Tag Archive | Dân tộc

“Cán bộ “gầy” nhân dân “béo” mới là vinh hạnh…”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ - Ảnh: Tư liệu

Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của Bộ, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.

Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, hỏi: “Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: “Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!”.

Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, Tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí Bí thư: “Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi”. Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với Lý trưởng, Lý trưởng báo quan Tây… Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính Đảng, đại diện các dân tộc tại sân Tỉnh ủy.

Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy Thủy điện Lào Cai.

Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí Bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

Sau buổi míttinh ở sân nhà Tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

Riêng một đồng chí mặc complê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: “Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: “Thưa Bác, đây là chú Tiến, Trưởng Ty Thương nghiệp”. Bác nói ngay: “Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân… Cán bộ mà “gầy”, nhân dân mà “béo” đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta…”.

Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

(Theo lời kể của đồng chí Phạm Ngọc Minh, cán bộ công an hưu trí, phường Pom Hán, TP Lào Cai)

Theo Tuoitre.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh là tuyển tập các ca khúc lấy nguồn cảm hứng từ hình tượng Hồ Chí Minh, các sáng tác này tập trung ca ngợi về Hồ Chí Minh như là một vị cha già dân tộc và là người có tấm lòng bao la đối với người Việt Nam, những tác phẩm này thường được lưu hành rộng rãi trong xã hội Việt Nam. Nét chung là các nhạc sĩ sáng tác đa số là người Việt Nam nhưng cũng có những sáng tác của các nhạc sĩ nước ngoài.

Hình tượng Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm. Nhạc sĩ Thuận Yến đã nói : “Trong mỗi chúng ta luôn sẵn có sự tôn kính, tình yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác nên chỉ cần một bài hát nào đó nói lên được những tình cảm ấy là họ chấp nhận … Đó là đề tài vô tận không bao giờ vơi cạn trong mỗi người sáng tác” [1]. Riêng Thuận Yến đã có tới 26 bài hát viết về Hồ Chí Minh[2].

Nhiều cuộc “Thi sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” đã được tổ chức, như Đài truyền hình TP HCM cũng vài lần tổ chức cuộc thi “Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” để “nêu cao được tinh thần cách mạng và tấm gương đạo đức của Bác, qua đó nhằm nâng cao vai trò quan trọng của đạo đức trong mỗi công dân” [3], Sở Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh tổ chức cuộc thi “Hát những ca khúc về Hồ Chủ tịch” [4]… Năm 2005, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Thanh Niên đã phát hành tuyển tập 115 ca khúc với nhan đề “Hồ Chí Minh – Người sống mãi với non sông” [5]


Danh sách

Xếp theo thứ tự ABC:

  • “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng” (Phong Nhã)
  • “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục)
  • “Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên” (Lê Lôi)
  • “Bác Hồ, một tình yêu bao la” của (Thuận Yến):…Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ Trung Thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương…”
  • “Bác Hồ – Người cho em tất cả” (Hoàng LongHoàng Lân, thơ Thu Phong)
  • “Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Bài ca dâng Bác” (Trọng Loan)
  • The Ballad of Ho Chi Minh” (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl…From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh…
  • “Bài ca về đồng chí Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Nga Vladimir Fere)
  • “Bé yêu Bác Hồ” (Đỗ Nhuận)
  • “Bên lăng Bác Hồ” (Dân Huyền)
  • “Bên ta như có Bác” (Lê Đăng Khoa) [6]Ði khắp năm châu hiếm có ai như Bác. Cuộc đời giản dị, tình người bao la. Như có Bác bên ta đang cùng nhau lội đồng, thăm những công trình nhà máy vút cao. Như có Bác bên ta trên giảng đường học tập. Chắp cánh cho ta bay xa, bay xa.
  • “Bên tượng đài Bác Hồ” (Lê Giang)
  • “Biết ơn cụ Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Buổi sáng nhớ Bác”
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Văn Cao): Người về đem tới ngày vui. Mùa thu nắng toả Ba Đình. Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên.
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Lưu Hữu Phước): Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang.
  • “Cảm ơn đường Hồ Chí Minh” của Norodom Sihanouk (Campuchia)[7]
  • “Chúng con bên giấc ngủ của Người” (Nguyễn Đăng Nước)
  • “Dâng Người tiếng hát mùa xuân” (Nguyễn Văn Thương)
  • “Dấu chân phía trước” (Phạm Minh Tuấn)
  • “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (An Thuyên)
  • “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” (Trần Chung)
  • “Đôi dép Bác Hồ” (Văn An, phổ thơ Tạ Hữu Yên):… Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở chiến khu Bác về, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về…
  • “Em mơ gặp Bác Hồ” (Xuân Giao): “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ”
  • “Em về quê Bác Hồ” (Hồ Tĩnh Tâm)
  • “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh” (Trần Hoàn)
  • “Gửi tới Bác Hồ” (Kapapúi, lời Việt của Tường Vi)
  • “Hát mừng Bác Hồ vĩ đại” của nhạc sĩ Suphat Mukhophathiai (Ấn Độ): “Ôi Hồ Chí Minh, Người vĩ đại biết bao!”[8]
  • “Ho Chi Minh” của nhạc sĩ người Đức Kurt Demmler[9]
  • “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường): …Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin…
  • “Hồ Chí Minh là cả một bài thơ” (Nhạc sĩ người Cuba Felis Pita Rogerigate)
  • “Hoa sen Tháp Mười” (Trương Quang Lục)
  • “Inolvidable Ho Chi Minh” (nhạc sĩ Venezuela Alí Primera)
  • “Jose Marti Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Armando Cardoso)
  • “Làng Chăm ơn Bác” (Nhạc sĩ người Champa AmưNhân)
  • “Lãnh tụ ca” (Lưu Hữu Phước[10]
  • “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” (Trần Hoàn): Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian. vẫn bốn bề lặng lẽ, Bác đành nằm im…
  • “Mỗi dòng thư Bác sáng ngời niềm tin” (Thuận Yến)
  • “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” (Lưu Cầu)
  • “Miền Trung nhớ Bác” (Thuận Yến)
  • “Ngọn cờ Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Carlos Puebla, lời Việt của Hồ Bắc)
  • “Nhớ hình ảnh Bác Hồ với nông dân” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Nhớ ơn Bác” (Phan Huỳnh Điểu)
  • “Nơi Bác ở” (Lê Đăng Khoa) [6]Ngôi nhà sàn bé nhỏ, nơi Bác ở đạm bạc. Cỏ non vờn chân Bác. Gió hát chiều xốn xang. Người ra đi, căn phòng vẫn lộng gió. Ấm áp tình người như Bác vẫn đâu đây
  • “Ngợi ca chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Đức Jeans Chourfores)
  • “Người là niềm tin tất thắng” (Chu Minh): Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim… Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi…
  • “Người mang tấm áo Bác Hồ”
  • “Người sống mãi trong lòng miền Nam” (Nguyễn Đồng Nai)
  • “Người về thăm quê” (Thuận Yến)
  • “Nhật ký trong tù” (Nhạc sĩ người Anh George Feris phổ nhạc 7 bài thơ ông ưng ý nhất trong tập thơ này)
  • Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên)
  • “Những bông hoa trong vườn Bác” (Văn Dung)
  • “Quyền sống trong hòa bình” (The Right of Living in Peace) nhạc của Víctor Jara (Chile): “Nhà thơ Hồ Chí Minh – Đưa quyền sống hòa bình – Từ Việt Nam ra toàn nhân loại…”[11]
  • “Suối Lê Nin” (Phạm Tuyên)
  • “Tây Nguyên mừng đón thơ Bác” (Doãn Nho)
  • “Tây Nguyên nhớ Bác Hồ” (Kapapúi – lời Tường Vi)
  • “Teacher Uncle Ho” (Thầy giáo Bác Hồ) của nhạc sĩ người Mỹ Pete Seeger…I’ll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!
  • “Tấm áo Bác Hồ” (Thuận Yến)
  • “Tấm ảnh Bác Hồ” (Lưu Hữu Phước)
  • “Thăm bến Nhà Rồng” (Trần Hoàn)
  • “Thanh niên làm theo lời Bác” (Hoàng Hà)
  • “Tiếng hát giữa rừng Pắk Pó” (Nguyễn Tài Tuệ)
  • “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách)
  • “Tình Bác sáng đời ta” (Lưu Hữu Phước)
  • “Trông cây lại nhớ Người” (Đỗ Nhuận)
  • “Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ” (Triều Dâng)
  • “Từ làng Sen” (Phạm Tuyên)
  • “Vâng lời Bác Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Vầng trăng Ba Đình” (Thuận Yến)
  • “Viếng Lăng Bác” (Hoàng Hiệp, phổ thơ Viễn Phương)
  • “Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” (Nhạc sĩ Nga Vladimir Fere, lời Việt của Đỗ Nhuận)

Chú thích:

  1. ^ Nhạc sĩ Thuận Yến: “Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng sáng tác của tôi”
  2. ^ Gặp nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất về Bác Hồ
  3. ^ Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh
  4. ^ Xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nét đẹp văn hoá trong công nhân mỏ
  5. ^ Tuyển tập 115 ca khúc về Bác Hồ
  6. a b c d Một nhạc sĩ say mê sáng tác những ca khúc về Bác Hồ
  7. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  8. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  9. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  10. ^ Chuyện cảm động xung quanh một số ca khúc về Bác Hồ
  11. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034

vi.wikipedia.org

Hồ Chí Minh, tôi nhớ mãi không quên

Bà con kiều bào Việt Nam tại Thái-lan về nước đến chúc Tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (29-1-1960). Ảnh: TL

Xéc-gây A-phô-nin là phóng viên của Hãng Thông tấn TASS và Báo “Sự thật thanh niên cộng sản” ở Việt Nam những năm 1967 – 1970. Từ 1975 – 1988 ông là cán bộ của Vụ Các nước XHCN thuộc Ủy ban Trung ương Ðảng Cộng sản Liên Xô. Ông được nhiều lần gặp Bác Hồ. Trong cuốn sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” (xuất bản ở Mát-xcơ-va 2010) ông có bài viết “Những cuộc gặp mặt thân tình”. Cuối bài viết ông kết: “Kỷ niệm không thể nào quên về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đã viết một “câu chuyện bằng thơ” về những mốc chính của cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người”. Chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài thơ đó của ông:

Mấy lần được gặp Hồ Chí Minh
Nhà cách mạng nhiệt huyết, chí tình
Nhớ mãi đôi mắt nhìn sâu thẳm
Ðời giản dị, trí tuệ anh minh.
Làng Sen yêu dấu – quê Người đó
Biểu tượng hào hiệp và thanh tao
Tiếp thêm nhựa sống từ đất mẹ
Tâm hồn trong sáng, chí anh hào.
Người sớm ra đi tìm chân lý
Ðã nhìn thấy ánh sáng Tháng Mười
Nguyện thành chiến sỹ luôn tranh đấu
Vì tự do, hạnh phúc con người.
Trong giấc mơ hiện lũy tre làng
Cả cha mẹ, bà con họ hàng.
Rời bến cảng xuất dương cứu nước
Nén nỗi buồn xa cách, nhớ mong.
Người thành lập chính đảng tiên phong
Kim chỉ nam mở lối dẫn đường
Cho cuộc chiến kiên cường, bất khuất
Ðưa dân tộc tới ngày vinh quang.
Năm bốn mốt Người về Việt Bắc
Sau bao năm đi khắp năm châu
Người thành vị Cha già dân tộc
Lái con thuyền trong cuộc bể dâu.
Trong tù viết “Ngục trung nhật ký”
Những vần thơ như ánh mặt trời
Thấm vào lòng người dân nô lệ
Thổi gió lành hướng tới tương lai.
Năm bốn lăm mở trang sử mới
Dân vùng lên đạp đổ xiềng gông
Thu Tháng Tám cờ bay phất phới
Ðộc lập, tự do – quyết chí chung lòng.
Ba Ðình đó – dấu ghi lịch sử
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn.
Toàn dân Việt muôn người như một
Quyết hy sinh cho Tổ quốc trường tồn.
Quân thù lại mưu toan xâm lược
Toàn dân tộc cầm súng xông lên
Trái tim Người thôi thúc tiến bước
Soi đường tới thắng lợi vững bền.
Chiến dịch Hồ Chí Minh thành công rực rỡ
Ðại thắng mùa xuân lịch sử quang vinh
Nam Bắc một nhà thỏa lòng mong ước
Ðộc lập – Tự do – Hạnh phúc – Hòa bình.
Người cảm ơn bạn bè quốc tế
Ðoàn kết đồng lòng giúp đỡ Việt Nam.
Toàn dân Việt tình sâu nghĩa nặng
Nguyện suốt đời ghi mãi tâm can.
Trong lòng dân Bác Hồ sống mãi
Như nước Việt mãi mãi xanh tươi
Luôn “Ðổi Mới” xây nền hạnh phúc
Xây tương lai đất nước, con người.
Lăng Người đây rực sáng hoa tươi
Từ mọi miền năm châu bốn bể
Hình ảnh Người giữ mãi trong tim
Di huấn của Người sống mãi niềm tin.
Nơi Làng Sen tưng bừng lễ hội
Lại vang lên hành khúc tráng ca
Ngợi ca đấng vĩ nhân thời đại
Hồ Chí Minh yêu kính thiết tha.

XÉC-GÂY A-PHÔ-NIN
(XUÂN HỮU Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
Theo nhandan.org.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với công tác tuyên giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đồng thời cũng là người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện cán bộ cho Đảng ta. Người khẳng định: “Công việc thành hay bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”, do đó “Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng”.

Thật vây, sớm thấy được tầm quan trọng của công tác tư tưởng, sinh thời trong muôn vàn công việc Bác vẫn luôn quan tâm theo dõi hoạt động của Ban tuyên giáo, kịp thời động viên, cổ vũ và hướng dẫn nghiệp vụ cho anh em làm nhiệm vụ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
Trong hành trình suốt 30 năm tìm đường cứu nước, chính Bác Hồ là người tiên phong trong công tác tuyên giáo. Năm 1919, Bác gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Năm 1920, Bác đã đọc tác phẩm của Lênin: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo L Humanité số ra ngày 17/7/1920. Tác phẩm này đã giải đáp cho Bác con đường giành độc lập, tự do cho đồng bào.

Thời gian này, Bác đã tìm cách thông qua hoạt động báo chí để tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thức tỉnh tinh thần yêu nước của bà con Việt Kiều và cũng qua họ tìm cách đưa một số tài liệu báo chí về nước bằng nhiều con đường khác nhau để giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc của nhân dân ta. Bác đã lựa chọn một số thanh niên tiêu biểu sang đào tạo tại Liên Xô, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho một số thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị đội ngũ cán bộ trở về nước để tổ chức hoạt động, đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Từ đây một số Ban của Đảng cũng ra đời. Uỷ ban kiểm tra, Ban Tổ chức, Tuyên giáo, Văn phòng để tham mưu cho Trung ương và cấp uỷ trên các mặt công tác của Đảng. Qua từng giai đoạn cách mạng, các ban tham mưu của Đảng cũng có những thay đổi thêm, bớt, tách, chia để phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, song Ban Tuyên giáo vẫn là một trong những Ban đi suốt cả quá trình 80 năm thành lập Đảng và đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã và đang góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Sau khi cách mạng thành công, Bác đã căn dặn đội viên tuyên truyền xung phong: “Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch. Phải biết chịu kham khổ.

Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần. Về đức tính này, phải học theo những người đi truyền giáo. Chớ có lên mặt “Quan cách mạng”.

Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dạy người ta chứ không cần học lại người ta, lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình. Chú ý đến cách phổ biến ý tưởng. Hết sức phổ thông.

Cố vào sâu trong quần chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Một lần khác nói chuyện với anh em cán bộ tuyên truyền Bác lại căn dặn: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe.

Ta chớ bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”. Trong công tác tuyên truyền liên quan đến chính sách đối ngoại, Bác nhắc: “Các báo và các ban tuyên truyền nên hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh có lợi cho ngoại giao…”.

Không chỉ vậy, Bác còn nhấn mạnh: Công tác tuyên giáo phải xuất phát từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động; phải phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng ta, dân tộc ta.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi, ngày 31-8-1963, Bác đã nói: “Nhiệm vụ công tác tuyên huấn có thể chia ra hai mặt: Một mặt là làm sao mưu lợi cho đồng bào; một mặt nữa là làm sao tránh được tệ hại cho đồng bào”. Để mưu lợi cho nhân dân và tránh tệ hại cho nhân dân, Bác chỉ rõ: Tính Đảng là nguyên tắc và nền tảng của công tác tuyên giáo, nó bảo đảm cho các hoạt động tuyên giáo của Đảng giữ vững lập trường giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân; tính khoa học của công tác tuyên giáo phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ quy luật phát triển của xã hội, lấy đó làm cơ sở giải thích cho nhân dân hiểu một cách có căn cứ khoa học những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó, họ hành động tự giác, có hiệu quả. Bác còn chỉ rõ: Quá trình tiến hành công tác tuyên giáo phải đảm bảo tính chân thực, để nhân dân nhận thức đúng và hành động đúng đường lối của Đảng.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu một tấm gương sáng, một mẫu mực tuyệt vời về công tác tuyên giáo phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của Đảng, phục vụ nhân dân, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, nêu cao ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước vận mệnh đất nước, ở mỗi thời kỳ cách mạng, mỗi chặng đường lịch sử dân tộc. Để hoạt động tuyên giáo có hiệu quả, Bác đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải nói và viết sao cho “phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”, làm cho người nghe, người đọc “hiểu được, nhớ được và làm được”. Bác còn đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải có phong cách đi sâu, đi sát cơ sở, đến những mũi nhọn của mặt trận sản xuất và chiến đấu, nơi có phong trào khá và cả những nơi có phong trào kém, phát hiện và giải đáp được những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Bác nhấn mạnh: Chỉ có đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội thì mới tìm hiểu, đánh giá đúng thực chất tình hình công tác tuyên giáo của địa phương, đơn vị, mới phát hiện được những vấn đề mới, nhân tố mới, những điển hình tốt, người tốt việc tốt để cổ vũ, biểu dương, nhân rộng, đồng thời vạch ra những hiện tượng, những biểu hiện sai trái để phê phán, uốn nắn nhằm đẩy mạnh việc phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Ngay cả những ngày đau nặng và sắp đi xa, Bác vẫn dành thời gian làm việc với các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương nghe báo cáo tình hình chiến trường miền Nam, tình hình lũ lụt ở sông Hồng và không quên nhắc phải quan tâm việc phát hành loại sách: “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến trên các mặt sản xuất, chiến đấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức cách mạng của Bác và những lời dạy của Bác đã và đang tiếp sức cho những người làm công tác tuyên giáo phấn đấu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.

Làm theo lời dạy của Bác Hồ, 80 năm qua, trên suốt chặng đường dài cách mạng, trong kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta luôn khảng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường đất nước. Những năm qua, trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng. Những năm qua, công tác tuyên giáo đã thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó, kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển.

Những năm sắp tới, sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sẽ có bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên giáo là tăng tường sự nhất trí tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới./.

Theo soctrang.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

Minh triết Hồ Chí Minh - Minh triết Việt. Ảnh: Tuấn Anh

Nghiên cứu về Hồ Chí Minh, các tác giả thường đề cập đến tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tất nhiên, cũng có những nghiên cứu về Hồ Chí Minh với địa vị, tư cách khác nhau như lãnh tụ cách mạng, nhà tư tưởng, nhà báo… Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh hoặc minh triết Hồ Chí Minh. Trong bài viết này tác giả cố gắng làm rõ 3 câu hỏi: Tại sao Hồ Chí Minh là một nhà minh triết, có nhiều tư tưởng minh triết? Đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh. Ý nghĩa minh triết Hồ Chí Minh hiện nay.

Ta thấy Hồ Chí Minh rất chú ý tiếp thu văn hóa tinh hoa dân tộc và nhân loại, từ dân gian đến bác học chứ không chỉ là tiếp thu triết luận.

Người đã từ văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông đến văn hóa phương Tây tiếp thu những nền tảng văn hóa ấy trong thể thống nhất, tiếp biến, kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa phương Đông với tư cách là một nhà văn hóa kiệt xuất, nhà cách mạng, lãnh tụ cách mạng, một nhà tổ chức hành động thực tiễn trong thời đại mới. Trong quá trình tiếp thu ấy, Người rất chú ý văn hóa dân gian, minh triết dân gian, văn hóa đời sống, văn hóa đạo đức, văn hóa chính trị. Những tư tưởng Hồ Chí Minh dù có cơ sở lý luận hay tính lý luận thì tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu xuất hiện như hệ thống đánh giá phương châm ứng xử, chỉ đạo hoạt động cách mạng của chính mình, chính dân tộc mình, thời đại mình. Hồ Chí Minh trước hết quan tâm làm thế nào để nhận thức đúng. Do vậy, ta thấy khả năng nhận thức, thâu hóa, tiêu hóa tri thức, văn hóa của Hồ Chí Minh là rất tài tình. Nhưng quan trọng hơn là từ đó đề ra đường lối, phương hướng, phương châm để hành động và làm sao để hành động có hiệu quả nhất.

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng hành động là chính chứ không phải đơn thuần là nhà tư tưởng hoặc lý luận.

Hồ Chí Minh bôn ba khắp nơi trên thế giới để học hỏi, và tuyên truyền, tổ chức cách mạng. Người là nhà hoạt động cách mạng, nhà thực tiễn chứ không phải nhà nghiên cứu lý thuyết.

Lý luận cần để chỉ đạo hành động nhưng thường phải thông qua tư tưởng, thông qua phương pháp và có thể hiện ở chủ trương, đường lối chính sách chỉ đạo, Hồ Chí Minh ít bàn về bản thể vũ trụ hay bản thể xã hội con người mà thường nêu lên các nhận định, đánh giá và nêu nguyên tắc, phương châm hành động. Khi tiếp thu lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin thì Người chủ yếu nắm lấy phương pháp biện chứng cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của nó khi tiếp thu nền văn hóa Đông – Tây, Người chú ý tiếp thu giá trị bền vững của nó, giá trị chung, phổ quát nhưng lại biết đưa vào vận dụng trong các tình huống cụ thể một cách linh hoạt, đầy sáng tạo. Cách thức tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại biến thành các phương châm ứng xử như thế là có tính minh triết (dĩ bất biến ứng vạn biến). Bởi vì nói minh triết chủ yếu không phải luận lý theo kiểu triết học mà nói luận định, đánh giá, ứng xử khôn ngoan sáng suốt trong các tình huống phức tạp.

Tất nhiên, chính những phẩm chất, trí tuệ, tâm trí Hồ Chí Minh đã cho phép thâu nhận và tạo nên những triết lý, những tư tưởng minh triết riêng. Bởi vì, cùng hoàn cảnh lịch sử nhưng không phải ai cũng có được những tư tưởng minh triết như vậy.

Với câu hỏi thứ hai. Trước hết, ta lấy ra một số giá trị minh triết theo dòng lịch sử, tạo nên cốt lõi tư tưởng, nhân cách, hành động của Người.

Xin có mấy ví dụ: Ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây khi đứng trước tượng nữ thần tự do của nước Mỹ, Người đã có nhận xét rất minh triết rằng, Thần Tự do tỏa ánh sáng ở trên cao nhưng dưới bóng chân của nữ thần vẫn còn rất nhiều những thân phận nô lệ bị đọa đầy.

Hoặc khi nhận xét chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ thực dân đế quốc rằng chủ nghĩa đế quốc như con đỉa 2 vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi còn lại ở các dân tộc bị áp bức.

Hoặc chỉ trong thời đại ngày nay chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Hoặc bây giờ học thuyết nhiều, lý luận nhiều nhưng học thuyết cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác- Lênin.

Sau này khi về trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân từng bước đất nước tiến lên văn minh hiện đại, xã hội chủ nghĩa, Người cũng đã rút ra nhiều kết luận, đánh giá, nêu phương châm ứng xử có tính minh triết rất cơ bản.

Chẳng hạn như “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh chứ không làm nô lệ”. Từ những ngày đầu giành độc lập, chính quyền về tay nhân dân, Người nêu nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba việc cần thiết lúc bấy giờ nhưng cũng có ý nghĩa lâu dài xây dựng đời sống mới. Hoặc Người nói rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Hoặc bao nhiêu lợi ích, quyền lực, bao nhiêu lực lượng là ở nơi dân; Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong hoặc khi Người sang Pháp tháng 12/1946 Người đã dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng – Phó Chủ tịch nước bấy giờ – rằng: Dĩ bất biến ứng vạn biến…

Hoặc, mọi việc trong thiên hạ, xét đến cùng, là làm người và ở đời như thế nào!

Về đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh: Chúng ta nghiên cứu hệ thống tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh cũng như hoạt động cách mạng của Người chúng ta không chỉ nhận thấy những triết lý hữu ngôn mà còn những triết lý vô ngôn từ trong bản thân hành động của Người. Ví dụ, trong thời kỳ Bác sang Pháp, sau khi giành được độc lập tháng 8-1945 trong một cuộc phỏng vấn có một nhà báo nữ Pháp hỏi rằng Hồ Chí Minh có phải là một nhà cộng sản không hay là một nhà yêu nước, Bác đã không trả lời một cách trực tiếp mà Bác chỉ cầm những bông hoa trên bàn tặng nữ nhà báo Pháp, đó là hành động thực sự có ý nghĩa – minh triết vô ngôn.

Hoặc cách Bác dùng bàn tay che miệng khẩu đại bác khi đến thăm một hạm đội của Pháp cũng là một ví dụ điển hình như vậy.

Bởi chúng ta biết rằng minh triết có thể biểu hiện ở góc độ triết lý hoặc một hành động mang tính biểu tượng chứa ẩn sự thâm thúy sâu xa, hoặc sự khôn ngoan, sáng suốt trong tình huống cụ thể nhưng lại ẩn chứa những phương thức xử lý có tính phổ biến.

Đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh hay những giá trị minh triết Hồ Chí Minh như đã trình bày ở trên thực chất thể hiện tinh thần sống động, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong phong cách tư tưởng, hành động của Người vừa ung dung tự tại luôn có tính nguyên tắc nhưng lại mềm dẻo, linh hoạt, biến hóa khôn cùng.

Một số người đã nhận xét rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác, tinh thần cách mạng của Lê-nin, tinh thần bác ái của Chúa, tính từ bi của Phật, đạo đức nhân ái của Khổng Tử, phương châm thiết thực của Tôn Trung Sơn và có sự khôn ngoan của người chủ gia tộc.

Ta thấy trong tư tưởng và cách ứng xử của Hồ Chí Minh về mặt hình thức, Người kế thừa và nhắc lại nhiều mệnh đề, câu nói của Khổng Tử hoặc những nhà tư tưởng và yêu nước của Việt Nam, nhưng nội dung đã được đổi mới, kế thừa và phát triển.. Ta cũng thấy khá nhiều cách diễn tả ca dao tục ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Nghĩa ở đây có hai tầng minh triết, tầng minh triết có tính bác học và tầng minh triết có tính dân gian nhưng điều đáng chú ý ở Hồ Chí Minh là trong cách triết lý, tư tưởng cũng như các phương châm, phương pháp hành động mà Người hướng dẫn, gợi mở rất gần gũi với nhân dân đồng thời cũng gần gũi với các nhà hiền triết phương Đông mặc dù Người rất thông thạo văn hóa, luận lý phương Tây.

Do vậy, minh triết Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa lý và tình, thống nhất lời nói và hành động, giữa tính khái quát của tư tưởng với sự thể hiện trong từng tình huống cụ thể. Người thiên về nhà hiền triết hơn là nhà triết học là vì vậy.

Với câu hỏi thứ ba: Đảng ta chú trọng nghiên cứu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và vận dụng phát triển, thực hành tư tưởng, đạo đức ấy. Trong đó hệ thống giá trị minh triết là hạt nhân, sợi chỉ đỏ sống động nhất, tinh túy nhất.

Từ đó, không chỉ cần làm rõ minh triết Hồ Chí Minh mà còn cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà minh triết hiện đại, nhà minh triết cách mạng.
Do vậy làm rõ, hệ thống hóa và vận dụng hệ giá trị minh triết là rất quan trọng. Bởi vì, những giá trị ấy còn có giá trị lớn đối với ngày nay.

Đúng là từ Hồ Chí Minh đã toát lên nền văn hóa của tương lai, như một nhà báo Xô viết nhận xét về Người từ đầu thế kỷ 20 trong lần đầu gặp gỡ.

Minh triết nói chung rất cần thiết trong suy nghĩ và hành động của mỗi con người trong đời sống từ những người thường đến vĩ nhân. Tuy nhiên đứng ở góc độ lãnh đạo quản lý xã hội trong thời đại mới, toàn cầu hóa sự biến đổi nhanh chóng, khó lường của xã hội lại càng cần đến minh triết như sự sáng suốt, khôn ngoan của con người trong việc điều khiển một hệ thống đa phức hợp hơn bao giờ hết.

Những người lãnh đạo quản lý dù cần một tầm nhìn sâu, xa về lý luận, việc đề ra phương hướng xử lý những vấn đề nảy sinh thì cần có năng lực minh triết. Năng lực đó một mặt nghiên cứu tiếp thu trí khôn của nhân loại, nhất là một lãnh tụ như Hồ Chí Minh là vô cùng cần thiết. Nhưng mặt khác là thông qua trải nghiệm bản thân, tự đúc rút trí khôn cho mình để đủ mức soi sáng cho các quyết sách mà mình đưa ra, qua đó soi sáng dân tộc tiến lên, tránh được những sai lầm còn quan trọng hơn. Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần mà.

Nhưng không thể như Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên từng nhận xét và cảnh báo (cũng hết sức minh triết): Hiện nay Chính phủ và chính quyền các địa phương cứ vô tư cho nhà đầu tư chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt, và cho thuê ngay tại nhiều địa điểm có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. “Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.”

Hoặc “Trong thời bình, xã hội dễ phân tâm. Nhưng càng như vậy, lãnh đạo càng phải rất gương mẫu, nói phải đi đôi với làm; cần bắt tay làm bạn với thế giới để làm ăn, nhưng phát triển đất nước phải có chiến lược bình tĩnh, khôn ngoan và có quy hoạch, chứ không phải mạnh ai nấy làm. Đầu tư gì, đầu tư ở đâu, đầu tư như thế nào thì Chính phủ phải lựa chọn trên tiêu chí: Lợi ích quốc gia là trên hết”. (Nguồn Vietnamnet, 2010).

Phải tự rút ra bài học kinh nghiệm, đưa ra nhận xét và tìm bí quyết thành công thì mới khôn lên, sáng suốt hơn. Đừng để mất bò mới lo làm chuồng!

Minh triết, trước hết là minh triết dân gian, là từ cuộc sống, mang máu thịt cuộc sống, gắn với cuộc sống và trở về với cuộc sống, chính là linh hồn của cuộc sống!

Từ kinh nghiệm của nhân dân Quảng Bình những ngày chống phá chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, họ cho rằng:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong!

Đó cũng là điều Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở.

Đúng là ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần nhưng chỉ có chủ động học hỏi, trải nghiệm, tự rút ra bài học sẽ giúp giảm bớt những sai lầm, tăng thêm trí khôn sáng./.

Theo Hồ Bá Thâm
Hochiminhhoc.com
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đậm đà dấu ấn quê hương

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản…

Người dân Nghệ An hiếu học, cần cù, chịu khó, nhân ái, vị tha… tất cả những nền tảng đó đã hình thành nên nhân cách Hồ Chí Minh ngay từ thuở niên thiếu. Lớn lên, được sự dạy dỗ, chỉ bảo nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp, dạy bảo của người ông ngoại, dấu ấn quê hương, gia đình đã in đậm trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong ngục tối lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào, Người cũng đau đáu nỗi lòng nhớ về quê hương nơi có những người thân yêu nhất của mình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sĩ… có vinh dự được sống gần gụi với Người đều có chung một nhận xét: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người con của quê hương xứ Nghệ, từ thuở niên thiếu đến lúc về già; từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Người vẫn mang đậm phong cách quê hương qua từng suy nghĩ và việc làm.

Như chúng ta đều biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Người đã khước từ ngôi nhà sang trọng, đến ở ngôi nhà của người công nhân thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn – ngôi nhà đã đi vào huyền thoại.

Trong tư tưởng và tình cảm của Người, sự giản dị, đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công, vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần kiệm trong cuộc sống, một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động bình thường.

Sinh thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng lao động của con người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hòa ở một con người”.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay, vẫn lưu giữ bộ quần áo ka ki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo ka ki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói: “Dân ta đang nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”.

Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh chị em công nhân.

Trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá… Quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây hoa trái. Hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà, những khóm mộc, khóm nhài và đặc biệt là cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng Bác.

Chiều chiều, sau giờ làm việc, Người lại cùng các chiến sĩ Cảnh vệ chăm lo từng gốc cây, cắt tỉa từng khóm lá.

Giờ đây, khi Người đã đi xa, nhân dân trong nước và bầu bạn quốc tế đến viếng thăm nơi ở và làm việc của Người lúc sinh thời, ai ai cũng ngậm ngùi xúc động, cảm phục một tấm gương hy sinh tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn.

Có những câu chuyện hết sức cảm động, đó là vào dịp lễ, Tết và kỷ niệm ngày sinh của Bác, Người không muốn tổ chức chúc tụng rườm rà và Người đã chủ động bố trí những chuyến đi công tác xa. Đá Chông là địa điểm được Người đến nhiều nhất.

Trong bối cảnh, miền Nam chưa được thống nhất, đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Đá Chông làm nơi sơ tán, làm việc của Trung ương khi cần thiết.

Đây là một địa danh nằm dưới chân núi Ba Vì, thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nơi đây có rất nhiều những tảng đá thon nhọn tựa như những mũi chông, ngọn mác từ dưới đất mọc lên, có thể vì thế mà nhân dân địa phương gọi địa danh này là Đá Chông.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lựa chọn Đá Chông, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ khảo sát, thiết kế và xây dựng khu làm việc của Trung ương và Bác Hồ. Công trình được đặt mật danh là “Công trường 5”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng công trình, nhiều lần Người đã lên kiểm tra, biểu dương tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của cán bộ, bộ đội và nhân dân địa phương. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây có vinh dự được đóng góp một phần công sức vào việc xây dựng công trình quan trọng này. Từ năm 1958 đến năm 1960, Công trường 5 được hoàn thành, đưa vào sử dụng và được đổi tên là K9.

Từ năm 1960 đến năm 1969, K9 do Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên K9 nhiều lần để làm việc và tiếp khách. Vào những ngày lễ hoặc sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật từ Hà Nội lên Đá Chông.

Thời gian Bác làm việc ở Đá Chông có hai vị khách quốc tế đặc biệt được Bác tiếp, đó là Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp và bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

Sau khi Bác qua đời, K9 đã được chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác trong chiến tranh và được đổi tên là K84 (1969 – 1975). Giai đoạn này, K84 được giao cho Bộ Quốc phòng quản lý.

Ngày nay, mỗi khi đến tham quan khu di tích, được đi trên con đường rèn luyện sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa, chúng ta còn thấy những cây bông bụt khá to được trồng hai bên đường. Đó chính là hàng cây Bác đã cho trồng từ khi xây dựng khu căn cứ để gợi nhớ đến những cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Kim Liên, Nam Đàn.

Lên cầu thang, trước khi vào phòng nghỉ của Bác, chúng ta gặp một chiếc bể nhỏ chứa nước để Bác tắm. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác kể lại rằng: Khi làm công trình phụ, Bác đã nhắc nhở các đồng chí thiết kế xây cho Bác một chiếc bể nhỏ đựng nước trong nhà tắm; mặc dù trong nhà tắm đã có vòi sen, két nước tự động, nhưng Bác vẫn muốn có một chiếc bể nhỏ, để mỗi lần tắm, Bác múc từng gáo nước giội lên người như lúc nhỏ, mẹ Bác vẫn múc từng gáo nước tắm cho Bác.

Nhiều người đến khu di tích Đá Chông và được nghe giới thiệu về những hiện vật đã gắn liền với sinh hoạt đời thường của Bác đã không cầm nổi nước mắt, nhất là tình cảm của Bác với quê hương và gia đình.

Tuy Bác đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân học tập, noi theo. Những hiện vật như vẫn còn ấm hơi Người, sẽ là những điều kỳ diệu để minh chứng cho một con người vĩ đại nhưng rất giản dị, khiêm tốn và rất đời thường.

Ban Biên Tập

bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi vùng cao Việt Bắc (1960)

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Viết về Hồ Chí Minh, cả trong nước và ở nước ngoài, đến nay, có đến hàng nghìn công trình, mà nhiều bạn đọc cũng là tác giả. Hơn nữa, từ những năm 20 thế kỷ trước, và nhất là từ năm 1941, rồi 1944, đặc biệt từ tháng Tám 1945, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã thấm dần thành sức mạnh tinh thần vô song. Bắt đầu từ các chiến sỹ cách mạng, rồi đến từng người dân, cả một dân tộc đứng lên vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khó, giành độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn, đổi mới đất nước. Mấy thập kỷ nay Việt Nam – Hồ Chí Minh đã gắn kết thành một tên riêng chỉ “Tinh thần Việt Nam”, “Tâm hồn Việt Nam” – “Giá trị Việt Nam”. Từ đó, và qua tham khảo những bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà chính trị, nhà khoa học, ở ta và trên thế giới, dưới góc độ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị học, như GS. Trần Văn Giàu đã tổng kết “Hồ Chủ tịch – kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng Việt Nam”. Trong công trình “Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay” (Phạm Minh Hạc, 2010), tôi đã lấy chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu giá trị, nhằm mục tiêu đúc kết và xây dựng hệ giá chung của người Việt Nam đi vào công nghiệp hoá (CNH), theo hướng hiện đại, hội nhập.

Giá trị gắn liền với đời sống hằng ngày của chúng ta, ai cũng biết. Khái niệm “giá trị” chỉ cái gì có ý nghĩa đối với sự tồn tại của con người, nói đại thể, có giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Dưới góc độ giá trị học, thuật ngữ “giá trị” nói chung thường dùng để nói tới giá trị tinh thần, có khi còn gọi là giá trị văn hoá, giá trị lịch sử, giá trị truyền thống; nhiều nhà nghiên cứu giá trị học gọi là “giá trị nội tại” (F.C.Brentano, 1838 – 1917, Đức; G.E.Moore, 1873 – 1958, Anh) – cũng còn gọi là “giá trị con người”, “giá trị bản thân” (bao gồm cả các thái độ giá trị), ở cấp vĩ mô, ví dụ, dân tộc, hệ giá trị của dân tộc nói lên “bản sắc dân tộc” – đó chính là sức mạnh, lực lượng bản chất, của con người, và sức mạnh của cộng đồng, quốc gia – dân tộc bắt nguồn từ đây.

Ý tưởng đầu tiên về giá trị học có từ Cổ đại do Pơrôtago (Protagore, 481 – 411 TCN, Hy Lạp) nêu lên. Sau Cách mạng 1776, nước Mỹ rất chú ý vấn đề này. Giá trị học hiện đại mới hình thành ít lâu trước Đại chiến thế giới thứ hai ở nước Đức, lúc đó có nhiều vấn đề rối ren trong đời sống tinh thần, và cho đến nay phát triển mạnh ở Mỹ. Nhiều nơi coi triết học gồm thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan. Giá trị quan được đưa vào dạy trong chính trị học, có “ngoại giao giá trị quan”, gần đây có một quan niệm, mới xem có vẻ hơi kỳ dị nhưng cũng nên lắng nghe, quan niệm này phân loại các nước như sau: – Các nước đứng đầu xuất khẩu giá trị; – Các nước hạng hai xuất khẩu kỹ thuật; – Các nước hạng ba xuất khẩu hàng hoá và lao động (Giấc mộng Trung Hoa, 2010).

Từ “Lịch sử khuyết danh” viết vào thế kỷ XIII, rồi qua sử sách, văn học dân gian các thế kỷ sau, các công trình nghiên cứu, trong nước và nước ngoài, như nhà sử học hàng đầu thế giới nửa sau thế kỷ XX là Tôienbi (2002) đã kết luận nhân loại có 31 nền văn minh, trong đó có văn minh (văn hoá, văn hiến – hệ giá trị) Việt Nam, cả thế giới quan tâm tìm hiểu. Tiếp nối các vị tiền bối, ngày nay chúng ta cần tiếp tục đúc kết và xây dựng hệ giá trị Việt Nam. Đặc biệt, theo đường lối đổi mới (từ 1986), nước nhà đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhưng mặt khác, như nhận định của Tiểu ban tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 đã trình Đại hội XI: “Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã gây không ít tác động tiêu cực; còn lúng túng trước sự biến động của một số giá trị trong nhân cách con người dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức xã hội, có một số mặt đáng lo ngại”. Trong hai thập kỷ qua (1991 – 2010) một số chương trình khoa học cấp nhà nước đã nghiên cứu vấn đề giá trị cho thấy trong đời sống tinh thần của xã hội đang đầy mâu thuẫn, thang giá trị nhiều chỗ bị đảo lộn, định hướng giá trị có nơi cảm thấy rối ren, bức bối, đau lòng, vô cùng phức tạp, thước đo giá trị quá nhiều bất hợp lý (Phạm Minh Hạc, 2007). Một số nhà lãnh đạo ở ta cũng bắt đầu nói tới “định hướng giá trị”, “thước đo giá trị”…; các phương tiện truyền thông gần đây cũng hay đề cập đến vấn đề này. Một số trường dạy ngoài giờ “Giá trị sống và kỹ năng sống”. Việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH theo hướng hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, như Đại hội XI đã đặt ra, là một công việc cấp thiết.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, khái quát lại có thể nói, Người đã để lại cho chúng ta một di sản quý báu nhất là Hệ giá trị – một vấn đề khoa học và vận dụng vào thực tiễn hết sức phong phú. Ở đây, tôi mạnh dạn nêu một số thu hoạch sơ bộ.

Sau 30 năm (1911 – 1941) bôn ba năm châu bốn biển, Bác Hồ đã tìm ra đường cứu nước, cứu dân, các bạn đồng nghiệp đã nói và viết nhiều. Ở đây, tôi xin tập trung vào một thiển ý, mà mới là bước đầu. Sinh ra và lớn lên trong văn hoá dân tộc, đi các nước tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, hoà quyện lại với nhau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong việc đúc kết, xây dựng, phát huy giá trị quý báu của dân tộc ta, của con người Việt Nam, thành một sức mạnh vô biên của cả một dân tộc đến từng cán bộ, chiến sỹ, nhân dân, tạo dựng nên một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử mấy ngàn năm của đất nước ta. Học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, chúng ta cần đi đến xây dựng thành công và công bố chính thức Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế.Theo dòng suy nghĩ đó, tôi xin nêu lên hệ giá trị, qua nghiên cứu một số trước tác của Người.

Thứ nhất là, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là 3 giá trị nền tảng tinh thần mở đầu thời đại mới của nước nhà, thời đại độc lập dân tộc theo chế độ Dân chủ Cộng hoà, nhân dân làm chủ, bắt đầu hưởng quyền công dân, quyền con người. Trên đường tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu nhiều điều tinh hoa nhất trong Hệ giá trị Hoa Kỳ và Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Suốt đời Người, như Hồ Chủ tịch nói với đồng bào trước khi sang Pháp (30-5-1946), “những khi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo” đều vì lý tưởng đó.

Thứ hai là, giá trị nhân cách. Như mọi người đều biết, Bác Hồ vô cùng coi trọng đạo đức, gần như đọc bài nào của Bác cũng có thể tìm thấy điều căn dặn về đạo đức. Một trong những tài liệu đầu tiên Bác viết để giảng dạy đào tạo cán bộ năm 1927 ở Quảng Châu là tác phẩm “Đường cách mệnh”, mở đầu bằng bài “Tư cách người cách mệnh”, nêu lên 23 điều gộp thành 3 nhóm: (1) Tự mình phải (thái độ đối với bản thân) có 14 điều; (2) Đối người phải (thái độ với người khác) có 5 điều; (3) Làm việc phải (thái độ với công tác) có 4 điều. Tâm lý học gọi đây là 23 giá trị nhân cách, có thể coi là một trong những viên gạch đầu tiên của Hệ giá trị mới của người Việt Nam. Người cán bộ có nhân cách với 23 thái độ đúng đắn đó, mới có thể làm việc vì nước vì dân. Đấy là chỉ dẫn phương pháp luận vô cùng quan trọng để chúng ta đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay.

Thứ ba là, cần, kiệm, liêm, chính. Tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Hồ Chủ tịch viết 4 bài báo về 4 đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, sau gộp thành một cuốn sách với tiêu đề “Cần kiệm liêm chính”. Dưới góc độ giá trị học, đây là 4 giá trị đạo đức cơ bản nhất của người cán bộ, nay gọi chung là viên chức nhà nước, làm việc ở các cấp trong bộ máy của Đảng và chính quyền, đoàn thể. Chưa quán triệt và thực hành 4 điều này – coi như chưa học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ có quán triệt và thực hành 4 điều này từ trên xuống, từ trong ra, thì mới có thể khắc phục được “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội…, yếu kém trong quản lý… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định và phát triển của đất nước”(1). Một con người chân chính không thể thiếu 4 giá trị này. Ai cũng theo đây mà tu dưỡng sẽ có cuộc sống hạnh phúc thật sự, đất nước sẽ có một xã hội tốt đẹp.

Thứ tư là, thời đại khai sáng ở Việt Nam. Trên đường tìm đường cứu nước, trong những năm 20 thế kỷ trước, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần chính sách ngu dân thâm độc của bọn thực dân đã đặt dân tộc ta ngoài lề của nền văn minh thế giới. Đồng thời Người đã tìm hiểu các giá trị có tác dụng thúc đẩy tiến triển xã hội phương Tây; trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” (1924), đã đưa ra ý kiến: “… sự Tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông”, đặc biệt quan tâm đến kinh nghiệm phát triển giá trị giáo dục (lý trí, học vấn, khoa học, công nghệ…), vận dụng vào nước ta, mở ra Thời đại khai sáng. Như mọi người đều biết, thế kỷ XVIII được gọi là Thế kỷ khai sáng (Thế kỷ Ánh sáng, Thế kỷ giáo dục), góp phần chuẩn bị quan trọng cho Cách mạng 1789 thành công và đưa xã hội tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục, coi đây là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng, kháng chiến, kiến quốc và ngày nay cùng với khoa học – công nghệ trong Đổi mới được coi là “quốc sách hàng đầu”. Đã có rất nhiều tài liệu viết về vấn đề này. Ở đây, tôi xin tóm tắt mấy tư tưởng về giáo dục của Hồ Chủ tịch như sau: – Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; – Dốt là một thứ giặc, nguy hiểm như giặc đói, giặc ngoại xâm.- Hết sức coi trọng vai trò của giáo dục: Có phát triển nền giáo dục tốt, thì đất nước mới tươi đẹp, non sông mới vẻ vang, mới sánh vai cùng các cường quốc năm châu; – Phải xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập.- Mục tiêu của giáo dục: đào tạo người công dân tốt; – Trong công tác giáo dục đặt việc đào tạo và chăm sóc đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục lên hàng đầu; – Dù khó khăn đến đâu cũng phải dạy tốt, học tốt; – Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa; – Học thường xuyên, học suốt đời, v.v. Tiếp tục Thế kỷ khai sáng, vận dụng tư tưởng (giá trị) giáo dục Hồ Chí Minh để chấn chỉnh, củng cố, phát triển, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, tích cực triển khai chủ trương của Đại hội XI “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”(2). Không có nền giáo dục tốt – khó có thể tiến hành CNH theo hướng hiện đại đạt kết quả thực chất. Đây đúng là khâu đột phá cực kỳ quan trọng đưa đất nước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ này, như Chiến lược 2011 – 2020 Đại hội XI đã thông qua.

Thứ năm là, các giá trị đạo đức của các ngành, các giới. Về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói hay viết cho các ngành, các giới, các địa phương, Bác rất chú ý chỉ ra những chuẩn mực đạo đức cần phải có để xây dựng ngành mình, giới mình, địa phương mình và cả nước nói chung. Đây là một công việc to lớn, phải dày công tìm tòi, phát hiện, sẽ đóng góp rất nhiều cho việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị của người Việt Nam ngày nay, tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển con người, tăng cường giá trị của người dân, từ đó sẽ có cuộc sống thịnh vượng.

Thứ sáu là, giá trị bản thân con người – mục tiêu tối thượng. Hệ giá trị Hồ Chí Minh là kết tinh của Hệ giá trị Việt Nam, lấy chủ nghĩa nhân văn làm nền tảng. Từ ngày ra đi tìm đường cứu nước, bằng những bài viết trên báo Người cùng khổ (1922) đến Di chúc (1965), như Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2001) đã tổng kết, Bác Hồ luôn nghĩ về con người Việt Nam, coi đó là giá trị cao quý nhất, và là mục tiêu tối thượng của cách mạng. Nói khái quát, đó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có cội nguồn từ chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, đồng thời đã đưa chủ nghĩa nhân văn Việt Nam lên một giai đoạn phát triển chất lượng mới, có thể tóm lược nội dung như sau:

– Yêu thương con người.
– Tôn trọng con người.
– Trọng dụng con người, nhất là những người tài đức.
– Khoan dung.
– Tranh đấu vì con người – giải phóng con người.

Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đề xuất: Hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế (gọi tắt là Hệ giá trị chung) mà chúng ta cần xây dựng. Đó là: 1. Các giá trị chung của loài người: tính người, tình người, Chân-Thiện-Mỹ; 2. Các giá trị toàn cầu: hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; 3. Các giá trị dân tộc: tinh thần dân tộc, yêu nước, trách nhiệm cộng đồng; tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 4. Các giá trị gia đình: hoà thuận, hiếu thảo; 5. Giá trị bản thân:

– Yêu nước.- Dân chủ.
– Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng, gia đình, bản thân.
– Cần cù: chăm học, chăm làm.
– Khoa học: tư duy duy lý, tác phong công nghiệp, tay nghề thành thạo.
– Chính trực: chân thật, đứng đắn, liêm khiết
– Lương thiện: quan hệ người – người tốt đẹp, tôn trọng và thương người, tương trợ giúp đỡ nhau.
– Gia đình hoà thuận, hiếu thảo.
– Thích nghi và sáng tạo.
– Chí hướng: cầu tiến.

Vấn đề cốt lõi nhất là từng người, với sự hỗ trợ của nhà trường, gia đình, xã hội, tạo lập, phát huy được giá trị bản thân, Nhà nước có chính sách sử dụng tốt giá trị bản thân của mọi người, xã hội có môi trường thuận lợi cho giá trị bản thân của mọi người phát triển, theo quan điểm phát triển Đại hội XI đã xây dựng: “… phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”(3)

——————

(1) – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG – Sự thật, 2011, tr. 173.(2) – Sđd, tr.77.(3) – Sđd, tr.30.

GS.VS Phạm Minh Hạc
Theo Tạp chí tuyên giáo
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dạy lực lượng CAND

Trung Tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thứ Trưởng Bộ Công An

Cách đây tròn 100 năm ngày 5/6/1911, từ cảng Sài Gòn, với thẻ làm việc mang tên Nguyễn Văn Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Latuche de Tréville đi Pháp với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu1.

Ra đi trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chìm trong đau khổ, Nguyễn Tất Thành đến với phương trời xa lạ mang mỹ từ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau vẻ mỹ miều của cụm từ đó và cả tận cùng của sự thật với mong muốn: “Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta“2. Cuộc hành trình lênh đênh qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia với nhiều nghề để vừa kiếm sống, vừa thâm nhập đời sống của những người cần lao, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành thấu hiểu: Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Cũng chính cuộc hành trình đó đã giúp Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đến được với Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, để từ đó hoàn toàn tin tưởng theo Lênin và quyết định “bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế III“3 (ngày 30/12/1920). Sự gặp gỡ Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin đã đưa Người trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, người Cộng sản chân chính tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình theo con đường cách mạng của Lênin.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận khoa học và bản chất cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, đó là chủ nghĩa “cách mạng nhất, chân chính nhất“. Đi sâu nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, bởi độc lập, tự do không thể cầu xin mà có…; trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền; một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người và hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.

Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đánh dấu chuyển biến về chất của cách mạng nước ta, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, xác định rõ con đường cứu nước, cứu dân, thể hiện tính quy luật lịch sử của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” 4.

Bến cảng Nhà Rồng.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân – công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay khi Đảng ta mới thành lập, bằng kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn đã được trải nghiệm, ngày 23/4/1931, Người viết thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lưu ý nhiệm vụ đề cao cảnh giác và giữ gìn bí mật để bảo vệ lực lượng cách mạng. Người căn dặn: “Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho lộ. Hoặc có đứa phản chăng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?… Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi thì hại cho công việc quá!… Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác…“5.

Thực hiện sự chỉ đạo của Người, Đảng ta đã kịp thời đối phó với âm mưu khủng bố của địch, bảo vệ lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng. Đầu năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã thông báo cho các Xứ ủy chủ trương tổ chức Đội tự vệ công nông. Tháng 3/1931, Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đội tự vệ; đó là lực lượng nòng cốt đầu tiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Tháng 3/1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng, qua tổng kết công tác đấu tranh chống phản cách mạng, công tác giữ gìn bí mật được Đảng ta coi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của Đảng. Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ để lực lượng đó làm nhiệm vụ “hộ vệ quần chúng hàng ngày trong các cuộc tranh đấu“6.

Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, những nguyên tắc hoạt động bí mật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút được từ thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, đã được quán triệt sâu sắc trong việc phát triển lực lượng, các cuộc hội họp và phát triển tổ chức của Đảng và các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an nhân dân. Năm 1943, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “về công tác giữ bí mật“, nêu rõ: “Nguy cơ bại vong của giặc Nhật mỗi ngày một gần; vì vậy, chúng ra tay khủng bố bừa bãi để phá hoại phong trào cách mạng và làm hậu thuẫn cho chính sách bóc lột táng tận của chúng. Do vậy, công việc của chúng ta khó khăn vô cùng. Một vô ý là đã làm tan vỡ một tổ chức và nguy hại cho bao nhiêu quần chúng ở chung quanh. Cho nên, các đồng chí phải biết áp dụng nguyên tắc bí mật cho triệt để mới mong tránh được gươm súng của quân thù“7.

Chính vì thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động bí mật theo chỉ thị của Người nên lực lượng cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và phát triển mạnh mẽ, mặc dù kẻ địch ráo riết thực hiện các chiến dịch săn lùng, khủng bố.

Tháng 8/1945, với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Lực lượng Công an nhân dân ra đời trong những ngày tháng sục sôi cách mạng đó, triển khai ngay nhiệm vụ bảo vệ thành quả mà cách mạng vừa mới giành được. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác Hồ đã ý thức sâu sắc về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Bác nhấn mạnh rằng, để bảo vệ lực lượng và thành quả cách mạng, lực lượng Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Người thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Người đã dày công nghiên cứu, vận dụng Tư tưởng của Lênin “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” để đưa ra phương hướng và biện pháp thích hợp trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Theo tư tưởng của Người, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (tháng 1/1956), Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng, một là Quân đội, để đánh thắng ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì luyện tập. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại. Chúng nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa (…) Nhiệm vụ của Công an là phải chặn tay bọn phá hoại (…). Địch không phải tài tình gì đâu. Nó phá hoại được vì ta sơ hở, chủ quan. Nếu Công an ta biết giữ gìn và biết dựa vào nhân dân, làm cho nhân dân cũng biết cách giữ gìn, không để sơ hở thì nhất định địch không làm gì được“8.

Nhưng để làm được việc đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công an nhân dân phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng. Tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (tháng 3/1959), Người nói: “Công an nhân dân vũ trang, hay là Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”9. Quan điểm này của Người tiếp tục được khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14: “Công tác Công an rất cần, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó. Tình báo, gián điệp đế quốc rất nguy hiểm… Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng; nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả“10.

Nội dung tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự còn thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của Người, tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện một quan điểm nhất quán và sâu sắc. Trong lớp chỉnh huấn khoá 2 (ngày 16/5/1959) của Bộ Công an, Người chỉ ra rằng: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Đây chính là vấn đề căn bản nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự mà nội dung cốt lõi được Người đặc biệt nhấn mạnh là tư tưởng về xây dựng tư cách người Công an cách mạng. Người khẳng định: nếu không dựa vào dân, không được dân tin yêu thì lực lượng Công an sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng để được dân tin, dân yêu và giúp đỡ Công an thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải “trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, có như vậy “mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm“.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969)

Ngày 11/3/1948, trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ;
Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc phải tận tụy;
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo.

Sáu điều Bác Hồ dạy người Công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người Công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.

Sống, chiến đấu, công tác và học tập theo lời Bác dạy

Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Việc học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy 6 điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cũng từ việc học tập, thực hiện sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình công tác và chiến đấu, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong“; ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy 6 điều Bác dạy Công an nhân dân làm tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và nâng cao năng lực công tác của mỗi người.

Việc thấm nhuần sâu sắc lời của Bác và tích cực tham gia phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ; đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Mỗi giai đoạn cách mạng, phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân được triển khai một cách thiết thực, hiệu quả bằng những nội dung và phương thức cụ thể, song mục đích hướng tới không nằm ngoài tư tưởng chỉ đạo của Người. Bởi vậy, thời kỳ nào lực lượng Công an nhân dân cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đã có ngày càng nhiều tập thể, cá nhân công tác tận tụy, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới không thể xem thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…“11, trong đó giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ vẻ vang đó, cùng với việc quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, lực lượng Công an nhân dân càng phải nỗ lực phấn đấu, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, với ý chí vượt lên mọi khó khăn, thử thách; chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân; cải tiến, đổi mới nội dung, phương thức công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, thường xuyên tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

***

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 121 năm Ngày sinh của Người, lực lượng Công an nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc đường lối cách mạng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho dân tộc Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; phương pháp bảo vệ chính quyền được Người chỉ đạo áp dụng là dựa trên tư tưởng “Giành chính quyền đã khó, bảo vệ chính quyền càng khó hơn”; phương pháp công tác Công an theo Người là: “phải dựa vào dân, không được xa rời dân” và phẩm chất đạo đức mà người Công an cần có chính là 6 lời dạy của Người.

Lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục đi theo lý tưởng cách mạng cao đẹp của Người, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, thường xuyên nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình, tăng cường gắn bó máu thịt với nhân dân, bồi đắp ý chí quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ lúc sinh thời, đáp ứng tình cảm và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang dành cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

——-
(1) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 1, tr.94
(2) Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994. tr.13
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, SĐD, tập 1, tr.94.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.10
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.91
(7) Văn kiện Đảng, tập 1, BNCTKLS Bộ Công an xuất bản, 1967, tr.314-315
(8),
(9) Hồ Chí Minh, Về an ninh, trật tự, Viện CL và KHCA, NXB CAND, Hà Nội, 2005, tr.81,82
(10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.117
(11) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

T.Đ.Q.

cand.com.vn

Một người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ

Kỷ niệm lần thứ 135 ngày sinh Wilhelm Pieck:

Chủ tịch Wilhelm Pieck tại nhà riêng ở Berlin.

Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Chủ tịch CHDC Đức Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung.

Trong cuộc đời mình, ngay từ thuở thiếu thời, tôi luôn luôn nghĩ về Chủ tịch Wilhelm Pieck với niềm kính yêu và lòng biết ơn đặc biệt. Nói một cách khác: Chủ tịch là người có công lớn trong việc xây đắp tình hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Đức và trong quá trình ấy, người đã tạo một bước ngoặt quan trọng cho tuổi thơ tôi và nói cho cùng, cũng là cho cả đời tôi…

Nếu ông còn sống, năm nay ông bước vào tuổi 135. Nhưng Người đã vĩnh biệt cuộc đời này tháng 9/1960, đó là năm nhân dân lao động Đức chịu một cái tang lớn; cũng như năm 1969, khi Bác Hồ qua đời, dân tộc ta đã trải qua một tổn thất không gì bù đắp nổi. Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Sinh thời, Bác Hồ trìu mến gọi Wilhelm Pieck là “người anh yêu quý của tôi”.

Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung. Trải qua những năm tháng hoạt động sôi nổi đầy gian khổ, hai nhà cách mạng này đều trở thành chủ tịch đầu tiên của nhà nước công – nông. Cộng hòa Dân chủ Đức là một trong những nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Wilhelm Pieck, một phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam đã được phát động và phát triển ngày càng sâu rộng từ những năm đầu nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phong trào đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả những thanh niên Đức hồi đó đang cầm súng trong hàng ngũ lê dương của Pháp, họ đã chạy sang hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam, không ít người trở thành cán bộ tin cậy của quân đội ta. Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Wilhelm Pieck, nhiều cán bộ y tế, văn hóa, báo chí của Cộng hòa Dân chủ Đức đã sang giúp đỡ Việt Nam ngay sau ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ.

Cũng chính thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhã ý sẵn sàng đón nhận một số thanh niên và thiếu niên Việt Nam sang Đức học tập để sau này trở về góp phần xây dựng đất nước. Bản thân tôi đã may mắn được là một trong những thiếu niên đó, được đến Đức từ mùa thu năm 1955, khi nước Cộng hòa Dân chủ Đức chưa đầy 6 tuổi! Được học tập, được sống, rồi sau này lại công tác ở Đức, tôi và một số bạn tôi đã gần như suốt đời gắn bó với ngôn ngữ, văn hóa và khoa học, kỹ thuật của Đức. Rõ ràng là chuyến đi năm ấy đã tạo thành bước ngoặt lớn của cuộc đời chúng tôi. Cho nên từ trong sâu thẳm của lòng mình, chúng tôi vô cùng biết ơn Chủ tịch Wilhelm Pieck và nhân dân Đức.

Sang tới nước bạn, chúng tôi tiếp tục được Chủ tịch Wilhelm Pieck ân cần quan tâm, chăm sóc – thể hiện qua những bức thư trìu mến và những món quà quý mà ông gửi cho. Ông cho biết: Có dịp thuận lợi, ông sẽ đón chúng tôi về Berlin thăm ông, như đã từng đón các bạn học sinh Triều Tiên.

Nhưng đáng tiếc, từ năm 1956, sức khỏe của ông giảm sút nhiều, cho nên nguyện vọng đi thăm đã không được thực hiện. Có một vinh dự mà ông dành cho chúng tôi là đã cho phép liên đội thiếu niên tiền phong trong nhà trường được mang tên “Wilhelm Pieck”. Trong những bức thư mà Bác Hồ gửi cho thầy và trò chúng tôi cũng như khi ông đến thăm trường ở thị trấn Moritzburg, ông luôn căn dặn chúng tôi phải cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức để xứng đáng với công lao của Chủ tịch Wilhelm Pieck, của Đảng và nhân dân lao động Đức. Trong tâm tưởng và tình cảm của chúng tôi, hai vị lãnh tụ tối cao là hình ảnh song đôi vô cùng kính yêu và gần gũi.

Bác Hồ với Chủ tịch Wilhelm Pieck (người thứ nhất từ trái sang) và Thủ tướng Otto Grotewohl. Ảnh: W.Herbig

Và thật kỳ diệu, Wilhelm Pieck và Hồ Chí Minh – về mặt con người và đời sống riêng cũng có nhiều nét giống nhau: Hai vị đều mồ côi mẹ sớm, đều trải qua biết bao công việc nặng nhọc trong tuổi thanh xuân, đều yêu thích văn học – nghệ thuật và nhất là đều đầy lòng nhân hậu, đã được nhân dân nước mình sau này gọi là “Cha” với tất cả lòng thành kính.

Nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa hai vị Chủ tịch chính là góp phần nghiên cứu, tìm hiểu quan hệ hữu nghị đoàn kết lâu dài giữa hai dân tộc Việt Nam và Đức. Lý tưởng chung và những thắng lợi của hai Đảng, hai dân tộc càng làm cho mối quan hệ giữa hai vị lãnh tụ thêm gắn bó.

Năm 1949, từ núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã gửi điện chúc mừng sự ra đời của nhà nước công – nông đầu tiên trên đất Đức. Từ đó, hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm quốc khánh và sinh nhật hoặc nhân một sự kiện trọng đại nào đó, hai vị lãnh tụ lại gửi điện mừng cho nhau. Một trong những bức thư đầy xúc động mà Chủ tịch Wilhelm Pieck đã gửi cho Bác Hồ là nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của người. Bức thư có đoạn viết:

“Người bạn và người đồng chí thân yêu Hồ Chí Minh của tôi! Trong ngày vẻ vang hôm nay, những ý nghĩ của tôi đều hướng về đồng chí, nhà lãnh đạo trung thành, đầy hy sinh, bất khuất của tất cả những người lao động Việt Nam… Tôi vẫn lấy làm thích thú mỗi lần nhớ lại các cuộc tiếp xúc trước đây của chúng ta, những cuộc tiếp xúc bao giờ cũng được đánh dấu bằng tình hữu nghị sâu sắc của nhân dân hai nước chúng ta, bằng cuộc đấu tranh nhằm gìn giữ và củng cố hòa bình và bằng việc cải thiện sinh hoạt của nhân dân lao động hai nước chúng ta”.

Mùa hè năm 1957, Bác Hồ đã đi thăm hữu nghị chính thức các nước anh em, riêng ở Cộng hòa Dân chủ Đức là từ 25/7 đến 1/8. Ở thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck mệt nặng, nên Bác Hồ rất lo lắng cho sức khỏe của Chủ tịch. Cho nên, việc đầu tiên sau khi đặt chân tới Berlin là Người đến tận nhà riêng ở Pankow để thăm “người anh yêu quý” của mình.

Chúng tôi, qua đài truyền hình, đã xúc động theo dõi cuộc viếng thăm cảm động này. Trên phim ảnh, Chủ tịch trông đã yếu nhiều. Nhưng, được tin Bác Hồ đến, Chủ tịch rất vui, một niềm vui mà quả thật những người gần gũi ít thấy hiện lên trên gương mặt Chủ tịch trong những ngày ấy. Đó là một buổi chiều mùa hè, nắng rất đẹp. Trong khu vườn nhỏ cạnh nhà, cỏ lên xanh mướt. Chủ tịch Wilhelm Pieck mặc bộ lễ phục màu sáng, trên ngực gắn những cuống huân chương. Đó là biểu thị thầm kín của Chủ tịch trong những dịp thật trọng thể và đáng ghi nhớ.

Năm 1976, để viết bài cho Báo Nhân dân, nhân kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Wilhelm Pieck, tôi đã đến thăm bà Elly – Winter Pieck, người con gái đầu lòng và cũng là thư ký riêng của Chủ tịch trong 15 năm cuối đời. Trong bầu không khí thân tình, bà đã kể tôi nghe về buổi chiều 25/7/1957 đáng ghi nhớ ấy:

“Bác Hồ xuất hiện ở cửa vườn và đi rất nhanh tới chỗ cha tôi. Cha tôi sung sướng đứng dậy, một tay chống gậy, một tay siết chặt bàn tay của người đồng chí rất thân yêu. Bác Hồ đưa tay phải ôm lấy cổ cha tôi và hai người ôm hôn nhau thân thiết. Bác Hồ hỏi cha tôi bằng tiếng Đức và gọi tên riêng một cách trìu mến:

– Wilhelm, sức khỏe của anh thế nào?

– Tôi không được khỏe lắm. Anh sang thăm đất nước chúng tôi, tiếc rằng tôi không thể đi cùng anh được.

Qua ánh mắt của Bác Hồ, những người có mặt đều thấy Người không được vui, vì có lẽ Người thấy cha tôi không được khỏe. Giọng của Bác Hồ đôi khi trầm hẳn xuống. Lúc này cha tôi đã 81 tuổi, 81 năm của một cuộc đời đầy những gian nan, vất vả.

Trong suốt buổi nói chuyện cùng nhau, hầu như lúc nào Bác Hồ cũng nắm lấy một bàn tay của cha tôi. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, cũng có khi bằng tiếng Nga…

Tôi cũng xin nói thêm rằng, Bác Hồ không quên hỏi thăm từng người trong số anh chị em phục vụ chúng tôi. Biết tôi là con gái của bạn mình, Bác Hồ tỏ ra rất vui…”.

Dự buổi nói chuyện đó có Thủ tướng Chính phủ Otto Grotewohl, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Walter Ulbricht và một vài cán bộ cao cấp nữa. Cuộc gặp gỡ thân tình này chỉ kéo dài độ 30 phút và cũng không ngờ là cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai vị lãnh tụ.

Tháng 9/1960, giữa lúc Đảng ta đang tiến hành Đại hội III, Bác Hồ được tin Chủ tịch Wilhelm Pieck qua đời. Người rất đau buồn, đã đến viếng Chủ tịch tại Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội và nhờ Giáo sư Kurt Hager, Trưởng đoàn đại biểu Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) sang dự Đại hội Đảng ta, chuyển lời chia buồn sâu sắc tới toàn Đảng, toàn dân CHDC Đức và gia quyến Chủ tịch Wilhelm Pieck 

Trần Đương

cand.com.vn

Clip phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1964 của một nhà báo Pháp

Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.

Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).

Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ).

Nguồn: YouTube

Xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyện bây giờ mới kể

(TBDN) – Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền quê đất nước đi trong thương nhớ thành kính về lăng viếng thăm Bác, nhưng chuyện xây dựng Lăng như thế nào không phải ai cũng biết. Đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư (TBT) Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1991 – 1997, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng từ năm 1973 – 1977, chính là Trưởng Ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973 – 1975).

Công trình của những tấm lòng

Hơn 38 năm qua, nhưng nguyên TBT Đỗ Mười còn nhớ không quên những tháng ngày chỉ đạo xây dựng Lăng Bác với tấm lòng thành kính của toàn dân. Ông kể: Ngày Bác mất, với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thể theo ý nguyện rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, khi Người qua đời, Đảng và Nhà nước đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Nhiệm vụ thiết kế Lăng được thông qua tháng 10/1970. Việc xây Lăng do Bộ Quốc phòng phụ trách lắp ráp thiết bị bên trong công trình. Cán bộ kỹ thuật, công nhân Việt Nam, bao gồm nhiều đơn vị tham gia, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô.

Đầu tháng 2/1972, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các bộ, các ngành, các địa phương tham gia xây dựng công trình. Giữa lúc hàng ngàn người đang sẵn sàng bắt tay vào việc xây Lăng, thì Mỹ ném bom trở lại miền Bắc (16 tháng 4 năm 1972). Công việc xây dựng phải tạm dừng. Ngày 28/1/1973, tin ký kết Hiệp định Paris được công bố trên Đài tiếng nói Việt Nam; công việc xây dựng Lăng được tái khởi động, không chậm trễ.

8 giờ sáng ngày 18/6/1973, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp… ra chứng kiến việc tháo dỡ lễ đài Ba Đình cũ, nơi mà cách đây 65 năm, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, và cũng chính nơi này ngày 2/9/1973 đã diễn ra lễ khởi công xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch, giữa một rừng cờ, khẩu hiệu và hàng ngàn công nhân công trường.

Ngày ấy đất nước còn chiến tranh, kinh tế còn khó khăn, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, cả nước dồn công của cho công việc dựng xây. Cát được lấy từ suối Kim Bôi ở Hòa Bình, đá cuội lấy từ suối Sơn Dương – Chiêm Hóa, đá nhồi, đá hồng ngọc từ Thanh Hóa, đá hoa, cẩm thạch từ Chùa Thầy và đá đỏ, đá hoa cương từ Ngũ Hành Sơn, đá ngọc từ Cao Bằng, cùng 16 loại gỗ quý ở dọc đường Trường Sơn

Nguyên TBT Đỗ Mười nói: Thời gian xây dựng Lăng năm từ 1973 -1975 là giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ. Chính tôi cũng không thể ngờ năm 1975 nước nhà thống nhất, cũng là năm khánh thành Lăng, kịp đón đồng bào miền Nam ra viếng Người thỏa lòng mong ước.

Công trình xây dựng Lăng Bác không thể tính bằng tiền, mà tính bằng những tấm lòng của nhân dân, những gỗ đá của cả non sông trang trọng dành cho một người đã từng hy sinh, dành trọn đời cho nền độc lập của Tổ quốc. Vì thế “Từ điển bách khoa thế giới” của Anh giới thiệu Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam như là một mẫu kiến trúc độc đáo nhất thế giới. Vì không nơi nào có một công trình xây lăng tẩm, lại được xây dựng bằng cát, đá, gỗ nói chung là vật liệu, được chính lòng dân tuyển chọn khắp non sông đem đến cho công trình.

Phát huy tự lực, tự cường

Với quyết tâm xây dựng Lăng trong 3 năm, cần hàng vạn tấn xi măng mác cao, ngày đó nước ta chưa sản xuất được loại xi măng này, nếu nhập từ nước ngoài đi tàu biển về Việt Nam, thì không thể hoàn thành vào năm 1975, để khi đất nước thống nhất đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế về viếng thăm Bác. Phải nghĩ cách có thể sản xuất xi măng mác cao trong nước. Phó Thủ tướng Đỗ Mười giao việc này cho ông Nguyễn Mạnh Kiểm, ngày ấy là Viện phó Viện Vật liệu xây dựng, được giao phụ trách phòng nghiên cứu chất lượng xây Lăng.

Ông Kiểm suy nghĩ rồi mạnh dạn trả lời :

– Báo cáo Phó Thủ tướng, có khả năng làm được. Nhưng mình phải điều chỉnh kỹ thuật sản xuất để đạt tiêu chuẩn xi măng mác cao theo yêu cầu xây dựng công trình.

Nghe vậy Phó Thủ tướng Đỗ Mười rất mừng:

– Nếu thế thì tốt quá, cậu về bàn ngay với Viện, Tổng cục hóa chất và nhà máy xi măng Hải Phòng ta làm thí nghiệm để có kết luận sớm cho tôi trả lời với bạn có phải nhập xi măng không? Công trình xây khẩn trương 3 năm phải xong nên chất lượng xi măng là quan trọng lắm.

Ông Kiểm kể:

– Thấy Phó Thủ tướng tâm huyết như vậy, tôi bỗng can đảm lên, quyết tâm và tự tin chỉ đạo sản xuất thử xi măng mác cao, bằng điều chỉnh chế độ nung đốt, điều chỉnh các thông số kỹ thuật, đã cho ra đời thành công mẻ xi măng mác 600. Sau thí nghiệm thành công, tôi đến báo cáo “Sản xuất thử thành công rồi, báo cáo Phó Thủ tướng, mình tự làm xi măng mác cao được”

Phó Thủ tướng Đỗ Mười khen: “Các cậu giỏi thật, sản xuất thành công xi măng mác cao tôi rất mừng, nhưng vẫn phải làm thử vài lần nữa. Tự sản xuất được xi măng thì tốt rồi, mình biết phát huy tính tự lực tự cường không phải nhập xi măng của nước bạn nữa, chủ động được xi măng có nghĩa là chắc chắn sẽ xây dựng lăng xong trong 3 năm…”

Về chuyện này, ông Kiểm nhận xét: Nhờ có ý kiến và sự quan tâm, tin tưởng, tạo điều kiện của Phó Thủ tướng Đỗ Mười với lực lượng khoa học kỹ thuật của ngành xây dựng, cộng với nỗ lực của cán bộ công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, đã tự sản xuất được xi măng mác cao, đó là yếu tố quyết định góp phần chỉ trong 2 năm việc xây Lăng Bác đã hoàn thành, mở ra con đường Việt Nam sản xuất được xi măng chất lượng cao, phục vụ việc xây dựng những công trình lớn sau thống nhất nước nhà .

Sau câu chuyện Việt Nam tự sản xuất xi măng mác cao xây dựng Lăng Bác, với trách nhiệm Trưởng Ban xây dựng Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười lại có băn khoăn lo lắng lượng phóng xạ của các vật liệu xây dựng có ảnh hưởng đến thi hài của Bác không? Phó Thủ tướng lại giao nhiệm vụ này cho ông Kiểm, tập hợp mẫu các vật liệu xây dựng sang Liên Xô, nhờ thử phóng xạ. Kết quả các vật liệu xây dựng Lăng Bác qua kiểm nghiệm phóng xạ tại Liên xô “thấp dưới mức cho phép”.

Về kiến trúc Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười cũng có những quan điểm riêng, góp ý cho kiến trúc tổng thể. Theo đó kiến trúc sư Nga, thiết kế nguyên bản với Lăng Lê Nin, sân quảng trường hoàn toàn bằng bê tông. Phó Thủ tướng Đỗ Mười đề nghị kiến trúc sư thay đổi một phần kiến trúc Lăng và toàn bộ khối sân bê tông thành những ô cỏ xanh. Ý kiến của Phó Thủ tướng được chấp nhận. Phó Thủ tướng Đỗ Mười chính là “Tổng công trình sư” của công trình xây dựng Lăng Bác…

Ngày 2/9 năm nay, kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh cũng là kỷ niệm 42 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 36 năm ngày khánh thành xây dựng Lăng của Người. Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền đất nước đi trong thương nhớ, vẫn thành kính về Lăng viếng Bác. Đến thăm và dạo quanh Lăng, chúng ta có thể ngắm nhiều hàng cây biểu trưng cho nông thôn miền núi Việt Nam, như tre Cao Bằng, chò nâu Đền Hùng, hoa ban Điện Biên. Hai bên cửa lối vào để viếng là hai cây hoa đại tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 mùa xuân của Hồ Chủ tịch (1890 – 1969). Hai bên phía Nam và Bắc của Lăng là hai khóm tre ngà, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam, còn phía trước Lăng là một thảm cỏ dài 380 m chia thành 240 ô vuông xanh tươi, đó là thảm cỏ được thay thế sân bê tông theo đề nghị của nguyên TBT Đỗ Mười.

Nghiêm Thị Hằng

thoibaodoanhnhan.com

Chuyện kể về hai lá cờ bằng đá trong lăng Bác Hồ

(Tamnhin.net) – Đã gần 40 năm trôi qua nhưng người dân huyện miền núi Bá Thước (Thanh Hóa) vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hàng nghìn người nô nức khai thác những hòn đá có màu đỏ tươi dưới lòng đất để góp phần xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Trương Phúc Chủ kể lại với PV chuyện khai thác đá Hồng Ngọc góp phần xây lăng Bác Hồ

Khoảng thời gian không lâu nhưng cũng đủ để khẳng định màu sắc nguyên bản của loại đá mang tên Hồng Ngọc riêng chi có ở bản Duồng thuộc xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa).

Đá Hồng Ngọc là loại đá có màu đỏ tươi, nặng hơn các loại đá khác nếu cùng kích cỡ. Đặc biệt, loại đá này theo nghiên cứu của các nhà khoa học màu đỏ nguyên bản của đá không bị phai mờ đến hàng nghìn năm sau. Chính vì thế, khi thực hiện việc xây dựng Lăng Bác và tìm nguồn đá làm 2 lá cờ là Quốc Kỳ và Đảng Kỳ, loại đá này đã được lựa chọn.

Câu chuyện về việc khai thác, vận chuyển đá ngày đó đã trở thành một giai thoại trong lịch sử của người dân vùng núi Điền Hạ – Bá Thước. Để tận mắt chứng kiến và tìm hiểu về một loại đá quí hiếm và những con người cách đây gần 40 năm về trước trực tiếp khai thác đá, chúng tôi đã ngược TP. Thanh Hóa về phía tây hơn 100km để đến bản Duồng, nơi chứa ẩn câu chuyện về những ngày khai thác đá chưa từng được kể. May mắn thay chúng tôi đã tìm được người trực tiếp chỉ đạo công trường khai thác đá Hồng Ngọc ngày đó, ông Trương Phúc Chủ, nay đã ngoài 80 tuổi, người được phân công trực tiếp quản lý và phân phối, điều động nhân công tham gia khai thác đá.

Màu sắc nguyên bản của đá Hồng Ngọc

Trong niềm tự hào, ông Chủ kể: Vào thời gian cuối năm 1973 đều năm 1974, một công trường khai thác đá sục sôi khí thế của hàng nghìn người dân tình nguyện (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường, Dao, Thái) đến từ khắp nơi đổ về bản Duồng ở xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa). Vui như ngày hội khi người dân được biết tại nơi đây có thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam có và đã được chọn làm 2 lá cờ mang biểu trưng cho Tổ quốc để đặt trong Lăng Bác.

“Khi đó, cứ vào mỗi buổi sáng, hàng nghìn người dân từ các địa phương lân cận không kể già trẻ, gái trai lại ùn ùn đổ về bản Duồng hăng say đào bới sâu hàng chục mét dưới lòng đất để chọn từng hòn đá có màu đỏ tươi rói mang cái tên Hồng Ngọc (đẹp như Ngọc và có màu đỏ). Ngày đó, khi nghe tin Trung ương lựa chọn đá có màu đỏ tại đồi Chợ Phét (đồi cây đa) không những tôi mà tất thảy người dân vùng núi Bá Thước vui lắm. Khi này tôi đang là cán bộ của huyện, tôi cũng như hàng nghìn bà con tự hào lắm vì vùng quê mình có một thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam chúng ta có được”.

Thời gian đó, ông Chủ đang là trưởng phòng giáo dục huyện Bá Thước nhưng vì là người nhiệt huyết và nơi lấy đá chính là nơi ông sinh ra và lớn lên. Vậy là ông trược tiếp được phân công chỉ đạo công trường khai thác đá. Đặc biệt là việc kêu gọi và huy động người dân tham gia đào đá để kịp thời gian làm hai lá cờ.

Cán bộ xã Điền Hạ chỉ cho chúng tôi đặc điểm của đá Hồng Ngọc

Ông Chủ kể tiếp về những thăng trầm, vất vả trong suốt 7 tháng trời đào đất, tìm đá: “Khi thời gian chỉ còn 1 tháng mà đá kiếm chưa đủ vì phải đào bới sâu dưới lòng đất hàng chục mét, trên diện rộng cả chục hécta đồi rừng. May mắn thay, đúng lúc này thì chúng tôi phát hiện ra một tảng đá lớn hơn 3 mét khối (nặng chừng 7 tấn) treo leo trên ngọn đồi Chợ Phét. Thời gian không còn nhiều, việc rời tảng đá xuống chân đồi và vận chuyển ra Hà Nội là một bài toán khó, bởi lẽ trong quá trình đó không được dùng gậy sắt, không được lăn thẳng xuống đất vì nếu không may làm vỡ hay sứt tảng đá sẽ không kịp thời gian để cung cấp đá cho quá trình xây và hoàn thành Lăng Bác.

Ngay lúc đó, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến, hay đúng hơn là hiến kế trong hơn 3 nghìn người dân địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng phải phá bỏ đi 3 ha rừng già rồi dùng trực thăng cẩu tảng đá xuống xe để vận chuyển. Nhưng nếu vậy sẽ mất hàng tháng trời với rất nhiều người tham gia, sẽ không kịp thời gian bàn giao đá. Như điều gì đã định trước, ông Chủ người trực tiếp ngày đêm chỉ đạo tại công trường đã nảy ra ý tưởng là chặt các cây gỗ to và thẳng sau đó kết thành mảng rồi từ từ cho tảng đá lăn xuống chân đồi vừa không phải phá bỏ rừng vừa mất ít thời gian, công sức.

Được mọi người đồng ý, ngay lập tức việc chặt cây, kết mảng được triển khai và thành công khi chỉ cần 1 tuần, tảng đá đã được đưa xuống chân đồi vẹn nguyên. Khi này lại thêm một vấn đề nữa là đưa tảng đá lên xe để vận chuyển. Dù đã dùng dòng dọc loại to nhất có thể để kích tảng đá nhưng trong quá trình kích vì quá nặng nên dòng dọc làm bằng sắt đã bị gãy. Một lần nữa hàng nghìn người dân địa phương phải dùng cách đào hầm dưới tảng đá rồi cho xe lùi vào.

Đưa được tảng đá lên xe, tưởng chừng mọi việc thuận tiện nhưng một vấn đề nữa nảy sinh đó là đường vận chuyển. Vì khi đó các con đường vào bản Duồng nhỏ và lầy lội, xe ô tô không thể vận chuyển đá với khối lượng lớn. Hơn 3 nghìn người đã ngày đêm mở 3km đường xuyên qua cánh đồng, khe suối rồi dùng các loại cây gỗ xếp thành đường để xe có thể vận chuyển đá. Cuối cùng, hơn 50 xe ô tô với hơn 300 khối đá Hồng Ngọc (tương đương 4000 hòn đá lớn nhỏ) được người dân Bá Thước khai thác và vận chuyển an toàn ra Hà Nội để bàn giao cho các đơn vị xây dựng Lăng Bác.

Địa điểm khai thác đá Hồng Ngọc cách đây gần 40 năm về trước

Khi vận chuyển đã ra Hà Nội, ông Trương Phúc Chủ cũng chính là người đã đại diện cho nhân dân ra để bàn giao và tham gia quá trình xẻ đá, chọn đá để gắn thành cờ. Hơn 1 tháng ở Hà Nội cùng những nghệ nhân chế tác, các nhà khoa học cuối cùng 2 lá cờ đã hoàn thành (mỗi lá cờ dài 1,2m, rộng 80cm) sau khi hoàn  thành  Lăng Bác, 2 lá cờ được đặt nơi trang trọng nhất mà đến ngày nay những ai viếng thăm Lăng Bác đều thấy rõ 2 lá cờ màu đỏ tươi được làm bằng đá Hồng Ngọc ngàn năm sau màu sắc chẳng phai mờ (theo nghiên cứu của các nhà khoa học khi chọn đá Hồng Ngọc làm cờ).

Câu chuyện về đá Hồng Ngọc được dùng làm 2 lá cờ đặt nơi trang trọng nhất trong Lăng Bác cho đến ngày nay vẫn là một dấu ấn lịch sử của người dân vùng núi Bá Thước khi chính những đôi bàn tay, công sức của họ được khắc ghi trong một công trình vĩ đại của đất nước – Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài, ảnh: Phúc Ngư

tamnhin.net