Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân các ngày kỷ niệm thành lập Đảng ta

(TCTG) – Nhân kỷ niệm thành lập Đảng những năm 1949, 1960, 1963, 1964, 1965 Người đã có 7 bài viết và nói. Đáng kể còn có Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, và một số bài khác đề cập đến việc thành lập Đảng. Trong đó phản ánh những quan điểm, tư tưởng quan trọng cần tìm hiểu.

 1. Về sự ra đời của Đảng:

Người phác hoạ hoàn cảnh xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp; sự cấu kết của giai cấp phong kiến với đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của quần chúng không ngừng phát triển đều bị thất bại. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Vấn đề được nhấn mạnh là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Quốc tế Cộng sản được thành lập. Nhờ đó chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười đã chọc thủng lưới sắt của thực dân Pháp để vào Việt Nam bằng hai nhân tố. Một là, người cộng sản Đông Dương đầu tiên tham gia Đảng Cộng sản Pháp trực tiếp thực hiện – đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hai là, lúc đầu nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp. Từ vấn đề dân tộc và vấn đề thời đại đó Người đi đến khẳng định:

“ Ngọn đuốc Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].

Các sự kiện thành lập Đảng được lần lượt nhắc đến những nét chủ yếu: Năm 1925 Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập ở Quảng Châu. Năm 1929 Đại hội được tổ chức ở Hương Cảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Đại biểu Bắc kỳ đề nghị tổ chức Đảng Cộng sản, bị gạt đi nên bỏ hội nghị ra về. Sau đó ba nhóm cộng sản dần dần được thành lập. Cả ba nhóm ngầm hiểu một nước mà có ba Đảng Cộng sản là sai. Cả ba đều tìm cách thống nhất, nhưng do bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo nên càng muốn gần nhau lại càng xa nhau. Họ sử dụng nhiều nghị lực và thời gian để đấu tranh nội bộ và bè phái. Từ Xiêm về Trung Quốc, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có đủ quyền quyết định mọi vấn đề của cách mạng Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu 2 nhóm cộng sản là: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Hương Cảng để họp, ngày 6-1-1930. Các đại biểu giả đi xem đá bóng, ngồi ở sân cỏ để bàn bạc. Sau những ý kiến sôi nổi và lời giải thích của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu đã đồng ý thống nhất ba nhóm thành một đảng. Đảng được thành lập. Báo cáo lên Quốc tế Cộng sản Người viết: Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên là quả trứng, từ đó nở ra con chim non cộng sản.

Những vấn đề nói trên cho thấy:

– Người sớm kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề thời đại, khai thác những nhân tố cơ bản của thời đại cho cách mạng Việt Nam, mặc dầu thời đại mới chỉ mở đầu chưa lâu, còn nhiều trở ngại.

– Hội nghị hợp nhất gồm đại biểu 2 tổ chức cộng sản nhưng đã bàn thống nhất cả 3 nhóm, đã có quá trình hiểu nhau, nên chỉ sau thời gian ngắn, ngày 24-2-1930, Trung ương lâm thời đã chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Nguyễn Ái Quốc đã chọn đúng thời gian, đúng địa điểm để tổ chức Hội nghị an toàn, ngăn chặn tình trạng các nhóm cộng sản “ngày càng xa nhau ra”, không đợi chỉ đạo của quốc tế cộng sản, cũng không tổ chức Hội nghị trong nước như Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã thành lập, cũng không ở nước nào khác, nơi nào khác ngoài Hương Cảng.

2. Tố chất của Đảng khi mới thành lập và ý nghĩa lịch sử của nó.

Theo Người, Đảng ta có những tố chất cách mạng và khoa học ngay khi mới thành lập:

– Đó là Đảng Mác – Lênin chân chính của những người yêu nước Việt Nam. Người cho biết, sau cách mạng Tháng Mười Nga những người Việt Nam yêu nước đã hấp thụ lý luận vĩ đại của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Người nhấn mạnh nhất, nhắc đến nhiều nhất và được coi trọng nhất. Người viết: “ngọn đuốc Mác – Lênin”, chủ nghĩa Mác – Lênin tất thắng”, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin” và tự hào xưng danh: “Đảng Mác – Lênin của chúng tôi” với người nước bạn…

– Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng đại diện cho lợi ích của dân tộc và giai cấp, đảng viên đều hy sinh tận tuỵ không bờ bến để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

– Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng với đường lối chính sách đúng đắn, màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Đó là nhờ Đảng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và đi đúng đường lối quần chúng.

– Đảng đoàn kết nhất trí, được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh mẽ nhất trong tất cả các lực lượng bấy giờ ở nước ta, nên vai trò lãnh đạo hoàn toàn vào tay giai cấp vô sản. Đảng đưa nhân dân ta vượt qua mọi gian khổ khó khăn để đi đến thắng lợi.

– Dù còn non trẻ, nhỏ bé nhưng Đảng ta là con nòi; vì xuất thân từ giai cấp lao động, trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ Mác – Lênin, có những người anh em vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp và các Đảng anh em khác. Vì thế Đảng kết tinh được sức mạnh tổng hợp của giống nòi ngay từ khi ra đời.

Những tố chất trên được Người đúc kết thành thơ:

“Đảng ta là đạo đức là văn minh

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”[2]

Những tố chất ấy cho thấy ý nghĩa to lớn về sự ra đời của Đảng. Người nêu rõ:

1. “Chu nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3]

2. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

3. Đảng ta vững mạnh ngay từ khi mới thành lập. Vì nó là tất yếu của nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại kết hợp chặt chẽ là kết quả kết hợp chủ nghĩa yêu nước và Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Những vấn đề nêu trên cho thấy:

Thành lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa khó khăn hơn nhiều so với ở các nước tư bản. Tạo thành Đảng Mác – Lênin chân chính và vững mạnh ngay từ đầu lại còn khó khăn hơn nữa. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như thế. Đó là công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh, đồng thời bản chất cách mạng vốn có của dân tộc Việt Nam được “trưng bày” rõ rệt.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta. Đây là thắng lợi của cuộc cách mạng tư tưởng lớn, lại là thắng lợi kép: thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thắng lợi này còn được thể hiện bằng một tổ chức cách mạng chiếm ưu thế ngay trong phong trào cứu nước của dân tộc. Những điều đó chưa hề có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam…

3. Nhiệm vụ cơ bản sau khi ra đời.

Sau khi thành lập Đảng liền lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân ta tiến hành cách mạng. Trước hết là cuộc khởi nghĩa ở Nghệ Tĩnh. 15 tuổi lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, 17 tuổi lãnh đạo kháng chiến và 24 tuổi kháng chiến thắng lợi. Hoà bình lập lại Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Người khẳng định rằng cách mạng tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác do 3 nguyên nhân:

Đó là Đảng xứng đáng với danh hiệu của mình trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Có lực lượng quần chúng phấn đấu, hy sinh và phát huy trí thông minh sáng tạo, nhất là công nhân, nông dân và trí thức.

Được sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới nhất là nhân dân các nước XHCN anh em.

Năm 1960, Người đã nêu 4 kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của Đảng:

Một là, Đảng luôn luôn đứng vững lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, biết vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin để đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng không ngừng đấu tranh chống các khuynh hướng sai lầm trong xã hội và trong Đảng. Nhờ đó Đảng nắm được quyền lãnh đạo trên cả nước và trên mọi lĩnh vực.

Hai là, Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong một nước nông nghiệp lạc hậu thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân nên củng cố được liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhờ đó cách mạng tiến mạnh không ngừng.

Ba là, Đảng ta khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để đoàn kết dân tộc cần đấu tranh chống hai khuynh hướng: cô độc hẹp hòi và đoàn kết một chiều, nhờ đó vai trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận dân tộc thống nhất mới được bảo đảm, nền tảng công nông của Mặt trận mới được vững chắc, tính chất rộng rãi của Mặt trận mới được phát huy đầy đủ.

Bốn là, chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua mọi khó khăn, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi.

Từ những vấn đề đó Người không ngần ngại khi viết:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật vĩ đại”[5].

Bàn đến nhiệm vụ đang thực hiện, Người nhắc nhủ chúng ta phải nhớ công ơn Đảng. Tâm niệm về điều đó, Người đã 4 lần làm thơ nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng (30 năm, 33 năm, 34 năm, 35 năm):

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

Công ơn Đảng thật là to,

Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”[6]

Người căn dặn phải nhớ ơn các liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc, cho Đảng; không được chủ quan dù thắng lợi đã to lớn, vì bên cạnh thắng lợi Đảng cũng có khuyết điểm, cách mạng cũng còn nhiều khó khăn phức tạp. Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Vì vậy phải xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và đạo đức, phải nghiêm khắc phê bình và thật thà sửa chữa khuyết điểm.

4. Mấy vấn đề thu hoạch.

– Những bài viết đã nêu thể hiện quan điểm: “nhìn lại những đoạn đường dài đã qua, rút ra những kinh nghiệm quí báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”[7]. Đó là một nhân tố quan trọng giúp Đảng rút ngắn thời gian, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu quả trong các công việc lãnh đạo của mình. Người cho thấy lịch sử là chuyện đã qua nhưng hình ảnh của nó luôn luôn sống cùng hiện tại và tương lai của dân tộc. Không mấy ai coi nhẹ lịch sử nhưng cũng không mấy ai học được và vận dụng tốt kinh nghiệm lịch sử. Nhận thức đúng lịch sử đã khó vận dụng thành công bài học lịch sử càng khó hơn. Vì vậy Người muốn giáo dục chúng ta điều đó nhân những ngày kỷ niệm quan trọng của lịch sử.

– Kỷ niệm ngày thành lập Đảng là cơ hội để nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên. Chủ ý của Người là làm rõ những nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên. Sự lãnh đạo của Đảng phải bao trùm cả nước và phải gần gũi tận trong lòng mỗi người dân. Đảng phải lo tính việc lớn như biến đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu thành tiên tiến đồng thời lo cả những việc nhỏ như tương cà mắm muối cho đời sống hàng ngày của dân. Đó cũng là lý luận tổng quát về vai trò và trách nhiệm của Đảng trong cách mạng XHCN bằng nêu công việc cụ thể. Nội dung và phương pháp rèn luyện của đảng viên cũng được Người quan tâm đặc biệt.

Nhìn chung, điều đọng lại trong mỗi cán bộ, đảng viên sau khi đọc những bài viết kể trên là nâng cao lòng tự hào về Đảng, về dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm bản thân và thúc đẩy năng lực tư duy về con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

– Lịch sử Đảng ta được Người đánh giá “là cả một pho lịch sử bằng vàng”. Người đã xác định rõ những sự kiện cốt yếu và bản chất của việc thành lập Đảng. Tư tưởng và lý luận đúc kết từ lịch sử ấy có giá trị rộng lớn và trở thành kinh điển của khoa học lịch sử Đảng. Các công trình khoa học lịch sử về thời ký này của giới sử học đã làm phong phú nhiều sự kiện và hiệu quả tư tưởng của nó đều phải dựa trên cơ sở đó.

Những vấn đề Người nói và viết về sự ra đời của Đảng không chỉ với tư cách một nhân chứng lịch sử hiếm hoi mà còn với tư cách một nhà cách mạng kiệt xuất đã trực tiếp quyết định bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng ấy nên không ai có thể vượt qua, càng không thể xuyên tạc được.


[1] Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai ,CTQG. 1996, Tập 9, Tr.314.
[2] Bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lấn thứ hai. CTQG. 1996, tập 10, tr.5
[3] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[4] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[5] Ba mươi năm hoạt động của Đảng Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai, CTQG. 1996, T.10, tr.2
[6] Sđd, tr.5
[7] Sđd, tr.7

PGS. Lê Thế Lạng

tuyengiao.vn

Công tác tư tưởng, lý luận và việc chống quan liêu theo quan điểm Hồ Chí Minh

Là một nhà chiến lược thiên tài và nhà hoạt động thực tiễn sâu sát tỉ mỉ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc chống quan liêu trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Đúng 15 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên. Ngày 17-9-1945, viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Hồ Chí Minh chỉ rõ cán bộ ở các địa phương mắc phải những khuyết điểm nhất là: hẹp hòi, bao biện, lạm dụng hình phạt, hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán chuyên quyền, lấy của chung làm của riêng, thậm chí dùng pháp luật nhà nước để trả thù riêng. Từ đó trở đi việc chống quan liêu luôn được Hồ Chí Minh thể hiện một cách đậm nét cả trong tư duy lý luận lẫn hoạt động thực tiễn. Vào đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh phê phán gay gắt những người “tham danh trục lợi”, thích địa vị quyền hành, tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh”.

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh gọi quan liêu là một loại bệnh mà đảng viên, cán bộ dễ mắc phải. Mắc loại bệnh này chủ yếu là “những người và những cơ quan lãnh đạo, nhất là khi Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Theo Hồ Chí Minh: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc phải làm, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung”. Hồ Chí Minh đã trực tiếp hỏi một cán bộ địa phương: “Mùa màng năm nay thế nào?”. Anh ta trả lời: “Việc đó tôi đã động viên nhân dân, đã bày tỏ vấn đề đó một cách đầy đủ nên “công tác xem chừng khá…, chắc là có tiến bộ”. Người hỏi tiếp: “Tóm lại là đã cày cấy được mấy mẫu?”. Anh ta trả lời: “Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả”.

Một người được Hồ Chí Minh gọi là “ông quan liêu””, khi người đó chạy theo hình thức, chỉ biết khai hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ bệnh khai hội là “khai hội không có kế hoạch, không thiết thực, khai hội lâu, khai hội nhiều quá”. Trong các buổi khai hội đó “cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khệnh khạng như ông quan”. Lúc khai hội thì trăm lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương; thảo luận, phê bình, giải tán”. Mỗi lần phát biểu “ông cán” nói hàng giờ, nói đâu đâu, còn “công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó thì không đụng đến”. Do đó lúc “ông cán” phát biểu kẻ ngáy, người ngủ chỉ mong ông thôi để được về nhà. Hồ Chí Minh kết luận việc làm hình thức, xa rời thực tế đó khiến “quần chúng sợ khai hội, mỗi lần họ đi khai hội chẳng khác gì đi phu”. Hồ Chí Minh thừa nhận: “Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Hồ Chí Minh cho rằng những ai làm việc chủ quan, thoát ly quần chúng, bắt phong trào quần chúng phải đi theo ý muốn chủ quan của mình là những người “khoét chân cho vừa giầy”. Với Hồ Chí Minh những người mắc bệnh quan liêu chỉ biết đóng cửa viết báo cáo, xem báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn. Hồ Chí Minh coi đó là những người lười biếng, những người “nghị quyết đầy túi áo, thông báo đầy túi quần”.

Do xa rời quần chúng, xa rời thực tế, làm việc chủ quan, duy ý chí, nên những người quan liêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sợ phê bình và tự phê bình”. Với Hồ Chí Minh những cán bộ, đảng viên cốt sao “xong chuyện thì thôi”, không phê bình người khác cũng chẳng tự phê bình mình là “những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt”. Người mắc bệnh quan liêu tất yếu dẫn đến mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Tình trạng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền lại là nguyên nhân của việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Vì vậy khi phác thảo chân dung “ông quan liêu”, Hồ Chí Minh tập trung nêu bật đặc điểm “”thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”. Hồ Chí Minh đặt câu hỏi “Quan liêu là gì?”. Câu trả lời của Người là: Quan liêu là những người phụ trách bất kỳ cấp nào không gần gũi cán bộ, không theo dõi công việc thiết thực, không theo dõi cán bộ để biết tính nết, khả năng, để thấy điều tốt thì khuyến khích, điều xấu thì can ngăn, giáo dục, giúp đỡ sửa chữa. Thế là cán bộ xa thực tế, xa bộ đội, xa dân, không dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào thì như một vua con, ở đấy tha hồ hách dịch, hạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường. Đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc ông tướng, bà tướng ấy làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề trên nhiều lĩnh vực. Trước hết nó gây khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ năm 1952, Hồ Chí Minh đã viết: “Nói tóm lại vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Đây thực sự là nguy cơ đối với một đảng cẩm quyền.

Trong điều kiện đảng cầm quyền, quan liêu là nguyên nhân chính gây nên nhiều tệ nạn cho nhà nước và xã hội, đặc biệt là tham ô, lãng phí. Theo Hồ Chí Minh muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi, muốn thành công trong tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch bọn tham ô, lãng phí. Sở dĩ có tham ô, lãng phí là vì có những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu. Do đó “những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Năm 1952 trong bài “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu””, Hồ Chí Minh viết bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu (Hồ Chí Minh nhấn mạnh). Do đó “muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu””. Mười năm sau, năm 1962, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: kinh nghiệm chứng tỏ rằng ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí. Nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Hồ Chí Minh kết luận “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô… Cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Do ý thức sâu sắc quan liêu là nguồn gốc của tham ô, lãng phí nên trong di sản Hồ Chí Minh chúng ta tìm thấy có những bài viết với tiêu đề “”Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” nghĩa là quan liêu đặt trước tham ô, lãng phí.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), 1-1994 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên bốn nguy cơ đối với chế độ. Một trong bốn nguy cơ đó là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và giải pháp để chống tham nhũng, quan liêu, nhưng xem ra nguy cơ này vẫn chưa bị đẩy lùi, kết quả đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu chưa được như ý Đảng, lòng dân mong muốn. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các tệ nạn ấy không thể dừng lại và phải kiên quyết hơn. Tuy nhiên, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung vào việc đề ra các chủ trương, giải pháp thiết thực chống nguyên nhân của nạn tham nhũng là tệ quan liêu.

Theo Hồ Chí Minh: “Cần khẳng định dứt khoát rằng số đông cán bộ và công nhân ta đều tận tuỵ và trong sạch” nhưng vẫn còn một số người “phạm sai lầm tham ô, lãng phí và còn mang nặng bệnh quan liêu… Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại những tệ hại ấy”. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa quan liêu với tham ô, lãng phí nên việc đấu tranh chống lại những tệ nạn này cũng không thể tách rời nhau.

Với Hồ Chí Minh, quan liêu, tham ô, lãng phí là không thể chấp nhận được. Tuy vậy, tuỳ theo quy mô tính chất và hậu quả do quan liêu, tham ô, lãng phí gây nên, Hồ Chí Minh có những cách xử lý, phê phán khác nhau.

Trước hết, quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc nên quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác, là kẻ thù nguy hiểm của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng dù cố ý hay vô tình, quan liêu, tham ô, lãng phí làm chậm trễ cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Do vậy, quan liêu, tham ô, lãng phí là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám nếu không phải là tệ hơn thế.

Tháng 1 – 1946, nghĩa là khi Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, sự thực là Đảng rút vào hoạt động bí mật trong một lần trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái… Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh gọi chống quan liêu, tham ô, lãng phí là việc làm cách mạng.

Do tính chất nguy hiểm của tệ quan liêu và nếu không có những chủ trương, giải pháp thiết thực thì tệ nạn này có khả năng tăng lên cùng với thời gian đảng cầm quyền, nên Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chống quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên.

So sánh với đế quốc, với giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh gọi quan liêu, tham ô, lãng phí là giặc nội xâm “giặc ở trong lòng”. Người yêu cầu để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, mọi người cần đoàn kết thành một khối chống cả hai loại giặc: Chiến sĩ xuất công, nhân dân xuất của để đánh giặc cứu nước. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Hồ Chí Minh quan niệm chống giặc nội xâm “là một cách mạng nội bộ”, cuộc đấu tranh gay go giữa cái xấu và cái tốt, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư với kẻ địch là tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí. Tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí còn ở chỗ, Hồ Chí Minh chỉ rõ kẻ thù này không mang gươm, mang súng mà nó nằm ngay trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta. Thấu hiểu tâm tư, tình cảm và cả những vướng mắc, những điều khó nói thành lời của một số cán bộ khi tiến hành cuộc vận động chống quan liêu, tham ô, lãng phí, Hồ Chí Minh viết: Cán bộ và công nhân đều nhất trí tán thành, ai cũng cho là cần phải có cuộc vận động này nhưng khi thi hành thì một số người lo lắng, lo sợ. Nguyên nhân vì trong ba chứng bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí bản thân mình chắc có một bệnh, hoặc nặng hoặc nhẹ. Do tính chất phức tạp, “tế nhị” của cuộc đấu tranh này nên Hồ Chí Minh đòi hỏi: Mọi người dũng cảm tiến lên, mặt khác muốn thắng lợi ở mặt trận này phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức.

Hồ Chí Minh cho rằng cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí có hai ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân và bản thân mình.

Thứ hai, giúp cho cán bộ, đảng viên giữ gìn phẩm chất cách mạng, một lòng một dạ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Do đó nhân dân ta đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm.

Theo Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò to lớn. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng nhất trí thì hành động mới nhất trí. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

Hồ Chí Minh kết luận, sở dĩ có quan liêu, tham ô lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác là do tư tưởng không đúng. Người nêu thí dụ vì thiếu quan điểm quần chúng nên trong công tác mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

Để khắc phục được quan liêu mệnh lệnh và những căn bệnh có thể nảy sinh trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá IX) “”về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” rất coi trọng chống bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên, trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) trong phần “Tình hình tư tưởng, lý luận và công tác tư tưởng, lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nỗi bức xúc của nhân dân hiện nay là còn những bất công xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

Từ thực tiễn đó ở phần phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) viết: Đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên, đấu tranh loại trừ tham nhũng, quan liêu ở cơ quan đơn vị cơ sở mình. Nghị quyết khẳng định: Cần phải tổ chức học tập một cách nghiêm túc, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
(NXB Chính trị quốc gia)

vannghedanang.org.vn

Những điều tâm huyết Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên Nghệ An

(TCTG)- Kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011.

Một trong những thành công lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã xây dựng thành công ở Việt Nam một chính Đảng Mácxít – Lêninít, trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 lịch sử. Với thắng lợi đó, mục tiêu Độc lập dân tộc và CNXH được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn từ năm 1930 đã từng bước trở thành hiện thực. Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hoà, nhà nước của dân, do dân, vì dân được sáng lập. Một trang sử mới trong lịch sử dân tộc đã bắt đầu với những trọng trách không kém phần nặng nề, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, những người ngày hôm qua còn phải hoạt động trong bí mật, ngày hôm nay đã nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương xuống đến các địa phương phải không ngừng tu dưỡng, phấn đấu.

1. Lời nhắn nhủ của Hồ Chí Minh đến các đồng chí “tỉnh nhà”

Thành công của cách mạng Tháng Tám đã mang lại độc lập cho Tổ quốc ta, tự do cho đồng bào ta. Một kỷ nguyên mới, với những thuận lợi mới đi liền cùng khó khăn và những thách thức khôn lường.Trong bối cảnh đó, với trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước, ngày 17/9/1945, Chủ tịch Chính phủ đã gửi Thư cho các đồng chí tỉnh nhà. Trong bức thư này, Hồ Chí Minh khẳng định: Cuộc dân tộc cách mạng thành công này có những ý nghĩa rất to lớn, song bên cạnh những thuận lợi, cũng còn vô vàn những khó khăn thử thách. Và để vượt qua những trở ngại, để bảo vệ và củng cố chính thể dân chủ cộng hoà còn non trẻ, “chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”, “không sợ có khuyết điểm” và phải “lập tức sửa đổi ngay” (1) những khuyết điểm đã bắt đầu xuất hiện. Lý do để Người căn dặn như vậy, chính là vì: Đảng có vững cách mạng mới thành công. Giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, song trong mọi thời điểm, Đảng ta không có lợi ích nào khác là phục vụ nhân dân, vì nhân dân. Trong khi đó, “cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể” (2) Cuối thư, bằng tình cảm của một người con với quê hương, bằng những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chân thành nhắn nhủ: “Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi. Tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến” (3).

Ngày 19/12/1946, chỉ 15 tháng sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), đất nước ta đã bước vào cuộc trường chinh chống Pháp, trong một tương quan lực lượng chênh lệch. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, nhân dân cả nước từng bước triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4). Từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đạt đến trình độ tối cao” (5). Trong khi cả dân tộc đang “ở trên ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn” (6), thì cũng lại Hồ Chí Minh trực tiếp gửi đến các đồng chí tỉnh nhà những lời căn dặn chí tình: “Mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho nước được thống nhất và độc lập” (7). Để có thể làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một “cẩm nang”, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể Đoàn thể phải “sáng suốt, khôn khéo, Cẩn thận, kiên quyết, Siêng năng, nhất trí”(8), để đồng tâm hiệp lực lãnh đạo cách mạng.

Đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, quan tâm đến sự lớn mạnh của bộ máy lãnh đạo các cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm, trao đổi với lãnh đạo của Tỉnh những vấn đề về rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng ta đang cầm quyền, đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, Người nhấn mạnh rằng, trong số những cán bộ, đảng viên của Đảng, vẫn có không ít người “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ”. Tính cục bộ địa phương đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì dường như từ nó mà “sinh ra những việc, xem qua thì hình như không quan hệ gì mấy”, nhưng “kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”.

Cũng trong bức thư này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra một căn bệnh không kém phần nguy hiểm, luôn là nguy cơ dẫn đến sự thoái hoá, biến chất của mỗi người cán bộ, đảng viên, đó là bệnh óc bè phái: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe” (9). Từ căn bệnh này, những người có quyền lực hoặc kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình dù không có tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài và họ đã quên mất rằng, việc nước là việc chung của tất cả mọi người, chứ không phải việc riêng của một số người, một dòng họ. Đó thực sự là một khuyết điểm lớn, rất có hại, rất nguy hiểm, “làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí,

thường hỏng việc”.

Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn nêu ra một căn bệnh phổ biến thường thấy ở mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng – đó là tính cô độc, hẹp hòi: “Có đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có Đoàn thể chịu”; “có nơi, các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả Đoàn thể”(10). Tất cả những biểu hiện đó, dù dưới dạng nào cũng thật là có hại. Hoặc do vô tình, hoặc do cố ý, họ không hiểu rằng: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở” (11). Vì vậy, muốn sự nghiệp kháng chiến thành công, muốn nguồn sức mạnh nội lực của cả dân tộc được nhân lên, thì những người lãnh đạo phải biết dùng chỗ hay của người, giúp người sửa chỗ dở. Người lãnh đạo giỏi thì phải “gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Ngoài ra, Người còn không ngần ngại chỉ ra rằng: “Còn những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, cho mình là cựu đồng chí, cựu chính trị phạm thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình” (12), thì thực sự đã quá tự mãn, đã “bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”.

Không chỉ căn dặn cán bộ, đảng viên của Đảng ở tỉnh nhà, những người sẽ góp phần không nhỏ vào sự lớn mạnh của Đảng những điều mà Người từng tiên liệu và đã từng được chứng kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định: các đồng chí có nhiều ưu điểm như “nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát và nhiều sáng kiến…Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi”(13). Cuối cùng, Người nhấn mạnh: Các đồng chí phải làm tốt công tác cán bộ. Chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh… và nhất là phải tránh “cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách”. Người mong những người con ưu tú của tỉnh nhà, những công bộc của dân luôn lòng mình hướng đến chí công vô tư và phải “đem toàn bộ tinh thần cách mệnh mà khắc phục khuyết điểm, phát triển các ưu điểm”, để chấn chỉnh công tác, để lãnh đạo toàn dân hăng hái tham gia kháng chiến.

2. Lời Người dặn khi về thăm “tỉnh nhà”

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, vừa xây dựng một chế độ xã hội mới ở miền Bắc, vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai. Đối với Nghệ An, một tỉnh miền Trung nghèo về kinh tế và giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, thì việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng thắng lợi CNXH và đảm bảo đánh thắng giặc Mỹ xâm lược là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.

Tháng 6/1957, sau nhiều năm xa cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm quê hương Nghệ An lần thứ nhất. Trong lần gặp gỡ này, Người tập trung nói với cán bộ, đảng viên về ưu điểm, khuyết điểm và nhiệm vụ trước mắt. Theo Người: Đại đa số các đồng chí đã chịu cực, chịu khổ, chịu khó để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn hiện tượng mất đoàn kết nội bộ và “đây là một khuyết điểm quan trọng”(14). Mặt khác, bệnh suy bì về đãi ngộ và địa vị, làm việc gì cũng sợ khó, tự kiêu tự đại, chưa thực hiện được khẩu hiệu cần, kiệm, liêm chính, thậm chí có người còn mê tín là những tồn tại hiện thời trong một số cán bộ, đảng viên và những tồn tại ấy làm suy yếu tổ chức Đảng. Sau đó, Người nói về những nhiệm vụ trước mắt của toàn tỉnh, đặc biệt là phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và mong đội ngũ lãnh đạo của tỉnh cùng toàn dân quyết tâm đưa Nghệ An giàu truyền thống cách mạng thành “một tỉnh gương mẫu”.

4 năm sau, khi về thăm quê lần thứ 2 (12/1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Lần này, cũng đề cập đến vấn đề vai trò và trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tổ chức cơ sở Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân tổ chức sản xuất, Người khẳng định: “Nói Đảng cũng rộng đấy. Nhưng trước hết là ai? Chi bộ. Hễ chi bộ tốt thì hợp tác xã tốt, chi bộ kém thì hợp tác xã kém. Đó là kinh nghiệm chung”(15) và “muốn biết Đảng địa phương của mình mạnh hay yếu, khá hay kém hãy nhìn vào sự lãnh đạo của cấp uỷ” (16). Từ thực tế của Nghệ An, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn thực sự đoàn kết nội bộ, muốn thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì nhất định “phải dân chủ nội bộ. Muốn dân chủ nội bộ tốt thì cần gì nữa? Phải phê bình, tự phê bình” (17).

Còn khi về thăm cán bộ xã Nam Liên, Nghệ An (ngày 9/12/1961), Người cũng nói rất cụ thể: “Trong xã có lực lượng lãnh đạo, có lực lượng giúp lãnh đạo, phải làm gương mẫu cho đồng bào…hơn 230 đảng viên, đoàn viên, phải gương mẫu trong mọi công việc trong tăng gia sản xuất, trong học tập. Nên như thế mà phải như thế. Nếu đảng viên không gương mẫu thì không xứng đáng là đảng viên”(18). Theo Người, chỉ có làm được như thế những người cán bộ, đảng viên của xã mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà nhân dân xã đã giao cho họ, mới đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng đời sống mới, xây dựng CNXH.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với những cán bộ, đảng viên lâu năm của tỉnh, và không quên nhắc lại mấy điều cốt yếu. Đó là Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, Đảng ta không còn có lợi ích nào khác. Vì thế, “khi Đảng giao việc gì, bảo việc gì đều làm nấy, không kể sang hèn, địa vị cao thấp; không có việc gì khó Đảng giao không làm. Đó là những anh hùng…không đòi hỏi gì cho gia đình và cá nhân cả. Đó là những người con ưu tú của Đảng, của cách mạng”(19). Họ đã thực sự vì Tổ quốc và nhân dân, lo thì lo trước mọi người, vui thì vui sau mọi người. Và cũng vì thế, họ góp phần làm cho Đảng ta lớn mạnh, chắc chắn, ngày càng phát triển. Song giờ đây, công việc khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn, phải làm cho “nước càng ngày càng mạnh, dân càng ngày càng giàu”, nên cần phải có lớp cán bộ trẻ kế cận. Công việc ngày càng nhiều, “một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học” để thực hiện tốt 2 nhiệm vụ: “A, Bất kỳ Đảng giao cho việc gì, nhân dân giao cho việc gì, phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ. B, Đào tạo thanh niên cho họ làm việc hơn mình, không nên nạnh kẹ. Mặt khác, thanh niên nên phải biết công lao của các đồng chí già, phải thấy các đồng chí già đã trải qua phong ba bão táp, có kinh nghiệm, thanh niên phải học tập” (20). Tại cuộc nói chuyện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trao đổi với các đồng chí cán bộ, đảng viên của tỉnh nhiều nội dung quan trọng khác liên quan đến công tác xây dựng Đảng, và khẳng định: Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị.

Vào những năm sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không có điều kiện để về thăm quê hương Nghệ An. Tuy nhiên, Người vẫn dành cho Nghệ An sự quan tâm sâu sắc. Trước khi từ biệt đồng bào và chiến sỹ cả nước để trở về với thế giới người hiền, ngày 21/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bức thư cuối cùng cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Vẫn không ngoài những băn khoăn, trăn trở của một người đứng đầu Đảng và Nhà nước đối với quê hương Xôviết khi “kinh tế của Nghệ An tiến còn chậm”, song Người cũng nêu rõ 4 nhiệm vụ (thực hiện dân chủ, khôi phục và phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu) mà Đảng bộ tỉnh phải thực hiện trong thời gian tới. Điểm đầu tiên và cũng là điểm Người nhấn mạnh nhất trong thư, chính là phải “tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân”. Đồng thời, Người mong “cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thường xuyên phê bình trước nhân dân, khuyến khích nhân dân phê bình. Khiêm tốn lắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa những việc sai, làm công tác tốt hơn” (21).

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên cần khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng, góp ý kiến về vệc chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, để mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân ngày càng thêm mật thiết. Cuối thư, Người viết: Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc.

3. Nhớ về Người nhân dịp tháng Năm về

Trong suốt gần 1/4 thế kỷ là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho công tác xây dựng Đảng sự quan tâm sâu sắc. Thấm nhuần những nguyên tắc về xây dựng một chính Đảng kiểu mới, trong sạch vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rất rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Họ thực sự là tiền vốn của Đoàn thể, là gốc của mọi công việc và Đoàn thể mạnh hay yếu, tiền phong hay tụt hậu phụ thuộc rất nhiều vào họ. Vì vậy, trong nhiều nội dung của công tác quan trọng này, những tiên liệu, những chỉ dẫn của Người về những căn bệnh thường mắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nói chung, và quê hương Nghệ An nói riêng từ những ngày đầu của chính thể dân chủ cộng hoà đã thực sự là những cảnh báo kịp thời, có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Không phải ngẫu nhiên, những tâm sự của Người cách đây hơn nửa thế kỷ, lại dường như mới xảy ra hôm trước. Thực tế, phần lớn cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Đảng, Chính phủ, các tổ chức chính trị khác trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN đã luôn quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác Đảng và xây dựng Đảng, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Song bên cạnh đó, ở nhiều nơi và trong nhiều thời điểm, vẫn còn không ít những cán bộ, đảng viên đã dần dần quên mất trọng trách của mình, từng bước tha hoá, biến chất, làm giảm uy tín và sức mạnh của Đảng. Đó là một hiện trạng đáng buồn và hơn lúc nào hết, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, để Đảng ta xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân như mong ước của Người, thì không thể không ôn lại những lời căn dặn đầy tâm huyết, những cảnh báo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm nào với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và xứ Nghệ nói riêng năm xưa.

Với ý nghĩa đó, kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là nhằm “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011./.

Bài và ảnh: TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

_________________

Chú thích:

1,2,3, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, tập 4, tr21
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, tập 8, tr160
5,6,7,8. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr76
9,10, 11,12, 13. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr77, 78
14. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr407
15, 16, 17. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr441, 442, 443
18. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr456, 457
19. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr462
20. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr468
21. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 12, tr481

tuyengiao.vn

Ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi đúng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911- 5/6/2011)

(TCTG)- 100 năm là độ lùi lịch sử đủ tin cậy để có thể khẳng định rằng: sự lựa chọn, khởi đầu chính xác của Nguyễn Tất Thành từ ngày 5/6/1911, đã góp phần làm nên “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”.

Một quyết định đúng đắn

Trước khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống của người dân xứ Nghệ. Lòng yêu nước, ý chí ham học hỏi, ham hiểu biết của người cha; lòng yêu thương con trẻ, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ; tinh thần vượt khó và vươn lên, cần cù trong lao động, cố kết trong tình làng nghĩa xóm của quê hương, đất nước, v.v..là chiếc nôi tốt, sớm nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành tình yêu nước, thương dân với một thiên hướng đặc biệt đến mẫn cảm. Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Tất Thành có nhiều biến động. Không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách “Tân thư”, “Tân văn” bằng tiếng Hán, mà còn được học tiếng Pháp, làm quen với văn minh phương Tây qua câu khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789.

Hơn nữa, không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta (cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, mang “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh…theo lập trường dân chủ tư sản Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến và tính không triệt để của nó) liên tiếp nổ ra và thất bại, mà Nguyễn Tất Thành còn sớm bị mất mẹ và người em ruột khi mới hơn 10 tuổi đầu.

Trong bối cảnh đó, những suy tư của một Nguyễn Tất Thành “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” đã được cộng hưởng bởi bầu không khí yêu nước, cảnh thực dân Pháp chém giết người yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu và những bất công diễn ra thường ngày…Luôn bận tâm, trăn trở về con đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã dần hiểu được những hạn chế của các vị tiền bối cách mạng trong việc quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân; khoảng cách quá xa trong tương quan so sánh lực lượng giữa một Việt Nam (đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời) và thực dân Pháp (đại diện cho phương thức sản xuất TBCN hiện đại); cùng những bế tắc trong việc định hướng đường lối, con đường đi của các phong trào đấu tranh yêu nước.Vì vậy, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế, và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới, khác hẳn con đường cách mạng cải lương từng diễn ra, đó là làm cách mạng. Đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Dấu ấn quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành, trong đó thực tế, sự hiểu biết, chí hướng yêu nước, hành động tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Trung Kỳ năm 1908, đã là cơ sở, là tiền đề chuẩn bị cho quyết định của Nguyễn Tất Thành sau này. Đầy nhiệt huyết và mang trong lòng hoài bão giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định rời nhà trường, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Và khác những vị tiền bối cách mạng, vì muốn tìm hiểu và khảo nghiệm thực tế những gì đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản, trong “nội bộ kẻ thù của dân tộc mình”, Nguyễn Tất Thành đã chọn con đường sang phương Tây, nơi sản sinh những tư tưởng lớn, những cuộc cách mạng lớn với mong muốn, đến “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào …sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[1].

Vậy là, khi quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có, dân tộc mình có. Đó cũng đồng thời là, “trong khi lòng yêu nước và tư tưởng chống Pháp của các sĩ phu có nguồn gốc trong sự đối lập giữa hai nền văn hoá (Đông -Tây) và ở sự khác nhau về chủng tộc (da vàng – da trắng) thì tinh thần yêu nước và ý thức phản đế của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ chế độ xã hội với cốt lõi của nó là quan hệ giữa người với người”[2]. Xuất phát điểm này, sự vượt lên chính mình này, đã quyết định con đường đi sau đó của Người – mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Hành trình khảo nghiệm thực tiễn

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng, khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ, rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Suốt thời thanh niên sôi nổi của đời mình, Nguyễn Tất Thành dành cho việc lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục. Trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu, thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Pari của nước Pháp, cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh, v.v..và vượt qua cái lạnh giá của châu Âu, với viên gạch ủ nóng thay cho lò sưởi, là một Nguyễn – Người thanh niên yêu nước đã sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi.

Bằng những nỗ lực hoạt động của mình trong nhiều tổ chức, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – một người dân nô lệ ở thuộc địa, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng, để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân – Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.

Được chứng kiến nhiều diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791). Đó chính là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người bị áp bức và những kẻ bị áp bức ở các thuộc địa, giữa nhân dân lao động tại các nước tư bản với những tên thực dân, những kẻ hữu sản, và Người đã đưa ra nhận định sâu sắc: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[3].

Một Nguyễn Ái Quốc sau chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, qua nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với sự khảo nghiệm và so sánh đó, khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin (7/1920), đã đi đến một quyết định trọng đại – đó là đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, đến với cách mạng tháng Mười Nga và Quốc tế thứ ba do Lênin sáng lập. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp quy luật của thời đại, mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho một đất nước Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, nhưng ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

Đây là quá trình khảo nghiệm, tiếp biến và vượt gộp của Hồ Chí Minh, khi thâu thái tinh hoa, tri thức của các nền văn minh nhân loại, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sau đó. Và trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết, vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam, mà còn phát triển học thuyết Mác – Lênin lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại – đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Vậy là, với quyết định đi sang “phương Tây”, với hành trình gần 30 năm lao động, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian khám phá, chiêm nghiệm, để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin. Và sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh sau khi đã “trưng cất” những tinh hoa của nền văn minh Đông và Tây, TBCN và XHCN, nói giản dị như linh mục Nguyễn Bá Cần, đó là “Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Mác- Lênin bởi vì không còn một sự lựa nào khác”, và còn hơn thế nữa “Nguyễn Ái Quốc đã trở thành cộng sản vì….Liên Xô và Đệ tam quốc tế đã chủ trương giải phóng các dân tộc bị áp bức như là một chặng đường cần thiết trong cuộc giải phóng toàn diện con người …Họ đã đơn độc tố cáo những tội ác của thực dân và Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn họ”[4]. Sự lựa chọn con đường cách mạng chính xác này sẽ giúp Người thực hiện hoài bão của mình, đó là giải phóng dân tộc mình, giải phóng “các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”- sự nghiệp giải phóng toàn diện loài người.

Người trở về tạo dựng, lãnh đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thắng lợi

Từ những tri thức tích luỹ được, tháng 11/1924, một Hồ Chí Minh thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”; với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người” đã về đến Quảng Châu, Trung Quốc. Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tâm, tận lực truyền giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về cách mạng tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mệnh, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc – Đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại.

Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, Người và những người Việt Nam yêu nước từng học tập ở Quảng Châu đã ngày mỗi ngày, góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, đưa đến sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, khi nguy cơ phân liệt, mất đoàn kết, sự tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau của các tổ chức cộng sản đe dọa sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã quyết định viết thư mời, triệu tập, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng, và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, với đường lối cách mạng đúng đắn, nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, đoàn kết muôn người như một kiên cường đấu tranh cách mạng, sau 15 năm đấu tranh gian khổ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Người dân Việt Nam đã từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Như vậy là, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây tròn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự khởi đầu đúng đắn, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Hồ Chí Minh – Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm xưa đã tìm thấy con đường và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển và bền vững.

Đồng thời, cũng từ một sự khởi đầu đúng đắn đó, kiên định con đường cách mạng do Người và Đảng ta đã chọn, 100 năm sau – một nước Việt Nam hồi sinh sau những năm dài chiến tranh ác liệt, đã chủ động hội nhập toàn diện cùng bạn bè quốc tế đang ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Vì vậy mà, sẽ không ngạc nhiên khi mỗi người nhìn thấy trên bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) ở thủ đô Pari của nước Pháp, có nụ cười của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của thời đại chúng ta – thời đại mà, dù thế giới vẫn còn nhiều đổi thay, vẫn còn bạo ngược và lẫn lộn, nhưng luôn có cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh đã biết khởi đầu đúng và đi tới đích. /.

Bài và ảnh: TS. Văn Thị Thanh Mai

[1]Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tr.13
[2] Nguyễn Khánh Toàn: Tuyển tập, Nxb. KHXH, 1999, tr.34
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t.1, tr. 266
[4] Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. LLCT, H, 2005, tr.60 (theo Lý Chánh Trung, Nói chuyện với người đã khuất ,Tạp chí Đất nước, Sài Gòn, số 14, tháng 10/1969)

tuyengiao.vn

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc tế

090929132718_gs_vu_duong_ninh226.jpg

Vũ Dương Ninh - GS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội

TCCS – Thấm thoắt đã hơn 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về thế giới vĩnh hằng nhưng tư tưởng của Người vẫn tỏa sáng dẫn dắt chúng ta. Di chúc của Người – từ bản thảo đầu tiên viết năm 1965 đến những đoạn bổ sung trong những năm tiếp sau – là lời nhắn nhủ chân tình về những điều cần làm cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

Hướng về nhân dân thế giới, Người dự định đến ngày chiến thắng, sau khi đi chúc mừng và thăm hỏi đồng bào hai miền Nam Bắc, “sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”(1). Có thể cảm nhận ở đây phong thái của một nhà cách mạng lão thành, một cụ già phương Đông, rất trọn vẹn trong nghĩa tình, rất chu đáo trong ứng xử. Không chỉ một bức thư hay bức điện cảm tạ mà phải đi đến tận nơi, bày tỏ hết tấm lòng biết ơn chân thành tới những người đã từng giúp mình trong những năm tháng gian nan vất vả. Phong cách đó nói lên tình cảm bao la, tư tưởng sâu sắc mà trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ thường nhắc nhở đồng bào, đồng chí. Đó là quan điểm về hội nhập và đoàn kết quốc tế.

Cuộc hành trình tìm đường cứu nước qua khắp năm châu đã tạo nên ở Hồ Chí Minh một cách nhìn mới về thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa sự nghiệp cứu nước với công cuộc cách mạng của các dân tộc.

Vào nửa sau thế kỷ XIX, các thủ lĩnh nghĩa quân của phong trào kháng Pháp hay các nhà văn thân dưới ngọn cờ Cần Vương đều thu hẹp hoạt động trong từng địa phương, chưa mở rộng đến phạm vi toàn quốc, lại càng không có mối liên hệ với bên ngoài. Đến đầu thế kỷ XX, các sĩ phu cấp tiến đã đón nhận làn gió mới từ Duy tân Minh Trị, Biến pháp Mậu Tuất cho đến Cách mạng Tân Hợi, hoặc hướng về nền dân chủ phương Tây với hy vọng cải cách chế độ phong kiến thối nát. Làn sóng yêu nước ở Việt Nam được khởi sắc với việc mở Đông Kinh nghĩa thục và các trường học khác, với phong trào Đông Du từng đợt cử thanh niên sang Nhật Bản học tập văn hóa và huấn luyện võ bị. Nhưng những hoạt động đó đều không mang lại kết quả, một trong những nguyên nhân chính là do thời đại đã đổi thay. Nơi mà các nhà chí sĩ trông chờ không còn là quê hương của phong trào cách mạng nữa, ý tưởng duy tân cũng như lý tưởng dân chủ đã đi vào quá khứ để thay thế bằng chủ nghĩa thực dân, mở rộng bá quyền thuộc địa. Giới cầm quyền Pháp – Nhật câu kết với nhau để dẹp trừ sự phản kháng, để ngăn chặn trào lưu cách mạng nước ta.

4.jpgBác Hồ và Mao chủ tịch

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đi theo con đường khác và rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(2) Có thể coi đây chính là điểm khởi phát của tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế, bao hàm hai điều mới: một là, tầm nhìn được mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; hai là, quan điểm đoàn kết đặt vào tất cả những ai làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó. Nghĩa là Hồ Chí Minh đã phát hiện một trong những nhân tố dẫn đến thành công của sự nghiệp cứu nước phải là hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong trào cách mạng trên thế giới. Chính từ đây, Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo quốc tế và trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế.

Dưới ánh sáng của học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng vô sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam và cũng là sợi dây nối bền chặt giữa cách mạng Việt Nam với phong trào vô sản quốc tế. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít trên thế giới: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát-xít”(3). Khi phát-xít Nhật đầu hàng, lực lượng cách mạng đã phát huy thế chủ động của mình, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam độc lập.

Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế trong thời chiến cũng như thời bình, tập trung vào mấy điểm chính sau đây:

1 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là Độc lập – Thống nhất – Chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chính phủ đã ra “Thông cáo về chính sách đối ngoại” khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” mà tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước, từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và tài sản nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

Đến năm 1947, năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Người nhắc lại đường lối đối ngoại của Việt Nam vẫn là “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Người nhấn mạnh: “Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”(5).

Như vậy, cách mạng Việt Nam đi vào trào lưu chung của thế giới, hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành một trong những nhân tố chủ yếu dẫn đến thành công. Từ năm 1950, Việt Nam chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, hội nhập vào phe xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh trật tự hai cực của thế giới. Đồng thời, Việt Nam luôn gắn kết cuộc đấu tranh của mình với phong trào giải phóng dân tộc, với nhân dân các nước mới giành độc lập hoặc đang đấu tranh vì nền độc lập, tự do. Tổng kết thành quả của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(6).

Hội nhập và đoàn kết quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, không chỉ nhằm giành được lợi ích cho mình mà còn là sự đóng góp vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của thế giới: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(7).

Bước vào thời kỳ đổi mới, xác định đúng xu thế của thế giới sau “Chiến tranh lạnh”, Đảng ta đã thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế. Tại Đại hội VII và Đại hội IX Đảng ta đã tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy” của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Nhờ vậy, nước ta đã vượt qua tình trạng bị bao vây, đặt quan hệ chính thức với hầu hết các nước, đặc biệt là với tất cả các nước lớn và các nước láng giềng. Nước ta cũng tham gia nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO…, phát huy vai trò tích cực trong mọi hoạt động của các tổ chức đó, kể cả cương vị ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, giành được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa, xã hội.

12.jpgẢnh: Bác Hồ thăm Ấn Độ

Cho nên, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nắm vững xu thế phát triển của thế giới để gắn kết mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, các dân tộc là nền tảng của sự hội nhập quốc tế. Qua đó mới giành được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mới tìm ra được mẫu số chung trong nguyện vọng và chí hướng của nhân dân các nước, mới đi đến sự đoàn kết trong cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đi ngược với xu thế chung, dù có nỗ lực đến đâu cũng khó thành công.

2 – Trong sự hội nhập và đoàn kết quốc tế, nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều không thay đổi.

Năm 1946, đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp, nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam”(8). Với chính phủ Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”(9). Chính vì mục tiêu và nguyên tắc đó, nhân dân Việt Nam đã phải đổ bao xương máu trong suốt những năm kháng chiến vì độc lập và thống nhất đất nước. Cuối cùng, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Pa-ri năm 1973 đều ghi nhận các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tại Giơ-ne-vơ, nước Pháp đã phải cam kết điều đó và 19 năm sau, tại Pa-ri nước Mỹ cũng phải cam kết điều đó. Nhờ vậy, sau khi hòa bình lập lại, với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã được thiết lập, phát triển trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.

Trong hoàn cảnh hòa bình kiến thiết đất nước, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ hữu cơ, gắn kết vô cùng chặt chẽ. Nó phải được thể hiện rõ ràng trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh đến kinh tế, xã hội. Không thể vì áp lực chính trị và kinh tế mà chủ quyền của ta bị tổn hại, không thể vì áp lực quân sự mà lãnh thổ của ta bị tổn thất, an ninh của ta bị đe dọa. Dù không ở trong tình thế chiến tranh khốc liệt như trước đây nhưng vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn là điều không thể coi nhẹ. Có gìn giữ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì mới có được nền hòa bình vững chắc, mới tạo dựng được môi trường an ninh và ổn định cho sự phát triển lâu dài.

3 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế nhằm tiến tới việc xây dựng sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.

Trong Thư gửi Liên hợp quốc (năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(10). Kèm đó, Người nêu ra một số giải pháp cụ thể như Việt Nam sẽ dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan… Ngay trong những năm kháng chiến, Người đã dự tính: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(11). Rõ ràng, những nét lớn đó đã phác họa cả một chương trình phát triển và hợp tác với các nước, với các đối tác mà Người đã định liệu từ 40 năm trước khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới.

Bàn về quan hệ hợp tác, Người luôn nhấn mạnh đến thực lực của bản thân là nhân tố quyết định thành công. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, Người thường nhắc nhở phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người đặc biệt nhấn mạnh: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”.(12)

Có thể thấy ở đây một lời cảnh báo nghiêm khắc, chẳng những đúng trong thời kỳ chiến tranh mà có ý nghĩa rất thiết thực với mối quan hệ hợp tác trong thời kỳ hòa bình. Trong công tác ngoại giao, Người dặn dò: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”(13). Nói rộng ra, thực lực trước hết phải xuất phát từ việc định ra đường lối đúng phù hợp với mục tiêu và hoàn cảnh của nước ta mà không ai có thể làm thay, cũng không thể để cho ai làm thay được. Đó chính là tính độc lập tự chủ trong đường lối phát triển, trong việc hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp thực hiện.

Ngày nay, trong mối quan hệ đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa, việc kiên trì đường lối độc lập, tự chủ là một thách thức lớn, đồng thời là một nguyên tắc không thay đổi. Xuất phát từ mục tiêu lâu dài và hoàn cảnh hiện nay, Đảng khẳng định “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế” như nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã chỉ rõ. Đó chính là đường hướng chung để xử lý các vấn đề cụ thể trong quan hệ quốc tế của nước nhà nhằm bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính.

Chúng ta bước vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn toàn cầu hóa nhằm mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, tiếp thu khoa học – công nghệ tiên tiến. Nước ta vốn xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, sự hội nhập kinh tế quốc tế quả là không dễ dàng. Thành tựu hơn 20 năm đổi mới đánh dấu sự đúng đắn của chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện sự nỗ lực và bước phát triển của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song, khó khăn còn nhiều, thách thức còn ở phía trước. Xây dựng cho được một nền kinh tế tự chủ, có thực lực là bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội. Bởi vì chỉ có thực lực thì mới có thể hội nhập thành công vào các hoạt động kinh tế thế giới với sự khắt khe của quy luật cạnh tranh và sự ganh đua không nhân nhượng của các đối tác.

4 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế cần “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn”(14).

Với phương châm “thêm bạn bớt thù”, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ ai là bạn, ai là thù, phân hóa “bạn”, “thù” ngay trong hàng ngũ đối phương để giành được sự đồng tình, ủng hộ nhiều nhất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ: “Chúng tôi không ghét không thù gì dân tộc Pháp… Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”(15). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc lại quan điểm đó: “Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng”(16); “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”(17). Nhờ quan điểm đúng đắn đó mà ở Pháp và ở Mỹ đã dấy lên phong trào các tầng lớp nhân dân đòi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tiếng nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã tác động vào nghị viện và chính phủ buộc giới cầm quyền phải ký hiệp định đình chiến, rút quân về nước. Có thể nói trong lịch sử thế giới, hiếm có trường hợp nào mà cuộc chiến đấu của một dân tộc lại giành được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đối phương rộng lớn, mạnh mẽ đến vậy. Nguồn gốc cơ bản là do chính nghĩa thuộc về chúng ta, với quan điểm đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đó.

Theo đường lối đổi mới, Việt Nam mở rộng mối quan hệ bạn bè, đối tác gồm những ai phấn đấu vì mục tiêu chung là “hòa bình, độc lập và phát triển”. Trong quan hệ đó vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Những ai đi đúng mục tiêu và nguyên tắc đó, tôn trọng độc lập chủ quyền, xây dựng quan hệ bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đem lại lợi ích cho tất cả các bên thì đều là bạn, là đối tác của ta. Những ai đi ngược những điều trên, có âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Nhưng, trong mỗi đối tượng cũng có mặt cần tranh thủ, trong mỗi đối tác cũng có điều phải đấu tranh, đấu tranh để hợp tác. Sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh sẽ làm cho chúng ta tranh thủ được nhiều lực lượng ủng hộ và hạn chế những thế lực thù địch chống phá ta, tránh trực diện đối đầu, tự đẩy mình vào thế cô lập hoặc lệ thuộc.

5 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải “dựa vào lực lượng nhân dân” ở trong nước cũng như trên thế giới.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pa-ri với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp. Ngoài những buổi tiếp xúc chính thức với đại diện chính phủ và các chính khách, Người dành nhiều thời gian gặp gỡ các đoàn thể quần chúng, giới báo chí và đông đảo Việt kiều. Qua các cuộc trò chuyện thân tình, Người đã phân tích tính chất chính nghĩa của nước Việt Nam mới, bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, chia sẻ niềm lo âu với các bà mẹ, người chị có con em bị điều sang Đông Dương. Nhờ vậy cuộc kháng chiến của Việt Nam đã tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân Pháp và chính họ đã góp phần tích cực vào việc buộc chính phủ Pháp phải đình chiến và rút quân khỏi Đông Dương. Về sau, Người cũng viết nhiều bức thư, gửi những lời nhắn nhủ đến nhân dân Mỹ để làm rõ tính chất xâm lược của đội quân viễn chinh Mỹ, nêu bật tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người khơi gợi ở thanh niên, sinh viên và nhân dân Mỹ truyền thống đáng tự hào của nước Mỹ với những tên tuổi Oa-sinh-tơn, Lin-côn, Ru-dơ-ven; Người chia sẻ nỗi đau của những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng trên chiến trường xa không vì mục đích lý tưởng cao cả. Trong các cuộc đi thăm các nước, Người cũng hòa vào quần chúng, thân mật thăm hỏi và khích lệ từ các cháu thiếu nhi, thanh niên đến các bậc phụ lão. Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu phục trái tim nhân dân thế giới, đi vào lòng người, tạo nên sức mạnh tinh thần ủng hộ Việt Nam. Đó chính là “ngoại giao tâm công”, nền tảng của đường lối đối ngoại nhân dân, một mặt trận rộng lớn kết hợp chặt chẽ với hoạt động đối ngoại của Đảng và của Nhà nước.

Với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa ngày nay, cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài được mở rộng, hoạt động đối ngoại không chỉ thu hẹp trong các cơ quan ngoại giao mà đã bao gồm toàn xã hội. Bất cứ ai, từ học giả, doanh nhân cho đến bất cứ người dân thường nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài. Chính sự gặp gỡ đó là dịp giao lưu văn hóa, thể hiện đất nước và con người Việt Nam, phản ánh thành tựu kinh tế và xã hội Việt Nam. Cho nên tạo được những ấn tượng đẹp, tình cảm sâu trong con mắt người nước ngoài cũng là đóng góp vào thành quả của đối ngoại nhân dân. Đồng thời sự giao lưu với nước ngoài cũng tạo điều kiện để chúng ta hiểu biết về thế giới, về văn hóa thế giới và qua đó có thể tiếp thu điều hay, lẽ phải, đồng thời hạn chế những mặt xấu, tiêu cực. Như vậy, đối ngoại nhân dân chính là một mặt trận góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

*
*    *

Điểm lại một số nét cơ bản trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm sâu công ơn của Người và ra sức thực hiện những lời Người để lại. Tinh thần và tình cảm quốc tế của Người được ghi sâu đậm nét trong lời kết của bản Di chúc thiêng liêng: “Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Bốn mươi năm Bác đã đi xa, lời Người nhắn nhủ vẫn còn vang mãi với non sông, với đời đời con cháu./.

——————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội ,1996, t 12, tr 509
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 301
(3) Văn kiện Đảng: Toàn tập (1940 – 1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 114
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 220
(5) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 437
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 19
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 434
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 303
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 489
(10), (11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 470, tr 74
(12) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 7, tr 244
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 126
(14) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 27
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 65
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 271
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 93

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đội ngũ đảng viên. Ngay từ năm 1925, bài giảng đầu tiên của Người cho những cán bộ cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam là vấn đề “tư cách một người cách mệnh”.

Nghiên cứu những bài nói và viết của Người, chúng ta đều thấy mối quan tâm hàng đầu của Người là xây dựng một đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản.

Người căn dặn mỗi đảng viên “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”; phải biết đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết; nếu khi “lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng”. Người chỉ rõ: suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân “là phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là đạo đức cách mạng. Đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của đảng, của giai cấp, của nhân dân”. Người đánh giá rất cao những đảng viên luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động.

Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, “Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Muốn vừa thạo về chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của mình”. Bởi vì, có học tập lý luận Mác – Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải “biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một yêu cầu quan trọng về phẩm chất đảng viên là liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể và sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng. Bởi lẽ, Đảng là đội tiên phong của quần chúng, nhưng Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên “phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo…Phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công, vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Người nghiêm khắc phê phán những đảng viên “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng…ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng…mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, không yêu…” và họ không làm nên trò trống gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu…sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Việc giữ gìn bản chất, tư cách đảng viên cộng sản cần gắn với xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, nhất là chi bộ, vì chi bộ “là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”. Thực tế đã chứng minh rất rõ: ở đâu chi bộ mạnh, cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh, ở đâu chi ủy, chi bộ rệu rã thì ở đó cán bộ, đảng viên tê liệt sức chiến đấu, dễ trở thành hư hỏng, thoái hoá. Cho nên, trong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chi bộ, các cấp ủy đảng phải thực hiện dân chủ nội bộ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời giúp họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống và công tác. Song, phải nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm; tẩy bỏ những phần tử hủ hoá nhằm giữ gìn nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới.

Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải “mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên”. Người còn vạch rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đồng thời, Người yêu cầu phải tăng cường công tác kiểm tra trong Đảng nhằm “thúc đẩy và giáo dục đảng viên làm trọn nhiệm vụ…,làm gương mẫu cho nhân dân” và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đứng trước những vận hội mới và thách thức mới, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết chúng ta phải giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, xây dựng các tổ chức chi bộ vững mạnh, rèn luyện tư cách đảng viên với phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đảng viên cộng sản nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm củng cố tổ chức đảng, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đại tá, PGS.TS. Đinh Hùng Tuấn

vannghedanang.org.vn

Bản lĩnh Hồ Chí Minh

Tác giả: TƯƠNG LAI

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh

Bản lĩnh Hồ Chí Minh là sự kết tụ và phát huy mạnh mẽ và sáng tạo bản lĩnh dân tộc Việt Nam ta trong tư tưởng, trong hành động, trong mọi ứng xử của “con người giàu chất người nhất trên thế giới này” (1)

Kỷ niệm 120 ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh giục giã những ai đang suy tư về vận nước nghĩ về bản lĩnh cần phải có để đủ trí lự và quyết tâm vượt lên mọi thử thách, có cái đã có tiền lệ mà ông cha ta cũng như Hồ Chí Minh đã chủ động đối phó một cách tuyệt vời, đồng thời cũng có những cái chưa có tiền lệ. Suy ngẫm kỹ về thực trạng, xem ra lúc này, bài học từ Hồ Chí Minh cấp bách nhất, trực tiếp nhất song cũng thuộc loại khó nhất là bài học về bản lĩnh của Bác.

Bản lĩnh là một khái niệm vừa trừu tượng, nhưng cũng vừa rất cụ thể. Bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ truyền thống dân tộc, một dân tộc vốn nằm trong thế kẹt oái oăm của vị trí địa-chính trị, mà muốn tồn tại và phát triển thì phải phát huy đến mức cao nhất khí phách “có cứng mới đứng được đầu gió”, “sóng cả không ngả tay chèo” sóng gió hung bạo và dữ dằn của Biển Đông, không chỉ từ trời mà thường trực hơn, xảo quyệt hơn là từ người.

Bàn về sự phát trịển của các nền văn minh, nhà sử học lớn nhất thế kỷ XX, Arnold Toynbee đưa ra luận điểm: “Thiên nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua. Nếu con người chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh của họ”.

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta là một minh chứng sống động cho luận điểm đó. Chúng ta có đủ bản lĩnh vượt qua những nghịch lý để đi tới. Thiên nhiên đã vậy, nhưng con người Việt Nam không chỉ phải “chọi lại thách thức” của thiên nhiên mà quyết liệt hơn là phải thường trực “chọi lại” với những thế lực ngoại xâm hung bạo vốn trường kỳ theo đuổi mục tiêu thôn tính cái dân tộc nằm ngay trên ngã tư giao thương quốc tế từ Ấn Độ dương sang Thái Bình dương, đầu cầu của vùng Đông Nam Á, cứ khăng khăng không chịu thần phục, không chịu đồng hóa. Nếu không có bản lĩnh, dân tộc này đã bị diệt vong từ lâu rồi.

Xin gợi một ví dụ thay cho những giải thích dài dòng : Khi cuộc đàm phán về Hiiệp định Paris sắp ngã ngũ, H. Kissinger nói một câu đại ý: “nếu Việt Nam chỉ anh dũng thì Mỹ thừa sức đè bẹp, nhưng chúng tôi không thể đè bẹp được vì các anh vừa anh dũng vừa thông minh”.

Trong chuyến thăm Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, dừng lại trước các cọc gỗ Bạch Đằng và được nghe về ba lần đánh thắng Nguyên Mông, trả lời câu hỏi đùa của ông Lê Đức Thọ : Mỹ có muốn đánh với Việt Nam ba lần không, ông Kissinger nói “Tôi xin ông, một lần đã là quá đủ lắm rồi”! Khi xem bản ghi câu thơ của Lý thường Kiệt “Nam q1uốc sơn hà nam đế cư”…Kissinger lại nói : “hình như tôi đã nghe câu này ở đâu nhiều lần rồi”, và tiếp “À, đây là chương I điều 1 của bản Hiệp định Paris”! (2)

Liệu ông Kissinger có biết những chiếc cọc gỗ mà ông nhìn thấy đó không chỉ đã dìm chết quân Nguyên vào thế kỷ XIII, mà trước đó hai thế kỷ đã được Ngô Quyền sử dụng để chọc thủng thuyền, dìm chết quân xâm lược nhà Tống. Và sẽ càng thú vị hơn, nếu học giả Kissinger lại được biết thêm rằng, hiện vẫn còn miếu thờ một bà lão mở quán nước bên đường đã mách nước cho Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương để ngài bày binh bố trận tiêu diệt quân xâm lược. Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo đã cho lập nên miếu thờ ấy!

Trên đất nước này, cơ man là những miếu thờ, đền thờ những vị anh hùng cứu nước xuất thân áo vải chân đất, và nếu thống kê tất cả các vị thành hoàng được thờ tại các làng để thấy ngoài những tổ phụ ngành nghề thì tuyệt đại bộ phận là những người có công với nước. Có hiểu sâu điều này, mới hiểu được về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Bản lĩnh ấy được thôi thúc và định hình từ truyền thống một gia đình sĩ phu, khoa bảng, nơi con người xứ Nghệ được tôi luyện trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà trước hết là đất đai và thời tiết. Bản lĩnh ấy được khẳng định từ buổi khởi đầu của hành trình tìm đường cứu nước với hai bàn tay và nghị lực phi thường được nung nấu từ trái tim yêu nước mãnh liệt của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, bôn ba khắp năm châu, bốn biển để rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ quốc tế vốn nặng lòng vì đất nước .

Từ những bước đi ban đầu trên hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi trở thành người lèo lái con thuyền đất nước vượt qua bao phong ba bão táp để cập bến an toàn là sự chứng minh sinh động bản lĩnh ấy.

Nguyễn Ai Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp. Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung.

Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Chính với cái tầm ấy mà Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ trước, phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước, vì vậy, từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

So với C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, cũng như so với những chí sĩ Việt Nam khác như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng. Nhưng bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách và phẩm chất Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp để hiểu ra rằng: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Chính những yếu tố đó đã nung nấu, chưng cất và kết tụ lại để định hình bản lĩnh Hồ Chí Minh!

Làm sao có thể kể ra đủ những sự kiện, những hành vi, những tư tưởng thể hiện bản lĩnh ấy, xin chỉ nói đôi điều gợi ý trực tiếp nhất cho viện rèn bản lĩnh theo gương Bác Hồ đối với tuổi trẻ, để mà dồn trọn niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng của dân tộc vào nguồn sinh lực bất tận của dân tộc.

Trước hết là dám có chính kiến và đấu tranh để bảo vệ chính kiến đó. Về bước khởi đầu, trong trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Bác nói: “Những người Việt Nam, trong đó có cả cha tôi, thường tự hỏi nước nào có thể giúp phá bỏ ách đô hộ của người Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, những người khác cho rằng nước Anh và một số khác lại cho rằng nước Mỹ. Tôi cho rằng cần phải ra nước ngoài để tự tìm lấy câu trả lời cho mình”.

Mùa Xuân năm 1925, trong thư gửi một học giả yêu nước, Nguyễn Ái Quốc viết : “Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng trước hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng “tại sao người Pháp lại có thể đàn áp chúng ta? Tại sao dân ta lại ngu muội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công?” (3) Quả thật không dễ gì có những câu “tự hỏi” ấy!

Nhưng chính là bắt đầu từ những câu hỏi đó mà hành trình tư duy của Người ngày càng mở rộng và bay cao cùng với những bước chân bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường cứu nước.

Trong các cuộc tranh luận để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Pháp mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những thành viên sáng lập, Nguyễn dám mạnh mẽ chất vấn : “Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì “? (4)

Từ quan điểm đó, Nguyễn tự mình vận động, thuyết phục bạn bè, đồng chí của mình để rồi cuối cùng sáng lập nên một tờ báo nhằm tuyên truyền phổ biến “quan điểm cách mạng” ấy. Tờ báo “Người cùng khổ” ra đời từ ý tưởng ấy mà Nguyễn vừa là người chủ bút, người in ấn, người phát hành cùng vài người đồng chí chí cốt giúp đỡ.

Từ chính kiến của mình mà dám đặt lại những vần đề lý luận mang ý nghĩa đột phá của sự vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng. Chẳng hạn, vào năm 1924 người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã dám đặt ra vấn đề : “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” vì thế, theo Nguyễn, phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”! (5)

Có hiểu bối cảnh đề xuất luận điểm ấy, khi mà quyền lực và ý chí của Stalin được áp đặt một cách tuyệt đối trong đời sống lý luận cũng như trong hoạt động của các đảng cộng sản mới thấy hết được bản lĩnh của Hồ Chí Minh khi dám đưa ra những kiến nghị “động trời” đó! Không phải là Nguyễn không dự kiến được những hệ lụy mà mình sẽ phải gánh chịu, và thực tế thì Người đã từng phải gánh chịu. Thế nhưng Nguyễn không thể không nói lên một sự thật đang diễn ra là  ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây…Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” (6)

Độc lập suy nghĩ và dám chịu trách nhiệm về những suy nghĩ và những kiến nghị của mình vì Nguyễn có một trái tim đập cùng nhịp với đời sống của nhân dân mình.

Theo William J. Duiker, tác giả của cuốn sách về Hồ Chí Minh xuất bản ở New York năm 2000 thì “đây là một nghịch lý táo bạo, nhưng lại là một thực tế tuyệt vời “. Không dám nghĩ về những “nghịch lý táo bạo”, chỉ biết đi theo con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước trong một thề giới đầy biến động mà mọi dự đoán đều không chắc chắn  thì làm sao có thể hướng đến mục tiêu mong muốn.

Chính vì thế, trong những cuộc tranh luận để đi tới thành lập Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc suy nghĩ nhiều về một câu nói của Jaurès, nhà cách mạng Pháp được người ta nhắc đến: “trung thành với truyền thống không có nghĩa là quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma, mà trái lại đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”.

Cho nên, nói đến truyền thống là nói đến yếu tố “động’ của truyền thống mà không thể dừng lại ở những cái tĩnh, cái “đã định hình” ru ngủ cái gọi là sự “ổn định” vốn có quán tính là khước từ mọi sự canh tân. Nó củng cố tính bảo thủ được khoác cho những tấm áo đủ mọi màu sắc để xoa dịu những số phận bị kìm hãm, để đánh lừa những đầu óc muốn đổi mới.

Cung cách “sống lâu lên lão làng”, cái trật tự “lão quyền”, “ông bảy mươi phải hỏi ông bảy mươi mốt” đã làm thui chột sức trẻ và sự năng động sáng tạo của tuổi trẻ. Chính đấy là mảnh đất nuôi dưỡng sự trì trệ, được củng cố bằng chủ nghĩa bình quân, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa quan liêu!

Biện chứng của cuộc sống, biện chứng của sự phát triển đòi hỏi phải tấn công vào sự “ổn định trì trệ” ấy. Nếu chỉ quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn như đã nói ở trên.

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh.

Và khi đã xác định rõ con đường, bản lĩnh thể hiện ở quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu đã vạch ra. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một đoạn giúp khắc họa rõ nét bản lĩnh ấy : “Đêm ấy tôi nghỉ lại với Bác trên cái lán giữa rừng. Lúc nào tỉnh, Bác chỉ nói chuyện tình hình : “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Mỗi lúc nhớ ra điều gì, Bác lại dặn. Bác lúc ấy chắc cũng thấy mình yếu quá, có ý muốn dặn lại công việc. Chỉ có công việc!”.

Chính bản lĩnh ấy giúp dự liệu mọi khó khăn và giải pháp vượt qua khó khăn. Chẳng hạn như, ngày 11.9.1946, trả lời phóng viên “Thời báo New York” liệu chiến tranh có phải là tất yếu không, Hồ Chí Minh khẳng định: “Có. Chúng tôi buộc phải chiến đấu…. Chiến tranh là gian nan và đau buồn nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí hùng mạnh như những khẩu đại bác hiện đại, đó là tinh thần dân tộc…Tinh thần con người còn mạnh mẽ hơn máy móc. Và máy móc không thể có hiệu quả trong đầm lầy và rừng rậm. Hàng triệu mái lều tranh có thể được coi như con ngựa thành Tờ-roa để ngăn chặn quân xâm lược…”.

Niềm tin không gì lay chuyển nổi ấy là hệ quả của tính kiên định và sự minh triết trong tư duy của một bản lĩnh đã được tôi luyện khiến nhiều dự phóng của Bác Hồ như những lời tiên tri. Ví như, năm 1941, trong cuốn sách nhỏ viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta”, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết : “1945-Việt Nam độc lập”! Cũng trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy có người hỏi Bác về điều này, Bác chỉ trả lời : “Để xem sao”!

Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2.9.1960, Bác nói : “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30.4.1985 cho thấy : Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Hay như chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh của bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội! (7)

Có người nói đó là dấu ấn của thiên tài. Có thể như vậy. Thế nhưng, phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của một bản lĩnh tuyệt vời, bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn.

Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà vì mục tiêu đó Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán, thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Không kiên định tinh thần Tổ quốc trên hết, không thể bản lĩnh vạch ra quyết sách sáng suốt tuy đau đớn ấy.

Cũng với bản lĩnh đó mà Hồ Chí Minh chủ trương đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951 mà mục tiêu trước hết là để “nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”.

Đúng là “Hồ Chí Minh là người linh hoạt, chủ động, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ tuổi thanh niên đến cuối đời. Có thể nói con người ấy có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Có được điều đó vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại” (8).

Với những phẩm chất được hun đúc, trui rèn trong ngọn lửa chiến đấu hơn nửa thế kỷ, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, người thanh niên yêu nước, bằng bản lĩnh phi thường của mình đã trở thành Hồ Chí Minh. Đúng là không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Người được lịch sử chọn lựa làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng được đòi hỏi của đất nước, của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại.

Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín mùi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài. Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực.

Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy, đó là hôn quân, bạo chúa và những gian hùng bị người đời phỉ nhổ. Phải chăng sự bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn ấy. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị lừa bịp như C.Mác đã từng chỉ ra. [“Lời nói đầu của Phê phán triệt học pháp quyền của Hégel]. Hạnh phúc và may mắn biết bao khi dân tộc ta có được một lãnh tụ như Hồ Chí Minh, một bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Điều cần nói thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc, được hình thành từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước” Hồ Chí Minh luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà Người gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, vì “nếu nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”!

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim”9. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng , quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Cho nên, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được !

__________________

Chú thích : Ghi để biết xuất xứ, không cần phải đăng nếu tòa soạn thấy không cần thiết

1. Theo Việt Phương. Vietnamnet ngày 15.5,2010
2. Theo Võ Văn Sung. “Suy ngẫm về trường phái ngoại giaoHồ Chí Minh”NXBCTQG.2010, tr. 62
3. Theo  William Ducker trong “Hồ Chí Minh” Heperion New York 2000
4.5,6 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1. NXBCTQG. 1995, tr. 466
7. “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” NXBQĐND. Hà Nội, 1990. tr.224
8. Phạm Văn Đồng “Hồ Chí minh, Quá khứ Hiện tại và Tương lai” Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991,tr.29, tr.98
9. G.W.F.Hegel. “Hiện tượng học tinh thần.” Bùi văn Nam Sơn dịch. NXB Văn học 2006, tr.769.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – tư tưởng bất diệt

Hồ Chí Minh quan niệm: Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống nhân ái của dân tộc ta. Nhân dân ta đã trải qua mấy ngàn năm chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, bão lụt, khai hoang mở đất. Nhân dân ta lại phải chống chọi với nạn ngoại xâm liên miên từ phương Bắc xuống, rồi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược. Công cuộc lao động gian khổ và chiến đấu hy sinh hun đúc nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, trong đó nổi bật là lòng nhân ái, là tư tưởng nhân văn, nhân đạo.

Tình đoàn kết, yêu thương lẫn nhau “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Thương người như thể thương thân” là nét đẹp nổi bật của con người Việt Nam, nhất là trong cơn hoạn nạn, rủi ro. Lòng nhân ái của từng người dân đã gắn chặt vận mệnh của họ với sự sống còn, tồn vong của dân tộc, với sự hùng cường, thịnh trị của Tổ quốc. Càng yêu con người, càng thương con người, càng có thêm ý chí kiên cường, bất khuất, dám xả thân, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; dám vươn lên để tìm con đường thoát cho dân tộc khỏi đói nghèo, xây dựng đất nước cường thịnh.

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong lòng một dân tộc có truyền thống nhân ái lại tiếp nhận được những tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây, về “đạo làm người” của Nho giáo, về “cứu khổ cứu nạn”, nhân ái, khoan dung của Phật giáo; về lý tưởng nhân văn thời cách mạng tư sản đang lên, chống phong kiến, giải phóng xã hội… Từ khi đến với chủ nghĩa Mác Lênin, thấm nhuần học thuyết nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác, tư tưởng nhân văn ở Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến bước ngoặt mang tính tổng hợp từ nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người gắn với lòng tin ở con người, dùng sức của con người để giải phóng con người, trọng nhân tài, vì con người và phục vụ con người với chữ Người viết hoa.

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vô cùng rộng lớn. Có thể nêu lên mấy khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, thương yêu con người, thương yêu nhân dân, hết sức bao la, thắm thiết. Người từng nói “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người phải là thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”(1).

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh xuất phát từ tình yêu thương của những người đồng cảnh ngộ, mất nước, bị nô lệ, cùng chung số phận bị áp bức bóc lột, đi tìm lối thoát cho dân tộc. Khi bôn ba nơi hải ngoại, chứng kiến cảnh bị áp bức bóc lột của công nhân, của nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, chứng kiến cảnh bị áp bức của nhân dân các thuộc địa khác, tình yêu thương con người ở Người mở rộng sang yêu thương những người cùng cảnh ngộ, những người lao động nghèo đói, “cùng khổ, thiếu thốn”, những người thuộc các dân tộc khác có chung số phận với dân tộc Việt Nam. “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”, Người đã từng nói như vậy.

Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công. Mục tiêu của Hồ Chí Minh đã từng nói rõ trong Lời ra mắt của báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1921: “đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người”.

Với mục tiêu được xác định, Người trở về nước thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Với đường lối đúng đắn mà Người đề ra, tập hợp xung quanh mình những nhân tài trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều độ tuổi, đoàn kết toàn dân tộc vào một Mặt trận thống nhất và tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất và xây dựng cuộc sống mới.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Người đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và diệt giặc dốt cùng với việc chống giặc ngoại xâm. Trước mắt, phải xoá đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm”(2). Kinh tế có phát triển đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Người từng nói “Tôi thấy các cháu bụng ỏng, mắt choẹt, tôi hết sức đau lòng”. Người yêu cầu những người lãnh đạo chính quyền phải chăm lo đến đời sống nhân dân, phải chăm lo từ việc “tương cà mắm muối của dân”, không được ức hiếp quần chúng nhân dân.
Bác Hồ thăm hỏi đồng bào dân tộc Pác Pó, Cao Bằng năm 1961.
Người chăm lo đến việc nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xoá nạn mù chữ, phát triển giáo dục. Người từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người yêu cầu Đảng cầm quyền phải chăm lo đến nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân, chăm lo phát triển mọi mặt của dân tộc ta. Người thường nói chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn ngu dân để đầu độc dân tộc ta, để hủ hoá nhân dân ta bằng những thói xấu như lười biếng, gian xảo, tham ô…Cho nên phải làm sao để dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động , một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở nhân dân Việt Nam mà là tình bác ái bao la. Người từng vạch rõ “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ… Phải thực hành chữ bác – ái” (3).

Người còn nói “Lòng yêu thương của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi” và trước lúc vĩnh viễn đi xa, Người viết ” Đầu tiên là vấn đề con người” và “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Hai là, Bác Hồ tin tưởng vững chắc vào khả năng và phẩm giá tốt đẹp của con người. Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… về sức mạnh của nhân dân: “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ”; “đẩy thuyền cũng là dân, mà lật thuyền cũng là dân”. Người còn kế thừa tư tưởng nhân văn “lấy dân làm gốc” và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết Mác để hình thành tư tưởng nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động.

Người nói “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (4).

Trong điều kiện bị đế quốc thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã man, cùng với chính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa tưởng chừng không thể gượng dậy nổi, song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình”… đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến…” và “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”.

Trong quá trình đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõ vấn đề thuộc địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ cho chính mình. Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, “người là gốc của làng nước”, “nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền”, “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (5),

Người còn nói rằng: “Dân như nước, mình như cá”, “lực lượng nhiều là ở dân hết”. “Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân”. Do đó, Người yêu cầu “Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân”. Ngày nay, nội dung trên càng có ý nghĩa lớn lao, bởi nếu chúng ta biết tiến cử nhân tài, dùng nhân tài đúng lúc, đúng chỗ, mạnh dạn cất nhắc nhân tài trong mọi lĩnh vực thì sẽ càng làm lợi cho dân.

Ba là, chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát động sức mạnh của con người, của nhân dân. Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thương dân bị nô lệ, Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Suốt cuộc đời của người là vì dân, vì nước.

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:

“1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành”.

Người còn nói “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(6).

Trong kháng chiến, kiến quốc, Người luôn chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Vì dân, vì con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người. Song ở Người, sự nghiệp đó chính là của nhân dân. Đoàn thể, Nhà nước phải là người tổ chức nhân dân, biết đem sức dân, tài của dân mà đem lại lợi ích cho nhân dân.

Do vậy, khi có chính quyền rồi, Người luôn nhắc nhở phải xây dựng bộ máy trong sạch, đấu tranh với những biểu hiện của thói quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân; phải dựa vào nhân dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống mới trong nhân dân…

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện. Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, theo Người phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(7), Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Ngay cả những người đã lầm đường lạc lối, Hồ Chí Minh cũng tỏ rõ sự khoan dung, độ lượng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ (8).

Cả cuộc đời của Người là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

PGS.TS Lê Doãn Tá

(VietNamNet)

(1) Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb.Pháp lý, H.1990, tr.174
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.65
(3) Sđd, t.5, tr.644
(4) Sđd, t.8, tr.276
(5) Sđd, t.5, tr.410
(6) Sđd, t.4, tr.152
(7) Sđd, t.12, tr.558
(8) Sđd, t.4, tr.246

vannghedanang.org.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh – Một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động

1. Quan niệm về đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân cách mạng.

Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Khi trả lời một nhà báo nước ngoài về điều quan tâm lớn nhất của mình trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nói: độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào. Đó là tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết. Với Hồ Chí Minh, đó chính là điều ham muốn, ham muốn tột bậc của mình, sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân có tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống một cuộc sống hạnh phúc. Ở đây, cái cụ thể, thiết thực và giản dị nhất mang hình ảnh biểu đạt cái lớn lao, cái vô giá, sâu xa nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển và hoàn thiện nhân tính trong đời sống dân tộc và xã hội. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, đó là hệ giá trị chủ đạo của mục tiêu Giải phóng và Phát triển. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là con đường lớn lao của lịch sử mà thời đại mới đã vạch ra, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã nhận thức được và dẫn dắt toàn dân tộc đi tới. Với hệ giá trị mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo cách mạng của thời đại và sự phát triển của dân tộc Việt Nam hợp với trào lưu, xu thế của thế giới hiện đại. Thực hiện một đường lối chính trị lớn như vậy đòi hỏi Đảng cách mạng, người cách mạng phải có trí tuệ lớn và đạo đức lớn. “Đường Cách mệnh”(1927) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ khi Đảng chưa ra đời đã nói tới hai điều hệ trọng: “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”. Suy đến cùng, đây là chỗ cao sâu nhất mà cũng là thử thách khó khăn nhất của đời người. Thời gian càng lùi xa, lịch sử càng chất chứa những biến cố thăng trầm, phong trào Cách mạng càng phát triển thì dự cảm nêu trên của Người chứng tỏ rõ tính đúng đắn và sáng suốt biết bao. Đó là tính đúng đắn của chân lý và sự sáng suốt của lịch sử.

Đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Hồ Chí Minh là cả một hệ thống lý thuyết tư tưởng phong phú và tinh tế, nổi bật các đức tính, chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử, lại được diễn tả cô đọng hàm xúc trong hình thức tối thiểu của ngôn từ. Đó là “Cần, kiệm, liêm, chính” – bốn đức tính để làm người mà thiếu một đức thì không thành người, có đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn.

Đó là, nguyên tắc ứng xử chí công vô tư, là bản lĩnh biết quên mình, biết vượt qua những vướng bận toan tính cá nhân để vì người chứ không vì mình, vị tha chứ không vị kỷ. Bản lĩnh này là sức mạnh bền bỉ để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng giặc nội xâm, suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng một chân lý lớn nhất, là lẽ sống cao thượng nhất. Trên phương diện đời sống cá nhân, trong quan niệm giữa con người – chủ thể hoạt động với cá nhân chủ thể mang nhân cách, đây là cuộc hành trình tới Tự do. Sự hoàn thiện đạo đức là một bản lĩnh văn hoá dẫn tới nhân cách của con người tự do và làm chủ. Xưa nay, khó khăn lớn nhất vẫn là khó khăn tự vượt qua chính bản thân mình.

Triết lý đạo đức Hồ Chí Minh “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” sâu xa là vì vậy.

Người không chỉ nhận rõ chân giá trị ấy mà Người còn tự mình thực hiện một cách triệt để, nhất quán trong cả cuộc đời mình. Nội dung đạo đức trong “Di chúc” nổi bật tư tưởng lớn: tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

Bài báo cuối cùng Người viết cũng vẫn chủ đề ấy, theo đuổi đến cùng tư tưởng đạo đức ấy.

Người không chỉ thực hành và nêu gương mà còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. Việc ”trồng người” là việc của lợi ích trăm năm, của chiến lược xây dựng một xã hội văn hóa cao, phải công phu tỷ mỷ, phải dựa trên một nguyên tắc ứng xử thấm nhuần sâu sắc chất nhân văn, phải có tấm lòng nhân ái bao la, khoan dung độ lượng và độ lượng vĩ đại. Có nâng niu giá trị con người, có tôn trọng nhân cách và lòng tin cậy chân thành đối với con người thì mới có sức mạnh cảm hóa, thuyết phục lòng người.

Làm cho cái hay, cái tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân còn cái dở, cái xấu sẽ mất dần đi. Khoa học và Nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh có nội dung bao trùm và chủ đạo là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức gắn liền mật thiết với tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí nổi bật, có giá trị bền vững với những đặc tính sáng tạo độc đáo cần được cảm thụ để tự nhận mình và tự giáo dục mình theo gương sáng của Người. Trên phương diện này (đạo đức), Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức học. Người không phải là nhà đạo đức học hàn lâm, kinh viện mà là một nhà đạo đức học thực hành, thực hành một cách biện chứng, sáng suốt, đầy chất trí tuệ và nhân văn. Lý thuyết đạo đức Hồ Chí Minh chuyển vào thực tiễn đạo đức xã hội mà đời sống đạo đức của Người như một tấm gương sáng tiêu biểu về đạo đức. Đó là một nét riêng, tính đặc thù riêng, in đậm dấu ấn, phong cách riêng của Hồ Chí Minh. Người vẫn thường căn dặn chúng ta, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động. Chỉ nói và viết khi cần thiết, lại phải nói và viết ngắn gọn, giản dị sao cho quần chúng dễ hiểu. Hiểu để làm, để làm đúng và làm tốt. Hơn nữa, để quần chúng noi theo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thì phải làm, lời nói đi đôi với việc làm.

Đây là thước đo tính trung thực đạo đức, là sự thành thật, là ”thật thà nhúng tay vào việc” (Dân vận, 1949). Cái bản chất chân chính của Khoa học đạo đức gặp nhau ở đó – cái ”Chân” xa lạ, đối lập với cái “giả”. Đạo đức hành động vì mưu cầu tự do, hạnh phúc cho con người là động lực tinh thần thúc đẩy hành động quên mình, dũng cảm, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng những người lao động ra khỏi tình cảnh nô lệ, thực hiện tự do và làm chủ. Nó bắt gặp và thực hiện khát vọng giải phóng của muôn triệu người tự muôn đời. Đạo đức ấy và thực hành đạo đức ấy hợp với lòng dân, được dân chúng noi theo, trái lại, thói giả đạo đức là một trong những điều tệ hại nhất, mất lòng tin nhiều nhất của dân chúng. Người nói, một tấm gương tốt quý giá hơn hàng trăm bài diễn văn là vì vậy.

Như thế, đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Tư tưởng đạo đức là phần lý luận, là triết lý của Người. Ngoài bộ phận cốt yếu ấy, thuộc về nhận thức, đạo đức Hồ Chí Minh còn là phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức mà Người đặc biệt chú trọng trong thực tiễn, trong lối sống, ứng xử, trong quan hệ con người, trong các công việc thực tế để rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn có một phương diện, một cấp độ nữa, đó là đời sống đạo đức của bản thân Người với tư cách là một con người bình thường giữa muôn người khác, dù hết sức vĩ đại nhưng lúc nào và ở đâu, Người cũng chỉ coi mình là một con người bình thường giữa muôn người khác. Bỏ qua phương diện này trong nghiên cứu sẽ là một thiếu hụt lớn, sẽ không thể hình dung được sự sâu sắc, phong phú, đa dạng trong tư tưởng và sự nghiệp của Người, trong thế giới tinh thần, lối sống và nhân cách của Người.

Tổng hợp cả ba phương diện ấy, nhìn nhận từ ba chiều cạnh ấy, trong sự thống nhất tư tưởng với phương pháp, lý luận với thực tiễn mới có thể nhận thức đầy đủ Đạo đức Hồ Chí Minh

Có một vấn đề cần lưu ý trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là muốn hiểu đúng tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức, thì không chỉ dừng lại ở phân tích các văn phẩm, tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhất là khi sự tinh tuý và thâm thuý trong tư tưởng của Người lại không nằm ở trong lời văn, câu chữ mà vượt lên và thoát ra khỏi những lời, những chữ Người nói, Người viết. Cùng với điều đó còn phải đặc biệt chú trọng tìm hiểu nghiên cứu đời sống đạo đức của Người, hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người, sự phong phú của các mối quan hệ giữa Người với Dân, với Đảng, với các địa phương, vùng, miền trong cả nước, với các bạn bè quốc tế, tình cảm yêu mến, sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta và nhân dân các dân tộc trên thế giới dành cho Người.

Chỉ như vậy chúng ta mới hiểu được đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động.

Đạo đức Hồ Chí Minh cho ta hiểu thêm một phương diện đặc sắc trong cuộc đời và sự nghiệp của một nhà tư tưởng Mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, một trí tuệ lớn và một nhân cách lớn, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới.

Đạo đức Hồ Chí Minh tiêu biểu cho truyền thống đạo đức và tinll hoa Văn hoá dân tộc, là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, hiện thân của các giá trị Văn hoá Chân – Thiện – Mỹ trong thời đại mới, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc ta.

Đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng và sự nghiệp của Người mãi mãi là di sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ người Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi có mặt trong hành trang của chúng ta trên con đường đi tới thắng lợi của đổi mới và CNXH.

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh

– Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.

– Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.

Người thường gọi đức và tài là hồng và chuyên, là chính trị và chuyên môn. Trước hết phải có chính trị rồi có chuyên môn, do nhờ bền bỉ rèn luyện, khiêm tốn học hỏi, nhất là tự học tập suốt đời, học tập đi liền với lao động và tranh đấu. Chính trị là hồn, chuyên môn là xác. Cán bộ, công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn. Lãnh đạo việc gì, ngành nào phải am hiểu kỹ chuyên môn việc ấy, ngành ấy, có như vậy lãnh đạo mới có kết quả, mới tạo được nhất trí, đồng thuận.

Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp – dân tộc – nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình – nhà trường và xã hội.

Đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức là vấn đề của Văn hóa. Sự yếu kém, thiếu hụt đạo đức có thể làm thương tổn xã hội, dẫn tới những phản đạo đức và phản văn hóa. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.

– Chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức Cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân bằng cách ra sức rèn luyện, đạo đức cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng là đạo đức mới mang bản chất giai cấp công nhân và thấm nhuần những gì tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc. Người đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống như: yêu nước, thương dân, đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Người cũng phê phán, cải tạo những mặt tiêu cực của đạo đức phong kiến, những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo như: thói nhẫn nhục cam chịu, thụ động, những thành kiến đối với lao động chân tay, bất bình đẳng với phụ nữ, những quy định khắt khe, những hủ tục làm lệch lạc nhân cách con người. Đặc biệt, Người đòi hỏi phải xoá bỏ những tàn dư của đạo đức phong kiến thực dân đã lạc hậu, lỗi thời, thậm chí là những nọc độc, đầu độc tinh thần con người, nhất là đầu óc nô lệ, chủ nghĩa vị kỷ, hưởng lạc, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống tư sản. Đó là thứ đạo đức chẳng những cản trở xã hội phát triển mà còn làm lệch lạc tâm hồn con người, đánh mất nhân tính.

– Là nhà cách tân, đổi mới, Người đã cách mạng hoá quan niệm đạo đức, đã đưa đạo đức mới, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng và tinh thần nhân văn cách mạng vào đạo đức và đời sống đạo đức. Người sử dụng hình thức cũ của những khái niệm, phạm trù đạo đức nhưng đưa vào đó những nội dung hiện đại, nội dung đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì dân, hướng tới dân.

– Bên cạnh cần kiệm liêm chính, Người còn nói tới Nhân – Trí – dũng – Liêm – Trung, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, khí tiết đạo đức cao quý của ông cha ta, sự đề cao trí tuệ, phẩm giá con người. Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng – một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.

– Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.

Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ”quan chủ”, là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng”. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.

– Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.

Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.

– 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.

Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.

– Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực – Khiêm tốn – Đoàn kết – Vị tha- Nhân ái – Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.

Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người.

Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.

Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.

Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì dân, vì nước, Người là biểu tượng cao quý của đức hy sinh, lo cho dân, sống vì dân, thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, trở thành lãnh tụ của dân, thân dân và chính tâm. Tình thương yêu rộng lớn của Người đối với nhân dân, đồng bào là không bao giờ thay đổi. Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đó là phương châm ứng xử và hành động của Người.

Người là lãnh tụ gần dân, sống trong lòng dân, đến với dân chân tình cởi mở, không một chút nào xa lạ, quan cách.

Người sống một cuộc sống đạm bạc, đồng cảm với dân, làm tất cả những gì có thể làm được để chăm lo cuộc sống hàng ngày những lợi ích thường nhật của dân.

Người tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân từ chính khách, trí thức cao cấp tới dân thường để mưu cầu hạnh phúc thiết thân hàng ngày của họ. Người trung thành đến cùng với mục tiêu lý tưởng đã theo đuổi mà thực chất là để cho mọi người dân được sống trong độc lập tự do, có độc lập tự do thì mới có hạnh phúc. Vì thế, Người đảm nhận chức vụ lãnh đạo trong sự tín nhiệm tuyệt đối của dân mà vẫn chỉ nghĩ đó là bổn phận, trách nhiệm công dân của mình, giống như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận mà thôi.

Người đã có biết bao nhiêu chuyến đi công tác ở trong và ngoài nước. Đến đâu, Người cũng giản dị tự nhiên quan tâm thực sự tới cuộc sống của dân chúng, ân cần, chu đáo, chăm lo cho tất cả, chỉ quên mình. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, Hồ Chí Minh là đồng nghĩa với sự kính yêu, biết ơn, ngưỡng mộ. Với đạo đức, nhân cách của Người, ngay đến kẻ thù cũng phải nể trọng.

Cho đến những năm cuối đời, Người còn trực tiếp làm việc với Hội nghị ngành Than, tìm hiểu cặn kẽ vì sao ngành kinh tế – kỹ thuật công nghệ này lại có chiều hướng giảm sút và phải vực dậy như thế nào. Người trực tiếp sửa chữa điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp và trong bản thảo Di chúc còn ghi, Người chủ trương miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân để bà con yên tâm phấn khởi sản xuất. Ước nguyện của Người đã thành sự thật. Người học được bài học an dân trị quốc của ông cha ta, lo an sinh để an dân. Người làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương) để bàn về cuộc vận động người tốt việc tốt… cho đến phút cuối cùng trên giường bệnh, Người vẫn lo cho dân nơi lũ lụt, mong tin chiến trường miền Nam thắng lớn. Muôn vàn tình thương của Người để lại cho đời, chỉ riêng Người “quên nỗi mình đau để nhở chung”… “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. . .Một Con người với đạo đức và Nhân cách như thế đã đi vào lịch sử, bất tử trong lòng dân.

3. Thực hành dạo đức Cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, trở về với thế giới Người Hiền đã hơn l/3 thế kỷ nay. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986 ) đến nay. Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng thành.

Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó.Thiếu vắng hoặc yếu kém về đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành người và làm người.

Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội.

Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội – nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, hiện đại hoá xã hội ở nước ta.

Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng. Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Càng đi vào xây dựng Nhà nước pháp quyền càng phải chú trọng tới đạo đức công chức, đạo đức công dân. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đi vào kinh tế thị trường, xây dựng đạo đức của tầng lớp doanh nhân, của người sản xuất kinh doanh cùng với pháp luật sẽ đảm bảo cho văn hoá kinh doanh định hình và phát triển. Việc thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh như vậy sẽ bao quát toàn diện các đối tượng xã hội, từ trong Đảng, trong Nhà nước tới các cộng đồng dân cư. Nói đi đôi với làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất nhận thức với hành động hướng tới cơ sở, tới dân chúng là mục đích và thước đo tính trung thực đạo đức mà chúng ta cần đạt tới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

GS.TS Hoàng Chí Bảo

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc – Người khơi nguồn một dòng báo, một sự nghiệp

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam

Báo "Thanh Niên", cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tại Quảng Châu (Trung Quốc), số ra ngày 3-10-1926 - Ảnh tư liệu

Báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc lập ra ở Quảng Châu, Trung Quốc – số đầu ra ngày 21.6.1925 – là mốc mở đầu cho cả một dòng báo chí cách mạng ở Việt Nam, hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí của nước Việt Nam mới.

Kể từ khi tờ báo độc đáo này xuất hiện đã thu hút ngay sự chú ý của giới mật thám thực dân, của những nhà nghiên cứu của quốc tế cộng sản, và tất nhiên của đông đảo bạn đọc là các nhà cách mạng trẻ tuổi thuộc thế hệ đầu tiên do chính người sáng lập tờ báo là Bác Hồ tổ chức và rèn luyện, đông đảo những người lao động nghèo khổ đang mơ giấc mơ giải phóng bất chấp sự đe dọa của thực dân Pháp đối với việc chuyền tay nhau đọc mỗi số Thanh niên mà có thể phải chịu 3-5 năm tù.

Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh niên ngay từ những số đầu đã là sách gối đầu giường của những người yêu nước và cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá thạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới.

Tờ báo tiếng Việt đầu tiên đã xuất hiện ở Sài Gòn vào ngày 15.4.1865 do Potteaux và Trương Vĩnh Ký xuất bản, mang tên Gia Định cắm một cái mốc lịch sử cho báo chí nước nhà.

Cũng do những điều kiện riêng của xứ Nam Kỳ, mảnh đất đầu tiên của Tổ quốc ta bị thực dân Pháp thực hiện cuộc công nghiệp hóa cưỡng bức kể từ 1862, máy in hiện đại và chữ Quốc ngữ được phổ cập trước xứ Bắc Kỳ hơn 3 thập kỷ nên Sài Gòn trở thành cái nôi đầu tiên của nền báo chí nước nhà. Sau Gia Định báo, cho đến năm 1907 khi ở Hà Nội có tờ Đăng Cổ Tùng báo, nửa chữ Hán, nửa chữ Việt, thì ở Nam Kỳ đã có một loạt tờ báo quan trọng như Phan Yên báo (1868), Nam Kỳ Địa phận (1883), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Lục Tỉnh Tân Văn (1907)…

Nhưng cũng phải nói rằng phải đợi đến tháng 6 năm 1925 ấy, với tờ Thanh niên của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta mới thực sự bắt đầu nền báo chí cách mạng của nước Việt Nam mới.

Đã có lúc chúng ta cũng băn khoăn về cái mốc mở đầu của dòng báo chí cách mạng, vì Bác Hồ đã từng nổi tiếng ở Paris với tờ Người cùng khổ (LE PARIA), bộ báo 38 số, số 1 ra ngày 1.4.1922. Nhưng vì tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa nên các nhà sử học đã nhất trí rằng, dù sao cũng không thể xếp nó trong phạm trù “báo chí cách mạng Việt Nam” được. Còn Việt Nam hồn, tờ báo tiếng Việt do Nguyễn Thế Truyền lập ra ở Paris (số 1 ra ngày 15.5.1923) cũng được xác định rằng Nguyễn Ái Quốc đã không có điều kiện viết cho tờ này…

Sự hiểu biết của bạn đọc về tờ Thanh niên thực đã khá phong phú.

Trước hết, xin được nhắc lại tên một nhà sử học trong giới Việt kiều ở Canada nay đã mất, ông Huỳnh Kim Khánh, người đã bỏ công sưu tầm, nghiên cứu trọn vẹn bộ sưu tập Thanh niên gồm 208 số (số cuối cùng, tháng 5.1930), trong luận văn Tiến sỹ của ông. Khi đó, ở Hà Nội, trong tay chúng ta chỉ có 10 số báo Thanh niên, lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Sự nghiệp báo chí cách mạng của Đảng ta trước khi nắm được chính quyền – thực sự phong phú. Theo thống kê, khi đỉnh cao vào thời kỳ 1935 – 1938, cả nước có tới trên 100 tờ, chỉ riêng Nghệ An, trong cao trào 30 – 31 cũng có tới gần 40 tờ báo của Xứ ủy và của địa phương được in ra. Báo chí trong tù cũng là hiện tượng hiếm thấy trong phong trào cộng sản ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí thống nhất với nhau rằng, hiếm có một Đảng non trẻ nào như Đảng Cộng sản Việt Nam có được một hệ thống báo chí độc đáo đến như vậy, bắt đầu từ cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp sau cao trào 30 – 31. Chỉ trừ báo của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương và những năm sau này (kể cả Mặt trận Việt Minh) được in typô, còn đa số đều in rất thô sơ theo kiểu in sáp hoặc in thạch, trên những trang giấy cũng rất thô sơ, phần lớn là giấy học trò.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam (ảnh TL)

Báo Thanh niên của Bác Hồ cũng thế. Người viết bài này, trước đây đã từng phỏng vấn hai bà Lý Phương Đức và Lý Ưng Thuận (chị em họ với Lý Tự Trọng), những chứng nhân còn lại của nhóm 8 thiếu niên cộng sản đầu tiên do Bác lập ra ở Quảng Châu cùng lúc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (mà sử quen gọi là Đảng Thanh niên) tại Hà Nội. Các cụ đã kể rằng, trong buổi trứng nước đó, tại số nhà 13 đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là số nhà 248 – 250), trụ sở của Đảng Thanh niên (tại khu nhà của cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Trung Hoa – Tôn Dật Tiên), Bác Hồ đã chỉ đạo nhà cách mạng trẻ tuổi cho ra mắt tờ Thanh niên, cũng giống như việc Lê – nin cho ra mắt tờ Tia lửa (ISKRA) cho cách mạng Nga như thế nào…

Tờ báo tuần có 4 trang, in theo lối viết bút sắt trên giấy sáp, gợi cho bất cứ ai được thấy tận mắt cái gì đó rất “Hồ Chí Minh”. Từ nét chữ Bác viết tên báo trên Manchette, với chữ “T” và chữ “N” viết to, giống như nét chữ trong Di chúc; bên cạnh chữ Thanh niên bằng chữ Tàu, nét rỗng bên trái là hình ngôi sao 5 cánh để đánh thứ tự các số báo. Trong 88 số (số 88 ra ngày 17.4.1927), hơn một tháng trước khi Bác phải bí mật rời Quảng Châu với tấm căn cước xé đôi vì cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch, đều một kiểu chữ viết chân phương, trình bày trên 2 cột, trang 3 và 4 vì đôi khi có minh họa, tin ngắn và cả thơ nữa, nên trình bày co dãn hơn. Sau Bác có Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu giúp sức biên tập bài vở, nhưng Người vẫn đảm trách dường như tất cả, từ bài viết đến việc in báo.

Số phận của tờ Thanh niên thực đặc biệt đúng như sứ mệnh của nó với cách mạng và báo chí Việt Nam.

Là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, tổ chức tiền thân quan trọng nhất của Đảng ta, được in ấn bí mật là thế, với số lượng cũng chỉ 400, 500 bản, và khi nó được đưa về trong nước, lập tức đã bị kẻ thù theo dõi. Cũng thực lạ, có lẽ qua nội dung độc đáo của Thanh niên, ngay từ đầu 1926 Chánh mật thám Đông Dương là L. Marty đã ra lệnh cho bọn mật vụ sưu tầm bằng được bộ báo này. Và tên mật thám cáo già này đã kết luận rằng chắc chắn tác giả tờ báo phải là Nguyễn Ái Quốc, tòa soạn phải ở Quảng Châu.

Trong nhiều báo cáo mật gửi về Bộ thuộc địa và cả trong cuốn sách “nổi tiếng” Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị Đông Dương (xuất bản ở Hà Nội, 1993, gồm 5 tập), chính Marty đã viết: “Ông Nguyễn Ái Quốc đã không ngần ngại dành suốt 60 số đầu của tờ báo để chuẩn bị tinh thần cho người đọc, chỉ nói về lòng yêu nước, để đến số 61 ra ngày 12.9.1926 ông mới để lộ ý định của ông khi viết rằng chỉ có một Đảng Cộng sản mới bảo đảm hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam…” Nhận xét chung về vai trò của Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và của báo Thanh niên, cũng chính Marty có một nhận định nữa rất chính xác rằng: nếu như trong những năm 1926 – 1927, ngay những phần tử ưu tú của Đảng còn nghĩ rằng mình là quốc gia, thì những năm 1928 họ đã náo nức muốn thể hiện mình là cộng sản…

Vì sao báo Thanh niên lại có sự tác động thay đổi tâm trí sâu sắc đến như vậy?

Có lẽ, Bác Hồ, trong những ngày đầu tiên ấy, không những thấm nhuần sâu sách luận đề của Lênin về báo chí cách mạng, nó không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể, Bác hiểu rõ những đặc tính của một dân tộc nông dân, giai cấp công nhân mới ra đời còn quá non trẻ và người dân đều chưa hiểu rõ “Chủ nghĩa xã hội” là gì để xác định cho Thanh niên một phong cách làm báo cách mạng rất Việt Nam. Trong khuôn khổ hạn hẹp của con chữ, bài dài nhất, có khi đăng tải thành 2, 3 kỳ cũng chỉ dưới 1.000 chữ, phổ biến 300 – 500 chữ, cá biệt có bài chỉ có 3 câu, Nguyễn Ái Quốc vẫn truyền tải được những nội dung to lớn của dân tộc và thời đại. Chỉ một ví dụ về một xưởng đóng giầy, Bác đã cắt nghĩa khái niệm kinh tế học thế nào là giá trị thặng dư của Mác; với 2 mẩu chuyện khác, Bác giải thích khái niệm “chuyên chính vô sản” và nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang của Lênin…

Báo Thanh niên đăng bài ít ký tên nhưng dấu ấn của Bác thì dễ dàng nhận ra. Đăng thơ, Bác ký là Văn Thu… Tờ báo đã nhanh chóng thôi thúc lòng người, làm sống động phong trào cộng sản. Tiếp bước Thanh niên là một rừng nhỏ báo chí bí mật của Đảng ở trong nước lần lượt ra đời trước và ngay sau ngày 3.2.1930, từ Tranh đấu, Cờ Vô sản, Đỏ, Lao Động đến Người Lao khổ, Sóng cách mệnh, Xi Moong, Than, Bồi Bếp… Thực cảm động trong số báo này, có tờ từ Trà Vinh, Bến Tre… đã vượt qua lưới thép của kẻ thù đến tận trụ sở Quốc tế Cộng sản, trường Phương Đông Mátxcơva – nơi Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… đang miệt mài học tập tri thức cộng sản, rèn luyện kỹ năng, nghệ thuật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong một bài báo gọi là Báo chí cách mạng trên đất nước An Nam của một tác giả tên là Lun (chưa xác minh được), đăng tải trên tờ Phóng viên Công Nhân (của Quốc tế cộng sản) có in hình Manchette một tờ báo thời kỳ 30 – 31 của Nam Kỳ, tác giả đã hết lời ca ngợi những người làm báo cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương trẻ tuổi, những người sáng tạo trong in ấn, đầy gian khổ, trong công tác phát hành đầy nguy hiểm và giá trị giáo dục vô cùng to lớn của thứ vũ khí này trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.

Tất nhiên sau Thanh niên, chúng ta còn nhiều tờ báo cách mạng khác cũng rất hay, bề thế như Tạp chí Cộng sản, Dân chúng và Tin tức (1937 – 1939); đặc biệt bộ ba Cờ giải phóng, Sự thật và Nhân dân (từ năm 1942 đến 11.3.1951 – khi có số đầu của Nhân dân), nhưng rõ ràng tờ Thanh niên của Bác thực sự là tờ báo mở đầu cho một sự nghiệp, sự nghiệp báo chí.

Việc hình thành và phát triển của dòng báo chí cách mạng – tự nó đã là một thành tựu quan trọng trong cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp của Đảng ta trước Cách mạng tháng Tám, theo những nguyên tắc xây dựng và hoạt động mà tờ báo đầu tiên của Bác Hồ đã đặt nền móng. Dù khi được xuất bản công khai hợp pháp (duy nhất trong thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936 – 1939) hay khi tồn tại trong thế bí mật bất hợp pháp (là chủ yếu), các báo cách mạng đã thực hiện một cách xuất sắc quan điểm báo chí của Lênin, báo chí cách mạng – không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể. Đảng ta đã tổng kết những kinh nghiệm đầu tiên về việc “đào tạo phóng viên công nông”, tổ chức mạng lưới sinh hoạt báo chí, quan hệ của các tổ chức Đảng với báo chí cách mạng…, những việc mà ngày hôm nay trong việc phát triển hiện đại nền báo chí Việt Nam đương đại chúng ta vẫn luôn xem như những nguyên tắc cần thiết.

Báo Thanh niên cùng với những tờ báo nổi tiếng của Quốc tế cộng sản (như Tạp chí Quốc tế Cộng sản, Thư tín Quốc tế, Tạp chí Phương Đông cách mạng…); báo chí của Đảng cộng sản Pháp như Nhân đạo… trong thập kỷ 20 của Thế kỷ trước là cái nôi đầu tiên để đào tạo thế hệ thứ nhất các nhà báo cách mạng nước ta, mà phần lớn đều là học trò của Bác Hồ như: Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Xuân Thủy…

Tư duy báo chí cách mạng của chúng ta đã thực sự có những thay đổi quan trọng, kể từ sau Đại hội Đảng VI (năm 1986), một sự kiện được coi như bước ngoặt của sự đổi mới. Năm 1990 Luật Báo chí ra đời, báo chí diễn tả quan điểm mới trong những mệnh đề như: Diễn đàn của nhân dân, thông tin hai chiều và đa dạng hóa thông tin…

Những gì diễn ra trong đời sống của giới báo chí hôm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là phù hợp với bước đi của thời đại và của dân tộc ta. Hồ Chí Minh – Người sáng lập ra báo Thanh niên, nhà báo số 1 của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chỉ ra rằng, logic lớn nhất là logic đời sống…

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

GS. TS. Đỗ Quang Hưng/GD&TĐ

tuyengiao.vn

Rèn luyện đạo đức cách mạng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

42 năm Bản Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969-2/9/2011)

(TCTG)- Thường xuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là thiết thực thực hiện Di chúc của Người, mà còn góp phần đẩy lùi các tệ nạn, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và khẳng định.

Trước khi đi xa về với thế giới người hiền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử, trong đó thể hiện rõ sự tiên liệu và lời dặn của Người về đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[1].

Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng

Đề cao vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[2]. Trong tư tưởng của Người, đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, thể hiện rõ trong các mối quan hệ xã hội với tất cả mọi người xung quanh, dù họ là ai và đang ở vị trí xã hội nào. Và đối với người cán bộ đảng viên, thì đạo đức là sức mạnh tinh thần, là vũ khí sắc bén vì giống như “sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[3].

Thấu hiểu sâu sắc rằng, suy thoái về đạo đức là khởi điểm của sự suy thoái và tha hoá về đạo đức sẽ dẫn đến tha hoá về chính trị, cho nên, suốt đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn thực hành cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, mà còn chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng, cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Từ những năm tháng hoạt động ở Quảng Châu- Trung Quốc, Người đã chỉ rõ nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng người cán bộ cách mạng chân chính để tiến lên xây dựng một Đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh. Sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến vấn đề rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền. Theo Người, chỉ có trong sạch, không để chức, quyền, danh, lợi làm hoen ố lương tâm, dẫn đến suy thoái, biến chất, thì cán bộ, đảng viên mới có thể hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, mói xứng đáng là “công bộc” của dân.

Xưa nay niềm tin chính trị của người dân luôn luôn gắn liền với tấm gương đạo đức của người cầm quyền, đặc biệt, đối với các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vì “giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, tự mình đã hủ hoá xấu xa thì còn làm nổi việc gì”[4], nên Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”[5]. Không dừng ở đó, Người còn cảnh báo rằng, “một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[6].

Không chỉ quan tâm giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Người còn là một tấm gương tuyệt vời trong sáng và toàn vẹn về đạo đức cách mạng, nói đi đôi với làm, gắn liền lý luận với thực tiễn. Sự thống nhất trong cả lời nói và hành động đã trở thành nét đặc sắc của Hồ Chí Minh. Chính Người là tấm gương đạo đức tuyệt vời về con người mới, là “hình ảnh mẫu mực về người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, có sức lôi cuốn, cảm hoá mãnh liệt đối với mọi người. Hồ Chí Minh “vừa là nhà đạo đức học vừa là một biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng”[7]. Hồ Chí Minh – “Con người đã là kết tinh của mọi đức tính cách mạng, đối với con người có những tư tưởng tuyệt vời, có những hành động phi thường, nhìn xa thấy rộng, học vấn uyên thâm, con người đã nêu gương sáng ngời về liêm chính và ý thức danh dự cao cả, tuyệt đối chân thành, con người đã nêu cao tinh thần hi sinh và lao động quên mình, đức tính khiêm tốn được thể hiện qua mọi thử thách”[8], đã toả ra sức mạnh tinh thần kỳ diệu. Sức mạnh ấy là động lực trong mỗi con người Việt Nam. Lời dạy và việc làm của Người là kim chỉ nam cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận rõ hướng đi và cách đi đúng đắn cho mình.

Thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là thiết thực thực hiện Di chúc của Người

Noi theo tấm gương của Người và luôn thấm nhuần lời Người dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng được rèn luyện, thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, đã luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đó là những người luôn nâng cao đạo đức cách mạng, sống giản dị và gắn bó với nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Song bên cạnh đó, cùng với những hệ lụy và tác động của quá trình đổi mới và hội nhập, sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức có quyền đã trở thành “vấn nạn”, làm tổn hại đến uy tín và đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có rất nhiều, nhưng rõ nhất và nguy hiểm nhất là sự đề cao giá trị vật chất, làm giảm các giá trị tinh thần đạo đức, hồi phục mạnh mẽ những tư tưởng và lối sống cũ từng phổ biến dưới chế độ thực dân phong kiến, thể hiện rõ trong các tệ nạn quan liêu, tham ô lãng phí, mất dân chủ, khuất phục trước uy lực của đồng tiền, ham hư danh, sa đoạ, truỵ lạc,v.v..của những kẻ thoái hóa, biến chất. Đó là những căn bệnh, là biểu hiện nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân “nó lây, nó ngấm vào trong Đảng”[9].

Vấn nạn này đã được nêu ra trong Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX và được khẳng định trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức còn diễn ra nghiêm trọng. Đó là một trong những nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng của chế độ”. Và để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và làm lành mạnh đời sống đạo đức xã hội, và tiếp tục thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, ngày 07/11/2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nêu rõ: “Tổ chức cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng, thiết thực, hiệu quả trong cả hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, không phô trương, hình thức. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn liền với việc triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí và đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, với các phong trào thi đua yêu nước. Gắn tính tự giác học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân với sự đôn đốc, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân”.

Thông qua việc triển khai đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, tiến hành trong thời gian dài, có nội dung phong phú, cụ thể và thiết thực, Cuộc vận động đã góp phần “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

Đây là một trong những biện pháp cơ bản, là một trong những động lực chính trị quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của Đảng, của dân tộc trước cục diện phát triển đất nước. Sau 4 năm thực hiện, Cuộc vận động đã thu được kết quả tích cực, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của đông đảo cán bộ, đảng viên, tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng… Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XI của Đảng và đặc biệt là Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được quán triệt và thực thi sâu rộng trong thực tiễn, để nhằm “phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện cuộc vận động trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”.

Các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội. Trong quá trình thực hiện, “đề cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, nhất là vai trò gương mẫu của cán bộ chủ chốt các cấp, của người đứng đầu, của cấp trên; đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghiêm các quy định của tổ chức đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị và sự giám sát của nhân dân”, nhằm “tạo sự thống nhất cao về nhận thức trong Đảng và xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, coi đây là công việc thường xuyên hằng ngày, là trách nhiệm cụ thể thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Kỷ niệm 42 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa và để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta bản Di chúc lịch sử (2/9/1969- 2/9/2011), cùng với việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị, chúng ta càng thấy những điều căn dặn của Người về đạo đức cách mạng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên sâu sắc và rất cần thiết. Cùng với thời gian, tấm gương đạo đức cách mạng của Người, những chỉ dẫn của Người về đạo đức và rèn luyện đạo đức cách mạng vẫn tiếp tục toả sáng. Thường xuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là thiết thực thực hiện Di chúc của Người, mà còn góp phần đẩy lùi các tệ nạn, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và khẳng định. Chỉ có như vậy, Đảng mới đủ sức mạnh nội lực, đủ năng lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân để đưa công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước ta đi đến thành công.

Ths, NCS. Nguyễn Ngọc Dung
Đại học Thủy lợi

[1]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.12, tr.516
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.299
[3]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.283
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.253
[5]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.253
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.557
[7] Phạm Văn Đồng, Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, H, 1998, tr.188
[8]Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, t.III, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.43
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.261

tuyengiao.vn

Quán triệt và thực hiện lời Bác Hồ căn dặn về “Dân vận”

Kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930 – 15/10/2011)

Công tác dân vận của Đảng đã tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng. Với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng bởi: “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”(1). Tuy nhiên, muốn nhân dân giác ngộ, tự nguyện làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình, thì Đảng phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, phải làm tốt công tác dân vận: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(2).

Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng, nhưng cùng với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong bài viết đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng:

“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Ðoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Theo đó, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” chính là: chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức gánh vác công việc nước nhà; nhân dân tự phát huy quyền làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và Nhà nước chỉ can thiệp khi quyền lợi của dân hay pháp luật bị vi phạm. Trong Nhà nước, mọi qui định của hệ thống pháp luật đều nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng và tạo điều kiện sống thuận lợi cho nhân dân và “phải chú ý giải quyết hết những vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề có quan hệ tới đời sống của nhân dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: làm cách mạng tức là đổi xã hội cũ thành xã hội mới. Đó là một công việc lâu dài, khó khăn, gian khổ, nên đòi hỏi phải có sức mạnh “dời non lấp bể” của sự đồng tâm, hợp lực, nhất trí của toàn dân tộc; không phân biệt giai cấp, tầng lớp, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, giàu, nghèo…Với ý nghĩa đó, để đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi, thì tất yếu: Đảng Cộng sản – đội tiền phong của giai cấp và dân tộc phải làm tốt công tác “Dân vận”. “Dân vận” bao hàm là “vận động tất cả mọi người dân, không để sót một người nào”… tập hợp lại, đoàn kết lại, thực hiện những công việc chung. Nhưng “Dân vận” còn là phải hiểu rõ năng lực, tâm tư, nguyện vọng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, để từ đó có hình thức và phương pháp vận động cho phù hợp, chứ không chỉ là “dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”. Và “Dân vận” theo Hồ Chí Minh là “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh v.v…) đều phải phụ trách dân vận”.

Không chỉ lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945, Đảng còn lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến, bảo vệ nền độc lập dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng CNXH. Trong những năm tháng gian lao đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn rằng: “Việc kiến thiết nước nhà phải làm dần dần, không thể một tháng một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải làm theo đúng phương châm: Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì thì dân mới yêu ta, kính ta”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”(6), nên làm dân vận không chỉ là tuyên truyền suông bằng sách báo, mít tinh, khẩu hiệu, mà phải bằng hành động cụ thể, thiết thực. Người luôn quán triệt: công tác dân vận là một bộ phận quan trọng trong công tác của Đảng, nếu thiếu, hoặc làm không tốt, Đảng sẽ không tập hợp được quần chúng làm cách mạng; không những không phát huy được sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, mà còn bị kẻ thù lợi dụng, chống phá, xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Theo Người, nếu có quần chúng mà không có Đảng lãnh đạo, thì mọi phong trào của quần chúng chỉ là phong trào tự phát, nhưng Đảng muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo, tiền phong của mình thì tất yếu phải làm tốt công tác dân vận, và mọi thành công của Đảng ta trong tiến trình cách mạng chính “là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(7).

2. Không chỉ nói về “Dân vận” và “công tác dân vận”, Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về “Dân vận” và “tiến hành dân vận”. Người từng nhấn mạnh, trong mọi công việc của Đảng: cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” thì phải luôn gần dân, gắn bó với dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng và luôn phải tự mình làm gương cho quần chúng, vì việc nêu gương có một tác dụng rất to lớn. Tự mình làm gương cũng chính là biểu hiện rõ nét nhất của “lời nói đi đôi với việc làm”, nên trong khi thực hành “Dân vận”, Người luôn quán triệt nguyên tắc “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Thống nhất giữa lời nói và việc làm, vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ, Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức người cách mạng, vị lãnh tụ “gần dân, thân dân”. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh là “Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách bức với quần chúng. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”(8).

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, Đảng ta luôn xác định đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của nhân dân, của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng, coi công tác dân vận là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động của Đảng. Nhờ đó, Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Kiên định con đường đã lựa chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trong 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhờ làm tốt công tác dân vận, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ ngày càng được củng cố.

3. Thấm nhuần quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(9) và “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và củng cố tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang”(10), trong 81 năm qua, công tác Dân vận của Đảng (15-10-1930 – 15-10-2011) đã đạt được nhiều thành tích, đã luôn đồng hành cùng với những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Tuy nhiên, từ thực tiễn, có thể thấy rõ, bên cạnh những thuận lợi, những thành tựu, công tác dân vận của Đảng cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức; vẫn còn bộc lộ những hạn chế, những tồn tại cần phải khắc phục. Đâu đó vẫn còn một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm đầy đủ đối với công tác dân vận, còn xem nhẹ công tác vận động quần chúng; chưa thật sự đầu tư thỏa đáng cho công tác dân vận. Ở các cấp, còn thiếu những cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt và nhiệt thành làm công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng còn chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn. Ở một số nơi, một số địa bàn cơ sở, cán bộ, đảng viên vẫn chưa thật sự gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh…, nhất là “một số tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương pháp vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”.

Vì vậy, để xây dựng mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và để “toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân” (11) như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ, thì công tác dân vận phải đổi mới, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tiến tới thực hiện quy chế “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, và thi đua thực hiện phong trào “Dân vận khéo”.

Luôn quán triệt tinh thần các văn kiện của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải có chuyển biến nhận thức sâu sắc về vai trò, mục đích, qui trình, nội dung và phương thức tiến hành công tác dân vận trong giai đoạn mới, coi thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên tinh thần: giải thích cho dân hiểu, bàn với dân, tổ chức để dân thi hành, cùng dân kiểm thảo lại công việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và 4 phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mà Đảng đã khẳng định. Trong mọi nội dung về dân vận và công tác dân vận phải luôn thấm nhuần lời Bác dặn “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Coi công tác dân vận là công việc của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân; kịp thời đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, đi liền cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở các cấp, các ngành, hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Từ cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Dân vận” cách đây 62 năm (15-10-1949 – 15-10-2011): “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Ðó là sai lầm rất to, rất có hại”, công tác dân vận cần phải được quan tâm đặc biệt. Cán bộ làm công tác dân vận tốt thì nhất định “phải thật thà nhúng tay vào việc”; phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc để biết sinh hoạt của quần chúng thế nào, biết nguyện vọng của quần chúng ra sao, rồi từ đó kiên trì, giải thích cho quần chúng hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước….

Trong mọi mặt của đời sống xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên phải thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, nhất là phong cách dân vận của Người thông qua trước tác của Người, những câu chuyện kể về Người …Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, mọi địa bàn, phải thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức, các đoàn thể chính trị -xã hội tiến hành tốt công tác “Dân vận”, thực hiện và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở “đồng tâm”, “đồng sức”, “đồng lòng”, “đồng thuận”, vì đại cục./.

Lâm Tùng
Đại học Giao thông

____________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.2; tr.262.
(2) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.700.
(3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.648.
(4) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.48.
(5) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.57.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.295.
(7) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.10, tr.197.
(8) – Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
(9) – Nghị quyết TƯ 8B/NQ/HNTW, ngày 27-3-1990: “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.
(10) – Quyết định số 290-QĐ/TƯ, ngày 25-2-2010: “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”.
(11) – ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.65.

tuyengiao.vn