Tag Archive | Độc lập

Ngày 15-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-6-1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội IV của Quốc tế Cộng sản Thanh niên tại Mát-xcơ-va. Cùng ngày, nhà cách mạng Việt Nam cũng tham dự cuộc gặp mặt giữa nhân dân thủ đô của Liên bang Xô Viết với các đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản diễn ra trên Đồi Lê-nin.

Ngày 15-6-1950, Báo Sự Thật đăng bức thư “Gửi đồng báo các tỉnh có đê”, trong đó Bác nhấn mạnh: “Mấy năm nay, ta đã thắng luôn giặc lụt. Năm nay, ta cũng phải thắng, vì toàn thể đồng bào, từ các cụ phụ lão cho đến các cháu nhi đồng đều kiên quyết chống giặc lụt cũng như kiên quyết chống giặc ngoại xâm. Đồng bào hãy cố gắng lên!”.

Cũng vào thời gian này, Bác còn viết thư “Gửi đồng bào Thanh Hóa”, biểu dương việc các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã quyên góp được 84 triệu đồng cùng nhiều trâu bò, ruộng đất ủng hộ kháng chiến và động viên rằng Thanh Hóa “sẽ cố gắng tranh cho được địa vị vẻ vang là tỉnh kiểu mẫu…”. Nhưng Bác cũng nhắc nhở phải “quản lý hẳn hoi những tiền và của đồng bào đã ủng hộ. Tài chính phải hoàn toàn công khai, hết sức tiết kiệm. Cần phải dùng số tiền và của ấy làm vốn mà tăng gia sản xuất để cấp dưỡng bộ đội địa phương, sổ sách phải rất cẩn thận và minh bạch…”.

Giữa tháng 6-1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể. Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động…thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân. Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng. Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới…Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai đó có điều oan ức thì có thể nhờ các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng cái quyền ấy…Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 20-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và sinh viên Bách khoa

Ngày 20-6-1939, với bí danh là Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đang có mặt tại Trung Quốc, tham gia khóa 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích ở Nam Nhạc, từ đây có thể liên hệ với Văn phòng Bát Lộ Quân đóng ở Quế Lâm và theo dõi thời cuộc qua các phương tiện điện đài được trang bị.

Ngày 20-6-1946, trong thời gian phải lưu lại thành phố Biarritz chờ Chính phủ Pháp tổ chức đón tiếp, Bác đã đi thăm làng chài và ra biển câu cá với dân địa phương. Tối hôm đó, Bác tiếp Bộ trưởng Bộ Quân vụ và 3 nghị sĩ Pháp đến chào để bày tỏ sự thân thiện.

Ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới”, nhân dịp nửa năm kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Với nhân dân Pháp, thư viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, bình đẳng, bác ái…, có một mục đích chung: Cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc. Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau… Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa giữa hai dân tộc chúng ta…”. Với nhân dân châu Á, thư viết: “Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á”. Còn với “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”, thư kêu gọi: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam!”.

Ngày 20-6-1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Bác tập hợp những bài viết đăng trên Báo Cứu Quốc thành một cuốn sách mang tên là “Cần kiệm liêm chính”. Cuối sách, Bác viết: “Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt, con cháu mình sung sướng, gia đình mình ấm no, làng xóm mình thịnh vượng, nòi giống mình vẻ vang, nước nhà mình mạnh giàu. Mục đích ấy tuy to lớn nhưng rất thiết thực. Thiết thực vì chúng ta nhất định đạt được. Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

Ngày 20-6-1954,nghe tin phu nhân của bác sĩ Đặng Văn Ngữ, một trí thức Việt kiều ở Nhật về nước phục vụ kháng chiến từ trần, Bác viết thư chia buồn: “…Nhưng sinh tử là lẽ thường của tạo hóa. Bác khuyên chú chớ quá buồn rầu, lấy công tác mà khuây khỏa…”.

Ngày 20-6-1960, Bác đến dự và nói chuyện với Đại hội Đảng bộ Hà Nội, vạch rõ: “Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí… Muốn uống nước thì phải đào giếng, đào giếng thì phải đổ mồ hôi, nhưng càng khó nhọc vất vả thì giếng càng sâu, càng nhiều nước”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp. Từ Biarritz, máy bay hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của Thủ đô Paris – nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể với những nghi thức quốc gia. Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau.

Ngay tại sân bay, Bác đã tuyên bố: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Ngày 22-6-1947, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, Bác khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: Cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu” và “rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”. Về vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

Ngày 22-6-1948, Báo Cứu Quốc đăng thư của Bác gửi các khu thông báo: “Ngày 23-9-1945, đồng bào toàn quốc đã đứng dậy thành một khối sau lưng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chống lại bọn thực dân Pháp xâm lăng vào bờ cõi miền Nam đất nước ta. Để tưởng nhớ đến bao nhiêu chiến sĩ và đồng bào Nam bộ và miền Nam Trung bộ đã bỏ mình vì nước trên bãi chiến trường hoặc dưới sự tàn sát của quân giặc; để ghi công chiến sĩ đã tiên phong giữ vững nền độc lập và thống nhất của nước nhà, toàn quốc sẽ long trọng kỷ niệm 1.000 ngày chiến đấu của đồng bào miền Nam”.

Ngày 22-6-1955, rời Hà Nội đi thăm chính thức Liên Xô và Trung Quốc, Bác tuyên bố: “Tin chắc rằng cuộc đi thăm này sẽ thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhân dân và chính phủ hai nước bạn”.

Báo Nhân Dân ra ngày 22-6-1954 đăng bài “Cần phải xem báo Đảng”, trong đó Bác nhắc nhở: “Đảng ta mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất…Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và nâng cao năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng, vấp váp, hỏng việc thì khác nào nhắm mắt đi đêm; nhất định sẽ lúng túng”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 23-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 23-6-1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!”. Tại diễn đàn Đại hội, nhiều lần Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới vấn đề này.

Ngày 23-6-1939, dưới bút danh P.C Lin, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Về chủ nghĩa Tơrôtxki” trong loạt bài “Thư từ Trung Quốc”, gửi về nước đăng trên tờ “Notre Voix”, cơ quan hoạt động công khai của Đảng tại Hà Nội nhằm phân tích một khuynh hướng chính trị “không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của dân chủ và tiến bộ”.

Ngày 23-6-1946, tiếp tục cuộc thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pháp, tiếp bà con Việt kiều, trong đó có nhiều nhi đồng.

Ngày 23-6-1953, thăm Trường Chính trị trung cấp Quân đội tại Việt Bắc, Bác căn dặn: “Dù có bao nhiêu khí giới tinh xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng đó cũng bỏ đi…”.

Ngày 23-6-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Quốc trưởng Cam-pu-chia Norodom Sihanouk, nhân dịp nước ta và Vương quốc Cam-pu-chia chính thức lập quan hệ ngoại giao. Bác đánh giá: “Đó là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, một nhân tố tích cực trong việc giữ gìn hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á”.

Ngày 23-6-1969, Bác gửi thư tới Đại sứ quán Liên Xô nhờ chuyển lời cảm ơn tới nữ Anh hùng Liên Xô Irina Levtchenko đã tặng sách và qua Tổng Lãnh sự Ấn độ cảm ơn Bà Indira Gandhi đã gửi biếu Bác một quả xoài Ấn Độ. Buổi chiều ngày hôm đó, mặc dù sức khỏe đã yếu, Bác đến thăm tận nơi ở của Phái đoàn Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Trong câu chuyện thân tình với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Bác cho biết: “Tôi đã bỏ thuốc lá rồi, cụ ạ… Tôi cũng phải đấu tranh với bản thân ghê gớm lắm mới bỏ được, thưa cụ”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 24-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 24-6-1922, tờ “L’ Humanité” (Nhân đạo) đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là một truyện ngắn hư cấu giấc mơ của Vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

Ngày 24-6-1931, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Pháp trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có viết: “Thực ra từ hơn 10 năm nay, Nguyễn Ái Quốc là một chiến sĩ vô địch vì sự nghiệp độc lập của Đông Dương. Lúc đầu là một người dân tộc chủ nghĩa, ông ta sớm đi theo chủ nghĩa cộng sản và từ nhiều năm nay những người cách mạng bản xứ xem ông ta như một Lê-nin của Đông Dương…”.

Ngày 24-6-1942, leo lên vùng núi Lũng Dẻ thuộc khu núi đá Lam Sơn (Cao Bằng), Bác tức cảnh làm bài thơ “Thướng sơn” (Leo núi):

“Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai”
(Tố Hữu dịch: “Hai mươi tư tháng Sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai”).

Ngày 24-6-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hơn 100 anh em đại biểu Nam bộ đến chào và bày tỏ tinh thần thống nhất quốc gia. Cùng ngày, Bác tiếp Bộ trưởng Hải ngoại M.Moutet và Đô đốc D’ Argenlieu cùng Ban Trị sự Hội Pháp – Việt hữu nghị mới thành lập…Trong số những Việt kiều đến chào Bác có triết gia Trần Đức Thảo.

Ngày 24-6-1959, Bác đón tiếp Tổng thống In-đô-nê-si-a sang thăm Việt Nam. Trong diễn văn chào đón tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác chân tình nói: “Được đón tiếp Tổng thống Sukarno, nhân dân Việt Nam có cảm tưởng vui sướng như được ôm ấp vào lòng mình 88 triệu anh em In-đô-nê-si-a anh dũng. Có mối tình thương yêu ấy, vì hai dân tộc ta cùng có một hoàn cảnh giống nhau, cùng có một lịch sử vẻ vang kháng chiến oanh liệt chống bọn thực dân cướp nước, giành độc lập tự do. Hai dân tộc chúng ta đều phải tiếp tục đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước và trong cuộc đấu tranh đó, hai dân tộc ta thông cảm lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tình cảm của Đảng bộ và nhân dân thành phố mang tên Bác đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm, theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Tình cảm của Người luôn một lòng đau đáu hướng về miền Nam ruột thịt đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong hai câu thơ: “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Mong ước ấy cũng là nguyện vọng thiết tha của dân tộc và trở thành sức mạnh thôi thúc toàn dân và toàn quân ta chiến đấu giành thắng lợi cuối cùng. Với người dân thành phố mang tên Bác nói riêng và đồng bào miền Nam nói chung, đã từ lâu, hình ảnh vị Cha già dân tộc luôn soi sáng trên từng bước đường đi tới và là niềm tin lớn lao trong lòng mọi thế hệ người dân.

Bác Hồ – Người đã dành trọn cuộc đời, tâm huyết của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cả cuộc đời Bác chỉ có một niềm mong ước là “làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được tự do” và vì lẽ đó con người ấy luôn sống trọn đời vì dân vì nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Cha của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, muốn con mình theo tấm gương của những bậc hiển nhân, cống hiến cuộc đời cho lý tưởng vì dân. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan, tần tảo nuôi dưỡng những người con khôn lớn, trưởng thành. Thời thơ bé, cuộc sống của Bác trôi qua với lời ru đau đáu về thân phận người dân mất nước. Làng Dương Nỗ, nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung được học chữ trong lớp học do chính cha mình giảng dạy, là bạn học với những người mà khi đến tuổi trưởng thành đều là những nhà yêu nước. Bởi vậy, ngay từ nhỏ, Người đã được hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào đấu tranh chống Pháp, Người thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân, không cam chịu để dân tộc mình sống cuộc đời nô lệ, lầm than dưới ách đô hộ của chế độ thực dân phong kiến. Tình cảm yêu quê hương đất nước, căm thù giặc sâu sắc đã hun đúc lên hoài bão lớn lao của Người.

Sau khi tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và bị đuổi học, Người lên đường vào Nam, dừng lại ở Phan Thiết làm nghề dạy học ở trường Dục Thanh. Theo như kể lại, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã dạy dỗ học trò bằng tất cả trái tim và nhiệt huyết, hướng học trò của mình suy ngẫm về thân phận của người dân trong cảnh nước mất nhà tan. Năm 1910, tạm biệt trường Dục Thanh, Người tiếp tục con đường của mình, dừng chân ở Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn hồi đầu thế kỷ XX là một Cảng thị sầm uất với Bến cảng Sài Gòn – nơi những con tàu tấp nập từ muôn phương đến và đi. Có lẽ không biết bao nhiều lần, Người đứng nơi Bến cảng, ngắm những con tàu và tự hỏi: “Không biết ở phía bên kia đường chân trời, những điều gì đang xảy ra?”. Vượt khỏi tầm nhìn của những nhà yêu nước đương thời, năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Hình ảnh ấy đã được Chế Lan Viên khắc họa vô cùng xúc động trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”:

“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi.
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”

Ngày Bác ra đi, cả đất nước vẫn chìm trong đêm đen nô lệ. Chế độ thực dân tạo dựng nên quyền uy trên mồ hôi và xương máu của nhân dân Việt Nam. Sau bao nhiêu năm bôn ba nơi đất khách quê người, chứng kiến bao nhiêu cảnh lầm than của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Người nhận ra rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản theo ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lênin mới đem lại no ấm hạnh phúc cho dân tộc. Ngày trở về, người thanh niên Nguyễn Tất Thành trở thành người cộng sản yêu nước Nguyễn Ái Quốc, cùng với cả dân tộc làm nên cuộc cách mạng Tháng tám lịch sử, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945) chưa đầy một tháng, đồng bào miền Nam đã phải cầm vũ khí để bảo vệ nền độc lập của nước nhà khi thực dân Pháp lén lút đánh úp, chiếm trụ sở UBND Nam bộ tại Sài Gòn. Ngày 30-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra “Lời kêu gọi đồng bào Nam bộ” với những tình cảm thân thiết và một ý chí sắt đá quyết đồng tâm, hiệp lực vì sự sống còn của dân tộc. Người viết: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu…”.

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam! Nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ, hàng nghìn, hàng nghìn chiến sỹ giải phóng quân miền Bắc đã xung phong Nam tiến, sát cánh cùng đồng bào Nam bộ anh dũng chiến đấu. Biết bao người đã ra đi không hẹn ngày về. Không ít người còn sống, ở lại trong đó suốt đời, trở thành những đứa con của các ba, các má nơi Thành đồng Tổ quốc. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi không trọn vẹn, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục đấu tranh. Năm 1954, sông Bến Hải trở thành dòng sông chia cắt đất nước. Những người cùng chung một Tổ quốc, một lịch sử, cùng nhau đứng lên chiến đấu vì lợi ích chung của dân tộc, vì một đất nước giải phóng, tự do. Đồng bào miền Bắc hướng vào miền Nam, đồng bào miền Nam hướng ra đất Bắc. Tuân theo những điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Cuộc hẹn gặp sau 2 năm, phải mất 30 năm mới trở thành hiện thực. 30 năm – 10 ngàn ngày, miền Nam luôn sống trong trái tim dân tộc, luôn sống trong trái tim của Bác.

Tết Ất Mùi năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động nhận được cây vú sữa, là món quà của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc gửi tặng. Cây vú sữa trở thành biểu tượng của tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam, và của miền Nam đối với Bác. Bao nhiêu năm vẫn thế, miền Nam luôn hướng về Người, sâu nặng và nghĩa tình. Mong ước cho nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp, được vào thăm miền Nam ruột thịt cũng luôn là mối trăn trở của Người. Hình ảnh Người vui mừng khi nghe tin miền Nam lại “thắng to” cho thấy tấm lòng thiết tha của Người đối với đồng bào miền Nam. Mỗi khi nghe tin có đoàn cán bộ ở miền Nam ra, Bác vội đến thăm ngay và hỏi han tình hình rất kỹ. Những chiến thắng của đồng bào miền Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho Bác. Có một câu chuyện cảm động thế này:

Ngày 10/5/1969, đồng chí Vũ Kỳ báo cáo với Bác việc anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đề nghị mời Bác chiều mai tiếp số cán bộ quân sự cao cấp sắp vào chiến trường miền Nam. Nghe nói được gặp gỡ cán bộ Quân đội, Bác đồng ý ngay. Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ cố làm sao để các đồng chí Quân đội không biết là Bác đã yếu. Bác lo điều đó sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng toàn quân. Đây là một việc không dễ gì, vì đến lúc này, Bác đi lại đã rất khó khăn. Lại còn giọng nói của Bác nữa. Từ năm ngoái, đã có hiện tượng bị lạc tiếng. Bác sĩ Trần Hữu Tước đã được gọi vào để chữa cho Bác, nhưng cũng chỉ đỡ được phần nào. Sau đó Bác phải luyện tiếng cả một tuần liền để thu thanh lời chúc mừng năm mới. Đồng bào và chiến sĩ cả nước nghe lời chúc mừng năm mới của Bác “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” không thể biết được rằng Bác đã phải kiên trì tập luyện như thế nào mới giữ được giọng nói tỏ ra vẫn khoẻ như thế. Thực ra Bác đã cố gắng rất nhiều, vì niềm vui của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Bác không nề hà một việc gì. Nhớ hôm đồng chí Nguyễn Văn Linh vừa ở miền Nam ra, vào thăm Bác, được Bác mời ở lại cùng ăn cơm. Hôm đó đồng chí Phó Bí thư Trung ương Cục thấy Bác ăn ngon cả bát cơm đầy nên rất yên tâm. Sau này, đồng chí Nguyễn Văn Linh có tâm sự, khi biết chuyện Bác Hồ cố ăn cho đồng bào miền Nam yên tâm, đồng chí Linh đã không ngăn được nước mắt. Đồng chí đã kể cho nhiều người khác nghe và ai cũng xúc động bởi tấm lòng của Bác với miền Nam. Cho đến những ngày cuối đời, Bác Hồ cầm bát cơm ăn cũng là vì miền Nam.

Năm 1966, khi tiếp một nhà báo Cuba, Bác đã đặt một bàn tay lên ngực mình và nói: “Nhân dân miền Nam, mỗi người, mỗi nhà đều có một nỗi đau. Đem cộng tất cả những nỗi đau đó lại, thì đấy là nỗi đau của tôi”. Kể từ lúc rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước đến ngày giành được độc lập, chưa một lần Bác trở lại miền Nam, để nỗi niềm thương nhớ ngày đêm canh cánh bên lòng không một phút giây nào nguôi. Từ ngọn núi, dòng sông, đến con người miền Nam anh dũng; tất cả hòa trong tim Bác, đồng nghĩa với hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển. Đồng bào miền Nam luôn khắc sâu chân lý: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”, thực hiện được lời dạy thiêng liêng của Người “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.

Nhưng niềm vui chưa được trọn vẹn, Người ra đi khi nước nhà còn chưa thống nhất, ước nguyện một lần vào miền Nam thăm các chiến sỹ, đồng bào đã không thực hiện được. Nỗi niềm ấy gửi trọn vào Di chúc thiêng liêng: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Nhập tâm sâu sắc Di chúc Bác Hồ, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và đồng bào Sài Gòn – Gia Định nêu cao khí phách của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đạp bằng muôn trùng gian nguy, chiến đấu ngoan cường, vượt qua giai đoạn ác liệt nhất từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, củng cố thế và lực cách mạng, đập tan chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, chủ động và tích cực tham gia vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của “Thành đồng Tổ quốc”, góp phần viết nên những trang huy hoàng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng và nhân dân ta; thành phố Sài Gòn – Gia Định được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và bước vào kỷ nguyên mới, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nhằm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện lời dạy của Bác, sau khi đất nước thống nhất, Đảng bộ và nhân dân thành phố đã nỗ lực phấn đấu, ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục những hậu quả nặng nề do tàn dư của chủ nghĩa thực dân để lại. Đồng thời, dốc toàn lực để vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt: Chính sách cấm vận, bao vây kinh tế của các thế lực thù địch, thiên tai xảy ra dồn dập, chiến tranh trên biên giới Tây Nam, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp…

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã kiên trì tìm tòi, thử nghiệm, phát kiến ra những mô hình mới, biện pháp mới, cách làm mới, nhằm “tháo gỡ” khó khăn, vướng mắc, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, xóa dần cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp; tiến hành cải cách mạnh mẽ về kinh tế trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng; từ đó, đã dần dần thực hiện được mục tiêu ổn định đời sống, ổn định kinh tế – xã hội. Chính trong thời điểm này, đã xuất hiện hàng loạt mô hình mới về sản xuất – kinh doanh, hàng vạn lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa; hàng ngàn tổ dân phố, tổ nhân dân tiên tiến cấp thành phố với hàng ngàn sáng kiến có giá trị đã được phát hiện để nhân rộng điển hình.

Thành phố đã nỗ lực từng bước kiến tạo được nền tảng cơ sở vật chất – kỹ thuật của một đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, làm cho diện mạo thành phố mang tên Bác ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, xứng đáng là trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước. Một hệ thống liên hoàn các dự án lớn về những công trình trọng điểm đã và đang được xây dựng nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế và dân sinh, đóng vai trò trọng yếu trong việc nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất xã hội, đã biến thành động lực cho sự phát triển của nền kinh tế như: Mạng lưới cầu đường, hệ thống bến cảng và kho bãi, mạng bưu chính viễn thông; nguồn điện cung ứng cho thành phố và khu vực phía Nam; sự xuất hiện các trung tâm thương mại – dịch vụ lớn; các khu đô thị mới, các khu chế xuất – khu công nghiệp tập trung…

Nhờ kinh tế tăng trưởng khá nhanh cùng với sự phát triển của kết cấu hạ tầng đô thị, các chương trình an sinh xã hội đã đạt được nhiều tiến bộ và kết quả thiết thực. Hoạt động văn hóa – xã hội có điều kiện để phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng yêu cầu cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và phổ biến pháp luật. Hệ thống trường, lớp được phát triển không ngừng, số lượng học sinh các cấp đã tăng lên đều đặn, từ xóa xong nạn mù chữ đến phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, đang phấn đấu phổ cập bậc trung học phổ thông, từng bước nâng cao trình độ dân trí.

Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực điều trị, cùng với việc thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi đã góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Hệ thống các nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp hát được củng cố; việc xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình hoạt động văn hóa – nghệ thuật được đẩy mạnh, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng tăng của nhân dân. Nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động ở thành phố có sức lan tỏa rộng như: Phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “xây dựng nhà tình nghĩa”, “xây dựng nhà tình thương”, “phụng dưỡng các mẹ Việt Nam anh hùng”, chăm lo các gia đình chính sách, người khuyết tật…

Đặc biệt, theo số liệu thống kê, năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của thành phố đạt 2.800USD/người/năm; chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Từ gần 122.000 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 17% tổng số hộ dân thành phố vào năm 1992, đến cuối năm 2010, cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập gấp đôi tiêu chí cũ và phấn đấu đến năm 2015 thành phố cơ bản không còn số hộ nghèo theo tiêu chí mới là dưới 12 triệu đồng/người/năm.

Đảng bộ thành phố luôn quan tâm lãnh đạo gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với an ninh, quốc phòng và đối ngoại trong quy hoạch và các kế hoạch phát triển thành phố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và lực lượng võ trang vững mạnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ thành phố và đất nước.

Thấm nhuần lời dạy của Bác “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, Đảng bộ thành phố luôn tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn tổ chức, phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo tham gia các phong trào hành động cách mạng, gắn với phong trào thi đua yêu nước. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc về dân sinh, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, không ngừng củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.

Như vậy, sau 36 năm kể từ ngày giải phóng, thực hiện Di chúc Bác Hồ, thành phố Hồ Chí Minh đã “cùng cả nước” không ngừng nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn để ổn định và phát triển đi lên. Và “vì cả nước”, thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực đóng góp vào quá trình tìm tòi sáng tạo và thử nghiệm, vận dụng nhiều mô hình, cơ chế quản lý mới, nhằm góp phần có ý nghĩa vào việc hình thành, phát triển và thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng ta.

Có thể để khẳng định, một trong những nguyên nhân hàng đầu giúp cho Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, là do Đảng bộ và nhân dân đã ra sức thực hiện những lời di huấn quý báu trong Di chúc của Bác Hồ về công tác xây dựng Đảng, nỗ lực phấn đấu thực hiện lời thề thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân khi vĩnh biệt Người: Hết lòng, hết sức giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguyện “Suốt đời học tập đạo đức tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt, từ năm 2007 đến nay, cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, Đảng bộ thành phố đã tự giác và có nhiều nỗ lực thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Việc triển khai thực hiện Cuộc vận động đã mang lại kết quả bước đầu với những chuyển biến quan trọng về nhận thức và hành động của đảng viên, cán bộ công chức và các tầng lớp nhân dân thành phố.

Chuyển biến lớn nhất qua các đợt học tập, là “nỗ lực làm theo” tấm gương đạo đức của Bác Hồ, tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên, chất lượng sinh hoạt của chi bộ, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy cũng như thực hiện tự phê bình, phê bình, thực hành dân chủ, đoàn kết trong nội bộ được nâng cao. Đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân thực hiện tốt, nhất là trong việc thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; trong công tác phòng, chống tham nhũng; trong cải cách hành chính, sửa đổi lối làm việc ở các cấp, trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc của dân, chăm lo cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân và qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Hàng trăm cán bộ, đảng viên, công chức ở các cấp được biểu dương khen thưởng vì đã “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân”, góp phần củng cố, tạo thêm lòng tin của người dân đối với cơ quan chính quyền các cấp.

Thực hiện lời dặn dò có tính chiến lược cách mạng và tư tưởng nhân văn sâu sắc trong Di chúc của Bác đối với đoàn viên, thanh niên, trong nhiều năm qua, Đảng bộ thành phố đặc biệt quan tâm đến việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, thường xuyên giáo dục, xây dựng và phát huy thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, có sức khỏe, tri thức và tác phong công nghiệp trong lao động để trở thành những công dân tốt, những người chủ hiện tại và tương lai của thành phố và đất nước, kế thừa trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

Lòng tôn kính Bác Hồ của người dân còn thể hiện trong từng nếp sống văn hóa truyền thống của mỗi gia đình người dân. Trên bàn thờ tổ tiên của một số gia đình, bức chân dung Bác Hồ luôn đặt ở vị trí trang trọng nhất, nhân dân thờ Người bằng tất cả tấm lòng kính yêu vị Cha già của dân tộc.

Từ sau khi nước nhà độc lập, dù nắng hay mưa, ngày ngày từng dòng người tấp nập vẫn xếp hàng để được vào Lăng viếng Bác, trong đó có biết bao đồng bào, chiến sỹ, nhân dân miền Nam lần đầu tiên mới được thỏa lòng ước nguyện nhìn thấy Bác kính yêu. Chúng ta không thể quên hình ảnh Đoàn Mẹ Việt Nam Anh hùng từ miền Nam ra Lăng viếng Bác. Nhiều Mẹ đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm”, bước đi chậm chạp, khó khăn, sự chịu đựng hy sinh, mất mát đã in hằn trên khuôn mặt khắc khổ của các Mẹ, đôi mắt giờ đã không còn tinh tường nhưng khi được nhìn thấy Bác, xem những thước phim tư liệu về giờ phút cuối đời của Bác, Mẹ nào cũng nước mắt rưng rưng.

Để tỏ lòng thành kính với Người, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, như đã thành thông lệ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và nhân dân Nam bộ nói chung lại về Lăng báo công với Bác những thành tích đã đạt được trong một năm qua và gửi tình Nam ra Bắc qua những đóa hoa Mai vàng rực rỡ thay lời chúc mừng năm mới đến tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ làm việc tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Thủ đô Hà Nội và nhân dân cả nước. Miền Nam của Người, niềm mong mỏi cháy lòng của Người lại về bên Người, chào đất nước thêm một mùa xuân mới. Đó là những cây Mai vàng tượng trưng cho tấm lòng người con miền Nam trở về bên Người như về với chính cội nguồn bằng tình cảm thân thương, kính trọng nhất đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tri ân các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình, nhân dân trong nước và khách quốc tế lại về bên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ung dung, giản dị như vừa chợp mắt sau một ngày làm việc…

Trong dòng mạch văn hóa đời sống của người dân miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình ảnh Bác luôn được đặt ở nơi trang trọng nhất và luôn ở trong tim mỗi người. Đảng bộ và nhân dân thành phố hôm nay nguyện phấn đấu làm theo Lời Bác dạy để rèn luyện, học tập tư tưởng, đạo đức của Người nhằm góp phần cùng cả nước xây dựng “Đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như sinh thời Bác đã mong ước và căn dặn, mãi xứng đáng là thành phố được mang tên Người./.

Nguyễn Thị Hồng Vượng
Phòng Pháp chế, Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

K9 – KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức của người chiến sỹ cộng sản yêu nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Những miền quê đất nước Người đã từng sống và làm việc đã trở thành địa danh lịch sử, văn hoá Việt Nam. Khu Di tích K9 nằm bên bờ sông Đà, thuộc Đá Chông, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là một trong những địa danh lịch sử, văn hoá đó. Đây là di tích đặc biệt gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Người còn sống đến khi Người đã qua đời.

Khu Di tích K9 (Khu Di tích Đá Chông, trước đây gọi là K84) nằm trong hệ thống đồi gò có diện tích 234 ha, giáp địa giới hành chính với ba xã Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và xã Đồng Luận, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Xưa kia, đây là khu đồi thông yên tĩnh, xen kẽ với các loài cây gỗ lớn, tán lá rộng tạo thành khu rừng nguyên sinh đầy sức quyến rũ. Trên đồi có những tảng đá to đứng lô nhô, sắc nhọn như những mũi chông, ngọn mác nên gọi là Đá Chông. Truyền thuyết kể lại rằng đây là bãi chông chà, dấu tích của những trận chiến dữ dội giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh thời tiền sử. Theo trí tưởng tượng dân gian, khu vực này mang dáng dấp một con rồng, đầu đang cúi xuống uống nước sông Đà, U Rồng là đỉnh cao nhất của khu đồi. Địa danh này có đặc điểm rất kỳ lạ là sông Đà chảy qua Lai Châu về Hoà Bình, chảy xuôi qua đằng Khê Thượng, đến đây đột ngột chuyển dòng ngược về hướng Bắc, tạo thành một khúc gầy, đến ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) gặp sông Hồng, sông Thao để rồi cùng chầu về Đền Hùng, đất Tổ.

Trong “Diễn ca Thánh Tản Viên – Sơn Tinh” có đoạn viết:

Chúng thủy giai Đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu

Dịch là:

Các sông đều chảy về Đông
Sông Đà riêng một, ngược dòng Bắc lưu.

Vùng đất này đã có một sự kiện đặc biệt để rồi sau này trở thành một địa danh lịch sử. Đó là vào một ngày của tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Trung đoàn 36 – Sư đoàn 308 diễn tập bên sông Đà. Bác đã dừng chân nghỉ, ăn cơm trưa trên đồi, nơi có 3 mỏm đá nhọn như hình mũi chông, ngọn mác xếp liền kề nhau. Bác đứng ở vị trí Đá Chông, nhìn ra sông Đà trước mặt thấy đây là nơi sơn thuỷ hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân mà xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã ngỏ ý với các đồng chí cùng đi xây dựng ở đây một nhà làm việc của Bác và Trung ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc.

Sáng ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác Hồ lên thăm và xem xét lại địa bàn khu vực Đá Chông. Cùng đi với Bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng – Uỷ viên Trung ương Đảng và một số đồng chí khác của Phủ Chủ tịch và lãnh đạo tỉnh Sơn Tây. Sau chuyến đi của Bác, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn trong khu vực Đá Chông.

Bước sang năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ đã rõ ràng. Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương. Đồng chí Hoàng Linh, Cục trưởng Cục Doanh trại phụ trách được giao vẽ thiết kế ngôi nhà 2 tầng, phỏng theo kiểu nhà sàn. Đặc biệt, Bác đã trực tiếp duyệt thiết kế, cắm cọc, nhắm hướng cho ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và Trung ương. Công trình được chuẩn bị từ tháng 6 và đến tháng 9 năm 1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Bộ đội Công binh xây dựng một hệ thống công sự kiên cố. Quá trình xây dựng, khu vực này mang mật danh “Công trường 5”, (gọi tắt là KV). Theo gợi ý của Bác, khu căn cứ của Trung ương chia làm 3 khu vực. Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và tiếp khách; khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo nghỉ; khu C dành cho các đồng chí bảo vệ và phục vụ. Quá trình thi công, Bác Hồ đã lên thăm và trực tiếp kiểm tra nhiều lần. Ngày 15 tháng 3 năm 1960 ngôi nhà 2 tầng được hoàn thành, Bác đã đi máy bay trực thăng lên dự buổi khánh thành. Từ lúc này nơi đây được đổi tên thành “Khu căn cứ K9” (gọi tắt là K9).

Trong 9 năm (từ 1960 – 1969) Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị, chỉ huy Quân đội đã nhiều lần đến làm việc tại đây. Đặc biệt, ngày 20 tháng 9 năm 1964, Bác Hồ cùng đồng chí Phạm Văn Đồng và một số đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị đã lên họp tại K9. Bác và các đồng chí cùng đi đã trao đổi về tình hình quốc tế và trong nước từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (ngày 5 tháng 8 năm 1964) và một số vấn đề về công tác phòng không nhân dân. Cũng tại nơi này, Bác đã từng tiếp đón bà Đặng Dĩnh Siêu- phu nhân Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, ông Hà Vĩ – Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam và Đoàn cán bộ Quân đội Liên Xô do Anh hùng phi công vũ trụ G.M Ti-tốp dẫn đầu.

9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chủ tịch qua đời. Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ cuối năm 1969, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết định. Đề phòng chiến tranh có thể xảy ra trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tìm một vị trí thật yên tĩnh, bí mật, xa Hà Nội, thuận tiện cho di chuyển thi hài Bác khi chiến tranh lan rộng. K9 đã được quyết định chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác. Lúc này K9 được mang mật danh “Khu căn cứ K84”.

Trong 6 năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1969 – 1975), thi hài Bác được giữ gìn bảo quản tại K9 ba lần với tổng thời gian là 4 năm 4 tháng 19 ngày. Đó là các thời gian sau:

– Đợt 1: Từ ngày 23 tháng 12 năm 1969 tới ngày 03 tháng 12 năm 1970, vì lúc đó cả nước có chiến tranh nên lưu giữ Bác ở căn cứ K84 an toàn hơn ở Hà Nội. Cuối năm 1970 do Mỹ – Nguỵ tập kích bằng máy bay trực thăng xuống một vị trí ở gần thị xã Sơn Tây, cho nên thi hài Bác lại được chuyển về Viện Quân y 108.

– Đợt 2: Từ ngày 19 tháng 8 năm 1971 tới ngày 11 tháng 7 năm 1972, khi đó ở miền Bắc mưa to liên tiếp 10 ngày, nước sông Hồng dâng cao 12m80, có nguy cơ vỡ đê nên thi hài Bác lại được đưa trở về bảo quản tại khu căn cứ K84. Cuối năm 1972 ta nhận định có nguy cơ Mỹ dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mà K84 nằm trên đường bay của địch từ Thái Lan sang, cho nên thi hài Bác lại được chuyển sang bảo quản tại H21.

– Đợt 3: từ ngày 08 tháng 02 năm 1973 tới ngày 17 tháng 7 năm 1975, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, thi hài Bác lại được đưa trở lại K84 để bảo quản, vì nơi đây có điều kiện kỹ thuật tốt hơn ở H21.

Tại K84 không chỉ là nơi giữ gìn bảo quản thi hài Bác một cách đơn thuần, mà còn diễn ra nhiều sự kiện chuyên môn rất quan trọng như tiến hành chỉnh hình thi hài Bác. Hội đồng khoa học liên quốc gia Liên Xô – Việt Nam đánh giá trạng thái thi hài Bác. Cũng tại nơi đây chúng ta không chỉ giữ gìn an toàn thi hài Bác mà còn tổ chức nhiều buổi viếng Bác rất trọng thể cho nhiều đoàn đại biểu khác nhau. Tiêu biểu nhất là đoàn Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương do đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng dẫn đầu viếng Bác vào ngày 23 tháng 8 năm 1970; đoàn cán bộ Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn đầu viếng Bác (tháng 2 năm 1974). Cũng tại nơi đây chúng ta cùng với các chuyên gia Liên Xô đã nghiên cứu một số vấn đề để chuẩn bị cho việc phục vụ lễ viếng thường xuyên sau này tại Lăng Bác ở Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ngoài ra còn nhiều cuộc trao đổi kinh nghiệm giữa các chuyên gia Bạn và cán bộ y tế của ta để học tập kinh nghiệm của Bạn, cũng là nơi để thử thách rèn luyện cả về ý chí lý tưởng cách mạng cho tất cả các lớp cán bộ, cũng là nơi tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên môn nghiệp vụ về y tế, kỹ thuật, phương án bảo vệ an ninh trong điều kiện đất nước có chiến tranh.

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (ngày 30 tháng 4 năm 1975), miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc thống nhất, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta mong đợi được đón Bác về Lăng. Đúng 16 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1975, đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời K84 về Lăng của Người tại Ba Đình lịch sử. Lúc này Khu căn cứ K84 trở thành căn cứ dự phòng cho Lăng Bác.

Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã in dấu khắp năm châu bốn biển, ở đâu Người cũng hiện thân của sự hoà đồng giữa con người với thiên nhiên. Bác ở Khu căn cứ K9 cũng vậy, ngay khi xây dựng ngôi nhà, làm đường sá, Người đã yêu cầu giữ lại tất cả các cây trồng lấy gỗ. Các ngôi nhà, đường sá đều được làm trên những khoảng đất trống không có cây trồng. Bác còn tạo những mảnh vườn nhỏ để trồng các loại cây nhãn, quế, vải, bưởi, trồng rau xanh và trồng hoa. Hai loại cây được trồng ở những nơi thường xuyên Người có thể nhìn thấy được đó là cây vú sữa của miền Nam thân yêu và cây hoa râm bụt của quê hương. Cây vú sữa được trồng ngay trước cửa sổ bàn làm việc; cây hoa dâm bụt trồng ở con đường bậc thang ngày ngày Bác vẫn đi dạo rèn luyện sức khoẻ.

Có thể nói, với tư cách là chủ thể, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo, điểm tô cho thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ. Bởi thế cho đến hôm nay các công trình đều được ẩn mình trong một không gian xanh của những tán rừng nguyên sinh. Tất cả những gì của thiên nhiên vẫn còn nguyên vẹn. Những con đường sỏi, những bậc đá trên đường dẫn xuống sông, hòn non bộ vẫn được lưu giữ như thuở nào. Bởi lẽ, bảo tồn nguyên vẹn di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 chính là bảo tồn một không gian thiêng liêng, một không gian thể hiện tư tưởng, đạo đức tác phong của Người. Đã qua một thời gian dài trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhưng tất cả cảnh quan, kiến trúc, các di vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Từ những vườn cây tự tay Người trồng tỉa đến phòng họp của Bộ Chính trị ở ngôi nhà hai tầng, phòng ở của Bác Hồ, phòng nghỉ của khách, nơi làm việc của các đồng chí bảo vệ, cơ quan văn phòng…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, lương tâm của thời đại. Chính vì vậy, những địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành di tích văn hoá, lịch sử vô giá, được các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, thành kính thăm viếng. Khu Di tích K9 là một trong số trên 600 địa điểm như vậy trong cả nước.

Đầu năm 1995, thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII), sau khi báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức tổ chức đón tiếp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương trong cả nước đến dâng hương tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị và tham quan Khu di tích. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi lên tham Khu di tích đã trồng cây lưu niệm. Chỉ tính từ năm 1999 đến nay, từ chỗ có gần 300 đoàn đến Khu di tích trong một năm; năm 2010 đã có 4.293 đoàn với hơn 120 nghìn lượt người. Đến đây ai cũng xúc động trước những hiện vật, những công trình liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Bác, khi người còn sống và lúc đã đi xa.

Trong số các Khu di tích, điểm lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước, Khu Di tích K9 có một giá trị đặc biệt về ý nghĩa lịch sử, văn hoá đó là nơi Bác Hồ và các đồng chí thân thiết của Người đã làm việc và nghỉ ngơi; nơi thể hiện tình cảm cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bầu bạn quốc tế; nơi bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt; nơi thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu và cũng là một căn cứ dự phòng của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử – văn hoá của thời đại Hồ Chí Minh. Địa danh Đá Chông nằm ở nơi bắt nguồn, nơi tiếp nối của mạch nguồn lịch sử – văn hoá, bắt đầu từ thời Hùng Vương. Đứng trên núi tổ Ba Vì ta có thể thấy Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền trung du đất tổ Vua Hùng, phía sau là đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Trên vùng đất địa linh nhân kiệt này có biết bao huyền thoại, tồn tại rất nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử – văn hoá. Chắc chắn vùng đất này chứa đựng những trầm tích lịch sử – văn hoá đặc biệt, mà một linh cảm đặc biệt mà Bác đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của mình. Khu Di tích K9, thể hiện dấu ấn của một con người có đạo đức, phong cách sống giản dị, hiện thân của nhà văn hoá Hồ Chí Minh với tư tưởng “con người sống hoà hợp với thiên nhiên”.

Di sản của Người để lại nơi đây chính là đạo đức, tác phong sống cao đẹp, giản dị, cùng một cảnh quan thiên nhiên đã được Người chăm sóc và gìn giữ. Vì thế chúng ta cần phải giữ gìn, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Khu di tích lịch sử này để góp phần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; giáo dục truyền thống cách mạng, tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau để chúng ta vững vàng, có niềm tin thực hiện thắng lợi mong muốn của Bác lúc sinh thời là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh./.

Thượng tá Nguyễn Thanh Huống
Chính uỷ Đoàn 285 Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Ngày 1-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

https://i0.wp.com/www.bqllang.gov.vn/imagesnews/1.7.jpgNgày 1-7-1924, tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, tại phiên họp thứ 22, Nguyễn Ái Quốc lại đăng đàn thẳng thắn phê bình các đảng của các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách tích cực. Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lê-nin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lê-nin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Ngày 1-7-1942, Báo Việt Nam Độc lập, xuất bản tại Chiến khu Cao Bằng, đăng một bài thơ ngụ ngôn của Bác với nhan đề “Con cáo và tổ ong”. Sau khi kể lại việc đàn ong đã đoàn kết chống trả cáo để bảo vệ tổ của mình, Bác kết luận:

“Bây giờ ta thử so bì
Ong còn đoàn kết huống chi là người
Nhật Tây áp bức giống nòi
Ta nên đoàn kết để đòi tự do”

Ngày 1-7-1946, tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp nhiều Việt kiều đến thăm. Họa sĩ Vũ Cao Đàm xin vẽ và nặn tượng Bác. Cùng ngày, nhiều nhà văn, trí thức tiến bộ Pháp đến chào Bác như Louis Aragon, Jean Richard Bloch, Pierre Emmanuel…

Ngày 1-7-1947, Bác viết thư gửi một số nhân sĩ họ Đinh ở Hòa Bình đã vận động đồng bào Mường ở địa phương tham gia kháng chiến.

Cùng ngày, Bác viết thư động viên nhà thơ Huyền Kiêu đã viết bản trường ca “Hồ Chí Minh – Tinh hoa dân tộc”: “…Tôi mong chú và anh chị em văn nghệ sĩ trong Hội Văn hóa cứu quốc đi sâu hơn nữa vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sáng tác được nhiều tác phẩm phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của nhân dân ta”.

Ngày 1-7-1954, viết trên Báo Nhân Dân, trong bài “Những việc vô lý”, Bác bình luận về những bài viết trên báo chí Pháp đề cập tới tội ác của quân viễn chinh Pháp để đi đến nhận định, với nước Pháp và binh sĩ Pháp, “cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa… Nó đã đưa thực dân Pháp đến Điện Biên Phủ và sẽ đưa chúng đến nhiều Điện Biên Phủ khác nữa”.

Ngày 1-7-1958, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc”, trong lời kết Bác lưu ý: “Chúng ta phải học kinh nghiệm quý báu của các nước anh em. Cố nhiên phải vận dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta, chứ không nên học một cách máy móc”.

Ngày 1-7-1960, nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ và các cơ quan dân chính Đảng Trung ương, Bác vạch rõ: “Tuy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã xong, nhưng chúng ta còn phải tiếp tục kháng chiến chống một thứ giặc khác, đó là giặc nghèo nàn, lạc hậu… Cho nên đảng viên ta cũng phải có thêm tinh thần như thanh niên “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Đoàn Dũng sĩ Quân Giải phóng miền Nam vinh dự được đến thăm, chúc thọ Bác Hồ (5/1969) Ảnh: TL

Ngày 7-7-1946, tại Paris, Bác tiếp tục gặp gỡ nhiều bà con Việt kiều, tiếp và mời cơm gia đình tướng Raoul Salan, đồng thời dự những hình thức lễ nghi và hội pháo hoa tại cung điện Versailles để chào mừng khách quý từ Việt Nam.

Tháng 7-1952, nói chuyện tại Hội nghị Chiến tranh du kích Bắc bộ, Bác phân tích: “Cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. “Trường” là “dài”, tức là đánh bao giờ địch bại, địch cút, thế mới là “trường”…Chớ có vội vàng muốn đánh ngay thắng ngay, thế là chủ quan. Trường kỳ thì phải gian khổ nhưng nhất định thắng lợi…Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Sau khi phân tích những khuyết điểm cần phải sửa chữa, Bác nói đến những công việc phải làm: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thời bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”.

Ngày 7-7-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Công giáo Pháp chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”, trong đó Bác bình luận về việc nhiều giáo dân, giáo chức và tờ báo lớn của Thiên Chúa giáo ở Pháp lên tiếng chống chiến tranh, kêu gọi đình chiến, để từ đó đưa ra lời kêu gọi: “Trước thái độ đúng đắn của những người Công giáo Pháp, thì những người Công giáo Việt Nam ai lầm đường theo giặc, phản nước, phản Chúa, cần phải mau mau hối cải, mau mau quay về với chính nghĩa, với Tổ quốc yêu mến của chúng ta”.

Ngày 7-7-1958, Bác tham dự Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II và biểu dương: “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng…Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý… không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

Ngày 7-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự phiên họp khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II. Tại kỳ họp này, Bác được tái tín nhiệm đảm nhận cương vị Chủ tịch nước./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những bài nói, bài viết của Bác Hồ dành cho thương binh, liệt sỹ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh. Ảnh Internet

Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho đất nước của nhân dân ta có biết bao nhiêu chiến sỹ cộng sản, quần chúng cách mạng, yêu nước đã ngã xuống hy sinh nơi chiến trường khốc liệt để xây nên giang sơn gấm vóc hôm nay, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sỹ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Chiến tranh kết thúc, trong số những người con trở về từ trận tuyến cũng có không ít người đã để lại một phần máu thịt của mình, các anh trở về với những thương tật trên cơ thể vì lý tưởng cách mạng cao đẹp.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sỹ là những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn luôn dành thời gian để quan tâm, thăm hỏi, động viên các đồng chí thương binh, liệt sỹ cùng gia đình họ. Những tình cảm thiêng liêng Bác dành cho thương binh, liệt sỹ được thể hiện trong các bài nói, bài viết của Bác dưới đây:

1. Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” ngày 27-7-1947, Bác viết:

“Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe đọa; của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu.

Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người anh hùng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sỹ bị thương.

Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

… Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.

2. Trong thư gửi anh em thương binh và bệnh binh tháng 7-1948, Bác viết:

“Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt, kháng chiến được hoàn toàn thành công.

Chắc các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn nhớ đến các đồng chí”.

3. Trong thư gửi cho đồng bào chiến sỹ Nam Bộ, Nam Trung Bộ ngày 23- 9- 1949, Người viết:

“Hôm nay, cuộc kháng chiến oanh liệt ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vừa đúng hai năm. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ, và nhân dân toàn quốc nghiêng mình trước linh hồn các chiến sỹ và đồng bào đã hy sinh vì Tổ quốc. Tôi gửi lời an ủi tới những chiến sỹ và đồng bào bị thương, bị địch giam cầm hoặc đang bị khổ sở nơi địch chiếm đóng…”

4. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh về phát động phong trào đón thương binh về làng tháng 7-1951, Người cũng nhắc lại:

“Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ, anh em không đòi hỏi gì cả.

… Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?

… Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian…

… Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.

5. Trong thư gửi phụ nữ nhân ngày 8-3-1952, Bác viết:

“… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc …

… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ, cùng vợ con của liệt sỹ.

… Các bà mẹ chiến sỹ và các chị em đã giúp thương binh, đã hòa lẫn lòng yêu thương không bờ bến, mà giúp chiến sỹ và chăm sóc thương binh như con em ruột thịt của mình”.

6. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh ngày 27-7-1952, Người nhắc nhở:

“Phải coi việc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ là nghĩa vụ chứ không phải là việc làm phúc…

… Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

– Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

– Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

– Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất …

– Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được”.

7. Diễn từ trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ ở Ba Đình – Hà Nội ngày 31-12-1954:

“… Các liệt sỹ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sỹ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước.

Các liệt sỹ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sỹ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước.

Máu nóng của các liệt sỹ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ.
Tiếng thơm của các liệt sỹ muôn đời lưu truyền sử xanh.

Một nén hương thanh.
Vài lời an ủi.
Anh linh của các liệt sỹ bất diệt!
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm”.

8. Trong buổi đón giao thừa ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội năm 1956, Bác nói:

“Các chú tàn nhưng không phế”.

9. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh ngày 27-7-1956, Bác Hồ viết:

“… Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

Bác Hồ viếng Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội. Ảnh Internet

10. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam tháng 6-1957, Bác viết:

“… Các chú là những chiến sỹ đã được quân đội nhân dân rèn luyện về đạo đức và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng là: Giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa anh em thương bệnh binh với nhau, giữa thương, bệnh binh với cán bộ và nhân dân giúp việc ở Trại, giữa thương, bệnh binh trong Trại với đồng bào chung quanh”.

11. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ ngày 27-7-1959, Bác Hồ cũng đã căn dặn:

“… Trong năm qua, các gia đình liệt sỹ và anh em thương binh, bệnh binh đã đóng góp khá nhiều vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Nhiều gia đình liệt sỹ đã hăng hái tham gia Tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp và đã đạt được thành tích khá trong việc sản xuất và tiết kiệm. Tôi chúc các gia đình ấy trở thành những gia đình cách mạng gương mẫu …”.

12. Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), đoạn nói về thương binh liệt sỹ, Bác Hồ đã nói như sau:

“… Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sỹ của Đảng ta, của dân ta …

… Máu đào của các liệt sỹ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sỹ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ chuyển lại cho chúng ta…”.

13. Trong Di chúc thiêng liêng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác Lao động – Thương binh và Xã hội:

“Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, than niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sỹ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

(Bản viết tháng 5-1968, Bộ Chính trị khóa VI công bố ngày 19-8-1989).

Đã 64 năm trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn “Ngày thương binh”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn đang nỗ lực thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, gắng sức đền ơn, đáp nghĩa những người có công với nước. Các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống “uống nước nhớ nguồn” – truyền thống tốt đẹp đã có từ hàng ngàn năm nay của dân tộc Việt Nam, tiếp thêm ngọn lửa của tình đoàn kết và lòng yêu nước trong các thế hệ con Lạc cháu Hồng. Những câu nói, bài viết của Bác đã và sẽ mãi mãi là phương châm hành động, lẽ sống của thương binh, gia đình liệt sỹ, định hướng cho các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” của nhân dân ta./.

Thu Hiền (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

“Bác sống như trời đất của ta/ Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.” (Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 161-162.).

Đó là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo nước ngoài, đầu năm 1946, ở thời điểm nước ta mới giành được độc lập, đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thù trong, giặc ngoài, cùng những khó khăn chồng chất về kinh tế tài chính kiệt quệ… Gửi thông điệp này tới các nhà báo, chính là Hồ Chí Minh muốn tuyên bố với quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu của cả đời Người là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, không màng tới danh lợi. Lời tuyên bố trên của Bác đã trở thành khát vọng của cả dân tộc Việt Nam và đã từng bước được thực hiện. Còn phần sau của lời tuyên bố, là ước nguyện của riêng Người, một mong muốn hết sức bình dị, tự nhiên, đời thường, nhưng đã tạo nên một nét văn hoá Hồ Chí Minh, chính là điều chúng tôi muốn nhắc đến trong bài viết này.

1.Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến sức lực và trí tuệ để thực hiện mong muốn tột bậc cho Tổ quốc, nhân dân và nhân loại. Còn ước nguyện cho riêng mình chưa được thực hiện. Người không thể:

Thảnh thơi vui thú thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđ d, t.11, tr.245)

Tuy nhiên, trong những điều kiện và hoàn cảnh cho phép, Người vẫn tìm và tạo được cho mình một không gian nho nhỏ để tận hưởng cuộc sống hài hòa với thiên nhiên, hưởng thụ những giá trị cuộc sống do thiên nhiên ban tặng. Đồng thời, vì sự phát triển chung của đất nước, Người cũng sớm đưa ra những chủ trương bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên… Cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có hai người Bạn Lớn, đó là Con người và Thiên nhiên. Yêu thương quý trọng con người, đồng thời rất yêu quý thiên nhiên. Đó cũng chính là cội nguồn của tình yêu Tổ quốc. Triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, giản dị, yêu lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giá trị vĩnh hằng. Chúng ta có thể hiểu được điều này qua những di sản mà Người để lại trên hành trình tìm đường cứu nước, trong những năm kháng chiến và qua những câu chuyện kể về cuộc sống đời thường của Bác…

Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, khi dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã để lại nhiều dấu ấn ở Phan Thiết, trong đó có cây khế anh chăm sóc từ 100 năm trước, hiện nay vẫn tốt tươi. Khi hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan trong những năm 1928, 1929, tại các địa điểm có nhiều Việt kiều như Phì Chịt, Uđon Thani, Sacon Nakhon, bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom còn để lại nhiều dấu ấn của Nguyễn Ái Quốc. Tháng 1 năm 2004, Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó trung tâm hoạt động là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc đã được xây dựng lại. Tham quan địa điểm di tích này, chúng ta sẽ bắt gặp cây dừa, cây khế Bác trồng từ 80 năm về trước.

Trở về nước, hoạt động ở vùng biên giới Việt – Trung, hay ở chiến khu Việt Bắc, khi sống ở thành phố, hay ở vùng rừng núi, Bác vẫn duy trì một cuộc sống, sinh hoạt, làm việc gần gũi với thiên nhiên. Ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa đông Người vẫn tắm sông. Ở vùng núi, Người thích đi bộ, tắm suối. Do yêu cầu của công việc kháng chiến, một ngày Người đi bộ 40, 50 cây số là thường, và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, ở rừng, Bác chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể nhiều. Ngoài giờ làm việc, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cùng đồng bào.

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác chỉ thị cho các đồng chí giúp việc chọn địa điểm làm nhà cho Người phải đảm bảo các yếu tố sau:

Trên có núi
Dưới có sông
Có đất ta trồng
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang tổng bộ
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân, không gần đường.”

Bác còn nói làm lán chỉ được dựa vào cây, không được chặt cây. Đoàn công tác của Bác đi đến đâu thì lại dựng lán ở, cuốc đất trồng rau, trồng bầu, bí. Nhiều khi rau chưa kịp thu hoạch thì đã phải di chuyển. Những lúc rảnh rỗi, Người cùng các chiến sĩ ra suối câu cá, bắt cua, bắt ốc để cải thiện bữa ăn vốn chỉ có rau rừng, nổi tiếng là rau tàu bay, tuy “ăn nhẹ cả người, nhưng lại ngửi thấy mùi xăng”, như Bác vẫn đùa. Dọc đường kháng chiến, Người qua nhiều miền quê của đất nước, từ đồng bằng, đến vùng núi cao, rừng rậm, suối sâu… càng đi càng thấy đất nước tươi đẹp. Những lúc dừng chân nghỉ ở dọc đường, gối đầu trên ba lô, Người lại mơ về một ngày không xa, đất nước sạch bóng quân xâm lược, để toàn dân cùng chung tay xây dựng đất nước đẹp giàu.

Trở về Thủ đô Hà Nội, ở khu Phủ Chủ tịch, Người vẫn sống như ở chiến khu, ở trong nhà sàn quen thuộc, chứ không ở trong ngôi nhà Phủ Chủ tịch lộng lẫy cao sang. Cõi Bác xưa giờ đây là nơi tụ họp của hàng trăm loài cây, có đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, hồ nước lặng sôi tăm cá, bưởi cam, thơm cạnh cây dừa nghiêng nghiêng soi bóng nước; có hàng bụt mọc chân trong nước, cạnh rễ đa kiên trì. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nho nhỏ đó cũng luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao.

Yêu thiên nhiên là tình cảm vốn có của Bác. Nó không chỉ biểu lộ hàng ngày trong cuộc sống, trong lối sống, mà khi có dịp đã biểu lộ thành thơ. Nhạy cảm và tinh tế, Bác đã để lại cho chúng ta nhiều bài thơ tức cảnh bằng chữ Hán thấm đẫm tình yêu, tri kỷ với thiên nhiên, những bài thơ không chỉ có hình ảnh “trăng”, “sông, suối”, “chim rừng”, “hoa núi”, “nghiên mực”, mà có cả những sản vật của thiên nhiên “cháo bẹ”, “rau măng”, “thịt rừng quay”, “ngô nếp nướng”. Tất cả phản ánh hiện thực cuộc sống ở chiến khu Việt Bắc.

Khi mới về nước, Bác ở Pác Bó, suối Lênin, nơi đầu nguồn cách mạng, chỉ với mấy câu thơ, đã miêu tả chân thực hoạt động cách mạng của Người, tràn đầy lạc quan, giữa núi rừng thiên nhiên. Bác đã vẽ nên cho chúng ta bức tranh thiên nhiên phong cảnh núi rừng miền Bắc: non xanh, nước biếc; cảnh vật yên bình thanh cao. Và đặc biệt thiên nhiên trong thơ Bác đã giao hoà với nhịp sống của người chiến sỹ cách mạng. Cháo bẹ, rau măng là những sản vật từ thiên nhiên đã cùng Bác sống trong những ngày gian khổ nhất:

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông trên dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tập thơ “Nhật ký trong tù”, được Bác sáng tác trong điều kiện lao tù khắc nghiệt, vậy mà có nhiều bài thơ vẫn tràn ngập hình ảnh của thiên nhiên, Người đã lấy cái hiền dịu của thiên nhiên mà đối kháng với ác nghiệt của nhà tù. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nhận xét: “Trong Nhật ký trong tù thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”. Thiên nhiên đẹp trong thơ Bác còn tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, tương lai tươi sáng, khát vọng tự do, có thể dẫn ra đây một số bài thơ tiêu biểu, mà chắc rằng có rất nhiều người đã thuộc, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường:

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ.
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
“Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta đừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc sống khắc khổ khó khăn. Bác phải di chuyển chỗ ở liên tục. Lo kháng chiến, đánh giặc, nhưng trước cảnh đẹp của thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc, tâm hồn thơ của Người lại rung động và những tuyệt tác thơ chữ Hán ra đời. Bài Lên núi, Bác làm ở Lũng Dẻ, Lam Sơn:

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.
Bức tranh thiên nhiên cảnh vật Việt Bắc:
“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”
Hay như bài Nguyên tiêu Bác làm năm 1948:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”

Bài Vô đề, Bác viết năm 1949, dường như công việc kháng chiến đã sang một giai đoạn mới, Bác có phần yên tâm hơn trước đà thắng lợi của quân dân ta, nên mới có hình ảnh đẹp hết sức dung dị:

“Đường non, khách tới hoa đầy
Rừng sâu, quân đến tung bay chim ngàn
Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người được ở cạnh để vẽ Bác trong thời gian ở Việt Bắc, nhận xét: Bác là một nhà nghệ thuật lớn, có một tâm hồn lớn về nghệ thuật mang đầy tính chất của nhà thơ Á Đông… trong cuộc sống Bác rất chú ý đến cái đẹp. Trong khi tìm chỗ làm nhà, ngoài việc đảm bảo an toàn, Bác còn chú ý tới vẻ đẹp thiên nhiên. Trên đường đi công tác, nếu chỗ nào có cảnh đẹp Bác thường dừng lại giây lát để thưởng thức. Có đêm hai Bác cháu đang nghe đài. Chợt Bác kéo hoạ sĩ trỏ ra khung cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm vừa nhô ra khỏi núi, toả sắc huyền ảo xuống cánh rừng xa xa. Bác nói: của chú đấy. Cái gì đẹp và thơ mộng thì Bác cũng cho là của nghệ sĩ. Nhưng hoạ sĩ Diệp Minh Châu thì cho rằng thật ra là của Bác. Bác đã tạo ra một sắc thái mới cho trời đất, núi sông, cây cỏ và cả dân tộc.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người có nhiều thời gian được sống và làm việc cạnh Bác thì lại rất hiểu về cuộc sống và tâm hồn nghệ sĩ của Người, ông liên tưởng đến hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Gió trăng chứa một thuyền đầy. Của kho vô tận biết ngay nào vơi” và nhận xét: “Hai câu thơ từ hàng trăm năm trước rất phù hợp với khung cảnh sống và lối sống của Hồ Chí Minh, thể hiện nguyện vọng và xu hướng của cuộc sống văn minh chân chính” (Trích Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – Tinh hoa khí phách của dân tộc, nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr. 210)

Trong xã hội ngày nay, cuộc sống này dường như khác biệt. Nhịp sống đô thị, với những thành phố khổng lồ, nhà cao chọc trời, đầy tiện nghi nhân tạo, nhưng tiềm ẩn những nỗi bất an cho con người như môi trường ô nhiễm, phá hoại thiên nhiên, an toàn giao thông không đảm bảo. Xã hội “văn minh” như vậy lại tước đoạt đi của con người sự yên bình, thanh thản. Vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp, đã bao năm che chở bộ đội, vây hãm quân thù, giờ đây đang bị chặt phá bừa bãi, để xảy ra bao hệ lụy tiếp theo như lũ lụt, sạt lở. Tất cả đều do con người không biết trân trọng, yêu quý thiên nhiên, coi thiên nhiên là bạn… Chúng ta hãy trở về với những lời căn dặn của Bác. Học tập tấm gương yêu thiên nhiên của Bác.

2. “Mây gió trăng hoa tuyết núi sông” là thiên tạo, không dành cho riêng ai. Ai có tâm hồn tha hồ mà rung động, tận hưởng. Bác của chúng ta không muốn riêng mình hưởng lộc, mà muốn tạo ra một thiên nhiên giàu đẹp cho cả nhân dân Việt Nam được chung hưởng. Cả cuộc đời Bác là một cuộc hành trình không biết mỏi vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Từ ngôi nhà tranh ở Kim Liên, Nam Đàn ra đi hơn 30 năm, Bác mới trở về Tổ quốc, thêm 15 năm nữa mới về đến Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Con đường Người đã đi xuyên qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua hơn 30 quốc gia, gặp gỡ bao nhiêu người, là tiếp xúc bấy nhiêu vùng đất mới. Về nước lãnh đạo cách mạng, khắp nẻo đường kháng chiến in dấu chân Người. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, làm việc và sống ở Thủ đô Hà Nội. Cuộc sống của Bác rất mộc mạc đơn sơ. Bữa ăn của Người cũng giản dị, từ những sản vật thiên nhiên như dưa, cà, mắm, ớt. Và cũng với cơm nắm, muối vừng, cùng đoàn tuỳ tùng gọn nhẹ, Người đã có gần 700 cuộc đi thăm các địa phương, nhà máy, công trường… Trong những cuộc đi ấy, được gặp gỡ tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, gần gũi với thiên nhiên, dường như tình yêu đất nước, con người trong Bác lại được nhân lên gấp bội. Người luôn nghĩ cho dân, cho nước. Thăm mỗi địa phương, Bác rất quan tâm đến đời sống của nhân dân. Từ thực tế của mỗi địa phương, Bác chỉ đạo cho các đồng chí lãnh đạo chú ý đến phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Người nói:

“Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt,
Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu.
Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,
Các nước anh em giúp đỡ nhiều”

(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543)

Người nhắc các địa phường cần có kế hoạch khai thác, sử dụng thiên nhiên để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. Thăm nước bạn, bắt gặp những cây xanh, bốn mùa không rụng lá, Bác lại nhớ tiếng chổi tre của người công nhân quét rác đêm khuya. Người đã nghĩ nhắc xin giống cây này về trồng ở Việt Nam để có mát cho mọi người, và để người lao công đỡ phải quét rác. Thương người nông dân vất vả sớm hôm, một nắng hai sương mà vẫn đói khổ không đủ ăn, trong những lần đi thăm Trung Quốc, Người đã nghiên cứu nền nông nghiệp của Trung Quốc và viết nhiều bài báo về những kinh nghiệm cấy và chăm sóc giống lúa nước của nông dân Trung Quốc để bà con nông dân ta học tập.

Một lão nông ở hợp tác xã Đại Xuân, xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương là một trong 27 người được Bác chọn cử đi học làm lúa xuân với nông dân Trung Quốc. Đại Xuân cũng là nơi áp dụng cấy lúa xuân đầu tiên ở miền Bắc nước ta, mở ra hướng mới cho sản xuất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu thời vụ, tránh được mùa mưa bão. Từ kết quả cấy lúa xuân ở Đại Xuân đã phát triển sang các địa phương khác ở miền Bắc. Đời sống nông dân được nâng cao. ở Đại Xuân bà con vẫn gọi vụ lúa xuân là vụ lúa Bác Hồ.

Ngắm nhìn những tấm ảnh Bác Hồ đạp guồng chống úng, cầm gầu tát nước chống hạn với dân, lội ruộng cấy lúa, thăm bà con nông dân trong mùa gặt, tay Người nâng bông lúa xem từng hạt mẩy, hạt lép, lúc này Bác như một lão nông thực sự rất gần gũi với cuộc sống đời thường của bà con nông dân.

Những năm cuối đời, tại ngôi nhà sàn đơn sơ, Bác đã viết những dòng Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân. Và những dòng Bác viết cho riêng mình, lại làm cho chúng ta xúc động vô cùng. Người đề nghị thi hài của mình được hoả táng, tro đem chôn trên đồi, rồi xây nhà trồng cây để nhân dân đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Dẫu không còn ở trên đời, Người vẫn luôn luôn nghĩ đến nhân dân, thuận lợi cho người sống, đảm bảo vệ sinh môi trường, và để khi trở về cát bụi, Người vẫn được sống cùng thiên nhiên.

“Bác sống như trời đất của ta, yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”. Không chỉ yêu thương, mà tình yêu đã được thể hiện bằng hành động, ngay từ rất sớm Bác đã có những chủ trương về bảo vệ môi trường. Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc Bác vẫn dành sự quan tâm chăm lo cho sự nghiệp “trồng cây” và “trồng người”. Đó là tầm nhìn của một vĩ nhân, với tầm nhìn xa trông rộng về lợi ích của việc trồng cây, ngoài việc lấy gỗ, ăn quả, cây còn có tác dụng chắn gió, chống xói mòn, bảo vệ cuộc sống. Mặt khác đây là một công việc từ cụ già đến các cháu thiếu nhi đều có thể tham gia, từ đó mà Người phát động thành phong trào lớn trong nhân dân. Bên cạnh những bài viết về Tết trồng cây giúp mọi người nhận biết về việc làm “tốn kém ít mà lợi ích nhiều” cả về kinh tế lẫn quốc phòng; Người còn nêu tấm gương mẫu mực cho phong trào trồng cây mà Người khởi xướng từ năm 1960.

Trồng cây làm kỷ niệm là một nét đẹp văn hoá, một việc làm lưu lại kỷ niệm lâu bền. Đi thăm các địa phương, Bác đã trồng cây kỷ niệm. Thăm các nước bạn Bác cũng trồng cây. Những cây xanh Bác Hồ trồng ở Việt Nam, hay trên đất bạn sẽ trường tồn với thời gian và còn mãi những kỷ niệm để nhớ về Người – một nét danh nhân của thời đại.

3. Tổ tiên, cha ông ta đã tốn biết bao xương máu để khai khẩn, giữ gìn bờ cõi. Chúng ta được thừa hưởng một đất nước Việt Nam tươi đẹp, liền một dải, từ mục Nam quan đến mũi Cà Mau. Ngày nay, chúng ta có điều kiện thuận lợi: thiên thời, địa lợi và nhân hoà để xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân ta. Tuy nhiên, chúng ta phải biết khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên môi trường để xây dựng đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, nhưng không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, xâm hại môi trường sống. Vấn đề sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách hợp lý không chỉ là mối bận tâm của các lãnh đạo mà những người dân bình thường cũng cần quan tâm. Tốc độ đô thị hoá như hôm nay lại càng ngăn trở con người được tiếp cận và gần gũi với thiên nhiên. Do vậy phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên như thế nào để nguồn tài nguyên không bị cạn kiệt mà ngày càng giàu và đa dạng hơn.

Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Biết yêu thiên nhiên, biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu là một biểu hiện của sự tiến bộ văn hoá, của trạng thái quân bình trong tâm hồn” (Trích Giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu, Nxb. Giáo dục 1996, tr.458). Cuộc sống, chiến đấu của Bác luôn gắn bó với thiên nhiên. Người luôn coi thiên nhiên là bạn, luôn quan tâm, chăm lo và đề ra chiến lược bảo vệ người bạn thiên nhiên. Thế kỷ XXI, con người càng có xu hướng tiến gần hơn đến thiên nhiên, mong muốn sống chung với thiên nhiên với một xã hội ngày càng giàu mạnh và công bằng hơn, xanh sạch đẹp hơn, văn minh hơn. Càng thấy tầm nhìn xuyên thế kỷ của một vĩ nhân.

Một nét văn hóa Hồ Chí Minh – văn hóa ứng xử với thiên nhiên, cảnh vật, cỏ cây quanh ta mà chúng tôi phác hoạ vài nét trên đây, chính là một trong những giá trị văn hoá mà chúng ta cần khai thác và phát huy.

Theo Phạm Thị Lai, Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn