Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam

PGS.TS. Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

(TCTG)- Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 tại Pari từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987 đã thông qua Nghị quyết 24 C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nghị quyết có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

14-03-2010 09-1236-59 111copy.jpg

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(1).

Ở đây có mấy điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Trước hết, không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa cũng đều được công nhận là “nhà văn hóa”, mà chỉ được thừa nhận là “nhà văn hóa” nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hóa của thời đại, đưa những tri thức rộng rãi mình có ra phục vụ dân tộc mình và các dân tộc trên thế giới, đem lại cho họ những lợi ích thiết thực, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển phong phú đa dạng của nền văn hóa dân tộc, sự tiến bộ và văn minh nhân loại. Thứ hai, trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử các dân tộc trên thế giới, có nhiều danh nhân nhưng hiếm có trường hợp nào vừa là anh hùng giải phóng dân tộc vừa là nhà văn hóa(2). Trường hợp Hồ Chí Minh là một “hiện tượng hiếm thấy”, cùng một lúc đạt “hai lần danh nhân” như cách nói của bè bạn thế giới. Đó là một trong những viên ngọc hiếm, sáng lấp lánh trong bầu trời dân tộc và nhân loại của thời đại chúng ta. Thứ ba, cần nhận thức đúng đắn chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn luôn hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh. Nếu hiểu văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn; văn hóa là hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế và trong xã hội còn áp bức, bóc lột, bất công thì xử sự, xử thế có ý nghĩa nhất là làm cách mạng để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức, thì Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đúng theo nghĩa chân chính và trọn vẹn nhất của khái niệm đó. Thứ tư, chính vì vậy, một khía cạnh văn hóa ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng. Ngay từ đầu cuộc đời cách mạng, Người đã hiểu tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Người ý thức sâu sắc bước khởi đầu của cuộc tìm đường là phải trang bị một bản lĩnh văn hóa để có được sự soi sáng về nhận thức và lý luận. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến cuối đời, Người luôn luôn hăng hái chiến đấu trên mặt trận văn hóa, kết hợp chặt chẽ văn hóa với cách mạng theo tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Và chính vì vậy, sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ khẳng định: “Sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa”(3).

Nhận thức về văn hóa cách mạng, văn hóa hành động để thức tỉnh quần chúng, giúp cho con người năng lực tự giải phóng và sự giải phóng con người đã được các nhà văn hóa trên thế giới bàn đến từ sớm. Nhà văn hóa lớn Côlômbia là G.G. Macket (Gbriel Garcia Market), người được giải thưởng Nôben về văn học, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12-1985 đã phát biểu: “Bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi ở tất cả chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lai”(4). Ngay từ năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hóa thế kỷ XX (XX Century culture) do Alan Bullock và R.B Wodinger chủ biên (do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hóa thế kỷ XX. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó với lý do: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”(5).

Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh có sự kết hợp đẹp đẽ, hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người là sản phẩm vừa của lịch sử dân tộc, vừa của thời đại.

Là sản phẩm của lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh không những đã kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, giữ vững và phát triển liên tục dòng chảy của văn hóa dân tộc, mà còn kích thích cho nền văn hóa và cộng đồng các dân tộc Việt Nam phát triển, tạo ra một sức mạnh văn hóa mới, một khuôn mặt lịch sử mới trong thời kỳ giải giáp chủ nghĩa thực dân. Chính sức mạnh văn hóa đó đã làm nên những chiến công kỳ diệu trong khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống xâm lược và bước đầu xây dựng xã hội mới.

Là sản phẩm của thời đại, trên bước đường học tập và nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã được tôi luyện trong môi trường của văn hóa phương Tây với các dòng tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ mà cội nguồn là chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp- La Mã thời Phục Hưng, Thế kỷ Ánh sáng và đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn mácxít. Người luôn tiếp nhận có chọn lọc văn hóa phương Tây nói riêng, văn hóa nhân loại nói chung, kết hợp với truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương, dân tộc, để biến thành một vũ khí có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng chung số phận. Chính vì vậy, Bác Hồ đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, hiện thân cho một nền văn hóa hòa bình và thấm đượm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc. Người là điểm hội tụ của các giá trị về Chân – Thiện – Mỹ – Dân chủ – Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đúng như một nữ đại biểu đã phát biểu trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 tại Hà Nội: “Chúng tôi đến đây, có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Thiên chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”.

Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với nhân loại, phương Đông với phương Tây. Người đã tìm thấy cái “cốt” trong sắc thái văn hóa Đông và Tây. Trong văn hóa phương Đông, đó là tính hòa đồng, “cầu đồng tồn dị” (lấy điểm tương đồng chế ngự sự dị biệt); “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc); đề cao tính cộng đồng, tập thể; v.v.. Văn hóa phương Tây thường lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, nặng về cá nhân. Nhưng điểm đặc sắc nổi bật của Hồ Chí Minh là trên nền tảng phép biện chứng duy vật mácxít , Người đã tìm thấy mẫu số chung của các nền văn hóa, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ. Bằng chứng hùng hồn là những ngày trên đất nước có kẻ thù xâm lược, đáp từ trong buổi chiêu đãi của Thủ tướng Pháp là G. Biđôn ngày 2-7-1946, Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)(6). Đúng như nhà triết học Pháp Patxcan (Pascal) đã viết, “người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và lấp đầy khoảng giữa”.

Là nhà cách mạng đồng thời là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, mang chất lượng cách mạng hóa và hiện đại hóa nền văn học, nghệ thuật Việt Nam. Là tác giả của hơn 250 bài thơ, khoảng 2000 bài báo, nhiều truyện ngắn, văn chính luận, tiểu phẩm văn học, nhưng Người khước từ mọi danh hiệu văn hóa- văn nghệ mà mọi người gắn cho mình, chỉ nhận là nhà cách mạng chuyên nghiệp. Văn, thơ, báo chí của Người luôn luôn mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại. Từ khát vọng của dân tộc và mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt ra cho mình và cũng là những lời nhắc nhở ân cần đối với những người viết văn, làm báo những câu hỏi: “Viết cho ai?” “Viết để làm gì?” “Viết như thế nào?”. Câu trả lời của Người có điểm chung là viết cho quần chúng số đông, để giác ngộ và nâng cao dân trí, giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình. Với một vốn liếng ngoại ngữ phong phú, Người đã sử dụng ngòi bút làm một vũ khí sắc bén lên án chế độ thực dân đế quốc, tuyên truyền tổ chức quần chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Là nhà văn hóa kiệt xuất, suốt đời Người miệt mài đi gieo ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Với sự hiểu biết sâu sắc ý nghĩa của sự kết hợp văn hóa với cách mạng, ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Bác Hồ đã đích thân phát động toàn dân chống giặc dốt, đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm. Người coi dốt nát cũng là một loại giặc và chống giặc dốt cũng như chống giặc ngoại xâm. Nhận thức rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”; “dốt thì dại, dại thì hèn”, Hồ Chí Minh đề cập trước hết nhiệm vụ phải xóa nạn mù chữ, tất cả mọi người Việt Nam phải biết đọc biết viết, phải có kiến thức mới để giữ vững nền độc lập dân tộc và tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Học để làm việc, làm người, bảo vệ và xây dựng đất nước. Học phải đi đôi với hành. Người nói: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(7). Không chỉ như vậy, giáo dục còn có một sứ mệnh cao cả là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu ”(8).

Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Bác Hồ phát động phong trào xây đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc, nhằm đưa văn hóa đi sâu vào cuộc sống vào tâm lý của quốc dân, dùng văn hóa mới “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Theo Người, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên hưởng”. Cuộc vận động xây dựng đời sống mới theo tinh thần của Người từng bước đi vào đời sống nhân dân, dần dần hình thành những phong trào với những thuần phong mỹ tục mới như xây dựng gia đình văn hóa mới; “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; “tết trồng cây”; “rèn luyện thân thể”; “người tốt việc tốt”; v.v.. Phong trào văn hóa quần chúng do Người phát động thật sự tạo ra cái nền vững chắc để giữ vững chính quyền cách mạng thời kỳ trứng nước, nhằm đánh thắng kẻ thù xâm lược, xóa bỏ từng bước tình trạng lạc hậu nghèo nàn, xây dựng xã hội mới.

Là nhà văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh chăm lo việc “trồng người”, gieo mầm cách mạng, đào tạo những thế hệ con người mới. Quan điểm xuyên suốt của Người là con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng; “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Đào tạo con người mới, đặc biệt là thế hệ trẻ, là để nắm vững kiến thức vô tận của loài người; để có lý tưởng và đạo đức cách mạng, có khả năng làm chủ đất nước, đưa dân tộc nhịp bước cùng thời đại.

Văn hóa là hiểu biết xử sự, xử thế, hiểu biết làm người. Một khía cạnh của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là ứng xử văn hóa. Là nhà văn hóa, mỗi người có một vẻ độc đáo trong ứng xử và thể hiện lòng nhân ái, nhưng ứng xử văn hóa của Bác Hồ mang cốt cách, diện mạo, sắc thái Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét, Người “vừa dân tộc, vừa quốc tế. Vừa rất mực nhân từ, vừa triệt để cách mạng. Rất uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn. Rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể. Vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị. Vừa là chiến sĩ, vừa là nhà thơ. Trong phong ba bão tố Người vẫn ung dung tự tại, lạc quan nhìn về tương lai. Trong khó khăn gian nguy, Người vẫn thanh thản chủ động, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Ở Người là sự thống nhất giữa nước với dân, giữa dân tộc với giai cấp, giữa quốc gia với quốc tế. Ở Người, lòng yêu nhân dân, yêu nhân loại không bao giờ thay đổi. Người là một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại có một cách nhìn tinh tế, cho rằng “phong cách riêng của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la, sự hồn nhiên giản dị, khiến cho tâm hồn Hồ Chí Minh vượt qua không gian và thời gian, đến với con người dễ dàng và thấm thía lạ lùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người thương yêu, kính trọng, tin tưởng, biết đòi hỏi và nâng đỡ con người, đối với từng người và đối với đông đảo nhân dân lao động, quan tâm đến số phận của mọi người, dù ai đó hôm qua là kẻ thù, hoặc là người lầm đường lạc lối nay hối cải. Trái tim yêu thương Hồ Chí Minh dành cho đồng bào mình cũng dành cho cả loài người tiến bộ. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nhằm mục đích phát huy các khả năng vô tận của con người, tôn trọng quyền và phẩm giá con người, nâng cao con người lên đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức. Câu khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” là chân lý, là tiếng nói của lương tri phục hồi và phát triển những tư tưởng về nhân quyền và dân quyền đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1789”.

Năm nay, trong không khí hướng tới Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội, kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ôn lại sự nghiệp văn hóa cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, chúng ta lại nhớ tới nhận xét của nhà báo Liên Xô Oxíp Manđenxtam: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Quả đúng như vậy! Bác Hồ có một cuộc sống cần kiệm về vật chất nhưng rất giàu đẹp về văn hóa. Đó là cuộc sống vì tự do, hạnh phúc của con người. Người biết tìm hạnh phúc trong sự gắn bó với con người và thiên nhiên; trong cuộc đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc.

Di sản văn hóa của Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!./.

————————–

(1) Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(2) Lê Lợi (1385-1433) là anh hùng giải phóng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hóa. Lê Qúy Đôn (1726-1784) là nhà văn hóa, không phải là anh hùng giải phóng dân tộc.
(3) Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia- Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.21.
(4) Dẫn trong bài của Bộ trưởng Văn hóa Trần Văn Phác, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 4-1989.
(5) Dẫn theo Tạp chí Heral Tribune, số 8-10-1993.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.267, 8, 33

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh: Một thời đại và mãi mãi

(Tuần Việt Nam) – Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin.Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho chúng ta.

Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng

Bác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Đêm 16 tháng 5, chương trình truyền hình trực tiếp kỷ niệm 50 năm Đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Chiến tranh đã kết thúc 34 năm, nhưng những gì được tái hiện dù ít ỏi trong chương trình này vẫn làm tôi bàng hoàng về sự khốc liệt của cuộc chiến. Chiến tranh không phải là điều mà bất cứ dân tộc nào mong đợi. Nhưng chiến tranh đã minh chứng nhân cách, giấc mơ và lòng quả cảm của nhân loại cho hoà bình và lẽ phải của mình.

Và một lần nữa, tôi được nghe lại những bài hát viết dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, không một ngày đi trên con đường đầy bom đạn ấy, nhưng qua những bài hát, tôi đã nhận ra sự phi thường của một dân tộc. Những bài ca bay qua cái chết. Những bài ca hiển lộ tâm hồn và tinh thần của một dân tộc.

Quyền năng của một con người vì lợi ích dân tộc

Vì sao trong những năm tháng gian khổ nhất, đói rét nhất và máu chảy nhiều nhất của dân tộc, những đứa con của dân tộc ấy lại sẵn sàng hiến dâng tất cả sự sống của mình không một chút đắn đo hay sợ hãi? – tôi nhiều lần tự đặt câu hỏi.

Có lẽ, vì họ đã nhận ra lẽ sống chân chính của con người được sinh ra trên mặt đất này. Có lẽ, vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh. Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.

“Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh.

Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.”

Điều gì đã khiến cái tên Hồ Chí Minh trở nên thiêng liêng và mang một quyền năng đến vậy?Hồ Chí Minh – Người không phải là một vị Thánh, không phải là một nhà thuyết giáo siêu phàm, Người chỉ là một người yêu con người và yêu tổ quốc với toàn bộ sự sống của mình. Và dân tộc đã nhận ra đó là người con suốt đời hiến dâng cho lợi ích của dân tộc.

Ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, khi số phận và con đường của dân tộc Việt Nam vẫn chìm trong bóng tối, khi không ít người Việt Nam nhìn về tổ quốc với nỗi tuyệt vọng, thì Hồ Chí Minh, mọi nơi, mọi lúc chỉ biết đến dân tộc và đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình.

Ngay cả những lúc, những nơi chỉ một mình, xung quanh là những thế lực luôn luôn muốn dập tắt tiếng nói về độc lập, tự do của những dân tộc đang nô lệ, Người vẫn cất lên tiếng nói kiêu hãnh về dân tộc, tiếng nói của khát vọng tự do cho dân tộc ấy.

Bà con kiều bào ta ở Thái Lan về nước được vinh dự đến thǎm Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch

Bác Hồ tới thăm nhà máy diêm Thống Nhất.

Khoảng thời gian Người sống xa tổ quốc để tìm đường giải phóng dân tộc mình khỏi kiếp sống nô lệ đủ làm cho những người khác mệt mỏi và kiệt sức về chính giấc mơ họ từng mang theo: một dân tộc Việt Nam độc lập, tự do. Nhưng giấc mơ đó trong con người Hồ Chí Minh càng ngày càng lớn, càng toả sáng và không một phút giây dừng lại.Người đã đi đến tận cùng của giấc mơ đó bằng con đường của một chiến sỹ đấu tranh kiên định và bền bỉ cho tự do.

Quyền năng của con người biết đặt niềm tin vào dân

Trở về tổ quốc, trước mắt Người là những người dân Việt Nam nô lệ lầm than. Nhưng Người biết rằng: trong những con người nô lệ lầm than kia đang trú ngụ giấc mơ lớn lao và mãnh liệt về độc lập, tự do. Sứ mệnh của Người là đánh thức giấc mơ lớn của toàn bộ dân tộc từ bóng tối, từ đói nghèo, từ gông cùm và từ máu chảy.

Khi Người cất tiếng, những kiếp nô lệ đã đứng dậy đi theo người. Người đứng vào giữa những người nô lệ, không phải với danh nghĩa một lãnh tụ khởi nghĩa, mà với danh nghĩa của một con người cùng chung số phận nô lệ, chung giấc mơ lớn về tự do và là một người bạn lớn của những người cùng khổ.

Khi chính quyền cách mạng đầu tiên được thành lập, Người đã tập hợp tất cả những người con ưu tú nhất của dân tộc này làm một. Với Hồ Chí Minh, tất cả những người Việt Nam đều là những đứa con của một dân tộc bị áp bức.

“Người đặt niềm tin vào từng con người nhỏ bé. Khi ấy, những con người nhỏ bé và vô danh đó bỗng vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.”

Người bước đến trước một người nông dân với niềm tin mãnh liệt rằng người nông dân đó là một người yêu nước chân chính. Và người nông dân đó trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do của dân tộc.Người bước đến trước một cháu bé với niềm tin ấy và cháu bé trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do.

Khi Người đặt niềm tin vào những con người nhỏ bé và vô danh thì con người đó vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.

Đối với Hồ Chí Minh, dân tộc là trên hết. Dân tộc là tài sản của tất cả con người sinh ra trên mảnh đất của dân tộc đó kể cả những người đã có một thời lầm lạc. Chính vì vậy mà tất cả nhân dân Việt Nam đã đứng bên người trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Hai câu chuyện nhỏ

Có biết bao câu chuyện đã làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí Minh. Nhưng có hai câu chuyện làm tôi không thể nào quên được.

Lời hứa của lãnh đạo và nhân cách một dân tộc

Câu chuyện thứ nhất kể về lời hứa của Hồ Chí Minh trước một cô bé dân tộc ít người.

Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, một lần Người ghé qua một bản người Thái. Một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Người đã hứa với em bé đó.

Sau chín năm, kháng chiến thành công, không ai ở bản người Thái đó còn nhớ câu chuyện về cô bé xin chiếc vòng bạc và lời hứa của Người. Bởi chuyện đó là một chuyện quá nhỏ bé và không cần phải nhớ đối với một vị Chủ tịch nước. Nhưng Người đã quay lại bản người Thái đó.

Bác Hồ dặn dò về chăm lo nhà ở cho người dân.

Người trở lại để thực hiện lời hứa của một con người với một con người trong khi đất nước lúc đó còn ngàn vạn công việc và ngàn vạn thách thức. Đấy là danh dự của một con người. Đấy là tình yêu và sự tôn trọng nhân dân của một lãnh tụ cho dù nhân dân có lúc là những người đói khát, u buồn và tăm tối.

“Lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc.

Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.”

Nhân cách lớn của Hồ Chí Minh là ở đó. Sự linh thiêng của Hồ Chí Minh là ở đó. Bởi lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.Việc làm đó của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho cá nhân Người trở nên vĩ đại mà làm cho nhân cách của dân tộc này trở nên vĩ đại.

Sứ mệnh lớn lao nhất của một lãnh tụ không phải là làm cho dân tộc trong một năm hay hai năm tăng trưởng được bao nhiêu phần trăm mà là làm cho dân tộc ấy hiển lộ là một dân tộc có nhân cách lớn. Và chỉ khi có nhân cách lớn, con người mới thực sự cải biến được thế gian.

Một đêm thức trắng và quyết định tử hình

Câu chuyện thứ hai về Hồ Chí Minh là câu chuyện một đêm thức trắng của Người để quyết định tử hình hay không một cán bộ có chức quyền của quân đội đã phạm tội tham nhũng trong lúc toàn thể nhân dân Việt Nam đang chịu bao gian khổ và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cuối cùng, Người đã ký vào bản án tử hình kẻ phản bội nhân dân. Tội của vị quan chức kia đã rõ ràng. Luật pháp với tội danh ấy cũng đã rõ ràng. Nhưng Hồ Chí Minh đã thức trọn một đêm để đi đến quyết định cuối cùng.

Người thức trắng không phải vì suy nghĩ về sự thiệt, hơn của bản án đó. Đêm trắng ấy là một đêm mà chủ nghĩa nhân văn trong trái tim Người mất ngủ.

Trong cái đêm trắng tưởng dài bất tận ấy, một bên là gia đình và những người thân của vị cán bộ quyền chức phạm tội đợi quyết định cuối cùng của người lãnh tụ tối cao của dân tộc. Còn một bên là toàn dân tộc đợi quyết định này.

Quyết định của Hồ Chí Minh lúc đó sẽ gián tiếp khẳng định với dân tộc rằng: máu của dân tộc này đã và đang đổ xuống là cho lợi ích và sự trong sạch của dân tộc, không phải cho một số kẻ hưởng lợi từ máu của những con người chân chính. Cuối cùng, lợi ích dân tộc phải cao hơn tất cả mọi lợi ích cá nhân.

Ở Việt Bắc, Bác Hồ thường đến thăm các gia đình người dân tộc.

Bác Hồ tới thăm gia đình nông dân.

Từ cái đêm thức trắng lịch sử ấy, chúng ta chưa bao giờ được biết đến một đêm trắng nào nữa cho dù mức độ tham nhũng của một số cán bộ có quyền chức còn nguy hại hơn vị cán bộ quân đội năm xưa. Phải chăng luật pháp chúng ta đã thay đổi? Hay phải chăng nhân cách của dân tộc này có điều gì bất ổn?Việc một cán bộ có quyền chức tham nhũng nhưng không bị xử đúng tội hay là xử “giả vờ” không phải là làm chúng ta mất đi mấy trăm tỷ hay mấy nghìn tỉ mà sự thiếu nghiêm minh đó làm mất đi niềm tin của dân tộc.

Bởi dù không muốn thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng: chỉ là những cán bộ có quyền chức, những người đầy tớ của nhân dân như Hồ Chí Minh từng nói, mới là những người có điều kiện tham nhũng.

Và họ là người mang tính quyết định trong việc tạo dựng niềm tin cho dân tộc đặc biệt ở những thời kỳ khó khăn mà dân tộc phải đương đầu.

Đêm trắng ấy là bài học lớn trong khía cạnh chống tham nhũng của dân tộc ta, nhưng lớn hơn nó là bài học về chủ nghĩa yêu nước. Hồ Chí Minh đã thức trắng một đêm để rồi dân tộc của Người được thanh thản kể cả khi hiến dâng sự sống cá nhân cho lợi ích của dân tộc.

Nếu Người không thức trắng một đêm như thế thì dân tộc này có thể phải thức trắng ngàn đêm sau đó để mà cúi đầu suy ngẫm.

Khi niềm tin đang bị mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa, thì những câu chuyện về Bác cần được kể lại ngày ngày.

Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho dân tộc.

Hai câu chuyện nói trên phải được kể lại ngày ngày trong đời sống của chúng ta, nhất là khi niềm tin của người này người khác đang mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa. Hai câu chuyện đó chứa đựng bí quyết làm nên nhân cách lớn của một con người và cũng là của một dân tộc.Trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại một lần nữa làm nên nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này đã trở thành biểu tượng cho những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, biểu tượng của lẽ sống làm người, biểu tượng của giấc mơ về độc lập, tự do và sự dâng hiến không mệt mỏi cho giấc mơ ấy.

Và Hồ Chí Minh là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong thời đại ấy. Sự hiến dâng của Hồ Chí Minh cho dân tộc và nhân cách của Người mãi mãi là sự linh thiêng và quyền uy của cái Đẹp. Đó không chỉ là tài sản vô giá của một thời đại mà là của mãi mãi. Bởi ở đó chứa đựng ý nghĩa tối thượng của đời sống thế gian: Giấc mơ hoà bình và sự dâng hiến toàn vẹn cho giấc mơ ấy.

Hạnh Nguyên

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Kể chuyện Bác Hồ ở Hungary

(Tuần Việt Nam) – ” Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn…Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi” – một kỹ sư người Hungary đã viết như thế về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm của Bác tới Hungary, năm 1957.

Lời giới thiệu

Tháng 8/1957, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam – đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã có chuyến thăm hữu nghị CHND Hungary trong vòng 5 ngày. Đây là chuyến thăm Hungary đầu tiên của một vị nguyên thủ quốc gia Việt Nam và cũng phải chờ đến 47 năm sau, mới có một chuyến thăm kế tiếp (của Chủ tịch Trần Đức Lương).

Thời điểm 1957 rất quan trọng trong lịch sử hiện đại Hungary: 1 năm sau cuộc chính biến đau thương 1956, Đảng và Chính phủ Hungary thời ấy phải hết sức nỗ lực để hàn gắn những vết thương lòng, mở rộng dân chủ trong nội bộ đảng và trong xã hội, đồng thời, tiến hành công cuộc hòa giải dân tộc ở phạm vi rộng.

Trong bối cảnh ấy, chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ một đất nước vừa giành được hòa bình trong cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian nan, thử thách đã phải đối mặt với cảnh chia cắt, phân ly – đã để lại nhiều dư âm rất đẹp đẽ trong lòng giới lãnh đạo và người dân nước bạn, và đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị đa dạng, luôn phát triển, đã trở thành truyền thống giữa hai đất nước Việt Nam – Hungary.

Là một trong số những người Hungary có dịp tiếp xúc với Hồ Chủ tịch trong sự kiện lịch sử cách đây hơn nửa thế kỷ, tác giả hồi tưởng sau đây – TS Thủy lợi Kovács Lajos – khi ấy là một kỹ sư, một cây bút nghiệp dư của tờ “báo tường” tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn (Egyesült Izzó Gyár), một “thành trì” nổi tiếng, niềm tự hào của công nghiệp điện tử Hungary một thuở.

Kỷ niệm sâu đậm trong dịp gặp gỡ với Bác Hồ đã khiến ông rất có thiện cảm và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, ngay cả khi ông đã chuyển sang làm việc và định cư tại CHLB Đức.

Trích đoạn sau đây được rút trong hồi ký của ông (Chương 4: “Phóng viên truyền hình vụng về”). Các ghi chú là của người dịch.

Nô nức đón phái đoàn Việt Nam

Sau đó ít lâu, tôi có dịp được gặp gỡ Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ huyền thoại của cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam – ông là nhà ngoại giao nước ngoài đầu tiên sang thăm Hungary sau cuộc cách mạng. Chương trình để vị chủ tịch tới thăm một nhà máy lại liên quan đến Liên hợp Bóng đèn, chí ít là mọi người đã gợi ý cho ông như vậy, vì đây là một cơ sở có trật tự, sạch sẽ và Việt Nam thì có quan tâm tới các thiết bị điện tử. (…)

Tôi được nhận chương trình lễ tân gồm các nội dung: đoàn đại biểu Việt Nam muốn dừng chân tại đâu vài phút, phân xưởng nào sẽ là địa điểm chính của chuyến thăm, nơi Hồ Chí Minh sẽ bắt tay công nhân. Tiếc là bản “kế hoạch đi đường” này chỉ được trao vào tay tôi hai ngày trước chuyến thăm, do đó tôi không còn nhiều thời gian để chuẩn bị cho tỉ mỉ và cụ thể.

Tựa đề song ngữ trang trọng trên trang nhất của nhật báo “Tự do Nhân dân” (cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Hungary): Cư dân Budapest nồng hậu chào đón đồng chí Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu do dịch giả cung cấp)

 

Dầu sao đi nữa, tôi cũng tự làm cho mình một dàn ý để có thể quay cảnh Bác Hồ vẫy tay chào tại địa điểm này và cũng đến kịp chỗ khác, khi Bác đến nơi trong tiếng hô muôn năm của quần chúng. (…)

Khi ấy ngành truyền hình Hungary mới còn phôi thai, vì hàng ngày mới chỉ có một chương trình thời sự, vào 7h tối, mà cũng chỉ là phát thử nghiệm. Tuy nhiên, ngay từ dạo đó, những sự kiện ngoại giao như chuyến thăm của phái đoàn Việt Nam cũng đã được quay thành “chương trình đặc biệt”. Chuyến thăm tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn của đoàn Việt Nam được coi là đặc biệt quan trọng và phóng sự truyền hình được coi là có “giá trị chính trị” lớn… (…)

Tất cả các đường dây điện thoại của chúng tôi (có 6 đường) gần như ganh đua nhau trong quá trình chuyển các bài tường thuật liên tiếp. Khi ấy, Ban biên tập giống một “phiên chợ Ba Tư” thì đúng hơn, ai nấy đều nói cười, nhộn nhịp. Tiếc là trong thời gian đón đoàn, tôi không có thêm được một cánh tay, để có thể cùng một lúc làm nhiều việc. (…)

Vị chủ tịch và ấn tượng về nhà mẫu giáo Hungary

Hoàn cảnh lúc đó đã khiến tôi hoàn toàn như trong trạng thái lên đồng, nhưng đỉnh cao ngày hôm ấy đối với tôi, là cuộc gặp gỡ trực tiếp với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thay mặt tờ “Báo Bóng đèn”, tôi được đặt mấy câu hỏi cho ông.

Tôi chỉ hổ thẹn vì kiến thức Pháp ngữ có được từ những năm trung học thật chẳng ra làm sao so với thứ tiếng Pháp tuyệt hảo kiểu Sorbonne của Ông Cụ. Sau khi ậm ọe ra được mấy câu đầu, tôi cảm thấy như bị ai chặn họng. May cho tôi, Bác Hồ là người giản dị và cởi mở, ông trả lời tôi như thể chúng tôi đã là những bạn cũ, cho dù… ông là người đứng đầu nước Việt Nam kia mà!

Tôi hỏi: “Thưa đồng chí Hồ Chí Minh! Đồng chí có thích nhà máy của chúng tôi không? Điều gì khiến đồng chí có ấn tượng nhất trong chuyến thăm quan nhà máy?“

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1967).
Ảnh: Pálfai Gábor – phóng viên nhiếp ảnh, trưởng BBT ảnh và trưởng Ban Lưu trữ ảnh của Hãng Thông tấn Hungary MTI

 

Mỉm cười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp: “Anh bạn trẻ thân mến của tôi, tất cả những gì tôi đã thấy tại Nhà máy Liên hợp Bóng đèn đều rất thú vị, tôi cảm thấy dễ chịu tại đất nước của các bạn và tất nhiên, tại nhà máy của các bạn, nơi tôi được nhận tình thương mến của mọi người, vì cư dân đất nước này hạnh phúc. Và tôi tin rằng đây là sự thực, vì nhân dân Hungary đã trải qua những kinh hoàng của chiến tranh, chứ không như chúng tôi, Việt Nam.

Được tham quan các phân xưởng và trò chuyện với những công nhân không đói khát và không phải sợ hãi trước những trận bom, tất cả đều thuộc về một ấn tượng tuyệt vời sẽ theo tôi về quê hương Việt Nam sau chuyến thăm này.

Tuy nhiên, tôi thích nhất nhà mẫu giáo của cơ sở Tungstram. Tất cả các cháu nhỏ ở đấy đều cởi mở và hạnh phúc, và điều quan trọng hơn thế nữa, các cháu đều khỏe mạnh, cũng như chúng ta mong muốn rằng con cháu chúng ta và tất cả các cháu trên thế giới này đều phải được như vậy.

Có điều, tôi cảm thấy rằng, điều quan trọng nhất mà tôi được thấy và được cảm nhận trong chuyến đi ngắn ngày này, là tình thương yêu và đỡ đần các cháu nhỏ mà các bạn đã thể hiện, vì các cháu sẽ trở thành những công nhân, nhà khoa học và chính khách của ngày mai, nói cách khác, các cháu sẽ là nước Hungary của tương lai“.

Tôi đã tận dụng hết những khả năng ngắn ngủi của cuộc phỏng vấn. Các nhà tổ chức lễ tân đưa Ông Cụ đi tiếp vì đã đến giờ ăn trưa và chương trình thăm Budapest vào buổi chiều của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp diễn. Thành thử, không thể chậm một phút!

Những lời nói trên đây, và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong tâm khảm tôi, không bao giờ quên – hình ảnh con người vĩ đại này sống trong tôi như một biểu tượng vĩnh cửu của tình yêu nước.

Câu chuyện cổ trong buổi sinh hoạt đảng

Chiều hôm ấy, những kiến thức trước đây của tôi về phương Đông đã được mở rộng với một trải nghiệm đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người đứng tuổi ấy, sau những lời chào hỏi và ngợi ca thường lệ, đứng lên phát biểu. (…)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thuật lại một chuyện cổ Đông Nam Á. Đến nay, tôi vẫn nhớ rõ câu chuyện, đơn giản mà rất đáng phải học hỏi. Nhà giáo dục xuất chúng ấy không hề nhắc đến từ “cộng sản” lần nào, nhưng câu chuyện có ý nghĩa hơn nhiều so với những bài diễn văn rỗng tuếch.

Bác Hồ trong mắt người Hungary. Bức tranh này do chính tác giả Kovács Lajos vẽ. (Ảnh do dịch giả cung cấp)

 

Câu chuyện như sau: “Một bận, một người đàn ông xuất xứ từ một dòng họ danh giá muốn đi thuyền qua con sông lớn. Khi đã đến giữa dòng, anh ta lỡ tay để rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu ở mạn thuyền, nơi mà từ đó thanh gươm đã bị rơi. Sau khi đã xong xuôi, anh ta mới thả neo và nói: “Gươm ta rơi ở chỗ này đây! “.

Thế rồi, nhân vật của chúng lặn xuống tìm thanh gươm bị mất ở chỗ mà anh ta đã đánh dấu lên mạn thuyền. Anh ta cứ tìm, tìm mãi, nhưng không thấy, vô hiệu. Có gì lạ đâu, vì trong khi anh ta khắc dấu trên mạn thuyền thì sông vẫn chảy và vẫn cuốn con thuyền theo nó.

Ngày nay, nếu ai đó tìm thanh gươm bị mất theo cách ấy, chúng ta có thể cho rằng anh ta bị điên. Quả vậy, nhưng cũng là như thế, khi các lãnh đạo muốn trị nước bằng những luật lệ và phương pháp đã quá lỗi thời. Thời gian trôi đi cũng như những cơn sóng trên sông, nhưng “thanh gươm” – những luật lệ – thì còn nguyên tại chỗ.

Đúng thế, một ban lãnh đạo như vậy sẽ gặp phải lắm vấn đề và họ có làm gì đi nữa cũng vô hiệu, họ không thể tìm lại được “thanh gươm bị đánh mất“. (*)

Kết thúc bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhẹ nhàng gật đầu, ông bước khỏi bục diễn giả và mỉm cười ngồi lại về chỗ của mình.

Cử tọa Hungary không hiểu ngay câu chuyện này, họ chưa quen với cách diễn đạt mang tính tượng trưng (…) – vì vậy, chỉ sau một vài giây im lặng, những tràng pháo tay mới vang lên.

Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn. Tôi đã hiểu mối quan hệ giữa câu chuyện mang tính tượng trưng của ông và hoàn cảnh hiện tại. Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi.

Thông điệp bài phát biểu của ông đã ngấm trong tôi. Dân tộc Việt Nam phải có quyền được hưởng tự do và độc lập vì thời của những luật lệ đã lỗi thời – thời thuộc địa – đã đi vào quá khứ như thanh gươm bị thất lạc trong dòng nước, cho dù người ta có muốn dùng một quân đội như thế nào đi nữa để cưỡng bức họ.

(*) Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc đến một câu chuyện cổ trong sách “Lã Thị Xuân Thu” của Lã Bất Vi đời Tần, được thuật lại trong “Cổ học Tinh hoa” của hai tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân với tựa đề “Đánh dấu thuyền tìm gươm”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” một áng hùng văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, sáu mươi năm đã trôi qua. Cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã kết thúc được 30 năm. Đất nước ta đã sạch bóng quân xâm lược. Mục tiêu độc lập thống nhất đã giành được.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đang ra sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong không khí kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, chúng ta cảm nhận thấy hào khí của Lời kêu gọi cứu nước, đồng thời cũng thấy trong văn kiện lịch sử này những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.

“Hỡi đồng  bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.

Hãy nhớ lại tình hình lúc ấy: nước ta vừa giành được độc lập thì nạn ngoại xâm đã ập tới. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với Chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phôngtenblô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. Còn nước còn tát, Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp tạm ước 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tulông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đácgiăngliơ ở Vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam bộ. Tại Bắc Bộ, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 23-11-1946. Tại Hà Nội, những hành động khiêu khích của quân Pháp ngày càng trắng trợn. Dã tâm gây hấn của Pháp ở Thủ đô bộc lộ rõ rệt khi quân đội Pháp gửi tối hậu thư buộc ta phải hạ vũ khí.

Trước tình hình đó, ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Từ ngày 3 đến 19 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về làng Vạn Phúc (Hà Đông) sống trong nhà ông Nguyễn Văn Dương, tại đây ngày 19 tháng 12, trên căn gác xép, Người viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

20 giờ ngày 19 tháng 12, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 20 tháng 12 tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), đài  Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

Như vậy là mặc dù Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, đối  phương chủ trương gây chiến. Không còn con đường nào khác, Hồ Chí Minh phải dùng chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Hồ Chí Minh không chút ảo tưởng về lòng nhân từ của bọn xâm lược. “Độc lập tự do không thể cầu xin mà có được”. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Đó là quan điểm cơ bản mà Hồ Chí Minh luôn nắm vững trong Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đó cũng là quan điểm mấu chốt trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Khi đã buộc phải kháng chiến thì Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Tiếp theo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện thứ hai đề cập đến mục tiêu chính trị  của cuộc cách mạng và cuộc kháng chiến. Đó là Độc lập Tự do Hạnh phúc, là những khát vọng của một dân tộc đã bị mất nước, bị nô lệ 80 năm. Bởi vậy ta có thể hiểu vì sao toàn dân Việt Nam đã hưởng ứng Lời kêu gọi của Bác Hồ và các thế hệ người Việt Nam, từ đời cha đến đời con đã tự nguyện hy sinh chiến đấu đến cùng cho những mục tiêu ấy.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Trong Lời kêu gọi này, Hồ Chí Minh đã trình bày quan điểm “chiến tranh toàn dân” một cách vô cùng giản dị và hào hùng. Có thể nói nét độc đáo, đặc sắc nhất trong đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là ở hai chữ toàn dân.

Chỉ thị này được coi như một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự về khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân là lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp theo Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến  là văn kiện thứ hai mang tính cương lĩnh quân sự về kháng chiến toàn dan. “Toàn dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn dân tộc.

Hồ Chí Minh có một lời kêu gọi dành riêng cho bộ đội, tự vệ, dân quân:

“Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.

Hưởng ứng Lời kêu gọi này, quân và dân Hà Nội, mùa đông năm 1946 đã nêu cao tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” nay đã trở thành truyền thống của Thủ đô. Xây dựng bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, bồi dưỡng ý chí chiến đấu, xây dựng và phát huy nhân tố chính trị tinh thần của bộ đội, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở cho mọi mặt xây dựng quân đội là một quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

Lời tiên đoán này của Chủ tịch Hồ Chí Minh 9 năm sau đã trở thành sự thật với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ba mươi năm sau đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập thống nhất cho đất nước.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hịch cứu nước của Tổ quốc, là một áng hùng văn sáng chói những nét đặc sắc của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trung tướng Hồng Cư

ANHTHU

hanoimoi.com.vn

Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng

(TuanVietNam) – Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.

Ca khúc: Người là niềm tin tất thắng
Sáng tác: Chu Minh – Thể hiện: NSND Quang Thọ

Cho đến bây giờ, 40 năm kể từ ngày chủ tịch Hồ Chí Minh mất, nhưng chúng ta vẫn không cầm được nước mắt trong niềm thương nhớ và xúc động lớn lao khi xem lại những thước phim về tang lễ của Người.

Nhà thơ Tố Hữu viết :

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa

Nhà thơ đã nói thay những gì đã đang diễn ra trong đời sống của những người Việt Nam lúc đó. Năm ấy, tôi còn là một cậu học sinh cấp II trường làng. Trong ngôi đình cổ, nơi những người dân làng tôi làm lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đã khóc. Hình ảnh đau thương nhưng kỳ vĩ ấy không chỉ ở làng tôi mà ở muôn vàn những làng quê trên tổ quốc Việt Nam.

Nguồn: tagvn.com

Những ngày sau đó, khác với trước kia, tôi nhận ra nỗi buồn đau trên gương mặt của những người nông dân. Họ gặp nhau trên đường làng, trên cánh đồng nhưng chỉ chào nhau một câu rất nhỏ. Ngay sau ngày truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi bước vào lớp học thì tất cả cô giáo và học sinh đều bật khóc. Cô giáo tôi vừa khóc vừa nói với chúng tôi hãy kính thương Người bằng cách học cho tốt và sống cho tốt.

Bây giờ nhìn lại, tôi thấy rằng: lúc đó, chúng tôi, những đứa trẻ đã gắng học tốt hơn, không chơi bời, nghe lời thầy cô hơn, giúp đỡ cha mẹ hơn và thương yêu nhau hơn sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất. Chúng tôi hành động như vậy không với một tư tưởng nào vì lúc đó chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ham chơi mà thôi.

Nhưng trong đời sống những năm tháng đó, tất cả những tình cảm và sự thiêng liêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh mà những người lớn mang trong ngôn ngữ của họ, trong cảm xúc của họ và trong hành động của họ đã dựng lên trong tâm hồn thơ trẻ chúng tôi một hình ảnh của tình yêu thương và thiêng liêng.

Người mãi là nguồn cảm hứng lớn lao, là niềm tin tất thắng dạt dào…
Nguồn: hanoi.vnn.vn

Cho đến tận bây giờ, trong trái tim đang già đi và nhiều mệt mỏi của mình, tôi vẫn nghe thấy sự chân thực mãnh liệt của niềm thương kính lớn lao và lạ kỳ về cái ngày buồn thương ấy. Mà không chỉ trong trái tim cá nhân tôi, ắt hẳn là trong trái tim của biết bao người cùng thời nữa. Cảm xúc ấy, niềm thương kính ấy không phải đến từ sự sùng bái mà đến từ một hiện thực của đời sống như một sự huyền diệu.

Nhiều năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, tôi có đôi ba lần đi qua Quảng trường Ba Đình. Lần nào tôi cũng dừng lại. Một cảm xúc da diết và lớn lao dâng ngập trong lòng khi tôi nghe giai điệu của một bài hát phát ra từ những chiếc loa quanh khu vực Quảng trường.

Đất nước nghiêng mình
Đời đời nhớ ơn
Tên Người sống mãi với non sông Việt Nam
………
Thế giới nghiêng mình
Loài người tiếc thương
Đây người chiến sỹ đấu tranh cho tự do
……………
Hồ Chí Minh, Bác Hồ Chí Minh
Ôi trái tim Người nặng nghĩa bốn phương
Vì độc lập tự do đường lên phía trước rực màu cờ sao
Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu
Người là niềm tin tất thắng sáng ngời

(Người là niềm tin tất thắng – Nhạc và lời của Chu Minh )

Trong thế kỷ XX, qua con mắt của nhiều nhà báo phương Tây, tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tang lễ lớn nhất. Nhưng tang lễ đó không chứa đựng nỗi bi thương lớn nhất mà chứa đựng một tình yêu và một đức tin lớn lao kỳ lạ đối với một con người.

Bởi con người đó đã là một chiến sỹ vĩ đại đấu tranh không mệt mỏi cho quyền được sống làm người của một con người và của một dân tộc trên thế giới này. Con Người đó là biểu tượng vĩ đại cho nhiều dân tộc trên thế giới về khát vọng hòa bình lớn lao và sự dâng hiến tận cùng cho một đời sống hòa bình trên thế gian.

Một nhà báo Úc đã viết rằng khi ông chứng kiến những giọt nước mắt chân thành và ngập tràn kính thương trên gương mặt của những đứa trẻ chăn trâu đến những cụ già trong ngày của tháng 9 năm 1969 thì ngay lập tức ông nhận ra sức mạnh không gì khuất phục được của dân tộc Việt Nam.

Và vẫn luôn là Người – hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, gần gũi với triệu dân,
không lúc nào nguôi ưu tư về vận mệnh dân tộc.
Nguồn: danang.vn

Đến lúc đó, ông hoàn toàn tin tưởng những người Việt Nam sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử thế giới thế kỷ XX mà chính quyền Mỹ tiến hành chống lại dân tộc này – cuộc chiến tranh mà trước đó ông đã từng không tin người Việt Nam có thể đi qua được.

Trở về Úc, ông đã lên tiếng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nói về một đức tin kỳ lạ của dân tộc Việt Nam. Và ông kêu gọi mọi người trên thế giới hãy đứng về phía nhân dân Việt Nam. Với ông, đức tin của người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là đức tin với một vị lãnh tụ mà là đức tin với một giấc mơ đẹp đẽ, lớn lao và sự linh thiêng của đời sống loài người.

Cuộc sống của Người là một hiện thực của những điều vô cùng giản dị nhưng lại lớn lao vô cùng. Và không có gì khác ngoài hiện thực ấy mới tạo nên được niềm tin cho những con người cần lao. Niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gieo vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam ngày ấy không phải là một niềm tin trong những pho sách, không phải những niềm tin giáo điều. Đó là một niềm tin hiện hữu nhưng lớn lao vô tận trong mỗi lời nói, mỗi hành động của Người.

Niềm tin ấy được tạo dựng nên bằng chính cuộc sống từng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người bắt đầu đặt câu hỏi về độc lập, tự do của nhân dân mình trong tâm hồn rộng lớn nhưng đau đớn của Người, ngay giữa những năm tháng lầm than nhân dân Việt Nam sống đời nô lệ.

Minh Luận

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Bên mộ bà Hoàng Thị Loan, nghe chuyện về thân mẫu Bác Hồ

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà.

Như nhiều người từng biết, ngày 3/6/2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cùng với nhân dân Nghệ An và du khách thập phương về Nam Đàn, Nghệ An cắt băng khánh thành tu bổ khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân kỷ niệm 86 năm ngày Bác Hồ khai sinh nền báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2011), đoàn nhà báo chúng tôi có cuộc hành hương về Nam Đàn, Nghệ An viếng bà Hoàng Thị Loan, người mẹ Việt Nam tiêu biểu đã sinh thành Chủ tịch Hồ Chí Minh và được nghe nhiều người dân ở đây kể những câu chuyện xúc động về người mẹ vĩ đại này.

1. Mộ bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901) nằm trên núi Động Tranh, thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôm chúng tôi về núi dâng hương tưởng nhớ thân mẫu Bác Hồ, trời nắng gắt, nhưng có hàng ngàn người dân từ khắp nơi hành hương về đây một cách thành kính.

Từ đỉnh núi nơi cất mộ bà Hoàng Thị Loan nhìn ra về hướng Tây Nam, xa xa là dãy núi Thiên Nhẫn, kế bên là làng Kim Liên quê nội, làng Chùa quê ngoại của Bác Hồ với núi Chung còn in dấu tuổi ấu thơ của Bác… Xa hơn nữa là dòng sông Lam chảy như sợi chỉ trắng vắt ngang trời in vào đáy nước một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với những tên tuổi Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và thế hệ sau này là Trần Phú, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai… và nhiều tên tuổi nhà cách mạng tiền bối khác…

Từ chân núi Động Tranh đi theo lối lên là phần mộ bà Hoàng Thị Loan nằm ở bên trái, cùng phía này còn có mộ bà Hà Thị Hy, bà nội của Bác Hồ cũng mới được tu bổ. Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà. Phía trên mộ là giàn hoa cách điệu hình khung cửi. Hai cụm cây hoa giấy che mát phần mộ bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Khe trước phần mộ trồng nhiều cây quí từ nhiều miền đất nước

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan được giữ nguyên theo hình mẫu ban đầu, được ốp bên ngoài bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch liền khối. Phần trên mộ được xây dựng theo hình khung cửi cách điệu, gợi nhớ cuộc đời canh cửi vất vả để nuôi chồng, nuôi con thuở sinh thời. Phía sau phần mộ là bức phù điêu bằng đá trắng khắc họa hình những cánh sen thanh cao, tinh khiết của quê nhà và cũng là biểu tượng về cuộc đời, nhân cách của bà.

Đông đảo người dân hành hương về viếng bà Hoàng Thị Loan.

Bà Hoàng Thị Loan sinh thời đã hết lòng vì chồng con. Sau khi chồng bà là ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế đi thi, bà đã cùng chồng gồng gánh đi bộ với hai con trai vào kinh đô giúp ông học tập, nén lòng gửi con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh ở lại Nghệ An để giúp chăm sóc ông bà ngoại Hoàng Xuân Đường. Ở Huế, bà đã lao động dệt vải vất vả, vắt kiệt sức nuôi sống cả nhà. Sau khi sinh người con thứ tư là Nguyễn Sinh Nhuận, do sự vất vả khó nhọc trước đó, bà Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào năm 1901 trong khi chồng và người con Nguyễn Sinh Khiêm đang ở Thanh Hóa. Ở Huế lúc ấy chỉ có Nguyễn Tất Thành 11 tuổi đứng ra làm chủ tang cùng bà con chôn cất mẹ khi ngày Tết đang đến gần.

Năm 1922, hài cốt của bà được người con gái cả Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng tại vườn nhà ở Làng Sen, xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An). Cuối năm 1941, sau khi ra khỏi nhà tù của thực dân Pháp, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã đi khắp quê hương Nam Đàn tìm nơi có phong cảnh đẹp để cải táng hài cốt của mẹ và lựa chọn được một vị trí ở núi Động Tranh trong dãy Đại Huệ, thuộc làng Hữu Biệt (nay là xã Nam Giang), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vì nhiều lý do, ông Khiêm đã cho đào 9 huyệt mộ trên núi Động Tranh rồi đặt thi hài của mẹ mình ở đó một cách bí mật. Tháng 11-1946, sau khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, ông Nguyễn Sinh Khiêm mới chỉ cho bà con trong họ biết chính xác vị trí ngôi mộ bà Hoàng Thị Loan.

2.Theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong những lần được trực tiếp gặp bà Nguyễn Thị Thanh, Sơn Tùng được bà Thanh tâm sự về câu chuyện đích thân bà đã chuyển hài cốt mẹ mình từ Huế về Nam Đàn ra sao, bà kể:

“O ra khỏi nhà tù năm Nhâm Tuất (1922), nhưng phải quản thúc tại Kim Long, kinh đô Huế. Mẹ o, em trai của o là Nguyễn Sinh Nhuận nằm xuống đất Huế, o không được nhìn mặt mẹ lần cuối cùng, chưa nhìn được mặt em trai một lần. Thật là nước mất nhà tan….

Trước cảnh ngộ cha xiêu bạt nơi lục tỉnh Nam Kỳ một cách vô định lai hồi, em Tất Đạt đang tại tù, em Tất Thành bôn ba hải ngoại, chẳng biết ở chân trời góc biển nào! Quyết đưa di hài mẹ về cố quận. Nhưng để làm được việc hiếu này, trong cảnh ngặt nghèo này, khó lắm cháu ơi. Cũng may những năm phụ thân o thụ giám, mở trường dạy học tại kinh đô rồi làm quan ở Bộ Lễ, Người để lại một phương danh nơi quan trường, sỹ thứ thì o và cậu Tất Đạt, Tất Thành được thơm lây, được thừa hưởng “lộc cha phúc mẹ”. O bị quản thúc vô thời hạn: “nhật nhật tại dã, bất khả viễn phương”. Nhưng khi công môn, o xin về Nghệ thăm nhà, họ không hạch sách gì, còn được lời ân ưu: “cô Chiêu Thanh, trưởng nữ của quan Phó bảng Sắc. Cô về thăm quê ở bao lâu cũng được. Cố chịu phiền một chút, báo cho hương lý sở tại lúc về và lúc trở lại kinh đô Huế…”. Nhờ vậy, o lo liệu công việc di chuyển di hài mẹ về quê thuận lợi. Việc đưa di hài mẹ về quê, o chỉ bàn bạc với dì An, em ruột mẹ và một hai người bên nội biết. Năm ấy năm Nhâm Tuất (1922), mẹ Lụa (cụ Trần Thị Trâm), chú Cử Thống (Hồ Phi Thống) không còn bị tù ngục nữa. Một số nhà khoa bảng ở ngục Côn Lôn lần lượt trở về. O về Vinh gặp chú Cử Thống, chú mở cửa hiệu ở thành Vinh, bây giờ là danh sư Hồ Phi Huyền, dạy học, viết sách, chữa bệnh…

Đúng vào canh ba, đêm tháng mười năm Nhâm Tuất, chú Hồ Phi Huyền lên biểu bạch để o thực hành việc di hài cát táng từ kinh đô về Nam Đàn. Dì Hoàng Thị An lo liệu nơi cất giữ di hài cho đến khi tìm được cát địa. Mẹ Lụa dặn: Khi mở nấm mộ phải đứng tránh ngọn gió. Nước gỗ vang phải nhiều, đun sôi kỹ từ hôm trước để rửa cốt thật sạch, lau khô bằng giấy bản. Nước gỗ trầm hương, tẩm cốt rồi xếp vào vải điều, gói vuông vức lại, bọc ngoài một tấm vải đen, cất dưới đáy bị cói, trên xếp các loại thuốc viên. Hài cốt được tẩm nước gỗ trầm hương đưa đi xa, qua đò, qua tàu, xe hay gặp các loại súc vật khứu giác nhạy như chó cũng không thể bắt mùi. Về Huế, o nhờ gia đình người học trò của phụ thân o giúp việc “quán tẩy di hài” (rửa lau hài cốt)… Mọi việc làm trong âm thầm kín như bưng và trơn bọt lọt lạch…

Xong mọi việc hiếu nghĩa với mẫu thân mà o không thể nào bắt liên lạc được với phụ thân o để Người yên lòng và cậu Tất Đạt o cũng chưa gặp lại được. Mãi tới năm Canh Thìn (1940), cậu Tất Đạt mới được về quê. Cậu ở lại quê được ít lâu, cậu mời chú Hồ Phi Huyền cùng đi xem cát địa để cát táng mẫu thân của chị em o. Chú Hồ Phi Huyền, cậu Tất Đạt đi khắp từ Đông Nam sang Tây Nam dãy núi Đại Huệ, đi qua cả truông Hến, truông Băng, truông Bồn… Cậu giáo Tôn Quang Duyệt (em học giả Tôn Quang Phiệt) hàng ngày đi theo mang bầu rượu và nước trà cam thảo lão mai phục vụ hai “thầy địa lý”. Cuối cùng tìm được hai điểm Động Tranh và Đại Hài, về sau quyết định lấy một. Năm Tân Tỵ (1941), cậu Tất Đạt chọn Động Tranh làm nơi thiên thu an lạc tĩnh thổ cho mẫu thân… Mùa thu Ất Dậu (8/1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam mới ra đời, o ra Thủ đô thăm cậu Tất Thành lần thứ nhất, tại nhà cậu mợ Đặng Thai Mai, o có nói với cậu Tất Thành việc o chuyển di hài mẫu thân về quê, việc o vào Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc chịu tang phụ thân năm Kỷ Tỵ (1929)…

3. Cũng theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong một lần ông được bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa về thăm lại mộ bà Hoàng Thị Loan, bác Nguyễn Sinh Khiêm đã kể với Sơn Tùng về địa điểm cất mộ mẹ như sau:

“Ngày 22 tháng Chạp năm Mậu Tý (1949), bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi một cái rựa, chai rượu, thẻ hương bài rồi dặn “Cháu đi ra đường cái trước, ghé vào mua giúp bác năm quả cau, bốn lá trầu. À, cháu nhớ xin nhà hàng một ít vôi quệt lên giữa lá trầu không…”.

Tôi theo bác cả Khiêm đi bộ leo lên một quả núi, bác Khiêm nói:

– Nơi bác cháu mình đang đứng là Động Tranh. Cháu hình dung nơi đây là chốt của bộ nan quạt xòe rộng mà góc phải là núi Dăng Màn ở phía Tây, thượng nguồn sông Lam, góc trái là núi Song Ngư ở phía biển Đông, hạ lưu sông Lam, gọi là Cửa Hội. Ngoài khơi là đảo Mắt, tên chữ là Mục Sơn, con mắt núi nhìn thẳng vào Lam Hồng, đất “địa linh nhân kiệt”. Thời xa xưa người Tàu đã gọi đảo Mắt là núi “Bất nghĩa sơn” không chịu chầu về Bắc quốc của họ: “Chu Sơn giai củng Bắc, duy hữu Mục triều Nam”. Bắc triều đã cho thầy địa lý đến “yểm” đảo Mắt, “yểm” đất Lam Hồng để triệt phá nhân tài hào kiệt….

Bác cả Khiêm đi lên cao mấy bước đến một ngôi mộ ẩn dưới mấy khóm mua, sim và cỏ chỉ đan lưa thưa. Bác nói khe khẽ: “Phần mộ mẹ của bác. Cháu giúp bác phát đám cây cho quang đãng…”.

Bác cả Khiêm trải trước mộ mẹ tấm khăn bông quàng cổ chín màu mồ hôi, đặt rượu, trầu cau lên, thắp cả mười cây hương trầm cắm giữa đỉnh mộ. Bác quỳ xuống lạy khấn… Một linh cảm lạ thường! Tiếng rì rầm như nước nguồn tuôn chảy trên tầng cao Đại Huệ. Gió quấn quýt khói hương trầm ôm tròn ngôi mộ, hòa quyện mái tóc trắng bác cả Khiêm rung rung dưới làn mưa bay!…Bây giờ tôi mới biết ngày này là ngày kỵ Người Mẹ đã sinh ra những con người yêu nước Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm đều bị thực dân Pháp kết án mỗi người 9 năm tù khổ sai, đày đi biệt xứ và sinh ra Bác Hồ!

4. Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ thì cụ Đào Nhật Vinh (23 phố Nguyễn An Ninh, TP Hồ Chí Minh), từng là thủy thủ tàu buôn của Pháp từ 1913, từng gặp và trở nên thân thiết với Bác Hồ từ thời Người là Văn Ba thủy thủ, năm 1946, cụ đã gặp lại Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp. Sau này về nước, vào năm 1977, cụ Vinh tròn 80 tuổi ra thăm Lăng viếng Bác đã kể rằng:Ngày chủ nhật 30/1/1921, tôi từ Boocđô lên Pari tráng lệ, tới ngõ Công Poanh tù mù vàng vọt. Lên cầu thang, bước tới cửa phòng anh Nguyễn, mùi hương từ trong phòng thơm ngát. Nghe tiếng gõ cửa, anh Nguyễn hé từ từ cánh cửa phòng, thấy tôi: “Ồ! Chú Vinh! Vào đi em”.

Tôi bồi hồi nhìn vào cái bàn làm việc thường ngày đang là bàn thờ, hương nghi ngút, ngọn nến sáng lắt lay bên con gà ngậm bông hoa râm bụt ấp trên đĩa xôi… Anh Nguyễn giọng bùi ngùi: “Ngày giỗ mẹ anh. Hai mươi năm về trước cũng vào ngày chủ nhật 10-2-1901, là ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý mẹ anh qua đời”. Anh im lặng. Tôi bật khóc, níu cánh tay anh Nguyễn. Anh trầm lắng giọng: “Bấy giờ nhà ở trong ngõ Đông Ba, thành nội, kinh đô Huế, cha cùng anh cả đi công việc tận ngoài tỉnh Thanh chưa về…”. Anh siết chặt bàn tay tôi, nén xúc động không nói…Tôi đứng lên để ra phố sắm lễ vật vì không biết ngày này là ngày giỗ thân mẫu của anh. Anh giữ tay tôi lại: “Chú từ phương xa đến đúng lúc anh có giỗ mẹ, là tâm hương thành lễ, không nhất thiết phải có lễ vật!”. Tôi bái lễ thân mẫu Người…

Trong Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, những ai khi biết về câu chuyện ba chị em Bác Hồ sống đạo nghĩa với người mẹ Hoàng Thị Loan thế nào, hẳn đều thấy xúc động và thẳm sâu bài học hiếu nghĩa đầy tâm linh về đạo làm con của ba chị em Bác. Giờ thì bà mẹ Việt Nam Hoàng Thị Loan mãi mãi an giấc ngàn thu trên dải núi thiêng Động Tranh của quê nhà. Thay ba người con hiếu tử, hàng ngày có hàng ngàn người con đất Việt và bạn bè năm châu hành hương về đây thắp nén tâm hương trước mộ bà, để mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của một bà mẹ vĩ đại sinh cho đất nước những anh hùng hào kiệt

Hồng Thái

cand.com.vn

Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh

Phải thật lòng thương yêu đồng bào

TTCT – Khi mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói. Hũ gạo tình thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân thiếu đói.

Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.

Năm 1946, khi dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương tiêu biểu nhất.

Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ “Miếng khi đói bằng gói khi no”, sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN KHẮC LUÂN (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh)

tuoitre.vn

Hồi ức người thiết kế Lễ đài Độc lập

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (1920 – 2003), quê Hưng Yên, là người được giao trọng trách thiết kế và tham gia dựng lễ đài, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945 lịch sử.

Chúng tôi đã tìm gặp những người thân của cố kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh và được cung cấp bản viết tay kể về việc thiết kế, lắp đặt Lễ đài Độc lập ở Quảng trường Ba Đình do vị kiến trúc sư nổi tiếng này chắp bút. Đây là bài viết được ông Ngô Huy Quỳnh viết vào trưa ngày 28-8-1992 để trả lời các câu hỏi của một phóng viên Tạp chí Kiến trúc và đời sống. Được sự đồng ý của gia đình ông Ngô Huy Quỳnh, xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông.

“Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1945, ông Phạm Văn Khoa đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt Minh qua ông Mười Hương là ngày 2 tháng 9, Bác Hồ sẽ đọc Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Yêu cầu làm lễ đài giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên lễ đài có thể đứng được ba chục người. Việc làm lễ đài và viết khẩu hiệu bằng ba thứ tiếng Việt, Nga, Anh được giao cho các ông Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa hoạt động trong tổ chức Văn hóa Cứu quốc.

Thế là việc chọn và quyết định nơi đặt lễ đài, kiểu lễ đài vẽ xong để bắt đầu thi công vào 12 giờ trưa ngày 1 tháng 9 và 3 giờ sáng ngày 2 tháng 9 dựng xong lễ đài để còn thời giờ mắc loa và đặt mi-crô.

Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (ảnh chụp lại)

Nơi dựng lễ đài là bồn cỏ tròn ở giữa Quảng trường Ba Đình, trước các cổng cuốn và cuốn tròn tỳ trên hệ thống cột theo kiểu thức tô-scan Pháp. Công trình này màu vàng nhạt, vòng hai tay ôm lấy phía sau lễ đài màu đỏ cùng với khối cây cổ thụ màu xanh hầu như đóng vai trò “trẩm” theo cách nhìn phong thủy mà bà con không lạ lắm. Màu đỏ, vàng của lễ đài với hai bình hương hai bên, của cờ đỏ sao vàng trên cột cờ lễ đài và trước hàng ngũ đại biểu nhân dân nổi rực rỡ và sống động trước vòm cây nhiệt đới và màu lam vòm trời đất Thăng Long.

Phải đứng từ không gian xa xa của các đoàn thể nhân dân mới thấy được bố cục toàn cảnh này. Tôi đã tranh thủ đo lại kích thước cổng cuốn và hàng cột kiểu thức tô-scan này để xác định khuôn khổ thích hợp của lễ đài trong không gian rộng lớn xung quanh.

Trong khi đó, ông Khoa cũng để cả thời gian buổi sáng để đến bàn bạc với ông Quyến là thợ mộc ở phố Hàng Hành để chuẩn bị thi công theo các bản vẽ, đi mượn gỗ và mượn hai thứ vải màu vàng và đỏ. Đồng bào Hà Nội vui lòng cho mượn gỗ và vải; gỗ cần bao nhiêu cứ lấy, cần xẻ ra cứ làm, vải thì cố giữ cho đừng rách còn cần “pha” ra thì cũng tùy yêu cầu. Vật liệu có gỗ và đinh sắt được chở đến giữa bùng binh Ba Đình. Ông Quyến huy động 10 bạn thợ đến làm việc tấp nập, chỗ này cưa, chỗ kia rọc gỗ. Hội Truyền bá Quốc ngữ huy động bốn chục anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Giáo khoa đến giúp.

Riêng tôi đặc biệt quan tâm đến hệ thống chống đỡ bục lễ đài phải chịu nặng trên hai tấn. Cột cờ và các trụ lễ đài đều chôn chân xuống đất, không dùng mộc để tránh thiệt nhiều cho bà con có gỗ và để tranh thủ thời gian. Dùng vải bọc ngoài các khung gỗ và tạo khối kiến trúc, dễ trang trí, có màu sắc cần thiết, với thời gian ít nhất. Các việc không phải mộc, không phải nề này tôi cũng làm với anh em thanh niên. Công nhân nhà máy điện đảm bảo ánh sáng thật đầy đủ. Chúng tôi làm xong các việc trước rạng đông ngày 2 tháng 9 và không chú ý là cả một đêm trắng đã qua nhanh chóng!

Lễ đài Độc lập trên Quảng trường Ba Đình Hà Nội do kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thiết kế năm 1945 (ảnh chụp lại)

Khi đứng trên lễ đài để xem xét lần cuối cùng, tôi thấy nao nức trước đông đảo đại biểu nhân dân hừng hực khí thế dưới cờ đỏ sao vàng tràn ngập Ba Đình. Các khẩu hiệu chữ trang kim trên nền vải đỏ tươi càng làm rực rỡ thêm buổi lễ lịch sử này. Khói trầm từ các lư hương lớn hai bên lễ đài bay lên cao, gợi những ý tưởng thiêng liêng và thong thả tỏa rộng quyến luyến các đoàn đại biểu.

Khi Bác Hồ và Chính phủ lâm thời bước lên bậc thang lễ đài, tôi và nhiều anh em nghiêm trang đứng chào, nắm tay phải đưa lên ngang vai. Nhiều đồng chí tự vệ và cả ông Phạm Văn Khoa cầm súng bảo vệ quanh lễ đài.

Riêng tôi tự ý một mình đứng bên dưới lễ đài, quan sát những điểm chịu lực của kết cấu khung gỗ, và một mình trong không gian màu đỏ dưới bục lễ đài, tự thấy mình lực lưỡng hơn về trí tuệ và tình cảm khi đứng dưới chân Bác và ghi trong lòng Tuyên ngôn độc lập Bác đọc. Và thật là xúc động khi nghe Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” và tiếng hô: “Rõ ạ. Rõ ạ…” của hàng chục vạn đồng bào vang vọng như những làn sóng biển Đông.

Nơi đồng bào dự lễ ngày 2-9-1945 chính là quảng trường trước Lăng Bác ngày nay và cả con đường Bắc Sơn, ở đây đã dựng tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì độc lập và tự do của Tổ quốc.

Một việc trong nghề và nghiệp kiến trúc cách đây gần nửa thế kỷ đã gieo vào tình cảm thanh niên 25 tuổi của tôi một sức mạnh thầm lặng mà bền bỉ, tin tưởng vào sức vươn lên của cuộc sống và nền văn hóa dân tộc, từ ngày công bố Tuyên ngôn độc lập, cũng như từ ngày thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, mặc dầu xuất hiện những khó khăn mới”.

Theo QUANG DUẨN (giới thiệu) – Thanh Niên

tuoitre.vn

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 đến năm l917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Năng 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo “Người cùng khổ “ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925.

Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc .Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh” – một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô) ,sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.

Tử tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mang 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hong Kong. Đây là một thời kỳ sóng gió trong cuộc đời hoạt Đảng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.

Từ năm 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcova. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mang Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ khi qua biên giới, Người vô cùng xúc động.

Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng. quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8 năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam, thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Qủang Tây. Trong thời gian 13 tháng bi tù, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do.

Tháng 9 năm 1944. Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã hop quyếtđịnh tổngkhởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm J 945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử. Người viết:“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đă đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tu vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế glới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bảo Tàng Hồ Chí Minh – Tháng 5 năm 2004

tuoitre.vn

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Quyền lựa chọn của dân tộc

Kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Hà Nội, 1945

TT – Quyền thứ nhất được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền độc lập. Với ý nghĩa này, ngày 2-9 đã trở thành Tết Độc lập của đất nước ta. Thế nhưng độc lập là gì?

Trong rất nhiều ngôn ngữ, không có từ độc lập đứng riêng mà chỉ tồn tại từ không phụ thuộc. Độc lập chính là sự không phụ thuộc. Chúng ta đã giành lại giang sơn này chính là để tự quyết định lấy vận mệnh của mình mà không bị phụ thuộc vào kẻ khác. Chúng ta đã và đang làm được điều này ngày càng nhiều hơn.

Đặc biệt là khi chúng ta đang giành được quyền độc lập ngày càng nhiều hơn trong tư duy, trong việc lý giải định mệnh và hoạch định tương lai của dân tộc. Độc lập chỉ thật sự được bảo đảm khi chúng ta không bị phụ thuộc về tinh thần.

Quyền thứ hai được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền tự do. Tự do của một dân tộc được hợp thành từ tự do của mỗi công dân. Không thể có một dân tộc tự do mà những công dân của dân tộc đó lại không có được quyền tự do như vậy. Tự do chính là quyền lựa chọn.

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

HỒ CHÍ MINH
(Trích Tuyên ngôn độc lập)

Và hàng triệu Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc đã lựa chọn sự hi sinh. Sự lựa chọn này mang đầy định mệnh, nhưng lại là một sự lựa chọn tự nguyện, một sự thực thi quyền tự do. Những người con ưu tú của đất nước đã lựa chọn sự hi sinh chính là để bảo đảm rằng quyền lựa chọn của dân tộc ta là không thể bị tước bỏ.

60 năm qua, độc lập, tự do là những giá trị mà dân tộc ta đã không ngừng theo đuổi và vươn tới. Hàng triệu người con ưu tú của đất nước ta đã hi sinh tuổi trẻ, hạnh phúc và sinh mệnh của mình cho những giá trị nói trên.

Những lá cờ của chúng ta vì vậy không phải ngẫu nhiên mà đỏ cháy lên như sự hiệu triệu của đức hi sinh và sự dâng hiến!

TS NGUYỄN SĨ DŨNG

tuoitre.vn

Về hai chữ “Cách Mệnh” trong “Đường Kách Mệnh”

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tròn 80 năm tuổi. Ngày 12.9.2007, Bộ VHTT-DL đã tổ chức hội thảo khoa học “Giá trị lý luận và thực tiễn tác phẩm “Đường Cách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích và biên tập lại bài viết của ông Nguyễn Văn Khoan tham gia hội thảo này.

……………………………………..

Theo nhà báo – học giả Quang Đạm, hai chữ “cách mệnh” từ Trung Quốc “vào” Việt Nam ta có thể là vào những năm xã hội Việt Nam tiếp nhận “Tân thư” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu – trước, sau vài năm cùng với các tác phẩm từ nước Pháp của R.Descartes, Montesquieu – BT). Chữ “cách mệnh” theo tinh thần của Nho giáo Trung Quốc là “đổi cái mệnh Trời giao cho con Trời (thiên tử) – là vua nếu vua không làm tròn nhiệm vụ, giữ cái mệnh ấy, vì vậy phải giao “sứ mệnh” này cho con Trời khác”.

“Nhập cảng” từ Châu Âu với từ gốc Latinh là “Révolution” – có nghĩa ban đầu là “quay lại” – được “vào” Pháp với “Révolution”, Anh: “Revolution”, Tây Ban Nha: “Revolucion”… Nhiều từ điển phương Tây đều định nghĩa theo từ gốc Latinh: “Vòng quay, sự quay vòng, chu kỳ quay vòng”. Nghĩa thứ hai được chú thích thêm là: Biến đổi bất ngờ táo bạo trong cơ cấu kinh tế, xã hội”, “bước ngoặt cơ bản, bất ngờ”, “thay đổi từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác”, “biểu hiện biện chứng của sự phát triển vật chất, xã hội, tư tưởng”.

“Sổ tay từ Hán Việt” (NXB Giáo dục VN, 1989) viết: “Cách mạng(1) là một biến đổi và căn bản lớn trong quan hệ xã hội, chính trị, thực hiện thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoặc biến đổi về căn bản. Quá trình thay đổi lớn về căn bản theo hướng tiến bộ”. “Từ điển chính trị bỏ túi” (bản tiếng Việt) của NXB Novoxti, Liên Xô, 1983, tr.6, định nghĩa: “Cách mạng”:

1. Biến chuyển sâu sắc về mặt xã hội, giải quyết những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã lớn mạnh và quan hệ sản xuất lỗi thời, làm thay đổi tận gốc rễ chế độ xã hội và được giai cấp xã hội mới tiến lên nắm chính quyền.

2. Việc chuyển từ trạng thái chất lượng này sang trạng thái chất lượng khác, những biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực, phạm vi nào đó”.

Những định nghĩa trên, tuy ý tứ có đôi chút chưa “nhập” vào nhau chặt chẽ, đều có mặt “thay đổi, tiến bộ” nhưng ít nhiều mang màu sắc giai cấp đấu tranh của chủ nghĩa Mác ở Châu Âu (mà Châu Âu chưa phải toàn thế giới) – Nguyễn Ái Quốc viết vào năm 1924 – chứ không phải ở Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đã đi đến một định nghĩa (một lý luận) về “cách mạng”, để từ lý luận đó trở thành lý luận cách mạng cho cách mạng Việt Nam; “không có lý luận cách mạng Việt Nam thì không có vận động cách mạng Việt Nam”.

Vậy Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa như thế nào về “cách mệnh”?

Trước hết, xin lưu ý rằng, những định nghĩa của Châu Âu – kể cả của Châu Á về “cách mệnh” đã “định sẵn” từ lâu trước khi có định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về từ này. Những định nghĩa “bác học” ấy mặc nhiên được coi như “thước ngọc”, “kinh điển”, “bất di bất dịch”. Về một góc nào đó mà xét, việc người nào đó thay đổi định nghĩa ấy – làm cho rõ hơn, sát với thực tiễn của dân tộc mình, đất nước mình để làm lợi cho cách mạng, cũng đã là một hành động cách mạng rồi.

Thứ hai, trước Nguyễn Ái Quốc đã có bao nhiêu bậc lý luận Mácxít nổi tiếng, chủ yếu ở Châu Âu, đã “lăn lộn” với cách mạng, làm nên những cuộc cách mạng ở nhiều nước… thế mà họ không “chịu” thay đổi định nghĩa này. Vậy mà, anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc với văn hoá Việt, với truyền thống yêu nước, tham gia cách mạng mới từ năm 1908, rời nước ra đi năm 1911, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, năm 1927 nhận định “chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với Châu Âu… (về đấu tranh giai cấp…) năm 1927, chưa đầy 20 năm thâm niên hoạt động, chưa đủ 10 năm là đảng viên mà đã (cả gan) đưa ra một định nghĩa mới rất Mácxít, rất Việt Nam. (Tiếc thay suốt một chặng đường dài của phong trào cộng sản công nhân thế giới và ngay cả ở Việt Nam – định nghĩa này – “lý luận” này, “tư tưởng” này chưa được quan tâm đầy đủ!).

Ngay từ trang đầu, chương đầu của “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đưa ra một định nghĩa mới – chưa hề có trong các từ điển bách khoa: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi cái tốt: Thí dụ ông Galilê (1633) là khoa học cách mệnh…, ông Stephenxoong (1800) làm ra xe lửa là cơ khí cách mệnh… ông Đácuyn (1859) là cách mệnh… ông Các Mác là kinh tế học cách mệnh”.

Khi đã trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh, năm 1952 nhắc lại lần nữa (trước đó cũng đã nhắc nhiều) rằng: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến để xây dựng dân chủ mới. Thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn có những người… có công với cách mạng, song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng, hại đến tổ quốc, nhân dân (2)”.

Như vậy, rõ ràng là không phải ở một con người, một đảng, một nhà nước… chỉ làm cách mạng một lần là thôi, là đủ. Vì cách mạng có vận động, làm, tìm được, xây dựng nên cái “mới” rồi, cái “tốt” rồi, nhưng do nhiều nguyên nhân cái mới đang có, cái tốt hiện hành, đã trở thành cũ, xấu, đòi hỏi một cuộc cách mạng “phá cái xấu, đổi ra cái tốt, phá cái cũ đổi ra cái mới”…

Có quá nhiều bài học xác minh vững chắc định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về “cách mạng”. Cách mạng không phải chỉ làm một lần đánh đổ đế quốc, phong kiến là xong, mà cách mạng là phải luôn luôn đổi mới, ngay trên cái mới đã cũ, cái tốt cũ đang dần dần xấu đi…

Định nghĩa “cách mệnh” trong “Đường cách mệnh” 80 năm trước đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận cũng như về thực tiễn.

Mỗi người dân Việt Nam, dù là cán bộ cấp cao đến dân bình thường đều có thể suy ngẫm định nghĩa “cách mệnh” này của Bác để “xoá bỏ cái xấu, cái cũ” trong con người mình – nhất là trong con người cách mạng, tạo nên cái tốt, cái mới, bớt đi cỏ dại, để cho vườn hoa dân tộc – đất nước, mãi mãi đẹp tươi.

Theo Nguyễn Văn Khoan – Lao Động

—————————-

1/ Trên các số báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo không thấy từ “cách mệnh”, mà là “cách mạng”, như “cách mạng Tàu” (số 64, 10.10.1925), “Nước Nga cách mạng”; “chủ nghĩa cách mạng”; “người cách mạng”; “phong trào cách mạng bên Mỹ”; “cách mạng Pháp” (số 65, 17.10.1926).

2/ Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 6, tr.490

tuoitre.vn