Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Búp sen xanh – Chương I: Phần 2

THỜI THƠ ẤU

2.1

Ba cha con ông Sắc trở lại kinh đô Huế với những tên gọi mới : quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành.

Hôm vừa bước chân đến Huế, hai anh em Tất Đạt và Tất Thành theo cha đi viếng mộ mẹ và em Xin. Tất Thành cùng anh trồng lên mộ mẹ, mộ em hai cây đại.

Những ngày đầu vào Huế, chưa tìm được chỗ ở, quan Phó bảng Huy tạm gửi Tất Đạt đến ở nhờ nhà một người bạn, còn ông cùng với Tất Thành ở nhờ trong nhà ông Phạm Khắc Doãn, người xã Đức Trường, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm quan biên tu Quốc sử quán.

Sau gần bốn năm xa kinh đô Huế, nay trở lại, Nguyễn Tất Thành có nhiều ngỡ ngàng : Cầu Thành Thái (Tràng Tiền) hai đầu gục xuống dòng sông, nhịp giữa đã bị cơn bão Giáp Thìn (1904) cuốn đi. Người ở hai bên bờ sông Hương đang còn phải qua lại bằng đò ngang. Thành và anh trai đứng bên bờ Bắc ngẩn ngơ nhìn sang bờ Nam sông Hương : từng dãy, từng dãy nhà mới mọc lên nguy nga, thành một khu vực đồ sộ, được gọi là “khu nhà người Tây”. Cái khu nhà người Tây ở, tòa khâm sứ Trung Kỳ, tòa công sứ tỉnh Thừa Thiên… nổi bật lên vẻ kiêu ngạo, thách thức trước cảnh trí thơ mộng của Huế. Còn bên này sông Hương thì vẫn y nguyên một kinh thành cổ kính rêu phong…

Đi cùng với anh trai trên dọc đường thành, Nguyễn Tất Thành đang suy nghĩ về những tòa nhà hành chính của người Pháp đè lên cưng thành vua nhà Nguyễn thì lại gặp người hát dạo. Tiếng đàn, giọng ca lại gợi anh nhớ tới ông Xẩm ở quê nhà. Và, bên tai anh cứ văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ mười năm trước :

Nước Nam ta sao lại có Tây..

Trên dọc đường anh gặp người Tây nhiều gấp bao nhiêu lần so với trước…Có cả những tên Tây say vừa đi vừa gây sự với các cô bán hàng trên hè phố. Dòng sông Hương cũng đổi khác : Thuyền buôn tấp nập hơn, mà đò kỹ nữ (60) đón khách làng chơi đông cũng chẳng kém thuyền chài, thuyền buôn…

Tất Thành cảm thấy ở đất “thần kinh” này đang có một sự chuyển động âm ỉ ở bên trong, anh muốn nói ra cái điều mình đang nghĩ với anh Tất Đạt, nhưng lại sợ tính anh trầm lặng và không thích bàn bạc những việc thời thế.

Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận chức thừa biện Bộ Lễ. Tại đây, ông gặp lại quan Phó bảng Phan Chu Trinh, người bạn cùng thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Phan Chu Trinh đã đăng tờ biểu (đơn) xin cáo từ chức thừa biện Bộ Lễ. Ông đã công khai lên án bộ máy quan lại thối nát, cam tâm làm tay sai cho người khác. Ông diễn thuyết ngay trong trường Quốc tử giám và trước những thí sinh từ các miền trong nước mới về kinh đô Huế dự thi Hội khoa Giáp Thìn (1904). Ông kêu gọi những người tai mắt phải ngẩng cao đầu, đi tiên phong trong công cuộc xây dựng dân quyền, nâng cao dân trí, dân sinh… Tiếng nói của ông cùng với Lưu cầu huyết lệ tâm thư (lá thư viết bằng máu và nước mắt) của Phan Bội Châu đang gây chấn động cả kinh thành và lan rộng về các miền xa của đất nước. Nghe danh tiếng của hai nhà chí sĩ họ Phan, nhiều bậc danh nho, khoa bảng ở các nơi về Huế tiếp kiến. Từ Phan Thiết, đất cực Nam Trưng Bộ, ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội ra Huế gặp Phan Chu Trinh. Phan Bội Châu đã rời Huế vì ông không đồng quan điểm với Phan Chu Trinh. Quan nghè Trần Quý Cáp, quan nghè Huỳnh Thúc Kháng, quan đốc Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế… đều cùng quan điểm với quan Phó bảng Phan Chu Trinh. Cho nên quan đốc Cẩn, quan nghè Kế đã lập ra Triêu Dương Thư Quán ở Vinh. Ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (con trai đầu của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), hai nhà hằng tâm hằng sản tham gia tổ chức Hội Duy Tân, đã cùng các ông Nguyễn Quý Anh, Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng lập ra công ty Liên Thành thương quán và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.

Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy tham dự nhiều buổi bình văn. Ông đã để lại trong tâm trí giới sĩ phu yêu nước một câu nói nổi tiếng : Quan trường thị nô trung chi nô lệ hựu nô lệ (61). Ông Lê Văn Miến, một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc học, qua những buổi bình văn đã bắt gặp được tiếng nói tri âm ấy và đã kết bạn đồng tâm với quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy…

Từ ngày đầu đến ở nhờ, Tất Thành đã được vị quan biên tu Quốc sử quán họ Phạm chú ý.

“Lưỡng mục minh tinh” (62) Nhìn đôi con mắt của Tất Thành ông nhớ lại dịp Thành qua Hà Tĩnh chơi, nhiều người truyền đi những lời đồn về sự sáng dạ, sự tinh anh và khẩu khí như gấm hoa của anh, lúc ấy ông chưa tin lắm. Bây giờ nhìn kỹ đôi con mắt của Tất Thành, ông nói : Mắt là kho báu của con người ta. Cho nên, dân gian mới nói: “Giàu hai con mắt”.

– Nghĩa là được nhiều tiền nhiều của là do ở hai con mắt, hả cha? – Phạm Gia Cần, con trai ông Phạm Khắc Doãn, hỏi.

Ông Phạm Khắc Doãn nhìn con cười :

– Con trai cửa cha chỉ hiểu được cái nghĩa hẹp của câu tục ngữ luận về đôi mắt của con người. Cái chữ “giàu” của đôi con mắt nghĩa của nó rộng lắm con ạ. Càng giải thích, nghĩa của nó càng lớn ra. Tùy ở mức hiểu biết của mỗi người đến đâu thì sẽ nhận ra được ý nghĩa của nó tới đó. Với lứa tuổi của con, chưa từng trải việc đời, cha chỉ có thể nói cho con hay cái nghĩa chữ “giàu” của đôi con mắt là giàu về tài năng, giàu về vốn hiểu biết ở đời, giàu về đức độ. Và – ông nhấn giọng – người thiện nhiều hay ác nhiều cũng đều lộ ra ở hai con mắt…

Nghe cha giảng giải, cậu ấm Cần bắt đầu quan sát kỹ cậu ấm Thành… Rồi qua những ngày chung sống trong nhà, Cần càng nhận ra dần dần ở Thành giàu những đức tính tốt đẹp và sự thông minh sáng láng khác thường.

Bữa cơm “khách” đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên miệng chén trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa. Cần cảm động, ngăn lại :

– Thành đừng mó tay vô công việc ni. Đến bàn uống nước, để mình làm cho.

– Việc ni để em làm phải hơn. Ngoài hai ông bố ra chỉ có anh và em thôi. Em ít tuổi hơn anh, em nhận việc rửa bát, anh làm việc khác.

Quan biện tu Quốc sử quán Phạm Khắc Doãn nhìn cậu ấm Thành dọn bát đũa, gật đầu, nói :

– Cần hãy xem, em Thành nó sắp bát ý tứ chưa kìa? Cách sắp xếp ấy thì dù có chồng cao lên mấy cũng khó đổ. Lần trước con đánh vỡ cả chồng bát cũng chỉ vì xếp trên to dưới nhỏ…

Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đã đi chợ đong gạo, mua thức ăn. Thành biết rành từng loại gạo cơm ở chợ Đông Ba như gạo lốc dâu, gạo chăm, gạo ré, gạo hẻo… Anh nói với Cần :

– Những thứ gạo này vừa dẻo, vừa thơm và ngọt mà lại hợp túi tiền của anh em mình. Ở Huế có rất nhiều thức ăn tươi ngon. Chịu mất công một tí và chịu để ý học cách làm món ăn của các bà, các chị thì sẽ được ăn ngon miệng mà lại không tốn tiền lắm. Đặc biệt có món cá bống kho khô, rắc tiêu, ăn với canh rau tập tàng ngon tuyệt, anh ạ.

Phạm Gia Cần ngạc nhiên, hỏi :

– Thành vừa vô tới đây sao đã thuộc đường, quen chợ và lại thạo mọi việc nội trợ hơn cả những cô gái con nhà tần tảo vậy?

– Mười năm trước đây, em đã từng ở với cha mẹ em trong thành nội, xung quanh khu vực hoàng thành và vùng ngoại vi Huế em quen thuộc cả. Còn việc thạo chợ búa, nấu nướng là do mệ em và chị Thanh của em bày vẽ cho. Có lúc em đã phải lo liệu mọi việc trong nhà vì cha đi vắng, mệ ốm nặng. Vả lại, biết làm việc gì là có ích cho mình, anh Cần ạ.

Phạm Gia Cần vẻ mặt trầm ngâm, nói thủ thỉ :

– Từ hôm Thành đến ở chung, cha mình luôn luôn tấm tắc : “Có con mắt; có bàn tay cậu ấm Thành, nên nhà sân, vườn đã phong quang ra, đồ đạc được gọn gàng ngăn nắp đâu vô đó…”. – Cần hạ giọng, chân thành : – Ở gần Thành, mình học hỏi được nhiều thứ, nhất là cách đọc sách.

Thành nói luôn :

– Cha em và thầy Vương Thúc Quý dạy em cách đó. – Hai mắt nhìn vào xa xăm, Thành hồi tưởng: – Còn nếp sống trong nhà là bà ngoại em rèn cặp cho từ lúc ba chị em còn nhỏ, quấn quýt bên chân bà.

2.2

Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận ốm. Chị nho Sắc và cô An thì phải bắt tay ngay vào công việc : ngày đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém vào việc ma chay tuy được những học trò, bạn hữu phúng điếu nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công dệt vải để trang trải. Phần thì kỳ thi Hương cũng không còn xa nữa, cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi này.

Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay…

Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ đốt vàng mã cho ông đồ nhân tết “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy. Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc thì ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi quay sợi với phường vải bên nhà chị nho Sắc.

Mấy người khách cứ tấm tắc khen :
– Bác có được người con rể như anh nho Sắc thật là quý hóa.

Bà đồ đã từ lâu được ấm lòng về điều ấy. Cho nên bà nhắc lại chuyện cũ với một giọng hối hận :
– Vợ chồng nhà nho đã có ba mặt con. Ấy vậy mà cái bụng của tôi vẫn chưa hết áy náy về cái tích tôi không muốn gả con Loan cho nho Sắc.

Bà mời khách ăn trầu. Bé Thanh và bé Côn tranh nhau được giã trầu giúp bà. Bé Khiêm thì ngồi lì xì, nghịch trò xếp những thứ trong cơi trầu thành ô, thành hình khối… Bà đồ vẫn cái giọng đều đều:

-Ngay lúc ông nhà tôi đón nho Sắc về nhà này, quần áo lấm lem bùn đất, tóc đỏ hoe như râu ngô khô, mặt mũi đen nhẻm, chỉ có hai con mắt sáng tinh anh, cặp lông mày dài mượt lộ rõ một đứa trẻ có tướng mạo. Tôi thương nó như con đẻ từ bữa ấy kia. Hơn mười năm nho Sắc ăn học trong nhà ni, tôi không hề chê nổi một tí chi về đường ăn nết ở cả. Nhưng khi ông nhà tôi đưa ra cái việc gả con Loan cho nho Sắc là tôi không thuận bụng. Tôi đâu có tính chi cái chuyện “môn đăng hộ đối” mà sợ miệng thế gian cười chê rằng con gái nhà có danh có giá mà hư đốn để bố mẹ phải gán luôn cho đứa con nuôi đã ăn ở trong nhà. Được cái, ông nhà tôi đã quyết là làm… Ông đã xuống tận quê ngoại thưa chuyện ni với cha mẹ tôi. Ông còn mời cả họ Hoàng lại để ông thưa việc ông gả con gái đầu lòng cho nho Sắc…

Đối với ba chị em Thanh, Khiêm, Côn thì đây là lần đầu tiên được nghe bà ngoại nói kỹ về bố mẹ mình.

————–

Chú thích:

(14) Vương Thúc Quý.
(15) Phan Bội Châu.
(16) Chẳng.
(17) Khoảng 9 giờ sáng

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương I: Phần 1

THỜI THƠ ẤU

1.1

Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của dãy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đã ngập chìm vào mây đen đục. Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm. Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.

Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp sau roi chớp là tiếng trời gầm …

Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con bò đứng ngủ, mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép. Những con ruồi bò bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con bò quất mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới. Ông Xẩm ngước đôi mắt mù lòa về phía có tiếng sấm xa xa, hai cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới. Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi những người đang ngồi bên cạnh:

– Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đình (3) ở trên rừng lại kéo về nữa đó, bà con?

Qua nhiều giọng cười giòn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ý với câu nói đáp lại lời ông hỏi:

– Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn dông chứ có cơn mưa nào đâu! Còn cái công việc “bình Tây” của các quan Nghè, quan Cử thì … vận nước Nam mình hỏng mất rồi! Vua Hàm Nghi đã bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có còn chi nữa mà mong với đợi, hở ông?

Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ nãy vẫn ngồi im lặng nghe mọi người trò chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn tay lên cán, mắt chớp chớp, nói:

– Răng lại nhủ là “ có còn chi nữa mà mong với đợi” ? Nước có lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị gãy thì rồi sẽ có cây khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết người tài cao chí lớn mô.

Mọi người nhìn cụ già vẻ hợp lý. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:

– Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được ngửi hương sen.

– Ông ơi – một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương sen luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.

Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đã luộc chín nhũn như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:

– Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?

Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy người ngồi cạnh ông già mù nói to:

– Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.

Ông Xầm nở nụ cười trên cung môi héo hắt, nói:

– Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu lòng của anh chị nho Sắc, cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) thì … thì tôi mô có lạ lẫm chi! Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.

Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:

– Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.

– Cảm ơn lòng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ cháu đem nước ra đồng cho ai rứa?

– Dạ … cho mệ cháu ạ.

– Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, còn đi làm đồng xa được. Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông biết để ông hát mừng cháu nào?

– Cháu thích mệ cháu sinh em trai nữa ạ.

Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần mò lên dây đàn. Mọi người ngồi quanh gốc đa đã xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con bò vẫn lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt bay lên theo lời ca của ông Xẩm:

Trời có thấu chăng trời!
Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay
Vì chưng Tây thổ sang đây,
Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.
Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,
Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.
Bởi vì vua Tự Đức không biết đường lo,
Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …

Bé Thanh chưa hiểu thấu ý nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổi theo từng lời ca của ông Xẩm.

Trời ơi có thấu lúc này,
Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.
Một nước làm năm bảy nước ăn,
Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.
Các quan ta tức giận nhiều bề,
Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan
Để mà khôi phục nước Nam …

Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn não ruột, lời ca xé lòng của ông Xẩm thì một bà tựa tay trên lưng bò, chỉ tay về phía đầm sen, gọi:

– Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người ta đang dìu mệ cháu về nhà kia kìa!
Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa, tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang dìu mẹ mình. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần còn vọng theo những lòi ca của ông Xẩm:

“… Lập binh tiến đánh Tây thì cho tan … Để mà khôi phục nước Nam … kẻo dân tình cơ khổ gian nan nhiều bề …”

Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường, bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay phấp phới về phía sau …

Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ chốc chốc lại mắng yêu con gái:

– Tham công tiếc việc cho lắm … Đã biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …
Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc:

– An, con vô quạt than lên … Mau …

Bà lại giục bé Thanh:

– … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó. Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.

Bé Thanh bước qua dãy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà mình với sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rõ tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngoại đang giảng bài cho học trò:

“ … Các trò hãy lắng nghe giảng rồi hãy chép bài sau … Khổng Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phải lấy việc sửa mình làm gốc …”

Từ bên hè nhà chị nho Sắc, tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc ngừng giảng bài trong giây lát.

– Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặt mày sáng láng, khôi ngô lắm.

Bà đồ quát: “ Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi không!” Bà giục rối rít: “ Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà coi …”

Bà còn dặn chị nho Sắc: “ Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy: Sinh con dạ sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.

Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đã hòa âm trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng lá reo, tiếng đồng xa vọng về …

Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.

1.2

Làng Chùa nhòa trong khói sương lam. Đám học trò của cha con ông đồ đã lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngõ nhà chị nho đã treo một cành xương rồng gai (6).

Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, hình chữ nhật, đã được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như mọi nhà khác ở làng Chùa đều đã trở nên một cõi riêng biệt, kín bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập lòe xanh ảo của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.

Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.
Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông đồ uống một hơi cạn chén rượu :

– Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …

Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông. Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!

Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ …thính … tử …quy … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy học của mình từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của mình được ông đặt tên cho. Anh nói:

– Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.

– Tôi đang nghĩ.

Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp :

– “Sinh con quý tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công việc mình sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay thì ta đã dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nhìn các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.
Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:

– Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

– Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì … thằng bé sẽ có chí vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành công. Cho nên tự Tất Thành.

Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót dòng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành.

1.3

Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa thớt bóng người. Không một con cò, con vạc đi kiếm ăn trên đồng. Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều hâu sải cánh liệng tìm mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân Phan Đình Phùng.

Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên mình chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm, dải thắt lưng màu hoa lý, hoa hiên.

Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió Lào từ phía cửa thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật phờ trên cao. Dưới chân cột cờ , những người che ô đội nón, lác đác có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quãng đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối cắm vòng quanh khán đài rực rỡ.

Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đã quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một mảnh giấy điều hình đuôi én, chữ vàng: “ Quốc khánh đại Pháp”. Ông ta tiến đến, chìa tay:

– Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.

Anh nho Sắc chẳng ưa gì cái trò này của bọn thực dân Pháp và lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nhìn tận mắt cái việc chúng đang bày ra giữa quê hương mình. Anh vừa bước vào trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt mèo, tóc lông bò rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai vòng ngọc biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: “ Đại Pháp vạn tuế”. Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu gì nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người thông ngôn đứng tuổi nói với anh:

– Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp. Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.

Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch, nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng rạp mái bằng. Những người đứng vòng ngoài đều phải dương ô, đội nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dãy ghế đầu. Một tên Tây cao lớn mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa nhìn hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam Kỳ: “Cái xứ An Nam này đã chịu ân sâu nghĩa nặng của nước Đại Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đã bị người Bồ Đào Nha hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại mắt xứ An Nam! Hãy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là một duyên may hiếm có …”.

Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa, mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một đám người ăn xin còn ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc – đem phát tất cả cho đám người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đã an tọa thế ấy thì quân quan Phan Đình Phùng, quan Tôn Thất Thuyết dù cố sức mấy cũng khó lòng chuyển được vận nước đang suy!

Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa, anh nho Sắc đeo đuổi bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh đã cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm, nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.

Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho Sắc: Biết mất nước mà không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi, gánh gia đình của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con. Còn là cậu học trò, chưa có khoa cử gì. Đã nhiều đêm anh và bố vợ ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất hẳn cho Tây – lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời thì: Bé Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đã ký hòa ước giao cả nước ta cho người Tây – lang – sa cai trị ( tức năm 1884 ký hòa ước Pa – tơ – nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam). Sang năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đã cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị bên cạnh nhà vua nước Nam. Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị, Quảng Bình và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh Khiêm ra đời, năm Mậu Tý (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc! Ôi! Vua đã bị Tây – lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11). Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng, trước lúc bọn Tây – lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng còn dụ dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai vàng! Chúng nó thay vua thì cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác sang nước mình cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó gọi … Hình như là Bè hay Buôn bè (12), rồi gì gì ấy nữa kia. Năm nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai quản xứ mình. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra giữa lúc nước ta đã mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta đang đắm chìm vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả thân cứu sơn hà xã tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân Nam ta khác nào đàn gà con đã bị diều hâu cướp mất mẹ!…

Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ, người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc loạn, gia bần”. Vì mải nghĩ quên cả đường dài. Lúc về gần đến cây đa đầu làng anh mới nhận ra mình đã đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh tình của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng anh. Và trước mắt anh chập chờn hình ảnh khoa thi Hương (13) sắp đến.

Anh rẽ sang con đường mòn đi tắt về phía đầm sen để bà con ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.

Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm vì chưa thật rõ tiếng: “ Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen nì … Búp sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ …”

Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng bệnh. Chị nho Sắc đã gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới gốc thị, mớm cơm cho con.

————–

Chú thích:

(1) Trên dãy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.
(2) Tên chữ là làng Hoàng Trà
(3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đình Phùng, cụ Đỗ Đình Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đình.
(4) Chỉ thực dân Pháp.
(5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.
(6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu ngõ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị mặc vía dữ.
(7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn, trang 81
(8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo chìa khóa hòm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ý nghĩa trang điểm là chính.
(9) Chỉ thực dân Pháp.
(10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)
(11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.
(12) Pôn Be (Paul Bert)
(13) Khoa thi chọn cử nhân

Hoàng Nhật Minh

Bác Hồ với thế hệ trẻ

“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Bác Hồ dự lễ khai giảng Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/1/1955. Ảnh: TL

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều tình cảm và kỳ vọng lớn lao vào thế hệ trẻ của nước nhà. Trong thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường mùa Thu năm 1945, Người đã căn dặn các thế hệ học sinh như vậy.

Năm 1956, Đại hội Thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam diễn ra tại thủ đô Hà Nội đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Đại hội, Người đã căn dặn toàn thể thanh niên nước nhà: Đoàn kết phấn đấu, vui vẻ, mạnh dạn, tiến bộ là gì? Là để mà giúp sức vào xây dựng một nước Việt Nam Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Khi ấy, cô sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Đỗ Hồng Phấn là đại biểu tham dự đại hội. Trong ký ức của 50 năm về trước, Bác nói chuyện không dùng những từ ngữ hoa mỹ, mà bằng tấm lòng, bằng ước vọng và hoài bão của tuổi trẻ.

Bà Đỗ Hồng Phấn, Đại biểu tham dự Đại hội Thành lập Hội LHTN VN năm 1956 nhớ lại: “Ảnh hưởng của Bác Hồ với thanh niên hồi ấy rất là mạnh mẽ: Khơi dậy tinh thần dân tộc. Sau đấy, hình ảnh Bác Hồ cũng làm cho mình nuôi được hoài bão về việc dấn thân, tự lập tự cường và về ý thức cống hiến”.

Bà Nguyễn Thị Chiên, nữ Anh hùng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người được phong Anh hùng ở tuổi 22, nay vẫn còn giữ được bức ảnh lưu lại khoảnh khắc bà cùng các đại biểu tham dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất được gặp và nói chuyện với Bác Hồ.

Thời gian có thể làm bạc đi mái tóc, chậm đi những bước chân, nhưng có lẽ, khó mà ngăn nổi dòng kí ức ở người nữ Anh hùng đã ngoại bát tuần.

Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Chiên: “Tôi thấy thấm thía nhất là Bác khuyên thanh niên, Bác bảo: Thanh niên phải học tập, học văn hóa, học chính trị. Có hiểu biết thì mình mới làm được. Ví dụ Bác bảo tôi: Cháu Chiên, cháu ở hậu địch không được học hành, bây giờ cháu ra đây, phải tranh thủ học văn hóa. Có như thế mới phục vụ được Đảng, phục vụ được nhân dân. Lời Bác thấm thía lắm”.

Năm 1947, nhận tin được con trai Bác sĩ Vũ Đình Tụng hi sinh, Bác Hồ đã viết thư cho bác sĩ Tụng: Tôi được biết rằng, con trai bác sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Bác sĩ biết đấy, tôi không có gia đình và không có con. Nhưng gia đình của tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam. Mỗi khi một thanh niên hy sinh, thì tôi thấy mình mất đi một phần cơ thể”.

Trong cuộc đời mình, Bác Hồ luôn quan tâm và dành nhiều tình cảm thương yêu với thế hệ trẻ. Trong một bức thư gửi thanh niên, Bác đã viết: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho tương lai đó”.

Tác giả : Việt Cường

vtv.vn

Khắc họa chân dung Bác Hồ và tướng Giáp trên cát

Sáng 22/8/2009, triển lãm tranh cát về chân dung Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp của nghệ nhân Ý Lan đã khai mạc tại Hà Nội.

Triển lãm được đặt tại số 8 Hùng Vương, trong khuôn viên Lăng với 30 bức chân dung Hồ Chủ tịch và 23 bức về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây là thành quả sau hơn ba tháng làm việc của nghệ nhân Ý Lan cùng 5 cộng sự.

Nghệ nhân Ý Lan giới thiệu về chất liệu làm nên những bức tranh cát độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Các bức tranh khá đa dạng, từ cảnh Bác làm việc đến cảnh Bác thăm bà con nông dân, thiếu nhi.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lâm, Chính ủy Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: “Triển lãm sẽ góp phần làm phong phú những hình thức nghệ thuật về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, khẳng định tình cảm sâu sắc của của nhân dân cũng như của tác giả đối với Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

Tới dự triển lãm có đại tá Nguyễn Huyên, trợ lý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Đây là lần đầu tiên một triển lãm tranh cát quy mô về Bác được tổ chức tại Hà Nội. Theo nghệ nhân Ý Lan, từ nay đến 2/9, bà và các cộng sự sẽ tiếp tục sáng tác, hoàn thiện thêm bộ sưu tập về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Triển lãm sẽ kéo dài đến hết ngày 6/9. Sau đó toàn bộ bức tranh cát chân dung Bác Hồ được nghệ nhân Ý Lan tặng lại cho Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bức tranh cát về Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ được tặng cho Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Nguyễn Hưng

vnexpress.net

72 tác phẩm đoạt giải cuộc vận động theo gương Hồ Chí Minh

Trong số tác giả đoạt giải, nhà văn lão thành Tô Hoài gây xúc động mạnh mẽ khi nhiệt tình tham gia với tập bút ký “Lăng Bác Hồ”.

> Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí Minh/ Giới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bước sang tuổi 90 song nhà văn của “Dế mèn phiêu lưu ký” vẫn nhiệt tình tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tập bút ký Lăng Bác Hồ của ông là một trong số 72 tác phẩm có chất lượng tiêu biểu được ban tổ chức trao giải trong lễ sơ kết tối 14/5.

Nhà văn Tô Hoài nhận bằng khen và lời chúc mừng của nhiều văn, nghệ sĩ tối 14/5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Cũng trong lễ sơ kết cho năm 2009, nhiều tác giả trẻ được trao giải như nhóm kiến trúc sư ĐH Kiến trúc Hà Nội với đồ án “Nhà nổi”, họa sĩ người dân tộc Chăm Chế Thị Kim Trung (Ninh Thuận) với tác phẩm tranh sơn dầu Làng Chăm ơn Bác…

Ngoài ra, theo Ban chỉ đạo trung ương, 14 đơn vị báo chí, nghệ thuật có nhiều thành tích trong công tác tổ chức, triển khai cuộc vận động cũng được tặng thưởng.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Trương Tấn Sang Thường trực Bí thư cho rằng, cuộc vận động đã trở thành một đề tài lớn, quan trọng trên báo chí, văn hóa, văn nghệ, trên các phương tiện truyền thông khác.

“Những tác phẩm được sáng tạo, quảng bá bằng tài năng, tấm lòng của anh chị em văn nghệ sĩ, báo chí hai năm qua đã góp phần đưa cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội”, ông Trương Tấn Sang nói.

Ông Trương Tấn Sang chia vui với các tác giải đoạt giải. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Theo ông Phùng Hữu Phú, Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương, so với năm 2008, số lượng tác phẩm hưởng ứng cuộc vận động tăng đáng kể. Trong đó, Ủy ban toàn quốc các Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN có hơn 600 tác phẩm; 10 Hội chuyên ngành trung ương có hơn 300 tác phẩm. Riêng hội Nhà báo VN có tới hàng nghìn tin, bài của hội viên.

“Bác Hồ luôn là một đề tài lớn, tươi mới, có sức rung động mãnh liệt, là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận đối với các văn nghệ sĩ, nhà báo”, ông Phú nói.

Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí Minh

Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” đã nhận được hơn 170 bài viết đề cập đến nhiều nội dung phong phú về tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

> Giới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh/ Biến tư gia thành bảo tàng Hồ Chí Minh

Khai mạc sáng 12/5 tại Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia (Hà Nội), Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay được tổ chức trong hai ngày. Trên 400 đại biểu tới dự, trong đó có hơn 50 đại biểu đến từ 22 quốc gia. Trong số này có những người đã gắn bó với Việt Nam hàng chục năm như học giả người Mỹ Lady Borton hay ông Raymond Aubrac, người bạn thân thiết của chủ tịch Hồ Chí Minh và người dân Việt Nam…

Phát biểu tại hội thảo, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện văn phòng UNESCO Hà Nội nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam. Qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”, đại diện UNESCO nói.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng vui mừng khi được gặp lại ông Raymond Aubrac, một người bạn lớn của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Theo bà Katherine Muller-Marin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, “giống như một biểu tượng giúp chúng ta có một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn”. Phát biểu của đại diện UNESCO nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của hàng trăm đại biểu tại Hội thảo.

Tái khẳng định tư tưởng và tầm vóc Hồ Chí Minh, Giáo sư Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng được biết đến rộng rãi trên thế giới, bằng chứng là nhiều nhiều nước Mỹ – Latinh đang có ý tưởng đi tìm mô hình về “chủ nghĩa xã hội cho thế kỷ 21”, phù hợp với đặc thù của Mỹ – Latinh.

“Sau nhiều công trình tưởng niệm đã có về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nicaragua, Venezuela… vừa qua, Argentina đã khởi công xây dựng công trình tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Buenos Aires – thêm một biểu hiện mới về ảnh hưởng và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh đang lan tỏa tại khu vực Mỹ – Latinh”, Giáo sư Nghĩa nói.

Trò chuyện với đại biểu 5 châu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ôn lại tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Theo Chủ tịch Quốc hội, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Hội thảo đã nhận được hơn 170 bài viết của các tác giả Việt Nam và quốc tế đề cập đến nhiều nội dung phong phú về tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các bài viết tập trung vào 3 chủ đề lớn: Di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc; Văn hóa, đạo đức và nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh.

Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Giới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bên cạnh sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con người”, “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” là DVD “Hành trình theo chân Bác” dài 89 tập… giúp tái hiện chân thực và sinh động về quá trình hoạt động cách mạng của Người.

Sáng 11/5 NXB Chính trị Quốc gia phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh giới thiệu 14 trong số 45 ấn phẩm mới xuất bản về Bác, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người.

Bằng lối viết sắc sảo, khúc chiết, GS Trần Văn Giàu đã trình bày một cách hệ thống về cuộc đời huyền thoại của Bác, qua tác phẩm “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con người“. Cuốn “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” là kết quả công trình nghiên cứu khoa học công phu của GS Song Thành về cuộc đời “oanh liệt, đầy gian khổ, vô cùng cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ của Người”.

Với cách tiếp cận vấn đề khá mới, cuốn “Hồ Chí Minh ngày này năm xưa” do nhà sử học Dương Trung Quốc biên soạn đã tập trung phản ánh các sự kiện, công việc thường ngày của bác để mỗi ngày trong năm, chúng ta đều nhớ đến Người.

Ảnh: Tiến Dũng.Những tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh được ra mắt ngày 12/5. Ảnh: Tiến Dũng.

Đáng chú ý là DVD “Hành trình theo chân Bác” dài 89 tập do NXB Chính trị Quốc gia phối hợp với Đài truyền hình TP HCM thực hiện đã giúp tái hiện chân thực và sinh động về quá trình hoạt động cách mạng của Người từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước đến khi giữ cương vị là lãnh đạo đất nước.

TS Nguyễn Duy Hùng – Giám đốc, Tổng biên tập NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật cho hay, những tài liệu tham khảo này sẽ giúp bạn đọc nhận thức sâu sắc hơn về di sản tinh thần vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại.

Theo ông Hùng, cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập” (tái bản lần 3) gồm 15 tập, với nhiều tư liệu, bài viết chưa từng công bố sẽ được ra mắt vào dịp Đại hội Đảng lần thứ XI.

Tiến Dũng

vnexpress.net

Bác Hồ – Người khởi xướng Tết trồng cây

Từ năm 1959 đến đầu năm 1969, Bác Hồ đã viết 7 bài viết về Tết trồng cây. Chỉ cần con số vậy thôi, chúng ta đã biết Bác quan tâm đến việc trồng cây gây rừng đến mức nào: Tất cả những bài ấy khi thì Bác viết từ góc độ một bài báo, lời kêu gọi. Trong từng mỗi bài, Bác đưa ra những dẫn chứng, ích lợi của việc trồng cây: vừa có tính kinh tế, an ninh, quốc phòng, vừa mang tầm chiến lược lâu dài. Bài nào của Bác cũng có những dẫn chứng cụ thể, nên có tính thuyết phục cao. Chính vì vậy, tuy thời gian này nước nhà chưa thống nhất, nhưng trên miền Bắc mọi người từ già đến trẻ, mọi thành phần đều nhất nhất hưởng ứng. Những năm đầu của thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, Bác trực tiếp về trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây). Sau này đi thăm nơi nào đó Bác đều trồng cây lưu niệm, kể cả khi đi thăm hoặc công tác ở nước ngoài. Học tập Bác, sau khi Bác mất nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều trồng cây khi đến thăm hoặc chúc tết nơi nào đó.

Bài báo đầu tiên năm 1959 nhân Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán), Bác viết: “Chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Bác phân tích: “Đó là cuộc thi đua dài hạn, nhưng nhẹ nhàng, mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng có thể tham gia.”(1).

Quả nhiên, lời kêu gọi Tết trồng cây năm ấy của Bác đã được toàn dân từ già đến trẻ tham gia nhiệt liệt. Từ thực tế nghe báo cáo kết quả của năm trước, năm sau-1960 Bác có bài:”Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”, Bác nhắc nhở: “Phải nắm đúng nguyên tắc xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây”(2).

Khi đã phát, thì Bác theo dõi diết phong trào này, không chỉ có nghe báo cáo, Bác còn xuống tận cơ sở, thấy bộc lộ một số thiếu sót như thiếu hướng dẫn, việc trông nom cây đã trồng còn lỏng lẻo, còn nhiều cây trồng hỏng, bị héo chết. Thấy vậy, Bác viết tiếp bài: “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây”. Bác nhắc nhở một cách cụ thể, chi tiết hơn: “Chúng ta phải rút kinh nghiệm của đợt một, phải sửa chữa những khuyết điểm, phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống phải làm đúng khẩu hiệu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”(3).

Mùa xuân năm 1963 vào dịp kỷ niệm lần thứ 33 Ngày thành lập Đảng Bác viết: “Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn”(4). Viết bằng văn xuôi chưa đủ tết năm 1964 Bác còn viết thơ – bằng thể lục bát để dễ thuộc, dễ vào dân hơn. Đầu đề bài, Bác viết bằng hai câu thơ: “Mùa xuân là tết trồng cây/Nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” (5).

Nội dung dưới bài, Bác biểu dương nhiều đơn vị, cá nhân trồng cây tốt. Tỉnh Hưng Yên , năm đó có cụ Vũ Văn Lân, 104 tuổi, thôn Khoá Nhu, xã Yên Hoà, huyện Văn Lâm là người đầu tiên được Bác thưởng huy hiệu người đã đạt thành tích xuất sắc về trồng cây và bảo vệ cây.

Năm 1965, Bác viết bài: “Năm mới nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”, mở đầu bài viết là hai câu thơ: ” Mùa xuân là tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Phần cuối của bài viết, Bác nhận xét tổng quát, đánh giá phong trào: “Nơi nào mà các cấp Đảng bộ từ tỉnh đến chi bộ trực tiếp lãnh đạo, có kế hoạch đầy đủ, có biện pháp rõ ràng, hạt giống, vườn ươm… có kiểm tra cẩn thận, khéo động viên quần chúng, khéo dựa vào lực lượng các cụ phụ lão và thanh niên, nhi đồng thì nơi đó phong trào Tết trồng cây phát triển tốt”(6).

Mùa xuân 1969, trước lúc mất, Bác lại có bài viết về Tết trồng cây. Trong bài này, Bác có ý tổng kết những kết quả của 8 năm tết trồng cây, Bác chỉ ra những ưu, khuyết điểm, đồng thời cũng biểu dương nhiều đơn vị, cá nhân xuất sắc trong phong trào trồng cây. Song Bác cũng không vui vì bên cạnh những gương tốt đó còn những địa phương trồng nhiều mà cây sống ít, diện tích đồi trọc còn nhiều. Nguyên nhân là do nghành lâm nghiệp chưa quan tâm đúng mức, nhưng chủ yếu là do cấp uỷ và uỷ ban hành chính địa phương chưa lãnh đạo tốt phong trào trồng cây”(7). Đó là bài báo cuối cùng của Bác về Tết trồng cây.

Thực hiện lời Bác, không chỉ lúc Bác còn sống mà từ khi Bác mất cho đến nay và mãi mãi về sau nhân dân ta cứ mỗi độ tết đến, xuân về nhà nhà trồng cây, người người trồng cây. Trong hàng chục cái tết trong năm như: Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu… nhân dân ta có Tết Nguyên đán còn có thêm Tết trồng cây. Học tập Bác, noi gương Bác, từ bấy đến nay không chỉ vào dịp tết mà trong các chuyến đi công tác các đồng chí lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước ta lại đi cơ sở hoặc đến thăm các di tích đều trồng cây lưu niệm và đấy cũng là góp một phần công ích của mình cho di tích đó thêm xanh, sạch, đẹp, bảo vệ môi trường, ngăn chặn lũ lụt. Và không chỉ có thế: “Những làng xa cây sẽ nối nên gần/Trái tim hồng con trẻ đến tìm ăn..”. (Tết trồng cây – thơ Chế Lan Viên). Mấy năm gần đây tình trạng phá rừng nhiều, cộng thêm với thiên nhiên khắc nghiệt, lũ lụt xảy ra nhiều ở miền Trung và miền Nam nước ta và trên thế giới gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, thì việc bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng làm theo lời Bác dạy, các bài báo Bác viết về trồng cây càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết: Trồng thêm cây, bảo vệ cây, gây thêm rừng, xây dựng mái nhà xanh khổng lồ, trong lành.

LÊ HỒNG THIỆN

Theo baohaiduong.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Biến tư gia thành bảo tàng Hồ Chí Minh

26 năm miệt mài sưu tầm tranh ảnh, bút tích của Bác, có lúc phải bán cả kỷ vật của người vợ đã khuất để in và photo tư liệu, ông đã có một bảo tàng Hồ Chí Minh ngay trong nhà mình.

Ngôi nhà 3 tầng giữa lòng xứ Thanh khá yên tĩnh. Bên trong, một cụ già dáng người nhỏ bé, đôi mắt sáng đang cặm cụi viết lách. Xung quanh ông, những tấm hình Bác Hồ, những tờ báo được ép plastic treo và xếp cẩn thận. Ông Nguyễn Đình Sơn, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hoá cho biết, thành công lớn nhất đời ông là sở hữu hàng nghìn tư liệu, hàng trăm bút tích của Bác Hồ.

Sinh năm 1930, ông Nguyễn Đình Sơn làm liên lạc đánh trận Cổ Lũng, huyện Bá Thước, khi mới 17 tuổi. Tháng 8/1953, ông tình nguyện đi thanh niên xung phong làm nhiệm vụ sửa đường, gỡ bom, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 12 năm ấy, ông được tuyển chọn về đội 36 phục vụ ATK (Việt Bắc, Tân Trào, Tuyên Quang). Hòa bình lập lại, ông được điều về Cục Cảnh vệ. Sau khi vợ qua đời, các con còn thơ dại, ông xin về Sở Công an Thanh Hóa công tác và đến năm 1982 thì nghỉ hưu.

Cụ ong80 tuổi, ông vẫn miệt mài ghi chép, lưu giữ các tư liệu về Bác. Ảnh:Hoàng Thùy.

Ông tâm sự, thời gian làm việc ở Cục cảnh vệ để lại nhiều ấn tượng nhất. Lúc ấy, ông trực tiếp bảo vệ Bác, một vài lần được tập võ cùng Bác khiến lòng kính yêu đối với vị lãnh tụ giản dị, đời thường ngày càng lớn. Ông tâm niệm khi nào có điều kiện sẽ sưu tầm tư liệu, bút tích, hình ảnh của Người.

Tháng 2/1983, sau những đề xuất của ông Sơn, Ban đề tài tư liệu lịch sử 2253NV Thanh Hoá được tổ chức và hoạt động nhằm sưu tầm, xác minh, bổ sung, tổng hợp những tư liệu Bác Hồ với nhân dân và lực lượng vũ trang Thanh Hoá. Ông Sơn được giao nhiệm vụ làm chủ nhiệm đề tài.

Hằng ngày ông đều đặn đọc sách báo tìm tư liệu về Bác. Cứ nghe ai đó có di vật, bút tích của Bác Hồ là ông leo lên chiếc xe cọc cạch tìm đến tận nơi xin về. Đồng lương hưu ít ỏi ông dùng làm lộ phí cho những chuyến đi, và in ấn tư liệu. Sợ mối mọt gặm nhấm, ông Sơn đã đem ép plastic toàn bộ tư liệu có được. Trong lúc cần tiền để thực hiện công việc, ông đã bán đi 2 chỉ vàng – kỷ vật của người vợ đã khuất để in 50 tập báo, mỗi tập dày 69 trang.

“Bà ấy sinh thời rất yêu quý Bác. Ở nơi chín suối, chắc chắn bà cũng rất vui khi kỷ vật của chúng tôi được dùng vào việc có ích”, ông Sơn chia sẻ.

Sau gần 30 năm miệt mài với công việc, ông Sơn và Ban đề tài tư liệu lịch sử 2253NV đã thu thập được hàng nghìn bài báo về Bác, hàng trăm bức ảnh, 60 bút tích, bài nói chuyện của Người. Ngoài ra, Ban còn được một Việt kiều Pháp tặng cho một số cuốn phim độc nhất vô nhị mang tên “Việt Nam – Bác Hồ”, “Việt Nam đất nước con người”, “Hồ Chí Minh chân dung một con người”. Hiện những bộ phim quý giá này đã được tặng cho Viện tư liệu phim Việt Nam.

Tư giaTư gia của ông toàn treo ảnh và những bài báo viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Hoàng Thùy.

Được con gái cho tiền dưỡng già, ông Sơn dùng toàn bộ số tiền ấy xây ngôi nhà mới và chuyển tư liệu về Bác từ nhà cũ lên. Ông nói: “Mình ở thế nào cũng được, chứ những tư liệu quý giá này mà bị ẩm mốc, mối mọt thì xót lắm”.

Ngôi nhà 3 tầng của ông thiết kế không có nhiều đặc biệt, nhưng cách trang trí lại khiến người ta đến một lần không thể quên. Ở tầng một, những bài báo, bút tích của Bác Hồ được ép plastic và treo liền nhau trên tường. Hình của Bác được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Ở góc phải căn phòng là một chiếc tủ đứng chứa đầy sách báo, tư liệu Bác Hồ mà suốt mấy chục năm qua ông đã sưu tập được.

Ở tầng hai của ngôi nhà, nguồn tư liệu cũng phong phú không kém. Căn phòng được chia làm các khu vực lưu giữ với nhiều nội dung. Ở góc phải nơi cửa ra vào là hình ảnh, tư liệu Hồ Chí Minh với phụ nữ Việt Nam, góc trái là với lực lượng công an nhân dân… Hai tủ sách cũng là những tư liệu quý giá về Bác và các vị lãnh tụ vĩ đại của nhân loại.

Đã từ lâu ngôi nhà của ông Sơn là điểm đến của học sinh mỗi khi cần những tư liệu về vị lãnh tụ, là nơi hội họp của những người lính cụ Hồ nhân ngày lễ lớn của dân tộc. Và đó còn là nơi những người yêu quý Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm về.

Vừa sưu tập tư liệu, ông Sơn vừa viết các cuốn sách “Trọn lòng với Bác kính yêu”, “Chung một tấm lòng với Bác”…Ông cũng vừa hoàn thành tập bản thảo “Hồi ký về cuộc đời”. “Ngoài bảo tàng tư liệu đã có, tôi còn muốn viết sách về Bác để những hình ảnh, những tư liệu liên quan đến vị cha già dân tộc có thể đến được với tất cả mọi người, được lưu giữ qua thời gian”, ông tâm sự.

Hoàng Thùy

vnexpress.net

Anh hùng quân đội và ký ức những lần gặp Hồ Chủ tịch

“Lúc Bác Hồ hỏi tôi đã nói được tiếng Kinh chưa, tôi đáp ‘Dạ, biết nhưng phát âm chưa “đủng dẩu” ạ’, mọi người trong phòng đều bật cười”, trung tá Hồ Vai kể về kỷ niệm vui trong lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch.

> 14 anh hùng quân đội hội ngộ ở thủ đô

Năm 1965, chàng trai 23 tuổi người Pakô Hồ Vai vinh dự cùng đoàn anh hùng miền Nam ra thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người dân tộc thiểu số duy nhất trong đoàn, Hồ Vai được Hồ Chủ tịch quan tâm, nói chuyện nhiều nhất.

Tuy nhiên, kỷ niệm khiến vị trung tá đã gần 70 tuổi không bao giờ quên là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến lại gần ông và hỏi chuyện bằng ánh mắt trìu mến: “Cháu đã biết nói tiếng Kinh chưa?”. Anh Hồ Vai đáp, giọng hơi run: “Dạ, biết nhưng còn chưa ‘đủng dẩu’ ạ”. Câu trả lời của chàng thanh niên Pakô có nước da ngăm đen khiến cả đoàn bật cười vui vẻ.

Với anh hùng Hồ Vai, ký ức những lần gặp Hồ Chủ tịch đều in đậm trong trí nhớ.

Cũng năm đó, Hồ Vai được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hai năm sau, người con của mảnh đất A Lưới (Thừa Thiên Huế) tiếp tục được ra Hà Nội.

“Năm 1967, lúc chiến sự ở miền Nam trở nên ác liệt, trước lúc trở về địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi riêng tôi ra, căn dặn: ‘Cháu là cán bộ chỉ huy, khi làm việc, tiếp xúc với nhân dân phải nhớ điều trái dù nhỏ nhất cùng phải tránh, điều phải thì dù khó khăn mấy cũng phải làm bằng được’. Lời dặn khiến tôi đến bây giờ vẫn nhớ như in từng chữ, từng từ”, trung tá Hồ Vai nhớ lại.

Hoạt động du kích từ lúc 19 tuổi, chàng trai Hồ Vai nhanh chóng trở thành chỉ huy bộ đội địa phương và dân quân du kích tại A Lưới trong khi bộ đội chủ lực đã rút khỏi đây để tránh đối đầu trực tiếp với quân chủ lực địch.

Với lối đánh du kích thông minh và vận động tốt bà con dân tộc thiểu số, Hồ Vai đã biến mảnh đất A Lưới trở thành nỗi khiếp sợ của quân địch. Hơn 30 năm sau chiến tranh, điều khiến ông đau đáu là lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đang bị thương, không thể ra Hà Nội chịu tang. “Người Pakô thương Bác Hồ lắm. Bác mất, nhiều người không ăn, không nói một lời suốt hai ngày liền”, vẫn chất giọng mộc mạc, ông Hồ Vai kể.

Tấm ảnh được trung tá Ngô Thị Tuyển gìn giữ như bảo vật.

Cùng đoàn ra Hà Nội với trung tá Hồ Vai dịp 22/12 còn có nhiều cái tên nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ như đại tá La Văn Cầu; trung tá Ngô Thị Tuyển vác trên vai 2 hòm đạn nặng gần 100 kg (trong khi chị chỉ nặng 42 kg), hay phi công Nguyễn Văn Bảy từng bắn hạ 7 máy bay Mỹ… Tất cả đều hơn một lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong đó, câu chuyện về người nữ dân quân nhỏ bé Ngô Thị Tuyển đã trở thành huyền thoại. Bà là người con xứ Thanh vinh dự được 2 lần gặp Hồ Chủ tịch. Giữ gìn tấm ảnh cũ chụp năm 1969 bên linh cữu Chủ tịch Hồ Chí Minh như bảo vật, nữ trung tá ngày nào giờ đã lên chức bà.

Năm 1967, cô dân quân 20 tuổi làng Nam Ngạn (thành phố Thanh Hóa) gặp Hồ Chủ tịch lần đầu và không bao giờ quên hình ảnh vị Chủ tịch nước vẫn chỉ mặc bộ kaki giản dị dù trời rét căm căm. Giữa cuộc gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: “Cháu nào biết hai chớ hai nên?”. Lúc đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngồi cạnh cô dân quân Tuyển và khuyến khích cô đứng dậy trả lời.

“Sau một thoáng hồi hộp, tôi nói to: ‘Thưa Bác, hai chớ là chớ chủ quan thỏa mãn, chớ xa rời quần chúng, hai nên là nên khiêm tốn học tập, nên gần gũi quần chúng”. Hồ Chủ tịch cười, hỏi mọi người rằng cháu nào làm được như Tuyển không thì mọi người đồng thanh: ‘Thưa Bác, cháu làm được ạ’. Không khí cuộc gặp ấm cúng lạ thường”, bà Tuyển nhớ lại.

Trung tá Nguyễn Thị Chiên là người đã tổ chức đội nữ du kích với tên gọi “Trung đội nữ du kích Nguyễn Thị Chiên”, trực tiếp huấn luyện cho chị em cách đánh du kích, gài mìn, ném lựu đạn, mưu trí tay không bắt địch và cũng là phụ nữ đầu tiên được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Người anh hùng đã vinh dự 6 lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh nhớ nhất lầu đầu tiên là tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc tại Việt Bắc tháng 5/1952. “Người mặc bộ quần áo nâu, đầu đội mũ lá cọ, chân đi đôi dép cao su… Biết Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị nhưng không ngờ lúc gặp lại thấy gần gũi đến thế”, nữ anh hùng Chiên nhớ lại.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trò chuyện với trung tá Ngô Thị Tuyển (trái) và đại tá La Văn Cầu (phải) trong dịp 14 anh hùng hội ngộ ở thủ đô.

Còn đại tá La Văn Cầu vẫn giữ những ký ức không thể nào quên lần được gặp Hồ Chủ tịch tại An toàn khu. Lần đó, ông cùng đồng đội vừa lập chiến công ở chiến dịch Biên giới, vết thương chưa lành. Ông được dùng cơm cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt. Hồ Chủ tịch giới thiệu: “Thực đơn hôm nay có thịt gà Bác nuôi, rau Bác trồng, nên mọi người đều phải ăn hết, tránh lãng phí”.

Ông kể: “Lúc chia tay, Bác đã ân cần căn dặn, trong thời gian dưỡng bệnh vẫn phải tranh thủ học để nâng cao kiến thức”. Sau lần gặp và nghe Hồ Chủ tịch dặn dò “Các cháu tuy tàn mà không phế”, tinh thần của mọi người như được tiếp thêm sức mạnh, phấn chấn và vững vàng hơn để tiếp tục chiến đấu…

Bài, ảnh: Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Di chúc Bác Hồ có giá trị thực tiễn sâu sắc

Hơn 30 tham luận tại Hội thảo “40 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đều nhấn mạnh giá trị về lý luận và thực tiễn trong bản Di chúc.

Ngày 25/8, tại Hà Nội, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư cùng đông đảo các nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử đã dự.

Trên 30 tham luận được gửi tới và trình bày tại hội thảo đã tập trung làm rõ tầm vóc lịch sử và giá trị to lớn về lý luận, thực tiễn trong Di chúc của Bác đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; đồng thời nêu bật những kết quả đã làm được, những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam qua chặng đường 40 năm thực hiện.

Các đại biểu đều nhất trí, cùng với thời gian, giá trị bản Di chúc càng được nhận thức rõ. Đó là sản phẩm kết tụ tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Di chúc thiêng liêng của Người trở thành nguồn động viên, cổ vũ hết sức to lớn, là sự chỉ dẫn quan trọng, để quân và dân ta giành những thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.

Theo GS.TS Phùng Hữu Phú, Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, thời gian càng lùi xa, suy ngẫm những lời dặn trước lúc đi xa của Bác Hồ, đối chiếu với những gì đã và đang diễn ra trong hiện thực đời sống đất nước, thế giới càng thấy tầm cao tư tưởng, tầm tổng kết, dự báo, định hướng thiên tài trong Di chúc của Bác.

PGS.TS Hoàng Trang, nguyên Phó viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng nhấn mạnh, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, bản Di chúc của Người được công bố đã gây xúc động lớn, niềm cảm phục sâu sắc trong toàn thể nhân dân Việt Nam và cả với các dân tộc, nhân dân thế giới.

(Theo TTXVN)

vnexpress.net

‘Khơi gợi tinh thần dân tộc là bài học bảo vệ đất nước’

“Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học cơ bản khơi gợi ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước”, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, nhà sử học hàng đầu Việt Nam trò chuyện với VnExpress.net dịp 2/9.

> ‘Di chúc của Bác Hồ là kết tinh những giá trị lịch sử’

– Trong Di chúc, Bác Hồ viết: “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ”. Dưới góc nhìn sử học, theo ông đâu là bí quyết bảo toàn lãnh thổ trong tư tưởng Hồ Chí Minh?

Toàn văn Di chúc của Hồ Chủ Tịch

– Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, nằm trên con đường thông thương Đông – Tây, Bắc – Nam nên trong lịch sử chịu nhiều nạn ngoại xâm từ phương Bắc, phương Tây. Về đối ngoại, Bác chủ trương tăng cường quan hệ giao lưu. Trong thời gian Người lãnh đạo đất nước, chúng ta đã tổ chức hội nghị Liên Á, Liên hiệp các nước… Đây là biện pháp để phân hóa lực lượng đối lập với mình.

Thời nhà Hồ, binh trăm vạn, nhưng không có lòng dân nên tan nhanh. Trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp, quân ta ít ỏi nhưng lại được người dân ủng hộ. Tôi cho rằng sự ủng hộ của người dân có vai trò quyết định trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Bác Hồ đã khơi gợi được tinh thần dân tộc yêu nước, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân.

Ông LâmGiáo sư Đinh Xuân Lâm, một trong tứ đại thụ của sử học Việt Nam. Ảnh: V.A.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều người chưa đủ điều kiện vẫn trốn gia đình để đi bộ đội, có những gia đình anh đi bộ đội rồi, em cũng theo cách mạng… Người ta thấy niềm vui và trách nhiệm được tham gia, góp sức vào cuộc kháng chiến, bảo vệ chủ quyền đất nước.

Bác từng nói, chủ nghĩa yêu nước là sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống và thời đại: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết hợp thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta”.

Nhận định của Hồ Chủ tịch đã tổng kết được toàn bộ lịch sử Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước.

– Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước gặp muôn vàn khó khăn khi phải đối mặt với Pháp, Nhật và quân Tưởng Giới Thạch. Việc khơi gợi tinh thần dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân đã được Bác thực hiện thế nào, thưa ông?

– Lúc chúng ta giành được chính quyền, ngân hàng hầu như rỗng không. Đồng thời, ta phải đối mặt với hàng loạt nguy cơ: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong tình hình đó phải hoàn toàn dựa vào dân, bao nhiêu chính sách đều vì dân, để dân ngày càng gắn bó với chính quyền mới này

Chính quyền cách mạng đầu tiên có nhiều trí thức nổi tiếng như: Tạ Quang Bửu, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Ngụy Như Kon Tum, Nghiêm Xuân Yêm… Họ thành cán bộ cốt cán của chính quyền cách mạng, toàn tâm toàn ý theo cách mạng.

Ảnh Bác Hồ“Hồ Chí Minh trước sau luôn có ý thức và đấu tranh cho toàn vẹn lãnh thổ” – Giáo sư Đinh Xuân Lâm nói.. Ảnh tư liệu

Những người này được Bác khẳng định là những người yêu nước. Lòng tin của Bác khi giao nhiệm vụ khiến họ toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Ở đây có yếu tố sức cảm hóa của con người Hồ Chí Minh, sức cảm hóa đối với cả những người bên kia chiến tuyến hay bất đồng quan điểm.

Sức cảm hóa ở Bác rất mạnh, không phải sự cảm hóa thông thường mà là vì lòng yêu nước chân chính. Nhờ điều này mà những trí thức chân chính bắt gặp nhau. Ví dụ như ông Huỳnh Thúc Kháng, một người tiêu biểu ở miền Trung, Bác muốn mời làm Phó chủ tịch nước. Nhưng trước khi ra Hà Nội, ông Kháng nói với người nhà chỉ ra để gặp Nguyễn Ái Quốc, sau đó sẽ về, không ở lại. Nhưng chỉ sau một đêm đàm đạo, cụ Huỳnh đã ở lại làm Phó chủ tịch nước, góp sức cho cách mạng…

– Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, Bác luôn khẳng định “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Ông đánh giá gì về ý thức toàn vẹn lãnh thổ trong tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh trước sau luôn có ý thức và đấu tranh cho toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh cho một nước Việt Nam thống nhất. Khi bác ký Hiệp ước 6/3/1946, có nhiều người phản đối. Thực ra, Bác đã cân nhắc đầy đủ, cho Pháp vào nhưng đẩy được quân Tưởng ra, mình chỉ còn tập trung đánh Pháp. Nếu để các lực lượng đó liên kết với nhau thì rất khó.

Nhìn lại cả quá trình chiến đấu của Người dễ thấy Bác lúc nào cũng vì mục tiêu cao cả là độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Chính vì vậy, Bác có thể bỏ qua những cái khác biệt, bỏ qua cho kẻ thù, thậm chí khi họ đã hối cải thì mình còn tiếp nhận. Giúp việc cho Bác nhiều người trước kia đứng bên kia chiến tuyến.

Khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, Pháp gây hấn ở Nam Bộ, Bác từng nói: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Trong Di chúc Bác cũng viết: “Tôi có ý định đến ngày đó (thắng lợi), tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Tinh thần dân tộc luôn luôn gắn bó với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Đối với Hồ Chí Minh, không bao giờ có chuyện xa rời quyền lợi dân tộc, cho nên Người luôn nói tới việc xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định hướng XHCN – tức là phải giải quyết mọi việc bình đẳng chứ không thể xâm phạm quyền lợi của nhau được.

– Trong thời đại ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người có giá trị thế nào trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước?

– Trong thời đại ngày nay, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người vẫn giữ nguyên giá trị. Trong đó, Bác chú trọng tinh thần đoàn kết, “Dân là nước, có thể nâng thuyền, lật thuyền” – đây là bài học cho người lãnh đạo. Chính sách đúng thì người ta theo, vì ai cũng có lòng yêu nước.

Ảnh: Netdepviet.orgCác em thiếu nhi bên Người. Ảnh tư liệu.

Tinh thần chủ đạo của Bác vẫn là hòa bình, hữu nghị nhưng luôn đề cao cảnh giác. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đất nước thì luôn luôn cảnh giác, chuẩn bị lực lượng vũ trang. Bác rất chú trọng việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, Bác cho đấy là trách nhiệm lớn của Đảng và cũng là tâm niệm của Người. Đảng phải làm sao bồi dưỡng thế hệ trẻ tiếp nối cha anh, nâng sự nghiệp cách mạng lên.

Thời kinh tế thị trường, con người dễ chạy theo nhiều mục tiêu phù phiếm, cá nhân khiến lòng tự hào dân tộc có phần phai nhạt. Đợt học tập Di chúc, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và làm theo lời Bác, một trong những yêu cầu lớn là để nung nấu lại, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, đề ra trách nhiệm lớn trước mắt cho thanh niên và các tầng lớp nhân dân.

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm là một trong trong 4 đại thụ của ngành sử học Việt Nam “Lâm, Lê, Tấn Vượng” (Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng). Ông là chuyên gia nghiên cứu lịch sử cận, hiện đại, Phó chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Các công trình khoa học gồm: Lịch sử Việt Nam đại cương (chủ biên), Lịch sử cận đại Việt Nam (viết chung với giáo sư Trần Văn Giàu)…

Việt Anh – Nguyễn Hưng

vnexpress.net