Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ tặng thơ cụ Võ Liêm Sơn

SGTT.VN – Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhưng cũng là một nhà văn hoá, một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa, mặc dù Người có nói: “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi. Nhân vị tù trung vô sở vi” (Ngâm thơ ta vốn không ham – Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây… – Nhật ký trong tù).

14 tháng bị giải khắp các nhà tù ở Quảng Tây (Trung Quốc) thời gian 1942 – 1943 dường như đã luyện thêm ngòi bút của một nhà nho am hiểu Hán học, và các thể thức thơ cổ. Vượt lên trên hết là thái độ ung dung tự tại của một chiến sĩ khát vọng tự do và tấm lòng trắc ẩn với người lao khổ. Mạch thơ ấy được tiếp nối trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, đặc biệt là năm 1948, Bác có chùm thơ chữ Hán như Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), Tặng Bùi Công (tặng cụ Bùi Bằng Đoàn), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận). Ý thơ phát triển: ung dung, vững tin ở kháng chiến, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Nhà chí sĩ cách mạng Võ Liêm Sơn (1888-1949)

Bài Tặng Võ Công (tặng cụ Võ Liêm Sơn) theo thể năm chữ, tám câu là thi phẩm hoà quyện giữa ý và tình, giữa cách mạng và nhân dân, giữa lý tưởng và hiện thực, không còn cách bức. Nguyên văn: Võ Liêm Sơn lão tiên sinh nhã chính. Thiên lý công tầm ngã / Bách cảm nhất ngôn trung / Sự dân nguyện tận hiếu / Sự quốc nguyện tận trung / Công lai ngã hân hỉ / Công khứ ngã tư công / Tăng công chỉ nhất cú: /Kháng chiến tất thành công.

Bản dịch thơ:
Ngàn năm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ:
Kháng chiến ắt thành công

(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1995)

Bác viết tặng cụ Võ, nhưng cũng là viết cho mình, chăm chút đạo hiếu trung thờ dân, thờ nước. Thật quý hoá biết bao giữa phong cảnh thiên nhiên của thủ đô kháng chiến gió ngàn, hai mái đầu điểm bạc có dịp hàn huyên trò chuyện. Cụ Võ là bạn học ở Huế với Bác những năm 1908 – 1910. Nguyễn Tất Thành quê Nam Đàn (Nghệ An), Võ Liêm Sơn quê Can Lộc (Hà Tĩnh). Vốn là người ngay thẳng, bộc trực, thông minh, có bằng thành chung và cử nhân (Hán học) nhưng đường hoạn lộ của cụ Võ trúc trắc. Bị huyền chức tri huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) do chống lại tên thương chánh người Pháp và Tổng đốc Quảng Nam lúc đó bắt cụ phải đàn áp nhân dân trong các vụ sưu thuế. Từ đấy cụ chuyển sang giáo dục, viết văn, làm thơ. Những năm dạy ở trường Quốc học Huế, cụ Võ được nhiều học trò yêu mến, sau này là các nhà cách mạng và văn hoá nổi tiếng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Khoa Văn… Cụ Võ có thời gian gần gũi và giúp đỡ Phan Bội Châu khi nhà chí sĩ thúc thủ an trí ở Huế. Cụ Võ cùng các học trò ở Huế tổ chức truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Lòng yêu nước ở cụ Võ được thử thách khi bị Pháp bắt tù, và cuốn sách Hài văn – tiểu phẩm viết theo lối hài hước, châm biếm bị cấm (1928). Từ đấy, nhà nho, người thầy giáo nuôi chí phản kháng chế độ thực dân, phong kiến, để rồi sau năm 1945 – cách mạng thành công, cụ Võ tích cực tham gia chính quyền mới và được tín nhiệm bầu làm chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh và liên khu 4.

Năm 1948, Võ Liêm Sơn được đi dự hội nghị Kháng chiến toàn quốc và hội nghị Văn hoá toàn quốc ở Việt Bắc. Đó cũng là cơ duyên cụ Võ được gặp Bác Hồ. Lần ấy Bác đã mời cụ Võ về ở với mình bảy ngày. Khi nhận được thơ tặng của bạn cũ, cụ Võ Liêm Sơn có thơ hoạ lại, cũng theo lối thể thơ năm chữ, tám câu. Nguyên văn: Kính tặng Hồ Chủ tịch. Phùng công hỉ công kiện / Chiến sự bách mang trung / Đối thoại duy dân quốc / Tương kỳ tại hiếu trung / Hùng tài nguyên bất thế / Đại đạo bản vi công / Tương kiến trùng lai nhật / Kháng chiến dĩ thành công.

Nguyên bản Hán tự của bài thơ Tặng Võ Công (trái) và bài cụ Võ hoạ lại

Tạm dịch thơ:

Gặp cụ mừng cụ khoẻ
Việc quân bận vô cùng
Chuyện trò chỉ dân nước
Cùng tỏ một hiếu trung
Tài hùng đâu dễ có
Đạo lớn cốt vì chung
Ngày ta gặp nhau lại
Kháng chiến đã thành công

Cả hai bài thơ tặng và hoạ lại đều chung một sợi chỉ đỏ: tin ở thành công của kháng chiến.

Khi chia tay người bạn cũ để về lại khu 4, Hà Tĩnh, cụ Võ được Bác Hồ tặng chiếc gậy có khắc dòng chữ: “Tặng Võ Liêm Sơn tiên sinh”.

Tiếc rằng không được nhìn thấy ngày chiến thắng năm 1954, do bị bệnh, cụ qua đời năm 1949 tại quê nhà. Nhớ đến người bạn cũ, hễ biết có cán bộ đi qua Hà Tĩnh, bao giờ Bác cũng trân trọng nhờ đến thắp hương trước mộ cụ Võ tỏ mối thâm tình đồng chí đồng hương.

TRẦN ĐÌNH VIỆT

sgtt.vn

“Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011), Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa tổ chức họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cuốn sách dày hơn 200 trang, gồm hai phần: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất; do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, tập hợp tư liệu.

Cuốn sách cung cấp nhiều hình ảnh quý (trong đó nhiều hình ảnh tư liệu lần đầu tiên được công bố) về tình cảm chân thành của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các chặng đường hoạt động đối ngoại của Người. Cùng với đó là những trích đoạn bài viết, cảm tưởng của các chính khách, bạn bè, nhân dân thế giới về tư tưởng, đạo đức và tài năng của Người. Đó là minh chứng sống động về tình cảm yêu mến của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn tại buổi họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không dừng ở sự ngưỡng mộ, Bác Hồ của chúng ta đã được nhiều người coi như tấm gương về ý chí và nhân cách để noi theo. Thông qua cuốn sách, những người biên soạn đã mang tới một góc nhìn mới và nhiều điều chưa biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách còn có nhiều bức ảnh quý ghi lại những khoảnh khắc bình dị, trải theo cuộc đời của Người mà ở đó ta nhận thấy những tình cảm của bạn bè thế giới dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tự nhiên mà cũng rất sâu sắc. Đó là hình ảnh đón tiếp trang trọng của các chính khách dành cho Người; là niềm vui được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của những phóng viên, nhà báo, đại biểu phụ nữ, nông dân; là những bó hoa tươi thắm, nụ cười rạng rỡ của các em thiếu nhi thế giới chào đón Người…

Đặc biệt, trong cuốn sách ảnh có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố như: Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3/1946; Bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí nước ngoài, năm 1968; bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958…

Tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết, ngoài phát hành trong nước, ấn phẩm sẽ được phát hành thông qua con đường ngoại giao đến với bạn bè quốc tế và kiều bào ta ở nước ngoài.

Một số bức ảnh lần đầu tiên công bố trong cuốn sách:

Quốc Đô

dantri.com.vn

Để lịch sử tiếp tục được kể

SGTT.VN – “Tôi đã tổ chức năm triển lãm ảnh về Cụ Hồ. Tất cả đều được công chúng Việt Nam và Pháp đón nhận. Nhưng chính từ các triển lãm đó, tôi nhận thấy có rất nhiều con người trong lịch sử đã bị quên trong khi họ rất đáng được nhớ…” – bà Dominique de Miscault tâm sự (ảnh).

Ngày 15.11 vừa qua, nữ ký giả Dominique de Miscault đã trao cuốn băng bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình cho đại diện của kênh truyền hình VTV4 thuộc đài Truyền hình Việt Nam. Đây là bộ phim do bà tổ chức sản xuất từ tháng 10.2010 và hoàn thành vào tháng 10.2011. Nội dung phim dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000 cây số để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của nhà báo Léo Figuèrre (nguyên uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phó chủ tịch liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, tổng biên tập báo Tiền Phong – Pháp) về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950. Qua hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc, bộ phim còn thể hiện những ấn tượng của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng tự do và độc lập, những suy nghĩ, trải nghiệm của ông về Việt Nam ngày nay và niềm tin vào tương lai quan hệ Việt – Pháp nói riêng, các nước khác nói chung.

“Tôi cảm thấy mình và Léo Figuèrre có một cái duyên nào đó với nhau. Tất nhiên, tôi đã biết ông từ trước nhưng trực tiếp gặp mặt là năm 2004 khi tôi giúp một đoàn làm phim của đài Truyền hình TP.HCM sang phỏng vấn ông ấy. Trong một số triển lãm ảnh mà tôi tham gia tổ chức, cũng có những tư liệu ảnh về Léo. Nhưng chúng tôi không xác định được những người Việt Nam chụp chung với ông ấy là ai. Khi ảnh được trưng bày, chính những người đó hoặc con cháu họ lại nhận ra và hỏi về Léo”, bà Dominique nói.

Có lẽ mười năm trước, chính Dominique không hề nghĩ có ngày bà sẽ làm hẳn một bộ phim về Hồ Chí Minh. Trong cuộc gặp gỡ báo chí, bà dí dỏm giải thích mình đã “bị dẫn vào câu chuyện này” khi nhận lời giúp đỡ chị Nguyễn Thu Hà, cán bộ bảo tàng Hồ Chí Minh khi chị Hà sang Pháp tìm kiếm tư liệu về Bác. “Tôi từ một người mà những hiểu biết về Hồ Chí Minh gần như là con số không tròn trịa, đi cùng với chị Hà, gặp các nhân chứng, tiếp xúc những tư liệu, tôi đã tò mò rồi thích thú và cuối cùng là ngưỡng mộ con người vĩ đại này”.

Bác Hồ và ông Léo Figuèrre tại Việt Bắc năm 1950 – hình ảnh từ bộ phim Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình.

Cách đây một năm, khi một hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh được tổ chức tại Việt Nam, người viết đã có dịp được lần đầu tiếp xúc và nói chuyện với bà Dominique. Người phụ nữ 64 tuổi đã thẳng thắn phát biểu: “Ở Pháp rất nhiều người không biết Hồ Chí Minh. Đừng nói những người trẻ, chính tôi là một ví dụ đây. Và cũng vì thế tôi mới quyết định làm bộ phim này”. Phim đã làm xong nhưng bà Dominique đang lo một chuyện nữa là làm sao phim được chiếu rộng rãi. Chính vì thế, ngoài những nỗ lực để bộ phim được chiếu tại Pháp trong thời gian sớm nhất, bà đã quyết định tặng kênh VTV4, “vì đây là kênh truyền hình phát toàn cầu nên sẽ có rất nhiều người trên thế giới xem được, nếu như phim được chiếu”. Ông Bạch Ngọc Chiến, trưởng ban truyền hình đối ngoại, đã hứa sẽ đưa bộ phim lên sóng sớm nhất và vào một dịp phù hợp.

“Khi tôi và chị Thu Hà đi tìm kiếm tư liệu về Cụ Hồ tại Pháp cách đây mấy năm, chúng tôi thấy rằng chính chúng tôi, một thế hệ có thể coi đã bắt đầu già, cũng đang bị mất dấu lịch sử. Có những khoảng trống không – thời gian, có những con người vô danh nhưng thực ra lại rất cần được biết tên, nhưng chúng tôi không thể xác định nổi. Vậy thì thế hệ sau chúng ta liệu sẽ còn mất mát quá khứ như thế nào. Tôi chỉ nghĩ rằng mỗi người một phần, một cách khác nhau nhưng đều nên nỗ lực để lịch sử lại tiếp tục được kể”, bà Dominique nói.

DUNG P.

sgtt.vn

Hồ Chí Minh, mùa xuân và cuộc đời

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Chúng ta đang đón một mùa xuân – đất trời Việt Nam lộng lẫy sắc hương và thắm đậm tình người. Bão tố, mưa giông, nắng hạn, lũ lụt… đã phải đầu hàng trước sự gắng gỏi vượt lên của đồng bào miền Trung kiên cường cùng với sức mạnh kết đoàn, sẻ chia của đồng bào cả nước. Một sức xuân đang trỗi dậy trong sự quần tụ, sinh thành của dân tộc luôn biết vượt qua những ngày đông giá lạnh và mây mù.

Vượt qua sương gió đông tàn, để ta có cảnh huy hoàng mùa xuân – mùa xuân kỷ niệm lần thứ 81 Ngày thành lập Đảng, mùa xuân chào mừng Đại hội XI của Đảng. Thời gian chắt lọc, giữ lại những hạt vàng, hạt ngọc của cuộc sống gian lao, ươm trồng, ấp ủ cho mùa xuân mới tái tạo sinh thành. Thời gian kết thành lộc biếc, chồi xanh, hoa thơm, quả ngọt cho đời.

Xuân mới đã về trên toàn cõi Việt Nam. Hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam cùng khoe sắc thắm, cùng điểm tô cho mùa xuân Việt rực rỡ sắc màu. Trong mọi gia đình Việt Nam đều thắp nén nhang thơm trên bàn thờ tiên tổ khi mà thời khắc linh thiêng giao hòa giữa Trời – Đất – Con người, lòng nặng ân tình nhớ tới Người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – vị cứu tinh của dân tộc, Người đã khai sinh thể chế dân chủ cộng hoà của nước nhà, Người đã để lại một di sản văn hoá tinh thần bất diệt cho giống nòi. Người là linh hồn của mùa xuân muôn đời cho đất Việt bởi những tư tưởng của Người sống mãi với thời gian trong sự sinh thành và phát triển của đồng bào dân nước.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đó là lẽ sống của muôn đời!

Đấu tranh chống sự lạm quyền về chính trị, độc đoán về hành chính, bóc lột về kinh tế của mọi thế lực áp bức để làm tròn sứ mệnh giải phóng con người là tuyên ngôn chính trị từ thuở thanh xuân khi Người mới bước vào con đường tranh đấu. Cả cuộc đời Người trước sau cũng chỉ có một ham muốn: Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Ham muốn của Người cũng chính là ước mơ, là lời chúc tân xuân cho mọi kiếp người, cho muôn đời dân nước.

Muốn đạt mục tiêu giản dị và vô cùng cao đẹp đó thì phải sửa sang thế đạo, kinh dinh nhân quyền. Đó là công việc khởi đầu hàng năm của mọi chế độ chính trị và của mọi nhân cách. Làm việc đó thường xuyên, liên tục thì mùa xuân dân tộc mới xanh tươi và thế giới con người mới được vui vẻ với “bánh mì và hoa hồng”.

Sức sống mãnh liệt của mùa xuân sẽ giúp con người vượt cao hơn chính mình để dựng xây, kiến tạo. Vô luận việc gì đều do người làm ra. Nhưng trước hết người cán bộ, đảng viên phải biết tự chỉ trích và đổi mới, bởi Hồ Chí Minh từng khẳng định Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên là do mỗi chúng ta lớn lên. Người nhiều lần chỉ rõ Đảng và Nhà nước phải không ngừng nâng cao dân chúng cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy, ngay sau khi mới giành được chính quyền (8-1945) Người đã đề ra diệt giặc dốt và giáo dục lại dân ta song hành cùng với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Trồng cây và trồng người là việc làm cho đất nước ngày càng xuân, là cách duy nhất để làm cho mùa xuân của Tổ quốc ta sẽ là mùa xuân vĩnh hằng.

Trước lúc “lên đường theo tổ tiên”, Người căn dặn ngay sau khi kháng chiến thắng lợi, Đảng và Nhà nước, trong công tác thì phải: Đầu tiên là công việc đối với con người. Do vậy Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để chăm lo đời sống của nhân dân. Và trước tiên phải chỉnh đốn lại Đảng.

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Xuân mới đã về! Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh!

Trần Đức Trung

xaydungdang.org.vn

Xúc động xem những bút tích của Bác Hồ

(Dân trí) – Hàng trăm bút tích với nhiều nét chữ, ngôn ngữ, hình minh họa của Bác Hồ ghi dấu ấn những sự kiện quan trọng hay tình cảm với nhân dân, đồng chí đã cho người xem hiểu rõ hơn con người của vị Chủ tịch vĩ đại luôn sống mãi trong lòng dân.

Đó là nội dung cuộc triển lãm “Sưu tập tư liệu bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhân kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam và 42 năm thực hiện Di chúc của Người vừa khai mạc ngày 1/9 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (số 7 Lê Lợi, TP Huế).

Hơn 100 trang tư liệu tiêu biểu có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm 4 phần chính: Bút tích của Chủ tịch trong một số văn bản chính trị của Người; Bút tích của Chủ tịch trong một số bức thư, bài nói chuyện, Điện thăm hỏi; Bút tích của Chủ tịch trong một số tác phẩm văn học, báo chí, tranh vẽ minh họa của Người và kỷ vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Đảng bộ và nhân dân TT- Huế được lấy từ các bản sao của nhiều bảo tàng trên cả nước và kỷ vật cụ thể của Bác trao tặng.

Các bút tích của Người dưới nhiều dạng như bản nháp, bản gần chỉnh sửa, bản hoàn chỉnh, bản đánh máy hay những chữ ký tặng trên các bằng khen, ảnh, hiện vật trao tặng… Khá nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung đã được người viết thành thạo và nét chữ rất đẹp, rõ ràng.

Triển lãm đã làm toát lên thêm một phần quan trọng của con người Bác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, phát triển nước nhà và tình yêu thương chan chứa đối với toàn quân, toàn dân.

Thư Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) gửi cho một Việt Kiều ở Marseille (Pháp) nhằm thu nhập tài liệu trong nước để tuyên truyền – ngày 27/11/1920 (Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Thư Nguyễn Ái Quốc gửi Trung ương Đảng cộng sản Pháp 7/1923 (Nguồn tài liệu viết tay, tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng)

Tranh đả kích do Bác vẽ đăng báo Le Paria số 26 tháng 6/1924

Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào về việc mua báo Le Paria (Người cùng khổ), 28/5/1923 (Nguồn: Bản chụp tiếng Pháp, bà Dominique de Miscault tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, TT-Huế năm 2010)

Trò lố hay Varen và Phan Bội Châu – Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc đăng báo Người cùng khổ số 36-37 tháng 9-10/1925

Tác phẩm “Đường Cách Mệnh”

“Nhật ký trong tù”

Thư Bác gửi Văn phòng đại diện Đảng cộng sản Mỹ (27/2/1930)

Bút tích của Bác in trên báo “Việt Nam độc lập” – Cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng năm 1941

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác (19/12/1946) – Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Hoàng Hữu Nam (tức Phan Bôi (1911-1947) Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến

Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì của ông Phan Văn Bang (Thừa Thiên HUế) có bút tích chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bút tích bài thơ “Nguyên tiêu” bằng chữ Hán của Bác, 1948

Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện bài thơ “Quế Lâm phong cảnh ca” bằng chữ Hán

Bút tích của Người vịnh phong cảnh Thái Hồ khi Người đi công tác qua tỉnh Thái Hồ (Trung Quốc) tháng 5/1961 – Trích tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bút danh và bút tích” – Nxb VHTT – 2007

Bút tích Bác về ông Lê Đình Cao, Kiều bào Tân Thế giới có tinh thần đóng góp xây dựng quê hương, 1964

Bút tích trong thời kỳ Hiệp định Giơ-Ne-Vơ, 1954

Thư Bác gửi động viên tinh thần làm việc cán bộ công nhân mỏ Lào Cai, 1959

Bút tích của Bác viết về sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, năm 1965

Tiểu đội 11 cô gái sông Hương (Huế) đọc thơ Bác tặng, 1968

Bác gửi nhà thơ Huy Cận sau khi Người đọc xong tập thơ, 1963

Thư Bác gửi thiếu nhi Liên Xô, 1961

Thư Bác gửi Nhi đồng Toàn quốc dịp Tết Trung Thu (2/10/1950)

Ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh có bút tích đề tặng ông Nguyễn Phi Phụng (Thừa Thiên Huế)

Lời ghi cảm tưởng của Bác trong sổ vàng điện Kremli, dịp Người sang thăm Liên Xô, 13/7/1955

Bút tích của Chủ tịch tại sổ vàng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (20/1/1960)

Thư Bác gửi cảm ơn đồng bào về việc đã nhận được bộ truyện Tây Du Ký (27/11/1922) (Nguồn: Bản chụp bút tích tiếng Việt, bà Dominique de Miscault tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, TT-Huế năm 2010)

Thư Chủ tịch gửi các chiến sĩ Bình dân học vụ (8/1948) về việc diệt giặc dốt

Một phần bài báo của Chủ tịch “Nâng cao đạo đức Cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ngày 3/2/1969

Chân dung Người có chữ ký và bút tích của Người đề tặng ông Hà Văn Lâu – Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (19/5/1950) (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế)

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9/1969)

Từ chiếc máy chữ này, Người đã dồn hết tâm lực soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng quan hệ đến vận mệnh của Tổ quốc.

Đại Dương

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Vị Thánh nhân của dân tộc

(PL&XH) – Mỗi độ xuân về, người dân Việt Nam nhớ Bác Hồ – qua những vần thơ chúc Tết của Người. Trong thế kỷ 20, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên Người không chỉ vĩ đại đối với dân tộc Việt Nam mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển.

Hàng năm, mọi đình, đền, miếu mạo thờ Đức Thánh Tản Viên đều tổ chức lễ hội, nhưng được tổ chức với quy mô lớn vào các năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu (âm lịch), các tên gọi này cũng là tên gọi các tháng giữa bốn mùa. Tháng Tý là giữa mùa Đông thì tháng Ngọ là giữa mùa Hè; tháng Mão là giữa mùa Xuân và tháng Dậu là giữa mùa Thu. Đó là quy luật của trời đất, tâm linh của vạn vật theo Ngũ hành tương sinh (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ), linh khí của đất trời tạo hóa.

Bác Hồ với đồng bào, cán bộ, bộ đội tại Thuận Châu ngày 7-5-1959

Điểm lại những mốc son lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20, trùng hợp với điều này: Năm 1930 (năm Canh Ngọ) – Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Cách mạng tháng Tám thành công. Năm 1954 (năm Giáp Ngọ) – Việt Nam làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Chấn động địa cầu” lập lại hòa bình ở Việt Nam. Năm 1960 (năm Canh Tý – Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tạo bước ngoặt thế và lực cho cách mạng bước sang giai đoạn mới. Năm 1972 (năm Nhâm Tý) với chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” quật ngã “Pháo đài bay B52” trên bầu trời Hà Nội, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris. Kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt hơn 30 năm là cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975 (năm Ất Mão). Đó là những mốc thời gian kỳ diệu của cách mạng Việt Nam, đều rơi vào những năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu! Đôi điều quy luật trong thời đại Hồ Chí Minh đã minh chứng cho dân đất Việt thờ Thánh Tản Viên trong tứ niên: Tý – Ngọ – Mão – Dậu quả là điều kỳ diệu.

Tại những thời khắc quyết liệt đầy cam go của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước mọi tình thế của cách mạng. Nhớ lại xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trường ca “Lịch sử nước ta” với 236 câu lục bát, cuối tác phẩm có mục ghi những mốc lớn trong lịch sử dân tộc, trong đó có dòng chữ tiên đoán: “Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Việt Nam độc lập”.

Trong cuốn sách “Nam Đàn xưa và nay” đã phân tích về một sự kiện kỳ lạ: “Tại cuốn Nghệ An ký của Hoàng Giáp Bùi Đương Lịch, viết vào cuối thế kỷ 18 có nhắc đến câu sấm truyền… “Độn sơn phân giới… Nam Đàn sinh thánh”. Học trò của cụ Phan Bội Châu lúc đó đã hỏi: “Nam Đàn sinh thánh” có phải ứng vào thầy không? Cụ Phan đã giải thích: “Câu sấm truyền ấy có ứng thì là Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)”. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Phó Chủ tịch nước, có thời gian ngắn làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khâm phục trí tuệ siêu phàm, tâm linh thấu thiên cơ của Người: “Tầm con mắt trong cao tột bậc, nhận rõ đại cuộc, xét thấu thiên cơ”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhận định, đánh giá tầm nhìn đi trước thời gian của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Người thường kể với chúng tôi, dự đoán tương lai. Người nói, chừng 4 hay 5 năm nữa, cách mạng Việt Nam sẽ thành công…”. Ngay đánh giá “Thế và Thời” trong khởi nghĩa giải phóng dân tộc, theo quan điểm Hồ Chí Minh đó là “vận nước”. Bởi “Đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”! Ngay cả thời điểm trước lúc ra đi, Người đã để lại cho toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta những lời tiên tri trong những vần thơ chúc Tết năm 1969 (năm Kỷ Dậu), để 6 năm sau, đúng năm 1975 (năm Ất Mão) đã trở thành hiện thực:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!”.

Người dự đoán thật chính xác: Đánh cho Mỹ cút năm 1973 thì Ngụy ắt phải nhào, phải sụp đổ tan tành năm 1975.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong tâm linh của Người khi Cách mạng tháng Tám mới thành công, nhận rõ vai trò quan trọng của các di tích, danh lam thắng cảnh và các vùng đất linh thiêng của Tổ quốc, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 về “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành, quách, lăng, mộ, chiếu sắc, văn bằng… có ích cho lịch sử”. Và, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự thảo, được Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta (năm 1946) – Văn bản quan trọng nhất, thể chế hóa đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Suốt cả cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn đến thăm những di tích thiêng liêng của đất Việt như đền Hùng, chùa Hương Tích, chùa Côn Sơn, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, di tích Cổ Loa thành, chùa Trầm… Người luôn luôn trân trọng giá trị tâm linh. Ngày hòa bình mới được lập lại, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành kính lễ Phật Bà Quan Thế Âm khi về chùa Hương Tích hay khi cùng vua Lào (sang thăm Việt Nam năm 1963) đến lễ Phật tại chùa Quán Sứ.

Lê Hữu

Đó là sự kế tục dòng chảy văn hóa tâm linh đất Việt. Các đời vua, các danh nhân, anh hùng dân tộc như: Lý Công Uẩn, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đều sớm tìm đến vùng đất thiêng nhằm khởi phát để nối mạch thông linh: Thiên – Địa – Nhân, tạo thế trường tồn cho đất nước, cho muôn đời con cháu mai sau.

Khi đất nước còn chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý tới khu linh thiêng K9- Đá Chông, Ba Vì. Theo quan điểm của triết học phương Đông, bình địa rộng lớn của K9 là nơi tổng hòa các yếu tố linh thiêng quy tụ. Bởi, trước mặt là sự giao thoa của 3 dòng: Sông Đà, sông Thao và sông Hồng; sau lưng dựa núi Tản Viên, hai bên tả, hữu triền núi thoai thoải, nước sông Đà “trường lưu thủy” chảy từ tả sang hữu (trái sang phải) hội hợp về biển lớn đúng với cái thế “Tiền cận Giang – Hậu tựa sơn” (trước là sông, lưng tựa núi). Thế đất của K9 là “thế tay ngai”, hội tụ phát tích linh khí, nằm trong năm vùng địa linh tuyệt diệu của đất Việt. Vì vậy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, chiến sĩ bảo vệ K9 không được chặt cây, phá đá, phải giữ nguyên các quần thể, từng khối đá trụ nơi đây.

Người đã đi xa 43 năm, để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào, đồng chí cả nước. Tại nhiều đình, đền, miếu, chùa và nhiều gia đình đã lập bàn thờ tỏ lòng thành kính với Người. Đất nước vào xuân, đôi điều tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh như một giá trị vô giá trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trí Hải

phapluatxahoi.vn

Ngày xuân thấm thía lời Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Đó là mục tiêu, là lẽ sống của dân tộc ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn Việt Nam. Điều đó đã trở thành chân lý.

Năm 1966, khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” Lời của Bác đã trở thành quyết tâm sắt đá của mỗi người dân đất Việt.

Trải qua những năm dài chìm trong đêm trường nô lệ, người dân nào cũng thấu hiểu nỗi nhục mất nước. Nước mất độc lập thì dân đâu còn có tự do? Đất nước bị mất tên trên bản đồ thế giới, mọi quyền hành rơi vào tay kẻ cai trị bạo tàn, nhân dân sống đời nô lệ, tăm tối, bị áp bức, bóc lột đến tận xương tuỷ, đói khổ lầm than! Từ thực tế ấy không chỉ riêng Bác Hồ mà là cả dân tộc Việt Nam đều nhận thấy “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý vĩnh hằng. Độc lập, tự do trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời. Độc lập đó phải gắn với quyền tự quyết dân tộc, gắn liền với thống nhất đất nước, đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại mọi sự chia cắt. Độc lập đó cũng phải gắn với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, gắn với chủ nghĩa xã hội. Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân là tiền đề để đi đến CNXH; còn CNXH sẽ là cơ sở, là điều kiện để giữ vững sự độc lập, tự do ấy. Nếu nước được độc lập mà dân không được ăn no mặc ấm, không được hạnh phúc thì cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý, mục tiêu, lý tưởng của cả dân tộc Việt Nam và chính Hồ Chí Minh – người khái quát nên chân lý ấy, hơn ai hết đã hy sinh cả cuộc đời mình cho lý tưởng cao đẹp này.

Suốt ba mươi năm bôn ba tìm đường giải phóng cho dân tộc, mang lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, biết bao hiểm nguy, gian khó, Người vẫn luôn khẳng định mà không hề nao núng rằng “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Người luôn tâm niệm một điều duy nhất là “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Rồi đến khi về nước, lúc thì phải ẩn mình nơi hang đá, lúc phải đối mặt với những nguy cơ thách thức khốc liệt, Người luôn luôn chỉ nghĩ đến đất nước, đến nhân dân mà quên chính bản thân mình.

Khi Tổ quốc chưa được giải phóng hoàn toàn, Bác không lo cho hạnh phúc của riêng mình. Cả đến giấc ngủ cũng trằn trọc không yên vì “thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu, manh áo phủ làm chăn, trời thì mưa lâm thâm, làm sao cho khỏi ướt”. Lòng Bác cứ nặng trĩu vì nhân dân, vì Tổ quốc mà quên nghĩ đến bản thân. Cuộc đời của Người là một tấm gương hy sinh quên mình vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngay cả lúc ốm thập tử nhất sinh Người vẫn dặn dò: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”! Một tấm gương, một con người mà cả thế giới nghiêng mình cảm phục!

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Câu nói tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa thật bao trùm, trong mọi trường hợp đều có thể tóm được “mẫu số chung” trong câu nói nổi tiếng ấy. Với một cá nhân, một đơn vị, một ngành, một địa phương hay trong phạm vi một quốc gia nào cũng đều đúng cả. Trong cuộc sống, trong công tác và nhất là trong các mối quan hệ, một khi ai đó phải lệ thuộc vào người khác về tình cảm, về vật chất hay về ơn huệ, nói chung ít nhiều đều tự mình làm mất đi một phần độc lập, tự do của mình. Một người nhận hối lộ, tất không thể độc lập, tự do giải quyết vấn đề một cách vô tư…

Với câu nói của Bác, độc lập, tự do mang ý nghĩa thật lớn lao và đó là sinh mệnh của cả đất nước, dân tộc. Để có được độc lập, tự do, điều tất yếu là phải hiến dâng xương máu cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do; phải chiến đấu và chiến thắng để bảo vệ nền độc lập, tự do ấy. Trên bước đường tranh đấu với lý tưởng độc lập, tự do, thời gian và công việc là liều thuốc thử để nhận rõ phẩm chất, ý chí và lòng trung thành của mỗi người dân cũng như với cả dân tộc. Lịch sử từng hơn một lần chứng minh rằng, cái giá mà dân tộc ta phải trả để giành được độc lập, tự do là không hề nhỏ. Chính vì thế mà chúng ta càng phải nâng niu, quý trọng và đồng tâm dốc sức vì nền độc lập, tự do vẹn toàn và mãi mãi của đất nước; triệu người như một, quyết không khuất phục trước bất kỳ một thế lực phản động nào. Trong suốt cuộc đời cao đẹp của mình, dù ở hoàn cảnh nào Bác Hồ cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự do. Chính lý tưởng đó đó tạo nên nghị lực phi thường, niềm tin sắt đá của Bác trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước. Sau này, với cương vị Chủ tịch nước, một lần nữa Bác tiếp tục khẳng định giá trị của độc lập, tự do bằng câu nói bất hủ: Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do…

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân. Để phát huy tinh thần này chúng ta cần phải ra sức hành động, xây dựng đất nước giàu mạnh. Phải đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, tiến kịp với các nước trên thế giới. Phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, đồng thời phải thường xuyên chăm lo củng cố quốc phòng an ninh, sẵn sàng đánh bại mọi hoạt động, âm mưu bạo loạn, lật đổ, xâm lược; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân ta. Cần phải phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người để nhân dân có thể tự ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nguyễn Thị Hương
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Hình ảnh về Bác ở khắp nơi trên thế giới

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/06/1911 – 05/06/2011), chúng ta hãy tìm hiểu xem thế giới đã lưu danh Người như thế nào nhé!

Một con người lỗi lạc, một nhà cách mạng, một tri thức, một văn hào vĩ đại của Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh là hình tượng sống mãi trong lòng người Việt và cộng đồng những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Nhiều nước trên thế giới đã dựng tượng, quảng trường, đặt tên đường phố, trường học để lưu niệm về Người – vị cha của cả dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Hồ Chí Minh là một trong số ít những danh nhân kiệt xuất được kỷ niệm và lưu danh rộng khắp trên cả năm châu lục.

Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình, Hà Nội

Chúng ta hãy thực hiện một hành trình vòng quanh trái đất và tìm hiểu về niềm tự hào to lớn này tại các nước nhé.

Người bạn, người đồng đội, đồng chí của dân tộc Việt Nam. Cuba là đất nước theo thể chế Xã hội chủ nghĩa và đã giúp đỡ rất lớn cho quá trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Như một điều tất yếu, được dựng tượng Hồ Chí Minh, được lưu niệm những gì liên quan về Người là niềm mong muốn, tự hào của đất nước Cuba anh em. Hiện nay, tại Cuba bạn bắt gặp rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh.

+ Tượng chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Lahabana

Tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng do kiến trúc sư Joel Diaz, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam thiết kế khánh thành vào năm 2003. Được xây dựng nổi bật giữa Công viên Acapulco cạnh Đại lộ 26, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm Thủ đô Lahabana (nhân dịp này được đổi thành Công viên Hòa Bình).

+ Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo (được thành lập năm 1974).

+ Trường cấp I Bác Hồ ở Lahabana (khánh thành năm 1976).

Đây chính là những địa điểm đại diện cho tình bằng hữu, tình cảm mà nhân dân hai nước muốn hướng về nhau. Đồng thời nó cũng thể hiện niềm kính trọng, biết ơn của nhân dân Cuba đối với Hồ Chí Minh.

Mêxicô

Hiện nay, tại đất nước Mêxicô cổ kính và huyền bí này, cái tên Hồ Chí Minh chắc hẳn rất quen thuộc.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Mêxicô

Ngày 16/01/2009, thị trưởng thành phố Mêxicô – Marcelo Ebrad và ông Phạm Văn Quê, đại sứ Việt Nam tại Mêxicô, đã chính thức vén khăn khánh thành công viên “Tự do cho các dân tộc” và tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô).

Tượng đài chân dung Hồ Chí Minh được đặt đối diện tượng đài người anh hùng dân tộc vĩ đại của châu Mỹ Latin Simon Bolivar, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính và lớn nhất thành phố Acapulco.

Mêxicô là một trong những quốc gia Mỹ latin đã xem Hồ Chí Minh như là một anh hùng của toàn nhân loại, một danh nhân kiệt xuất đã đấu tranh trọn đời cho sự nghiệp của các dân tộc bị áp bức.

Pháp

Có lẽ Pháp là đất nước ghi dấu nhiều ký ức nhất về hành trình bôn ba của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Như một phần của niềm hãnh diện ấy, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá giữa thời đại chúng ta.

+ Di tích: Nhà số 9, ngõ Compoint, Quận 17 (Paris). Tại đây Hồ Chí Minh đã từng sinh sống và làm việc trong thời gian dài trên đất nước Pháp.

+ Bảo tàng lịch sử sống Montreuil. Đây là một khu bảo tàng về toàn bộ cuộc đời sự nghiệp Hồ Chí Minh, quá trình Người sinh sống và làm việc tại nước Pháp.

Bức tượng chân dung Hồ Chí Minh duy nhất trên nước Pháp được đặt trong khuôn viên của bảo tàng.

Liên Bang Nga

Nếu Việt Nam – Cuba là anh em, thì Liên Bang Nga (Liên Xô trước đây) chính là người anh cả của cả hai nước. Đất nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Cũng từ đây Hồ Chí Minh đã tìm tới ánh sáng của chủ nghĩa, của lý luận cách mạng mà Lênin là hiện thân tiêu biểu nhất.

Hiện nay, tại Nga có rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, như là một vĩ nhân của thế giới nói chung và hệ thống xã hội chủ nghĩa nói riêng.

+ Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Matxcova.

Nằm ở nơi giao nhau giữa phố Dmitri Ulianov (mang tên em trai V. I. Lênin) và phố “Sáu mươi năm Cách mạng Tháng Mười”, quảng trường Hồ Chí Minh sáng bừng trong nắng tháng 5, khi mùa xuân Nga đang thời điểm rực rỡ nhất. Tại đây được dựng một bức tượng lớn tưởng niệm về Hồ Chí Minh.

Tượng đài Hồ Chí Minh đặt trong quảng trường là tác phẩm Vladimir Efimovich Tsigal, nghệ sĩ nhân dân, viện sĩ Viện hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô, tác giả của hơn 40 nhóm tượng đài nổi tiếng.

+ Đại lộ Hồ Chí Minh, ở Ulianopxco.

+ Tháng 5-2010, một bức tượng Hồ Chí Minh được khánh thành trong khuôn viên khoa ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Trong dịp này, Viện Hồ Chí Minh được thành lập do tiến sĩ khoa học lịch sử Vladimir Kolotov, nhà Việt Nam học, chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông thuộc Đại học Tổng hợp Saint Petersburg, làm Giám đốc.

Hungari

Tại Hungary, đài tưởng niệm Hồ Chí Minh (có từ năm 1976) được dựng tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách thủ đô Budapest khoảng 220 km.

Ấn độ

+ Đường Hồ Chí Minh ở thành phố Cancutta.

+ Tượng đài Hồ Chí Minh, được đặt tại giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Nêru thành phố Cancutta.

+ Ngay tại thủ đô Niu Đêli cũng có một đại lộ lớn được đặt tên Hồ Chí Minh.

Madagascar

Tại đất nước châu Phi này, quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh đặt tại trung tâm thủ đô Antananarivo.

Angola

Cộng hòa Angola đã đặt tên Hồ Chí Minh cho một con phố lớn ngay tại trung tâm Thủ đô.

Ngoài những đất nước trên, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của nhân loại thế kỷ XX – Hồ Chí Minh, được nhiều nước khác lưu danh, kỷ niệm. Trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và một số nước châu Phi khác. Đặc biệt, rất nhiều quốc gia còn in hình chân dung Hồ Chí Minh lên tem bưu chính như một cách thể hiện thiện chí trân trọng nhất.

Chân dung Hồ Chí Minh trên tem các nước trên thế giới.

Hiện nay, rất nhiều nước tỏ ý muốn được đặt tượng và xây dựng công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh tại chính quốc. Điều này đã một lần nữa thể hiện được tầm, trí, dũng, khí của người Việt Nam mà tiêu biểu là Hồ Chí Minh đã vươn xa, và sẽ còn xa mãi cả về không gian và thời gian.

NamBun

phapluatxahoi.com.vn

Thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, Người còn là một nhà thơ lớn. Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rất nhiều thơ. Bên cạnh tập Nhật ký trong tù và nhiều bài thơ khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người còn để lại cho chúng ta những bài thơ chúc Tết với biết bao tình cảm ấm áp thương yêu.

Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc giao thừa để lắng nghe thơ chúc tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc tết. Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …

(Tố Hữu)

Thơ chúc Tết của Bác Hồ gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài thường khen ngợi thành tích của một nǎm công tác và đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho nǎm mới, động viên mọi người phấn khởi hǎng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ mới.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hợp 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1942 – 1969 trong tập Hồ Chí Minh “Thơ chúc Tết” do Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM NGỌ – 1942

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH TUẤT – 1946

Hỡi các chiến sĩ yêu quí,
Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn nǎm!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH HỢI – 1947

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU TÝ – 1948

Nǎm Hợi đã đi qua,
Nǎm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ SỬU – 1949

Kháng chiến lại thêm một nǎm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần,
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

Người người thi đua.
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua

THƠ CHÚC TẾT XUÂN CANH DẦN – 1950

Kính chúc đồng bào nǎm mới,
Mọi người càng thêm phấn khởi,
Toàn dân xung phong thi đua,
Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới,
Chuyển mau sang tổng phản công,
Kháng chiến nhất định thắng lợi.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN MÃO – 1951

Xuân này kháng chiến đã nǎm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn hǎng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM THÌN – 1952

Xuân này, xuân nǎm Thìn
Kháng chiến vừa sáu nǎm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trǎm phần trǎm.

Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tǎng gia
Nǎm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.

Mấy câu thành thật nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ TỴ – 1953

Mừng nǎm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng nǎm mới, nhiệm vụ mới,
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP NGỌ – 1954

Nǎm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:
– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do
– Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,
Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.
Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông.
Nǎm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH THÂN – 1956

Thân ái mấy lời chúc Tết:
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng,
Quyết chí, bền gan phấn đấu,
Hoà bình, thống nhất thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ HỢI – 1959

Chúc mừng đồng bào nǎm mới,
Đoàn kết thi đua tiến tới,
Hoàn thành kế hoạch ba nǎm,
Thống nhất nước nhà thắng lợi.

THƠ CHÚCTẾT XUÂN CANH TÝ – 1960

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng báo ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng, hǎng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN SỬU – 1961

Mừng nǎm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 nǎm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hǎng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM DẦN – 1962

Nǎm Dần, mừng Xuân thế giới,
Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng.
Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,
Bốn mùa hoa Duyên-hải, Đại-phong.
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới,
Sức triệu người hơn sóng biển Đông.
Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,
Hoà bình thống nhất quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ MÃO – 1963

Mừng nǎm mới,
Cố gắng mới,
Tiến bộ mới,

Chúc Quý Mão là nǎm nhiều thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP THÌN – 1964

Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ẤT TỴ – 1965

Chào mừng Ất Tỵ xuân nǎm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!
Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH NGỌ – 1966

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plei Me, Đà Nẵng.
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.
Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH MÙI – 1967

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
Tin mừng thắng trận nở như hoa!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN – 1968

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ DẬU – 1969

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,
Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh

Những cái Tết sống xa Tổ quốc của Bác Hồ

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ. Ảnh - k14.vcmedia.vn

Đất nước bị xâm lăng, Bác phải xa Tổ quốc 30 năm ròng tìm đường cứu nước. Ba mươi năm ấy Bác đón Tết ở nơi đất khách, quê người.

Mùa hè năm 1911, Bác rời bến Nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm. Mùa xuân năm Nhâm Tý (1912), Người đón cái Tết đầu tiên ở New York (Mỹ), Người tới thăm khu Hác-lem của người da đen, tìm hiểu cuộc sống của người lao động xã hội Mỹ. Năm 1914, Người đón Tết “con hổ” ở London – Thủ đô nước Anh, trong vai người phục vụ khách sạn.

Từ mùa xuân năm 1918 đến mùa xuân năm 1923, tại Paris, Thủ đô nước Pháp, Người sống những cái tết nhớ nước, thương dân và nhiều hoạt động cách mạng sôi nổi. Sau Hội nghị Véc-xai với bản yêu sách đòi quyền cho dân Đông Dương, năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

Xuân Tân Dậu (1921), Người có cuộc đối thoại với Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp An-be Xa-rô. Mùa xuân năm 1922, ngày 1/4, tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người làm chủ nhiệm và kiêm chủ bút ra số đầu tiên tại Paris.

Tháng 6/1922, Người cho công diễn vở kịch “Con Rồng tre” đả kích vua bù nhìn Khải Định khi ông vua này sang thăm “mẫu quốc”.

Năm Quý Hợi – 1923, sau cuộc họp Hội liên hiệp thuộc địa tại trụ sở báo Người cùng khổ ở số 3 phố Mác-sê Đê-pa-tri-ác-sơ, Người đã bàn với ông Nguyễn Văn Ái và Trần Tiến Nam tổ chức Tết Nguyên đán cho những người Việt Nam tại Pa-ri. Người đề nghị hai ông chuẩn bị thật cụ thể, chu đáo, vui vẻ nhưng tiết kiệm. Tối mùng 2 Tết năm ấy, tại hiệu ăn U-ni-vec-xta phố Pie Quy-ri, buổi tiệc trà vui Tết của Bác Hồ và những người Việt Nam sống tại Pa-ri diễn ra vui vẻ, ấm cúng. Bác tuyên bố sự hoạt động trở lại của Hội ái hữu.

20/6/1923, Bác bí mật rời Paris đến Thủ đô Mát-xcơ-va dự Hội nghị Quốc tế Nông dân. Xuân Giáp Tý (1924), Người đón Tết ở khách sạn Lux, số 10 phố Tvec-skai-a. Những ngày ấy giá buốt hơn mọi năm, trong tuyết lạnh Bác lặng lẽ tiễn biệt V.I.Lênin – người thầy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Mùa xuân Ất Sửu – 1925, Người tới Quảng Châu (Trung Quốc) với tên mới là Lý Thụy. Thời gian này, Người có nhiều hoạt động để chuẩn bị cho phong trào cách mạng trong nước. Người sáng lập báo Thanh Niên, thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, tổ chức các lớp học chính trị, đào tạo cán bộ.

Mùng 1 Tết năm 1926, Người khai bút viết thư gửi đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, đề nghị gửi tài liệu phục vụ tập san “Nông dân”. Ngày mùng 2 Tết, trên diễn đàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Quốc dân đảng Trung Quốc, dưới cái tên Vương Đạt Nhân, Người tố cáo thực dân Pháp đàn áp nhân dân Việt Nam, phá hoại cách mạng Trung Quốc và kêu gọi: “Cùng nhau liên hiệp lại … Tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung …”.

Mùa xuân năm 1927, Người chủ trương ra tờ báo “Lính Kách mệnh” nhằm mục đích tuyên truyền, giác ngộ binh lính Việt Nam, xuất bản tại Quảng Châu. Sau đó tháng 4/1927, Người rời Quảng Châu, qua Liên Xô, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Italia, Pháp… và sang hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan.

Năm 1928, Người ăn Tết với những bát cháo và bánh mì rẻ tiền tại một cửa hàng ăn của công nhân Béc-lin. Mùa xuân năm 1929, Người đón Tết cùng đồng bào Thái với cái tên mới là Thầu Chín.

Với những hoạt động cách mạng rất tích cực của Người, thực dân Pháp lùng bắt Người và các đồng chí khác. Việc truy bắt Người không có kết quả, nhưng thực dân Pháp vẫn quyết định mở phiên tòa đại hình vào đầu tháng 10/1929 tại Thành phố Vinh, quê hương Người. Tại đây, Tòa án Nam Triều đã kết án tử hình vắng mặt lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Trần Phú, Hồ Tùng Mậu. Mặc cho kẻ thù lồng lộn, chống phá, truy bắt, uy hiếp, tinh thần các chiến sĩ cộng sản không những không lùi bước mà họ càng tích cực hoạt động trong các phong trào đấu tranh của các tầng lớp công-nông-binh.

Vào dịp xuân Canh Ngọ -1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, với vai trò là Ủy viên Quốc tế cộng sản, phụ trách Cục phương Đông, Người về Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1931, Người đón xuân và tham gia các hoạt động cách mạng ở Hong Kong (Trung Quốc). Tháng 6/1931, dưới cái tên Tống Văn Sơ, Người bị bắt và bị giam trong nhà tù của thực dân Anh ở Hong Kong.

Năm 1932, được sự giúp đỡ của luật sư Lô-dơ-bai, Người được trả tự do. Năm 1933, Người đón Tết ở Hạ Môn (Trung Quốc). Mùa xuân năm 1934, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Người lên một chiếc tàu hàng Xô-viết ở Thượng Hải đi Liên Xô. Năm 1939, Người trở lại Trung Quốc chuẩn bị trở về nước lãnh đạo cách mạng.

Năm Tân Tỵ – 1941, vào ngày 8/2/1941, tức là ngày mùng 3 Tết, Người cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Sâm vượt cột mốc biên giới số 108 tại Cao Bằng về với đất Mẹ thân yêu. Sự kiện quan trọng này đã in dấu trong thơ Tố Hữu:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… im lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ. 

Mùa xuân này, lịch sử tiếp tục sang trang, cả nước ta đang trên đường CNH, HĐH, cả dân tộc chớp lấy thời cơ, vượt qua thử thách, vững bước hội nhập và phát triển… Con đường Xuân mà chúng ta đang đi, chính là con đường mà Bác đã lựa chọn qua ba mươi mùa xuân xa Tổ quốc.

(Tạp chí Xây dựng Đảng)

Ký ức đón Tết bên Bác Hồ của người cảnh vệ già

(Nguoiduatin.vn) – Thật bất ngờ khi chúng tôi gặp lại đại tá Nguyễn Hữu Trực (ở thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). Cuộc sống, con người của đại tá vẫn “không thể giản dị hơn” như chính tính cách và con người ông.

Trong quá trình trò chuyện, tôi luôn cảm nhận được sự xúc động, tôn kính của đại tá mỗi khi nói về Bác và luôn gần gũi như thể ông vẫn đang là người vinh dự được phục vụ Bác vậy. Và trong không khí tết đang đến gần, kỷ niệm những cái tết được ở bên Bác lại sống động hơn cả.

“Thấm và ngấm” phong cách của Bác

Đại tá Trực sinh năm 1932 trong một gia đình bình thường như bao gia đình khác ở vùng quê bán sơn địa. Năm 18 tuổi (năm 1950), ông tham gia lực lượng Thanh niên xung phong và từng đi phục vụ Chiến dịch biên giới ở Tây Bắc, sau đó là các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám.

Đại tá Trực hiện nay

 Đại tá Trực kể: “Nhiệt huyết tham gia đánh đuổi thực dân, đế quốc, phát xít xâm lược của thanh niên ngày ấy luôn sục sôi. Song, khi đã được tham gia vào chiến dịch lớn, tôi vẫn bồi hồi, thoáng chút lo lắng với suy nghĩ, mình sẽ đóng góp phần việc nhỏ bé như thế nào?”.

Vì hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tháng 2/1955, ông Trực chính thức được nhận vào công tác tại ngành công an và tham gia một khoá huấn luyện nghiệp vụ. Theo đại tá Trực, đây là khoá huấn luyện rất lạ, thú vị đối với một thanh niên mới lớn như ông. Thời điểm đó, ông không biết rằng  được huấn luyện như vậy thì sẽ được phân công làm công tác gì? ông cùng một số anh em cứ âm thầm học, tập luyện, vậy thôi. Những tình huống, những giả định như thật trong bài tập nghiệp vụ đã cho ông cái nhìn lạc quan cũng như rất rõ ràng về công việc trước mắt cũng như sau này của người chiến sỹ công an.

Đại tá Trực kể: “Khi biết mình có tên trong danh sách được cùng với đội cảnh vệ tháp tùng Bác Hồ đi viếng nghĩa trang liệt sỹ vào ngày 2/9/1955 – ngày Quốc khánh lần thứ 10 thì tôi đã định nhảy và hét lên vì sung sướng. Song cảm xúc đó đã được kìm nén lại, đúng như những gì tôi được huấn luyện trước đó. Và trong suy nghĩ của tôi lúc đó xuất hiện chữ vinh dự kèm với trách nhiệm”.

Sau lần đó, ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch. “Có nghĩa là được nhìn thấy Bác thường xuyên hơn, được thấy dáng Người hàng sáng tập thể dục, cho cá ăn, chăm sóc cây, nâng niu trái quả, ngồi trầm tư… Những cử chỉ, lời nói, việc làm đơn giản, bình dị, thường ngày đó cứ thấm, ngấm dần vào tính cách, cuộc sống của những chiến sỹ bảo vệ, phục vụ Bác như chúng tôi…” – vị đại tá già nhớ lại.

Qua tìm hiểu, tôi rất tâm đắc lời đại tá Trực nói về cái sự “thấm và ngấm” ấy. Hiện tại, cuộc sống của đại tá Trực cũng rất bình dị. Cả 5 người con của ông đã trưởng thành và ra ở riêng, hàng ngày ông vui với ngôi nhà nhỏ, đầy cây xanh và ao cá. Dù tuổi đã thượng thọ nhưng ông vẫn thích lội ao, vớt cái bèo, cho con cá ăn, quét dọn vườn tược, tỉa cây… Và có một thói quen ông chưa bao giờ không làm, đó là sáng sáng dậy tập thể dục và nghe chim hót.

“Các chú lại bố trí rồi!”

Đại tá Trực kể: “Trong sự nghiệp, tôi có 5 năm là bảo vệ và 2 năm được trực tiếp phục vụ Bác Hồ. Tất cả những gì liên quan đến 7 năm này là ký ức tôi không thể quên. Trong rất nhiều những sự kiện diễn ra trong thời gian đó, có những sự kiện là dấu ấn quan trọng.

Tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê Nghệ An. Bác đã đau đáu mong chờ chuyến trở về quê sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước. Lần đó, tôi được tham gia bảo vệ Bác. Cũng năm đó, tôi được kết nạp Đảng. Kết nạp Đảng xong, tôi được ông Vũ Kỳ phân công nhiệm vụ là trực tiếp bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch. Cảm xúc lúc nhận nhiệm vụ mới lạ lắm, vinh dự xen lẫn mơ hồ trong thoáng qua của sự lo lắng. Lúc đó, tôi hiểu nghiệp vụ mà mình được huấn luyện, luyện tập bắt đầu phải ứng dụng tối đa trong sự sáng tạo của cái chuẩn đến từng chi tiết nhỏ nhất”.

Theo Đại tá Trực, bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch là việc thường ngày nhưng bảo vệ Bác ra ngoài thì phức tạp hơn nhiều. Khi ra khỏi Phủ Chủ tịch,  Bác luôn muốn tận mắt nhìn thấy mọi thứ, trực tiếp tiếp xúc, hỏi han mọi người. Phần lớn những sự bố trí của cảnh vệ đều bị Bác phát hiện và thay đổi lịch trình.

Lực lượng cảnh vệ đang hộ tống một đoàn đại biểu

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III thành công tốt đẹp, Bác muốn đi thăm bà con nông dân, muốn trực tiếp ngắm nhìn đồng lúa, nhìn bà con nông dân gặt lúa. Cánh đồng lúa ở khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) được bố trí để đưa Bác đến thăm nhưng khi phát hiện ra, Bác đã yêu cầu lái xe tiếp tục chạy mà không dừng lại nơi cảnh vệ đã bố trí trước. Bác còn nói vui nhưng chứa đựng sự phê bình rằng: “Các chú lại bố trí rồi”!. Cả đoàn lo lắng nhưng Bác bình thản và vui lắm.

Xe chạy đến cánh đồng lúa ở huyện Đan Phượng, thấy nhiều bà con đang gặt lúa, nói chuyện rộn ràng, khuôn mặt ai cũng tươi rói vì mùa vụ bội thu, Bác yêu cầu dừng xe. Bác xuống xe, xuống ruộng, đến hỏi han người nông dân đang gặt lúa. Nhận ra Bác, mọi người đều vui, xúc động. Bác vui, người nông dân xúc động còn cảnh vệ và phục vụ như Đại tá Trực thì lo lắng…

Sau 7 năm vinh dự được phục vụ Bác, năm 1962, đại tá Trực đi học nghiệp vụ ở Liên Xô (cũ), rồi về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, Đại tá được cử về giảng dạy tại Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào.

Năm 1990, nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Đại tá được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, và Huân chương tự do hạng nhì của nước bạn Lào.

Đại tá Trực thừa nhận: Bác ra ngoại ô, thăm nông dân, trẻ em, trí thức… phương án tác chiến của cảnh vệ, phục vụ nhẹ nhàng hơn. Bác đi thăm những nơi công cộng, chợ… quả thật, anh em cảnh vệ phải linh hoạt đến tối đa có thể. Cụ thể, chiều 30 Tết năm 1960, Bác quyết định đi thăm chợ Đồng Xuân xem bà con tiểu thương buôn bán, đồng bào mua hàng, sắm Tết thế nào. Kế hoạch của cảnh vệ đề xuất là có người sẽ đến giúp Bác cải trang nhưng Bác không đồng ý. Bác tự mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn che bộ râu rồi đi. Bác đến khắp các dãy hàng trong chợ, qua từng cửa hàng, đứng nhìn, ngắm, thậm chí hỏi mua hàng thế mà không ai nhận ra Bác.

Khi đi đến dãy hàng cuối cùng của chợ, có một cháu thiếu niên theo mẹ đi chợ, nhận ra Bác. Có lẽ do bất ngờ và sung sướng nên cháu chỉ kịp thốt lên lời “A… Bác Hồ! “thì rất may cảnh vệ kịp phát hiện và yêu cầu giữ im lặng. Bác không biết chi tiết đó vẫn vừa đi vừa nhìn đồng bào mua sắm rồi đi thẳng ra xe. Trong những chuyến đi công tác, Bác thường đến thăm người lao động, thiếu niên, nhi đồng, thăm nơi họ làm việc, sinh hoạt trước khi đến trụ sở chính quyền, nhà máy. Bác muốn biết tình hình làm việc, sinh sống của đồng bào trước khi làm việc với chính quyền, với lãnh đạo nhà máy. Đặc biệt, Bác luôn ăn, ở, sinh hoạt cùng đội ngũ cán bộ đi cùng trong những chuyến công tác dài ngày và với tác phong giản dị, tiết kiệm…

“Được Bác quý mến, dạy bảo, uốn nắn… là phần thưởng lớn của anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ” – Đại tá Trực bày tỏ. Vào ngày nghỉ, Bác luôn tổ chức và trực tiếp cùng cảnh vệ, đội ngũ phục vụ xem phim hoặc ngồi chơi trò gì đó. Có thể là đố vui; có thể là hỏi kiến thức địa lý, lịch sử; có thể là đặc tính của cây; của con cá… Rất vui và chứa đựng ý nghĩa giáo dục rất dễ nhớ. Ngày lễ, ngày Tết, Bác hầu như vẫn làm việc, vẫn tiếp khách, nhất là khách quốc tế vào dịp tết cổ truyền nên cảnh vệ, người phục vụ vẫn phân công thay nhau trực.

Vũ Hoàng Quế Ngân

nguoiduatin.vn

Vùng than ấm tình Bác…

Trong những năm 60, ngành than có vị trí đặc biệt quan trọng. Lúc đó, về năng lượng, nước ta chỉ có than, ngoài ra không còn nguồn năng lượng nào khác và xuất khẩu, than cũng là nguồn hàng chủ lực. Chính vì ngành than có vị trí quan trọng như vậy nên Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và riêng Bác Hồ cũng dành cho Quảng Ninh, cho ngành than những tình cảm đặc biệt.

Năm 1946, Bác Hồ – với cương vị là người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – gặp đại diện của Chính phủ Pháp trên một chiến hạm của Pháp ở Vịnh Hạ Long.

Từ trên chiến hạm này, ngắm nhìn phong cảnh thơ mộng trên Vịnh, lòng đầy cảm hứng, Người nói: “Vùng mỏ nước ta thật đẹp và giàu, thợ mỏ của chúng ta thật vô cùng anh dũng”. Kháng chiến bùng nổ, hướng về vùng mỏ, Người viết thư khích lệ nhân dân nơi đây tích cực phá hoại kinh tế của địch. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, một năm sau, Bác viết thư thăm hỏi và động viên nhân dân, công nhân Quảng Ninh. Vùng mỏ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim Người.

ứyeyNgày 30 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Cuối những năm 50, mỏ Cẩm Phả đang thời kỳ khôi phục, chưa phân thành các mỏ như bây giờ. Bác Hồ đến thăm vùng mỏ ngày 30/3/1959, không quản bụi bặm, Bác leo lên tận tầng 10 công trường khai thác cơ khí mỏ Đèo Nai.

Đến từng cỗ xe goòng, Bác căn dặn công nhân: “Ngày nay khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng. Để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Bác còn đến thăm nhà ăn tập thể phục vụ công nhân ở công trường than trụ mỏ Đèo Nai. Người ân cần hỏi chị em phục vụ, xem từng suất ăn của những người thợ mỏ và rất hài lòng về sự phục vụ ở đây. Trong cuộc mít tinh của đồng bào, Bác đã biểu dương nhà ăn tập thể của công trường than trụ Đèo Nai tuy nhà lá đơn sơ nhưng phục vụ tốt, phê bình khu nhà ba tầng Cẩm Phả đồ sộ nhưng bẩn thỉu mất vệ sinh.

Tết năm 1965, Bác lại dành cho Quảng Ninh một vinh dự đặc biệt: Người về ăn Tết với vùng mỏ. Quảng Ninh hiện còn lưu giữ một bức ảnh quý, chụp tại Trường cấp III Hòn Gai  – nơi lãnh đạo, nhân dân Quảng Ninh tổ chức đón Người: Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt nhân dân và công nhân vùng mỏ, biếu Bác “Hòn than đầu tiên của kế hoạch khai thác năm 1965 vì miền Nam ruột thịt”.

Tết đó, Quảng Ninh rộn ràng, ấm áp hẳn lên. Gần Tết, tin Bác về ăn Tết tuy được giữ bí mật nhưng vẫn bị lộ ra ngoài. Tỉnh ủy có thông báo, Tết này phải có thành tích đặc biệt để báo cáo với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất đều xem lại kế hoạch. Mọi người đoán già đoán non thế mà cũng đúng, chỉ có địa điểm đón Bác cụ thể ở chỗ nào thì bí mật đến cùng.

Việc tổ chức đón Bác được các tổ chức, đoàn thể, các cơ sở sản xuất chuẩn bị chu đáo, nhất là việc cử cán bộ công nhân viên tham gia đoàn đi dự mít tinh đón Bác phải lựa chọn kỹ từng người. Ở nhà máy, mỏ than do Giám đốc, Công đoàn giới thiệu để Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Công đoàn tỉnh và Mặt trận Tổ quốc tỉnh chọn. Ngày 2/2/1965, Bác về Hòn Gai. Nhân dân các nơi nườm nượp đổ về thị xã.

Trong cuộc mít tinh, Người thăm hỏi và chúc Tết đồng bào, kêu gọi công nhân mỏ thi đua lao động sản xuất “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác trao tặng ngành Than Cờ thưởng luân lưu khá nhất và trực tiếp giao cho mỏ than Đèo Nai. Khi nhận hòn than từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Người hài lòng nói: “Bác mong sẽ được các chú tặng hòn than cuối cùng của kế hoạch năm 1965 trước thời hạn nhiều ngày”.

Vâng lời Bác, cả vùng than dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, mở “chiến dịch sản xuất than vì miền Nam ruột thịt”, mở các công trường “Bà Rịa”, “Rạch Giá”, “Long Châu Hà”… Công đoàn đã tổ chức đợt học tập cho cán bộ, công nhân làm theo lời Bác dạy, thành tích sản xuất than ngày một nhiều, mặc dù chiến tranh bắn phá của Mỹ xuống vùng mỏ ngày thêm ác liệt…

Đỗ Văn Phú (Theo lời kể của đồng chí Lê Bùi – nguyên Ủy viên BCH Tổng Công đoàn Việt Nam)

phapluatvn.vn