Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Khúc hát trồng cây…

Đã từ lâu, mỗi dịp xuân về, nhân dân ta trên khắp mọi miền cả nước không chỉ náo nức đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc mà còn hưởng ứng Tết trồng cây. Tết trồng cây được Bác Hồ khởi xướng từ đầu năm 1960, đến nay đã qua nửa thế kỷ vẫn được nhân dân ta gìn giữ, phát huy và trở thành một nếp phong tục rất đẹp, rất riêng.

Ý nghĩa sâu xa, lòng thiết tha của Bác khi khởi xướng Tết trồng cây hằng năm đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều nhà thơ:

Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời,
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi nhành là quê mình xanh tiếng gọi
Lúc trở về đất mẹ Bác trồng cây.

(Trúc Cương)

Hình ảnh Bác Hồ – người trồng cây vĩ đại là một hình tượng đẹp, gần gũi và sống động trong mỗi người dân Việt Nam. Từ hình ảnh ấy, nhiều nhà thơ đã viết nên những dòng chữ mộc mạc, thành kính và chan chứa yêu thương:

…Bác để lại đây Di chúc màu xanh,
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất.
Bao thế hệ sẽ đi trong bóng mát,
Cho lẽ sống của Người thấm mãi hồn ta…

(Ngô Quân Miện – Di chúc màu xanh)

Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Thịnh ngàn xuân tô điểm nước non này.

(Trinh Đường – Về Đào Xá)

Trồng cây nhớ Bác quá chừng,
Ngẩn ngơ sắc biếc chín tầng mây xanh…
…Bác ươm thế hệ con người
Cây xuân thắng giặc, cây đời dựng xây

(Phạm Đình Ân – Khúc hát trồng cây)

Côn Sơn từ sau lần đón Bác
Yêu kính Người đất dệt áo xanh
Màu xanh Côn Sơn – màu của Ức Trai xưa
Màu xanh Côn Sơn – thương nhớ Bác Hồ…

(Khúc Hà Linh – Màu xanh Côn Sơn)

Từ tầm nhìn kết đọng của nhân dân
Trên đỉnh cao hàng ngàn năm lịch sử
Bác trồng ở Niu-đê-li Ấn Độ
Cây đại của tình thương
Trồng ở Liên Xô, Xê-vat Xtôpôn
Vượt bão tuyết, cây sồi cao khỏe mãi…

(Phạm Xuân Hạt – Màu xanh của một Di chúc)

Bác trồng một nhánh đa con
Nay trăm cành lớn tán tròn xum xuê
Trưa hè bóng mát chùm che
Chăm con người giữa bốn bề tươi xanh…

(Hồng Nguyệt Cầm – Cây đa Bác Hồ)

Bác chẳng làm bóng cả trên cao
Đi dưới cây vẫn thắm lòng ơn Bác
Người dạy chúng con biết tự làm bóng mát
Để chở che cho trưa nắng đời mình…

(Vũ Đình Minh – Đi trong bóng mát của Người)

Những đoạn thơ trích dẫn trên không chỉ là cảm xúc riêng của các nhà thơ mà còn là sự đồng cảm của các thi sĩ với tấm lòng của nhân dân ta đối với sự nghiệp “trồng cây, trồng người” do Bác Hồ khởi xướng. Lời dạy của Bác về lợi ích trồng cây và ý nghĩa của Tết trồng cây đến nay vẫn vẹn nguyên ý nghĩa, đã có hàng ngàn những cây đa xanh và nhiều loài cây khác toả bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người.

Càng thấm thía lời dạy của Bác, chúng ta càng ý thức việc trồng cây, gây rừng phải trở thành một chiến lược của đất nước. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống, con người cần giữ gìn và sống hoà hợp cùng thiên nhiên, yêu nước cũng chính là yêu những hàng cây, những cánh rừng xanh của Tổ quốc chúng ta.

Nếu ai đã từng đi qua vùng đất xám bạc màu ở miền Đông Nam bộ, đi dọc bãi cát duyên hải miền Trung, rồi lên vùng cao nguyên đất đỏ ba dan của Tây Nguyên hùng vĩ, lại trở ra vùng mỏ Đông Bắc, ngược lên vùng giấy, sợi Hàm Yên… chúng ta đều có chung cảm tưởng:

Nhà lá Bác đến muôn nơi,
Ở đâu cũng để cho đời màu xanh…

Mai Trang

xaydungdang.org.vn

Những năm Thìn của Bác Hồ

Năm Nhâm Thìn 1892, cậu Sinh Cung mới 2 tuổi, ở với mẹ là bà Hoàng Thị Loan tại quê ngoại – làng Hoàng Trù, xã Chung Cự ngày xưa.

Năm Giáp Thìn 1904, cậu Sinh Cung 14 tuổi, có tên Nguyễn Tất Thành do cha đặt khi làm lễ “vào làng” ở Kim Liên, quê nội. Sau khi cha đỗ Phó bảng, được làng cấp đất, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Đây là ngôi nhà và khoảnh vườn hiện nay đang được bảo tồn ở Kim Liên.

Trong năm này Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến học chữ Hán với một nhà nho thanh bạch và là một thầy đồ hay chữ – cụ Trần Thân ở làng Ngọc Đình cùng xã. Thầy thường khuyên học trò:

“Độc thi môn tâm tự vấn/Hào vô kim hắc chi tâm” (nghĩa là: Đọc thơ cần phải tự vấn lương tâm của mình/Đừng mảy may để cho vàng (tiền tài) làm dơ bẩn tấm lòng).

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Tất Thành chỉ học với thầy Trần Thân ít lâu rồi theo cha đi nhiều nơi trong tỉnh và ra Thái Bình trong dịp cha đi tìm những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc. Những chuyến đi này đã giúp Tất Thành mở rộng tầm nhìn để nghĩ suy. Không riêng đất Nam Đàn, đất Nghệ An mà ở đâu người dân trong nước cũng lao động cần cù, cũng lam lũ khổ cực trong kiếp đời nô lệ, lầm than và âm ỉ những đốm lửa căm hờn chờ dịp là bùng lên thành ngọn lửa. Một câu hỏi: “Làm thế nào dân ta thoát khỏi khổ đau cùng cực” dường như dần nhen nhóm trong tâm trí của Người.

Năm Bính Thìn 1916, sau khi rời Sài Gòn đi làm phụ bếp trên một con tàu sang Pháp (năm 1911), Nguyễn Tất Thành sang nước Anh, làm thợ quét tuyết lấy tiền sinh sống và chú tâm vào việc học tiếng Anh. Những ngày tháng lao khổ đã giúp Nguyễn Tất Thành có vốn kiến thức vô cùng quý giá để sau này dấn thân vào con đường của nhà chính trị chuyên nghiệp tầm cỡ quốc tế. Đó là: 1) Hiểu biết về đời sống của thợ thuyền ở một nước tư bản sớm phát triển nhất Tây Âu để có cơ sở thực tiễn sau này đọc và hiểu sâu sắc tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh” của Ph.Ăng-ghen. Từ đó hình thành một lập luận khoa học, một khẩu hiệu cách mạng vĩ đại, tiếp nối tư tưởng của ba nhà cách mạng tiền bối C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lê-nin: “Lao động toàn thế giới đoàn kết lại!” trên báo “Người cùng khổ” (Le Paria) trong mấy năm sau đó, khi hoạt động ở Pháp. 2) Sử dụng thông thạo tiếng Anh mà chúng ta được biết tới trình độ của Người qua những bức thư giao dịch với người Mỹ và quân đồng minh đầu năm 1945.

Năm Mậu Thìn 1928, Nguyễn Tất Thành đã có tên là Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm 1927 và đầu năm 1928 Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong Quốc tế Nông dân ở Béc-lin và tìm đường về nước để gây dựng phong trào cách mạng.

Đây là những năm rất khó khăn của Nguyễn Ái Quốc trong quan hệ với Quốc tế Cộng sản. Ngày 12-4-1928, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh hiện tại của mình. Thư có đoạn:

“Hiện nay tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1- Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng)

2- Không có gì để sống

Vậy tôi yêu cầu các đồng chí cho tôi càng sớm, càng tốt những chỉ thị chính xác về những gì tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường?”(1). Ngày 28-4, Người nhận được thông báo Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho 3 tháng đầu.

Vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm bởi sự theo dõi và kiểm tra của bọn mật thám quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã từ Béc-lin qua Thụy Sĩ, I-ta-li-a rồi đi tàu thủy Nhật Bản đến Xiêm (Thái Lan) để về gần Tổ quốc.

Tháng 7-1928, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông thuộc huyện Phi-chit, tỉnh Phít-xa-nu-lốc miền trung Thái Lan. Nơi đây là một làng Việt kiều chừng vài chục gia đình đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí, Hợp tác xã, Hội Việt kiều thân ái từ năm 1926. ít lâu sau, Người cùng một số cốt cán rời lên bản U-đon thuộc đông bắc Thái Lan để xây dựng cơ sở cách mạng. Trên đường đi bộ, vượt qua núi cao sông suối, chân phòng rộp rớm máu, Người vẫn động viên mọi người: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền). Đây là câu nói bất hủ mà sau này trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã dạy thanh niên, rồi trở thành khẩu hiệu hành động, ý chí, bản lĩnh của các thế hệ cách mạng Việt Nam, thành sức sống của cả một dân tộc để “Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Thời gian ở U-đon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọng Khai gặp một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào ở Lào và đặt mối liên hệ nhằm đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng trong nước.

Năm Canh Thìn 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Côn Minh (Trung Quốc) và trực tiếp chỉ đạo xây dựng cơ sở, đào tạo cán bộ chuẩn bị cho các hoạt động ở trong nước trước tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển theo hướng có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 20-6-1940, sau khi nghe tin Pa-ri bị quân Đức chiếm, Người triệu tập cuộc họp, phân tích tình hình và nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(2). Ngày 22-9, Người nhận định cụ thể hơn: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(3). Đây chính là nhận định thể hiện nhãn quan chính trị và tầm nhìn chiến lược chỉ đạo sáng suốt, đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc giúp cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là đồng chí Trường Chinh, thảo luận ra các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng tổ chức, xây dựng lực lượng, lãnh đạo chuẩn bị quần chúng tiến hành khởi nghĩa vũ trang khi thời cơ đến để phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong đó có Chỉ thị nổi tiếng “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945).

Sống dưới hai tầng áp bức của Pháp và Nhật, nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ. Năm 1940, thực dân Pháp bắt lính người Việt Nam đi đánh nhau với quân Thái Lan. Phong trào chống chiến tranh, phản đối bắt lính đã lan rộng và sôi nổi trong binh lính người Việt và nhân dân Nam kỳ. Trước tình hình đó, tháng 7-1940, Xứ ủy Nam kỳ quyết định khởi nghĩa trước khi xin chỉ thị của Trung ương. Biết tin này Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”(4). Những sự kiện trên cho phép chúng ta hiểu thêm nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nắm vững thời cơ, phát động quần chúng và chuẩn bị lực lượng chính trị-quân sự để khởi nghĩa giành chính quyền của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Năm Nhâm Thìn 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang có nhiều chuyển biến tích cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những bài nói, bài viết rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo trong thời gian đó mà ngày nay vẫn là những chỉ dẫn rất cơ bản và thiết thực. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Lê-nin dạy chúng ta đoàn kết toàn dân và đoàn kết giai cấp để chiến thắng kẻ thù…

Lê-nin dạy chúng ta đối với mọi việc phải xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, không nóng nảy, hấp tấp. Song khi định kế hoạch hẳn hoi rồi thì phải quả quyết thực hiện cho kỳ được.

Lê-nin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực.

Lê-nin dạy chúng ta không sợ gian nan, cực khổ và tin chắc vào lực lượng quần chúng,..

Đối với tệ tham ô hủ hóa, Lê-nin rất nghiêm khắc. Có một lần, tòa án Mát-xcơ-va xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lê-nin liền viết một bức thư: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng…”.

Lê-nin dạy chúng ta yêu Tổ quốc và yêu nhân dân một cách thiết tha, không bờ bến, và ghét cay ghét đắng kẻ địch của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời gắn liền tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế.
Lê-nin dạy chúng ta phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ mãi.

Lê-nin dạy chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, vào tương lai của cách mạng và Tổ quốc, vào lực lượng vô cùng to lớn của nhân dân”(5).

Tết Nhâm Thìn 1952 cách đây tròn 60 năm, tình hình đất nước nay có nhiều đổi thay, nhiều nhiệm vụ cụ thể hiện nay đã khác nhưng tinh thần bài nói chuyện của Người nhân dịp tết Nhâm Thìn năm ấy về chống những trở ngại cố hữu trong quản lý kinh tế-tài chính thì vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là chống các bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí. “Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội đã đành, người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội. Vì vậy bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên, toàn dân đều hăng hái tham gia, để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho thắng lợi mới”(6). Vấn đề tự phê bình, phê bình, chỉnh đốn Đảng là vấn đề cốt tử trong công tác xây dựng đảng, là vấn đề suốt đời Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo để Đảng ta thật trong sạch, vững mạnh. Trong nhiều năm qua, Đảng ta thực hiện nhưng chuyển biến chậm. Nguyên nhân có nhiều nhưng chúng ta chưa chú ý đến cách làm, phương pháp mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: 1) Tự phê bình và phê bình phải có “trọng tâm”. 2) Phải “đánh thông tư tưởng” để “kiểm thảo công việc” nghiêm túc chứ không phải chung chung, qua loa chiếu lệ. 3) “Kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới. Cán bộ cấp trên làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh và khuyến khích mọi người phê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Từ trên xuống và từ dưới lên”(7). Người đặc biệt lưu ý cán bộ cao cấp: “Cán bộ quyết định mọi việc. Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(8). Xuân mới đã về, nhớ Bác, nhân dân chân thành mong mỏi các đồng chí lãnh đạo cấp cao ghi tạc lời dạy trên của Người để làm tròn trọng trách xây dựng Đảng.

Lâu nay Đảng ta lấy tư tưởng của Bác để xác định mục tiêu xây dựng nước Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân dịp đầu xuân chúng ta vui mừng phát hiện thêm được một tư tưởng lớn nữa của Người về mục tiêu xây dựng đất nước là: “Dân giàu nước sang”(9). Nước sang theo Bác là một nước nhân dân không chỉ giàu có mà còn sang trọng, lịch thiệp, từ trẻ đến già, từ cán bộ đến dân thường, ai ai cũng là người tử tế, có lòng tự trọng cao, biết tự hào, tự tôn dân tộc, biết xấu hổ, có đạo đức, văn hóa, thanh lịch và giàu lòng nhân ái.

Năm Giáp Thìn 1964, cuộc kháng chiến giành độc lập thống nhất đất nước của nhân dân ta đang bước sang giai đoạn gay go quyết liệt. Đầu năm mới Bác gửi thư chúc tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Cuối thư Người có thơ chúc:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.

Trong năm này Người tập trung sức lực lãnh đạo Bộ Chính trị bàn sâu vào mấy nhiệm vụ:
1) Lãnh đạo tốt hơn cuộc vận động “Ba xây, ba chống” (nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu).

2) Chấn chỉnh việc chỉ đạo cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Người lưu ý ban chỉ đạo vấn đề xóa bỏ “nạn cường hào mới” ở một số hợp tác xã, có như vậy mới chống được bệnh quan liêu.

3) Bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc nhở miền Bắc phải chuẩn bị để đối phó với tình hình xấu nhất vì âm mưu của Mỹ đánh phá miền Bắc là vấn đề chiến lược chứ không phải sách lược. Ngày 9-11-1964, Người cùng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đi thăm Đoàn không quân Sao Đỏ bảo vệ Thủ đô. Người nói: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi… Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo. Vũ khí trong tay người Việt Nam dù thô sơ cũng giành được hiệu suất cao. Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta. Không ngại quân địch hiện đại. Hãy bắt chước chiến sĩ, đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh”(10). Tháng 9, Người cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn vào Nam. Trong bữa cơm tiễn đưa, Người nói: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ càng khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: “Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”(11).

4) Người phát động phong trào thi đua yêu nước: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”. Trong năm này, Quốc hội khóa III, phiên họp thứ nhất bầu Người tái giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm và hứa sẽ luôn cố gắng để làm tròn trách nhiệm.

Có ai ngờ được năm này lại là năm Thìn cuối cùng trong cuộc đời Bác. Nhưng cũng chính năm Thìn này, nhà chiến lược thiên tài Hồ Chí Minh đã chuẩn bị mọi vấn đề cần thiết để quân dân ta tiếp tục chiến đấu và chiến thắng, để Bắc – Nam thống nhất một nhà. Nhiều điều Người chỉ ra Đảng và nhân dân ta đã làm được xuất sắc. Nhưng cũng còn nhiều điều Người dặn năm xưa vẫn đang còn đó, đang nhắc nhở chúng ta phải học và nhất là phải làm sao cho xứng đáng là những hậu duệ kế thừa sự nghiệp cao cả của Người. Hãy phấn đấu trung thành và trung thực để hiện thực hóa mong mỏi cháy bỏng suốt cuộc đời Bác: “Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”(12).
——
(1) Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, NXB CTQG, H.1993, tập 1, tr.296. (2) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 2, tr.98. (3) Sđd, tr.101. (4) Sđd, tr.107. (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 6, tr.386-387. (6) Sđd, tập 6, tr.394-395. (7) Sđd, tr.412-413. (8) Sđd, tr.480. (9) Sđd, tr.439. (10) Sđd, tr.152-153. (11) Sđd, tr.134. (12) Sđd, tr.89.

xaydungdang.org.vn

Hai bài thơ chúc Tết năm Thìn của Hồ Chủ Tịch

Dù bận trăm công nghìn việc nhưng suốt 22 xuân truyền thống của dân tộc – kể từ năm 1947 đến năm 1969, mỗi dịp Tết đến xuân về, Bác Hồ thường có thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đây vừa là lời kêu gọi, động viên, khích lệ tinh thần đồng bào cả nước cùng kiều bào ta ở nước ngoài cùng cố gắng, ra sức thi đua lao động sản xuất, chiến đấu, vừa là mừng xuân mới. Cứ đến thời khắc chuông đồng hồ điểm 12 tiếng đêm giao thừa, mỗi người dân đất Việt lại chăm chú nghe lời thông báo của phát thanh viên đài Tiếng nói Việt Nam: “Trân trọng mời đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Giọng nói của Bác Hồ ấm áp và gần gũi biết bao!

Xuân Nhâm Thìn (năm 1952):

Những vần thơ giản dị như đang truyền đến toàn dân sức sống, lòng tin và niềm vui của mùa xuân:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa sáu năm
Trường kỳ và gian khổ
Chiến thắng trăm phần trăm
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Nhâm Thìn 1952
Hồ Chí Minh (1)

Lúc này, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân cả nước đã trải qua được sáu năm gian khổ và đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Với hai chiến dịch Hòa Bình (mùa xuân), Tây Bắc (mùa đông), quân ta áp đảo quân Pháp, giữ vững và phát triển mạnh thế chủ động chiến lược. Bác Hồ với vai trò một vị tổng chỉ huy tối cao đã thấy trước cuộc chiến sẽ trăm phần trăm thắng lợi. Bác đã hô hào đồng bào và chiến sĩ hãy tích cực thi đua nhiều hơn nữa, mỗi người làm tròn nhiệm vụ của mình để góp phần vẻ vang trong cuộc đại thắng của dân tộc.

Năm 1952 là năm khởi đầu cho giai đoạn chuyển tiếp chiến lược, chuẩn bị cho công cuộc “tổng phản công” trên khắp các mặt trận. Toàn quân và toàn dân dốc sức tổng lực hướng về tiền tuyến, mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 chấn động địa cầu, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước Việt Nam, mở ra phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964):

Sau vòng quay tuần hoàn của 12 con giáp, Xuân Giáp Thìn là thời điểm năm thứ tư của thời kỳ miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Cách mạng nước ta có nhiệm vụ vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa phải chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam. Thư chúc Tết năm 1964 của Bác Hồ nhắn gởi nhân dân như sau:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Giáp Thìn 1964
Hồ Chí Minh (2)

Vui Xuân, nhưng Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy đoàn kết một lòng để thực hiện thành công cuộc kháng chiến cứu nước, thống nhất nước nhà. Bắc Nam sum họp là ước nguyện của cả dân tộc. Ứơc nguyện của người cha già dân tộc, của cả đất nước sau 21 năm đã thành hiện thực. Ngày nay, cả dân tộc ta đang bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Chúng ta cùng tin tưởng rằng, với những phẩm chất quý báu, với truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, chúng ta sẽ làm tốt những gì mà sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn…

—————–
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 390.
(2) Sách đã dẫn, tập 11, tr.187.

Phan Quán
286 Phan Bội Châu, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

xaydungdang.org.vn

Ký ức về chị ruột Bác Hồ

Bà Thanh và chiến sĩ Loan năm 1949 (Họa sỹ Lê Dũng Cường vẽ theo ảnh tư liệu gia đình).

LTS. Nhân dịp Xuân Mới, nhớ về Bác kính yêu, nhớ về những năm tháng hào hùng nhưng gian nan của đất nước,Thế Giới & Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc ký ức không phai mờ của BS. Nguyễn Thị Thùy Loan, nữ chiến sĩ của Đại đội quân y dã chiến thuộc sư đoàn 304, tham gia đánh quân Pháp ở chiến trường Liên khu 4 – người may mắn được chị ruột của Bác Hồ, Bà Nguyễn Thị Thanh cho ở cùng nhà, chăm sóc và chỉ bảo trong những ngày đầu tham gia Cách mạng.

Mỗi khi mùa Xuân đến, là lúc người ta thường nghĩ về quá khứ, về những vùng đất mình đã đi qua với những kỷ niệm đáng nhớ. Gần đây, tôi mới có dịp về lại quê hương và Nam Đàn (Nghệ An) nơi tôi từng ở đó với một người đặc biệt cách đây hơn nửa thế kỷ.

Tôi tham gia các hoạt động yêu nước từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám (khi đang học tại Trường nữ sinh Đồng Khánh Huế) rồi đi bộ đội. Năm 1949, khi 21 tuổi, là nữ chiến sĩ của Đại đội quân y dã chiến thuộc Trung đoàn 9, sư đoàn 304, đánh quân Pháp ở chiến trường Liên khu 4. Khi đó, để tránh máy bay địch, bảo toàn cán binh cùng phương tiện quân y, thuốc men nên cứ khoảng 7-8 ngày chúng tôi lại phải hành quân chuyển địa điểm mới. Một lần, đơn vị hành quân suốt đêm, đến gần 2 giờ sáng thì tới địa phận thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đơn vị quyết định trú quân lại và tôi được xếp ở nhà bà Nguyễn Thị Thanh. Đại diện địa phương cho biết đó là nhà chị ruột Hồ Chủ tịch và phụ trách Hội Mẹ chiến sĩ vùng.

Đặt ba lô xuống cạnh cột nhà, tôi liền hỏi thăm sức khỏe bà Thanh, thấy bà chừng hơn 60 tuổi, mắt sáng, người hơi gầy, giọng nói ấm, thân tình, dễ mến. Nhà bà Thanh chỉ là một ngôi nhà nhỏ, lợp tranh đơn sơ, mộc mạc như bao ngôi nhà của đồng bào miền Trung lúc đó. Ngôi nhà này do bộ đội Quân khu 4 dựng giúp để bà trông coi đất đai bên nội – họ Nguyễn Sinh. Bao quanh vườn rộng là hàng rào bằng cây dâm bụt. Trong nhà, mọi thứ được sắp xếp ngăn nắp, đồ đạc rất ít, ngoài cái rương nhỏ, còn có kim, chỉ khâu để trong cái đĩa cũ xếp trên rương. Quần áo mắc trên đinh đóng vào cột nhà. Chỗ ngủ chỉ có 1 cái chõng tre đã lên màu vàng bóng, vì thế tối đến, hai bác cháu phải ngủ chung.

Mùa đông năm 1949 rét lạ thường, như cắt da thịt. Hai bác cháu dùng rơm đánh thành 2 chiếc nệm ghép với nhau trải lên chõng. Bà Thanh nằm trên nệm rơm, đắp chiếc chăn dạ đã sờn, còn tôi đắp chiếc chăn trấn thủ bộ đội và mặc thêm áo quần cho ấm.

Buổi tối, sau một ngày ra Bệnh xá quân y chăm sóc thương bệnh binh, và có khi còn tập văn nghệ đến muộn, khi tôi về thì bà Thanh đã ăn tối xong, ngồi trên võng chờ tôi như mẹ chờ con. Gian bếp nhỏ luôn được Bà Thanh dọn dẹp tinh tươm: 3 ông đầu rau sạch sẽ, cạnh là 2 chiếc nồi nhỏ, xa một chút có 2 cái bát, 2 thìa, bó đũa con, đôi đũa cả, con dao cau xếp vào cái rổ vừa, trên úp một cái sàng cũ. Sau bếp có bồ cào, cuốc, lưỡi hái, dây thừng… móc lên tường bếp. Ngoài bếp có chiếc vại làm bể cạn đựng nước mưa. Buổi tối bà Thanh thường thắp đèn dầu đến chừng 7 giờ rồi tắt đèn. Nằm trên chõng, bà hay kể cho tôi nghe chuyện đời một cách giản dị, dí dỏm chứ không theo kiểu răn dạy. Nhờ bà Thanh, tôi biết khá nhiều về phong tục, tập quán, danh lam, thắng cảnh xứ Nghệ; hiểu được cách sống đậm nghĩa tình, đùm bọc nhau của người dân quê bà. Bà hay hát cho tôi nghe điệu ví dặm đặc sắc mà tôi vẫn nhớ: “Mùa đông tháng giá. Sang mùa hạ nắng nồng. Em đắp chiếu nằm không… Bốn mùa cứ buồn tênh. Bao giờ hết buồn tênh?”… Cuối các câu chuyện bà hay nhấn mạnh một điều gì đó. Ví dụ: Ở đời quý nhất là thiện lương, thương người. Làm gì cũng phải nghĩ đến điều đó. Chắc do vậy, bà còn làm thêm thuốc Nam để giúp đỡ người nghèo khi ốm đau. Bà hay kể về cụ Phan Bội Châu và luôn nhắc câu châm ngôn cụ Phan tâm niệm: Lòng thành thật có thể xẻ đôi được vàng đá…

Có lần, tôi mạnh dạn hỏi về Bác Hồ, người mà bà Thanh hay gọi bằng cái tên gần gũi ở nhà là cậu Thành, bà chỉ xa xăm: Cậu nớ suốt đời vì việc nước, việc công, xa quê hương, chòm xóm, người thân… rồi bà nhìn ra phía chân trời xa. Bà cho biết tháng 10/1946 bà có ra Hà Nội thăm cậu Thành. Cuộc gặp đó thấm đẫm tình chị em sau 34 năm kể từ khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Cuộc gặp này sau đó, nhà thơ Huy Cận có miêu tả trong bài thơ “Hai chị em”: Chị đến thăm em là Chủ tịch/ Cho em thân thiết một bu gà/ Chị em băm bốn năm xa cách/ Chuyện nước, tình quê:“Chị đó a?”. Bà Thanh còn kể cho tôi nghe những kỷ niệm từ thuở nhỏ, bà là chị cả nên hay bế cậu Thành để ru em ngủ. Bà nói sau này trưởng thành, cậu Thành vẫn nhớ những lời ru, những làn điệu dân ca như hát ví, hát phường vải…

Biết cha tôi là Nguyễn Văn Lanh, một trong những thẩm phán đầu tiên của chính quyền cách mạng mới mất trên đường công tác năm 1948, các chị em tôi đều tham gia kháng chiến, mẹ tôi ở xa… nên bà càng thương tôi hơn. Hồi đó, đang tuổi ăn ngủ nên tôi ngủ rất say, nhưng luôn thức dậy từ khoảng 5h sáng. Thế nhưng khi dậy, đã thấy bà Thanh ở dưới bếp, có hôm luộc ngô, rang cơm mà không có mỡ hoặc luộc khoai. Bà luôn cẩn thận để phần cho tôi vào một cái bát nhỏ, đậy lại cho nóng rồi đi làm đồng, giống như các bà con nông dân bình thường khác.

Mãi sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), hiệu Bạch Liên nữ sĩ, từng tham gia chống Pháp trong mạng lưới “Việt Nam Duy tân Hội” của cụ Phan Bội Châu và từng bị địch giam tại nhà lao Quảng Ngãi năm 1918… Biết vậy, tôi càng thấm thía với cách ứng xử đầy tình người, giản dị, thân tình của bà – một người phụ nữ am hiểu sử sách, truyền thống quê hương; truyền thống gia đình, sớm dấn thân vào con đường đấu tranh vì nghĩa lớn của dân tộc.

Tôi ở nhà bà Thanh khoảng chục hôm rồi lại hành quân đi tiếp. Hôm chia tay, ngày thường bà nói năng rành rẽ, có lúc nghiêm trang, nhưng hôm ấy bà ăn trầu nhiều hơn, nói ít hơn… Khi tôi chào tạm biệt, bà ôm lấy tôi thật chặt, nước mắt bà chảy ướt cả má tôi… Bà âu yếm nói đứt quãng: Gắng lên con nhé. Nhớ giữ ấm, mùa đông khi tắm giặt, nhớ ngậm củ gừng để tránh rét, tránh cảm. Hơn 60 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về bà Thanh, những cử chỉ mộc mạc mà ân cần như của một người mẹ quê dành cho con gái sẽ theo tôi suốt đời – ơi người mẹ xứ Nghệ yêu thương của tôi.

Nguyễn Thị Thùy Loan

tgvn.com.vn

Bốn chữ “thật” trong Di chúc Bác Hồ

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện bản Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi có vài suy nghĩ khi đọc lại Di chúc của Người (đoạn văn Bác dặn mỗi đảng viên và cán bộ…). Theo đó, Bác muốn dặn chúng ta nhiều điều, nhưng vốn ở Người nói và viết rất ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, mà văn phong đã được cân nhắc từng câu, từng chữ trong nhiều đêm ngày.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) – Ảnh tư liệu

Khi nói về Đảng, Bác viết hai vấn đề quan trọng nhất là: Đoàn kết và đạo đức cách mạng. Ba cụm từ “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết thống nhất” là rất cụ thể, dễ nhớ để thực hiện. Không cần ví dụ, chắc chúng ta đều thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Sau đó Bác nói đến đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên cán bộ phảithật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người đã nhìn thấy điều này và dặn dò: Phải làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân, vì chính nó là mẹ đẻ thói hư, tật xấu như lười biếng, quan liêu, tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, chia rẽ… là kẻ thù của đạo đức cách mạng. Trong mỗi con người có thiện, có ác. Chăm chỉ, tiết kiệm, đoàn kết, trung thành, làm việc có ích cho dân… là điều thiện, là đạo đức cách mạng. Lười biếng, lãng phí, tham ô, mua danh, bán chức, làm hại xã hội… là điều ác, là chủ nghĩa cá nhân, là kẻ thù ta phải tiêu diệt. Nghĩa là phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự làm điều thiện, bỏ điều ác.

Xét cho cùng, có “cần” mới có “kiệm”, mới có “liêm”, mới có “chính”; có “liêm chính” mới có chí công vô tư.

Bác dặn muốn giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trong sáng, phải làm điều thiện, bỏ điều ác, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải đảng viên đi trước, làng nước theo sau, sẽ đoàn kết được trong Đảng, trong dân.

Cuối cùng Bác dặn: Phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đây là điều cốt yếu bao trùm, vì tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, quan liêu… không thể gọi là công bộc, là đầy tớ của dân được.

Bác dạy: Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ ta không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân (Hồ Chí Minh toàn tập T2, trang 557-558).

Những điều cốt yếu này chính là những bài học lớn, sáng chói trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

TRẦN VE – Báo Quân đội nhân dân

tuoitre.vn

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Hồ Chủ tịch

“Để tìm hiểu đời sống người dân, 30 Tết năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh hóa trang thành công nhân đang cùng con cháu đi chợ Đồng Xuân sắm Tết. Đi chợ về, Bác rất vui”, ông Lê Minh Thưởng, người cận vệ năm xưa kể lại.

Ông Lê Minh Thưởng bên 5 cây thị già được vinh danhÔng Lê Minh Thưởng cũng là chủ nhân của 5 cây thị già được vinh danh “Cây di sản Việt Nam”.
Ảnh:Nguyên Khoa.

Tốt nghiệp trường Trung cấp Công an, năm 1960 chiến sĩ Lê Minh Thưởng được điều về Hà Nội bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ ba. Sau đó, một số lính trẻ được lựa chọn ở lại làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch, trong đó có Lê Minh Thưởng.

Nhiệm vụ đầu tiên của chiến sĩ Thưởng là túc trực 24/24h trên con đường dẫn vào nhà sàn nơi Hồ Chủ tịch ở, tuyệt đối không để xảy ra bất cứ sự cố nào. Đêm đến, ngồi dưới nhà sàn canh giấc ngủ cho Chủ tịch, để khi cần Người chỉ cần gọi “cúc cu” (cách gọi quen thuộc của Chủ tịch khi cần gọi cận vệ từ thời ở ATK) là sẵn sàng có mặt.

Ông Thưởng kể, hàng đêm Hồ Chủ tịch thường ngủ rất ít vì phải thức rất khuya để làm việc, nhưng sáng hôm sau lại dậy rất sớm để cổ vũ, nhắc nhở mọi người tập thể dục. Hằng ngày Chủ tịch sang Văn phòng Trung ương làm việc, tiếp đón khách và các đoàn đại biểu, tối về tiếp tục làm việc đến khuya. Thời gian rỗi Chủ tịch đọc sách, câu cá. Đội cảnh vệ 7 người liên tục túc trực bên cạnh.

Đã bước qua tuổi 70, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, đúng vào ca trực của Lê Minh Thưởng, trời mưa gió sấm chớp, vừa nghe “cúc cu, cúc cu…”, ông liền đi như chạy đến chỗ Chủ tịch đang làm việc, trống ngực đập liên hồi. “Khi tôi bước vào chào, Bác quay lại nhìn. Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi, tự tin như mình đang nói chuyện với người thân vậy”, ông Thưởng nhớ lại.

Ông Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Bác Hồ) trong bức hình chụp chung với Bác và bộ chính trị. Ảnh: Nguyên Khoa chụp lại tư liệuÔng Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Hồ Chủ tịch) trong bức hình chụp chung với
Chủ tịch và Bộ chính trị. Ảnh tư liệu.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của người công an xứ Nghệ với Hồ Chí Minh là lần được đi chợ Đồng Xuân vào dịp Tết. Để tìm hiểu đời sống của đồng bào và việc đảm bảo hàng hóa chuẩn bị phục vụ Tết của nhà nước, một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Hồ Chủ tịch nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn rằng Tết này Người muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất Hà Nội.

Lãnh đạo Bộ Công an đã giao Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ) lên các phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn khi Hồ Chủ tịch đi chợ Tết Đồng Xuân. Sau khi nghiên cứu, Cục Cảnh vệ lựa chọn phương án hóa trang Chủ tịch thành người công nhân đi sắm Tết.

30 Tết năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vui và bảo cận vệ hóa trang cho mình. Người đeo kính trắng mắt tròn, mặc quần áo cũ đã sờn màu bạc, khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối để che bớt chòm râu, đầu đội mũ trắng, chân mang tất màu cỏ úa, dép cao su đen như một người công nhân già đang cùng 2 người con, cháu xách làn đi chợ sắm đồ Tết.

Thong dong vào chợ, đến trước cửa hàng lương thực, thực phẩm có đề hai tấm biển “tem phiếu” và “tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại suy nghĩ một chút rồi bước tới tấm biển có đề chữ “tự do” và hỏi cô bán thịt “mánh thịt ni răng nấy?”. Người bán thịt ngạc nhiên không hiểu, anh em cận vệ vội vàng chen ngang không để người bán hàng kịp nhận ra tiếng Hồ Chí Minh.

Sau đó Hồ Chủ tịch và các cận vệ tiếp tục đi xem các quầy hàng phục vụ Tết. Đến khu vực bán hoa tươi cạnh mấy ông đồ già đang ngồi viết câu đối, Chủ tịch ngồi xuống hỏi giá một bó huệ trắng. Sau khi cô bán hàng đáp 5 hào, các cảnh vệ phải chạy đến trả giá 2 hào với mong muốn cô ấy sẽ không bán bó hoa huệ để Chủ tịch và mọi người đi khỏi chợ. Khi Chủ tịch đi rồi, ông Vũ Kỳ nói Lê Minh Thưởng lại mua bó hoa huệ trắng mang về.

Về đến nhà, vừa xuống xe Hồ Chủ tịch nở nụ cười rất tươi và nói: “Hôm nay bác cháu ta đi chợ Tết xem được nhiều, hiểu được dân tình ăn Tết sung túc, vui vẻ mà không bị lộ, nhưng lại không mua được gì…”. Ông Vũ Kỳ vội báo cáo mua được bó hoa huệ trắng. Lúc đó, ông Thưởng nhanh nhẹn mang bó hoa lại, nhìn thấy Chủ tịch cười vui và khen: “Các chú sáng tạo đấy, như thế là trọn vẹn!”.

Hồi tưởng lần đi chợ Tết Đồng Xuân, ông Thưởng tâm sự: “Nếu để Bác mua hàng thì nhiều người tinh ý sẽ nhận ra Bác Hồ với chất giọng Nghệ và đôi mắt sáng cùng chòm râu bạc. Khi đó người dân đi chợ sẽ chạy đến để được ngắm nhìn Bác, gây náo loạn”.

Ông Lê Minh Thưởng luôn nâng niu, trân trọng những kỉ vật thời kì làm cận vệ của Bác Hồ. Ảnh: Nguyên KhoaÔng Thưởng luôn nâng niu những kỷ vật thời kỳ làm cận vệ của Hồ Chủ tịch.
Ảnh: Nguyên Khoa.

Ông Thưởng còn nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cận vệ không được làm náo loạn bằng việc chạy môtô dẹp đường mà chỉ cần hóa trang cho thật tự nhiên và tốt nhất là đi bộ, nói chuyện. Với anh em cận vệ, Hồ Chủ tịch luôn xưng chú: “Các chú là công an, biết thì nói không biết thì hỏi, đừng làm thinh”. Và Người thẳng thắn phê bình, chỉ ra những gì được và chưa được để anh em rút kinh nghiệm.

Nhắc đến những kỷ niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ánh mắt người công an năm xưa ánh lên vẻ tự hào rồi ngấn lệ: “Được làm cận vệ của Bác là niềm vinh hạnh lớn nhất đời tôi. Gần Bác, tôi cũng như các chiến sĩ học được rất nhiều điều về cuộc sống, đó là sự kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ, biết quan tâm đến mọi người. Bác mất, cả dân tộc, cả thế giới tiếc thương, còn với mỗi người cận vệ chúng tôi thì như mất đi một cái gì đó quá lớn”.

Sau khi Hồ Chủ tịch mất, vẫn với vị trí là chiến sĩ cảnh vệ, ông Lê Minh Thưởng và đồng đội đã cùng tôn tạo, mở rộng thêm ao cá Bác Hồ. Mặc dù sau đó được chuyển về làm ở nhiều địa phương, nhưng năm nào ông Thưởng cũng ra Hà Nội để được đến ngôi nhà sàn năm xưa.

Nguyên Khoa

vnexpress.net

Chuyện Tết của Bác Hồ

Báo tin tức – Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đi vào cõi vĩnh hằng cách đây đã hơn 40 năm. Nhớ đến Bác, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến những bài thơ chúc Tết của Người mang những tư tưởng lớn, hoài bão lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào, chiến sỹ trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Tuy nhiên, còn những chuyện vô cùng cảm động về đời sống của Bác trong những ngày Tết đoàn tụ của mọi gia đình Việt Nam thì rất ít người biết đến.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm và chúc Tết đồng bào tỉnh Hà Bắc (Xuân Đinh Mùi, 9/2/1967). Ảnh: Tư liệu

Xin hãy bắt đầu bằng Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên – Tết Đinh Hợi năm 1947. Năm 1946, mặc dù là một năm được mô tả như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác, toàn dân ta đã vượt qua khó khăn, thử thách và vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi đi tới “9 năm làm một Điện Biên…” như lịch sử đã khẳng định. Theo quyết định của TW, Bác rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến và đêm 13/1/1947, Người đã tới thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Kể từ ngày rời Hà Nội, đây là điểm dừng chân thứ tư của Bác trên đường trường kỳ kháng chiến. Bác ở đây tổng cộng 21 ngày và cũng tại đây, cùng với việc viết thư, điện gửi những người đứng đầu nhà nước và Chính phủ Pháp vừa thuyết phục, vừa đấu tranh nhằm không để cuộc chiến tranh Pháp- Việt xảy ra, Người đã làm bài thơ chúc Tết lần đầu tiên đọc trên sóng phát thanh đêm giao thừa năm ấy.

Ở đây, trong điều kiện khó khăn và thiếu thốn không thể kể hết, hàng ngày Bác vẫn làm việc và sinh hoạt theo một nếp rất khoa học và chính xác về thời gian đối với từng việc, từng giờ mà Người đã định trước. Chiều 21/1 tức 30 Tết, từ Cần Kiệm, Bác đi Phủ Quốc Oai dự phiên họp tất niên của Chính phủ, sau đó đến Đài Tiếng nói Việt Nam hiện sơ tán ở Chùa Trầm (Chương Mỹ) để đọc thơ chúc Tết. Trời bắt đầu đổ mưa từ trước giờ Ngọ nên đường rất trơn, xe chở Bác chỉ đi được một đoạn thì bị tụt một bánh xuống ruộng. Mấy người phục vụ phải chia nhau vào xóm tìm người ra khênh xe giúp. Kéo được xe lên và đến được địa điểm họp dự họp xong, lúc 22 giờ rưỡi Bác đi đến Đài phát thanh. Lúc này trời càng mưa to, đường lầy và trơn hơn đoạn đến Phủ Quốc Oai. Nhưng xe vẫn lăn bánh trong màn mưa và gió lạnh hun hút thổi. Đọc thơ chúc Tết xong, Bác rời Đài ra về lúc 0 giờ 45 phút. Trời vẫn tiếp tục mưa và mưa ngày càng xối xả. Xe lại sa lầy, anh em phải xuống đẩy. Về cách nhà chừng 2 km, xe tụt cả hai bánh xuống ruộng. Không mượn được người khênh xe vì đang là giao thừa, Bác nói lái xe ngủ lại trông xe, còn mấy Bác cháu cùng xắn quần đội mưa cuốc bộ về nhà “xông đất”. Về đến nhà trời đã gần sáng rõ. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ đọc 2 bài báo của Butbiên, Bác mới đi nghỉ. Nhưng chưa đầy 7 giờ, Bác đã ngồi khai bút bằng việc sửa cuốn “Vấn đề du kích” Người đã soạn trước đó.

Việc ăn ở của Bác từ ngày sơ tán về đây rất khó khăn. Bác ở tại ngôi nhà của một nông dân nằm chơi vơi giữa sườn đồi. Nhà mới dựng cách đó chưa lâu, vách đất, mái lợp lá mía, gió mùa đông bắc hun hút thổi. Giữa cái lạnh đến ghê người, nhất là mỗi khi cơn gió lùa vào trong nhà, Bác vẫn thanh thản ngồi nghiên cứu và sửa tài liệu theo đúng kế hoạch Người tự đặt ra cho mình trong ngày mồng Một Tết. Bữa cơm của Bác trưa mồng Một Tết cũng giống như những ngày bình thường khác. Chưa đầy 2 bát cơm được đựng trong một âu nhỏ và được ủ nóng. Cơm độn với sắn khô được thái thành những lát nhỏ trộn với gạo và người nấu phải khéo lắm mới bảo đảm cả sắn, gạo cùng chín và dẻo. Thức ăn chỉ có 2 món, gồm mấy miếng thịt nạc rim và bát canh rau cải được mua ở chợ quê gần đấy. Đây là những món ăn rất quen thuộc đối với Bác khi còn ở Hà Nội. Với khẩu phần ăn quá đạm bạc ấy, anh em rất lo cho sức khỏe của Bác. Nhưng với Bác thì như Người nói: “Khó khăn, vất vả của Bác so với nhân dân và chiến sỹ là không đáng kể”.

Từ Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên, gần 20 năm sau Bác lại có một cái Tết chống Mỹ đầu tiên, tuy điều kiện có khác nhiều so với trước vì một nửa nước đã có hòa bình.

Đó là Tết Ất Tỵ năm 1965, Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ và công nhân sản xuất than tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chỉ trước đó mấy tháng, vào ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và đây là điểm máy bay Mỹ đã đánh phá. Không ngăn được ý định về cuộc đi thăm Tết này của Bác, nên tỉnh Quảng Ninh và các ngành có liên quan đã chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón Người. Hiểu điều đó, Bác đã nói với Bí thư Tỉnh ủy ngay lúc mới gặp: “Cố gắng kết thúc mít tinh sớm để mọi người về gia đình đón năm mới và tránh tình huống xấu có thể xảy ra”. Ở đây, Bác muốn nói đến khả năng máy bay Mỹ xâm nhập.

Chiều 1/2/1965, tức 30 Tết Ất Tỵ, Bác về tới Bãi Cháy và khách sạn mà tỉnh bố trí để Người nghỉ lại chỉ cách địa điểm máy bay Mỹ đã đánh phá ngày 5/8/1964 vài trăm mét. Buổi tối hôm đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh có ý định mời Bác dự bữa cơm tất niên với cán bộ chủ chốt của tỉnh và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhờ đồng chí Vũ Kỳ xin ý kiến Bác. Nghe xong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: “Chú cảm ơn tỉnh và nói Bác đã có cơm mang theo rồi. Bí thư và Chủ tịch muốn ăn cơm cùng Bác thì Bác mời”. Việc mang cơm theo mỗi khi đi làm việc với các địa phương từ lâu đã trở thành nếp quen vì Bác không muốn gây phiền hà và tốn kém cho địa phương. Tuy nhiên, bữa cơm chiều 30 Tết đó vì nể các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Bác vẫn ngồi dự, nhưng Người vẫn ăn cơm và thức ăn mang theo từ Hà Nội. Bác còn vui vẻ gắp thức ăn của mình mời Bí thư Tỉnh ủy cùng “thưởng thức hương vị Hà Nội”.

Hơn 11 giờ đêm sau khi dự đón giao thừa với cán bộ chủ chốt của tỉnh, Bác về phòng nghỉ và cùng đồng chí Vũ Kỳ rà lại chương trình hoạt động của ngày mai. Xong công việc, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Hôm nay, các chú lại không mang cà dầm tương cho Bác”. Cà dầm tương mang đậm hương vị quê hương Nam Đàn là một trong bốn món ăn mặn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của Bác. Và đã có lần khi nhận được một lọ cà dầm tương từ quê gửi ra biếu, Bác đã dặn anh em phục vụ: “Các chú ăn thịt, ăn cá, còn cà thì để phần Bác”. Hương vị “cà dầm tương” đã theo Bác cả khi Người nằm trên giường bệnh. Đó là sáng sớm 2/2/1969, Bác yêu cầu: “Sáng nay, các chú cho Bác một bát con cơm và mấy quả cà”.

Nói chuyện xong với đồng chí Vũ Kỳ, Bác lại ngồi chữa bài nói chuyện ở buổi mít tinh sáng mùng Một Tết cho tới 1 giờ sáng, Người mới đi nằm. Sáng mùng Một Tết, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn sáng, Người từ chối và chỉ uống một tách cà phê. Kết thúc cuộc mít tinh, Bác về lại khách sạn, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn điểm tâm với lý do chương trình đi thăm của Bác còn dài, Bác phải ăn một chút mới có sức làm việc hết buổi sáng. Bác không những không ăn, mà còn giục đồng chí Vũ Kỳ đi cho kịp thời gian. Bác rời Hòn Gai và về Uông Bí thăm các chuyên gia Liên Xô đang giúp ta xây dựng Nhà máy điện Uông Bí, thăm Đoàn địa chất số 3 đang thăm dò than ở khu vực này, thăm một gia đình nông dân ở HTX Khe Cát, nói chuyện với công nhân mỏ than Vàng Danh và nhân dân thị xã Uông Bí.

Kết thúc buổi sáng mùng Một Tết với một chương trình làm việc dầy đặc cho tới quá trưa Bác mới rời Uông Bí. Biết Bác đói và mệt vì cả buổi sáng chưa ăn gì, trong khi cường độ làm việc rất cao nên lúc chuẩn bị lên xe rời Uông Bí, đồng chí Vũ Kỳ nói nhỏ với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng: “Chắc giờ này Bác đã đói và mệt. Đến chỗ nào thích hợp anh chủ động dừng và mời Bác ăn cơm”. Xe ra khỏi địa phận Quảng Ninh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xin phép Bác dừng lại ăn cơm và Người đồng ý. Bữa cơm trưa mùng Một Tết của mấy Bác cháu tại một trường học trên đường đi cũng vẫn là những món ăn mà Người thích được chuẩn bị từ khách sạn. Ngoài ra, còn có thêm hai món tôm, cá tươi do HTX nghề cá Hùng Thắng mới đánh được đêm qua gửi biếu Bác và được các đầu bếp ở khách sạn chế biến khá công phu. Người ăn rất ngon miệng và còn vui vẻ gắp thức ăn cho vợ và con đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng.

***

Bác đã đi vào cõi vĩnh hằng. Đón xuân Nhâm Thìn nhắc lại câu chuyện về Tết trên đây của Bác giúp mỗi người chúng ta hiểu thêm tình thương bao la và sự hy sinh lớn lao của Người đối với đồng bào, chiến sỹ thiêng liêng và cao quý đến nhường nào. Bác vĩ đại chính là từ những việc làm như thế.

Nguyễn Tử Nên

———————-

Ghi chú: Theo tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ, nguyên Thư ký của Bác và có tham khảo thêm tư liệu từ hai cuốn sách: “Chuyện kể về Bác Hồ-Những chặng đường trường kỳ kháng chiến” của Huyền Tím và Tử Nên-NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 và “Phong cách Bác Hồ” của Nguyễn Tử Nên – NXB Quân đội Nhân dân năm 2010.

bqllang.gov.vn

“Nói thì phải làm” Chuẩn mực đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng

“Tư cách một người cách mệnh”(1) là một trong những vấn đề quan trọng đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Cuốn sách bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức, với 23 chuẩn mực cụ thể. Đây chính là những chuẩn mực đạo đức rất sinh động, thiết thực và cụ thể được Người soạn thảo để giảng dạy trong các lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giai đoạn những năm 1925 – 1926.

Tuy rằng, nội dung tư cách người cách mạng trong thời điểm hiện nay không hoàn toàn giống như giai đoạn cách mạng trước, nhưng trong lúc này, trước sự suy thoái về đạo đức ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người có chức, có quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng thì những chuẩn mực đạo đức của người cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nêu ra lần đầu tiên cách đây hơn 80 năm vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Đó vẫn là những chuẩn mực mà Đảng ta dựa vào đó để phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để xác định nội dung những phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên và không thể thiếu được của người cán bộ cách mạng vẫn là đạo đức cách mạng. “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nhiều chuẩn mực đạo đức cách mạng, nhưng chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một trong những chuẩn mực đạo đức hết sức cơ bản của người cách mạng và lúc sinh thời Người luôn nhắc nhở chúng ta phải thực hiện nghiêm túc, bởi lẽ lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên có quan hệ rất chặt chẽ đến sự nghiệp cách mạng, ảnh hưởng lớn đến quần chúng.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư cách người cách mạng bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức (quan hệ với bản thân, với người khác và với công việc). Chuẩn mực: “Nói thì phải làm” thuộc loại quan hệ với bản thân. Theo cách nói của Người, tức là: “Tự mình phải: Cần kiệm/ Hoà mà không tư/ Cả quyết sửa lỗi mình/ Cẩn thận mà không nhút nhát/ Hay hỏi/ Nhẫn nại (chịu khó)/ Hay nghiên cứu, xem xét/ Vị công vong tư/ Không hiếu danh, không kiêu ngạo/ Nói thì phải làm/ Giữ chủ nghĩa cho vững/ Hy sinh/ Ít lòng tham muốn về vật chất/ Bí mật”(3). Đây là một chuẩn mực thuộc nhóm đạo đức – ý chí trong quan hệ đạo đức của người cách mạng đối với chinh bản thân mình. Có thể nói, nếu “Đạo đức là cái gốc” thì quan hệ đạo đức đối với bản thân phải là cái gốc của mọi cái gốc. Bởi lẽ, điều cốt lõi trong nhân cách đạo đức của người cách mạng trước hết phải được thể hiện trong quan hệ ứng xử đối với chính bản thân mình.

Vì lẽ đó, chúng ta thấy được chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một lời dạy có giá trị to lớn về mặt lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là phương châm chỉ đạo mọi hoạt động của người cách mạng.

Là người luôn nhất quán với quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem “nói” và “làm” là hai mặt của một quá trình thống nhất có mối quan hệ biện chứng với nhau. “Nói thì phải làm” là yêu cầu có tính nguyên tắc, nhất quán không những chỉ trong hoạt động thực tiễn cách mạng mà cả trong cuộc sống đời thường của Người.

Ngay từ cuối năm 1945, trên cương vị là vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý ngay tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, đặc biệt là việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” cho những người cán bộ cách mạng để họ luôn xứng đáng là những “công bộc” của nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” trước hết phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của mọi giai tầng trong xã hội và lợi ích của quốc gia và dân tộc. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn luôn chú ý khi nói, khi viết điều gì thì phải làm sao để: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nói và làm trước hết vì lợi ích của nhân dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Thực tế cho thấy, đối với người cán bộ cách mạng, muốn nói hay, viết giỏi đã là việc khó, nhưng để làm được như nói lại là việc khó hơn rất nhiều lần. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ cách mạng phải là những người nói được, viết được và làm được. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích cán bộ cách mạng phải là những người dám nói và dám làm, bất luận trong hoàn cảnh nào họ cũng phải là những người luôn gương mẫu để làm gương cho kẻ khác: “Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được? Miệng nói tay phải làm mới được”(5) hay “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa”(6). Hoặc “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”(7).

Trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán những người cán bộ cách mạng thường “nói nhiều làm ít”, hoặc “nói mà không làm”, hay “nói một đằng, làm một nẻo”, thụ động, máy móc, ỷ lại… Người nghiêm khắc phê phán: “Có đồng chí học thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí”(8).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” còn là một tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực, trình độ và phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ: “Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không… Không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”(9).

Là người đầu tiên đề ra “Tư cách một người cách mệnh”, suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang và trong cuộc sống đời thường của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương mẫu mực, sáng ngời và sinh động nhất trong việc tuân thủ nghiêm túc những chuẩn mực đạo đức đó, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm”. Người là sự hiện thân thống nhất biện chứng giữa lời nói và việc làm. Năm 1945, trước nạn đói đang hoành hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài kêu gọi đồng bào ta “Sẻ cơm nhường áo” bằng cách: “Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10), thì chính Người đã xung phong thực hiện trước tiên.

Trong các bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người cán bộ cách mạng phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để xứng đáng là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” thì chính Người đã làm gương bằng chính cuộc sống hết mực khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm và thanh bạch của mình. Cuộc sống đó của Người đã thể hiện được điều mà Người luôn tâm niệm là: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”(11).

Nhờ sự quan tâm, giáo dục và tấm gương tuyệt vời của Người trong việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm”, chúng ta thấy tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt chuẩn mực này trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng và đã góp phần đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Tuy nhiên hiện nay, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài những thành tựu vô cùng to lớn về mặt kinh tế – xã hội, chúng ta phải thừa nhận một cách nghiêm túc rằng, mặc dù đã có rất nhiều cuộc vận động, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được phát động và ban hành nhằm không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thế nhưng trong thực tế thì những chuẩn mực đạo đức cách mạng, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm” đã có đề ra nhưng chưa được thực thi như mong muốn. Đây là một sự thật hết sức đau lòng. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”(12). Đặc biệt, Đảng ta đã chỉ rõ một “căn bệnh nan y” hiện nay của không ít cán bộ, đảng viên và đang làm xói mòn dần niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đó là tình trạng cán bộ, đảng viên “Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi”(13). Họ chính là những người mà khi viết, khi thuyết giảng trước dân về các vấn đề thì “như ông thánh” nhưng trong thực tế cuộc sống lại chính là những người luôn coi thường kỷ cương, phép nước, thoái hóa, biến chất, chiếm dụng, lãng phí tiền bạc của dân, của nước, sống xa hoa, trụy lạc, luôn tìm mọi cách để mưu lợi cá nhân. Đối với một bộ phận cán bộ có chức, có quyền này, chuẩn mực đạo đức “Nói thì phải làm” chỉ còn là mỹ từ để giúp họ che giấu bộ mặt thật của mình trước cơ quan, đoàn thể, truớc nhân dân.

Đứng trước thực trạng trên, để xây dựng một đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chú ý đặc biệt tới việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đó là: “Lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”(14). Để thực hiện được ý tưởng nói trên, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta phát động từ năm 2007 cho đến năm 2011, chúng ta nên lấy chuẩn mực “Nói thì phải làm” làm tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá, tổng kết kết quả cuộc vận động đối với mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng và đoàn thể. “Nói thì phải làm” phải trở thành một hành động thể hiện lương tâm, trách nhiệm của người cán bộ cách mạng trước vận mệnh của Đảng và dân tộc.

Giờ đây, khi mà trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, việc lấy lại lòng tin của nhân dân đối với người cán bộ cách mạng như trước đây, việc làm sao để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt hiệu quả thiết thực nhất, không có cách nào khác là phải chứng minh bằng những hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong công việc và trong cuộc sống đời thường chứ không phải bằng những bài viết, bài nói khuếch trương và hoa mỹ. Trong dân ta có câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người cán bộ cách mạng có cương vị càng cao thì đòi hỏi việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng phải hơn người bình thường. Tôi tin chắc là chúng ta có thể làm được như thế, xứng đáng là đảng viên của Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện”.

Để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” như “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến hành thường xuyên việc xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa cho tất cả mọi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên – những tinh hoa của xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, người dân đang có nhiều bức xúc khi chứng kiến một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền nói hay mà làm dở thì việc tuân thủ một cách thực sự nghiêm túc chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để củng cố lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với những người cán bộ cách mạng mà lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi họ là “cái gốc của mọi công việc”. Nhớ Bác, làm theo lời Bác, chúng ta – những người cán bộ cách mạng thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau hãy ghi lòng tạc dạ lời dạy sau đây của Người: “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích. Đó là một tật xấu”(15).

___________________

1, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,2000, t.2, tr.260.
2, 8. Sđd, t.9, tr.283, 292.
4, 5, 6, 10. Sđd, t.4, tr.56-57, 101-102, 150, 31.
7, 9. Sđd, t.5, tr.108, 281-282.
11. Sđd, t.7, tr.392
12. Văn kiện Đại hội X của Đảng. Nxb CTQG, H, 2006, tr.65
13. Sđd, tr.273
14. Sđd, tr.133
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.11, tr.136

Theo mattran.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là để đoàn kết hơn

Hoạt động chính trị là sự tham gia của các chủ thể vào các công việc của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham gia vào hoạt động chính trị là để đạt tới mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân và sự tiến bộ cho toàn thể nhân loại. Để thực hiện mục tiêu cao cả này, Người yêu cầu mỗi tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động chính trị phải luôn đoàn kết và biết tập hợp mọi lực lượng về phe cách mạng gắn với cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại kẻ thù là các thế lực chống đối ngăn cản con đường thực hiện mục tiêu đó. Điều này cũng có nghĩa là phải thực hiện thêm bạn, bớt thù.

Theo Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong đời sống có nhiều loại kẻ thù khác nhau cần phải được nhận diện, phân định rõ để có các biện pháp loại trừ. Xét về hành vi biểu hiện và sự nguy hiểm nói chung, Người xác định rõ đã là kẻ thù thì chúng đều là những loại “giặc”. Đó là các loại “giặc ngoại xâm”, “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc lụt”,… Xét về giới hạn, phạm vi hoạt động, Người phân biệt thành “kẻ thù trên thế giới, trong nước và trong mình”, “kẻ thù bên trong”, “kẻ thù bên ngoài”. Xét về vị trí, mức độ tác hại chống đối của kẻ thù để từ đó tìm ra các biện pháp loại trừ, Người phân ra các loại “kẻ thù trước mắt”, “kẻ thù lâu dài”, “kẻ thù chính”, “kẻ thù số một”, “kẻ thù nguy hiểm”… Nếu trong cách mạng giải phóng dân tộc, kẻ thù chính là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thì trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, kẻ thù chính lại không phải là những “tên đế quốc” như trước nữa mà đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Nó còn được coi là “kẻ thù bên trong”, kẻ thù “ở trong lòng” ẩn nấp kín đáo không dễ gì phát hiện và nhận thấy để loại trừ. Chủ nghĩa cá nhân chính là căn nguyên đẻ ra các “chứng bệnh” hay các “kẻ địch” nằm ngay bên trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Tính nguy hiểm và sự tác hại của các “chứng bệnh” này đã được Hồ Chí Minh xác định rõ: “Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”(1).

Cùng với việc xác định kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những “bầu bạn” trong quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là những lực lượng, phong trào, là một quốc gia, dân tộc và cá nhân những người yêu nước, tiến bộ, yêu chuộng hoà bình với phẩm chất đạo đức trong sáng. Theo Người, muốn làm cách mạng thắng lợi thì không những phải biết phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, mà điều quan trọng hơn, đó là “phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(2). Điều này cũng có nghĩa là ở trong nước thì phải biết tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, lực lượng, thành phần xã hội; biết tranh thủ lôi kéo về phe cách mạng mọi đối tượng, lực lượng có thể tranh thủ, kể cả kẻ thù. Trong chính sách đối ngoại, phải biết thu phục, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân tiến bộ, biết cô lập, phân hoá chuyển hoá kẻ thù thành bầu bạn, làm sao để trên thế giới này ngày càng bớt đi kẻ thù bên ngoài, không còn “giặc ngoại xâm”, thực hiện quan hệ hợp tác, đoàn kết hữu nghị với các nước và nhân dân thế giới theo tinh thần:

“Quan sơn muôn dặm một nhà
Vì trong bốn biển đều là anh em”(3).

Để thực hiện chủ trương thêm bạn bớt thù, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đặc biệt khi ở cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành chỉ đạo nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết, hoà hợp dân tộc, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân, ngay cả đối với những người trước đó từng là kẻ thù nhưng sau đó tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc, dân chủ. Việc thành lập và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam để tập hợp đoàn kết mọi giai cấp, mọi lực lượng và toàn dân là một minh chứng rõ ràng và sinh động nhất về việc thêm bè bạn, bớt kẻ thù.

Ngày nay, những chủ trương biện pháp thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc đổi mới đất nước. Trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện theo phương châm: “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực”(5). Việc Việt Nam tích cực chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, thắt chặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là sự kiện được bầu vào ghế uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mới đây với số phiếu ủng hộ rất cao (183/190) là một minh chứng của việc Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ trương đoàn kết, thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đối ngoại.

Trong chính sách đối nội, vấn đề đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là “thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh”(6). Mặt trận đã trở thành một nhân tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương đó. Qua hơn 20 năm đổi mới, Mặt trận ngày càng một lớn mạnh hơn. Đến nay, Mặt trận đã trở thành một tổ chức liên minh chính trị tập hợp của 44 tổ chức thành viên, với cơ cấu Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đủ 54 dân tộc, 6 tôn giáo lớn và nhiều cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân. Mặt trận đã thể hiện là một biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc với vai trò một tổ chức liên minh chính trị của tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, các tổ chức khác nhau trong xã hội vì một mục đích là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Còn phải kể đến chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù vào thời kỳ đổi mới là Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm thực hiện đẩy lùi “giặc đói”. Ngoài các Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) và các chương trình mục tiêu khác (chương trình việc làm, xuất khẩu lao động…) nhằm giảm đói nghèo của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã tiến hành thực hiện sâu rộng “phong trào xoá đói giảm nghèo” trong toàn quốc, coi đây là một mặt trận chống “giặc đói”, bớt kẻ thù đói nghèo theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với nhiều nỗ lực về phát triển kinh tế trong nông nghiệp, thực hiện sâu rộng phong trào xoá đói giảm nghèo bằng các chương trình nêu trên cùng các cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, các chương trình xây tặng “Nhà đại đoàn kết”, “Những tấm lòng từ thiện”, “Nối vòng tay lớn”, “Quỹ tình thương”, “Một thế giới – một trái tim”… của Mặt trận và các đoàn thể mà tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh từ 17,5% năm 2001 xuống còn khoảng dưới 7% năm 2005, tỉ lệ nghèo đói (tính theo chuẩn quốc tế) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19% vào cuối năm 2006. Với thành tựu này, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận là một trong những nước thành công nhất trong phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân.

Cùng với đẩy lùi giặc đói, vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện được một bước đáng kể trong việc đẩy lùi “giặc dốt”. Qua 20 năm với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành và của toàn dân trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia chống nạn mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học và sau đó là phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến nay trong cả nước tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đã đạt 97,5%, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đã đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Thành tựu này tuy chưa khẳng định được “giặc dốt” đã bị đẩy lùi hẳn, nhưng điều đó đã chứng tỏ sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, bớt đi được rất nhiều loại “kẻ thù” đã tồn tại bao đời nay ở nước ta.

Một mặt trận được coi là khó khăn, quyết liệt nhất chống kẻ thù vào thời kỳ đổi mới, đó là chống loại “giặc ở trong lòng”, mà biểu hiện cụ thể của nó là chủ nghĩa cá nhân, là quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, xấu xa khác. Ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương thể hiện sự quyết tâm đẩy lùi loại kẻ thù nguy hiểm này. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương ba (khoá X) tháng 7-2006, Đảng đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, trong đó Đảng chỉ đạo thành lập các cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng, đề ra các biện pháp cụ thể và phát động toàn dân trong cuộc chiến này. Cùng với Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp quy về phòng, chống tham nhũng, như: Ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng các đề án chống tham nhũng… Cùng với các biện pháp trên, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang triển khai sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cả nước. Đây chính là một biện pháp thiết thực và có ý nghĩa rất lớn nhằm thực hiện bớt đi kẻ thù “ở trong lòng” là chủ nghĩa cá nhân, loại kẻ thù nguy hiểm nhất, thực hiện lời chỉ dẫn của Người: “ta phải làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(7).

Để đẩy lùi được các loại kẻ thù nói trên, đòi hỏi Đảng và Nhà nước không chỉ có ý chí quyết tâm cao, mà còn phải thật kiên trì, tăng cường và thực hiện một cách đồng bộ có hiệu quả nhiều biện pháp hơn nữa, đặc biệt đối với cuộc chiến chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí thì cần phải khéo dùng lực lượng của quần chúng nhân dân, bởi như Người đã từng nói: “phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”(8).

_______________

1, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.5, tr.220, 238-239.
2. Sđd, t.10, tr.605
3. Sđd, t.8, tr.362.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.112, 153.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, 1991, tr.10.
7. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.558.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.495.

Theo TS. Nguyễn Hữu Đổng
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
(mattran.org.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội

Hình ảnh Bác Hồ vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về Thủ đô Hà Nội ngày 10-10-1954 (Ảnh: Tuấn Anh)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội. Kể từ Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với mảnh đất Hà Nội. Ngày 26/8/1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam).

Cách mạng Tháng Tám thành công đập tan gông xiềng của thực dân phong kiến, nhân dân ta bắt đầu thực sự được làm chủ cuộc đời.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào. Sau đó không lâu, thực dân Pháp bội ước, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác phải đứng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Người.

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta vừa bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc và tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc XHCN ngày càng ác liệt, nhằm ngăn cản sự chi viện của tiền tuyến lớn miền Bắc cho hậu phương lớn miền Nam.

Ngày 17/7/1966, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi vang vọng “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch”, trong đó có đoạn: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cũng từ đó, câu nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người đã trở thành chân lý của thời đại.

Ngay trong những tháng năm chiến tranh ác liệt dưới bom đạn Mỹ, Bác Hồ kính yêu vẫn hàng ngày chăm cá, chăm cây, vui với đàn cháu nhỏ và bàn việc nước bên ngôi nhà sàn giản dị trong vườn cây trái xum xuê ở giữa lòng Thủ đô yêu dấu… Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam. Những ngày đầu tháng 9/1969 trời Hà Nội mưa tầm tã như hòa cùng nỗi đau của người dân Việt Nam từ nay vắng hình bóng Bác…

Như vậy, có thể nói, tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu hết được thể hiện ở mảnh đất kinh đô ngàn năm văn vật. Và không chỉ có vậy, Bác Hồ còn thể hiện tấm lòng trân trọng biết ơn, mối quan tâm sâu sắc đầy tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội.

Kể từ khi giữ cương vị Chủ tịch nước, Người đã có 73 bài viết riêng về Hà Nội, về nhân dân Hà Nội (theo sách Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội – NXB Chính trị quốc gia, 2004. Các trích dẫn dưới đây đều ở cuốn sách này).

Nhà thơ Tố Hữu đã nói rất đúng về cách ứng xử rất mực tình người của Bác Hồ: “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”. Thật vậy, suốt cuộc đời cách mạng, Bác Hồ đã luôn thể hiện là vị “công bộc” tận tụy của dân. Mọi việc làm, từ lời nói đến hành động ở Người đều thể hiện là “người đầy tớ thật trung thành” của nhân dân. Điều ấy thể hiện trước hết ở tấm lòng biết ơn dân.

Ngày 2/9/1945, Hố Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Ngay ở kỳ Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam mới (năm 1946), với sự tín nhiệm tuyệt đối của cử tri, một số đồng bào ta đề nghị Hồ Chí Minh không phải ứng cử. Người đã viết thư cảm ơn: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới”. Sau 9 năm kháng chiến, chúng ta về lại Hà Nội, Người đã có lời cảm ơn thật chí tình: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào Thủ đô và bộ đội hôm nay long trọng và thân mật chào mừng Chính phủ”. Trong lần Tổng tuyển cử Quốc hội khóa II, Người cũng viết thư cảm ơn đồng bào Thủ đô đã đề nghị Người ứng cử ở khu vực Hà Nội.

Ở một lá thư khác, Người viết: “Thưa đồng bào thân mến. Sáng nay, một đồng chí cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: Đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt? Nói thế này mới đúng: Tôi đến đây để cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu tôi và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khóa II ở Thủ đô yêu quý của chúng ta”. Có lẽ không cần bình luận gì thêm mà mượn một ý của cổ nhân khi nói về thơ hay để nói về những dòng chữ đầy ân tình này của Bác: Thơ (văn) hay là thứ thơ (văn) mà khi đọc lên người ta không còn thấy câu chữ mà chỉ thấy tình người. Chủ tịch Hồ Chí Minh có mối quan tâm đặc biệt với nhân dân Hà Nội. Người thường xuyên gửi thư tới các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, tới nông dân, công nhân, trí thức… Nhưng Người đặc biệt quan tâm tới tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Hà Nội.

Khi Hà Nội mới được giải phóng, những tàn dư văn hóa thực dân còn rơi rớt lại thì Người đã ân cần chỉ ra khuyết điểm của số ít thanh niên Hà Nội: “thanh niên Hà Thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái…” và chỉ ra cách khắc phục: “Phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc”. Trong 10 lá thư, bài viết, bài phát biểu về thanh niên, thiếu niên, sinh viên Hà Nội, Bác Hồ đều khuyên thanh thiếu niên Thủ đô đoàn kết thân ái và chăm chỉ học tập phát huy sáng kiến để thanh thiếu niên cả nước học tập, Người nói: “thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước”. Về mối quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân Hà Nội, có một điều đặc biệt là Bác Hồ rất chú ý tới nhân dân ngoại thành Hà Nội. Người đã có 4 bức thư, bài viết riêng về nhân dân khu vực ngoại thành:

– Gửi đồng bào ngoại thành Hà Nội.

– Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ làm công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội.

– Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm.

– Bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, Đảng bộ “bốn tốt” ở khu vực ngoại thành Hà Nội.

Có thể là khi đó người dân ngoại thành Hà Nội còn vất vả nên Người dành mối quan tâm sâu sắc hơn. Người động viên: “Ngoại thành cũng là Thủ đô. Mà “thủ” là đầu, phải đi đầu…” và mong muốn: “Các đảng bộ, chi bộ ở ngoại thành cần lãnh đạo đưa phong trào ngoại thành tiến lên mạnh mẽ hơn nữa, làm cho ngoại thành thật sự trở thành vành đai đỏ của Thủ đô xã hội chủ nghĩa”.

Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của Hà Nội mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội “thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Hồi mới giải phóng, Người xác định nhiệm vụ trung tâm cho Hà Nội là “giữ gìn trật tự an ninh”, là “ổn định sinh hoạt”, là “vệ sinh sạch sẽ” là “phòng bệnh”. Muốn thế mọi người dân Thủ đô phải đoàn kết, tăng năng suất công tác, phải học tập, phải giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục.

Sau này, trong những lời phát biểu, những bài nói chuyện tại các kỳ Hội nghị Đảng bộ Hà Nội, các đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội…, Người rất chú ý tới vấn đề xây dựng và phát triển Thủ đô vững mạnh toàn diện, mà trước hết là phát triển Đảng: “Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động và công đoàn. Đảng bộ Hà Nội cần phát triển thêm thành phần công nhân, nông dân, lao động trí óc và phụ nữ vào Đảng”. Người căn dặn Đảng bộ Hà Nội phải luôn “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”.

Đó cũng là một biểu hiện tư tưởng vì con người hết sức cao đẹp của Bác Hồ kính yêu.

Hà Nội hôm nay ngày càng đổi mới, phát triển để xứng đáng là trái tim của cả nước thì càng phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thành phố Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế thì mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”.

Lời dạy và cũng là mong muốn của Bác Hồ sẽ mãi mãi là động lực thôi thúc nhân dân Hà Nội sát cánh cùng cả nước xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước giàu mạnh trong thời đại mới./.

Theo Báo Văn nghệ quân đội
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của các lực lượng vũ trang

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, của Ðảng đã đề ra đường lối, chủ trương và hết lòng chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng một quân đội kiểu mới với nòng cốt là con em nhân dân lao động, hy sinh chiến đấu vì quyền lợi của nhân dân, vì lợi ích của dân tộc.

Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền

Ngày 28-1-1941, sau gần 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về nước trực tiếp chỉ đạo cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Hơn ba tháng sau, vào giữa tháng 5, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Hà Quảng (Cao Bằng), khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng nước ta là giải phóng các dân tộc Ðông Dương ra khỏi ách áp bức của Pháp-Nhật. Vì thế, chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Ðảng và toàn dân.

Cuối năm 1941, Người chủ trương thành lập đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, tạo cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang sau này. Trên cơ sở tìm hiểu hình thức tổ chức quân đội của các nước như Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội trên cơ sở vũ trang toàn dân và kế thừa truyền thống, kinh nghiệm xây dựng quân đội trong lịch sử dân tộc, Người đã từng bước xác định nguyên tắc tổ chức, xây dựng đội quân vũ trang của cách mạng Việt Nam.

Người trực tiếp giáo dục chính trị và viết tài liệu huấn luyện quân sự cho đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, chọn cử hàng chục cán bộ giỏi sang Trung Quốc học quân sự. Trong thời gian này, Người biên soạn tài liệu về “Kinh nghiệm du kích Nga”; “Kinh nghiệm du kích Tàu”, đặc biệt là cuốn “Cách đánh du kích”. Ðối với đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, Người trực tiếp viết “Mười điều kỷ luật” và xác định nhiệm vụ của đội là “làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này”. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn dặn dò cán bộ, đội viên: “

Phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt, đối với dân phải như cá với nước”.

Cuối tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Cao Bằng. Sau khi được biết dự định khởi nghĩa của Ban liên tỉnh Cao Bắc Lạng, Người đã chỉ thị phải hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì “Trong điều kiện hiện giờ, nếu phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó, cuộc khởi nghĩa sẽ bị đàn áp”. Người nhận định: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy phong trào đi tới… Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự.

Tháng 12-1944, Người viết bản Chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Người xác định tên của đội là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ) nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Người cho rằng: Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Ðội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

Căn cứ vào Chỉ thị của Người, sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc hai tổng Trần Hưng Ðạo và Hoàng Hoa Thám, xã Tam Kim, Nguyên Bình (Cao Bằng), được sự ủy quyền của Người, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tổ chức Lễ thành lập Ðội VNTTGPQ, gồm 34 cán bộ, chiến sĩ đầu tiên. Ðây là đội quân chủ lực đầu tiên, một trong những đội quân tiền thân của QÐND Việt Nam.

Sự ra đời của Ðội VNTTGPQ đánh dấu một bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam, bởi từ nay, cách mạng nước ta đã có một đội quân chủ lực, tổ chức lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc.

Bên cạnh bản Chỉ thị lịch sử, một văn kiện có tính cương lĩnh quân sự về xây dựng QÐND, về khởi nghĩa vũ trang toàn dân, kháng chiến toàn dân, Người còn Chỉ thị cho Ðội VNTTGPQ hai điểm khi hành động: Một là, cuộc chiến đấu đầu tiên phải là một cuộc thắng lợi, bởi “cuộc chiến đấu ấy có tác dụng rất lớn lao và trong một phần lớn sẽ quyết định tương lai của đội”. Hai là, các cuộc hành động phải nhằm thời gian, phải nhằm địa điểm, tổ chức phải gọn gàng, chu đáo xuất sắc, làm cho nó vang dội đến khắp trong nước và vang dội ra cả nước ngoài. Sau mỗi thắng lợi phải triệt để lợi dụng để mở rộng tuyên truyền. Có thế, đội giải phóng quân mới đạt mục đích tuyên truyền của nó, mới kêu gọi toàn dân đoàn kết, vũ trang đứng dậy.

Chấp hành Chỉ thị của Người, Ðội VNTTGPQ đã ra quân đánh thắng hai trận đầu Phai Khắt, Nà Ngần, rồi nhanh chóng phát triển lực lượng lên đến một rồi nhiều đại đội, tỏa đi các địa phương trong chiến khu Việt Bắc xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Ðể xây dựng đội quân thường trực lớn mạnh bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chính quyền non trẻ, chống lại thù trong giặc ngoài, vào giữa tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh Chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng Việt Nam Giải phóng quân và đổi tên thành Vệ quốc đoàn. Người căn dặn Vệ quốc đoàn cần thực hiện sách lược mềm dẻo đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch; phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột. Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột. Thực hiện Chỉ thị mở rộng lực lượng của Người, bộ đội chủ lực từ một số chi đội, đại đội (khoảng 5.000 người) trong những ngày Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945 đã phát triển lên 50.000 người, với 40 chi đội ( mỗi chi đội từ 1.000 đến 2.000 người).

Trước đó, ngày 7-9-1945, Người Chỉ thị thành lập Bộ Tổng tham mưu, giao nhiệm vụ: “Tổ chức huấn luyện quân đội cho giỏi; nắm địch nắm ta rõ ràng; bày mưu bày kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng”.

Nhằm kiện toàn tổ chức, biên chế của quân đội, ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71-SL về Quân đội quốc gia Việt Nam. Kèm theo Sắc lệnh có bản Quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam gồm 62 điều, quy định biên chế, tuyển binh, cấp bậc, thăng giáng, thuyên chuyển, kỷ luật, khen thưởng và lễ nghi của quân đội.

Người rất quan tâm việc đào tạo đội ngũ cán bộ trong quân đội. Ngày 26-5-1946, đến thăm và dự lễ khai giảng đầu tiên của Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. Người đã tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân”.

Người luôn quan tâm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, chống lại mọi biểu hiện quân sự đơn thuần. Người nhấn mạnh: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Ðảng lãnh đạo, Ðảng có chính cương, chính sách. Ðã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Ðảng…”. “Chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng. Cho nên các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu”.

Người đã viết bài: “Ðạo đức của người tướng”, trong đó nêu lên 6 yêu cầu và cũng là tiêu chuẩn đối với người tướng cần phải có là “Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Người phân tích và nhấn mạnh từng yêu cầu đối với người tướng, với đạo làm tướng để có thể lãnh đạo chỉ huy bộ đội, làm gương cho quân sĩ. Người nói: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”. Cán bộ phải gương mẫu, làm gương cho cấp dưới: “Bộ đội chưa ăn, cán bộ không được kêu mình đói; bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét; bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”. Ðể chuẩn bị hành trang, tri thức quân sự cho bộ đội, Người đã viết hàng chục bài báo giới thiệu về Binh pháp của Tôn Tử, về chiến lược, chiến thuật, cách đánh.

Trong kháng chiến, Người luôn quan tâm, theo dõi từng bước trưởng thành của quân đội, gửi thư thăm hỏi, động viên và khen thưởng kịp thời mỗi khi bộ đội ra trận, đi chiến dịch, lập được chiến công. Không những thế, trong Chiến dịch Biên giới Thu-Ðông năm 1950, một chiến dịch tạo nên bước ngoặt cơ bản của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân ra trận, ngay từ khi chuẩn bị trận đánh mở màn, có ý kiến quyết định chọn mục tiêu tiến công mở màn chiến dịch, cũng như đi quan sát trực tiếp vị trí này (Ðông Khê) trước khi bộ đội ta nổ súng tiến công.

Trong Chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ, Người cùng Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã có những quyết định táo bạo, sáng suốt, kịp thời, lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta chiến đấu giành toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Hòa bình lập lại, đất nước tạm thời chia làm hai miền. Ở miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ, dặn dò cán bộ Ðại đoàn 308 Quân Tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Người dặn dò: “Ngày xưa các Vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Trung ương vào năm 1956, ra Nghị quyết nêu rõ: “Cần củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có ở miền nam, xây dựng làm căn cứ, làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”. Người thường xuyên gặp gỡ, động viên dặn dò cán bộ quân sự được tăng cường cho chiến trường miền nam. Người dành thời gian gặp gỡ, trò chuyện với cán bộ, anh hùng, dũng sĩ từ miền nam ra thăm miền bắc. Với Người, “miền nam luôn ở trong tim”.

Nhiều cuộc thao diễn quân sự của các đơn vị quân đội đã được Người quan tâm theo dõi. Ði thăm các đơn vị đang huấn luyện cũng như chuẩn bị sẵn sàng đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, Người nhắc nhở: Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi sẽ hỏng. Chăm chỉ luyện tập sẽ tiến bộ. Người luôn quan tâm chỉ đạo xây dựng “một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy, hiện đại”, xây dựng các quân chủng, binh chủng Hải quân, Không quân, Phòng không, Xe tăng-Thiết giáp, Ðặc công, xây dựng tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn…

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng chính quy, hiện đại, trăm trận trăm thắng. Dưới sự dìu dắt, chỉ bảo trực tiếp của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta luôn tâm niệm và thực hiện lời dạy của Người: “Quân đội ta trung với Ðảng, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, để mãi xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ.

BTS
Theo ND

cpv.org.vn

Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công nhân. Ảnh: Tuấn Anh

Ngày 19-5-1950, mừng Hồ Chủ tịch 60 tuổi và chúc Hồ Chủ tịch sống lâu, chúng ta cần nhắc nhở cái gì của Hồ Chủ tịch, học tập cái gì của Hồ Chủ tịch? Nhân ngày vui mừng hôm nay của quốc dân đồng bào, những điều chúng ta cần nhắc nhở, học tập của Hồ Chủ tịch rất nhiều, nhưng theo ý tôi trong giai đoạn chuẩn bị tổng phản công này, chúng ta cần hơn hết nhắc nhở và học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch, vì đó là bài học trọng yếu hơn hết, quý báu hơn hết trong sự nghiệp cách mạng của Người.

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch là gì?

Đó là điều cốt yếu hơn hết của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch.

Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời hy sinh chiến đấu cho cách mạng. Trải qua hơn 40 năm nay bôn ba khắp bốn phương, thu nhặt tinh hoa của tư tưởng tiến bộ nhất thế giới ngày nay: Lý luận Mác – Lênin, Hồ Chủ tịch luôn luôn nhằm mục đích giải phóng dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là một bước thành công lớn lao trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch và thành công được là nhờ Hồ Chủ tịch đã đoàn kết nhân dân Việt Nam, đông đảo quần chúng lao khổ Việt Nam và dìu dắt họ chiến đấu anh dũng.

Cách mạng thành công, Hồ Chủ tịch sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Nhà nước của nhân dân Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam và do nhân dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân Việt Nam, nghĩa là nó không phải của thực dân Pháp, hay của một số ít người nào có quyền lợi địa vị chống với nhân dân; mà là của tất cả người Việt Nam yêu nước, trong đó đại đa số là quần chúng lao khổ công nông và tiểu tư sản thành thị. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là vì nhân dân Việt Nam, nghĩa là nhà nước ấy phục vụ nhân dân Việt Nam chứ không phải vì kẻ nào khác, phục vụ kẻ nào khác. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là do nhân dân Việt Nam nghĩa là do tất cả người Việt Nam yêu nước, do đông đảo quần chúng công, nông, tiểu tư sản thành thị lập nên nó, theo dõi nó, kiểm soát nó. Tóm lại, chế độ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một chế độ dân chủ nhân dân.

Chính vì Hồ Chủ tịch lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám và sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của dân, vì dân, do dân cho nên thực dân Pháp muốn đặt lại ách thống trị của chúng trên đất nước Việt Nam, bắt nhân dân Việt Nam quay về cuộc đời nô lệ cũ, đã nhờ phản động quốc tế giúp sức, gây ra cuộc chiến tranh hiện tại. Để chống lại, Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân đoàn kết kháng chiến, phát động những phong trào quần chúng rộng rãi như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, thi đua ái quốc, v.v. để kiên quyết bảo vệ chiến quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, bảo vệ chế độ dân chủ cộng hoà đã thành lập. Nếu không phải là một cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng sâu rộng, vô cùng mạnh mẽ, vô cùng oanh liệt thì cuộc kháng chiến đã thất bại.

Nội dung quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

 

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch nghĩa là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác – Lênin, gồm mấy điều cốt yếu sau này:

1. Tin tưởng sức mạnh, năng lực sáng tạo, năng lực cách mạng của nhân dân, của quần chúng. Lịch sử cách mạng nước ta mấy năm gần đây chứng minh điều này đầy đủ và rõ ràng. Từ việc to đến việc nhỏ, từ toàn quốc đến địa phương, mọi ngành, mọi việc đều như thế.

Đặc biệt Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta không biết bao nhiêu về điều cốt yếu này. Mỗi một chủ trương, mỗi một lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch là một bài học cho chúng ta.

2. Phải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân. Sức mạnh của nhân dân, quần chúng là vô cùng, làm gì cũng được. Nhưng chúng ta phải biết huy động nó, tổ chức nó, lãnh đạo nó để thực hiện những nhiệm vụ cách mạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác. Ai ở gần Hồ Chủ tịch cũng biết Hồ Chủ tịch rất chú trọng công tác này, và mỗi khi giao nhiệm vụ cho một cán bộ làm, Người căn dặn rất chu đáo, tỉ mỉ về công tác này. Cả kinh nghiệm của cuộc kháng chiến đã chứng tỏ điểm này rất đúng…

3. Phải luôn luôn sát nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nghe ngóng để hiểu biết nguyện vọng của quần chúng nhân dân, tìm tòi phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân, rồi căn cứ vào đó mà chủ trương cho đúng và kịp thời sửa chữa những chủ trương sai lầm.

4. Vì nhân dân, vì quần chúng mà hy sinh chiến đấu. Ba điều trên mật thiết liên quan với điều này. Có tin tưởng quần chúng nhân dân thì mới vì quần chúng nhân dân mà hy sinh chiến đấu để mưu lợi ích cho quần chúng nhân dân, thì mới nghe ngóng nguyện vọng, phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân vào như thế thì mới lãnh đạo được quần chúng nhân dân vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Trái lại, kẻ nào không tin tưởng quần chúng nhân dân, thiếu tinh thần phục vụ quần chúng nhân dân thì quần chúng nhân dân cũng không tin tưởng mình, còn nói gì lãnh đạo?

Nhân dân Việt Nam tin Hồ Chủ tịch, nghe Hồ Chủ tịch, theo Hồ Chủ tịch, là vì suốt đời Hồ Chủ tịch rất tin tưởng nhân dân Việt Nam, hy sinh chiến đấu vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Hiện nay và sau này, trên con đường cách mạng, Hồ Chủ tịch hy sinh chiến đấu đưa nhân dân tiến đến thắng lợi thì nhân dân lại càng tin tưởng. Đây cũng là trường hợp và kinh nghiệm riêng của mỗi một người chúng ta đối với quần chúng nhân dân.

Chúng ta lãnh đạo quần chúng nhân dân nhưng đồng thời cũng học tập quần chúng nhân dân, chúng ta là thầy dạy nhưng cũng là học trò của quần chúng nhân dân. Chúng ta muốn lãnh đạo thì phải học tập, muốn làm thày dạy thì phải làm học trò quần chúng nhân dân và chúng ta càng học được nhiều bao nhiêu thì càng lãnh đạo vững vàng sáng suốt bấy nhiêu.

*
*     *

Đó là nội dung quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch.

Mỗi một chủ trương, mỗi một lời tuyên bố với quốc dân của Hồ Chủ tịch biểu lộ quan điểm ấy rất rõ rệt, thế mà một số cán bộ chúng ta không nhìn thấy hoặc không làm theo.

Đáng để ý nhất là chỉ thị của Hồ Chủ tịch về việc chuẩn bị tổng phản công là việc rất gian khổ, vì quân thù càng thấy chúng yếu đi, ta mạnh lên thì lại càng nỗ lực, quyết liệt, hung ác liều mạng. Cho nên, chúng ta quyết không được kinh địch, chủ quan. Trái lại, cần đem lời căn dặn của Hồ Chủ tịch giải thích cho sâu rộng, đem kinh nghiệm của địa phương và tình hình toàn quốc mà chứng minh, để huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ hơn nữa, hy sinh chiến đấu mạnh mẽ, oanh liệt hơn nữa.

Quân thù đang cố gắng bội phần và phản động quốc tế cũng đang tiếp viện cho nó bội phần.

Chính phủ ra lệnh tổng động viên chính là để tăng cường gấp bội và gấp bội lực lượng chiến đấu của chúng ta về mọi mặt.

Muốn đối phó sự cố gắng của phe địch, và chuyển sang tổng phản công, chúng ta phải nhờ cậy vào đâu? Hiển nhiên là chúng ta nhờ cậy vào sức lực của nhân dân, của đông đảo quần chúng lao khổ: công, nông, tiểu tư sản thành thị. Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên. Đó là lệnh của chính quyền. Đó là pháp luật của Nhà nước. Nhưng cốt yếu căn bản là chúng ta phải có sự đồng tình, sự tham dự hăng hái của nhân dân…

Kịp thời sửa chữa khuyết điểm

 

Muốn làm được sự việc ấy, chúng ta cần sửa chữa kịp thời những khuyết điểm khá nặng sau đây:

1. Kém giải thích

 

Ở Hội đồng Chính phủ, mỗi khi có chủ trương một việc gì mà nhân dân phải làm thì Hồ Chủ tịch nhắc phải nhở dân vận. Dân vận trước hết và cốt yếu là giải thích, và đó là trách nhiệm của cán bộ các ngành, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của cán bộ tuyên truyền và dân vận.

Không giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu để nhân dân đồng tình và hăng hái tham dự, chỉ dùng mệnh lệnh mà gọi người đi làm đường, đưa giấy đến bắt buộc bán thóc thì làm sao nhân dân khỏi liên tưởng đến những chuyện như thế ngày xưa, thì làm sao tránh những lời nói, những cử chỉ đáng tiếc của nhân dân trong lúc nhà neo gạo kém, mà nguyên nhân là vì không hiểu. Làm như thế là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt. Và làm như thế lại không được việc. Trái lại nếu chúng ta biết giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu thì nhân dân sẽ vui lòng đi làm đường, vui lòng bán thóc cho Chính phủ, vì đó là để chuẩn bị tổng phản công. Tổng phản công đánh đuổi thằng giặc thực dân, người Việt Nam nào lại không thích, người Việt Nam nào sau mấy năm kháng chiến mà lại không sẵn sàng đóng góp tất cả khả năng sức lực của mình để chuẩn bị mau chóng đầy đủ, để mau “chuyển”.

2. Không biết cùng nhân dân bàn bạc

 

Dân chủ, nghĩa là cùng với nhân dân thương lượng bàn bạc, nhờ nhân dân giúp chúng ta làm kế hoạch thích hợp để thi hành.

Nếu cán bộ chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh cái tệ người ở hướng Đông phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Tây trong lúc người ở hướng ấy cũng phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Đông. Nếu chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh chi tệ nhà thừa thóc thì không ai động đến trong lúc nhà thiếu ăn cứ chạy thóc, bán cho Chính phủ.

Chính chỗ này là chỗ cần nhớ đến, hiểu đúng và biết đúng quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng. Trước khi làm việc gì bao giờ chúng ta cũng có kế hoạch, kế hoạch ấy chúng ta đã cố gắng căn cứ đúng sức lực của nhân dân. Nhưng chỉ đến lúc thi hành cùng với nhân dân bàn bạc thì mới thấy rõ kế hoạch ấy đúng chừng nào. Do đó, chúng ta sửa chữa, làm cho đầy đủ, cụ thể, chi tiết hơn.

Ỷ vào mệnh lệnh, chỉ biết căn cứ vào kế hoạch làm trong bàn giấy rồi nhắm mắt bắt nhân dân làm, không biết giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc, là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt, là trái với giáo huấn của Hồ Chủ tịch, là hại nước, hại dân, là phải phản đối, phải bài xích, phải đánh đổ. Có người nói Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên, đã giao kế hoạch làm đường, mua thóc cho địa phương thi hành thì địa phương phải thi hành. Đúng, địa phương phải thi hành, nhưng Chính phủ đã căn dặn, Đoàn thể đã căn dặn, Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc lần thứ ba đã căn dặn: phải giải thích, bàn bạc với nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của nhân dân, phát huy sức hy sinh chiến đấu của nhân dân để thi hành lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực, để thực hiện kế hoạch làm đường và thu thóc.

Muốn thi hành đầy đủ lệnh tổng động viên này, dân vận là cần thiết. Có thể nói hơn nữa: Không có dân vận thì không thể thi hành được.

Cho nên, người nào không biết dân vận – không giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc – mà không thi hành được lệnh tổng động viên hoặc nếu thi hành được mà nhờ cưỡng bức và làm nhân dân oán trách, thì người ấy có lỗi, thậm chí có tội.

Đáng lỗi, đáng tội nhất là những người vì quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình mà cưỡng bức nhân dân đóng góp quá sức trong lúc bản thân mình trốn tránh mọi sự đóng góp và dung túng bà con, bè bạn mình trốn tránh mọi sự đóng góp. Đặc biệt cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể trong nhân dân mà lại lợi dụng quyền bính, uy tín để làm những việc trái pháp luật kể trên thì chúng ta quyết không dung thứ.

Hồ Chủ tịch nói: Chí công vô tư. Công là của Chính phủ, của đoàn thể, công là của nhân dân. Bọn sâu mọt kể trên chỉ coi trọng quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình và bà con thân thuộc và vì đó mà làm sai lạc ý nghĩa tác dụng chủ trương của Chính phủ, của Đoàn thể, làm hại đến quyền lợi của cuộc kháng chiến thần thánh. Bọn sâu mọt này cũng vì chỉ biết quyền lợi cá nhân ích kỷ của mình mà đã phạm nhiều sự sai lầm trong việc thi hành giảm tô, trong việc mua thóc khao quân, nay trong lúc thi hành tổng động viên này, nếu chúng ta không kịp thời sửa chữa kẻ nào còn sửa chữa được, đồng thời thanh trừ và trừng phạt xứng đáng kẻ có tội, thì chúng sẽ làm hại công cuộc của chúng ta không ít.

Lại còn một số cán bộ khác mà nhân đây, cũng cần vạch mặt ra mà bảo cho họ biết: Các anh cũng là người làm trái hẳn giáo huấn của Hồ Chủ tịch. Đó là những người không cần kiệm liêm chính, những người xoay giấy tờ, sổ sách để có tiền ăn xài, tiệc tùng xa xỉ. Nhân dân đã thốt ra câu: Xôi thịt lối mới. Đúng. Trong lúc nhân dân vì thiên tai, vì địch phá, vì đóng góp cho bộ đội phải thắt cái bụng lại, ăn độn, ăn thiếu, thế mà có những cán bộ dám bỏ ra hàng vạn để chi tiêu vào những việc xa xỉ hoặc không ích lợi lắm. Trong số này, phần lớn là vô ý thức – cố nhiên vô ý thức vẫn có lỗi, còn một số thì đích đáng là kẻ gian, cần thanh trừ và trừng phạt.

Hồ Chủ tịch dạy chúng ta: Chí công vô tư, cần kiệm liêm chính và suốt đời hy sinh tất cả để phục vụ nhân dân, quần chúng. Đó cũng là một mặt của quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch. Tôi tưởng chúng ta nên chú trọng mặt này, vì nó có ảnh hưởng nhiều đến cả quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng nói rõ ở trên. Nếu cán bộ chúng ta, cán bộ quân, dân, chính mà không chí công vô tư, không cần kiệm liêm chính, nghĩa là tự tư tự lợi, tham ô nhũng lạm thì còn nói gì làm việc nước, việc dân, làm sao kêu gọi nhân dân, giải thích cho nhân dân, bàn bạc với nhân dân đóng góp tất cả khả năng nhân lực, vật lực, tài lực của mình để chuẩn bị tổng phản công. Hồ Chủ tịch thường nhắc chúng ta: cán bộ phải làm gương mẫu. Ý nghĩa câu ấy là như thế.

Chúng ta luôn luôn hô khẩu hiệu: Hồ Chủ tịch muôn năm, như thế chưa đủ, chúng ta còn phải học tập thấm nhuần cả tác phong của Hồ Chủ tịch, đặc biệt là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch…

Phạm Văn Đồng
(Bài viết nhân kỉ niệm lần thứ 60 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1950, sách “Phạm Văn Đồng: Hồ Chủ tịch, lãnh tụ của chúng ta”.)

Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn