Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người cách mạng mẫu mực

Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên là cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải:

1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “TỔ QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc.

3. Làm việc không mệt mỏi tùy theo phương tiện và năng lực của mình, người giàu góp tiền, người tri thức góp tri thức và thợ thuyền góp sức, không gì ngăn trở được sự nghiệp cách mạng tiến lên.

4. Xem thường cái chết, bất chấp hiểm nguy, vì cách mạng là một cuộc chiến đấu trường kỳ và gian khổ do những người vô sản tiến hành chống lại bọn áp bức họ.

5. Thuận theo hoàn cảnh về thời gian, không gian, không bỏ qua điều gì. Có thể, hoặc gây bãi khóa, và bãi công, hoặc khích động nông dân không đóng thuế và đi phu khổ sai, hoặc giết chết những tên kẻ thù gian ác, hoặc chiếm đồn với nội ứng của lính bản xứ. Người cách mạng phải luôn luôn nói và hành động một cách có ý thức.

6. Suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động, vì việc thực hiện một kế hoạch phụ thuộc và công tác chuẩn bị. Chẳng hạn: có hai chiến sĩ, một người đã chín muồi kế hoạch hành động, còn người kia thì làm ẩu, do đó người thứ nhất sẽ thành công và có ích cho Đảng mình, còn người thứ hai sẽ thất bại và làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

7. Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, khó liều mạng, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

8. Thành lập thật nhiều những tổ chức hùng mạnh thúc đẩy mau đến thắng lợi của cách mạng.

9. Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội là tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

10. Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

11. Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

12. Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khăn sẽ làm cho anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền.

HỒ CHÍ MINH
Bài viết tại Quảng Châu, ngày 18-9-1926, báo “Thanh niên”, số 61
Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn, 2004

tuoitre.vn

Lúa và cỏ dại

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù…

Gần một tháng học tập, các cô, các chú đã thấy được cách mạng xã hội chủ nghĩa là vĩ đại. Thấy được như vậy là tiến bộ, nhưng chưa đủ. Các cô, các chú là cán bộ cần phải nhận thức sâu hơn nữa. Phải thấy càng vĩ đại bao nhiêu thì càng gian khổ bấy nhiêu.

Ví dụ: đào một con kênh càng rộng, càng sâu, càng dài thì cần phải bỏ ra nhiều công sức, càng phải vất vả khó nhọc. Đó mới chỉ là việc đào kênh, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc. Một cuộc thay đổi vĩ đại như vậy tất nhiên phải mất nhiều công sức. Mất nhiều công sức thì nhất định là phải vất vả, gian khổ. Nhưng gian khổ mỗi thời kỳ có khác nhau: hồi hoạt động bí mật gian khổ khác, trong kháng chiến gian khổ khác, bây giờ xây dựng chủ nghĩa xã hội gian khổ khác.

Gian khổ đó ai phải ra sức vượt qua trước? Đó là Đảng, là đảng viên và cán bộ. Phải nhận thức cho rõ điều ấy, chớ không phải vào Đảng để hưởng thụ, để làm quan cách mạng. Và thấy gian khổ là để vượt qua, chớ không phải là để lùi bước.

Nhiệm vụ của công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Nên nhớ rằng bọn Mỹ – Diệm, bọn phản động không bao giờ muốn cho chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, công an phải luôn luôn cảnh giác ngăn ngừa những hành động phá hoại của chúng để bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng. Đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ đồng thời cũng rất vẻ vang. Không phải được đăng báo, được nêu trên đài phát thanh mới là vẻ vang, mà bất kỳ làm công việc gì có ích cho cách mạng, cho nhân dân, cho xã hội đều là vẻ vang cả.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ, cho rằng ngành công an gian khổ, vất vả nhiều mà ít được ai biết, ít được huân chương; đòi hỏi đãi ngộ, so bì lương thấp, lương cao; công thần địa vị: cho rằng ở trong Đảng lâu năm mà không được đề bạt bằng người vào Đảng ít năm hơn; không an tâm công tác; ở công an thì muốn sang ngành khác; có quyền hạn một chút là thiếu dân chủ, chỉ tay năm ngón; đối với nội bộ thì suy bì, ganh tị, không đoàn kết với nhau, v.v.. Còn có thể nêu ra nhiều ví dụ nữa, nhưng tóm lại cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân. Muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân không phải chống lại một lần mà hết được. Trong lớp này, các cô các chú kiểm thảo thành khẩn là điều tốt, tiến bộ. Nhưng không phải kiểm thảo xong là gột rửa hết chủ nghĩa cá nhân. Ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày. Vì vậy kiểm thảo ở đây không phải là xong, là đủ mà còn phải tiếp tục luôn luôn phê bình, tự phê bình, kiểm thảo trong mọi việc.

Bác nói một điểm nữa là: làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công. Muốn được như vậy cũng phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Một điểm nữa là tất cả cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải nâng cao tinh thần trách nhiệm. Như Bác đã nói ở trên, nhiệm vụ của các cô, các chú rất nặng nề. Muốn làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Có như vậy mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm.

Tóm lại:

1. Phải trau dồi đạo đức cách mạng,

2. Phải nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Muốn vậy phải luôn luôn chống chủ nghĩa cá nhân.

HỒ CHÍ MINH
Bài nói chuyện tạo lớp chỉnh huấn khoá II của Bộ Công An, ngày 16-5-1959
Trích sách Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960

tuoitre.vn

Tôi đi xây dựng Lăng Bác Hồ

Các đoàn khách quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi được tham gia vào quá trình xây dựng công trình lịch sử văn hóa quan trọng vào bậc nhất của đất nước ta với tư cách là người đang giữ cương vị Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội và là ủy viên thường trực của Ban chỉ đạo bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công việc xây dựng Lăng Bác được bắt đầu chuẩn bị từ cuối năm 1969 đầu 1970. Lúc đầu Bộ Chính trị quyết định cố gắng làm nhanh, hoàn thành sớm để đồng bào cả nước có thể viếng Bác trong năm 1971. Nhưng quá trình thực hiện, nhiều vấn đề mới nảy sinh. Riêng công việc thiết kế phải mất hai năm mới hoàn thành, ngoài ra còn rất nhiều công việc chuẩn bị khác… Do vậy, Ban phụ trách xây dựng lăng trình kiến nghị và được Bộ Chính trị phê chuẩn: Công tác chuẩn bị thi công chuyển sang tháng 8-1972, khởi công tháng 9-1972, hoàn thành trước tháng 9-1973. Nhưng tháng 10-1972 Mỹ ném bom trở lại toàn miền Bắc, đánh phá Hà Nội, Hải Phòng… Vì thế sau khi xem xét mọi mặt, Bộ Chính trị quyết định “tạm dừng xây dựng Lăng theo tiến độ”. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, công việc xây dựng Lăng Bác lại được tiếp tục. Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký quyết định lấy ngày 2-9-1973 là ngày khởi công, ngày 2-9-1975 là ngày hoàn thành đưa công trình vào sử dụng (trong thực tế ngày 29-8-1975 lễ khánh thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình và sau đó lễ viếng Bác đầu tiên được cử hành).

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, Cục Bảo vệ ngoài việc cử một số cán bộ tham gia trực tiếp một số công việc trong quá trình xây dựng Lăng Bác, triển khai các tuyến bảo vệ vòng ngoài, thường xuyên kiểm tra đôn đốc các cán bộ kỹ thuật, cán bộ chỉ huy giữ đúng quy chế, chế độ bảo mật, chúng tôi còn được giao nhiệm vụ tham gia cùng bộ đội công binh lắp đặt các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác an ninh, an toàn. Những công việc này vừa đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, vừa đòi hỏi trình độ nghiệp vụ tinh tường. Để hoàn thành những nhiệm vụ đặc biệt ấy, Cục Bảo vệ tổ chức thành lập ngay một đội kỹ thuật do đồng chí Trung tá Trưởng phòng Phạm Đức Vượng chỉ huy, đồng chí Phạm Quốc Anh làm Trưởng ban kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Công Tam làm tổ trưởng tổ lắp đặt thông tin, đồng chí Nguyễn Việt Cường tổ trưởng tổ cơ khí.

Được trên tin tưởng giao cho thi công những hạng mục công trình quan trọng nhất, có quan hệ tới toàn bộ hệ thống bảo vệ kỹ thuật, bảo vệ an ninh cho công trình là một vinh dự to lớn. Vì thế chúng tôi luôn quán triệt và nhắc nhở nhau phải làm thật tốt mọi việc, hạn chế thấp nhất những sơ suất, sai sót.

Ngoài nhiệm vụ chỉ đạo anh em thực hiện các nhiệm vụ nghiệp vụ của công tác bảo vệ, tôi còn được cử sang Liên Xô tìm hiểu kinh nghiệm quản lý và điều hành các công việc ở Lăng. Cuối năm 1973, tôi được đồng chí Trần Quốc Hoàn cử làm việc với đồng chí trưởng đoàn cán bộ Ủy ban an ninh Liên Xô sang công tác tại Việt Nam để nghe bạn giới thiệu về công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn ở Lăng Lê-nin và đề nghị giúp đỡ cụ thể những việc này, đặc biệt là viện trợ các phương tiện kỹ thuật bảo vệ. Cuối năm ấy, tôi lại được cử sang Liên Xô cùng đồng chí Phùng Thế Tài, Vương Quốc Mỹ. Chúng tôi đã được các bạn Liên Xô tạo mọi điều kiện thuận lợi để tìm hiểu cụ thể từng việc. Đồng chí Phùng Thế Tài và tôi được bạn bố trí làm việc với các cơ quan hữu quan để nghe giới thiệu kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành Lăng Lê-nin. Chúng tôi được tham quan trực tiếp Viện khoa học giữ gìn thi hài Lê-nin, nghe giới thiệu về tổ chức quản lý, công tác bảo đảm kỹ thuật, gác danh dự, bảo vệ an ninh, trật tự an toàn, đón tiếp khách đến viếng, xem thực tập báo động ứng phó với bất trắc xảy ra ở buồng đặt thi hài Lê-nin…

Từ kinh nghiệm học được ở bạn và thực tế của ta, Ban chỉ đạo đã xây dựng phương án sơ bộ về tổ chức quản lý vận hành Lăng. Ban chỉ đạo giao cho tôi nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị. Tình cảm của quân và dân ta đối với Bác Hồ thì ai cũng sâu đậm, nhiệm vụ phục vụ cho việc xây dựng và điều hành Lăng thì ai cũng nhiệt tình. Nhưng khi động đến những công việc cụ thể thì không phải lúc nào cũng thông đồng bén giọt. Những vướng mắc về cơ chế, quy chế, sự chồng chéo, những chỉ thị mệnh lệnh, quy định khiến chúng tôi rất vất vả trong giai đoạn chuẩn bị này. Tôi nhớ mãi lời động viên của đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ những ngày đầu khi nhận nhiệm vụ: “Chúng ta chưa ai từng được học để làm những công việc này, đành phải vừa làm vừa học thôi”, nay ngẫm lại thật chí lý. Vừa khắc phục khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ chúng tôi vừa động viên nhau: Chúng ta đã vượt qua được những khó khăn trong những năm tháng qua để bảo vệ giữ gìn thi hài Bác, thì những trở ngại hôm nay có sá gì. Chỉ nghĩ như vậy, chúng tôi lại hăng hái lao vào công việc để sớm đến ngày được đón Bác về Lăng.

NGUYỄN NGỌC ghi

qdnd.vn

Các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nước

Theo thống kê, ở Việt Nam hiện có hơn 300 công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, với 6 loại hình chủ yếu: Đền thờ; Nhà tưởng niệm; Đài kỷ niệm và bia biển lưu niệm; Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các công trình mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh; Ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại các đình, chùa, đền, miếu, và gia đình.

* Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền thờ xây dựng năm 1970 tại xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
2. Đền thờ Bác Hồ xây dựng năm 1973 tại Trí Phải Tây, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3. Đền thờ Bác Hồ tại Lương Tâm, huyện Long Mỹ, Cần Thơ.
4. Đền thờ Bác Hồ tại Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
5. Đền thờ Bác Hồ tại Thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Hải, Hải Phòng, khánh thành ngày 2/9/1993.
6. Đền thờ Bác Hồ tại xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội, khánh thành ngày 19/5/1995.

* Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1970 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ an.
2. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1983 ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
3. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1990 ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
4. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (Công trình của Thành phố Hà Nội tặng nhân dân tỉnh Thái Nguyên tháng 5/2005).

* Đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Bến Đò (cũ) thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên về Hà Nội ngày 24/8/1945. (Xây dựng năm 1990).
2. Khu rừng thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với cán bộ chủ chốt, thân hào, thân sĩ trong tỉnh, ngày 22/2/1947. (Xây dựng năm 1990).
3. Phủ đường Quốc Oai (cụ) nay là Trụ sở UBND huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì các phiên họp Hội đồng Chính phủ đêm 20 và 21/1/1947 (Xây dựng năm 1990).
4. Đồi Tỉnh Keo, thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc các năm 1948, 1952, 1953.
5. Đình Thượng Đồng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà có phong trào thi đua sản xuất khá nhất tỉnh, được Bác Hồ về thăm ngày 13/6/1958.
6. Xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá – Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với đại biểu cán bộ và nhân dân tỉnh, ngày 11/12/1961.
7. Thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, nhiều năm liền hoàn thành vượt mức nghĩa vụ đóng thuế lương thực đã được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và chúc tết Quý Mão(1963).
8. Xã Đình Dù, huyện Văn Lâm (nay là Mỹ Văn), tỉnh Hải Hưng, có phòng trào chống hạn khá, được Bác về thăm ngày 16/10/1958.
9. Xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng, có phong trào khá về nhiều mặt, nhất là nhà trẻ và mẫu giáo, được Bác về thăm ngày 16/9/1961.
10. Xã Hiệp Lực, huyện Ninh Quang, tỉnh Hải Hưng, có phong trào thuỷ lợi xuất sắc được bác về thăm ngày 26/7/1962.

* Bia biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Các điểm trong khu di tích Pác Bó:
– Hang Cống Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc năm 1941.
– Bộ bàn ghế đá – Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc trong những ngày nắng ráo trong thời gian Người ở hang Cốc Bó năm 1941.
– Bếp ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Nơi Bác ngồi câu cá tại khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Khóm trúc Bác trồng năm 1961 khi Người về thăm lại Pác Bó.
– Nơi Bác ngồi làm thơ ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong chuyến Người thăm lại Cao Bằng, năm 1961.
– Nhà Cụ Dương Vân Đình, nơi Bác thường lui tới thăm hỏi gia đình và tuyên truyền cách mạng cho quần chúng.
– Lán Khuổi Nậm – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở, làm việc và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, tháng 5/1941.
– Bếp nấu ăn cho đại biểu dự Hội nghị Trung ương Đảng lầy thứ 8 tại Khuổi Nậm, tháng 5/1941.
-Nơi Bác thường tập thể dục buổi sáng trong thời gian Người ở Khuổi Nậm năm 1942 và một thời gian của năm 1945.
– Biển chỉ dẫn đường Bác đi lại ở khu vực đầu nguồn Pác Bó.
– Núi Các Mác, suối Lênin, ngọn núi và dòng suối ở Pác Bó được Bác đặt tên.
– Hang Diêm Tiêu, nơi Bác cất giấu tài liệu khi ở Pác Bó.
– Hang Sĩ Điếng – Bác dùng làm hòm thư lưu trong thời gian ở Pác Bó.
– Khu ruộng Nà Chang, năm 1961, Bác nói chuyện với đồng bào các dân tộc Pác bó.
2. Khuôn Tát, Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái, Bác ở và làm việc từ 20 đến 28/11/1947; từ 11/1 đến 7/3/1948; từ 5/4 đến 1/5/1948.
3. Thôn Cầu Thành, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, nơi Bác đến thăm nông dân hợp tác xã.
4. Xóm Thượng Hải, xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng, Bác về thăm ngày 31/5/1957.
5. Nhà máy công cụ số 1, thuộc Khu công nghiệp Thượng Đình, quận Đống Đa, Hà Nội, nơi Bác đến thăm nhiều lần vào các năm 1958, 1960,1963.
6. Nhà A2, phòng 23, Trường Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị Quốc gia, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong thời gian Đại hội Đảng lần thứ III, từ 22/8 đến 10/9/1960.
7. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Xuân Dương, Hà Tây, nơi Bác ở và làm việc từ 19/12/1946 đến 13/1/1947.
8. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, Bác ở và làm việc từ 7 đến 19/12/1946 và viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
9. Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội, nơi Bác Hồ ở, làm việc cuối tháng 8/1945 và viết Tuyên ngôn độc lập.
10. Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 31/1 đến 2/2/1947.
11. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 3/2 đến 2/3/1847 và về thăm 19/5/1957.
12. Chùa Một Mái, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác đã lên thăm trong thời gian Người ở và làm việc tại Nhà tổ, tháng 2/1947.
13. Khu lưu niệm Bác Hồ tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà tĩnh (cơ quan Tỉnh uỷ cũ), Bác về thăm ngày 15/6/1957.
14. Nhà số 5 Châu Văn Liêm, phường 3, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, nới Bác ở một thời gian trước khi ra đi tìm đường cứu nước.
15. Ngôi nhà ở thôn Dương Nỗ, huyện phú Vang (nay là xã Phú Dương), huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên Huế, Bác cùng cha và anh sống trong khoảng thời gian 1898-1901.
16. Địa điểm Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế ở Huế.
17. Lớp học ở trường Dục Thanh, phường Đức nghĩa, thị xã Phan Thiết, thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học năm 1910.
18. Nhà số 8 phố Vua Lê – Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946

* Một số tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ngoài trời *

1. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ninh Kiều, thành phố Cần thơ, tỉnh Cần Thơ.
2. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thị xã Sa Đéc, tỉnh đồng Tháp.
3. Nhóm tượng Bác Hồ với các cháu thiếu nhi ở Quảng trường UBND thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nhóm tượng Bác Hồ với thiếu nhi ở trước Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Bình Thuận.
5. Nhóm tượng Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tại thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc.
6. Tượng đứng toàn thân Nguyễn Tất Thành tại trường Quốc học Huế, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Nhóm tượng đứng Bác Hồ với thanh thiếu niên ở Công viên Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
8. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Vinh, Nghệ An.
9. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
10. Nhóm tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang tại thị xã Hà Giang.

* Các công trình, công việc, địa danh mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đường Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh.
2. Đường Hồ Chí Minh trên biển.
3. Thành phố Hồ Chí Minh
4. Chiến dịch Hồ Chí Minh
5. Đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Trung tâm thanh thiếu nhi Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, Nghệ An.
8. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (ở chiến khu Việt Bắc và Hà Nội), nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
9. Trường Nguyễn Tất Thành, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
10. Đồi cây Bác Hồ ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây.
11. Đồng bào dân tộc Vân Kiều, Thừa Thiên Huế mang họ Hồ.
12.Danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”.
13. Liên đoàn “tiếng hát từ Làng Sen” được tổ chức định kỳ hàng năm.
14. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
15. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

* Một số chùa có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Chùa Hà Vi, còn gọi là Hồng Phúc Tự ở phường Trần Nguyên Hãn, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Chùa làng Thành ở xã Thọ Xương, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. Chùa Phương Lan ở xã Phương Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Chùa Xuân Hội ở xã Lạc Vệ, tỉnh Bắc Giang.
5. Chùa Phật Tích ở xã Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
6. Chùa Vĩnh Nghiêm ở xã Trí Vân, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
7. Chùa làng Đông ở xã Dĩnh Trí, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
8. Chùa Nhã Nam còn gọi là Nam Thiên Tự ở xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
9. Chùa Thái Đào ở xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
10. Chùa Yên Mẫu ở xã Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
11. Chùa Phố ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
12. Chùa Vân Cốc ở xã Vân Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
13. Chùa Bà Đá ở phố Nhà thờ lớn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

* Một số đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền Thiên Hậu ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
2. Đền thờ Đức Thánh Trần ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
3. Đền Làng Trung ở xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Tây.
4. Đền thờ Đức Thánh Trần ở 13 Đào Duy Từ, Hà Nội.
5. Đền thờ Mẫu (Láng Hạ) Ứng Thiên, Đống Đa, Hà Nội

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ cuối)

Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

Đồng chí Lê Văn Tưởng (bìa phải) - trưởng ban tác chiến trung đoàn 120, cùng các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn tại Bến Kè năm 1948

TT – Theo các tư liệu lịch sử ghi nhận, thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công ở các vùng trong nước có khác nhau. Ở miền Bắc (Hà Nội) ngày 19-8, miền Trung (Huế) 23-8 và Nam bộ (Sài Gòn) 25-8-1945.

Thế nhưng trước đó có một địa danh ở Nam bộ đã tổ chức cướp chính quyền thành công vào đêm 22 rạng sáng 23-8-1945. Người chỉ huy trận đánh đêm ấy đang ở tuổi 26…

Thí điểm khởi nghĩa ở Nam bộ

Ngay trong đêm 22-8-1945, người dân tỉnh Tân An (ngày nay là tỉnh Long An) hầu như không ngủ được. Tiếng trống khởi nghĩa vang từ xã này sang xã khác, quận này sang quận khác, tin cướp chính quyền thắng lợi tới tấp bay về, càng về khuya càng dồn dập liên hồi.

Tờ mờ sáng 23-8-1945, trên các nẻo đường đổ về thị xã Tân An, lớp lớp người xếp thành hàng tư với rừng tầm vông vạt nhọn, rừng cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm giương cao rầm rập tiến vào sân banh thị xã. Đoàn người vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu: VN độc lập muôn năm! Chính phủ VN muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm… Trên lễ đài, đại diện Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tân An làm lễ ra mắt đồng bào, chủ tịch Nguyễn Văn Trọng tuyên bố: Chính quyền Tân An đã về tay nhân dân!

Trước đó, Xứ ủy Nam bộ đã mở hội nghị tại Chợ Đệm phân tích tình hình của Nam bộ lúc ấy là rất phức tạp. Nhiều ý kiến đề xuất: đêm 22-8 Sài Gòn sẽ tiến hành khởi nghĩa để sáng sớm 23-8 huy động lực lượng chính trị vũ trang khoảng 1 triệu người xuống đường ủng hộ Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ và tuyên bố tổng khởi nghĩa thành công. Sau đó các tỉnh khác ở Nam bộ sẽ theo hình mẫu của Sài Gòn mà tiến hành khởi nghĩa.

Nhưng có ý kiến cho rằng quân Nhật ở Sài Gòn rất đông, ngay cả lực lượng đồng minh Anh – Ấn cũng buộc quân Nhật cùng chống cách mạng, nếu Nhật can thiệp thì khởi nghĩa ở Sài Gòn dễ thất bại… Cuộc tranh cãi khá quyết liệt. Cuối cùng, đồng chí Trần Văn Giàu đưa ra một giải pháp: giao cho Tân An – nằm ngay bên cạnh cửa ngõ vào Sài Gòn – khởi nghĩa thí điểm, từ đó rút kinh nghiệm để “bấm nút” cho Sài Gòn và các tỉnh tiến hành khởi nghĩa. Ý kiến này được đa số tán thành.

Tân An được chọn làm thí điểm khởi nghĩa cho cả Nam bộ và xứ ủy đã quyết định ngày khởi nghĩa là 23-8-1945…

Ngay khi biết Tân An giành được chính quyền, các tỉnh lân cận như Gò Công, Bến Tre, Cần Thơ… đã liên tiếp gọi điện hỏi kinh nghiệm.

Riêng Mỹ Tho còn yêu cầu được Tân An hỗ trợ trực tiếp (Theo Mùa thu rồi, ngày hăm ba, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội – 1995).

Giọng trầm ấm, ông Hai Lê (Lê Văn Tưởng) kể lại: “Lúc đó tôi 26 tuổi, đang tham gia sinh hoạt tại chi bộ làng Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Tân An tổ chức hội nghị mở rộng tại nhà ông hội đồng Huấn ở xã Hương Thọ Phú. Tại cuộc họp này, các đồng chí trong Tỉnh ủy Tân An thống nhất rút tôi về làm thường vụ phụ trách quân sự quận Thủ Thừa để chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền.

Tôi nhanh chóng quay về làng và từ giã các đồng chí trong chi bộ Thạnh Lợi. Các anh ở làng chia tay để tôi đi làm chuyện đại sự mà còn góp mỗi người vài đồng, được tất cả 13 đồng làm lộ phí và dặn dò ghê lắm. Chia tay gia đình, xóm làng, tôi chuyển ra quận công tác…”.

Ban đầu Hai Lê rất lo, mình có quá trẻ, lại ít kinh nghiệm quân sự, được giao đánh trận đầu mà thất bại thì tội lớn lắm!

Sau khi bàn bạc với Huyện ủy Thủ Thừa, Hai Lê cho tổ chức ngay lực lượng chiến đấu là những thanh niên tiền phong trong các thôn xóm tập trung lại tập luyện võ thuật, luyện kiếm, phóng phi tiêu, luyện dao găm, tự tạo vũ khí thô sơ, tập đội hình chiến đấu. Giặc thì súng ống rần rần, còn đội hình chiến đấu của Hai Lê luyện tập như trong phim kiếm hiệp vậy!…

Anh nông dân đối mặt với quận trưởng!

Đưa cho chúng tôi xem quyển hồi ký của mình có tựa đề Con đường tôi đã chọn (NXB Quân Đội Nhân Dân), trung tướng Lê Văn Tưởng (Hai Lê) nói: “Nó có ý nghĩa gắn liền với tuổi 20 của tôi, cái tuổi mà người ta phải quyết định cho mình một con đường. Và không chỉ tôi, cả thế hệ thanh niên vào thời đó đã chọn con đường đi theo cách mạng...”.

Tới chiều 22-8, các xã quanh quận Thủ Thừa đồng loạt đánh mõ, đánh trống báo động vang trời theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa. Trong lúc địch đang còn hoang mang chưa biết việc gì xảy ra, tiếng trống tiếng mõ xuất phát từ đâu thì Hai Lê đã ra lệnh cho lực lượng quân sự do anh chỉ huy bắt đầu “hành quân”.

Hai Lê mặc đồ kaki vàng, mang cây súng rulô cùng tốp chiến đấu xông thẳng tới dinh quận. Tới cổng dinh quận, đội hình khựng lại vì lính khố xanh cùng súng ống dàn đầy, nghe tiếng mõ tiếng trống chúng còn hoang mang hơn và tư thế luôn sẵn sàng nổ súng. Chỉ với một khẩu súng ngắn của Hai Lê thì làm sao địch lại được bọn lính trang bị toàn súng dài của dinh quận – mục tiêu số 1 cho cuộc cướp chính quyền?

Nhưng Hai Lê đã có cách riêng của mình: anh bước thẳng vào dinh quận. Bọn lính canh thấy anh mặc đồ kaki nai nịt gọn gàng, bên hông kè kè súng lục, không hiểu anh thuộc “sắc lính” gì nên im re cho vào, nhưng súng vẫn chĩa thẳng vào anh. Anh bước vào gặp quận Thọ.

Trước mặt quan phụ mẫu một thời làm mưa làm gió cả vùng Thủ Thừa, lính canh súng ống còn đầy, vậy mà Hai Lê bình thản tuyên bố xanh rờn: “Ông quận Thọ à, hôm nay cách mạng về cướp chính quyền. Kể từ 8g tối nay, chúng tôi với đầy đủ binh lực, súng ống hùng mạnh đã bao vây toàn khu vực. Nếu muốn an toàn, ông quận phải ra lệnh cho binh lính giao nộp vũ khí, còn ông phải giao ngay cho cách mạng chìa khóa tủ sắt tiền công nho và các tủ giấy tờ khác nữa…”.

Quận Thọ há hốc miệng, người chỉ huy cách mạng này sao khí phách quá, chống lại chắc chỉ có chết! Quận Thọ tự nhiên thấy mình “nhỏ” hơn anh thanh niên tuổi 26 nên “dạ… dạ…” lí nhí và bàn giao dinh quận ngay. Mãi sau này nhiều người hỏi: “Lỡ quan quận làm cương kêu lính vào bắt thì sao?”. Hai Lê cười: “Thì đánh luôn chứ sao, đội tự vệ đã dàn quân cả rồi, giáo mác, kiếm, tầm vông cũng đánh được mà!”.

Chiếm dinh quận thắng lợi, Hai Lê cùng lực lượng dân quân tự vệ, thanh niên địa phương được thế xông thẳng vào các đồn Thạnh Lợi, Bình Hòa, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Quí… để tịch thu súng đạn. Tổng số súng thu được tại các đồn lên đến trên 40 cây súng các loại. Số súng này được đưa về quận để thành lập một đại đội dân quân cách mạng đầu tiên của quận.

Được tin Hai Lê đã tổ chức chiếm dinh quận và giải giới vũ khí lính canh thành công mà không tốn một viên đạn, hàng ngàn nông dân từ các xã Mỹ Lạc, Bình Đức, Mỹ An Phú, Bình Phong Thạnh… rùng rùng kéo về khu vực sân banh để mittinh và nghe cách mạng nói chuyện. Tại buổi mittinh, Hai Lê thay mặt ban khởi nghĩa dõng dạc thông báo với bà con: Việt Minh đã lên nắm chính quyền!… Cả rừng người tung hô như muốn làm vỡ tung cả không gian một làng quê…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
– Kỳ 5: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 5)

“Chết tự do hơn sống nô lệ!”

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng bên kệ sách gia đình

TT – Ông vẫn còn tráng kiện lắm, giọng nói sang sảng đặc chất Nam bộ cho dù đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 80: “Làm sao quên được những ngày ấy, những người nông dân, công nhân đồn điền cao su, học sinh trường làng… của cái xã An Tịnh nhỏ bé ấy cứ ngất ngây trước hai chữ: tự do!

Ngọn cờ hồng trên chiến lũy!

Đời ông, đời cha mình có bao giờ được nghe hai chữ này đâu! Tôi và một số anh như Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Duy Ngươn, Nguyễn Văn Sữa, Trương Tùng Quân, Trần Bá Liêm, Trần Bá Bên, Tô Văn Ri… tham gia đoàn thanh niên tiền phong xã và cùng với các đoàn thể trong ủy ban khởi nghĩa xã chuẩn bị cướp chính quyền…”. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN, nhớ lại tuổi 20 của mình.

Ngày 25-8-1945, người dân An Tịnh cũng như huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cả miền Nam cùng đứng lên cướp chính quyền. Những đoàn người cuồn cuộn như sóng biển. Vị tướng già đã đi qua trọn vẹn hai cuộc kháng chiến bồi hồi nhớ lại:

“Chúng tôi cùng xuống đường và hô vang khẩu hiệu: Việt Minh muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Dòng máu trẻ cứ rần rật chảy trong người. Hàng ngàn, hàng vạn con người, những đội hình đội ngũ chỉnh tề, trên tay chỉ với tầm vông vạt nhọn mà tinh thần đánh giặc vô cùng hăng hái, tưởng như quân Pháp, quân Nhật xuất hiện với tàu đồng, xe tăng, đại bác… cũng không thể ngăn nổi cơn sóng trào này. Nhìn bóng cờ đỏ sao vàng bay phần phật trong gió, chúng tôi đã thấy được bình minh của tự do…”.

Quân Pháp quay trở lại miền Nam! Để đối phó, cuối tháng 9 -1945 xã An Tịnh đã tuyển chọn một tiểu đội do đồng chí Nguyễn Ngọc Tươi chỉ huy chi viện cho mặt trận Tham Lương. Vừa chuẩn bị lực lượng, khí giới, công sự sẵn sàng cho cuộc chiến, vừa xây dựng phòng tuyến, chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh tại khu vực Suối Sâu, các lực lượng thanh niên Gia Lộc, Lộc Hưng, Trảng Bàng… được khẩn cấp điều động ra chiến lũy, chiến tranh là không thể tránh khỏi!

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Sáng 8-11-1945, hàng trăm xe cơ giới có cả xe tăng và xe bọc thép do liên quân Anh – Ấn chỉ huy, theo sau là lính lê dương Pháp bất ngờ đánh úp Tây Ninh và vùng giáp giới Campuchia. Chúng tôi đều xung phong ra chiến lũy Suối Sâu chỉ vì một lời nguyện thề với lòng mình: Thà hi sinh trên chiến lũy dưới ngọn cờ hồng tự do chứ không thể trở về quê nhà tiếp tục lầm lũi kiếp nô lệ! Lúc đó trên chiến lũy súng thì ít mà giáo mác, mã tấu, tầm vông thì nhiều, nhưng ai cũng hừng hực ý chí xả thân…”.

Lời thề Rừng Rong

Đài tưởng niệm những chiến sĩ Rừng Rong tại Trảng Bàng, Tây Ninh

Phòng tuyến địa đầu vỡ nhanh chóng, tầm vông vạt nhọn sao có thể đối đầu với xe tăng, đại bác! Để bảo toàn lực lượng và cũng là để chuẩn bị cho một cuộc trường kỳ kháng chiến, các chiến sĩ trên chiến lũy Suối Sâu buộc phải rút về Bàu Mây, Rừng Rong (An Tịnh) chỉnh đốn lực lượng và liên lạc với các nơi khác như Trâm Vang (Gia Bình), Cầu Quan (An Hòa)… cũng đã rút lui để hợp lực cho sự ra đời của “Đội tự vệ chiến đấu huyện Trảng Bàng” do Trần Văn Chói chỉ huy, với 27 nam nữ chiến sĩ được chia thành nhiều nhóm do Mười Tùng, Sáu Hung, Út Bưng, Hai Ngươn… làm trưởng nhóm.

Các nhóm hoạt động dựa vào dân để đưa tin, tiếp tế, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí. Đội tự vệ chiến đấu chọn Rừng Rong làm căn cứ để tiến hành chiến tranh du kích. “Gian khổ lắm, những ngày cuối năm 1945 theo chân quân Pháp chiếm đóng là bọn tề gian tràn về cướp bóc, hãm hiếp bà con mình ngay giữa ban ngày. Diệt tề là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đội, chúng tôi một mặt dựa vào dân, một mặt tìm mọi cách tiếp cận xóm làng để tổ chức trừ gian, giải tán hội tề, kết hợp tuyên truyền vận động bà con tham gia cách mạng… Sự tàn ác của giặc ban đầu làm bà con nao núng lắm, nhưng dần dần bà con đã lấy lại niềm tin với lực lượng kháng chiến chúng tôi…” – vị tướng già nhớ lại những ngày ấy.

Hồi ức của 60 năm trước sống dậy trong ông: “Hình ảnh về bóng cờ đỏ sao vàng bay trong gió của cái ngày cướp chính quyền, bóng cờ ám khói trên chiến lũy với chúng tôi không thể nào quên. Cuộc kháng chiến sẽ con rất gian khổ và lâu dài, làm sao để dân tin là chúng tôi – những người cách mạng – sẽ chiến thắng.

Để biểu thị lòng quyết tâm của đội tự vệ chiến đấu với lý tưởng cho nền độc lập và để người dân cũng có được niềm tin ấy, đêm 30 Tết Ất Dậu (ngày 1-2-1946), tại Rừng Rong, chúng tôi tổ chức ăn thề. 27 nam nữ chiến sĩ của đội tự vệ chiến đấu Trảng Bàng đều ở độ tuổi 20 và có thành tích xuất sắc nhất trong chiến đấu từ các mặt trận trong huyện trở về, quần áo chỉnh tề, chỉ với một vài khẩu súng trên vai, đội ngũ đứng nghiêm trang dưới ánh đuốc bập bùng trong đêm.

Sau khi đồng chí chỉ huy đội Trần Văn Chói đọc lời thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước, cả 27 nam nữ chiến sĩ chúng tôi đều hô vang: “Độc lập hay là chết!… Chết tự do hơn sống nô lệ! Ai phản bội sẽ chịu xử tử…”.

Tất cả họ – những người con trai, con gái tuổi đôi mươi – đã giữ vững lời thề chết cho độc lập, chết cho tự do… Trong một lần tập kích, anh Nguyễn Văn Hung đã bị trúng đạn và bị bắt, quân Pháp tra tấn rất dã man nhưng anh vẫn không hé răng khai một lời về nơi đóng quân của đội tự vệ chiến đấu.

Còn chị Trần Thị Đường bị giặc bắt, bị chúng dùng dây điện quấn quanh hai bàn tay rồi ghim điện tra tấn suốt ngày đêm nhưng người con gái tuổi mới đôi mươi này có một dũng khí mạnh hơn đòn tra tấn, đó là lời thề trong đêm Rừng Rong. Nhiều chiến sĩ đã chọn cái chết trước mũi súng quân thù để bảo vệ khí tiết như chị Trần Thị Đẹp. Chỉ riêng trong năm 1946 ác liệt đó, đã có hơn phân nửa những người tham gia hội thề Rừng Rong vĩnh viễn nằm xuống!

Ông Nguyễn Thới Bưng cho đến bây giờ vẫn còn nhớ những cái tên, những gương mặt đã in đậm trong ký ức: “Người ta hay nói thanh niên bồng bột, nhưng với chúng tôi thời ấy cũng mới chỉ 19, 20 nhưng chín chắn lắm. Trước vận nước lâm nguy không thể có chuyện bộc phát sôi nổi. Không ai bội ước với lời thề. Đa số họ hy sinh rất sớm, nằm lại chiến trường ở tuổi 20, chưa thấy được độc lập, tự do. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục đi trên con đường đó đến cùng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chúng tôi mừng rơi nước mắt, trong số 27 người ngày ấy có đến bốn người được phong quân hàm cấp tướng, hai sư đoàn trưởng, hai ủy viên trung ương, hai tư lệnh quân khu… Mà không chỉ vậy, xã An Tịnh chúng tôi đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và có đến 1.200 liệt sĩ, 54 bà mẹ VN anh hùng, năm cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…

Có một địa danh ở Nam bộ cướp chính quyền thành công vào đêm 22-8-1945, trước cả Sài Gòn và tạo tiền đề cho nhiều tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ đứng lên khởi nghĩa. Người chỉ huy sự kiện này là chàng trai 26 tuổi…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

———

* Kỳ cuối: Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho ngày độc lập (Kỳ 4)

Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

Ông Lê Đình Bân (bìa phải) trong ngày chiến thắng Điện Biên Phủ

TT – Qua những tư liệu, nhiều người vẫn nghĩ lá cờ quẻ ly của chính quyền Nam triều trên kỳ đài trước Ngọ Môn được hạ xuống và thay bằng lá cờ đỏ sao vàng cách mạng diễn ra vào ngày Huế tổng khởi nghĩa thắng lợi 23-8-1945.

Thực tế lá cờ đỏ sao vàng đã được treo lên kỳ đài Huế trước đó hai ngày: 21-8-1945 và một trong hai người dũng cảm ấy là con quan tổng đốc…

Con quan tổng đốc treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài!

Sở dĩ có chuyện treo cờ sớm trước ngày Huế khởi nghĩa như thế vì ngay sau khi nghe tin Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào ngày 19-8, nhân dân các huyện Phong Điền, Phú Lộc… của tỉnh Thừa Thiên cũng đã nổi dậy giành được chính quyền và hai chàng trai của Trường Thanh niên tiền tuyến (TNTT) được lệnh hạ cờ quẻ ly, treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Huế.

Lá cờ đỏ sao vàng ấy rộng bằng hai gian nhà, trải ra như tấm thảm lớn được cuộn tròn lại và gác lên hai chiếc xe đạp của hai chàng thanh niên đẹp trai trong quân phục chỉnh tề. “Calô hai sừng đội đầu, quần kaki kiểu kỵ mã vàng óng, đôi ghệt cao cổ của ngự lâm quân. Tất cả binh lực là khẩu barillet to bằng bàn tay và sáu viên đạn…” – ông Đặng Văn Việt, con quan tổng đốc Nghệ An (sau này là trung đoàn trưởng trung đoàn 174, mệnh danh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương” vì chuyên đánh quân Pháp trên trục đường số 4 Cao – Bắc – Lạng), học viên Trường TNTT, nhớ lại.

Cả hai thanh niên đẩy hai chiếc xe đạp chở lá cờ tiến về phía kỳ đài. Tiểu đội lính dõng gác kỳ đài và làm nhiệm vụ đốt pháo lệnh báo giờ răm rắp làm theo lệnh: hạ cờ Nam triều xuống, buộc cờ vào dây, qua ròng rọc đưa cờ đỏ sao vàng lên cao. Lúc ấy là 2g chiều 21-8, ông Việt còn nhớ có một chiếc máy bay hai thân cánh bạc sơn quốc kỳ Mỹ lượn ba vòng quanh cột cờ nghiêng cánh như vẫy chào rồi bay hút ra phía biển…

Lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh kỳ đài mang một ý nghĩa trọng đại báo hiệu sự chấm dứt của một vương triều trị vì 143 năm và hàng ngàn năm của chế độ phong kiến. đất nước sang trang sử mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mấy hôm sau, vua Bảo Đại làm lễ thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ trung ương từ Hà Nội vào, nhà vua tuyên bố “thà làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”, lại có nghi thức hạ cờ vàng và treo cờ đỏ sao vàng chính thức lên đỉnh cột.

Trong buổi chiều ấy, một viên lãnh binh khố vàng (biết ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương là người hạ cờ hôm trước) đến cạnh ông Việt và bảo: “Hôm các anh đến hạ cờ nhà vua, cả đại đội khố vàng chúng tôi nằm phục kích dọc cổng thành Ngọ Môn với hơn 100 tay súng chĩa về các anh. Tôi vào xin ý kiến nhà vua, ngài bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, chúng mi nổ súng thì tao chết trước đấy”. May quá, lính chỉ nằm im cho đến khi các anh đi khuất”.

Trước ngày diễn ra lễ thoái vị của nhà vua, ngày 29-8 một toán lính Pháp đã nhảy dù xuống Hiền Sĩ (cách Huế chừng 20km về phía tây bắc) dưới danh nghĩa phái bộ quân đồng minh nhưng thật ra để móc nối liên lạc thực hiện âm mưu trở lại tái chiếm VN. Ông Phan Tử Lăng, giám đốc Trường TNTT, được phái đi gặp toán nhảy dù này và trở về báo cáo tình hình với Ủy ban hành chính kháng chiến.

Trong lúc ấy, anh em của Trường TNTT đã nhận định: đây là bọn thực dân đội lốt đồng minh để quay lại xâm lược. Không đợi lệnh của ông Lăng, anh em chủ động đi… bắt sống toán nhảy dù này. Ông Nguyễn Thế Lương, người đã cùng ông Việt treo cờ hôm trước nay được cử làm “chỉ huy” đi bắt lính dù Pháp. Thành viên của nhóm “đi bắt Tây” này còn có Nguyễn Trung Lập, Đặng Văn Việt, Hoàng Xuân Bình, Lê Thiệu Huy, Đặng Văn Châu, Hà Đổng, Phan Văn Diên…

Cả toán đi bắt Tây ra phố mượn một chiếc ôtô chạy than, đến gần Hiền Sĩ xe không qua cầu được, anh em nhảy xuống đi bộ, “đi hàng hai bước đều, vừa đi vừa hát hành khúc, súng mang chéo sau lưng. Anh Huy cầm cờ đỏ sao vàng đi trước…”. Cả toán Tây nhảy dù bị bắt gọn bởi mưu mẹo của nhóm anh em TNTT, khi ông Phan Tử Lăng quay lại truyền lệnh của ủy ban bắt giữ toán Tây này thì mọi việc đã được anh em giải quyết xong!

Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ trong ngày 23-8-1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế - Ảnh tư liệu

Lên đường Nam tiến: một cây súng trường và 16 viên đạn!

Cách mạng thành công, Trường TNTT được đổi tên thành Trường Võ bị Thuận Hóa, dời địa điểm sang Trường Quốc học (và sau đó dời thêm vài địa điểm khác) nhưng mọi người vẫn quen tên gọi cũ là TNTT.

Tháng 9-1945 là một mùa khai trường kỳ lạ ở Huế. Các lớp học vắng lặng, học sinh chuẩn bị thi thành chung và tú tài đều bỏ thi, học sinh chuyên khoa bỏ lớp, tất cả nô nức ghi tên gia nhập giải phóng quân (GPQ) Huế. Trường Võ bị Thuận Hóa lại là nơi tiếp nhận, tập hợp các GPQ. Những học viên của trường nay được công nhận là sĩ quan cách mạng, làm bộ khung huấn luyện, tổ chức lực lượng quân đội chính qui của nhà nước non trẻ chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc.

Chính nhiệt tình cách mạng và kiến thức quân sự được học hành tại trường đã khiến những chàng trai TNTT hôm qua đảm đương được nhiệm vụ mới: làm nòng cốt cho lực lượng GPQ. Những thanh niên Huế gia nhập GPQ được phiên chế thành những trung đội, chỉ một thời gian ngắn đã có 25 trung đội được thành lập, trung đội trưởng của các trung đội này đều là sĩ quan TNTT, trung đội phó là những cựu binh sĩ (hạ sĩ quan) đã đi theo cách mạng.

Đại tá Phan Hạo hồi ấy là trung đội trưởng trung đội 1 nhớ lại ngày ông nhận lệnh lên đường Nam tiến để hỗ trợ mặt trận Sài Gòn: trước khi lên đường, ông và trung đội trưởng trung đội 3 Đoàn Huyên (sau này là giáo sư, thiếu tướng QĐNDVN) được gọi lên gặp ủy viên quốc phòng Trung bộ (phụ trách quân sự – quốc phòng cả khu vực miền Trung) Nguyễn Chánh.

Ông Chánh người Quảng Ngãi, đã từng lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, ngay từ những ngày tháng ấy đã thấy trước cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và rất cam go. Sau khi hỏi han tình hình chuẩn bị Nam tiến, anh Hạo báo cáo mỗi người lính chỉ được trang bị một khẩu súng trường và 16 viên đạn, chỉ huy trung đội thì trang bị súng carbine và hai băng đạn nhưng tinh thần thì rất lạc quan vì ai cũng nghĩ vào Nam đánh Pháp xong sẽ “duyệt binh giữa Sài Gòn”. Hùng khí của cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn đã nhân lên niềm lạc quan hừng hực trong những người GPQ chuẩn bị Nam tiến.

Hai trung đội GPQ 1 và 3 lên đường vào Sài Gòn, một tháng sau đại đội Nam tiến thứ hai lại lên đường do Nguyễn Thế Lâm chỉ huy lên tàu vào Sài Gòn, nhưng đến ga Tháp Chàm (Phan Rang) thì được lệnh quay lại bởi ngày 23-10-1945 quân Pháp tấn công Nha Trang. Quân và dân Thừa Thiên – Huế một lần nữa gửi con em vào chi viện cho chiến trường Nam Trung bộ.

Ông Lê Đình Bân tham gia chiến đấu ở mặt trận Nha Trang và bị thương, sau đó ra mặt trận Qui Nhơn, về liên khu 5, về huấn luyện ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, ra Việt Bắc rồi vào Nam đánh Mỹ, mãi đến đại thắng mùa xuân 1975 ông mới về lại Huế, người mẹ của ông, cụ bà Nguyễn Thị Hựu, khi ấy đã 85 tuổi.

Cũng cần nhắc thêm một chút về người sĩ quan của Trường TNTT này bởi đến ngày độc lập, gia đình ông đã có bốn liệt sĩ hi sinh cho cách mạng. Vợ và con ông Bân sống ở Hà Nội, hoàn cảnh bấy giờ không thể đưa cả gia đình về Huế nên một mình ông mang balô về lại quê hương với người mẹ già 30 năm ngóng chờ con.

Người con trai làng Triều Sơn Tây khi tham gia cách mạng vừa ngoài 20 tuổi, ngày về tóc đã bạc quá nửa mái đầu, trong căn nhà nhỏ, ngày ngày ông Bân nấu cơm nuôi mẹ già để báo hiếu.

Cho đến bây giờ khi về gặp ông ở làng Triều Sơn Tây, con cái ông đều thành đạt, vợ ông vẫn sống ở Hà Nội, riêng ông một mình lặng lẽ với làng xưa, viết sử của làng và gia phả dòng tộc, sớm hôm chăm lo hương khói bàn thờ gia tiên. Trên bàn thờ ấy tôi nhìn thấy những tấm hình của người thân ông đã nằm lại dọc đường kháng chiến, tất cả đều rất trẻ…

Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Nam bộ diễn ra muộn hơn miền Bắc và miền Trung. Ngọn cờ hồng trên chiến lũy ám khói súng, trong ánh đuốc bập bùng, những cô gái, chàng trai Nam bộ đã cất cao lời thề…

LÊ ĐỨC DỤC

———————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…
Bài 2:Lên đường!
Bài 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

——————————-

Kỳ sau: “Chết tự do hơn sống nô lệ!”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho ngày độc lập (Kỳ 3)

Những “giải phóng quân” đặc biệt!

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người đội mũ) trong những ngày đi vận động tổng khởi nghĩa ở Huế 1945 (ảnh tư liệu trong cuốn Địa chí Thừa Thiên - Huế)

TT – Năm 1945, tại Huế có một trường võ bị – gọi là Trường Quân sự thanh niên tiền tuyến (TNTT), tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập nên nhưng điều hành ngôi trường lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như giáo sư Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ cương vị quan trọng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Từ ngôi trường “xanh vỏ, đỏ lòng”…

Học viên ngôi trường ấy đa phần đều là quí tử của những gia đình “danh gia vọng tộc” như ông Tôn Thất Hoàng là con của thượng thư Tôn Thất Quảng; ông Đặng Văn Việt, thân phụ làm tổng đốc Nghệ An, từng ba lần giữ chức thượng thư; ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn; Lê Thiệu Huy (người sau này sang chiến đấu cùng Mặt trận Lào, làm tham mưu trưởng liên quân Lào – Việt, ông đã lấy thân mình che đạn cho hoàng thân Xuphanuvông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hi sinh trên dòng Mekong) con trai cụ Lê Thước, giải nguyên Hán học; Hoàng Xuân Bình, em ruột giáo sư Hoàng Xuân Hãn; Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) là con của một nhà thầu khoán lớn…

Vậy mà sau ngày cách mạng mùa thu năm 1945, nhiều học viên Trường TNTT đã giác ngộ cách mạng, đi theo tiếng gọi của núi sông và trở thành những sĩ quan, tướng lĩnh tài ba của quân đội nhân dân VN (QĐNDVN) như trung tướng Cao Văn Khánh, phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN; thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm (Nguyễn Kèn), tư lệnh bộ đội tăng – thiết giáp; thiếu tướng Cao Pha, phó tư lệnh bộ đội đặc công; các thiếu tướng Mai Xuân Tần, Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Đào Hữu Liêu… cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của quân đội.

Nhiều người nổi danh về tài đánh giặc như Đặng Văn Việt – trung đoàn trưởng trung đoàn 174 – mệnh danh là “đệ tứ quốc lộ đại vương” bởi những trận đánh do ông chỉ huy trên đường số 4 vùng Cao – Bắc – Lạng thời kháng Pháp. Nhiều người sau này chuyển sang dân sự là những giáo sư, tiến sĩ dạy tại các trường đại học danh tiếng.

Khung huấn luyện của trường bấy giờ có bốn người do ông Phan Tử Lăng làm giám đốc. Ông Lăng cũng là chỉ huy trưởng lực lượng bảo an Trung kỳ – cùng các ông Võ Lương, Lê Khánh Khang và Lê Đình Bân. Ông Phan Tử Lăng là thủ khoa khóa sĩ quan chính qui Pháp đầu tiên, cùng khóa với tổng thống Dương Văn Minh của chính quyền Sài Gòn.

Ông Vĩnh Mẫn (người ngồi giữa, hàng thứ hai) trong những ngày đầu tham gia cách mạng, người đầu tiên bên trái cạnh ông Vĩnh Mẫn là ông Trần Chí Hiền, tỉnh đội trưởng đầu tiên của Thừa Thiên - Huế sau Cách mạng Tháng Tám - Ảnh tư liệu gia đình của ông Vĩnh Mẫn

Sau này tham gia cách mạng, ông Phan Tử Lăng là đại tá, cục trưởng Cục Quân chính QĐNDVN, nổi tiếng liêm khiết được Bác Hồ khen ngợi. Trong số bốn thành viên “khung” của Trường TNTT ngày ấy có một người nay vẫn còn sống ở Huế, đấy là ông Lê Đình Bân.

Gia đình ông Lê Đình Bân vốn là một gia đình cách mạng lớn ở làng Triều Sơn Tây. Ngôi nhà của gia đình ông ở xã Hương Sơ, ngoại vi thành phố Huế, vốn là cơ sở của đồng chí Phan Đăng Lưu trước cách mạng. Ba ngày trước khi nổ ra tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế, các đồng chí trong Ủy ban chỉ đạo khởi nghĩa do trung ương cử vào gồm Tố Hữu, Nguyễn Duy Trinh, Hồ Tùng Mậu cũng đã chọn ngôi nhà này làm trạm dừng chân.

Ông Lê Đình Bân năm nay đã 86 tuổi nhưng ký ức của thời trai trẻ vẫn chưa hề phai. Ông Bân kể: khi giáo sư Tạ Quang Bửu lập Trường TNTT, ngoài uy tín như một “thương hiệu” để chiêu sinh, giáo sư còn là thủ lĩnh của phong trào hướng đạo nên những thanh niên trí thức yêu nước rất ủng hộ.

Trong các buổi trang bị kiến thức về quân sự do ông giảng dạy, hay các buổi nói chuyện của luật sư Phan Anh với các học viên, giáo sư Tạ Quang Bửu đã tạo điều kiện đưa các tài liệu tuyên truyền về Việt Minh cho học viên đọc. Một nhóm học viên làm tổ chức Việt Minh nòng cốt trong Trường TNTT gồm năm người: Nguyễn Kèn (tức Nguyễn Thế Lâm), Lê Khánh Khang,Võ Quang Hồ, Đặng Văn Việt, Phan Hàm được lập ra và lấy tên là “’Việt Minh Thuận Hóa”.

Đến “người của hoàng gia”

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Huế là đầu não của tập đoàn phong kiến ở VN, gia đình quan lại, hoàng gia… đều sinh sống và làm việc tại đây. Huế cũng là nơi đồn trú của quân đội Nhật lên đến 5.000 sĩ quan và binh lính do cố vấn tối cao Yokohama chỉ huy, đó là chưa kể hàng vạn lính khố xanh, khố vàng, khố đỏ… của hoàng gia triều Nguyễn, không ít người ngày đó cho rằng cuộc tổng khởi nghĩa ở Huế sẽ rất khó khăn. Thế nhưng…

Ông Lê Đình Bân sống lại với những hồi ức - Ảnh: L.Đ.D

Từ ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa đã giành được chính quyền ở Phú Lộc, rồi Phong Điền, Hương Thủy, Phú Vang… cũng thắng lợi như chẻ tre, vì có ai ngờ tỉnh có sáu huyện thì đã có bốn trưởng huyện là nội ứng của cách mạng!

Cho đến chiều 21-8, lực lượng tự vệ đã làm chủ tình hình vòng ngoài đồn Mang Cá và sáng 22-8 đã chiếm giữ bờ trái cầu Trường Tiền. Ngay chính vua Bảo Đại cũng rất hoang mang nhưng không thể làm được gì, vì chính trong hoàng tộc, hoàng gia đã có không ít người chọn đi theo con đường của dân tộc…

Ông Vĩnh Mẫn, năm nay đã 75 tuổi, sống ở Vĩ Dạ, những ngày tháng 8-1945 sôi sục ấy ông mới chỉ là một chú bé liên lạc 15 tuổi cho ủy ban khởi nghĩa. Vĩnh Mẫn là con trai thứ ba của cụ Bửu Trác (cụ Bửu Trác là cháu nội vua Hiệp Hòa) – thời vua Khải Định, cụ Bửu Trác là quan ngự tiền hộ giá, sau được thăng đến thống chế nhất phẩm (nhân vật thứ hai trong triều đình sau nhà vua). Nếu cơ cuộc bấy giờ xoay khác đi, rất có thể cụ Bửu Trác đã nối ngôi vua sau khi vua Khải Định qua đời và ông Vĩnh Mẫn đã là hoàng tử!

Theo ông Vĩnh Mẫn, không chỉ riêng ông mà cả người anh trai là Vĩnh Tập cũng tham gia cách mạng rất sớm, gia nhập đơn vị tiếp phòng quân Huế và hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Huế khi Pháp tái chiếm (1947) lúc vừa tròn 20 tuổi. Sau này những người cùng thời kể lại rằng đại tướng Nguyễn Chí Thanh hồi ấy rất yêu mến và quan tâm đến Vĩnh Tập, bởi phẩm chất thông minh và sự nhiệt tình trong hoạt động của chàng trai hoàng tộc đi theo cách mạng…

Lịch sử luôn có những điều thật thú vị. Ông Tôn Thất Hoàng, con trai quan thượng thư Tôn Thất Quảng, nhớ lại: là đại diện của hoàng tộc triều Nguyễn nhưng những ngày tổng khởi nghĩa chính ông lại được cách mạng tin tưởng cử đi bảo vệ đoàn đại diện chính phủ từ Hà Nội vào tiếp nhận kim ấn nặng 10kg vàng ròng và chiếc trường kiếm với bao kiếm bằng vàng nạm ngọc – biểu tượng quyền lực tối cao của hoàng gia. Ông Trần Huy Liệu, đại diện chính quyền nhân dân, trực tiếp nhận báu vật này từ tay hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn trong sự bảo vệ cẩn mật của hoàng tộc!…

Rất nhiều câu chuyện như thế của 60 năm về trước bây giờ nghe kể lại cứ như thấy trước mắt mình hình ảnh của những con người trẻ tuổi, bất kể hoàn cảnh xuất thân. Họ từ bỏ cuộc sống nhung lụa của hoàng gia, hoàng tộc, quan quyền đi theo ngọn cờ độc lập. Và cách mạng chính là mối tình đầu của cuộc đời họ!

Đối với thần dân đất kinh thành Huế, những câu chuyện kỳ lạ về những ngày cướp chính quyền thật không thể nào quên vì mỗi số phận con người đều ẩn chứa một phần lịch sử…

LÊ ĐỨC DỤC

——————————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…
Bài 2:Lên đường!

——————————

Kỳ sau: “Mỗi số phận chứa một phần lịch sử…”

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 2)

Lên đường!

Lực lượng Việt Minh và nhân dân Hà Nội chiếm phủ khâm sai ngày 19-8-1945

TT – Cuộc tổng khởi nghĩa 19-8-1945 – Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa lịch sử dân tộc đi tới con đường độc lập – con đường tự do. Mùa thu năm ấy, cuộc lên đường của những người trong độ tuổi 20…

Phút “giao thừa” độc lập

Trong cuốn Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám – Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động – 1999, ông Nguyễn Khang, nguyên chủ tịch Ủy ban Mặt trận khởi nghĩa Hà Nội, viết: “Phong trào cứu quốc những ngày tháng tám đã lên cao tới mức không thể tưởng tượng được và người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh. Các hoạt động gần như công khai.

Lúc này trung ương đang mở đại hội quốc dân ở Tân Trào nên nếu có chỉ thị thì cũng phải đợi một thời gian nữa mới tới. Nhưng thời cơ đã tới và không đợi chúng ta. Hơn nữa chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã là cẩm nang mở cho Hà Nội hành động. Đúng ngày 15-8 xứ ủy mở cuộc họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (lúc này phần lớn lãnh đạo xứ ủy đã đi họp ở Tân Trào). Cuộc họp nhận định tình hình và kết luận đây là thời cơ có một không hai để khởi nghĩa cướp chính quyền.

Xứ ủy quyết định: thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội để chỉ đạo công việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa ở Hà Nội. Lúc này quân Nhật ở Hà Nội khoảng hơn 1 vạn. Lực lượng của ta chỉ có ba chi đội tự vệ hơn 700 người, vũ khí thô sơ và mới qua vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Tuy nhiên phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần…”.

Ngày 17-8-1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân hòng “sơn phết” lại chính quyền bù nhìn. Chúng ta đã lường trước và âm thầm tổ chức lực lượng nòng cốt cướp diễn đàn mittinh này và biến thành ngày hội của quần chúng với cờ đỏ sao vàng. Tại đây đội danh dự đưa ra sáng kiến biến mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Thế là theo hướng dẫn của các đội tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát lớn qua phố Tràng Tiền, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng với những tiếng hô vang dậy “Ủng hộ Việt Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”. Đi đến đâu bà con tham gia đến đó. Ngay cả lính bảo an của chính phủ bù nhìn cũng ôm súng nhập vào đoàn biểu tình. Trước không khí đó, cuộc họp “hội đồng tư vấn Bắc kỳ” của chính phủ Trần Trọng Kim đang tổ chức ở nhà Khai Trí – Tiến Đức tan tác như ong vỡ tổ.

Đoàn biểu tình chia thành nhiều mũi đi vào khắp các phố lớn, đến tận 9-10g đêm mới giải tán. Cuộc tuần hành này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho ngày tổng khởi nghĩa 19-8. Nó bộc lộ và khẳng định sức mạnh vũ bão của quần chúng cách mạng. Ngay đêm đó Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội họp khẩn cấp và kết luận: thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ông Trần Quang Huy, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Hà Nội, nói về kế hoạch khởi nghĩa như sau: “Chúng tôi huy động hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích, tiến hành mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn, sau đó tuần hành thị uy xông lên chiếm những cơ quan trọng yếu là phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, ty liêm phóng, sở cảnh sát Hàng Trống, kho bạc và bưu điện. Đối với Nhật, ta không đánh chiếm những nơi chúng đóng quân nhưng đề phòng trường hợp chúng gây hấn, ta cướp vũ khí, vừa đánh vừa rút ra ngoại thành chiến tranh du kích đợi quân giải phóng về”.

Ông Trần Quang Huy nhớ lại: ngày 18-8, không khí khởi nghĩa rạo rực và bùng phát ở khắp các vùng ngoại thành, tại các nhà máy công xưởng. Nhiều chủ cai, thầy ký còn phối hợp với ta tiếp quản cho nhanh. Anh em công nhân rầm rộ giương cờ đỏ sao vàng chạy qua mũi quân Nhật, bọn chúng cũng chỉ biết thúc thủ đứng nhìn.

Còn ông Thái Mỹ (tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng), nay đã 81 tuổi nhưng ông chẳng thể nào quên cái đêm hôm ấy: “Đêm giao thừa của kỷ nguyên độc lập hình như cả Hà Nội không ngủ. Những tiếng nói cười, tiếng máy khâu may cờ xè xè hối hả khắp nơi, tiếng thử súng, tiếng mài gươm suốt đêm. Chúng tôi có cảm giác như cả Hà Nội đã chờ đợi ngày này từ trăm năm rồi. Nhiều tốp thanh niên nam nữ tập hát Tiến quân ca, những kế hoạch cuối cùng cho ngày mai – ngày rạng đông độc lập cứ sôi sục mãi suốt đêm thâu…”.

Ngày cách mạng!

Sáng sớm 19-8-1945 các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng! Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu, trường học đều đóng cửa. Thậm chí cả ôtô, xe điện, xe kéo, xe đạp cũng không có chiếc nào, trên đường là từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn. Dòng người vừa đi vừa hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh hoặc hát Tiến quân ca.

Ông Thái Mỹ nhớ lại: “Tổ Việt Minh chúng tôi chịu trách nhiệm dẫn một đoàn đi từ khu Năm Diệm (Giảng Võ) ra Nhà hát lớn. Dẫn đầu là hai thanh niên Lê Văn Cử và Thái Vĩnh cùng giương cao biểu ngữ. Ông Thái Mỹ thì cầm khẩu súng ngắn chỉ huy bên cạnh. Khoảng hơn 100 thanh niên tự vệ Việt Minh đi theo cùng hàng vạn quần chúng với cờ, biểu ngữ và những tiếng hô dậy đất “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”…

Bà con hai bên đường gia nhập đoàn ngày một đông. Tinh thần anh em thanh niên hưng phấn tột độ. Mũi của ông Thái Mỹ phụ trách đi qua Hàng Gai – phố nhà ông ở. Và ông được hưởng niềm hạnh phúc tột cùng: cha mẹ, bà con, hàng xóm nhà mình đứng đầy hai bên đường đã thấy ông cầm súng dẫn đầu đoàn quân cách mạng…

Ra đến Nhà hát lớn ông Nguyễn Huy Khôi bước ra đọc lời hiệu triệu toàn thể quốc dân đứng lên giành độc lập. Tiếng hô vang dậy một góc trời. Cuộc mittinh chuyển sang tuần hành thị uy, chia làm hai khối lớn. Một: chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, bưu điện, kho bạc và sở cảnh sát Hàng Trống; hai: chiếm trại bảo an binh, sở liêm phóng và nhà pha Hỏa Lò.

Tại phủ khâm sai, hai đại đội bảo an binh được lệnh chốt giữ, chĩa nòng súng vào lực lượng cách mạng. Nhưng cũng tại đây ta đã có nhiều cảm tình cài sẵn. Ta vừa biểu tình thị uy, vừa kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân. Viên chỉ huy đang lúng túng lo sợ thì một số thanh niên tự vệ đã trèo hàng rào nhảy vào.

Tất cả binh lính đều bó tay qui hàng giao nộp vũ khí. Tự vệ ùa vào sân hạ cờ giặc, kéo cờ đỏ sao vàng, bắt giam một số tên cầm đầu và thu vũ khí trang bị cho tự vệ. Còn tại trại bảo an binh thì gặp rắc rối: ta cướp súng lính canh, phá cửa tiến vào, thu vũ khí thì lính Nhật ào đến với bốn xe tăng gắn đại liên. Chúng đòi trả lại trại và tước vũ khí của ta.

Bà Minh Tâm kể: lực lượng nữ được tung ra, chị em nữ sinh kéo đến vây lấy xe tăng Nhật. Một mặt ta bao vây thị uy, một mặt ủy ban cử người đến nói chuyện với chỉ huy quân Nhật. Sự kiện này được ghi lại theo hồi ức của ông Lê Trọng Nghĩa, ủy viên ủy ban khởi nghĩa, trong cuốn 19-8 cách mạng là sáng tạo như sau: “Tôi lấy chiếc xe Limousine đen của phủ khâm sai cắm cờ đỏ sao vàng rồi tiến thẳng xuống đường Hàng Bài, thuộc khu vực Nhật kiểm soát.

Dừng trước cổng rạp Majestic (nay là rạp Tháng Tám) và đòi gặp viên chỉ huy, tôi nói với viên sĩ quan: “Trại bảo an binh thuộc quyền phủ khâm sai người Việt, mà người Nhật sắp về nước rồi nên đừng can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Viên sĩ quan không có vẻ hung hăng như trước mà chỉ nói: “Các ông phải nói chuyện với cấp trên của chúng tôi” rồi quay vào. Thế là khoảng 3-4 giờ chiều xe tăng Nhật rút lui…”.

Ông Lê Tuấn không thể nào quên ngày trọng đại đó: “Thấy bọn Nhật lê ủng quay về, quần chúng hò reo vang dậy. Họ ùa sát hàng rào sắt nắm lấy tay anh em tham gia chiếm giữ trại lính. Một cụ già khăn xếp áo sa dài tay chống ba toong cố len đến hàng rào thò bàn tay gầy run rẩy nắm tay anh em và móm mém nói: “Hậu sinh khả úy! Việt Minh vạn tuế! Việt Minh vạn tuế!”. Các chị, các mẹ chở cơm bằng xe tay vào cho lực lượng cách mạng. Mọi người chia nhau những nắm cơm chấm muối. Những nắm cơm ngày ấy có mùi vị khác hơn bao ngày, bởi đó là những miếng cơm đầu tiên mọi người được thụ hưởng trong không khí tự do…

Năm ngày sau khi Hà Nội khởi nghĩa thành công, người dân đất kinh thành Huế cũng đã đứng lên cướp chính quyền. Trong số họ có cả những hoàng thân quốc thích, con quan đại thần, tổng trấn… Và ngôi trường võ bị do chính phủ bù nhìn thân Nhật lập nên cũng chính là “lò” cung cấp thủ lĩnh quân sự cho cách mạng…

QUANG THIỆN

—————————-

Bài 1: Chung một bóng cờ…

—————————-

Kỳ sau: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

tuoitre.vn

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 1)

Chung một bóng cờ…

Cuộc hội ngộ sau hơn nửa thế kỷ của những chiến sĩ cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa Hà Nội (ông Thái Mỹ đứng thứ ba, ông Lê Tuấn đứng thứ tư từ phải sang)

TT – Tháng 8-1945, dưới ngọn cờ cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cả dân tộc đã đứng dậy! Và hàng vạn, hàng triệu con người trong độ tuổi 20 đã đi cùng dân tộc, mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên độc lập tự do. Cái tuổi 20 ngày ấy sau 60 năm vẫn còn hừng hực lửa…

Con đường của những người trẻ tuổi…

Hà Nội những năm 1940… trong cái thanh bình, tao nhã luôn ẩn chứa sự ngột ngạt và u uất như đã có sẵn ở mỗi con người.

Với cậu con trai người chủ hiệu khắc dấu Ích Cát ở 47 Hàng Gai cũng vậy, cậu thấy lòng nhức nhối trước cảnh những tên đội Tây vung dùi cui xua đuổi mấy bà hàng xôi với những bộ đồ vá víu chằng chịt chạy tán loạn như chim vỡ tổ, hay cảnh những đứa trẻ tóc vàng mắt xanh béo tốt, ngả ngớn trên xe tay vừa cười vừa đạp vào lưng người kéo xe tóc bạc còm nhom…

Đại tá Lều Đức Huy, biệt danh Thái Mỹ, vị lão thành cách mạng nay đã 81 tuổi, trú tại số 30 nhà B1 khu tập thể Quân đội (Mai Dịch, Hà Nội) và là tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng của thủ đô, nói về tâm trạng của mình. Mà chẳng riêng gì ông, những người trẻ Hà Nội ngày ấy, hôm nay gặp lại tuy đã bước vào tuổi 80 đều có chung tâm trạng, sự tủi nhục của người dân mất nước…

Nhật đảo chính Pháp, Hà Nội xuất hiện những đoàn quân Nhật mặc quần soóc lửng, áo kaki, mũ vải mềm. Điều đó với một số người dân Hà Nội là lạ lùng, hiếu kỳ. Nhưng với ông Nguyễn Ngọc Liên (cán bộ tiền kháng chiến, năm nay đã 82 tuổi) và nhiều thanh niên Hà Nội thì không có gì hào hứng. Những nỗi niềm đó ông thường tâm sự với một người bạn học là Phương Đình Kỷ.

Cha ông Kỷ làm nghề thủ thư và mẹ buôn bán nhỏ ở chợ Hôm. Một buổi chiều đẹp trời chừng 5-6 giờ, ông Liên đang ngồi học bài ở nhà một mình thì ông Kỷ đi vào, rút từ túi quần một cuốn vở học sinh đưa bạn và nói nhanh: “Cậu xem cái này đi!”. Ông Liên mở quyển vở, kẹp bên trong là một tập giấy nhỏ in mực đen đề dòng chữ “cờ giải phóng”, phía dưới có bài viết về phát xít Đức đã đầu hàng Đồng minh.

Bài thứ hai của tác giả Trường Chinh viết về nguyên nhân của nạn đói đang giết hàng triệu đồng bào là chính sách đàn áp của phát xít Nhật núp dưới chiêu bài Đại Đông Á. Tờ thứ hai là Lời kêu gọi đánh đuổi quân xâm lược của Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng là năm tờ truyền đơn của tổ chức VN độc lập Đồng minh kêu gọi nhân dân vùng lên đánh Nhật… Ông Liên nhìn ra cổng, bạn đã khuất bóng, ánh mắt ông xa xăm, ông biết rằng mình đã tìm được con đường cho riêng mình…

Còn bà Minh Tâm (bí danh Lê Tuyết Minh), thành viên Thanh niên phản đế Hà Nội, nhớ lại: nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy kiêu sa lắm, lúc nào ra đường cũng áo dài trắng thướt tha, guốc cao, tóc dài… Nhưng trước vận nước cũng không thể ngồi yên, bà Minh Tâm và nhiều nữ sinh Hà Nội tham gia “hội kín” Thanh niên phản đế Hà Nội từ rất sớm.

Gần đến ngày tổng khởi nghĩa, các chiến sĩ phải thoát ly gia đình chuyển đến Thanh Trì. Ngày ấy con gái bước ra khỏi nhà quá ngày là cả xóm dị nghị, vậy mà bà Tâm và nhiều nữ sinh khác đã bước qua lễ nghi phong kiến để chọn con đường đi theo cách mạng…

Ông Lê Tuấn (Phạm Thụy Uông), cháu nội quan tuần phủ Hưng Yên, lại là tổ trưởng 11 tiểu tổ Việt Minh nội thành Hà Nội. Ông bảo ngay khi Việt Minh còn trong “bóng tối”, người Hà Nội đã tin tưởng vào con đường giải phóng dân tộc của họ. Ông không thể nào quên câu chuyện hai cô gái con nghị sĩ đã âm thầm đóng góp tài chính cho Việt Minh, hay chuyện con trai ông chủ hiệu Tường An, là cháu viên hội đồng dân biểu Hà Nội đã tìm đến và ủng hộ ngay một khẩu súng… Mọi người âm thầm hướng về một bóng cờ đang ẩn hiện trong đêm trước bình minh của dân tộc…

Chuẩn bị cho ngày đứng lên…

Ngày 17-8-1945, nhận chỉ thị của ông Lê Tuấn – trưởng nhóm Việt Minh nội thành Hà Nội: tập trung tại Thuận Thành, Bắc Ninh để tập bắn đạn thật! Bốn chị em trong nhóm bà Minh Tâm ai nấy ăn mặc rất yểu điệu, đạp xe tung tăng qua cầu Long Biên. Vừa đi vừa cười nói, xe vướng vào nhau đổ kềnh cả ra đường. Điểm hẹn là một bãi cỏ rộng vắng người. Ông Lê Tuấn lấy ra một khẩu súng mút-cơ-tông cắm bia ngắm và giao hẹn: mỗi người chỉ được bắn hai phát. Thế là các thiếu nữ để nguyên quần áo trắng muốt, guốc cao thanh lịch mà lăn lê bò toài với súng ống.

Ông Lê Tuấn khi ấy là con trai ngài phụ tá quan phủ Thuận Thành, Bắc Ninh. Lê Tuấn chơi thân với con quan phủ cùng trạc tuổi và có thể mượn súng của bọn lính khố xanh gác cổng quan phủ bất cứ lúc nào. Không ai ngờ được cậu Hai Lê Tuấn lại chính là giảng viên quân sự của lực lượng Việt Minh từ Hà Nội sang…

Trước ngày khởi nghĩa, vũ khí, súng ống là chuyện xa xỉ của những người đi theo Việt Minh. Và những chiến sĩ Việt Minh trẻ tuổi đã tìm mọi cách để trang bị cho mình. Họ tìm súng bằng tinh thần mạo hiểm, tinh nghịch, tài tử và đầy sáng tạo. Đầu tiên phải kể đến vụ chôm súng sĩ quan Nhật của ông Lê Tuấn.

Một buổi tối đang đạp xe trên đại lộ Gambetta (đường Trần Hưng Đạo bây giờ) ông giật mình vì tiếng quát của một tên Nhật từ sau gốc cây: “Ê, cu ly xe!”. Người kéo xe sợ tên Nhật đang say rượu với súng gươm kè kè bên mình đánh nên năn nỉ ông Tuấn cùng quay lại cho đỡ sợ. Nhìn tên Nhật lảo đảo bò lên xe, ông Tuấn nghĩ ngay đến việc cướp khẩu súng. Bác phu xe nặng nhọc kéo thân hình tên Nhật to béo, còn ông Tuấn lóc cóc đạp xe chạy theo.

Ông Tuấn ra hiệu bác phu xe chở tên Nhật vào thẳng sân tòa án, một nơi rất vắng người và có nhiều cây to. Đến sân, hai người bê tên Nhật xuống đất. Ông Tuấn nhanh chóng tháo khẩu súng ngắn nhét vào bụng. Nghĩ đến bác phu xe, ông tháo thêm chiếc đồng hồ trên tay tên Nhật gí vào tay bác rồi cả hai tháo chạy. Đó là khẩu súng Chiêu Hòa mới cáu, thép xanh lét mà lần đầu tiên ông được nhìn thấy. Ít lâu sau, “cái mẹo” tìm súng của ông Tuấn được phổ biến cho đồng đội khắp nơi…

Còn khẩu súng ông Thái Mỹ lấy được của Nhật lại thú vị kiểu khác. Hôm đó ông Thái Mỹ đạp xe về quê ở Thường Tín, Hà Tây. Đến khu Bạch Mai bây giờ thì xe bị thủng lốp. Đang ngồi chờ vá xe thì một tên lính Nhật đi vào. Vì trong người mang tiền, tài liệu Việt Minh, ông định đứng dậy bỏ chạy chợt tên Nhật ra hiệu ngồi im. Ông còn đang phân vân chưa biết xử trí ra sao thì tên Nhật móc súng ra… và đặt lên bàn!

Hắn vừa nói vừa cố ra hiệu, ông mới hiểu nó định bán khẩu súng! Như một khách hàng thực thụ, ông cầm súng lên xem. Đó là khẩu Smít Oát-sơn của Anh. Ông đoán thằng Nhật đã ăn cắp súng ở đâu đó vì không phải súng Nhật và chắc muốn bán thật.

Vừa bán được 100 đồng Đông Dương tín phiếu của tổ chức, ông trả giá một hồi thì nó chịu bán với giá 50 đồng – giá trị tương đương một chiếc xe đạp cà tàng, còn với khẩu súng thì đó là cái giá quá rẻ… Tên Nhật nhận tiền đi thẳng. Còn ông gói khẩu súng vào khăn mùi soa nhét vào trong áo và mang về cho tổ chức đánh Nhật!

Trùng trùng lớp lớp những làn sóng người xông lên phía trước đưa dân tộc đi tới con đường độc lập tự do. Ngày 19-8-1945 có bao giờ quên được trong tâm khảm những người trẻ tuổi…

QUANG THIỆN

———

* Kỳ sau: Tuổi 20 “lên đường”!

tuoitre.vn

Những bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Tuyệt đối bí mật Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “hân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
*    *

Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt câu ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

———————-

Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

Bản 2:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc
(Tuyệt đối bí mật)

Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

Vì vậy tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Tháng 5-1968, khi xem lại thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thăng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

—————————–

Bản 3:

10-5-1969

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tói có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là “người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

———————–

Bản công bố chính thức năm 1969:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

*
*    *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý , có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
*    *

VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

*
*    *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

(Theo “Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”/Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Hà Nội; 1989)

Bác Hồ với ngành Đông Y

Bác Hồ trên đỉnh Hoàng Sơn, năm 1965. Uncle Ho on the top of Mount. Hoang Son (1965).

Nhà số 2, Đường Lý Thường Kiệt ở Thủ đô Hà Nội là một biệt thự nhỏ, xinh đẹp, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngôi biệt thự này được dùng làm nhà khách của Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong khoảng thời gian gần hai tháng mùa Hè năm 1962, nơi đây là “Phòng khám Đông Y đặc biệt” của Cục Bảo vệ sức khỏe Bộ Y tế có mời Danh y Diệp Tâm Thanh từ Bắc Kinh, Trung Quốc sang Hà Nội để điều trị kết hợp bằng Trung y cho một số vị lãnh đạo cao cấp của nước ta đang bị yếu sức. Cục Bảo vệ sức khỏe biết tôi trước đây là học trò của cụ Diệp, lại đang phụ trách bộ phận Đông y – Đông dược trong Cục, nên đã điều động tôi hàng ngày đến làm việc cùng với chuyên gia.

Đã gần một tháng, hàng ngày cứ trước 7 giờ rưỡi sáng, tôi có mặt để chuẩn bị làm việc. Nhớ lại vào sáng ngày 7-6-1962, tôi cảm giác ở đây, hôm nay có chuyện gì hơi khác. Ngoài cổng có một số người lạ mặt, đồ đạc trong nhà sắp gọn gàng, trật tự hơn. Cụ chuyên gia sao hôm nay quần áo chỉnh tề, lại xuống ngồi tại phòng khách sớm thế? Nhìn thấy tôi, cụ Diệp nói ngay:

– Tôi vừa được đồng chí phiên dịch cho hay là ít phút nữa có khách đến thăm.

– Thưa cụ, vị khách nào đấy ạ? Tôi hỏi.

Cụ chuyên gia trả lời: Tôi cũng chưa được rõ.

Tôi quan sát phòng khách: Mọi ngày thấy có ít ấm chén, hôm nay lại thấy nhiều hơn. Mọi ngày vẫn đặt thuốc lá Điện Biên hoặc Thủ đô, thì hôm nay được đổi là Ba Đình. Tôi đang định lên gác để xem phòng làm việc có cần phải chuẩn bị gì thêm không, thì thấy Bác sỹ Nhữ Thế Bảo, Cục trưởng Cục Bảo vệ sức khỏe đến. Thấy tôi, Bác sỹ Nhữ Thế Bảo hỏi ngay: “Chuẩn bị xong chưa, Khách đến đấy!”.

– Thưa anh, ai thế ? – Tôi hỏi.

– Dăm phút nữa thì sẽ biết!

Ngay lúc đó có tiếng ô tô chạy vào trong sân. Chúng tôi vội ra cửa thì thấy Hồ Chủ tịch đang từ trong chiếc ô tô kiểu “Provida”, sơn màu xám đã hơi cũ, bước xuống. Cụ Diệp Tâm Thanh đi nhanh tới ô tô. Bác Hồ bắt tay Cụ chuyên gia và giơ tay chào mọi người, rồi đi thẳng vào phòng khách. Cùng đi với Bác Hồ, có các đồng chí Vũ Kỳ (Bí thư riêng của Bác), đồng chí Lê Minh Châu (Phó Văn phòng Trung ương Đảng), đồng chí Nguyễn Kháng (Cục trưởng, Bộ Công an) và 3 đồng chí khác nữa mà tôi chưa biết tên.

Bác Hồ ngồi xuống chiếc ghế sa-lông dài, bên cạnh là chuyên gia Diệp Tâm Thanh. Các ghế khác là đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí Lê Minh Châu, v.v… Tôi tìm ngồi cạnh Bác sỹ Nhữ Thế Bảo tận dãy ghế gần phía cửa ra vào.

Bác nói chuyện với chuyên gia Diệp Tâm Thanh bằng tiếng Trung Quốc, Bác hỏi:

– Diệp đại phu (thầy thuốc) đã quen với khí hậu Việt Nam chưa? Ăn uống ra sao? Có hợp với khẩu vị Việt Nam không? Việc khám bệnh cho các đồng chí Việt Nam có bận không? Bệnh tình của đồng chí V thế nào? Chuyên gia Diệp trả lời: “Thưa Hồ Chủ tịch, sức khỏe của tôi tốt ạ! Khí hậu Việt Nam cũng như ở Bắc Kinh. Thức ăn Việt Nam rất ngon ạ!

Bác cười: “Ở Việt Nam nóng hơn ở Bắc Kinh, đại phu cần chú ý. Có gì thì cứ nói với các đồng chí Việt Nam. Đừng có khách khí đấy nhé!”.

Bỗng giọng Bác trầm xuống, thong thả nói tiếp: “Đồng chí V bị bệnh hơi nặng là do làm việc nhiều quá. Các đồng chí Việt Nam hàng nay phải làm nhiều việc, lo lắng để xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, lại còn lo đánh Mỹ – Nguỵ, chúng tôi quyết tâm giải phóng miền Nam. Đế quốc Mỹ nhất định thua. Nam – Bắc nhất định thống nhất! Đại phu sang đây để điều trị bệnh cho chúng tôi, cũng là góp phần đánh Mỹ”.

Thấy mọi người đều ngôi im phăng phắc, Bác cười thoải mái, hỏi chuyện tiếp:

– “Đại phu” lần đầu sang Việt Nam, đã đi chơi đâu chưa?

– Thưa Hồ Chủ tịch, tuần trước tôi đã được đi thăm Vĩnh Kinh ạ – Diệp chuyên gia đáp.

– Thế “đại phu” có cảm tưởng gì?

Chuyên gia Diệp Tâm Thanh với giọng đầy xúc động, thong thả đáp:

– Thưa Hồ Chủ tịch, vào đến Vĩnh Linh, được đứng bên này Cầu Hiền Lương, được tận mắt thấy cảnh chia cắt: chiếc cầu thì sơn nửa đỏ nửa xanh, trên cầu có cảnh sát của Ngô Đình Diệm, kè kè súng ngắn bên hông. Bên này cầu thì có nhiều người, cả bộ đội lẫn người dân vẫn chơi bóng chuyền và làm ruộng. Qua ống nhòm, thấy bên kia cầu không một bóng người, chỉ thấy nhiều lô cốt.

Bác Hồ cười và nói: “Đúng rồi, bên Miền Bắc chỉ muốn hòa bình, nhưng kẻ thù lại hiếu chiến”.

Là lần đầu, được vinh dự gặp Hồ Chủ tịch tại Thủ đô Hà Nội, tôi vừa nghe Bác nói chuyện với khách, vừa chăm chú nhìn Bác: Bác Hồ chỉ mặc bộ ka ki màu vàng đã hơi cũ, chân đi đôi dép lốp, quai to. Có lúc Bác nói trực tiếp với chuyên gia Diệp bằng tiếng Trung Quốc, có lúc nói bằng tiếng Việt (có đồng chí Đăng là cán bộ của Ban đối ngoại Trung ương Đảng dịch). Bác Hồ còn rất khỏe. Trong lúc Bác nói chuyện, thỉnh thoảng Bác lấy thuốc lá riêng ở trong túi ra hút.

Trong lúc tôi đang tập trung cố ghi nhớ những hình ảnh về Bác, thì Bác nhìn tôi và hỏi: “Cháu kia làm gì ở đây?”

Bác sỹ Nhữ Thế Bảo vội thưa: “Thưa Bác, đây là anh Nguyễn Liễn, đã được học Đông – Tây ở Bắc Kinh, được Cục Bảo vệ sức khỏe cử đến để cùng làm việc với chuyên gia Diệp Tâm Thanh đấy ạ!”.

Chuyên gia Diệp Tâm Thanh nói thêm: “Bác sỹ Nguyễn Liễn cũng có thời gian đến học tập tại Viện nghiên cứu Trung y Bắc Kinh, là một trong số các sinh viên Việt Nam rất cần cù đấy ạ!”.

Bác Hồ cười và xua tay, rồi nói bằng tiếng Trung Quốc với cụ Diệp Tâm Thanh : “Đại phu chớ có khen, để cháu ấy phổng mũi (tay Bác sờ lên mũi) mà chủ quan không chịu học tập thêm” (làm cho mọi người trong phòng đều cười vui vẻ). Bác lại hỏi tôi:

– Cháu có biết ở Việt Nam ngày xưa có ai là thầy thuốc Đông y giỏi không?

Tôi thưa: “Thưa Bác, cháu mới biết được có cụ Tuệ Tĩnh và cụ Hải Thượng Lãn Ông, nhưng cháu chưa được hiểu nhiều về hai cụ ấy ạ”.

Bác nói ngay: “Cụ Tuệ Tĩnh một nhà sư, lại rất giỏi về thuốc Nam ở Thế kỷ XIX, có nhiều kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây thuốc có sẵn ở Việt Nam, đã được nhân dân suy tôn là ông Tổ thuốc Nam. Cụ Tuệ Tĩnh còn nói một câu đầy ý nghĩa là: Nam Dược trị Nam nhân để ám chỉ rằng ở Việt Nam ta có rất nhiều cây thuốc phù hợp với bệnh tật của người Việt Nam. Bác chỉ thị: “Cháu phải học thêm cả thuốc Nam”. Rồi Bác nói tiếp: “Còn cụ Hải Thượng Lãn Ông là thầy thuốc Đông y ở Thế kỷ XVII, biết đem lý luận Trung y của Trung Quốc áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Cũng phải linh hoạt, sáng tạo, chứ không phải áp dụng máy móc được”. Bác cười và nói tiếp: “Thuốc Tây mới vào Việt Nam hơn 100 năm nay, còn dân tộc Việt Nam đã có lịch sử 4.000 năm, mà vẫn tồn tại và phát triển tới ngày nay là nhờ có thuốc Đông y. Tây y, có cái hay, Đông y cũng có cái hay, nếu ta biết kết hợp cả Đông – Tây y để chữa bệnh cho nhân dân, thì có phải càng tốt hơn hay không?”

Tôi đã lễ phép: “Kính thưa Bác, cháu xin hứa sẽ cố gắng hết sức để thực hiện những điều Bác vừa dạy bảo ạ!”.

Bác gật đầu, cười và nói: “Thế là tốt!” Rồi Bác nhìn đồng hồ và quay sang hỏi đồng chí Lê Minh Châu: “Việc ăn, ở của Diệp “Đại phu” có chu đáo không?”

Đồng chí Lê Minh Châu thưa: “Thưa Bác, chúng cháu cũng chú ý đấy ạ!” Bác hỏi:“Nhà bếp ở đâu, dẫn Bác đi xem”.

Bác cười với chuyên gia Diệp Tâm Thanh và nói: “Tôi đi xem chỗ nấu ăn cho “Đại phu” xem thế nào?”.

Có đồng chí Lê Minh Châu hướng dẫn. Bác đứng dậy, nhanh nhẹn đi ra cửa, rồi vào thẳng nhà bếp, Bác hỏi đồng chí cấp dưỡng: “Hằng ngày ông thầy thuốc có ăn hết xuất cơm không?” Đồng chí cấp dưỡng thưa: “Thưa Bác có ạ!”. Bác tự tay mở tủ lạnh, nhìn các thức ăn, đồ uống chứa ở bên trong và đứng nhìn các bát, đĩa, đồ dùng được xếp ngăn nắp trong trại. Bác nhìn quanh bếp, rồi nói: “Người ta sang chữa bệnh cho các cán bộ nước mình, thì phải phục vụ cho chu đáo. Thức ăn không ngon, đồ dùng không sạch, làm người ta sinh thêm bệnh thì rắc rối to đấy”. Bác lại cười và khen: “Nhà bếp tốt đấy!”.

Trong khi Bác đi thăm mọi nơi trong nhà bếp, chúng tôi đều đi theo sau. Ra đến cửa bếp, Bác dừng lại nói chuyện với

chuyên gia Diệp Tâm Thanh: “Đến giờ tôi bận việc rồi, Diệp “đại phu” cố gắng giữ gìn sức khỏe không bị ốm, để giúp đỡ chữa bệnh cho các cán bộ Việt Nam. Cảm ơn!”.

“Xin cáo lỗi!”

Bác Hồ bắt tay cụ chuyên gia Diệp Tâm Thanh, giơ tay chào và tạm biệt mọi người, rồi nhanh nhẹn bước lên ô-tô.

Bác Hồ và các đồng chí cùng đi đã ra về rồi. Cụ chuyên gia Diệp Tâm Thanh và chúng tôi còn đứng mãi ở cửa để nhìn theo, chờ cho tới khi không còn nghe thấy tiếng ô-tô của Bác nữa, thì mọi người mới giải tán. Lúc này Bác sỹ Nhữ Thế Bảo thân mật nói với: “Mình thường xuyên đi cùng Bác, mà hôm nay, lần đầu tiên mình mới nghe thấy Bác nói nhiều đến Đông y. Mừng cho cậu và ngành Đông y. Cậu nhớ lời dặn của Bác để làm cho tốt”.

Từ ngày ấy đến nay đã gần 40 năm. Đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của đường đời, nhưng tôi vẫn tâm niệm nhớ buổi sớm hôm ấy. Chính hôm đó tôi đã ghi nhận toàn bộ câu chuyện trên đây vào nhật ký, đúng với diễn biến mộc mạc của nó để hôm nay chép ra đây.

Ngoài sự kính yêu vô vàn với vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, mà bât cứ ai đã từng gặp Bác Hồ đều không thể nào quên, đối với tôi, những lời của Bác còn là lời định hướng. Sự uyên thâm và ý thức sâu sắc về tinh hoa dân tộc trong khía cạnh y học, lời dạy của Bác về sự kết hợp Đông y với nền Y học hiện đại, là một sự dẫn dắt, mà suốt cuộc đời tôi đã đi theo.

(Trích từ sách: “55 năm Y Dược học cổ truyền dưới chính quyền cách mạng (1945-2000)” Bộ Y tế xuất bản – Hà Nội, năm 2000)

Việt Nam – Hồ Chí Minh