Tag Archive | Sự kiện

Làm rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong ba mối quan hệ liên quan đến đất đai

Góp ý sửa đổi luật đất đai năm 1993:

Luật sư Quản Văn Minh-Giám đốc Công ty luật số 5 góp ý: Theo pháp luật hiện hành, Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu về đất đai, vừa là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và vừa là người sử dụng đất. Quy định đó đặt ra vấn đề phải xác định rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong các mối quan hệ liên quan đến đất đai nêu trên, để từ đó mọi đối tượng dễ hiểu và thuận lợi cho quá trình thực hiện luật.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai lần này tại chương II mới quy định tập trung vào hai vai trò là đại diện chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Nội dung quan trọng này đã thể chế hóa được chủ trương của Đảng yêu cầu phải xác định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu về đất đai. Nhưng dự thảo vẫn chưa quy định rõ ràng, cụ thể khi nào Nhà nước giữ vai trò là đại diện chủ sở hữu về đất đai; khi nào giữ vị trí là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và khi nào Nhà nước giữ vai trò là người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ như các đối tượng khác.

Chính vì sự thiếu cụ thể này, dẫn đến quá trình thực thi luật gặp khó khăn, thậm chí bị lợi dụng gây nên các thiệt hại hoặc tranh chấp không đáng có. Bên cạnh đó, một số nội dung thuộc chương II còn trùng lắp với các quy định tại các chương khác của dự thảo sửa đổi luật, như về trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; trách nhiệm thu hồi đất, trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất…chẳng hạn như các quy định tại các điều 15, điều 17…

Quy định cụ thể như thế, sẽ đảm bảo quản lý đất đai hiệu quả, giúp cho mọi đối tượng hiểu đúng và thực hiện nghiêm quy định, tránh các hành vi lợi dụng để trục lợi hoặc gây lãng phí đất đai của Nhà nước. Luật sư đề nghị cần nghiên cứu kỹ lại nội dung chương này để làm rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong ba mối quan hệ liên quan đến đất đai như trên. Nội dung các điều từ Điều 13 đến Điều 19 của bản dự thảo như là sự cụ thể hóa các điểm từ b đến h khoản 2 Điều 12, nhưng bản dự thảo lại bỏ qua điểm a khoản 2 Điều 12?!

Một vấn đề nữa, qua tìm hiểu chúng tôi được biết phần không nhỏ ngân sách ở các địa phương bắt nguồn từ đất đai nhằm phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương đó. Đây là nguồn thu rất lớn từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất được để lại địa phương sử dụng. Thực tế mỗi địa phương lại sử dụng nguồn thu này vào các mục đích khác nhau, và mỗi lĩnh vực lại có quy định sử dụng một phần nguồn thu từ đất đai để hoạt động nên không tập trung được nguồn lực đầu tư, đồng thời cũng không thể dùng quỹ đó tái đầu tư lại cho đất đai hay phát triển hạ tầng…

Do quy định còn thiếu cụ thể đó, dẫn đến cơ quan chức năng không kiểm soát chặt chẽ được nguồn thu từ đất để từ đó sử dụng cho hiệu quả. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu đặt ra trong Kết luận số 22-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương, là sửa đổi Luật Đất đai lần này cần có quy định cụ thể việc điều tiết lợi nhuận tăng thêm từ đất mà không do nhà đầu tư của người sử dụng đất mang lại, nhưng dự thảo sửa đổi Luật Đất đai chưa có quy định cụ thể để thể chế hóa chủ trương đó cho phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Đây rõ ràng là một nội dung rất mới, cần thiết phải luật hóa để thực hiện nhằm khai thác, sử dụng thật hiệu quả nguồn thu từ đất đai, tránh lãng phí, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần nguồn vốn đầu tư như hiện nay

Thanh Phong
cand.com.vn

Không thể phủ nhận lý tưởng và những thành tựu vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười

Nói về cuộc Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. (Hồ Chí Minh Tuyển tập (bộ 2 tập). TI. NXB ST, HN. 1980. Tr 461).

Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Cho dù Liên Xô đã tan rã, các thế lực thù địch với CNXH có xuyên tạc, bôi nhọ nhưng người ta không thể phủ nhận được lý tưởng, những giá trị và thành tựu lớn lao của cuộc cách mạng này gắn với sự ra đời và tồn tại trên 70 năm của Nhà nước Xô Viết (1917-1991) và gần một thế kỷ qua (1917- 2012) sự tồn tại của các nhà nước đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện, từ một quốc gia phát triển trung bình ở châu Âu, chỉ sau hai kế hoạch 5 năm thực hiện công nghiệp hóa (1929 – 1939), nước Nga và Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết (Liên Xô) đã trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đủ sức đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Những năm sau chiến tranh, nhà nước Liên Xô đã phát triển vượt bậc trở thành cường quốc quân sự, đủ sức làm đối trọng với chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời Liên Xô trở thành quốc gia đi đầu trong lĩnh vực chinh phục không gian vũ trụ và nhiều lĩnh vực khác.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện từ một nước Nga lạc hậu trở thành một quốc gia phát triển về nhiều mặt, từ công nghiệp đến nông nghiệp; từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật như mạng lưới điện, hệ thống giao thông vận tải, các trung tâm khoa học công nghệ… đến hạ tầng xã hội. Có thể nói dưới chế độ XHCN, Liên Xô đã trở thành một nền văn hóa mới, hiện đại. Cho đến nay những công trình văn hóa, khoa học dưới thời Xô Viết vẫn được nhân loại tôn trọng. Đặc biệt Nhà nước Xô Viết đã thực hiện chính sách xã hội tiên tiến sớm hơn tất cả các nước tư bản phát triển, đó là thực hiện giáo dục, chữa bệnh không phải trả tiền, người già cô đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không có thắng lợi của Cách mạng tháng Mười và thắng lợi của lực lượng Đồng minh, trong đó Liên Xô giữ vai trò trụ cột, thì không thể có được thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Cuba…

Đối với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác Lê-Nin cùng với Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở tư tưởng, lý luận hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời, đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, lãnh đạo nhân dân làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng chiến tranh xâm lược của hai cường quốc đế quốc là Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, đặc biệt là đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai của chúng đã hoan hỷ tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười chỉ là một cuộc phiêu lưu” chính trị, Chủ nghĩa xã hội là “một sự đẻ non”, là sự “lầm lạc của lịch sử”. Cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu là “sự cáo chung của Chủ nghĩa cộng sản”, rằng chủ nghĩa tư bản là “Sự tận cùng của lịch sử”…

Những sự kiện “Chiếm phố Uôn” năm ngoái và khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là giải pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội đầy bất công ở các nước TBCN. Bởi vậy xã hội đó sẽ phải được thay thế bằng một xã hội khác. Chủ nghĩa tư bản do đó không thể là chế độ xã hội cuối cùng của nhân loại. Đối với chúng ta thì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ là tương lai của nhân loại. Tất nhiên, để đến xã hội đó các dân tộc còn phải vượt qua nhiều chặng đường với nhiều khó khăn, thách thức. Con đường đó không đơn giản chỉ là việc loại bỏ “tầng lớp đặc quyền đặc lợi” (Theo chuyên khảo “những nguyên nhân sụp đổ của đảng Cộng sản Liên Xô”. Nhân dân điện tử – Thời nay 16/8/2010) hình thành trong đảng Cộng sản và xã hội Liên Xô, cũng như sự tồn tại của “nhóm lợi ích” mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói nhiều lần trong quá trình triển khai Nghị quyết TW4 vừa qua. Thiết nghĩ những vấn đề cần phải giải quyết còn lớn hơn, cơ bản hơn rất nhiều. Đó là xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế xã hội sao cho xã hội XHCN có khả năng ngăn ngừa sự trì trệ, sự suy thoái của chế độ chính trị và của Nhà nước.

Ai đó đã nói rất hay rằng: chính những bài học rút ra từ sự thất bại lại có giá trị hơn những bài học thành công. Sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, cũng như cuộc khủng hoảng của Trung Quốc (vụ bạo loạn Bắc Kinh, mùa xuân năm 1989) và cuộc khủng hoảng kinh tế của nước ta cuối thập kỷ 80, đầu 90 thế kỷ XX cho thấy: Mô hình xã hội XHCN cũ mà đặc trưng là sự tập trung quan liêu bao cấp về kinh tế, trong đó, nổi bật là “Mô hình kinh tế thời chiến” – xóa bỏ kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường. Trên lĩnh vực chính trị, đó là xây dựng “nhà nước chuyên chính vô sản” – thiếu dân chủ, bình đẳng…là những ví dụ cụ thể của mô hình CNXH hiện thực đã qua. Sai lầm đó cho thấy cho dù với những mong muốn tốt đẹp và trong điều kiện bị chủ nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận những chính sách đó là cần thiết, hơn nữa là vấn đề sống còn của cách mạng, nhưng khi những chủ trương, chính sách đó bị kéo dài quá mức cần thiết, cùng với tư duy giáo điều về lý luận tất yếu sẽ dẫn đến trì trệ và nảy sinh những những mặt tiêu cực của xã hội, như cảnh báo của các nhà khoa học rằng mọi nhà nước, không phân biệt chế độ chính trị đều có khuynh hướng quan liêu hóa.

Đại hội VI, năm 1986 đã phát hiện những sai lầm về đường lối, chính sách do sự lạc hậu về tư duy lý luận. Tại đại hội này, Đảng ta đã quyết định chuyển sang xây dựng xã hội XHCN theo mô hình mới-mô hình mới được hoàn thiện từng bước từ Đại hội VII đến nay. Những thành tố của mô hình đó là: Về chính trị, đó là xã hội do nhân dân làm chủ với nhà nước pháp quyền do Đảng ta lãnh đạo; về kinh tế, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về xã hội, đó là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong 25 năm đổi mới, mô hình đó đã đem lại những thành tựu to lớn không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên đã xuất hiện nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Trong đó có sự phân hóa giàu – nghèo và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng nói trên, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (28/2/2012) (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện nắm giữ tài sản, tiền bạc, cán bộ… đất nước lại phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, nhiều người lo lắng về Đảng, về bản chất Đảng, lo lắng mặt trái của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế tác động vào Đảng. Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không?”.

Trên lĩnh vực lý luận, công cuộc xây dựng xã hội XHCN không đơn giản chỉ là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, mà còn là một vấn đề thuộc về thể chế của xã hội, về sự cân bằng và giám sát các nhánh quyền lực… mà chúng ta không được thừa hưởng từ di sản của Chủ nghĩa Mác bao nhiêu. Đây chính là một công việc khó khăn, phức tạp mà thế hệ những người mácxít-lêninnít ngày nay phải tự mình giải quyết.

Lênin đã nói: “cách tốt nhất để kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại là tập trung sự chú ý vào những nhiệm vụ chưa hoàn thành của cuộc cách mạng đó” (SĐD, Tr 759).

Kỷ niệm cuộc Cách mạng Tháng Mười năm nay, chúng ta một lần nữa ôn lại sự kiện lịch sử lớn nhất thế kỷ XX; một lần nữa khẳng định những lý tưởng cao cả của cuộc cách mạng đó. Đó là giải phóng xã hội, giải phóng con người, đặc biệt là nhân dân lao động; xây dựng một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người đều có cơ hội được hưởng tự do hạnh phúc; các dân tộc được sống trong hòa bình và hữu nghị. Và để thiết thực kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại này chúng ta đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến đến xây dựng một xã hội” Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Phương Nhi
cand.com.vn

Không thể chụp mũ “tự do ngôn luận”

Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý.

Ít ngày nữa, TAND TP Hồ Chí Minh sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử ba bị cáo phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo khoản 2, Điều 88, BLHS. Ba bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Nguyễn Văn Hải (60 tuổi, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (43 tuổi, ngụ quận Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh).

Việc xét xử các bị cáo phạm một tội được quy định trong BLHS là công việc bình thường của tòa án. Thế nhưng, trong mấy ngày qua, một số cá nhân, tổ chức nước ngoài đã nhân sự việc này vu cáo chính quyền “vi phạm nhân quyền” mà chiêu bài vẫn chỉ xoay quanh cái gọi là “tự do dân chủ, tự do báo chí”, từ đó có các hành động như viết bài xuyên tạc sự thật trên mạng internet, viết thư gửi các cơ quan quốc tế và tại Việt Nam để gây sức ép.

Hôm 31/7, ba tổ chức của cái gọi là Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights), Liên Đoàn Quốc tế nhân quyền (FIDH, International Federation for Human Rights) và Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền (The Observatory for the Protection of Human Rights Defenders) viết thư chung gửi đến một số đại sứ về phiên tòa xử ba bị cáo với lời lẽ thiếu thiện chí, can thiệp vô lý vào công việc nội bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam khi trắng trợn đòi “rút bỏ mọi cáo trạng” đối với ba bị cáo và “tức khắc trả tự do vô điều kiện”.

Xét xử là công việc của tòa án và tòa chỉ quyết định trên cơ sở pháp luật. Không có bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác ngoài HĐXX của tòa án được giao trực tiếp xét xử vụ án có quyền can thiệp đến bản án. Đó là nguyên tắc không chỉ đối với luật pháp Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới cũng đều tuân thủ nguyên tắc này khi giao quyền độc lập xét xử cho tòa án. Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý. Vì vậy, thay cho việc tác động như trên, những thế lực vốn lâu nay mượn áo dân chủ, nhân quyền, chụp mũ “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” cần phải nhận thức và tuân thủ những nguyên tắc sơ đẳng nhất.

Thực tế, việc các bị cáo bị tòa án đưa ra xét xử lần này đã có các hành vi phạm vào Điều 88 – BLHS, các hành vi này thể hiện rõ trong cáo trạng của VKS. Chỉ trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2010, đã có 421 bài đăng trên CLB nhà báo tự do, trong đó có 94 bài do thành viên câu lạc bộ viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được giám định, kết luận: “hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác… Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài”.

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.

Chẳng hạn, ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee, bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer) cho rằng, giáo viên Mỹ được trả lương cao nhưng lười biếng và khen vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999. Cảnh sát cho rằng, hành động của Buss có tính kích động bạo lực trong trường học, tương đương việc nói “có bom trên máy bay”, đồng thời hạ thấp nhân phẩm giáo viên

Đăng Trường
cand.com.vn


26 năm tù cho 3 đối tượng tạo dựng blog “Câu lạc bộ Nhà báo tự do”

Cam Ranh – thương cảng tiềm năng

Cái tên “Vịnh Cam Ranh” lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ quân sự quốc tế sau khi chiến hạm của Hải quân Nga hoàng dừng chân tại đây trong chuyến đi vòng quanh thế giới vào năm 1888. Sau đó, Hải quân Nga hoàng một lần nữa tập trung hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 tại đây để chuẩn bị cho cuộc chiến Nga – Nhật vào năm 1905. Đó là những minh chứng đầu tiên và rõ ràng nhất cho vị trí địa chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, được chính các cường quốc quân sự thế giới khẳng định từ cách đây hơn một thế kỷ.

Vịnh Cam Ranh, thuộc tỉnh Khánh Hòa, nằm trên tọa độ 11 độ kinh Đông, 12,10 độ vĩ Bắc. Bán đảo Cam Ranh chạy từ Bắc xuống Nam, được bao quanh bởi hai nhánh đảo, ngoài cửa vịnh có các cù lao và đảo nhỏ chắn gió, biến nơi này trở thành một trong những vịnh lặng sóng nhất thế giới. Nhờ cấu tạo địa hình đặc biệt, vịnh Cam Ranh có điều kiện thủy văn, địa chất rất thuận lợi, thủy triều trong vịnh khá đều đặn, tương đối đúng giờ, đáy vịnh bằng phẳng, chủ yếu là cát pha bùn khá vững. Vịnh Cam Ranh có chiều rộng trung bình 8-10km, chiều dài ăn sâu vào đất liền từ 12-13km, có diện tích hơn 60km2, có độ sâu từ 18 đến 32m, tàu có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. Bên cạnh đó, Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế khoảng một giờ tàu biển, có vị trí địa – chính trị chiến lược quan trọng trên các tuyến hàng hải quốc tế trong khu vực biển Đông như Singapore, Hong Kong, Thượng Hải, Yokohama. Với một loạt các điều kiện tự nhiên thuận lợi, Cam Ranh được đánh giá là một trong những cảng nước sâu có lợi thế hàng đầu thế giới.

Vị trí chiến lược quân sự

Từ xa xưa, các nhà quân sự đã nhận thấy vịnh Cam Ranh hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi để trở thành một quân cảng lớn trong khu vực. Chính vì vậy, ngay từ những năm 1900, hải cảng này đã nằm trong tầm ngắm của Nga hoàng, Pháp, Nhật Bản…

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ thậm chí đã chi tới hơn 300 triệu USD để mở rộng Cam Ranh, biến nơi đây trở thành một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất ở nước ngoài. Năm 1965, Mỹ quyết định xây dựng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và khu hậu cần lớn nhất Đông Nam Á phục vụ chiến tranh Việt Nam, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Năm 1968, quân số của quân đội Mỹ ở Cam Ranh lên tới 30.000 người.

Từ năm 1979, theo hiệp định ký kết giữa Việt Nam với Liên Xô, cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần của Hạm đội Thái Bình Dương với diện tích khoảng 100km2 trong thời hạn 25 năm. Vào thời kỳ cao điểm năm 1986, quân số cao nhất lên tới  6.000 quân nhân và kỹ sư, công nhân Liên Xô/Nga làm việc tại đây. Có thể nói, Cam Ranh trở thành căn cứ hậu cần lớn nhất của Hải quân Liên Xô ở nước ngoài vào thời điểm đó, làm đối trọng với căn cứ hải quân ở hải ngoại lớn nhất của Mỹ tại Subic, Philippines.

Nhiều nhà quân sự phương Tây đã gọi Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”. Bên cạnh lối ra vào hẹp, Cam Ranh còn được các dãy núi cao khoảng 400m vây quanh, biến cảng này trở thành một pháo đài vô cùng lợi hại, khó công, dễ thủ, có thể khống chế cả toàn khu vực biển Đông và là khu phòng thủ trọng yếu chiến lược trấn giữ giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu bố trí tên lửa phòng không ở vịnh Cam Ranh và những cao điểm xung quanh thì toàn bộ eo biển Malacca và eo biển Singapore đều nằm trong tầm khống chế của hỏa lực những tên lửa đó. Ngoài ra, vịnh Cam Ranh còn có thể cho phép triển khai hệ thống giám sát điện tử để kiểm soát toàn bộ khu vực Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Persia, biển Hoa Đông và Biển Đông.

Với tổng diện tích mặt nước rộng 98km2 và mực nước sâu phổ biến ở mức 16 – 25m, vịnh Cam Ranh có thể tiếp nhận đồng thời khoảng 40 tầu chiến cỡ lớn cùng neo đậu, kể cả tàu sân bay. Vừa có lợi thế tự nhiên rất có lợi cho quân sự, quốc phòng lại cận kề tuyến đường vận tải biển quốc tế trọng yếu nên vịnh Cam Ranh luôn được hải quân các cường quốc coi là “trung tâm dịch vụ hậu cần” quan trọng.

Đánh giá về lợi thế của Cam Ranh, các nhà quân sự Mỹ từng nhận định “ai làm chủ được Cam Ranh, sẽ giành được lợi thế ở biển Đông”.

Lợi ích kinh tế

Năm 2001, sau khi Nga quyết định rút khỏi Cam Ranh, Việt Nam từng bước xây dựng Cam Ranh thành một trung tâm cảng dịch vụ tổng hợp, phục vụ cho tàu hải quân của Việt Nam, đồng thời làm dịch vụ hậu cần kỹ thuật cho tàu hải quân, tàu kinh tế của các nước.

Quyết định xây dựng một trung tâm dịch vụ hậu cần kỹ thuật tại Cam Ranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, du lịch của Cam Ranh, đồng thời thu hút sự chú ý của giới đầu tư quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa, các liên minh kinh tế khu vực ngày càng được củng cố và mở rộng, đặc biệt là ở châu Á – Thái Bình Dương, khu vực được đánh giá là có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Hoạt động tích cực của Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đang đẩy nhanh tốc độ hội nhập của các nền kinh tế thành viên, tạo ra những mạng lưới kinh tế phát triển hiệu quả nhất thế giới. Chính vì vậy, trong mạng lưới kinh tế phát triển năng động này, tận dụng lợi thế tự nhiên để biến Cam Ranh trở thành một trong những thương cảng lớn nhất khu vực sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế vô cùng lớn. Đối với giới đầu tư nước ngoài, Cam Ranh đang sở hữu một vị trí đắc địa, là điểm hội tụ của các tuyến đường biển quan trọng trong khu vực cũng như trên thế giới. Chính vì vậy, đặt chân được vào Cam Ranh sẽ là một bước tiến vào khu vực Đông Nam Á, một thị trường với hơn 500 triệu dân, có tiềm lực phát triển lớn.

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh luôn giữ vai trò là một cảng quân sự quan trọng hàng đầu. Hội tụ đầy đủ những ưu thế mang tầm chiến lược về địa lý, hàng hải cũng như vị thế lịch sử quan trọng, Cam Ranh ngày nay hấp dẫn cả các nhà đầu tư quốc tế. Với kế hoạch đưa Cam Ranh trở thành một cảng dịch vụ tốt nhất khu vực, Chính phủ Việt Nam hy vọng sẽ khai thác có hiệu quả nhất những tiềm năng, lợi thế của Cam Ranh phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Anh Thư
daibieunhandan.vn

Vùng than ấm tình Bác…

Trong những năm 60, ngành than có vị trí đặc biệt quan trọng. Lúc đó, về năng lượng, nước ta chỉ có than, ngoài ra không còn nguồn năng lượng nào khác và xuất khẩu, than cũng là nguồn hàng chủ lực. Chính vì ngành than có vị trí quan trọng như vậy nên Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và riêng Bác Hồ cũng dành cho Quảng Ninh, cho ngành than những tình cảm đặc biệt.

Năm 1946, Bác Hồ – với cương vị là người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – gặp đại diện của Chính phủ Pháp trên một chiến hạm của Pháp ở Vịnh Hạ Long.

Từ trên chiến hạm này, ngắm nhìn phong cảnh thơ mộng trên Vịnh, lòng đầy cảm hứng, Người nói: “Vùng mỏ nước ta thật đẹp và giàu, thợ mỏ của chúng ta thật vô cùng anh dũng”. Kháng chiến bùng nổ, hướng về vùng mỏ, Người viết thư khích lệ nhân dân nơi đây tích cực phá hoại kinh tế của địch. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, một năm sau, Bác viết thư thăm hỏi và động viên nhân dân, công nhân Quảng Ninh. Vùng mỏ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim Người.

ứyeyNgày 30 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Cuối những năm 50, mỏ Cẩm Phả đang thời kỳ khôi phục, chưa phân thành các mỏ như bây giờ. Bác Hồ đến thăm vùng mỏ ngày 30/3/1959, không quản bụi bặm, Bác leo lên tận tầng 10 công trường khai thác cơ khí mỏ Đèo Nai.

Đến từng cỗ xe goòng, Bác căn dặn công nhân: “Ngày nay khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng. Để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Bác còn đến thăm nhà ăn tập thể phục vụ công nhân ở công trường than trụ mỏ Đèo Nai. Người ân cần hỏi chị em phục vụ, xem từng suất ăn của những người thợ mỏ và rất hài lòng về sự phục vụ ở đây. Trong cuộc mít tinh của đồng bào, Bác đã biểu dương nhà ăn tập thể của công trường than trụ Đèo Nai tuy nhà lá đơn sơ nhưng phục vụ tốt, phê bình khu nhà ba tầng Cẩm Phả đồ sộ nhưng bẩn thỉu mất vệ sinh.

Tết năm 1965, Bác lại dành cho Quảng Ninh một vinh dự đặc biệt: Người về ăn Tết với vùng mỏ. Quảng Ninh hiện còn lưu giữ một bức ảnh quý, chụp tại Trường cấp III Hòn Gai  – nơi lãnh đạo, nhân dân Quảng Ninh tổ chức đón Người: Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt nhân dân và công nhân vùng mỏ, biếu Bác “Hòn than đầu tiên của kế hoạch khai thác năm 1965 vì miền Nam ruột thịt”.

Tết đó, Quảng Ninh rộn ràng, ấm áp hẳn lên. Gần Tết, tin Bác về ăn Tết tuy được giữ bí mật nhưng vẫn bị lộ ra ngoài. Tỉnh ủy có thông báo, Tết này phải có thành tích đặc biệt để báo cáo với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất đều xem lại kế hoạch. Mọi người đoán già đoán non thế mà cũng đúng, chỉ có địa điểm đón Bác cụ thể ở chỗ nào thì bí mật đến cùng.

Việc tổ chức đón Bác được các tổ chức, đoàn thể, các cơ sở sản xuất chuẩn bị chu đáo, nhất là việc cử cán bộ công nhân viên tham gia đoàn đi dự mít tinh đón Bác phải lựa chọn kỹ từng người. Ở nhà máy, mỏ than do Giám đốc, Công đoàn giới thiệu để Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Công đoàn tỉnh và Mặt trận Tổ quốc tỉnh chọn. Ngày 2/2/1965, Bác về Hòn Gai. Nhân dân các nơi nườm nượp đổ về thị xã.

Trong cuộc mít tinh, Người thăm hỏi và chúc Tết đồng bào, kêu gọi công nhân mỏ thi đua lao động sản xuất “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác trao tặng ngành Than Cờ thưởng luân lưu khá nhất và trực tiếp giao cho mỏ than Đèo Nai. Khi nhận hòn than từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Người hài lòng nói: “Bác mong sẽ được các chú tặng hòn than cuối cùng của kế hoạch năm 1965 trước thời hạn nhiều ngày”.

Vâng lời Bác, cả vùng than dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, mở “chiến dịch sản xuất than vì miền Nam ruột thịt”, mở các công trường “Bà Rịa”, “Rạch Giá”, “Long Châu Hà”… Công đoàn đã tổ chức đợt học tập cho cán bộ, công nhân làm theo lời Bác dạy, thành tích sản xuất than ngày một nhiều, mặc dù chiến tranh bắn phá của Mỹ xuống vùng mỏ ngày thêm ác liệt…

Đỗ Văn Phú (Theo lời kể của đồng chí Lê Bùi – nguyên Ủy viên BCH Tổng Công đoàn Việt Nam)

phapluatvn.vn