệt là trong cuộc vận động lớn học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như vậy cán bộ đảng viên mới thực sự trở thành “công bộc”, “người đầy tớ” thực sự của nhân dân như Bác từng mong muốn./.

Ngô Minh Thuyên

cpv.org.vn

Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải chỉ thông qua những tác phẩm của Người về đạo đức mà quan trọng hơn là phải thông qua chính hành vi được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người; thông qua mẫu mực đạo đức trong sáng mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành một đặc trưng nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vì vậy, trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng, Người không chỉ nêu lên những nội dung của việc tu dưỡng để có đạo đức cách mạng mà Người còn chỉ rõ những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức cách mạng.

Muốn có đạo đức cách mạng: Trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương về đạo đức. Điều này đã được Người đề cập trong “Đường Kách mệnh” khi nói đến tư cách của một người cách mệnh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Người đã giáo dục mọi người và ngay chính bản thân mình đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Đối với mỗi người đều nói nhiều mà làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng, làm một nẻo thì chỉ đem lại hậu quả phản tác dụng. “Hãy làm theo tôi nói, đừng làm theo tôi làm”, đó là thói đạo đức giả của các giai cấp bóc lột. Còn việc nêu gương thì không ở lĩnh vực nào mà vấn đề nêu gương lại được đặt ra như trong lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình: Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác; những gương “Người tốt việc tốt” mà Hồ Chí Minh đã dầy công phát hiện thu thập, chỉ đạo việc in thành sách để mọi người học tập và làm theo là một việc làm rất cụ thể. Một bài diễn văn hay không bằng một tấm gương sống – điều mà Hồ Chí Minh nói về Lê-nin đã đặt ra cho việc xây dựng đạo đức mới một nguyên tắc rất cơ bản là sự nêu gương về đạo đức. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương chung cho cả dân tộc và cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi về sau học tập.

Nguyên tắc thứ hai để rèn luyện đạo đức cách mạng là xây đi đôi với chống. Bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, những hiện tượng tốt – xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức vẫn còn đan xen nhau, đối chọi nhau, thông qua hành vi của mỗi một con người khác nhau. Thậm chí, những đan xen và đối chọi ấy còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi một con người. Do đó việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức hoàn toàn là điều không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới phải đồng thời chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức. ở đây điều quan trọng là phải phát hiện sớm, hướng cho mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch và lành mạnh về đạo đức. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động rất nhiều phong trào như vậy. Đó là phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (năm 1952); đó là phong trào: 3 xây, 3 chống” năm 1963)… Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó mà lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm xây gì, chống gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Nguyên tắc thứ ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Bởi mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu lại tấm gương của người xưa: Mỗi buổi tối đều tự kiểm điểm để bỏ đỗ đen, đỗ trắng vào hai cái lọ, để cứ nhìn vào đó có thể biết mình tốt xấu ra sao? Trong thực tiễn, có người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ gian khổ, hy sinh, nhưng đến khi có ít quyền hạn thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, biến thành người có tội với cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đưa ra một kết luận khái quát: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Đối với mỗi con người việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế. Có rèn luyện công phu theo các nguyên tắc trên đây thì con người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, những phẩm chất ấy sẽ ngày càng được bồi đắp và nâng cao.

Theo báo Bắc Ninh điện tử

cpv.org.vn

Bác tiết kiệm chính bởi tại lòng nhân

“Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”.

Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, phần mở đầu nói về tư cách của người cách mạng, Bác Hồ viết: “Tự mình phải cần, kiệm”. Cần, kiệm theo Bác phải là đức tính đầu tiên, tư cách đầu tiên của người cách mạng.

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách. Sau nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt, chuẩn bị Tổng tuyển cử, nhiệm vụ thứ tư Bác Hồ nói: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn để hòng hủ hoá dân tộc ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện “cần kiệm liêm chính”.

Ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết: “Một hạt gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác!”. Bác phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu.

Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên.
Bác chỉ rõ, nhiều cán bộ đã thực hiện đúng cần, kiệm, liêm, chính, “Nhưng còn một số… ăn uống xa xỉ. Thậm chí cờ bạc, rượn chè. Họ còn “các quan” lắm!”.

Bác nói: “…Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành 4 điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc giây leo trời!”.

Một lần nói chuyện với các giám đốc và chủ tịch các uỷ ban nhân dân, Bác nói: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra…”.

Thật là cảm động khi trong một đoạn ngắn nói về tiết kiệm này, Bác đã hai lần nhắc đến mồ hôi, nước mắt của dân nghèo!

Bác Hồ rất nhiều lần nhắc đến phải tiết kiệm thời giờ: “Một phút của hàng triệu người cộng lại thành rất nhiều ngày và làm được rất nhiều công việc… Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập. Đó là vì chưa biết quý trọng thời giờ, sắp đặt thời giờ cho hợp lý, còn lãng phí nhiều thời giờ. Muốn tiết kiệm thời giờ, thì mọi công việc đều phải chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ…”.

Thực ra, tiết kiệm không phải là vấn đề mới. Ông cha ta tự bao đời đã truyền dạy con cháu: Làm dưng ăn hoang, mỏ vàng cũng cạn. Cũng không phải chỉ vì nước ta nghèo mới cần tiết kiệm, mà loài người từ lâu cũng đã tìm thấy bài học ấy trong cuộc sống của mình. Biết bao câu danh ngôn đã được truyền tụng: Nếu bạn muốn giàu có, thì chẳng những phải học cách làm ra tiền, mà còn phải biết cách sử dụng đồng tiền. Lười nhác và hoang phí, đó là hai cái vực thẳm!.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta không chỉ dạy cán bộ, đảng viên và nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà chính Bác còn là một tấm gương lớn về lối sống giản dị, tiết kiệm. Giữa Thủ đô Hà Nội phồn hoa, Bác vẫn tiết kiệm từng mẩu xà phòng, chiếc áo cũ, viết báo bằng mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam, đi chiếc xe ô tô đã cũ. Khi ăn không để rơi một hạt cơm!

Một lần, thấy lớp nhựa ở vòng tay lái chiếc ô tô đã cũ toả ra mùi khó chịu, đồng chí lái xe lấy nước hoa vẩy vào trong xe. Khi lên ô tô, thấy mùi nước hoa Bác tỏ vẻ không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa. Nhưng nhân dân mình còn nghèo, vị chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành!

Theo Bác, tiết kiệm khác keo kiệt, bủn xỉn. Trong bài “Cần, kiệm, liêm, chính” Bác đã viết: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”.
Ngược lại với tiết kiệm là hoang phí, xa xỉ.

Với Bác, xa xỉ là hao phí thời giờ, hao phí vật liệu, ăn không ngồi rồi, ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo khổ. Và Bác nhấn mạnh: “Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào”.

Theo Bác thì kiệm không chỉ có nghĩa là không hoang phí, không xa xỉ, mà còn phải biết tổ chức, quản lý:

“Tiết kiệm nghĩa là:
Một giờ làm xong công việc của hai, ba giờ.
Một người làm việc bằng hai, ba người.
Một đồng dùng bằng giá trị hai, ba đồng.
Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức… Không biết tổ chức là không biết tiết kiệm”.

Cụm từ “tiết kiệm là một quốc sách” đã được nêu lên không ít lần trong diễn đàn Quốc hội, được ghi trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, nhưng chúng ta không khỏi đau lòng khi thấy còn nhiều cán bộ, đảng viên sống xa hoa, lãng phí, cách quá xa đời sống của nhân dân. Hàng trăm triệu đồng cho một bữa tiệc, hàng tỷ đồng cho một lễ kỷ niệm và khá nhiều những chiếc xe con sang trọng, quá mức cần thiết, không đúng quy định.

Những công sở xây quá lớn với thừa thãi tiện nghi, trong khi trẻ em còn thiếu trường học, bệnh viện vẫn hai ba người một giường… Chưa nói đến sự lãng phí tiền của, mà hãy nói đến những phương tiện sống xa hoa ấy đã chứng tỏ nhiều cán bộ xa rời quần chúng nhân dân. Đã có những cán bộ vì lối sống xa hoa, lãng phí mà dẫn đến tham nhũng, hối lộ, lập quỹ đen… làm tổn hại đến niềm tin của nhân dân với Đảng.

Một lần gặp gỡ cán bộ quân đội, Bác nói: “Bọn phong kiến xưa cũng nêu ra cần kiệm liêm chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân noi theo để lợi cho nước, cho dân”.

Trước đây, Nhà nước ta cũng đã đề ra Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nay lại được nâng lên thành Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Song vấn đề quan trọng là phải thực thi luật đó. Đã có không ít những cán bộ chỉ kêu gọi người ta tiết kiệm, còn mình thì không gương mẫu thực hiện. Trình độ dân trí ngày càng cao, nhân dân phân biệt rất rõ những người chỉ nói suông, nói một đàng làm một nẻo và trong mắt của nhân dân những người đó đã trở thành “những ông quan cách mạng”. Nói đúng và gương mẫu làm đúng những điều mình nói, chính là đạo đức cách mạng. Trong vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nếu cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thì làm sao có thể vận động đông đảo nhân dân thực hiện tốt được. Mọi công việc đều thế, việc vận động tiết kiệm, chống lãng phí càng phải thế.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Bác rất tiết kiệm vì nước ta còn nghèo. Nhưng tôi nghĩ, hai mươi năm sau, khi nước ta đã giàu lên rồi và Bác còn ở với chúng ta, tôi dám chắc rằng Bác vẫn tiết kiệm như bây giờ. Theo tôi hiểu, Bác tiết kiệm vì Bác không nỡ phụ người, không đành phụ của. Bác tiết kiệm không phải chỉ vì lý do kinh tế, mà chính bởi tại lòng Nhân!.

Sống giản dị, tiết kiệm là lối sống của Bác, là đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Nhà báo Mỹ Đa-vít Han-bớt A-ten đã viết: Đó là sức mạnh của ông Hồ, vì ông là một người Việt Nam của quần chúng. Địa vị càng cao ông càng giản dị, trong sáng hơn. Hình như ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

cpv.org.vn

Bác Hồ với vấn đề thời cơ trong cách mạng Tháng Tám

(ĐCSVN) – Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã nêu một tấm gương sáng và một hình mẫu đáng tự hào về tổng khởi nghĩa giành chính quyền cho các dân tộc bị đế quốc, thực dân nô dịch trên thế giới noi theo.

Là người Mác xít chân chính, giàu trí tuệ, nung nấu lý tưởng giải phóng đất nước, Bác hiểu con đường phải đi, những việc phải làm và hướng nỗ lực chuẩn bị vào đó để giành quyền chủ động bùng nổ cách mạng khi có thời cơ: ngày 19/9/1924 Bác trả lời họa sĩ Thụy Điển Erich Giôhanxơn: con đường giải phóng Việt Nam là: “… khởi nghĩa vũ trang trong cả nước”; “phải tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những tế bào có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa” (1). Năm 1927, Bác viết tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Đó là những nét lớn làm cơ sở cho cương lĩnh của Đảng ta sau này. Tháng 6/1925 Bác sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 2/10/1929 Bác viết bài “Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương”, vạch trần những thủ đoạn bóc lột, bắt phu, bắt lính của thực dân Pháp ở Đông Dương, chỉ cho nhân dân ta bộ mặt và bản chất của quân thù. Từ ngày 3-7/2/1930 Bác chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua “chính cương vắn tắt”, “sách lược vắn tắt” và “điều lệ vắn tắt” của Đảng do Người khởi thảo. Từ đây cách mạng Việt Nam có bộ tham mưu tối cao thống nhất lãnh đạo – đó là điều kiện tiên quyết để cách mạng thành công. Sau Hội nghị Trung ương I (tháng 10/1930) Bác viết: “Để chống lại đàn áp cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”, “cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình” (2). Đó là những ý tưởng đầu tiên cho sự ra đời của quân đội. Tháng 1/1935 Bác viết thư gửi Bộ phương Đông (thuộc Quốc tế cộng sản) đề nghị một số biện pháp nhằm bồi dưỡng lý luận Mác – Lênin cho các cán bộ đảng viên ở các nước thuộc địa… đưa họ vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Tháng 7/1939 từ Trung Quốc Bác gửi thư về cho Trung ương Đảng: “… phải tổ chức Mặt trận Dân chủ rộng rãi… Mặt trận Dân chủ Đông Dương phải liên hệ với Mặt trận Nhân dân Pháp” (3). Tháng 10/1941 Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh) thành lập. Đây là điều kiện tiên quyết thứ hai bảo đảm sự thành công cho cách mạng. Tháng 2/1941 Bác về nước chỉ đạo lập các hội cứu quốc tại căn cứ địa Cao Bằng và chỉ thị phải tuyên truyền vận động quần chúng, có như vậy cách mạng mới thành công.

Là người nhuần nhuyễn học thuyết Mác – Lênin, lại am hiểu sâu sắc trước tác của những nhà chính trị, quân sự tầm cỡ thế giới ở phương Đông (Khổng Tử, Tôn Tử, Ngô Khởi, Gia Cát Lượng…), Bác thấy rất rõ ý nghĩa to lớn của vấn đề thời cơ. Cách mạng Việt Nam luôn phải đối mặt với các kẻ thù lớn, hung bạo (Nhật, Pháp), vấn đề thời cơ càng là mối quan tâm đặc biệt của Bác, Bác tìm mọi biện pháp nắm tình hình, phân tích kết luận chính xác, đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng để phát động tổng khởi nghĩa đúng lúc, bảo đảm chắc thắng, ít tổn thất, thương vong. Quá trình vận động, chuẩn bị cách mạng, Bác còn thường xuyên uốn nắn những chủ trương, hành vi manh động, không hợp thời. Tháng 11/1940 được tin Nam kỳ khởi nghĩa, Bác nhận định: “Tình hình… có lợi cho ta”, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”. Tháng 3/1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, Bác nhắc nhở: chuẩn bị tổng khởi nghĩa lúc này cũng chính là sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 15/8/1945 Bác phát biểu ở Hội nghị toàn quốc của Đảng: tích cực thì nắm được thời cơ, không tích cực thì thời cơ không chờ mình. Theo Người thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ tồn tại trong thời đoạn từ Nhật đầu hàng Đồng minh (13/8/1945) đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật (28/8/1945). Chính vì biết chủ động chuẩn bị, nắm được thời cơ và hành động đúng thời cơ mà chỉ với năm ngàn đảng viên, Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo tổng khởi nghĩa thành công trong cả nước.

Thành công ấy trước hết thuộc về Thường vụ, Trung ương và Đảng cộng sản Đông Dương, trong đó có vai trò đặc biệt của Bác Hồ – người giữ vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng – người có khả năng hội tụ sức mạnh của Đảng, của dân tộc và của thời đại. Bác đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bão tố đến bến bờ vinh quang. Cống hiến lớn lao, xuất sắc của Bác về nghệ thuật tạo, nắm và chớp thời cơ, sử dụng lực lượng áp đảo của quần chúng nhân dân giành thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu… trong tổng khởi nghĩa vẫn là bài học nóng hổi và luôn có giá trị cho chúng ta và cho các dân tộc bị nô dịch trên thế giới.

Ghi chú:

1 – Báo Nhân dân ngày 16/3/1980.
2 – Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, trang 38.
3 – Sách đã dẫn, trang 114,115.
4– Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, trang 77.

Đỗ Lai Tiệp (CTV)

cpv.org.vn

Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ Xô Viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11/11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, Người lấy tên là Lý Thụy, làm cán bộ phiên dịch cho phái đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ Phan tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước (1925).

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng ở trong nước ra, mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân. Trường mở được 10 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người. Đó là đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, với những người tiêu biểu như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ. Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Matxcơva học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Họ lần lượt được cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, Nguyễn Ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng mà đầu nǎm 1927 được xuất bản thành cuốn sách “Đường kách mệnh”. Trong đó, Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để, chỉ rõ rằng: muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại. Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng: tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất… Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.
Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thấm nhuần học thuyết của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Người đề ra cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân).

Nhiệm vụ trước mắt của Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Người nhấn mạnh: công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và họ là lực lượng đông nhất.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội, nông hội, phụ nữ, thanh niên.

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Cuốn Đường kách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, một tổ chức tiền thân của Đảng. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.
“Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng hội.

Dưới sự lãnh đạo của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội, Nguyễn Ái Quốc đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần những tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu Á.

Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu Á.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy Sĩ, Italia rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái Lan vào mùa thu nǎm 1928. Thời gian này Người chú trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.

Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của “Đông Dương cộng sản đảng” và “An Nam cộng sản đảng”. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành “Đông Dương cộng sản liên đoàn”.

Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái Lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do Nguyễn Ái Quốc thảo ra.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản
Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết:

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

BTS -(Trích Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987)

cpv.org.vn

Chủ nghĩa Lênin là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng.

(ĐCSVN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lênin, thương nhớ đồng chí Lênin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Lênin.

Là người Việt Nam yêu nước đầu tiên – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Lênin qua bản Luận cương đã chinh phục hoàn toàn Nguyễn Ái Quốc và từng bước Người đã đi đến kết luận: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” Nguyễn Ái Quốc đã khăng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

(22.4.1870/22.4.2009)

Lênin là người kế tục sự nghiệp của C.Mác-Ph.Ăng ghen và đã đưa chủ nghĩa xã hội khoa học phát triển từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tên tuổi của Lênin gắn liền với cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, một cuộc cách mạng đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người và con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới thật sự cách mạng trong các thuộc địa và đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và nô lệ.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, Lênin đã tập trung toàn bộ tâm lực, trí lực cho sự nghiệp giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột. Bằng những tác phẩm nổi tiếng như: “Làm gì”, “Một bước tiến, hai bước lùi”, “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, “Thà ít mà tốt”…Có những tác phẩm Lênin đọc cho thư ký ghi trong những ngày nằm trên giường bệnh. Đó là những cống hiến vô cùng to lớn về lý luận của Lênin.

Bên cạnh việc khẳng định Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác, là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định Lênin là người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.

Học tập và làm theo những lời dạy của Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Dù vô tình hay cố ý, duy trì ba bệnh ấy tức là giúp cho kẻ địch và làm hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho Đảng. Lênin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực, phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã khẳng định: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ./.

Trung Hiếu

cpv.org.vn

Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong cuộc sống thường ngày, phụ nữ Việt Nam có vị trí và vai trò to lớn. Nhận rõ vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm tới việc bồi dưỡng và phát triển khả năng to lớn của phụ nữ. Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định: “Muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà” và “An nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là phải giải phóng phụ nữ. Người nói “Phụ nữ là phần nửa của xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”(2).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ cả nước có nhiều phong trào động viên chị em hăng hái tham gia sản xuất, chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh cho chiến trường đánh thắng… Điển hình là phong trào “5 tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc. Ở miền Nam, nơi trực tiếp đương đầu với Mĩ – Nguỵ, nhiều chị em đã tích cực tham gia lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1961, toàn miền Nam có 28.000 nữ du kích. Trong lực lượng dân quân du kích ở miền Nam, có thời điểm nữ du kích chiếm 2/3 quân số. Ở mọi hình thức đấu tranh, chị em đều chiếm tỷ lệ cao. Chị em còn phát huy “sở trường” trong công tác binh vận; đấu tranh theo phương pháp hoà bình của “đội quân tóc dài”; trong công tác bảo vệ cơ sở, bảo vệ Đảng nhằm giữ gìn lực lượng, đưa phong trào cách mạng vượt qua những năm khó khăn ác liệt.

Trong khi đó, chị em phụ nữ miền Bắc, ngoài số trực tiếp tham gia quân đội và lực lượng vũ trang nói chung, đông đảo chị em tham gia phong trào “Ba đảm đang” nổi tiếng: đảm đang sản xuất và công tác, thực hành tiết kiệm, thay thế nam giới đi chiến đấu; đảm đang việc gia đình, khuyến khích chồng con, anh em ra chiến trường; đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Tính đến cuối tháng 5/1965, đã có 1.700.000 phụ nữ ghi tên phấn đấu đạt danh hiệu phụ nữ “Ba đảm đang”. Đây thực sự là một phong trào to lớn, có ý nghĩa sâu sắc, thu hút đông đảo chị em đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có thể nói, chưa có khi nào trong lịch sử dân tộc, phụ nữ nước ta lại thể hiện rõ vai trò, sức mạnh của mình như trong thời đại Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ thêm truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phụ nữ tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh. Tới giữa năm 1984, từ phong trào cách mạng của quần chúng, phụ nữ một đội ngũ cán bộ nữ đông đảo đã phát huy vai trò tích cực trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đáng chú ý là lực lượng nữ cán bộ khoa học kỹ thuật tăng nhanh, chiếm tỷ lệ khá cao: 50% trong số cán bộ có trình độ trung cấp; 30% trong số cán bộ có trình độ đại học.

Song trên thực tế, ở không ít ngành, địa phương và ở cộng đồng, nhận thức về vị trí, vai trò của nữ giới vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo điều kiện cần và đủ để chị em được phát triển toàn diện. Vì vậy, ngày 7-6-1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 44-CT/TW “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”. Cùng với việc đánh giá những thành tựu của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; những việc đã làm được của các cấp, các ngành trong bồi dưỡng, phát huy khả năng của phụ nữ, Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ ra những hiện tượng đáng quan tâm như: tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý và lãnh đạo giảm sút, nhất là trong các cơ quan quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; cán bộ nữ hiện đang giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh, thành và Trung ương phần nhiều lớn tuổi, nhưng diện cán bộ kế cận rất ít; tỷ lệ đảng viên nữ ở nhiều nơi cũng giảm. Nhiều xã ở một số tỉnh miền Nam, ở miền núi chưa có đảng viên nữ…

Trong phương hướng tăng cường cán bộ nữ, Chỉ thị nêu rõ: Vấn đề cán bộ nữ phải được đặt trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước ta. Phải tuyển chọn cán bộ nữ từ những người ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa, nhất là trong công nhân đã trải qua rèn luyện trong thực tế phong trào cách mạng của quần chúng. Phải quyết tâm và có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng để chị em có đủ năng lực, phẩm chất trên cơ sở đề bạt một cách vững chắc…

Quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, theo dõi công tác bồi dưỡng, phát triển giới nữ để có định hướng và những chính sách, bước đi phù hợp. Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định: “Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò và vị trí quan trọng. Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển đất nước. Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng”. “Trong những năm qua, các tầng lớp phụ nữ nước ta phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đã đoàn kết, đổi mới, sáng tạo trong lao động, công tác, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…”

Nghị quyết cũng chỉ rõ: “Trong khó khăn của đất nước, phụ nữ đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp. Nhiều chị em còn phải làm việc trong các điều kiện nặng nhọc, độc hại. Sức khoẻ phụ nữ nói chung giảm sút… Phụ nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức… Là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội đang có chiều hướng phát triển như: mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị đoan… Những khó khăn trên đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phụ nữ, của thế hệ tương lai.”

Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đề ra 3 quan điểm và 6 công tác lớn nhằm tăng cường việc chăm lo, bồi dưỡng, vận động và phát triển phụ nữ trong tình hình mới.
Ngày 29-9-1993, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 28-CT/TW về thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị: “Đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Bản chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ Đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ các khối Trung ương cần nắm vững những nhiệm vụ sau:

1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ; quán triệt 3 quan điểm và 6 công tác lớn, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị.

2. Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật, chương trình của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; tổ chức thực hiện có kết quả thiết thực.

3. Chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thực hiện từng việc phù hợp với điều kiện thực tế ở từng đơn vị, địa phương; có kiểm tra, đôn đốc, sơ kết và tổng kết.

Không đầy một năm sau, Ban Bí thư Trung ương Đảng lại có Chỉ thị số 37-CT/TW (ngày 16-5-1994) “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, đặt ra việc: Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ ; có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành; xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong phụ nữ.

Trong các văn kiện đại hội toàn quốc của Đảng, Đảng ta cũng nhiều lần đặt vấn đề phải thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng và phát triển lực lượng phụ nữ trong các giai đoạn cách mạng. Và trên thực tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước những năm vừa qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng phụ nữ Việt Nam đã không ngừng vươn lên trên các lĩnh vực lao động, sản xuất, đặc biệt là việc nâng cao dân trí, chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học-công nghệ. Theo số liệu mới được thống kê gần đây (báo Quốc tế, ra thứ năm hàng tuần từ 3/3/2005 – 9/3/2005), phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ : 61% những người có trình độ cao đẳng; 34% những người có trình độ tiến sĩ; 4% những người là tiến sĩ khoa học; 40% tham gia hoạt động khoa học-công nghệ; 6,3% là cán bộ của các cơ sở nghiên cứu; 10% là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước.

Như vậy, có thể thấy công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ đã trở thành hệ thống có tính lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, Đảng ta luôn quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ, không chỉ vì phụ nữ là một nửa của xã hội, mà còn là vì phụ nữ nước ta thực sự có vị trí và vai trò to lớn trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Đó là điều đã được Đảng ta khẳng định. Nhưng không phải lúc nào, giai đoạn nào cũng được các cấp uỷ, chính quyền điạ phương, đơn vị nhận thức một cách đầy đủ và thực hiện hiệu quả.

Để thực hiện tốt chiến lược phát triển “Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”- như Đại hội Đảng lần thư VIII đề ra – theo chúng tôi, nhiệm vụ này cần được đặt trong chương trình công tác thường kỳ của cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị với những chính sách, quy định cụ thể để công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ thường xuyên đi vào cuộc sống. Và trong thời gian tới, cần:

– Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về giới để mọi người nhận thức ngày càng đúng đắn, sâu sắc về vị trí, vai trò, khả năng to lớn của người phu nữ trong xã hội, đi tới loại bỏ về căn bản những định kiến về giới, nhất là tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn còn tồn tại ở các giai tầng xã hội. Đây là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, vì những nhận thức xưa cũ đã tồn tại lâu đời, không phải chỉ trong một thời gian chúng ta có thể dễ dàng thay đổi được.

– Vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ phải được thể chế bằng những chính sách, việc làm cụ thể. Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì vậy phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, để họ có điều kiện phát huy tài năng, trí tuệ và sức lực của mình cho sự phát triển xã hội.

– Có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao dân trí, trình độ chính trị, chuyên môn cho phụ nữ nói chung, nhất là đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người, điều kiện mọi mặt còn nhiều khó khăn; quan tâm tới lực lượng cán bộ nữ trẻ có năng lực, đạo đức và khả năng quản lý để đào tạo họ trở thành cán bộ lãnh đạo ở các cấp; có nhiều loại hình lớp bồi dưỡng, tập huấn giúp phụ nữ ngày càng hiểu rõ hơn đường lối, quan điểm của Đảng vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam để họ tự tin, không ỷ lại, trông chờ, vươn lên trong cuộc sống.

– Quan tâm tới bồi dưỡng, phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ là trách nhiệm của toàn Đảng, cấp uỷ, chính quyền các cấp, nhưng trước hết và trực tiếp là Hội liên hiệp phụ nữ các cấp. Hội vừa là cơ quan tham mưu của Đảng, chính quyền về công tác phụ nữ, vừa là đại diện, cầu nối giữa quần chúng phụ nữ với Đảng, vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng, giáo dục và tổ chức các phong trào cách mạng do phụ nữ thực hiện. Vì vậy Hội liên hiệp phụ nữ các cấp giữ một vai trò rất quan trọng trong thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, “vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”./.

Lê Ngọc Toàn
Tạp chí Tư tưởng – văn hoá

cpv.org.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Mười hai điều đó chớ quên điều nào”

Bác Hồ đã nhiều lần nêu lên vấn đề “tư cách người cách mạng”. Sớm nhất bằng văn bản là những trang đầu trong Đường Kách mệnh, năm 1926-1927, cho tất cả những người tham gia cách mạng Việt Nam.

Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc ở chương III, mục A, Bác đã nêu lên 12 điều tư cách, không phải với một người, một ngành, mà cho một “Đảng chân chính cách mạng”.

Điều đầu tiên cũng là tư cách trên hết của một đảng chân chính cách mạng là “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” chứ không phải là “một tổ chức để làm quan phát tài”. Ý trong điều này của Bác thì hiện nay ta đã hoàn thành việc 1 (giải phóng dân tộc). Còn việc 2 Đảng ta đang nỗ lực tiến hành (Tổ quốc, đồng bào sung sướng).

Điều thứ 2, Bác nêu lên là: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cách mạng theo Bác là “đổi cũ ra mới, đổi xấu ra tốt”. Cái cũ mà tốt nên giữ và phát huy. Cái mới mà xấu thì không nên bắt chước mà phải “cách” đi. Lý luận cách mạng mới ở đây là lý luận cách mạng của Việt Nam, của riêng Đảng cách mạng Việt Nam. Đảng cách mạng chân chính không, không thể sao chép, rập khuôn theo một thứ lý luận, chủ nghĩa nào một cách nguyên xi, bản gốc. Không hiểu biết lý luận cách mạng ấy-sẽ bị người ta bịp bợm, lừa đảo và tất nhiên “Đảng chân chính cách mạng” sẽ bị thua, thất bại. Đây là một “tư cách” báo động cho Đảng nào cứ “ăn mòn quá khứ”, tư duy cũ kỹ, bảo thủ, giáo điều…

Điều 3, 7, 12 là những nội dung Bác đề cập tới là “Đặt ra chỉ thị luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương”, “phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”, “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình”, đề phòng “hóa ra lời nói suông” và “hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. “Khéo dùng những cách thức”, là Bác nhằm ý “chủ trương 1, biện pháp 100”, chứ không nên nay “tăng cường”, mai “nâng cao”… mà không có cách làm cụ thể, tỉ mỉ, chu đáo, hiệu quả thì “chỉ thị” dễ “qua cầu gió bay” .

Bác thường dặn cán bộ, đảng viên rằng: “Mục đích của Đảng không gì khác là phục vụ quần chúng”, cán bộ, đảng viên, viên chức từ Trung ương đến cấp xã, phường, trong các đoàn thể… đều là “đầy tớ nhân dân”, “công bộc của dân”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được Bác giải thích trong các điều 4, 5, 6 rằng: “Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị (của Đảng), “mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”, “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng”. Đây là một răn dạy luôn “thời sự” đối với “Đảng chân chính cách mạng”. Thực tiễn của nhiều phong trào cách mạng, nhiều Đảng là khi thành công, giành được quyền lực, thì cán bộ, đảng viên đã không ít người “coi khinh quần chúng”, “hống hách” đe nẹt, dọa nạt những người mà trước đó, khi còn “trong bóng tối của phong trào” đã cưu mang đùm bọc họ, thậm chí đem cả mạng sống của mình, của gia đình mình để bảo vệ họ.

Điều 9, 10 của Tư cách đảng chân chính cách mạng được đề cập tới vấn đề tổ chức, cán bộ. Thế nào là những thành viên của Đảng chân chính cách mạng? Câu trả lời của Bác là “Đảng phải lựa chọn những người rất trung thành và rất hăng hái…”, đồng thời “phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”.

“Hủ” danh từ Hán Việt này có nghĩa là “mục nát, già suy, cũ kỹ, hư nát, bại hoại, đần độn”. “Hủ hóa” là hóa ra hủ bại, là hóa ra tất cả những định nghĩa của “hủ”.

Vấn đề là rất rõ. Trong một gia đình chân chính-chưa nói tới chân chính cách mạng, mà lại sinh ra những người con “mục nát (trong đạo đức, lối sống), già suy (trong nhận thức, quan niệm…), cũ kỹ (ôm khư khư cái bảo thủ) hủ nát, bại hoại, đần độn…” thì thật “nguy tai, đại nguy tai”. Đảng chân chính cách mạng mà còn có những phần tử mang những căn bệnh của “hủ hóa” thì chắc là cũng “bại hoại”.

Để phòng bệnh hủ hóa này, Bác đã nói rõ trong hai điều 8 và 11. Trong điều 8, Bác nói rất rõ rằng: “Đảng không giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều 11, Bác lại nhắc “Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm, từ trên xuống dưới”.
Hai điều cuối cùng lại “nằm” trong những điều kiện sống còn của Đảng chân chính cách mạng. Nếu được ví Đảng chân chính cách mạng như một cơ thể sống, thì khuyết điểm của Đảng, của đảng viên, cán bộ có thể coi như bệnh tật. Có bệnh nhẹ, sơ sơ chỉ cần rèn luyện, uống thuốc nam, xoa bóp… là khỏi. Có những bệnh nặng “tứ chứng nan y”, nếu không phòng bệnh, giữ gìn “ăn uống”, “sinh hoạt cá nhân” dễ mắc những thứ bệnh mà cho dù có Hoa Đà, Lãn Ông sống lại cũng phải “bó tay”.

Bác đã có dịp khuyên răn đảng viên ta rằng “Chớ có dán 2 chữ cộng sản lên trán…”. Nhân dân, quần chúng trông vào đảng viên, cán bộ, viên chức là trông vào hành động phục vụ nhân dân, trông vào thái độ ý thức làm đầy tớ nhân dân; trông vào những lợi ích mà họ mang đến cho dân… chứ họ đâu khờ dại mà trông vào cái “mã” bên ngoài, trông vào “lời nói như mật ngọt đổ vào tai họ để “mị dân”, “trốn tránh”, che đậy…

Bác đã hạ bút viết hai câu lục bát cuối bài Tư cách của Đảng chân chính cách mạng như sau:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào!

BTS (Theo QĐND)

cpv.org.vn

Những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức. Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức. Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, cuốn Đường Kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập là tư cách người cách mệnh. Tác phẩm sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), đăng trên báo Nhân dân là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong Di chúc thiêng liêng, khi nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng.

1. Về vị trí, vai trò của đạo đức trong xã hội và trong đời sống của mỗi người

– Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” .

– Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” .

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” .

– Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.
+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

– Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

– Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” .

2. Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

a. Trung với nước, hiếu với dân

Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.

– Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”…

– Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.

b. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.

– Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

– Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.

– Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.

– Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin để thương yêu nhau hơn. Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”

c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.

– Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm.

+ Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”.

+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức…”.

Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.
+ Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; “không tham địa vị, không tham tiền tài…, không tham tâng bốc mình…”.

+ Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.

– Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”, đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn “chí công, vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.

Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.

– Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.

d. Tinh thần quốc tế trong sáng

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:

– Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.

– Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”.

– Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.

– Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

3. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới

Hồ Chí Minh nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện. Đó là:

a. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

– Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm.

– Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên…

– Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” .

b. Xây đi đôi với chống

– Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

– Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện.

– Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.

– Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống.

c. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời

– Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” .

– Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Người dạy: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” .

– Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.

Theo Tài liệu học tập trong cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – Tấm gương sáng ngời về đạo đức từ những ngày đầu hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam

(ĐCSVN) – Bác Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, lúc bé tên là Nguyễn Sinh Cung đến khi bắt đầu hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc.

Vào cuối thế kỷ XIX, nước ta bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu nô lệ, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Can…đứng lên cứu nước, nhưng đều bị thất bại. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của họ nhưng không thể đi theo con đường cải lương như cụ Phan Chu Trinh dựa vào Nhật để đánh đổ Pháp, chẳng khác nào “đưa hổ đi cửa trước, rước beo đi cửa sau”.

Trong cơn bế tắc giữa lúc tình hình đen tối không có đường ra, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lúc đó mới có 21 tuổi đã có tinh thần yêu nước, yêu dân, kiên quyết rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, các nông thôn hẻo lánh ở New-York, Luân Đôn, Anh, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Ở châu Âu, Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1847-1911. Đã hơn 60 năm nhưng trên thế giới chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến để tìm hiểu và nghiên cứu cũng chưa có Đảng Cộng sản và trước năm 1919, Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu những cuộc cách mạng tư sản đã giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển nhất. Đó là cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp tháng 7-1789. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể theo con đường cách mạng của họ được. Bởi vì như Người đã nói “Kách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp nghĩa là Kách mệnh tư bản, Kách mệnh không đến nơi, tiếng là Cộng hoà, là dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nhân, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đến tháng 11 năm 1917, diễn ra một sự kiện rung chuyển toàn thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người. Đó là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi vĩ đại, mở đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1920, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đọc văn kiện Luận Cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa . Người nói: “Bản Luận Cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi sáng tỏ biết bao! Tôi cảm động đến phát khóc lên! Ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. “Tôi chỉ có sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Đến giữa năm 1923, Người rời nước Pháp sang Liên Xô, trực tiếp tìm hiểu và hoạt động tại quê hương Lênin. Tại đây, Người có điều kiện thuận lợi để tiếp thủ đầy đủ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, quan sát trực tiếp nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba). Nhờ đó, nhận biết của Người về lý luận và thực tiễn nói chung, kinh nghiệm của cách mạng Tháng Mười Nga sâu sắc hơn đã giải đáp đúng đắn vấn đề mà Người rất quan tâm. Đó là con đường giải phóng dân tộc bị áp bức, độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần định hướng con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong tương lai của dân tộc Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam.

Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về con đường cách mạng Tháng Mười, đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin, đứng hẳn về Quốc tế Cộng sản. Như Người đã ghi lại trong cuốn sách Đường Kách mệnh: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Kách mệnh Nga là thành công và công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đến được với tư bản, địa chủ, rồi lại gia sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa thế giới”.

Lập trường của Người đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin được ghi rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, Kách mệnh nhất là Chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Với lập trường yêu nước đúng đắn của Người đã vạch ra chân lý sáng ngời cho dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường Kách mệnh xã hội chủ nghĩa”. Người còn chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”.

Sau gần 15 năm tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đến năm 1924, Người rời nước Nga Xô viết trở về phương Đông, Quảng Châu gần tổ quốc Việt Nam để truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2 năm 1930.

Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại đã sớm giải quyết đúng đắn con đường cứu nước giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã động viên toàn dân, toàn quân tham gia chiến đấu giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa cả nước ta được hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi rực rỡ ngày nay.
Như vậy trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời đã được thực hiện như thế nào?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự kết tinh truyền thống yêu nước của chủ nghĩa yêu nước, yêu dân, quyết tâm tìm bằng được con đường cứu nước, cứu dân, kiên quyết phấn đấu đem lại cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Trong quá trình đó, Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng cả đức và tài, trong đó lấy đức làm gốc. Đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện ở cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ nhân dân ta, dân tộc ta.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí minh còn được thể hiện: Luôn luôn đứng vững trên lập trường tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao cho đến khi Người qua đời, là tấm gương sáng của Tổ quốc ta, dân tộc ta./.

Trần Đình Quảng

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị

(ĐCSVN)- Là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian cho công tác giáo dục lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận, nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1925, khi thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Người đã xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, trực tiếp lên lớp truyền đạt những vấn đề cơ bản về lý luận, tổ chức 10 lớp huấn luyện cho hơn 200 cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Những bài giảng của Người sau này được biên tập và in thành cuốn sách “Đường Kách Mệnh”. “Đường Kách Mệnh” là tác phẩm lý luận chính trị, là cẩm nang, sách gối đầu giường của lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Những thanh niên yêu nước được Người đào tạo đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, gian khổ, hoà mình vào phong trào cách mạng, vận động quần chúng đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam để hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và của cách mạng Việt Nam, Người vẫn thường xuyên có những bài viết, bài nói, chỉ dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị. Vào cuối những năm 1960, bệnh tật, sức khoẻ không cho phép Người làm việc nhiều. Người đã chỉ thị cho lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương phối hợp với Thành uỷ Hà Nội, mở những lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới kết nạp thuộc khối công nghiệp và nông nghiệp để từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng trong cả nước.

Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị,

Tìm hiểu tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GDLLCT là vấn đề lớn, song bước đầu nghiên cứu các bài nói, bài viết của Người về công tác giáo dục lý luận, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò to lớn của lý luận, từ đó Người yêu cầu đảng viên và cán bộ phải thường xuyên học tập lý luận chính trị để nâng cao nhận thức giác ngộ cách mạng. Theo Hồ Chí Minh: Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước .

“Đối với công việc kháng chiến kiến quốc, lý luận là rất quan trọng không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”. Trong thư gửi Quốc tế cộng sản, trong những năm đầu thành lập Đảng, Người nhận xét: Nhận thức về lý luận của các đồng chí An Nam rất thấp. Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hăng hái, công tác rất tận tụy nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn vấp ngã. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng: Phải tổ chức giáo dục lý luận cho đảng viên, cán bộ để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Người cho rằng: Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, học tập là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên. Bởi vì theo Bác có học lý luận Mác – Lê-nin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị mới làm được tốt công tác Đảng giao phó.

Thứ hai: Về mục đích của việc học tập lý luận chính trị Người cho rằng:

a. Học để sửa chữa tư tưởng: Hăng hái theo cách mạng, điều đó rất hay nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng, vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng. Tư tưởng đúng, mới khỏi sai lạc và làm tròn nhiệm vụ cách mạng được.

b. Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tuỵ với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng, đưa cách mạng thắng lợi hoàn toàn.

c. Học để tin tưởng:
Tin tưởng vào đoàn thể
Tin tưởng vào nhân dân
Tin tưởng vào tương lai của dân tộc
Tin tương vào tương lai cách mạng.

Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc,hăng hái lúc gặp khó khăn mới cương quyết hi sinh.

d. Học để hành: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”1. Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.

Thứ ba: Về phương châm giáo dục và học tập lý luận chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Lý luận phải liên hệ với thực tế, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn trở thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.

Thứ tư: Về phương thức giáo dục, huấn luyện đảng viên, cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Huấn luyện là phải thiết thực chu đáo, chớ tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người học hiểu vấn đề. Phải khắc phục sửa chữa ngay việc giáo dục lý luận chính trị và huấn luyện hiện nay là tham làm nhiều mà không chu đáo. “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” , rõ nhất là lớp quá đông, mở quá nhiều lớp. Theo Hồ Chí Minh: Đông quá thì dạy và học ít kết quả. Do đó Người yêu cầu phải hợp lý hoá. Nghĩa là mở lớp nào cho ra lớp ấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận đừng mở rộng lung tung…

Ngoài ra Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến các vấn đề khác trong quá trình dạy và học lý luận chính trị như tư liệu học tập, cách thức tổ chức học tập, phương thức dạy và học lý luận chính trị. Cuối cùng Người yêu cầu đảng viên, cán bộ đi học lý luận chính trị cần có thái độ nghiêm túc và phương pháp học tập sáng tạo chủ động tìm tòi suy nghĩ, có như vậy việc học mới có kết quả cao.

Thực hiện và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo công tác này, có nhiều tìm tòi, đổi mới, cải tiến nội dung hình thức phương pháp cả giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên. Vì vậy, công tác giáo dục lý luận trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của đảng viên, cán bộ và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, thực hiện đường lối đổi mới với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TS. Vũ Ngọc Am (CTV)

cpv.org.vn