Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Từ Cảng Sài Gòn Bác đi tìm hình của nước

(Dân trí) – Bến cảng Sài Gòn (nay là Bến Nhà Rồng) một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Nhà Rồng là một trong những công trình kiến trúc được thực dân Pháp xây dựng khá sớm ở Sài Gòn nhằm phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, có tên là cảng Sài Gòn. Tòa nhà này có kiểu dáng mô phỏng kiển trúc Tây Âu thế XIX nhưng trên nóc lại đắp những con rồng theo kiểu phương Đông. Vì thế người Sài Gòn sau này gọi tòa nhà này là Nhà Rồng và bến cảng nơi có tòa nhà là Bến Nhà Rồng.

Cảng Sài Gòn xưa, nơi người thanh niên tên Ba bắt đầu cuộc hành trình lịch sử trong vai một người đầu bếp (ảnh tư liệu)

Nhà Rồng và Bến Nhà Rồng ngày nay là một di tích lịch sử quý giá gắn với tình cảm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc.

Trong bài báo “Đến thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc” đăng trên tạp chí Ngọn lửa đỏ Liên Xô số ra ngày 23/12/1923, nhà báo Ôman-đen-sơ-tan đã ghi lại lời kể của Bác Hồ: “Vào tuổi 13, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Đây chính là những suy nghĩ ban đầu dẫn đến chuyến ra đi lịch sử vào giữa năm 1911 (5/6/1911) của anh Ba phụ bếp, sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào đầu năm đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời trường Quốc học Huế vào Nam dạy học ở Trường tư thục Dục Thanh (Phan Thiết) do một nhóm văn thân yêu nước sáng lập. Đây là nơi người thanh niên giàu nghị lực lưu lại và dạy học một thời gian ngắn trước khi vào Sài Gòn. Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành càng thấy rõ, dù ở Nam kỳ thuộc địa hay Trung kỳ bảo hộ, Bắc kỳ thuộc địa – nửa bảo hộ, ở đâu nhân dân cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Người lên đường sang Âu, Tây để xem nhân dân các nước ấy làm thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Ba, xin vào làm phụ bếp cho một tàu buôn có tên là Đô Đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vi-lơ (Amiral Latouche Trêville) thuộc hãng vận tải Hợp Nhất của Pháp. Con tàu ngẫu nhiên được gắn tên mình vào sự nghiệp của người anh hùng giải phóng dân tộc – danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh. Bến cảng Sài Gòn khi ấy trở thành nơi xuất phát của cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, mà nói theo cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên là cuộc hành trình “Đi tìm hình của nước”.

… và Bến Nhà Rồng nay (Ảnh: Lao Động)

Rồi từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, từ sự tìm thấy “con đường giải phóng” đến cuộc đấu tranh thắng lợi để giải phóng dân tộc và giai cấp, bẻ gãy gông xiềng thực dân – phong kiến, giành độc lập, tự do vẫn còn là chặng đường dài đầy gian nan, thử thách, nhưng dưới sự dìu dắt lãnh đạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đoàn kết một lòng, không quản ngại hy sinh, liên tiếp giành thắng lợi vẻ vang, mở ra những trang sử huy hoàng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam ta.

Cảng Sài Gòn một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Phạm Thành Nghi (sưu tầm)
dantri.com.vn

Hồ Chí Minh – Rạng ngời cốt cách vĩ nhân trong ánh sáng đời thường

Ảnh tư liệu

“Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Muôn vàn tình thương yêu

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tư tưởng thân dân, trọng dân, coi nguyện vọng của nhân dân, hạnh phúc của nhân dân là những điều tối thượng.

Chính vì vậy, Người đã nguyện dành cả cuộc đời mình để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”([i]).

Công cuộc giành độc lập, thống nhất của Tổ quốc không thể tách rời với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh tâm niệm: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”([ii]). Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người đã nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành.

Để làm được điều đó, Người đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Thương nhân dân đời sống khó khăn, Người nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Đặc biệt, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”([iii]).

Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù uy tín rất cao, có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng rất lớn nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người tự cho mình là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đó là tư cách rất đúng đắn của vị lãnh tụ Đảng cầm quyền trong giai đoạn nhân dân giữ vai trò làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới.

Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Trái tim, khối óc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nghĩ về việc nước, về phong trào cách mạng ở năm châu bốn bể mà còn hằng lo cả đến bếp ăn của bộ đội, nhà tắm cho nông dân, nơi an dưỡng của người già, trại trẻ cho các cháu nhỏ… Biết bao câu chuyện thường ngày đã nói lên tình thương yêu con người, sự quan tâm rất cặn kẽ, tỉ mỉ của Người đối với đồng bào, đồng chí và chiến sĩ.

Làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Giữa cánh đồng khô nóng Ấn Độ, những giọt nước mắt cảm thông của Người đã rơi trên vai ông lão nông dân áo quần rách nát. Đưa anh hùng Trần Thị Lý đi thăm vườn Phủ Chủ tịch, Bác không đưa chị đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân chị dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng vết thương trên đầu. Vào các dịp lễ Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam. Bác bảo: “Các cháu xa nhà, xa quê. Mong người thân lắm. Để Bác đến thăm cho các cháu đỡ buồn“.

Ngay cả với những người lầm đường, lạc lối hay phạm sai lầm, lòng thương yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng thành lòng khoan dung. Người nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ”([iv]).

Người kêu gọi nhân dân “khoan hồng đại độ” đối với những ai tham gia ngụy quân, ngụy quyền và căn dặn cán bộ nên “đối đãi nhân đạo với các tù binh” để “cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước“([v]). Trong chiến dịch Biên giới 1950, khi đi thăm trại tù binh, Bác đóng giả một cụ già nông dân và Người cũng lại cởi tấm áo ngoài của mình cho một đại úy thầy thuốc…

Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt những năm dài kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Bác yêu cầu chỗ ở cho Bác phải là nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động.

Cách chọn địa điểm dựng lán trại của Bác được anh em ghi thành bài văn vần như sau: “Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng – Có bãi ta vui – Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương – Nhà thoáng gió, kín mái – Gần dân không gần đường”. Bác giao hẹn: lán cho Bác có chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy được các vật dùng để ở vách, lán không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Làm lán không cầu kỳ mà giản dị, bằng vật liệu sẵn có xung quanh như tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn: một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, nhưng Bác không về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì Bác bảo, Bác chứ không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Bác đã từng ở trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Khác hẳn với công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế như Phủ Chủ tịch và các ngôi nhà xây dựng bằng những nguyên liệu bền vững như sắt, thép, xi măng,… trong khu vực, ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ bình thường, được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc: nhà hai tầng, xung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng.

Nét kiến trúc thanh nhã, trang trí không cầu kỳ này khiến công trình trở thành một kiến trúc độc đáo, mang sắc thái riêng nhưng rất hài hoà với thiên nhiên và các công trình kiến trúc xung quanh. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác: Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày.

Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước rộng hơn 3.000m2 trước nhà sàn, Bác nuôi cá vì theo Người nuôi cá ở đây vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc khi Người cho cá ăn. Nhà sàn của Bác hoà hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng của Bác cũng thật giản dị. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe ôtô, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần. Rồi bộ bà ba nâu, bộ quần áo kaki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Bác thích món cá kho, bát canh và quả cà xứ Nghệ. Bác thích ăn những con cá Bác tự nuôi, những ngọn rau Bác tự trồng và còn chia những thứ đó cho các đồng chí sống gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng, Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối hay đi bên bờ ruộng như một cụ già nông thôn thực thụ. Bác còn bế em nhỏ hoặc ngồi bón cơm cho trẻ như bất kỳ một người bình thường nào ta gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng, lúng túng.

Là Chủ tịch nước nhưng trong nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, không nhờ vả hay ỷ lại cho người khác làm thay mình, việc nào không làm được Bác mới nhờ đến những anh em phục vụ. Tất cả những chi tiết đó, hình ảnh đó tự nói lên nhiều điều: một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, luôn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của một lãnh tụ mẫu mực.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe Pôbêđa do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không“.

Bác rất nghiêm khắc trong việc tự phê bình, Bác căn dặn cán bộ phải “tự phê bình cái sai của mình trong mỗi việc làm, mỗi trận đánh giống như rửa mặt hàng ngày cho sạch vết nhơ”([vi]).

Đồng chí giúp việc của Bác kể rằng, có lần Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác một cành san hô to, đẹp lắm, màu sắc trắng hồng như ngọc. Bác thích lắm dùng làm quà biếu người lãnh đạo một Đảng anh em. Mọi việc thu xếp xong. Cành san hô để ở nhà khách Phủ Chủ tịch, chờ Bác ra xem lần chót rồi bỏ vào hòm, ô tô đợi sẵn, chở ra sân bay, gửi đi. Lúc để ở nhà khách, anh em xúm lại xem. Thấy nó đẹp quá ai cũng trầm trồ. Ai cũng muốn nhìn và ai cũng muốn sờ một chút. Xô đẩy thế nào đó, một anh lỡ tay đánh rơi, vỡ làm đôi. Mọi người sợ quá, sợ đến mức không dám đứng đấy mà nhận lỗi của mình nữa.

Bác cũng bị bất ngờ, tưởng xong đâu đấy hết, thì đã vỡ rồi. Bị bất ngờ như thế nhưng một nét nhíu lông mày Bác cũng không có, một lời nói nặng càng không có nữa. Bác làm vui trước cho anh em. Bác biết là anh em sợ lắm, làm thế nào trấn tĩnh được tinh thần anh em: “Thôi, phận san hô nó mỏng manh, con san hô về đất rồi. Anh em đi đâu, gọi các chú ấy ra đây. Bây giờ Bác, cháu ta tính thế nào nhỉ, lại đây cùng nhau bàn xem gỡ cái chuyện này thế nào“. Cuối cùng phải lấy một bức ảnh to của Bác, Bác đề tặng và ký vào gửi biếu. Người lỡ tay đánh vỡ con san hô thấy Bác độ lượng như vậy, cảm động, giàn giụa nước mắt.

Nhưng mà câu chuyện chưa hết. Đến buổi tối hôm đó, làm việc với đồng chí phụ trách văn phòng xong, Bác bảo: “Hôm nay còn thừa thì giờ, bây giờ chú kể cho Bác nghe cành san hô ấy bị vỡ thế nào?“. Đồng chí này kể lại từ đầu. Bác phát hiện chi tiết này: người đánh vỡ là đồng chí lái xe. Bác bảo: “Thế này nguyên nhân không phải là lỡ tay, giá như là chú, phụ trách văn phòng, hay một chú nào khác có nhiệm vụ cầm cành san hô đặt vào hòm mà đánh vỡ thì đúng là lỡ tay. Đây không phải. Chú lái xe thì có nhiệm vụ gì sờ vào cành san hô. San hô đẹp thì để anh em nhìn ngắm, được rồi, muốn sờ tay vào nó cũng được, nhưng cứ từng người, việc gì phải xúm vào, rồi người xô đằng này, người đẩy đằng kia. Và không có tổ chức, không có nền nếp, xúm vào như thế cho nên mới đi đến chỗ có người lỡ tay ẩy nó rơi vỡ. Nguyên nhân ở trong tổ chức và nếp làm việc, không phải ở chỗ lỡ tay. Nói lỡ tay là nói qua loa cho xong. Nếu chú thấy đúng như thế, lần nào họp, anh em bàn lại chuyện này rút kinh nghiệm, sửa đổi đi. Bảo là lỡ tay, đến lần sau, có cái tặng phẩm đẹp lại xúm vào xem, lại xô, lại đẩy, lại rơi vỡ lần nữa, lại lỡ tay lần nữa“([vii]). Bác là như thế. Một sai sót nhỏ cũng không bỏ qua, rút kinh nghiệm để sửa chữa, nhưng vẫn không nói nặng một lời nào.

Sinh hoạt của Bác bình thường như­ cán bộ và nhân dân, chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng chân thành của Bác, tấm lòng của một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân.

Năm 1946, hồi Bác sang Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp, ở khách sạn, Bác không ngủ trên giường mà ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt lấy quần áo lót… Các đồng chí cùng đi cảm thấy kỳ lạ vì giữa một thủ đô hoa lệ, thành phố ánh sáng như Pari mà Bác cứ khăng khăng giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo gương Bác để tự kiềm mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống ở đây. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước mình còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì thói quen sống giản dị, khiêm tốn là thói quen tốt, cần rèn luyện để giữ nó.

Một nhà báo Australia viết rằng: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn. Cả cuộc đời Bác là tấm gương sáng về sự tận tụy, đức hy sinh vì nước, vì dân, không một chút riêng tư.

Hơn 40 năm đã trôi qua, mỗi một câu chuyện về Bác đều trở thành một bài học vô giá về nhân cách. Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn đang bay cao, tỏa sáng, để tạo dựng nên lớp lớp những chiến sĩ, những cán bộ, những con người của thế hệ Hồ Chí Minh mới trọn đời vì nước, vì dân, vì hòa bình, độc lập và sự tiến bộ trên thế giới. Đúng như lời Thủ tướng Ấn Độ I.Gandi đã từng ca ngợi: “Tên tuổi của Người sẽ trường tồn như nhân dân của Người. Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”([viii]).

Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

[i] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.240
[ii]Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.56
[iii] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.380
[iv] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.246
[v] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.28
[vi] Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb Chính trị quốc gia, t.2, tr.205
[vii] Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Sđd, t.2, tr.595
[viii]Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1970, t.1, tr.160

dvt.vn

Tầm vóc lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc của Tuyên ngôn độc lập

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại

dvt.vn

Bác Hồ trong thơ các nhà sư

Ảnh internet

Tôi dừng lại khá lâu trong phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem những bài thơ của sư bà viết về Bác.

GIAO HƯỞNG

Chùa Cần Linh dù tên chữ hàm nghĩa rất hay, rất đẹp, song người dân thành phố Vinh vẫn thích gọi là chùa Sư Nữ, bởi vì từ trước đến nay các nhà sư trụ trì đều là sư nữ.

Sinh thời, “quan đốc học” Nguyễn Tài Đại (1921- 2005) có lần bộc bạch với tôi: Năm 1945 chừng mới 20 tuổi, sư cô Thích Diệu Niệm đã về trụ trì chùa Cần Linh. Ngôi chùa vốn đẹp nổi tiếng, từ ngày có sư cô “sắc nước hương trời” về trụ trì, chùa càng rực rỡ giữa hữu tình sông nước trời mây, càng nổi tiếng trong tâm thức người đời. Rồi một đồn mười mười, đồn trăm, hầu như tháng nào anh Đại cũng rủ mấy bạn trai vào chùa vãng cảnh để “tiện thể” được ngắm dung nhan “hơn hẳn các mỹ nhân trong tranh ta lẫn tranh Tàu” của sư cô trụ trì, nhờ đó anh Đại biết sư Thích Diệu Niệm có tài làm thơ.

Mùa thu Bính Tý (1996) mấy chủ nhật liền tôi chủ định vãng cảnh chùa Sư Nữ. Trong dòng người đến chùa sáng chủ nhật ấy, tôi nêu nguyện vọng muốn được gặp sư bà Thích Diệu Niệm, người suốt đời gắn bó với ngôi chùa này. Một ni cô lẳng lặng đi vào trong, lát sau ni cô ấy trở ra chắp hai tay trước ngực:

– Sư bà Thích Diệu Niệm mời lữ khách vào tham quan nội thất.

Sáng ấy, sư bà Thích Diệu Niệm dẫn tôi đi xem các công trình kiến trúc của chùa. Chùa được dựng cuối thời Lê, có gần 100 pho tượng. Năm 1992, chùa được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia.

Sư bà vui vẻ cho tôi biết: Chắp tay chào nhau cung kính không phải là đặc trưng của riêng nhà Phật, từ xưa cách chào này đã rất thông dụng trong xã hội Việt Nam. Hình ảnh chắp tay thể hiện ý nghĩa hiệp chưởng- liên hoa thủ. “Hiệp chưởng” (hai bàn tay chụm lại) biểu trưng cho sự hòa hợp bình đẳng, hiệp sức chung lòng vì mục đích tốt đẹp cao cả. “Liên hoa thủ” (bàn tay hoa sen), chắp tay là biểu trưng của nụ búp sen, tuy chưa nở nhưng vẫn đủ đầy đặc trưng tốt đẹp của hoa sen – loài hoa biểu trưng nhiều ý nghĩa trong giáo lý đạo Phật. Chắp tay xã giao là “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”, hiểu nôm na là chúc mọi người đạo đức vẹn toàn, được vậy thì sẽ tiến tới thành Phật! Sau ngày người Pháp sang đô hộ nước ta, họ mang theo động tác bắt tay, kiểu chào của người phương Tây, dần người mình chạy theo mốt của người Tây mà đánh mất cái đặc trưng rất đẹp của tổ tiên mình!

Tôi dừng lại khá lâu trong gian phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem hết những bài thơ của sư bà viết về Bác và về tu hành. Những bài thơ được thể hiện trên giấy khổ lớn, có bài đã lồng vào khung lớn, có bài được sư bà dán trực tiếp lên tường của gian thờ. Dường như đoán biết vị khách lãng du tìm hiểu nội dung những bài thơ là có chủ địch, sư bà cho phép tôi chép vào sổ tay cả 9 bài thơ: Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam, Ơn Bác Hồ, Kính viếng bà Hoàng Thị Loan từ mẫu, Kính viếng hương hồn liệt sĩ, Mùa Xuân đến, Đệ tử, Hòa đàm, Khuyên tu, Không đề.

Sư bà Thích Diệu Niệm đã viên tịch hơn 10 năm rồi, như một nén tâm nhang kính dâng hương hồn bà, tôi xin lược trích giới thiệu 4 khổ thơ thứ 1,4,5,9 và 2 câu kết bài thơ Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam của sư bà khả kính:

BÁC HỒ LÀ BỒ TÁT GIÁNG VIỆT NAM

Có chính sách của Bác Hồ bảo đảm
Được tự do tín ngưỡng hợp lòng dân
Cả Việt Nam Phật giáo vững tinh thần
Tin tưởng Bác như mùa xuân hoa nở…

Lời Di chúc của Bác Hồ ghi tạc
Đoàn kết nhau gánh vác lấy non sông
Có tài năng và đạo đức chung lòng
Xây dựng nước nhà thành công vững chắc.

Công và của bỏ ra không ngần ngại
Quyết treo gương bác ái giữa toàn dần
Nghiên cứu trong đạo đức với tinh thần
Hồ Chủ tịch chí công – nhân độ nhất…

Bác đưa lại tự do và hạnh phúc
Phá xích xiềng áp bức, chống xâm lăng
Là vĩ nhân văn hóa vượt tài năng
Dựng lại nước phải chăng tài bậc Thánh
Nhìn ảnh Bác, cảm thấy người đạo hạnh
Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam.

Ngày 23/1/2010, tôi và một đồng nghiệp đến Ban Quản lý dự án tôn tạo, mở rộng Khu Di tích lịch sử – văn hóa Nam Đàn. Sau đó, chúng tôi cùng ông Nguyễn Vương Lộc, Phó giám đốc Sở VH-TT&DL Nghệ An, lên Khu Di tích Kim Liên dâng hương viếng Bác. Từ làng Chùa, Hoàng Trù quê ngoại, khi chúng tôi chuẩn bị lên xe sang làng Sen, Kim Liên quê nội, bỗng gặp một đám khách từ ngoài cổng đang tiến vào, người vận áo dài cà sa màu vàng dẫn đầu, tiếp sau là các vị tăng ni, phật tử vận áo dài màu nâu.

Người dẫn đường đưa đoàn khách từ Vinh lên cho hay: Đây là đoàn khách từ TP Hồ Chí Minh ra, là khách của cơ quan anh, người dẫn đầu vận áo dài cà sa màu vàng là Thượng tọa Thích Thiện Chiếu, phó Ban Từ thiện – xã hội trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Kỳ Quang 2, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Đoàn ra Vinh mấy ngày, đầu chiều đoàn sẽ bay vào TP Hồ Chí Minh. Sáng nay, anh thay mặt cơ quan tháp tùng Thượng tọa Thích Thiện Chiếu và các thành viên trong đoàn lên dâng hương viếng Bác.

Từ giờ phút đó chúng tôi sáp nhập vào đoàn khách đến từ TP Hồ Chí Minh để cùng sang làng Sen, lên núi Động Tranh, xã Nam Giang viếng mộ bà Hoàng Thị Loan. Khi đoàn dừng nghỉ dưới chân núi Động Tranh, tôi thấy Thượng tọa Thích Thiện Chiếu sử dụng đầu ô-tô làm bàn và ông đứng viết. Lát sau Thượng tọa cùng với mọi người trong đoàn vào quán ngồi uống nước chè xanh, ăn kẹo lạc, Thượng tọa xúc động đọc bài thơ ông vừa sáng tác trên đường từ làng Chùa, làng Sen đến núi Động Tranh. Đọc xong, Thượng tọa đồng ý cho bấm ảnh bản gốc bài thơ để lưu giữ một kỷ niệm đáng nhớ được gặp vị Thượng tọa phương nam trên vùng đất thiêng liêng quê Bác.

SÁNG MÃI ƠN NGƯỜI

Chủ trương đoàn kết đến thành công
Tịch mặc vẫn yên quyết một lòng
Bác dạy tự do duy hữu nhất
Hồ công độc lập thị vô song
Chí linh hòa kiệt lừng Âu Á
Minh trí hùng anh giống Lạc Hồng
Vĩ tận ơn Người lưu sử sách
Đại đồng chủ nghĩ khắp non sông.

dvt.vn

Chuyện của một ngày lịch sử

Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã diễn ra như thế nào? Nhà văn Sơn Tùng kể chi tiết trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Ngày 2 tháng 6 năm 1911.

Anh Ba mặc quần áo trắng, toát lên màu thanh khiết tóc rẽ đường ngôi bên phải, chải mượt, chân đi dép xăng-đan. Anh đi khoan thai xuống tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Được sự giới thiệu của ông chủ sự cảng Nhà Rồng, anh Ba gặp viên thuyền trưởng. Thuyền trưởng Lu-I Ê- đu-a Mai-sen trạc tuổi gần bốn mươi, tiếp anh Ba dưới buồng khách của con tàu. Ông ta quan sát diện mạo anh Ba với một thái độ trọng nể. Ngay từ phút đầu, ông Mai-sen đã để ý tới đôi mắt to, dài và sáng của anh Ba. Ông chìa hai bàn tay ra trước mặt, nói :

– Ô! Nhìn anh, tôi ưa lắm, tốt lắm. Tiếc là trên con tàu của tôi không còn có loại công việc hợp với anh

– Mai-sen lật lật quyển sổ nhân sự để trước mặt. Ông lại nhìn anh Ba, hỏi: – Anh biết đọc chữ Pháp chứ?

– Thưa ông Mai-sen, tôi đọc được ạ.

– Ồ…! Tốt, tốt lắm. – Mai-sen chỉ vào trang sổ nhân sự và nói bằng tiếng Pháp: – Đây. Anh xem, vừa mới sáng nay, tôi đã nhận thêm bốn người An-nam. Danh sách bốn người đây. – Mai-sen đọc tên từng người: – Đặng Quang Giao, Lê Quang Chi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tri.

Anh Ba chau mày, những ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Hai mắt anh Ba như phủ một lớp sương chiều. ông Mai-sen đọc được những băn khoăn trong đôi mắt anh Ba :

– Tôi biết những người như anh muốn làm cánh chim bay trên những miền đất lạ. Tiếc là, trên con tàu của tôi chỉ còn cần một chân phụ bếp.

Hai mắt anh Ba bừng sáng :

– Thưa ông Mai-sen, tôi đề nghị ông nhận tôi vào chân phụ bếp ấy.

– Ồ… ! – Mai-sen nhìn anh Ba, hơi ngờ vực. – Một thư sinh như anh chịu không nổi đâu. Công việc làm bếp ở con tàu này rất nặng nhọc. Hằng ngày phải lo những bữa ăn cho cả trăm người với nhiều khẩu phần khác nhau; riêng hành khách có vé hạng nhất đã bốn mươi người.

Anh Ba chìa hai bàn tay ra trước ông Mai-sen :

– Ông xem những vết chai sạn trên bàn tay của tôi.

Mai-sen cầm lấy bàn tay anh Ba ngắm, mỉm cười :

– Người phương Tây chúng tôi rất tin khoa xem tướng bàn tay. Tôi không sành bói toán, nhưng bàn tay anh ngón thon dài thế này thì viết chữ đẹp, có năng khiếu mỹ thuật và âm nhạc. Anh được cả hai cái lớn: con mắt và bàn tay. Tôi biết một câu rất hay mà người An-nam hay dùng : “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

– Ông đã xem tướng tôi, ông có tin là tôi làm được phụ bếp không?

– Tôi muốn nhận anh vào một công việc hợp với khả năng của anh, ít ra cũng là một chân thư ký trên con tàu của tôi. Để anh giữ chân phụ bếp, phí quá – ông ta hạ giọng: – Thôi được, từ ngày mai – Ông ta nhìn lên tấm lịch – ngày mai là mồng 3 tháng 6, anh xuống tàu nhận việc. Tôi sẽ báo cho ông quản bếp để tiếp nhận anh đúng 8 giờ sáng mai. Tháng đầu tiên này tôi tạm cấp lương cho anh là 45 phơ-răng. Được chứ?

Anh Ba cười :

– Tôi sẽ làm việc xứng đáng với sự tin dùng của ông.

Ông Mai-sen còn đưa cho anh Ba một tấm thiếp in hình con tàu rẽ sóng đại dương, có chữ ký của ông, và một cuốn sách mỏng, cỡ bỏ túi, ngoài bìa cũng có hình con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Ông dặn cẩn thận:

– Anh giữ cái các để tiện việc lúc lên bến, lúc xuống tàu. Cuốn sách nhỏ này giúp anh hiểu về hãng Sác-giơ Rê-uy-ni và con tàu của chúng tôi hoạt động như thế nào…

Rời con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, trên đường về xóm, anh Ba vừa đi vừa xem tập sách nhỏ của ông Mai-sen đưa. Anh đọc nhẩm : Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ Rê-uy-ni. Con tàu này thuộc loại lớn nhất của hãng và cũng là tàu có cỡ của đầu thế kỷ 20. Chiều dài của con tàu: 120 mét 10, rộng 15 mét 20, trọng tải là 5.572 tấn, chạy bằng máy hơi nước với 2.800 sức ngựa. Tàu có thể chạy một mạch những 12.000 hải lý, không cần phải ghé bến. Trong lòng con tàu được thiết kế hiện đại, tiện nghi. Đáy tàu là một bể chứa nước ngọt, tới 900 tấn. Có hầm chứa than : 150 tấn. Tầng trên của con tàu là các buồng làm việc, nghỉ ngơi, phòng giải trí vui chơi của các sĩ quan và thủy thủ. Tiếp đến là dãy phòng đủ cho bốn chục khách đi vé hạng nhất. Ở giữa khoang tàu, phần dưới cùng là ba nồi hơi lớn, các cỗ máy lớn và bếp nấu, nơi nghỉ của các người làm bếp, bồi bàn… Xem đến trang giới thiệu về khu vực nhà bếp, anh Ba mỉm cười : mình sẽ được làm bạn với Táo quân.

Út Huệ ngồi bên bậc cửa vá áo, đầu nghiêng nghiêng. Một giọt nắng lọt qua mái nhà thủng, đậu trên tóc và chảy sáng xuống gò má. Hai lọn tóc mai dài xuống quá đuôi mắt. Hai con mắt to, dài, đen láy ấp ủ một nỗi buồn sâu kín, cặp môi tươi như một cánh hoa nở dưới cái mũi dọc dừa. Cả gương mặt Út Huệ như một hòn ngọc sáng.

Út Huệ tay lảy kim trên miếng vá của tấm áo anh Ba, lòng thẫn thờ, thầm nghĩ : Mấy hôm nay anh Ba hơi khang khác với mọi ngày. Anh trầm lặng, không còn vui tính khơi lên cho anh em trong nhà những trận cười phải ôm lấy bụng. Hằng ngày ảnh ăn rất ít, không còn giữ mức mỗi bữa ba bát nữa. Ảnh ăn không được, mình làm thêm món để ảnh ăn ngon miệng, ảnh lại gắp chia đều lên bát cho từng người. Đêm nào ảnh cũng thì thầm với ba, với anh Tư cho mãi tới khuya. Hình như ảnh không nói những chuyện gì đó với các anh Sáu Đen, Chín Mập. Ảnh cũng giữ kín cả với mình. Mà cũng phải thôi, mình là phận gái…

Đang mải nghĩ, nghe tiếng chân anh Ba ở ngoài cảng đi về, Út Huệ giật mình đặt vội tấm áo xuống đầu gối, ngước nhìn anh Ba, mỉm cười, đon đả :

– Anh đã về. Em ngỡ anh về muộn nên chưa soạn cơm nước chi cả.

– Nấu muộn một tí đợi anh em về đông đủ cùng ăn nóng, càng tốt, cô Út ạ.

Anh Ba vẻ mặt buồn buồn, ngồi xuống sập gỗ.

Bàn chân anh miết qua miết lại trên nền nhà, giọng nói không tự nhiên :

– Có một việc riêng, hôm nay tôi mới có dịp nói với cô Út.

Hai má Út Huệ ửng đỏ, mắt chớp chớp, môi mấp máy, hai lúm đồng tiền ẩn hiện trên má. Cô ngước nhìn thoáng anh Ba, cúi xuống liền, nói hơi run :

– Có điều chi anh Ba thấy cần dạy bảo em, em…

– Ấy chết! Chuyện riêng của tôi chứ đâu dám “dạy bảo” gì, hở cô Út?

Út Huệ đã bình tĩnh hơn :

– Anh đã tin em, anh cứ nói ra. Dù có quá sức em, em cũng ráng giúp anh.

Anh Ba nhìn ra xa, giọng trầm trầm :

– Tôi không ở đây nữa… Mai sớm, tôi… đi… xa…

Út Huệ rùng mình. Cái kim trên tay tuột xuống nền nhà. Cô bối rối, tay run run nhặt cây kim lên, môi mim mím. Hai người như bị hẫng, ngồi im lặng. Út Huệ nói, giọng nghèn nghẹn :

– Sao anh không ở đây nữa với ba em, với anh Tư…?… Mà anh đi mãi đâu, có vẻ hệ trọng vậy ạ?

– Tôi đi… xa lắm… đi khỏi nước mình, cô Út ạ. – Anh chùng giọng: – Ai mà chẳng muốn có một cuộc sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu. Nhưng, tình cảnh nước mình, tôi không thể ngồi yên một chỗ, xây dựng cho riêng mình một tổ ấm được.

– Anh đi chừng bao lâu thì anh trở về đây?

– Cô Út! Ngày trở về, – anh Ba nói – cô Út hiểu thấu cho : ngày về của tôi xa mù mịt, tôi cũng chẳng định liệu trước được.

Út Huệ nắm chặt tấm áo vá trong tay mình, nén tiếng khóc từ trong cổ họng. Cô định nói thêm, nhưng tiếng ông già Đờn đã oang oang ngoài đầu ngõ hẻm. Chưa vào nhà, ông già đã hỏi con gái :

– Đã có đồ nhậu tối nay chưa, Út?

Út Huệ giấu mặt buồn, cúi xuống tấm áo vá, thưa :

– Dạ… Con chưa ra chợ, ba ạ.

Thấy anh Ba đã về đang ngồi trên sập giữa nhà, ông già vui vẻ :

– Ồ thầy cháu về rồi à?

– Cháu cũng vừa về được một lúc chú ạ. Mấy ảnh sao chưa về chú?

– Bọn nó biểu, mai sớm cháu đi, bọn nó ghé tiệm mua đồ nhậu, thức suốt đêm nay với cháu mà.

Ông già dặn nhỏ con gái, giọng bồi hồi :

– Út à. Anh Ba mầy hổng còn ở lại đây nữa. Ảnh đi vượt vời sang tận các nước Âu Mỹ kia. Mơi anh mầy đã đi sớm. Con ra chợ mua cái ăn, mua những thứ ngon, mắc mấy cũng được, ăn với nhau bữa cơm cuối cùng mà…

Út Huệ mím mím môi, cắn vội sợi chỉ, trao cái áo đã vá lành cho anh Ba, nói lảng :

– Những đường kim về sau vì vội nên không được đều anh vui lòng, nghe.

– Trời đất, cô Út cẩn thận quá. Cảm ơn cô Út.

Út Huệ sập rèm mi ướt, giọng nói đượm chút dỗi :

– Vá miếng áo có là chi đâu mà anh Ba cảm ơn em.

Anh Ba cười. Ông già Đờn dặn thêm con gái :

– Con nhớ mua một miếng thịt heo nạc, rặt nạc, nghe hông. Rồi mua dừa lấy nước kho với thịt. Kho thiệt khô. Nhớ mua nước mắm hạng nhất kho thịt mới để được lâu. Con cũng đừng mua gạo thường, mua gạo nàng thơm nắm mới dẻo.

Ông ngồi bên cạnh anh Ba, ngậm cái tẩu thuốc, mắt ông mơ màng bóng khói :

– Bước chân xuống tàu có lẽ là phải ăn cơm Tây rồi. Cháu chịu khổ mang cơm nắm theo. Chú nghĩ chắc còn lâu lắm cháu mới được ăn cơm trên đất quê mình. Hạt gạo, củ khoai, con cá, lá rau, quả cà, trái ớt, chút nước mắm, tí dấm… những món ăn của quê mình bình thường vậy mà thiếu nó ta không chịu nổi!

– Cảm ơn chú. Chú và cô Út đã săn sóc cháu nhiều mà cháu chưa đền đáp được gì!

– Đừng, cháu đừng nghĩ vậy. Cháu sắp rời xứ sở, hãy nghĩ về chặng đường phía trước…

*
*    *

Bóng tối trùm xuống xóm thợ. Những tiếng rao đêm lang thang trong ngõ hẻm. Tiếng chửi rủa của bà già, tiếng khóc gào than vãn, tiếng quát tháo của người say rượu và bao nhiêu thứ tiếng ồn ào hỗn độn dấy lên trong đêm như biển động.

Không khí trong nhà ông già Đờn cũng đang như trước giờ cơn bão đến.

Hai chiếc chiếu trải rộng giữa nhà. Một mâm thức ăn đầy ngộn đặt giữa chiếu. Ông già Đờn ngồi sát anh Ba. Anh Tư Lê, Chín Mập, Sáu Đen ngồi vòng tròn quanh mâm. Người nào cũng đăm chiêu, ít nói. Họ uống rượu từng tợp đủ thấm môi, không như mọi ngày, tu một người hết cả chén. Chẳng mấy ai cầm đũa nhắm. Người nào cũng luôn luôn trăn trở thế ngồi. Không khí trầm lặng kéo dài. Anh Ba định kể một câu chuyện vui vui thì Tư Lê ca bài Nam ai, buồn xé ruột. Tiếp đến Chín Mập hát bài Lý chiều chiều, Sáu Đen hát tích Nguyệt Nga cống Hồ. Hát xong, Sáu Đen nài nỉ anh Ba hát giặm Nghệ Tĩnh. Anh Ba vẻ lúng túng. Ông già Đờn đỡ lời :

– Cuộc vui đêm nay tiễn thằng Ba đi, tụi bây và tao phải làm hết mọi chuyện, đừng để thằng Ba nó phải dính vô một việc chi, nghe hông. – ông già so dây đàn : – Bữa nay tiễn Ba nó đi Tây, tao cho tui bây nghe trọn cả bài “ca lòng” của tao.

Nước mắt ông già rơm rớm, giọng ông buồn buồn :

Một… mối… tình… câm
Tình câm… một.. mối
Chàng… đã… ra… đi…
Chẳng nói lời… chi
Ôi cảnh… biệt… ly…
Thiếp ngóng…. theo… chàng…
Sông nước… mênh… mang…
Kéo neo… tàu… chạy…
Nước… mắt… tiễn…đưa…
Chàng đi… chàng đi…
Muôn trùng… sóng vỗ…
Thiếp giữ… tình câm…
Tình câm… theo… chàng…

Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đều ngồi xo ro gục trên cánh tay và mỗi người đuổi theo một kỷ niệm của riêng mình.

Anh Ba chống tay đỡ cằm, máng tóc dày đổ xuống trán, mắt anh hướng vào một điểm sáng tụ dưới chiếu, nhưng trong đầu anh hiện lên lớp lớp những gương mặt thân yêu mà anh đã ghi nhớ từ tuổi ấu thơ. Cả hình ảnh các ông già mù hát dạo ở quê hương, ở Huế, ở Phan Thiết cũng hiện lên trong đầu anh. Và bao nhiêu bài ca anh đã từng nghe cũng đang văng vẳng giữa tâm hồn anh : Nước Nam ta sao lại có Tây?…

Út Huệ một mình một đèn, nước mắt giọt ngắn giọt dài tại buồng trong. Hai bàn tay Huệ vắt, nắm, vỗ vỗ nắm cơm gạo nàng thơm dẻo quẹo. Đặt nắm cơm vào tấm bẹ cau trắng mịn như lụa, Huệ ngồi thừ nhìn không chớp mắt. Tiếng đàn ca phòng ngoài vọng vào, cô chẳng để vào tai mình. Cô mở hòm lấy quyển vở, lật lật từng trang, nói thầm : Chữ anh Ba dạy cho mình. Anh Ba đã cầm tay tập cho mình viết. Sao anh Ba không ở lại đây mãi mãi? Lúc nào anh Ba cũng nói “cứu nước, thương đồng bào mình sống cực”!

Tiếng còi tàu chở khách sang Thủ Thiêm kéo một hồi dài. Út Huệ giật mình và chợt nhớ đã sáng đêm. Út Huệ cầm tấm khăn rằn của anh Ba mua dạo nọ, lau nước mắt. Bỗng Huệ nhớ hồi nhỏ Huệ được nghe mẹ ru :

Khăn thương nhớ ai mà khăn rơi xuống đất,
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…

Út Huệ trùm khăn đi ra cửa. Trời còn nhá nhem. Sương mù giăng trên nóc nhà xóm thợ. Út Huệ lại quay vào buồng, nhìn ngọn đèn, nói : Mình thương thầm ảnh. Giờ ảnh đi xa. Đi sang Tây. Mình có nên nói với ảnh cái điều dớ dẩn của mình nghĩ không? Ôi! Ai lại ngược đời vậy bao giờ? Mình là con gái kia mà. Nhưng, ảnh ra đi liệu ảnh có đoán biết được cái điều mình nghĩ về ảnh không? Đèn ơi! Nếu anh Ba không biết điều ấy thì đèn chứng cho tấm lòng Út Huệ này nhé. Ôi ! Một người mà ai cũng yêu mến…
Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải.

Trời ngả màu chì.
Cơn mưa đen tháng sáu dấy lên.

Từ trong ngõ hẻm, anh Ba bước từng bước ung dung, mắt nhìn thẳng phía trước. Đi bên anh là ông già Đờn. Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đi sát phía sau. Út Huệ đi sau cùng.

Con đường hẻm dài hun hút. Họ im lặng đi. Sắp đến lối rẽ vào bến cảng, họ đi chậm bước, mắt hướng ra phía những con tàu đang xả khói đen đục. Và trong mắt họ có cái ảo giác cả đất trời tròng trành, thành phố Sài Gòn chao đưa.

Anh Ba khựng bước. Anh ôm chầm lấy người ông già Đờn :

– Chú Út ơi! Các anh ơi! Út Huệ ạ – Anh nhìn vào mắt những người thợ thuyền trao gửi niềm tin.

– Nước mình, dân mình sẽ không cam chịu cảnh ngựa trâu nầy mãi được. Phải xóa bỏ kiếp nô lệ và nhất định đời thợ chúng ta sẽ đổi khác… Chúng ta tin ở tương lai, tin vào tiền đồ dân tộc…

Ông già Đờn ôm chặt lấy hai vai anh Ba, lắc mạnh :

– Ba! Chú tin… rất tin ở lời cháu vừa nói và càng tin sự quyết chí ra đi vì nước vì dân của cháu. Chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm!

Ông ôm chặt anh Ba vào ngực mình, bộ tóc muối tiêu của ông xõa rộng xuống vai anh. Rời ông già Đờn, anh Ba bước đến với ba người thợ trẻ. Tư Lê cầm chặt tay anh Ba, giọng nghẹn ngào :

– Tôi không cùng đi với anh được, nhưng cái bụng của tôi mãi mãi ở bên anh. Ở lại bến cảng này, tôi sẽ làm việc và sống theo như anh đã bày biểu, căn dặn.

Sáu Đen, Chín Mập, hai người cầm hai tay anh Ba nhìn nhau. Và lần đầu tiên anh Ba thấy ở mắt hai người thợ “có đá trong đầu” này rơm rớm lệ. Hai người cùng nói một lúc :

– Anh Ba ơi! Anh đi, để lại trong mắt chúng tôi cái chữ…

Anh Ba chợt nhìn sang út Huệ thì ông già Đờn giục con gái :

– Út! Con đi với anh Ba một quãng đường nữa…

Gió cửa sông thổi giục từng cơn. Anh Bạ chắp tay giơ cao xá xá ông già Đờn và các bạn đang quay bước trên đường về.

Anh Ba im lặng đi bên Út Huệ. Mắt Út Huệ luôn luôn nhìn về hướng con tàu rồi liếc nhìn anh Ba. Chưa bao giờ Út Huệ thấy anh Ba đẹp trai như lúc này. Cô lâng lâng như đang ở trong mơ và thấy anh Ba là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích…

Anh Ba bất chợt nhìn Út Huệ, nhìn con tàu. Anh rùng mình. Một luồng giá lạnh từ đỉnh đâu xuống gan bàn chân như phân chia con người anh làm hai. Anh dừng lại :

– Sắp hết giờ lên tàu rồi. Út… đi với tôi, đến đây là… Út về kẻo…

Út Huệ vẫn ôm trên tay mình cái gói nho nhỏ, mắt chớp chớp nhìn vào mắt anh Ba. Tiếng Út Huệ nhẹ như gió thoảng :

– Em muốn nói với anh… chỉ sợ… anh cười em!

– Ấy! Đến giờ này mà Út Huệ còn chưa thiệt tin tôi?

Út Huệ bối rối. Cái gói cầm trên tay cứ trao qua trao lại, nhưng Huệ vẫn hết nhìn con tàu đang xả khói lại nhìn anh Ba.

Giọng út Huệ bồi hồi :

– Anh nói đi anh!

Anh Ba lúng túng :

– Điều nói được, tôi đã nói với Huệ từ hôm qua rồi.

– Lúc này khác với ngày hôm qua. Em muốn được nghe anh nói với em một tiếng giữa phút giây nầy, anh Ba ạ!

– Hôm qua, hôm nay và mãi mãi tôi nhớ tấm lòng của Huệ cũng như bao nhiêu tấm lòng vàng khác đã cứu giúp tôi trong những phen hoạn nạn, lúc sẩy nhà ra thất nghiệp.

– Anh Ba luôn luôn nhớ đến những người có lòng tốt với mình, nhưng anh có biết người khác nhớ anh đến cháy ruột cháy gan không? – Út Huệ nghẹn ngào nói.

Anh Ba sững sờ… Út Huệ biết mình đã buột miệng lỡ lời vội nói khỏa lấp :

– Em biết anh là con chim bằng, chiếc lồng son không thể nào nhốt được.

Anh Ba nhấn từng tiếng chắc và ấm :

– Phải có tự do! Huệ ạ, Tổ quốc ta, nhân dân ta phải có độc lập tự do chứ không thể nô lệ mãi được!
– Ước mơ ấy, khát vọng ấy liệu có thành sự thật ở quê mình không anh?

– Vì mất nước mà phải lìa nhà. Nếu không tìm ra phương kế giành lại độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân thì tôi không về mà cũng chẳng ai mong đợi làm gì!

Út Huệ run run, cái gói trên tay như muốn rơi xuống, nước mắt giàn giụa :

– Anh! Cơm nắm. Em nấu cho anh bữa cơm cuối cùng nầy. Cầm lấy anh! Đi đi… anh!
Anh Ba đỡ gói cơm trên tay Huệ. Một tiếng gọi lẫn trong tiếng khóc bật ra từ trái tim người con gái Sài Gòn :

– Anh Ba! Em…

Út Huệ ôm mặt chạy trở về. Anh Ba cầm nắm cơm trong tay. Âm thanh thành phố Sài Gòn đổ dồn xuống cửa sông như trùm lấy anh. Anh nghe tiếng còi tàu nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối. Anh bước sải dài, vội vã xuống tàu. Gương mặt người con gái Sài Gòn chập chờn trước mắt anh như một búp sen quê hương. Và cả khuôn mặt Việt Nam choán lấy trái tim anh!

Út Huệ lại quay lại chạy theo xuống bến tàu.

Con tàu chở anh Ba mờ mờ phía chân trời. Lê Thị Huệ chắp tay trên ngực nhìn theo, khấn trước đất trời :

Sông ơi!
Đừng mọc đá ngầm…
Biển ơi!
Đừng dựng sóng dữ…
Anh đi thuận gió xuôi buồm…
Hỡi những phương trời xa lạ…
Hãy đón lấy Anh…
Một chàng trai nước Việt…
Anh là của Nước của Dân…
Tất cả đợi Anh về…

dvt.vn

Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu nhi dịp Tết Trung thu và 1/6

(DVT.vn) – Trung thu đến gần, đọc lại những bức thư này khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Bác. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang lưu giữ khá nhiều bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Những bức thư này do Văn phòng Trung ương Đảng chuyển giao cho Bảo tàng từ trước năm 1959.

Đáng chú ý là cuốn sách có nhan đề Tập thư Bác Hồ, tập hợp một số bức thư Bác gửi cho thiếu nhi từ năm 1945 đến năm 1954, của Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cứu quốc Liên khu V, miền Nam Trung Bộ.

Năm 1954, cuốn sách đã được in ra thành nhiều bản để phát hành và tuyên truyền vào dịp Tết Trung thu với mong muốn “Các em sẽ chăm chỉ đọc ôn lại các bức thư của Bác, ghi sâu và làm theo lời Bác dạy để xứng đáng là cháu yêu của Bác”.

Sách có kích thước 14,5 x 10 cm, gồm 18 trang, in 2000 quyển và được kiểm duyệt theo giấy phép in số 493 của Ban Ấn loát miền Nam Trung Bộ.

Bác Hồ vui tết Trung thu với các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế, ngày 27/9/1958.

Năm 1945, nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho thiếu niên nhi đồng cả nước. Với tình cảm thương yêu trìu mến nhất, Người hòa mình với các em: “Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vỡ sao? Là vì… Trung thu năm nay đã được tự do và các em đã thành những tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Người gửi tới các cháu “trăm cái hôn thân ái”.

Tiếp đến là Thư Trung thu 1948. Đó là năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nên thư của Người cũng chất chứa bùi ngùi thương xót.

Người thấu hiểu những khó khăn mà thiếu nhi phải chịu đựng: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người thấy “áy náy”, thấy “căm giận bọn thực dân phản động Pháp”. Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Bác Hồ cùng các cháu thiếu nhi quốc tế trong đêm liên hoan mừng ngày Quốc tế thiếu nhi tổ chức tại Phủ Chủ tịch, ngày 31/5/1960.

Năm 1949 là năm kháng chiến thứ ba và cũng là Trung thu thứ ba các cháu thiếu nhi “phải ăn Tết thiếu thốn hơn trước”. Đó cũng là ý đầu tiên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ và chia sẻ. Dù vậy, Người vẫn chúc các cháu “vui hơn”.

Bằng lời lẽ giản dị phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, Người phân tích để thiếu nhi thấy những thành tích cụ thể, thiết thực mà các cháu đã làm được trong khó khăn của cuộc kháng chiến, qua đó biểu dương và khen ngợi. Từ sâu thẳm lòng mình, Người bộc bạch: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1950, Người cũng có thư gửi các cháu. Vẫn là sự băn khoăn “Đáng lẽ các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như con trẻ Liên Xô”, Người phân tích cho thiếu nhi hiểu dân tộc ta kháng chiến thắng lợi thì các cháu “sẽ đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”. Dù còn nhiều khó khăn, vui buồn, Người vẫn không quên “gửi các cháu nhiều cái hôn”.

Trung thu 1951, Người mở đầu thư bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viêt mấy dòng
Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Sau khi thông báo đã nhận được thư của nhi đồng vùng tạm bị chiếm và thư của nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua, Người giải thích về ý nghĩa của ngày 1/6 và căn dặn thêm các cháu những việc nên làm, phải làm trong sinh hoạt đội, trong học tập và cả khi vui chơi để trở thành người có ích cho Tổ quốc.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế vui tết Trung thu, tại vườn hoa Phủ Chủ tịch.

Trung thu 1952 là năm đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ niềm thương nhớ thiếu nhi ở mọi vùng đất nước. Lời lẽ trong thư Người ẩn chứa nỗi buồn lo cho các cháu. Người biểu dương tinh thần tiến bộ của thiếu nhi, “đã biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm… biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiêt kiệm”. Đặc biệt, Người tỏ lòng thương xót khi thấy tinh thần chiến đấu hi sinh dũng cảm của các cháu ở vùng tạm chiếm “đã giữ bí mật để giúp đỡ các cán bộ và bộ đội”. Cuối thư, Người lại có bài thơ:

Ai yêu các nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh.
Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh…

Năm 1952, nhân ngày 1/6, Người gửi thư cho thiếu nhi, nhấn mạnh tinh thần Quốc tế để các cháu hiểu rõ và cùng nhau giữ gìn hòa bình, dân chủ.

Trung thu 1953, Người lại có bài thơ gửi cho các cháu với mong muốn “Thu sau so với thu này vui hơn”.

1/6/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng tới toàn thể thiếu nhi trong nước và quốc tế. Người mong các cháu “ngoan ngoãn, mạnh khỏe, vui vẻ, tiến bộ”.

Có thể nói, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu niên nhi đồng chiếm một mảng lớn trong tâm hồn của Người. Thực tế, chúng ta thấy, ở đâu và lúc nào bên cạnh Người cũng có các cháu. Không chỉ thiếu nhi trong nước mà thiếu nhi quốc tế cũng luôn quây quần quanh Bác .

Năm 1954, nước ta được hưởng nền hòa bình sau chín năm kháng chiến chống Pháp. Điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là các cháu thiếu niên nhi đồng. Người viết thư (khi là văn xuôi, khi bằng những vần thơ) để khen ngợi, biểu dương tinh thần của các cháu trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người cũng bày tỏ lòng thương yêu, nhớ nhung thiếu nhi ở cả hai miền Nam, Bắc. Người viết cho các cháu bằng cả tấm lòng thương yêu vô hạn: “Trăng thu trong đẹp, sáng rọi khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Cũng như lòng Bác yêu quý tất cả các cháu miền Bắc và miền Nam“.

Tình cảm bị kìm nén bấy lâu, đến năm 1954 Người mới được thỏa lòng vì thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Trong thư, Người tỏ ý xin lỗi “Vì bận việc quá” nên “không rảnh làm thơ gửi các cháu“. Cuối thư, Người không quên chúc các cháu “Vui mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành“, để:

Đến ngày Nam Bắc vui chung
Các cháu xúm xít thì lòng ta vui.

Nhưng, niềm vui của Người chưa trọn vẹn vì Người còn một điều trăn trở. Một nửa đất nước chưa được độc lập. Người vẫn còn một nỗi niềm khi nhớ đến các cháu thiếu nhi miền Nam. Các cháu vẫn còn phải sống trong hoàn cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Từ xúm xít được Người thể hiện trong hai câu thơ kết của bức thư làm chúng ta cũng xúc động theo Người.

Ước vọng đó của Người ngày nay chúng ta đã làm được: Bắc, Nam đã liền một dải. Đất nước hòa bình thịnh vượng đang sánh vai tiến bước cùng các nước trong khu vực và toàn cầu. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cũng đang được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, được cả xã hội quan tâm và yêu thương.

Vui Tết Trung thu, đọc lại những bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Người. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi. Người được cả thế giới ngưỡng mộ và gọi bằng cách thân mật là Bác Hồ! Bác Hồ kính yêu!

Lê Minh Độ

dvt.vn

Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn

Những kỷ niệm của kiều bào Tân Đảo với Bác Hồ – Những dấu ấn khó phai

Ngoài những đóng góp lớn về vật chất cùng một tấm lòng luôn hướng về nước nhà, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chung tay xây dựng đất nước, kiều bào Tân Đảo và Tân Thế Giới còn đầy ắp những kỷ niệm thân thương với Bác Hồ

Chiếc xe được trưng bày tại Phủ Chủ tịch luôn thu hút khách tham quan. Ảnh :TL

Khi còn làm phu mỏ xứ người, dân phu biết đến Bác, nghe về Bác qua những tài liệu, báo đài, sách in của nước ngoài. Và họ đã nhận ra Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ tối cao cho sự nghiệp giải phóng nước nhà.

Ảnh Bác Hồ là tấm huy chương ở xứ người

Ở xứ người, những hình ảnh của Bác được xem là vật vô cùng hiếm hoi, để có được một tấm ảnh Bác treo trong nhà là cả một phần thưởng quý báu. Gia đình họ phải có công lao to lớn, được cộng đồng thừa nhận mới được phần thưởng là tấm ảnh chân dung của Bác. Cụ Trần Hữu Câu sinh năm 1902 quê ở thôn Vân Tràng, Nam Trực, Nam Định – Hội trưởng Hội liên Việt Santo Tân Đảo, bằng những hoạt động tích cực và đóng góp cho quỹ kháng chiến nước nhà, được nhận phần thưởng là bức chân dung Hồ Chủ tịch, một kỷ niệm chương liên hiệp Công đoàn thế giới… Những ảnh chân dung Bác được xem như huy chương mà không phải kiều bào Tân Đảo nào thời ấy cũng có được.

Cụ bà Trần Thị Chỉnh – Việt kiều nay đã 79 tuổi, hiện sống ở Hải Dương vẫn còn giữ tấm chân dung Bác xưa kia, chỉ nhỏ bằng cỡ 9x12cm mà chồng là cụ Lê Duy Tẩm đã được tặng thưởng khi còn ở Tân Đảo. Cụ Chỉnh kể: “Hình của Bác sau khi nước nhà độc lập 1945 được gửi từ Việt Nam sang không nhiều, phải là những người hoạt động thật xuất sắc và có công lớn trong cộng đồng Việt kiều mới được dành tặng. Vì thế, chúng tôi quý lắm và bao giờ tôi cũng giữ cẩn thận”.

Những kỷ niệm thân thương khi hồi hương

Ngay chuyến tàu đưa kiều bào Tân Đảo hồi hương cập cảng Hải Phòng ngày 12.1.1961, đến chiều 14.1.1961, đoàn đại biểu Việt kiều Tân Đảo và Tân Thế Giới vô cùng cảm động và vui sướng khi được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Cậu bé Lê Quý Niệm năm ấy 15 tuổi – hiện ở Hà Nội – một trong những đại diện nhỏ tuổi nhất của thiếu nhi Tân Đảo theo đoàn vào diện kiến Bác Hồ, vẫn còn nhớ như in ngày trọng đại ấy: “Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Tân Đảo, nghe các cụ nói về Bác Hồ, chỉ biết Bác qua hình ảnh quê nhà gửi sang. Thật xúc động khi thấy Bác hiện diện ngay trước mặt mình. Bác ân cần thăm hỏi, xoa đầu chúng tôi, rồi người lấy gói kẹo phát từng người. Khi ra về người còn gửi tặng tôi một túi kẹo to và dặn dò đem về phân phát cho các bạn thiếu nhi Việt kiều khác mà hôm nay không có dịp gặp được Bác. Những câu nói của Bác khiến tôi vô cùng xúc động, dù mới gặp lần đầu, nhưng có cảm giác như đã gặp Bác từ lâu rồi…”

Tháng 3.1961, Bác Hồ lên Tuyên Quang thăm hỏi đời sống kiều bào Tân Đảo. Tết 1962, Bác đã đến thăm gia đình ông Phạm Văn Công ở 97 Đại La, Hai Bà Trưng – Việt kiều Tân Đảo hồi hương năm 1961 – gia đình ông Phạm Văn Công kể: “Vào lúc ông Công đang trang trí gian phòng đón giao thừa, ông đang treo hai vế đối dưới ảnh Bác Hồ, thì bất ngờ Bác Hồ đứng trước cửa nhà ông. Ông bàng hoàng không nói được gì, còn vợ thì thốt lên: Ối giời ơi! Có phải là Bác Hồ không!”.

Năm 1964, Bác đến thăm gia đình ông Phạm Văn Trác ở 36 Lê Văn Hưu, Hai Bà Trưng. Bà con, ai cũng cảm kích vì không ngờ một vị chủ tịch nước với tiếng tăm vang lừng khắp năm châu mà kiều bào đã biết khi còn ở nước ngoài, nay đích thân đến thăm các gia đình việt kiều. Người ân cần hỏi han chuyện chuẩn bị tết ra sao, sức khoẻ gia đình, con cái, căn dặn tình hình công tác, khen các con em Việt kiều nói tiếng Việt sõi… “Không khí buổi gặp vị Chủ tịch nước mà ấm cúng như trong gia đình”.

Chiếc xe hơi vạn dặm

Chiếc Peugeot 404 tại khu di tích Phủ Chủ tịch. Ảnh : TL

Một trong những hiện vật giá trị của Bác hiện đang lưu giữ ở Phủ Chủ tịch, là hai chiếc xe hơi được người sử dụng trước kia. Một trong hai chiếc xe ấy là số tiền của bà con việt kiều mua từ Tân Đảo về tặng chính phủ miền Bắc trên chuyến tàu hồi hương và được Bác sử dụng những năm cuối đời.

Chuyến tàu đưa việt kiều hồi hương năm 1964, mang theo 11 chiếc Peugeot 404 – xe đời mới nhất lúc bấy giờ được bà con Tân Đảo mua, đem về tặng cho Bác Hồ và chính phủ Việt Nam. Tiền mua 11 chiếc này cũng do bà con đóng góp trong quá trình ở Tân Đảo, chưa kịp chuyển hết về cho Bác. Bác Nguyễn Văn Ngân – người gắn với hành trình chiếc xe từ Tân Đảo, đến cảng Hải Phòng, và đích thân lái chiếc xe ấy về Hà Nội bàn giao cho chính phủ Việt Nam hiện đang ở Hà Nội.

Thông tin về chiếc xe, ngay cả ban quản lý bảo tàng Hồ Chí Minh trước đây cũng chỉ nắm hồ sơ chiếc xe, số đăng ký, biển số, đời xe… và biết rằng chiếc xe đó do kiều bào Tân Đảo đóng góp, còn các chi tiết cụ thể hơn thì bảo tàng chưa nắm hết được. Mãi đến năm 2005, một lần vào thăm bảo tàng Hồ Chí Minh, bác Ngân, một sĩ quan quân đội – bỗng bàng hòang khi thấy một trong hai chiếc xe trưng bày chính là chiếc Peugeot 404 mà trước kia ông đã sát cánh cùng nó trên đường trở về quê hương trên. Lai lịch về chiếc xe được sáng tỏ.

Gặp bác Ngân đang nằm viện, với một phần buồng phổi phải qua phẫu thuật cắt bỏ. Tuy sức khoẻ suy yếu, nhưng khi nhắc lại chuyện chiếc Peugeot 404, bác Ngân vô cùng xúc động hồi tưởng: “Chúng tôi dùng hết số tiền quỹ còn lại, mua được 11 chiếc Peugeot 404 đời mới nhất, với nhiều màu sơn khác nhau. Cập cảng Hải Phòng, 11 chiếc được anh em việt kiều lái về Hà Nội giao chính phủ, tôi được phân công lái chiếc xe màu ghi sáng. Không ngờ rằng chiếc xe ấy lại được chọn phục vụ cho Bác Hồ. Đến khi vào bảo tàng, nhìn thấy chiếc xe, tôi nhận ra ngay và đã bật khóc khi nhớ lại kỷ niệm ngày trước.

Vị giám đốc bảo tàng còn cho biết khi Bác nhận được chiếc xe, người không dùng vì nó quá sang trọng, người vẫn thường dùng chiếc Provda của Liên xô làm phương tiện đi lại. Mãi đến những năm cuối đời, do sức khoẻ yếu, việc bước lên chiếc Provda khó khăn hơn vì gầm xe cao. Lúc ấy Bác mới sử dụng chiếc Peugeot 404 của kiều bào Tân Đảo…”.

Lam Phong

sgtt.vn

Mậu Thân Xuân tiết (14-4-1968)

Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên
Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên.
Bạch điểu tróc ngư hồ lý khứ,
Hoàng oanh phi thượng thiên.
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ,
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền.

Dịch nghĩa
Tết Mậu Thân

Tiết tháng tư trǎm loài hoa nở đầy vườn,
Đỏ đỏ, tía tía, hoa đua nhau phô vẻ tươi.
Có con chim trắng sà xuống hồ để bắt cá,
Chim hoàng oanh thì lại bay thẳng lên trời.
Trên trời, những áng mây thong thả bay đến
rồi bay đi,
Lòng rộn lên tin thắng trận ở miền Nam
báo về.

Dịch thơ
Tết Mậu Thân

Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui1)
Viết bằng chữ Hán, ngày 14-4-1968.

—————————

Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.83-84.

1) Phan Văn Cốc dịch
cpv.org.vn

Vận dụng nội dung tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bài giảng: “Một số vấn đề về cải cách nền hành chính nhà nước”

Tác giả : Th.s Thái Xuân Sang – Gv Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tháng 10 năm 1947 ký tên XYZ- Nxb sư thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959. Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” luôn là văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng. Tác phẩm được viết trong một thời kỳ đặc biệt, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, kẻ thù đã gửi 3 tối hậu thư trong 2 ngày, đòi chúng ta phải hạ vũ khí; chúng đã buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên bảo vệ nền độc lập. Cuộc kháng chiến trường kỳ càng khó khăn, gian khổ yêu cầu sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Để kịp thời chỉnh đốn Đảng, phê bình những khuyết điểm, sai lầm, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã kịp thời ra đời để sửa đổi lối làm việc của Đảng. Được viết cách đây hơn 50 năm, nhưng đến nay nội dung, tư tưởng tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, là một trong những tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Qua việc học tập, nghiên cứu tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, chúng tôi nhận thấy nội dung, tư tưởng của tác phẩm không những được vận dụng rất tốt cho môn học Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Dân vận… mà còn được vận dụng hiệu quả cho môn học Quản lý hành chính, chương trình trung cấp lý luận chính trị.

Như chúng ta đã biết, cải cách hành chính Nhà nước đang là yêu cầu khách quan, cấp bách của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nền hành chính Nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương, cơ cấu gắn với hệ thống thể chế hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống quản lý tài chính công thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính Nhà nước(thể chế, cơ cấu, tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Nhà nước là trung tâm, cột trụ của hệ thống chính trị, nền hành chính có vai trò thực thi quyền hành pháp. Để thực hiện thắng lợi các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sự vận hành hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có vai trò quyết định. Do tính chất đặc thù của hệ thống chính trị nước ta đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đa số là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng nếu như tất cả các đảng viên trong cơ quan hành chính Nhà nước đều học tập, thực hành sửa đổi lối làm việc đúng với tư cách và đạo đức cách mạng thì mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia sớm đạt được.

Có nhiều lý do để cần phải cải cách nền hành chính, một trong những lý do chủ quan là: Cải cách nền hành chính xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước. Vấn đề đặt ra là:

“Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình”

Lev. Toilstoy

“Khuyết điểm do cơ chế, trì trệ do quy trình, sai pham do hạn chế năng lực, thiên tai dịch bệnh do trời, còn biện pháp xử lý thì…..xin ý kiến chỉ đạo cấp trên. Rốt cuộc mọi người đều sai lầm, mọi người đều có lý”

Lưu Quang Vũ – Tôi và Chúng ta

Một trong những yếu tố cơ bản của nền hành chính là yếu tố con người (đó chính là đội ngũ cán bộ, công chức). Chính con người định ra thể chế, thiết lập tổ chức bộ máy và hệ thống tài sản công, tài chính công. Nếu như nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức không thay đổi thì toàn bộ nền hành chính không thay đổi(cải cách được).

Đọc tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta thật sự giật mình, bởi vì những căn bệnh trong Đảng đã có từ năm 1947 đến nay vẫn tồn tại, phát triển với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nguy hiểm. Đó là vì “kém tính Đảng mà có những bệnh như sau:

– Bệnh ba hoa;
– Bệnh địa phương;
– Bệnh ham danh vị;
– Bệnh thiếu kỷ luật( Gặp sao hay vậy);
– Bệnh xa quần chúng;
– Bệnh chủ quan;
– Bệnh hình thức;
– Bệnh ích kỷ; bệnh hủ hoá;
– Bệnh thiếu ngăn nắp;
– Bệnh lười biếng .” (1)

Thời gian gần đây những bệnh này đã phát triển thành bệnh tham nhũng, bệnh quan liêu, bệnh xa hoa lãng phí, bệnh vô cảm trước nỗi khổ của dân…

Những căn bệnh này cần phải được điều trị, phương thuốc đặc hiệu là phải “ráo riết dùng tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.(2)

Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính đã đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu cải cách nền hành chính( trong các giải pháp đó có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức…).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tác giả đã dành một phần (IV) viết về vấn đề cán bộ với những nội dung cơ bản:

1. Huấn luyện cán bộ;
2. Dạy cán bộ và dùng cán bộ;
3. Lựa chọn cán bộ;
4. Cách đối với cán bộ;
5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ.

Nghiên cứu nội dung vấn đề cán bộ, hệ thống các trường chính trị(Nơi huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) có thể vận dụng nhiều quan điểm và nội dung thiết thực vào công tác cán bộ, công tác giảng dạy. Mở đầu tác giả XYZ viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.

Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”(3)

“Khuyết điểm trong sự huấn luyện: Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được.”(4)

Hơn 50 năm đã trôi qua, kể từ khi tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được xuất bản. Thực tiễn chứng minh và mọi người đều thừa nhận quan điểm trên hoàn toàn đúng. Có một điều thật đáng tiếc thí dụ mà tác giả đã nêu trên cho đến nay chúng ta vẫn chưa khắc phục được. Việc đào tạo cán bộ trong một thời gian dài còn xem nhẹ kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, khoa học hành chính kém phát triển, hệ thống các trường đào tạo quản lý hành chính không ổn định, khoa học hành chính công chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Vì những lẽ trên mà một thực tế hiện nay là cán bộ, công chức Nhà nước không thạo việc, kém về thực hành, thường chạy theo phong trào (cán bộ phong trào). Đây là căn bệnh có từ năm 1947, bệnh chủ quan: Lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy học theo cách học thuộc lòng. Trong những năm gần đây bệnh này đang được chữa, tuy nhiên cần phải quyết liệt hơn. Nếu không được sửa chữa nền hành chính không theo kịp tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Tác giả XYZ đã đưa ra cách sửa chữa khoa học, thiết thực:

– Huấn luyện nghề nghiệp;
– Huấn luyện chính trị;
– Huấn luyện văn hoá;
– Huấn luyện lý luận.

“Cách học tập: Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.(5)

Trong một thời gian dài phương pháp giảng dạy chủ yếu trong hệ thống trường Đảng, trường chính trị là phương pháp thuyết trình thầy đọc, trò chép. Phương pháp này đã không phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Trở lại tác phẩm sửa đổi lối làm việc, ngay trang đầu tiên, phần (I) phê bình và sửa chữa, tác giả XYZ đề cập ngay đến cách thức học tập.

1. “Nghiên cứu: Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.

2. Thảo luận: Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.”(6)

Cách thức học tập này có thể vận dụng cho các môn học khác nhau, trong đó có môn quản lý hành chính. Bộ giáo trình TCLLCT được sử dụng trên phạm vi cả nước, nội dung giáo trình mang tính khái quát, có những vấn đề rất chung chung. Nhiệm vụ của giáo viên là: Cung cấp đầy đủ những nội dung cơ bản trong giáo trình. Ngoài ra giáo viên cần dành thời gian nhất định cho việc thảo luận những vấn đề thiết thực gắn với đối tượng tham gia học, bài giảng sẽ rất có ý nghĩa khi học viên có thể vận dụng được ngay những kiến thức đã học vào công việc của cơ quan, đơn vị, địa phương và công việc của người học đang làm. Với tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” có thể vận dụng vào nhiều nội dung khác nhau của các môn học thuộc chương trình trung cấp lý luận chính trị. Tuy nhiên, vận dụng không có nghĩa là giáo viên trích dẫn tràn lan. Từ những cách tiếp cận khác nhau giáo viên có thể vận dụng về nội dung, hình thức, quan điểm hoặc về phương pháp của tác phẩm. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận chính trị cần phải phong phú, linh hoạt. Mục đích cuối cùng cần đạt được là sau khi học, học viên nhận thức đúng, nhận thức sâu sắc hơn, thực hành đúng, sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm phục vụ nhân dân một cách tốt nhất. Đây chính là tính Đảng trong công tác giảng dạy của giáo viên.

MỘT SỐ CÁCH THỨC VẬN DỤNG VÀO BÀI GIẢNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Cách 1: Giáo viên đưa vấn đề cần thảo luận theo nhóm:

Ví dụ:

1. Đồng chí hãy phát hiện, phân tích thực trạng những yếu kém trong quản lý hành chính ở cơ quan mình ? Nguyên nhân của những yếu kém đó?

2. Đồng chí hãy phê bình những yếu kém trong công tác của bản thân mình ? Nguyên nhân? Cách sửa chữa ? Trong cơ quan, đơn vị đồng chí, đồng chí phải làm gì để hoạt động quản lý hành chính ở cơ quan, đơn vị mình có hiệu lực, hiệu quả?

Cách 2: Giáo viên có thể kể một câu chuyện về Bác gắn với nội dung bài giảng(Chẳng hạn: quan điểm, tư tưởng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Bác nói nhiều trong các bài nói chuyện, trong công tác, trong sinh hoạt đời thường của Bác – Ví dụ: Những câu chuyện Bác Hồ đến với cơ sở).

Cách 3: Giáo viên trích dẫn một đoạn viết nguyên văn của Bác sau đó phân tích, đối chiếu, so sánh ở các thời điểm, không gian khác nhau. Trong quá trình phân tích, giáo viên gợi mở cho học viên phát biểu quan điểm, chính kiến của mình. Sau khi thảo luận dân chủ, giáo viên tổng hợp, kết luận.

Ví dụ: Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức cách mạng, về phương pháp, cách vận động quần chúng nhất là về tinh thần tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (7)

Là cán bộ, công chức, đảng viên đồng chí hãy phân tích, chứng minh quan điểm trên. Liên hệ địa phương, đơn vị, bản thân đồng chí.

Cách 4) Trong khi giảng trích dẫn chính xác những câu nói, đoạn viết gắn với nội dung đang thực hành giảng.

Ví dụ: Khi bàn về phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức, giáo viên có thể trích dẫn 12 điểm về tư cách của Đảng chân chính cách mạng(…….)(8), trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bác kết luận:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào

Trên đây là một số nhận thức và kinh nghiệm trong quá trình quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy môn học Quản lý hành chính, Chương trình trung cấp lý luận chính trị. Rất mong các đồng chí cùng trao đổi, góp ý để việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong giai đoạn hiện nay./.

Chú thích:

(1),(2) Hồ Chí Minh toàn tập“Sửa đổi lối làm việc”, Nxb CTQG, H, 1995, tr267.
(3), (4), (5) Sđd, tr269.
(6) Sđd, tr273
(7) Sđd, tr231-232
(8) Sđd, tr261

truongchinhtrina.gov.vn

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong vào tháng 10 – 1947, ký tên là XYZ. Khi đó, bộ máy chính quyền của chúng ta có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung sức cho sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc. Nhưng với tầm nhìn xa, thấu hiểu những vấn đề có quan hệ cốt tử với chính quyền cách mạng, Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm xây dựng và bồi dưỡng ý thức chính trị của những người cán bộ, để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta vẫn thấy nguyên vẹn giá trị to lớn của nó, nhất là đối với việc xây dựng và giữ gìn chính quyền cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sau đây chúng tôi tập trung đề cập một số vấn đề về phê bình và sửa chữa; vấn đề cán bộ, qua tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

I – Phê bình và sửa chữa lối làm việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Cũng vì đối tượng phê bình là đồng chí của mình và bản thân mình, mục đích vì sự vững mạnh và tiến bộ của Đảng, nên việc phê bình và thực hiện tự phê bình vừa phải nghiêm túc nhưng cũng rất thân ái: tự phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Người nêu lên những căn bệnh mà người cán bộ thường mắc phải cần phê bình, sửa chữa. Đó là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa.

Một là, bệnh chủ quan. Đó là chứng bệnh nguy hiểm gây tác hại lớn cho cách mạng. Vì mắc bệnh chủ quan, cán bộ, đảng viên ta thường giải quyết công việc xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà không căn cứ vào điều kiện cụ thể và quy luật khách quan. Do không biết nhận rõ điều kiện, hoàn cảnh khách quan, khăng khăng làm theo ý mình, nên kết quả thường nhận lấy thất bại. Người chỉ rõ nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông. Người mắc bệnh chủ quan đều coi khinh lý luận, làm việc chỉ theo kinh nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công việc một cách sự vụ, vụn vặt. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa kinh nghiệm chính là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, nguyên nhân của bệnh chủ quan, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do kém lý luận hay khinh lý luận. Do đó, có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.

Vì vậy, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Ngược lại, lý luận là cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn cuốn lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận. Khi phân tích các biểu hiện của bệnh chủ quan như: kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ bệnh lý luận suông là bệnh giáo điều chủ nghĩa. Đó là sự bắt chước kinh nghiệm của người khác, kinh nghiệm của các nước anh em một cách máy móc, mù quáng; xem thường kinh nghiệm của quần chúng, không năng đi xuống cơ sở để học tập và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn…

Hai là, bệnh hẹp hòi. Đây là căn bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn cản Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… đều do bệnh hẹp hòi mà ra! Biểu hiện của bệnh hẹp hòi là ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Bệnh hẹp hòi trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng. Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cục, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương với cán bộ phái đến, cán bộ quân sự với cán bộ mặt trận, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác.

Bệnh hẹp hòi của cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở thói tự tôn tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Những cán bộ, đảng viên mắc bệnh này quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ cố tình không hiểu: so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức…). Điều đó tất yếu dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ba là, bệnh ba hoa. Ba hoa là nói và viết dài dòng, rỗng tuyếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần chúng không hiểu, cho nên không có tác dụng gì cả. Người nhắc nhở: cán bộ tuyên truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như có ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trước hết phải phê bình và sửa chữa bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh giáo điều, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa… Mỗi chứng bệnh đó là một kẻ địch nguy hiểm. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để chữa khỏi những bệnh trên, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau. Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt. Được như vậy Đảng ta mới thực sự trong sạch, vững mạnh.

II – Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ

Cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Thực hiện tư tưởng của Người, các nghị quyết của Đảng ta đều dành sự quan tâm cho công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng xác định, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ, mức chính xác của đường lối và việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thắng lợi đều tùy thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ.

1 – Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì, vô luận cán bộ ở môn nào, làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2 – Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải biết rõ cán bộ;… xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, lại bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: Phải khéo dùng cán bộ. Chúng ta phải biết tùy tài mà dùng người. Phải phân phối cán bộ cho đúng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: Luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ; giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc họ làm được việc, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt là dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3 – Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách. Cách thứ nhất là chỉ đạo – thả ra cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Cách thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Cách thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Cách thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Cách thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng.

4 – Về một số điểm lớn trong chính sách cán bộ. Theo Hồ Chí Minh:

– Cần hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ, các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ, từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu.

– Khéo dùng cán bộ. Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

– Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt v.v..

– Thương yêu cán bộ là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

– Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại.

Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, và trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhất là phục vụ kịp thời và thiết thực đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội X của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

quandoantanbinh.vn