Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Phong cách, nhân cách nhà báo Hồ Chí Minh

… Cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào.
Nhà báo đặc biệt

Trong thế giới đương đại, nếu phải bầu chọn nhà báo đặc biệt nhất thì chắc chắn người đó phải là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Trước hết, nếu nói về những nhà báo đi lên và thành công từ gian khổ, vất vả; trên thế giới có không ít, nhưng bôn ba gần khắp trái đất, làm hàng chục nghề khác nhau suốt 30 năm trời thì khó có thể tìm ra người thứ hai. Một nhà báo, viết bài báo đầu tiên trong đời – ngày 2.8.1919, báo L’Humanité, bài “Vấn đề người bản xứ” – khi chưa thật sự rành rẽ về ngôn ngữ (tiếng Pháp), đó cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Điều đó nói lên rất rõ rằng, báo chí “đến” với Người, trước hết là bởi yêu cầu chiến đấu, dùng ngòi bút để làm đòn xoay chế độ, vì dân tộc, vì độc lập, tự do; xuất phát từ lòng dũng cảm và lòng yêu nước vô bờ bến. Hồ Chí Minh cũng là nhà báo có nhiều bút danh nhất thế giới với gần 200 bút danh khác nhau; thậm chí có những “bút danh” kỳ lạ như: Bé Con, Xung Phong, X.L., T.L., Một Người An Nam, Một Người Bạn, Hy Sinh (trên báo Độc Lập, 1941-1942)…

Hồ Chí Minh cũng là nhà báo viết rất nhiều (trên dưới 2.000 bài) và là nhà báo đạt đến vị trí lãnh tụ tối cao của một dân tộc, người sáng lập ra một chính đảng, một nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở vùng Đông Nam Á; đồng thời là nhà báo duy nhất được LHQ tôn vinh là Danh nhân văn hóa của thế giới. Hồ Chí Minh còn là nhà báo “kỳ lạ” nhất của hành tinh này: “Khởi nghiệp” bằng tiếng Pháp, tiếp tục bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc; rồi sau đó mới viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt! Sau cùng, cũng rất cần nhắc đến một sự đặc biệt nữa của nhà báo Nguyễn Ái Quốc: Người vừa là chủ nhiệm của tờ báo “Người Cùng Khổ” (Le Paria) đồng thời là chủ bút, hoạ sĩ biếm họa, thợ rửa ảnh, thủ quỹ, phát hành, bán báo…

Dẫu chưa đầy đủ, nhưng những sự kiện được thống kê trên đây, rất đủ cho mỗi nhà báo Việt Nam hôm nay nói riêng, nhân dân ta nói chung hiểu rõ sự phi thường trong con người – nhà báo Hồ Chí Minh.

Phong cách Hồ Chí Minh

Với Hồ Chí Minh, mục tiêu, động lực để viết báo là rất rõ ràng. Tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương ngày 17.8.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trước khi viết phải tự hỏi: “Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì?”.

Sau này, trong Đại hội II của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, Hồ Chí Minh khẳng định, Người viết báo là để “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu rõ ràng, động cơ sáng trong và ngọt lành như nắng ban mai; đó là điều đầu tiên làm nên nhân cách và sự thành công của một nhà báo vĩ đại. Với nguyên tắc “viết cho ai”, nên ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ của một lăng kính đa chiều, luôn hấp dẫn và mới mẻ.

Ở Pháp, viết cho thực dân đế quốc đọc, Nguyễn Ái Quốc chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn, sống ở Paris, Người đặt tên tờ báo là Le Paria – có nghĩa là “dưới đáy, người khổ sở tận cùng trong xã hội”. Thời kỳ sống và hoạt động ở căn cứ địa Việt Bắc, những bài báo của Người chủ yếu viết cho đồng bào miền núi đọc, nên ngôn từ lại trở nên mộc mạc, dễ hiểu. Chúng ta rất dễ nhận thấy một điểm đáng chú ý: Viết cho thanh niên, Hồ Chí Minh dùng ngôn ngữ của lớp trẻ; viết cho thiếu nhi là cách dẫn dụ mộc mạc của ngôn từ giản dị, viết cho nông dân là ngôn ngữ của chân quê…

Nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn là một nhà báo rất năng động, nhạy cảm. Chúng ta hãy hình dung cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào. Nên lưu ý rằng, theo tài liệu của mật thám Pháp, có lúc Le Paria phát hành đến 2.000 bản, một nửa được gửi cho các nước thuộc địa (!).

Phong cách của nhà báo Hồ Chí Minh còn là sự hiểu biết rất rộng, rất sâu mà lại rất gần gũi quần chúng. Đọc những bài báo của Người, chúng ta kinh ngạc về kiến thức: Từ Ấn Độ đến Palestine, từ Tunisia đến Hoa Kỳ, từ Trung Quốc đến Madagasca…; gần như cái gì Nguyễn Ái Quốc cũng hiểu một cách tường tận. Hiểu biết như thế, những bài báo không sắc, không sâu, không sinh động mới là chuyện lạ.

Sống mãi tinh thần Hồ Chí Minh

Bài báo sau cùng mà Hồ Chí Minh viết là bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, ký tên T.L, đăng trên báo Nhân Dân ngày 1.6.1969. Đó không hề là sự ngẫu nhiên. Nếu như bài báo đầu tiên Người viết là vì độc lập cho dân tộc Việt Nam, thì bài cuối cùng là “muôn vàn tình thương yêu” dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Ý chí chiến đấu mạnh mẽ và cái TÂM rộng lớn, sâu sắc ấy là điều cần nhất cho bất kỳ một nhà báo nào khi cầm bút.

Trong lần gặp mặt cuối cùng trước đông người – tại buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng LĐLĐVN) ngày 18.7.1969 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần nhắc đến báo chí. Lần thứ nhất, Người nói: “Bác xem báo Lao Động, có bài viết về chuyện một số công nhân nào đấy mỗi ngày chỉ làm rất ít giờ. Bác rất đau lòng”. Lần thứ hai, Bác đưa tờ báo Nhân Dân ngày 16.7.1969 ra để nói về chuyện báo đăng lời phê bình của công nhân là rất tốt.

Người nhắc thêm: “Báo Lao Động nên mở rộng mục này cho quần chúng phê bình trên báo. Như vậy, vừa bảo đảm quyền dân chủ công nhân, vừa nâng cao tinh thần chiến đấu của tời báo” (Hồ Chí Minh, TT, T.12, tr. 565-567). Có lẽ, cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn phải tự hỏi là mình đã làm đủ, làm đúng những gì Bác Hồ mong muốn hay chưa?

Trong thư căn dặn những người sắp trở thành nhà báo do Báo Cứu Quốc tổ chức năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những khuyết điểm của báo chí của ta như: Tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, không biết giữ bí mật, đôi khi đăng tin vịt, tờ báo không vui… Ngẫm lại, cứ ngỡ những điều Người nói như vừa mới diễn ra sáng nay! Vẫn còn không ít tờ báo “chính trị suông” quá nhiều, hay không biết cách để giữ bí mật quốc gia. Có báo thật buồn tẻ từ trang đầu cho tới trang cuối; thậm chí, người dân không còn muốn đọc nữa.

Gần 90 năm đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Ái Quốc viết bài báo đầu tiên; 82 năm, kể từ khi Báo Thanh Niên ra số đầu tiên (21.6.1925), mở đầu cho dòng báo cách mạng của dân tộc; báo chí Việt Nam hôm nay đã phát triển mạnh mẽ về cả số lượng lẫn chất lượng. Chúng ta ghi nhớ công lao của nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh đồng thời cũng rất cần ghi nhớ thêm rằng, phong cách và tinh thần, tư tưởng và ý chí, tâm huyết và ngọn bút mẫn tiệp, sắc sâu của Người vẫn sống mãi với sự tươi mới, vững bền bất kể thời gian, vượt qua mọi không gian.

Với tư cách là một trong những đỉnh cao của báo chí thời đại, ngọn bút Hồ Chí Minh là ngọn tháp rực rỡ, là tấm gương sáng ngời để cho muôn đời sau hướng tới, bước tiếp trên con đường tươi đẹp của tổ quốc Việt Nam.

(Theo Hà Văn Thịnh – Lao Động )

quangbinh.gov.vn

Học tập cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

“Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc…Cũng như Lê-nin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một Viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được…”

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: “Nghề viết báo” bên cạnh một số nghề khác.

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích cụ thể là để người đọc Hiểu được – Nhớ được – Làm theo được. Và muốn thế, Người nói : “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(1). Bác còn viết, nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả !.

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong nhiều cuộc nói chuyện Bác thường nói : “Ðiều đó, chắc các cô, các chú đã hiểu, Bác không nói nhiều”. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong bài “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà” ngày 22 tháng 9 năm 1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20 tháng 9 năm 1945, Bác viết có 299 từ. Ngay đến một văn kiện quan trọng bậc nhất, đó là Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Ðình lịch sử ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng, và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Bác Hồ rất hay vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng. Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại giản đơn(2). Chúng ta đều biết, những thành ngữ, ca dao tục ngữ vốn là sản phẩm của quần chúng lao động, là phương tiện biểu hiện tư tưởng, tình cảm, có từ rất lâu trong đời sống lao động của con người. Nó từ quần chúng, và đi vào quần chúng rất dễ dàng, thấm thía. Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

Lần nào nói chuyện với các nhà báo, Bác cũng nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình cái lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân !(3). Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta.

Nhưng đến nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài, và hình như gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn! Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(4).

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Văn chương của Hồ chủ tịch đã in sâu lên thời đại chúng ta.Nó chung đúc đến độ tinh vi cái đẹp bình dị của văn chương vô sản. Nó kết hợp một cách kỳ diệu những tư tưởng khoa học với điệu cảm, cách nói dân tộc”(5).
Nhà văn Nguyễn Ðình Thi viết: “Khi Hồ Chủ tịch nói, là nhà hiền triết và người thi sĩ trong lòng mỗi người dân nói lên, vì tiếng nói đó động thấu những niềm sâu xa và đẹp đẽ nhất của lòng người”(6).

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp cũng viết: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc.Cũng như Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(7).

————————————-

(1)”Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí” Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962
(2) “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5 trg 301.
(3) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam-HCM toàn tập-tập 9 trg 415
(4) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 3 Hội Nhà báo Việt. HCM toàn tập-tập 10 trg 615
(5) Sách đã dẫn. NXB Giáo dục 1997-trg 217.
(6) “Hồ Chủ tịch, Nhà Văn hóa của Nhân dân” Nguyễn Ðình Thi Báo Văn nghệ số 23-Tháng 5 – 1950.
(7) Sách đã dẫn-NXB Giáo dục 1997-trg 123.

Theo Bùi Công Bính
Báo Thái Bình online
Huyền Trang (st)

nhoNguoicha

Lựa chọn, sử dụng cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Người còn là vị lãnh tụ, người thầy của lớp lớp cán bộ cách mạng ưu tú của Đảng, của cách mạng Việt Nam.

Một số cán bộ sau này trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của Nhà nước. Những lời dạy của Người về cán bộ và công tác cán bộ đến nay còn có ý nghĩa thiết thực cho mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay học tập, rèn luyện, để phục vụ đất nước.

315634080569472656250.jpgCán bộ là cái gốc của mọi công việc (Hồ Chí Minh). Ảnh: Tuấn Anh

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ. Người cho rằng: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”([1]). Chính vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”([2]) nên việc lựa chọn cán bộ phải tuân theo những tiêu chuẩn nhất định như phải có đạo đức cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của nhân dân; có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, hiểu biết nhân dân, luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân; người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, chí công vô tư… Những đòi hỏi này có thể coi là những tiêu chuẩn cơ bản chung nhất của người cán bộ cách mạng trong tất cả các thời kỳ, ở tất cả các cấp, ở tất cả các địa bàn. Với những yêu cầu này, các cấp, các ngành, các địa phương có thể vận dụng để đề ra tiêu chuẩn cụ thể để lựa chọn cán bộ cho ngành mình, địa phương mình, cấp mình.

Có thể thấy, dù yêu cầu của lịch sử, nhiệm vụ của cách mạng, quyền lợi của nhân dân, ở mỗi thời điểm có thay đổi, tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh vào hai chữ Đức và Tài. Bởi cán bộ có đức thì mới chí công vô tư trong cách làm việc và cán bộ cần có tài, đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức. Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Người đã phân tích sâu sắc vai trò đạo đức, coi đó là tiêu chuẩn đặc biệt quan trọng mà Đảng, chính phủ và các đoàn thể phải quan tâm để lựa chọn, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng. Người thường nói: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”([3]). Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, vì mọi việc thành hay bại, điều chủ chốt là ở cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không, vì tính xấu của một người thường chỉ hại cho người ấy, còn tính xấu của cán bộ, đảng viên sẽ hại đến Đảng, đến cách mạng, đến nhân dân. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ bổn phận của mình là suốt đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đấy mới là người cán bộ tốt, có tâm, có đức.

Trong khi coi đạo đức là gốc, là nền tảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đánh giá rất cao và coi trọng tài năng. Tài không giản đơn thu gọn ở bằng cấp, học vị. Người tài trước hết phải có hoài bão, có động lực mạnh mẽ, có sự thôi thúc là phải làm được một cái gì đó cho đất nước, cho nhân dân. Trong quá trình thực hiện hoài bão đó, người tài cũng tìm được hạnh phúc cho bản thân thông qua công việc của mình.

Hai mặt đạo đức, tài năng trong tư tưởng Hồ Chí Minh có quan hệ mật thiết: đạo đức là cơ sở của tài năng, định hướng tư tưởng, hành động, đem tài năng phục vụ nhân dân. Người nói: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô, hủ hóa có hại cho nước. Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”([4]). Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sau một đêm suy nghĩ đã ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu (nguyên là Cục trưởng Cục Quân nhu đã lợi dụng chức quyền tham ô, bớt xén của công để ăn chơi, hưởng thụ và bị kết án tử hình), chính là hành động kiên quyết của Người trong việc chống tham nhũng trong cán  bộ, đảng viên.

Với quan điểm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, nên ngay sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạn dốt là vấn đề cấp bách thứ 2 của nhà nước sau vấn đề nạn đói. Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông thái. Đặc biệt, Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Người chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước phồn vinh. Đó là con đường phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, Người còn coi trọng chính sách sử dụng nhân tài. Nhìn lại thời điểm năm 1946, khi Người qua Paris với tư cách là Chủ Tịch nước Việt Nam độc lập, thượng khách của nước Pháp. Đó cũng là thời điểm cuộc đàm phán chính thức Việt-Pháp (Hội nghị Phôngtennơblô) diễn ra. Dẫu không tham dự, Người vẫn theo dõi sát sao từng diễn biến của cuộc đàm phán và cho những ý kiến chỉ đạo kịp thời. Cuộc đàm phán thất bại, đẩy chúng ta vào tình thế vô cùng khó khăn là không còn con đường nào khác ngoài con đường cầm vũ khí chống lại thực dân Pháp.

Từ nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc để cùng toàn dân kháng chiến. Sự kiện đáng chú ý trong thời gian Người ở Pháp là Người đã cảm hoá và đưa về nước được những trí thức lớn của đất nước như Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước,… Sau đó, với tư cách là Chủ tịch nước, Người đã ra chỉ thị cho các địa phương phải tìm người hiền tài ra gánh vác công việc cho nước, cho dân. Chúng ta có thể cảm nhận được chính sách “chiêu hiền đãi sĩ”, “cầu người hiền tài” của Người qua những lời cảm kích sau đây: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. Nghe vì Chính phủ nghe không đến, thấy không gấp đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”([5]).

Đi theo tiếng gọi của Người, rất nhiều trí thức Việt Kiều về nước và những trí thức trong nước đã từ chối cuộc sống giàu sang, đầy đủ vật chất, danh vọng của chế độ tư bản để chấp nhận gian khổ hy sinh cùng với dân tộc mình. Những năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu ý đến quy trình lựa chọn, sử dụng cán bộ kiểu mẫu như những tiêu chí mà Người đề ra trong cuốn Sửa đổi lối làm việc viết vào tháng 10/1947. Những tên tuổi trí thức nho học và tây học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chinh phục như Huỳnh  Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Giám, Lương Định Của, Phạm Huy Thông, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Sính,… đều đã trở nên những người con kiên trung cho Tổ quốc, thành vốn cán bộ quý cho Đảng, cho Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tư tưởng về tài và đức của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, là bài học vô cùng quý giá cho chúng ta noi theo trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước có cả cơ hội và thách thức đan xen ngày hôm nay. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” vẫn đã và đang diễn ra. Cách thức sử dụng và bổ nhiệm cán bộ của chúng ta còn nhiều quan liêu, tiêu cực, thoả hiệp dễ dãi theo cơ cấu. Rất nhiều người có tài đức không được bổ nhiệm, giao nhiệm vụ hoặc có được bổ nhiệm lại trái chân. Cách đánh giá và tuyển chọn cán bộ ở nhiều ban ngành cơ quan còn dựa vào tiêu chí thân quen, bằng cấp, chân truyền chứ không căn cứ vào thực chất, khả năng trí tuệ sáng tạo của những người cán bộ thực sự cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hậu quả của phương thức sử dụng, bổ nhiệm cán bộ sai lầm này góp phần làm nảy sinh nhiều bất cập trong cơ chế và tiêu cực trong đời sống xã hội. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến sự quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra rất nghiêm trọng.

Chính vì thế, hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hiện nay, việc lựa chọn đội ngũ nhân sự của Đảng gồm những người biết lo cái lo của dân, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư như Bác Hồ kính yêu của cả dân tộc ta đã răn dạy càng cần thiết. Chỉ có những công bộc thực sự của dân và vì dân như vậy mới đáp ứng được mong muốn của nhân dân và tập hợp được cả dân tộc thành một lực lượng hùng hậu để xây dựng đất nước Việt Nam hùng mạnh, làm cho dân tộc ta sánh vai được với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

Bùi Kim Hồng
Giám đốc khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

hochiminhhoc.com

Hình ảnh Bác Hồ trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số qua ca dao

Trong lịch sử văn học dân tộc và thế giới, chưa có danh nhân nào được “ca dao hóa” nhiều như Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Nhà thơ Lê Anh Xuân đã từng viết:

Điệu lục bát, khúc dân ca
Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam

Sinh thời, Bác rất thích dùng ca dao, tục ngữ trong các bài viết của mình để mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tuyên truyền cách mạng. Những ngày bệnh trọng, Bác vẫn thèm nghe “một câu hò xứ Nghệ” – một khúc hát dân ca. Ngay trong bản “Di chúc” thiêng liêng trước lúc đi xa, Người vẫn còn dặn lại đồng bào, đồng chí bằng một câu ca dao lục bát biến thể:

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Có thể nói: Bác và Ca dao, Ca dao và Bác đã có sự “hóa thân” hài hòa và nồng thắm. Còn gì đẹp hơn, tự hào hơn khi nhân dân ta từ núi rừng, hải đảo xa xôi tới bưng biền Đồng Tháp đã dành những vần ca dao chứa chan tình nghĩa, biết ơn về Bác để dâng lên Người:

Bác Hồ là vị Cha chung
Là sao Bắc đẩu, là vầng Thái dương.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Bác sống như trời đất của ta”, Bác như ánh sáng, như khí trời không thể thiếu được trong cuộc đời mỗi con người Việt Nam, và ai cũng cảm thấy:

Tự hào biết mấy Bác ơi
Bác cho con cả cuộc đời tự do.

Hình ảnh Bác Hồ trong ca dao của đồng bào các dân tộc thiểu số được thể hiện trước hết là ở chỗ: Bác Hồ là hiện thân của sự đoàn kết dân tộc. Trong “Thư gởi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam” họp tại Plây Ku ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xơ đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ có nhau, no đói giúp nhau”.

Đồng bào Tây Nguyên đã có bài ca dao về Bác Hồ với những so sánh liên tưởng thật xúc động:

Hồ Chí Minh – người là con sông lớn
Người là mặt trời, Người là mặt trăng
Mùa lạnh nhắc tên Hồ Chí Minh – cái bụng ấm
Mùa nắng nhắc tên Hồ Chí Minh – mây thêu mặt trời hồng
Mùa thu nhắc tên Hồ Chí Minh – mây lắng trời trong
Mùa xuân nhắc tên Hồ Chí Minh – cây cỏ đâm nhựa trổ bông.
Người dân Tây Nguyên nhận ra rằng:
Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc
Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương
Ba năm ở với “quốc gia” khổ sở trăm đường
Nay bắt phu, bắt lính, nói gạt nói lường hại dân
(Ca dao dân tộc Mơ- Nông)

Người Hơ-rê chất phác, nói “bụng Bác Hồ” đẹp hơn cả hoa Ê-pan nhất buôn, nhất rừng của họ. Cũng như người Ê-đê thấy “bụng Bác Hồ” tốt với dân tộc mình thế nào. Họ cho thấy:

Người cứu dân tộc mình
Cho suối đánh đàn, cho hoa Gơ- ma nở
Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai
Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn
Cho con gái cườm đeo quanh cổ
Là Bác Hồ Chí Minh!
(Ca dao dân tộc Ê-đê)

Đồng bào dân tộc Êđê, Giarai, Ba-na cũng thường hát:

Người Ê đê chưa gặp mặt Bác Hồ
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ
Người Gia rai chưa được ra miền Bắc
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ

Vì vậy mà, chỉ cần nhắc đến tên Bác:

Lên rừng nhắc tên Hồ Chí Minh/quên cả chân chồn, leo dốc nhanh
Xuống đồng nhắc tên Hồ Chí Minh/cấy lúa suốt ngày không thấy mệt
Bữa ăn nhắc tên Hồ Chí Minh/đôi đũa và cơm như và ngọc
Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh.
Đồng bào Hơ rê thấy được tấm lòng của Bác, thấy “bụng Bác Hồ đẹp hơn nhiều”
Con chim Prắc kêu to/ Con chim Siên kêu nhỏ
Nước nhiều nguồn đã họp thành sông
Người khác nhau đã thành một chi
Ở mỗi ngả nhưng cùng một Bok Hồ
Nước chảy mãi về sông…
Hỡi hoa ê pang soi mình bến nước
Mày đẹp nhất rừng, mày đẹp nhất buôn
Nhưng bụng Bác Hồ còn đẹp hơn nhiều
– Bụng Bác Hồ đẹp hơn hoa ê pang
Bác Hồ dạy khắp nơi đoàn kết
Bụng Bác Hồ còn đẹp quý hơn chiêng
Bác Hồ bảo là cơm no áo tốt.
Và đồng bào đã thể hiện tấm lòng theo Bác, theo Đảng một cách chất phác:
Người Tây Nguyên/ Đã giữ rừng. Đốn cây to phải ngã
Tát suối sâu phải cạn
Nhổ cỏ không còn rễ dưới chân
Người Xơ đăng không theo con cú vọ
Người Nơ ngao không theo con diều hâu
Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ.

(Đồng bào Hơ rê)

Bác Hồ ơi! Bác Hồ ơi!
Người Ka dong nhớ lời Bác dạy
Cố bắt con vắt cho sạch
Cố đuổi con cú cho bay
Mong Bác về rừng núi Tây Nguyên
Để dân làng mang chiêng cồng đi đón
(Đồng bào Ka dong)

Đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, Mông… ở Việt Bắc, Tây Bắc luôn cảm nhận được tình cảm của Bác dành cho họ:

Đất nước ta có Cụ Hồ
Cụ Hồ thương dân đất Mường ta, sông bể không bằng
Qua nghìn hoạn nạn mới được như ngày hôm nay

Đồng bào Khmer, Chăm, Hoa cũng luôn tin tưởng và biết ơn Bác:

Cụ Hồ với dân như chân với tay
Như chày với cối, như cội với cành

hay:

Nhưng rồi ngẫm lại mà coi
Có Đảng, có Bác, châu chấu đá voi lộn nhào
Hoặc đồng bào nói cụ thể hơn:
Ai về nhắn nhủ cùng ai
Có Đảng, có Bác chẳng sợ chông gai bùn lầy.

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Lời Bác rất thấm thía. Biết nói làm sao hết những lời ca cất lên từ đáy lòng của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Bác.

TRẦN XUÂN TOÀN

sites.google.com

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

1.   Phương pháp tạo dựng lâu dài tri thức

Phạm Văn Đồng đã từng khái quát: “Hồ Chí Minh, người tiểu tư sản nông thôn bởi nguồn gốc xuất thân, trở thành người công nhân bởi cuộc sống và lập trường giai cấp, người có hiểu biết rộng lớn và sâu xa về nhiều mặt bởi quá trình học tập, người chiến sĩ cách mạng quốc tế hội tụ được trong mình cả sức vùng lên của các dân tộc bị áp bức và chất tiền phong của giai cấp công nhân châu Âu”(1).

Do đặc tính đó, Hồ Chí Minh là tấm gương tiếp thu tinh hoa dân tộc và thế giới, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xã hội và con người. Kinh qua Hồ Chí Minh, “tinh hoa của thế giới đã Việt Nam hóa rồi, đã mượn hình dáng, bộ điệu, ngôn ngữ Việt Nam, cho đến tinh thần Việt Nam nữa” (Phạm Văn Đồng).

Nhà sử học Charles Fourniau, nguyên Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp – Việt, trong tác phẩm Hồ Chí Minh – người đồng chí của chúng ta(2), cũng hết sức ca ngợi tinh thần Việt Nam hóa của Hồ Chí Minh, khi phân tích bài Kính cáo đồng bào (6/1941) của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) sau khi mặt trận Việt Minh ra đời. Theo tác giả, những lời hiệu triệu quốc dân trong bài Kính cáo này “có sức sáng tạo kỳ lạ, vừa bắt nguồn từ truyền thống phong cách Khổng học, vừa kết hợp truyền thống Jacobins của Pháp; một số câu chữ trong bài không thể không nhớ tới lời kêu gọi quần chúng nổi dậy 1793” (tức 4 năm sau cách mạng Pháp 1789).

Những lời bình luận tương tự như vậy có khá nhiều trong dư luận thế giới đối với Hồ Chí Minh về sự kết hợp nhuần nhị nhiều yếu tố và kiểu dáng tinh hoa của dân tộc và quốc tế, xưa và nay; không phải chỉ qua văn bản, phương châm hành đồng mà với cả phong cách sống của bậc “hiền triết hiện đại – Hồ Chí Minh” (Sékou Touré). Trong buổi tiếp truyện nhà văn I. Taber (7/10/1965) – người dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Đức – Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm truyền thống – hiện đại của mình: “Người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn núi tiến bộ đó. Càng thấm nhuần chủ chủ nghĩa Mác – Lênin càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”(3).

Sự tích hợp phong phú trí thức nào về Đông – Tây, kim cổ cũng đòi hỏi một sự kiên trì tìm tòi học tập; và sự kết hợp nhuần nhị các dạng tinh hoa nào cũng đòi hỏi tinh thần sáng tạo bền bỉ. Hồ Chí Minh là một con người như vậy. Đối với Người, trường học mới chỉ là cánh cửa đầu tiên giúp con người đi vào lâu đài văn hóa. Từ những cánh cửa này con người bước tiếp vào những cánh cửa của cuộc đời, thấy được ánh sáng tỏa ra trong hàng hàng pho sách, trong cái xô bồ, bề bộn, phức tạp và tinh vi của hiện thực mình đang sống, đang vật lộn để sinh tồn và phát triển. Và từ những tích lũy tri thức để trở thành kho kiến thức, kho kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tự soi rọi mình và nâng cao mình, cho mình một quan niệm sống và lẽ sống, một cách nhìn đối với thế giới xung quanh và xác định một hướng đi trên con đường mình lựa chọn. Thu nhận kiến thức từ sáng tạo của lịch sử, của con người, rồi với thiên tài nhiều mặt, Hồ Chí Minh lại sáng tạo nên một kỳ tích, mang đậm dấu ấn riêng, giúp ích cho đời và thúc đẩy lịch sử theo qui luật tiến hóa.

Hồ Chí Minh đã tự khẳng định với mình và khuyên các đồng chí của mình: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Trả lời một câu hỏi: “Học ở đâu?” Người nói: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(4). Đạt được mục đích ấy, ở Người là một nghị lực phi thường cộng với tinh thần sáng tạo đổi mới để có thể nghe được, thấy được, nhìn nhận được và xác định được con đường phải đi và đến. Vượt trên tất cả những mặt ấy là sự thôi thúc của tình yêu dân tộc, đất nước, tình nhân ái bao la đối với lớp người cùng khổ, sự cảm thông và chia sẻ với các bộ phận nhân loại còn bị đè nén và sống kiếp cơ hàn. Từ gia đình và những nho sĩ bạn thân của gia đình, từ trường học và trường đời diễn ra trên đất nước nô lệ, đến mọi thủ đô, kinh thành, thị trấn, hải cảng và làng mạc mà Người đã sống, đã đi qua trên khắp các lục địa, đều để lại những dấu ấn sâu sắc trong kho tàng tri thức Hồ Chí Minh. Từ những nghề lao động chân tay và lao động trí óc mà Người đã kinh qua, từ đủ mọi loại người mà Người gặp gỡ, giao thiệp và kết bạn trên khắp các nẻo đường Á, Âu, Phi, Mỹ, từ các tôn giáo chính thống mà Người có quan tâm, từ các phong trào cách mạng và phong trào công nhân mà Người đã nghiên cứu, từ các tác phẩm văn hóa, văn học tiêu biểu qua nhiều thời đại của phương Đông và phương Tây mà Người đã đọc… đều góp phần tạo nên một vóc dáng vĩ nhân Hồ Chí Minh.

Là người có chí khí, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt câu hỏi và quyết tâm tìm lời giải đáp cho kỳ được. Tham gia phong trào Duy Tân ở Huế lúc còn là học sinh ít tuổi, nhưng rồi Hồ Chí Minh không tán thành con đường cứu nước của các sĩ phu trong các phong trào Cần Vương, Văn Thân. Chịu ảnh hưởng của cụ thân sinh là nhà khoa bảng Nguyễn Sinh Sắc, Hồ Chí Minh đã thấy được chế độ quân chủ không còn thích hợp, nhưng vẫn tìm thấy cái mới trong việc đề cao tân học, bác bỏ cựu học của phong trào cải cách theo hướng quân chủ lập hiến, do Khang Hữu Vi và Lương Khải Phiêu đề xướng. Đả phá tư tưởng thiên mệnh, định mệnh nhưng Hồ Chí Minh đưa nội dung mới vào quan điểm nhân – nghĩa… của đạo Nho. Không tán thành chế độ tư sản nhưng Hồ Chí Minh thiết tha với phương châm “Tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng Pháp 1789, với chủ trương “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa (1911) do Tôn Trung Sơn làm thủ lĩnh. Sau này, khi tìm được cẩm nang trong Luận cương chính trị của Lênin về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh nhìn thấy được ánh sáng thật sự ở chân trời và từ đấy, mở ra con đường cứu nước cứu dân, sát hợp với thực tiễn dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã cảm thấy được rằng, chân lý tuy có một nhưng chính nghĩa có nhiều, phải biết chắt lọc những tinh hoa từ chính nghĩa để bổ sung cho chân lý. Một tình thương người bao la của Giê-su, của Thích Ca, một đức tính khiêm nhường, bình dị của Găng-đi, một Lênin nhân hậu và triệt để cách mạng, một lối sống thanh thản trong tâm hồn và tình yêu thiên nhiên ở các nhà hiền triết phương Đông, v.v… đều đi qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một vĩ nhân vào loại đặc biệt của thế kỷ XX.

Nhiều người đã gọi Hồ Chí Minh bằng nhiều danh vị văn hóa khác nhau và danh vị nào cũng đúng: nhà thơ, nhà văn, nhà sinh ngữ, nhà văn hóa, nhà báo, nhà chính luận, nhà viết kịch, cây bút châm biếm. Không hẳn phải có sự lịch lãm nhiều mặt của văn hóa mới thành nhà văn hóa lớn, nhưng rõ ràng ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh có bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn của văn hóa.

Hồ Chí Minh đã trở thành một hiện tượng văn hóa, như nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nhận định. Đó là sự kết hợp hài hòa nhiều phong thái rất khác nhau trong một con người, dù trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử: “vừa dân tộc vừa quốc tế; vừa rất mực nhân từ vừa triệt để cách mạng; rất uyên bác và cực kỳ khiêm tốn; rất nguyên tắc và chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược; vừa nhìn xa trông rộng vừa thiết thực, cụ thể; vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị; vừa là chiến sĩ vừa là nhà thơ” (Võ Nguyên Giáp).

Các giá trị văn hóa tinh thần của Hồ Chí Minh, về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới. Tất nhiên lịch sử đã sang trang, các giá trị tinh thần ấy phải được phát triển và nâng cao cho mọi phù hợp với giai đoạn cách mạng, nhất là đối với các luận điểm cụ thể của Người về văn hóa nghệ thuật, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa quản lý, v.v…

2.   Phong cách lý luận: từ thực tiễn “cây đời”

Có người băn khoăn: Hồ Chí Minh là nhà thực tiễn, nhà hành động, hay còn là nhà lý luận? Hiểu vấn đề này một cách tương đối chính xác, không gì bằng trở lại với những nguyên tắc tạo thành lý luận và quan điểm lý luận như thế nào là đúng đắn. Đó là cơ sở triết học của một hệ tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực hoạt động; là kinh nghiệm của loài người được đúc kết thành một quan niệm khái quát; là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội và con người được tích lũy. Lý luận nào cũng được kiểm nghiệm qua thực tiễn đời sống của mọi lĩnh vực. Rồi kinh qua thực tiễn, lý luận được bổ sung và điều chỉnh, làm phong phú kho tàng hệ tư tưởng. Do đó, thực tiễn là bầu sữa nuôi sống thực tiễn. Từ nguyên tắc chung về lý luận, sắc thái lý luận của một hệ tư tưởng, mỗi nền văn hóa có khác nhau; hoặc cùng chung một hệ tư tưởng song phong cách lý luận của mỗi người có khác nhau do nhiều yếu tố chi phối, chủ yếu là phương pháp tư duy và nghệ thuật khái quát…

Lý luận mang tính tư biện để trở thành lý thuyết suông là hoàn toàn xa lạ với quan niệm về lý luận gắn với thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh từ sớm đã thấu triệt quan niệm đó. Cách đây trên 40 năm, nhà nghiên cứu Pháp Gabriel B. Nonnet trong tác phẩm Việt minh – Hồ Chí Minh(5) đã nhận xét: Hồ Chí Minh đã tiếp nhận nhiều ở các nền văn hóa, giáo dục phương Tây nhưng hoàn toàn không đi vào con đường kinh viện. Do đọc nhiều, đi nhiều, và sử dụng thông thạo các tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga… đã hình thành ở ông một kiểu tiếp nhận hiệu quả và sâu sắc. Giáo sư triết học và xã hội học Nhật Bản, trong bài Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng, đọc trong cuộc mít tinh ở Tokyo ngày 25-9-1969, tỏ lòng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cũng đã viết đại khái như thế: “Đọc các tác phẩm của cụ Hồ Chí Minh, tôi thấy các tác phẩm ấy đã phát triển lý luận không theo một cách uyên bác xa xôi, mà viết bằng những lời lẽ giản dị và những câu ngắn gọn. Những viên ngọc quý nhất được khảm trong các tác phẩm của Người (…) bao gồm lý luận về chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, lý luận về công tác quân sự, về chủ nghĩa xã hội, về Đảng, v.v…”(6).

Thực ra, với các luận điểm triết học trong nhiều hệ tư tưởng, các trào lưu giải phóng dân tộc và giai cấp, các nền văn hóa, giáo dục mà Hồ Chí Minh đã có dịp học hỏi, cọ xát và suy ngẫm, đều có ảnh hưởng đến phong cách lý luận của Người, một người Việt Nam mẫu mực thấm nhuần truyền thống và tinh hoa dân tộc.

Hồ Chí Minh tuy không có những tác phẩm và chuyên đề lý luận, song nếu không xuất phát từ lý luận giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, thì làm sao Người có thể đề ra luận cương, chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam, từ Dân chủ nhân dân đến Chủ nghĩa xã hội. Chính là xuất phát từ lý luận, gắn với nhãn quan chính trị nhạy bén và thực tiễn dân tộc, ngay từ năm 1942 Hồ Chí Minh đã khẳng định là Việt Nam sẽ dành được độc lập trong năm 1945. Đó là lúc mặt trận Việt Minh sau khi ra đời đã hoạt động trong hoàn cảnh phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương, và ở châu Âu mặt trận Đồng minh đang bắt đầu phản công quyết liệt phe Trục phát xít. Lời khẳng định của Người đã trở thành tiên tri. Cho đến bây giờ, các giới nghiên cứu Việt Nam chưa ai lý giải được sâu sắc là Hồ Chí Minh bằng lý luận như thế nào để có được lời dự báo chính xác đó. Hệ thống các luận điểm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa – văn nghệ đều xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin theo đặc điểm dân tộc trong nhiều giai đoạn. Hồ Chí Minh đã nổi tiếng trong tranh luận về việc thành lập Đệ tam quốc tế và thành lập các tổ chức quốc tế về công nhân, nông dân, thanh niên các nước thuộc địa và Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Hồ Chí Minh cũng nổi tiếng là một nhà bút chiến với nhiều chính khách thực dân và nhiều nhà cách mạng theo tư tưởng cải lương, dưới các bút danh Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy… Chả nhẽ tranh luận và bút chiến lại tách rời lý luận? Hơn nữa, Người thường nhắc nhở: “Phải học tập lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày…”(7).

Có điều, lý luận ở Hồ Chí Minh không đi vào khái niệm trừu tượng, thuật ngữ và cách diễn đạt không theo ngôn ngữ triết học như các nhà lý luận xưa nay. Với một phong cách tư duy khoáng đạt, bình dị và trong sáng như Hồ Chí Minh, điều đó thật dễ hiểu. Đó cũng còn là quan điểm lý luận của Người. Thời gian hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, trong một bài phê phán các luận điểm sai lầm của ông H. trong tập bản thảo Cách mệnh, Người có nói: “Dùng điển tích là tốt nhưng nếu quá lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất sâu xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ, có thể làm người ta hiểu nhầm(8).

Hồ Chí Minh thích dùng hình ảnh hoặc diễn tả thành hình tượng mang tính triết lý để khái quát bản chất một vấn đề hơn là lý luận cao siêu, như gọi chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XX là con đỉa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa”; hoặc nói về bọn quan lại sống trên mồ hôi nước mắt của nhân dân: “Khi một con vật cá biệt đã đạt đến trình độ ăn cả tiền thì thường coi là thoái hóa, vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần của nòi giống nó rồi”. Cũng như Lênin và các nhà kinh điển của học thuyết Mác, Hồ Chí Minh mong muốn các nhà văn có tài sáng tạo nên những tác phẩm điển hình hóa, phù hợp với quy luật đặc biệt của cách mạng, vì chân lý của cuộc sống và lợi ích của nhân dân, chứ không phải là thứ minh họa, ghi chép sự việc một cách dễ dãi, song Người chỉ nói một cách tế nhị: “Phải sáng tác cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn con người mới, cuộc sống mới”. Xoay quanh lập luận đó, có bao nhiêu là vấn đề mỹ học được đặt ra. Mỗi từ, mỗi ý từ cái cô đúc của lập luận đã bao chứa một nội hàm rộng lớn… Sau này, nhiều câu nói của Hồ Chí Minh trở thành phương châm hành động, cũng đều mang tính triết lý, lẫn tính chất hình tượng như thế. (“Vì hạnh phúc mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người”; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, v.v…).

Phong cách tư duy luận lý ở Hồ Chí Minh là sự vận dụng tư tưởng biện chứng trong triết học của Mác, tư tưởng tổ chức cách mạng và phương pháp luận nhận thức thực tiễn của Lênin, kết hợp với triết lý mang tính cộng đồng vốn có trong văn hóa truyền thống của dân tộc được kết tinh ở Người. Dù mang theo trong tư tưởng nhiều dòng văn hóa được tiếp thu và chắt lọc, thì Hồ Chí Minh trước hết và trên hết vẫn là con người Việt Nam, mà lịch sử tư tưởng Việt Nam là truyền thống về những mặt thuộc nhân sinh quan cụ thể và thực tiễn.

Phong cách lý luận – thực tiễn của Hồ Chí Minh rất phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh dân tộc ở những giai đoạn cách mạng đã qua, có tác dụng thúc đẩy quy luật phát triển theo tinh thần biện chứng Macxit. Ở Hồ Chí Minh là sự kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực theo tầm vóc và phong cách của Người. Từ thực tiễn được đúc kết, rút ra được vấn đề và lý giải được nó, để thúc đẩy hiện thực tiến lên, đó chính là bài học về lý luận mà Người đã để lại cho chúng ta. Còn lý luận như thế nào, do phong cách nhà lý luận quyết định. Tất nhiên là lý luận không đứng im trong thời gian, vì đời sống phát triển theo quy luật vận động, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới và sáng tạo, theo hướng tiến lên của lịch sử, của chủ nghĩa xã hội khoa học chân chính.

Lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bình sinh, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển, tuy chưa phát triển đến mức như hiện nay, nên các luận điểm về văn hóa của Người đều hướng đến một tinh thần khoa học kết hợp với tinh thần nhân văn, để thúc đẩy những nhiệm vụ trước mắt: giải phóng dân tộc đi đôi với giải phóng xã hội; xây dựng con người gắn với nền văn hóa mới; tinh thần dân tộc hòa hợp với tinh thần quốc tế; xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong bước đi ban đầu theo hoàn cảnh một nước nông nghiệp lạc hậu và đất nước còn tạm chia cắt… Đất nước và thời đại hôm nay đã khác trước về nhiều mặt, lý luận phải lần lượt giải đáp những vấn đề trong hoàn cảnh mới, theo tinh thần cơ bản mà ý thức lý luận gắn với thực tiễn của Hồ Chí Minh đã gợi mở.

3.   Di sản văn hóa gắn với dân tộc và thời đại

Qua hoạt động trong sự nghiệp cách mạng ở Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của giao lưu và phương pháp tiếp thu văn hóa với vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa, trong một thời đại đầy biến động và không ngừng biến động. Không một nền văn hóa dân tộc nào không chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi các nền văn hóa khác mà có thể trường tồn và phát triển. Xưa đã thế và nay lại càng hơn thế. Hoàn cảnh quốc tế và phương tiện quyết định sự mở rộng giao lưu văn hóa. Khép kín văn hóa là đồng nhất với dân tộc trì trệ và ngưng đọng. Trong cái nghĩa bôn tẩu đó đây trên khắp các châu lục để tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, có bao hàm cái nội dung là Người sẽ mang về cho dân tộc một kiểu văn hóa gì vừa giải phóng và phát triển dân tộc, vừa thích ứng với thế giới văn minh. Và Người đã mang về cho ta một hệ tư tưởng kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý làm người của cha ông với tinh thần quốc tế trong sáng, vì tình hữu nghị giữa các dân tộc; một ý thức tự hào và trách nhiệm giữ gìn, khai thác di sản văn hóa tinh thần của tổ tiên truyền lại cho ta và của loài người tiến bộ; một lối sống “Trung với nước, hiếu với dân”, một tình yêu thương rộng lớn đối với con người, trước hết là các lớp người đã từng chịu nhiều đau khổ, tủi nhục; một phong cách tôn trọng dân chủ, công bằng và tín ngưỡng của nhân dân; một quan niệm phát triển kinh tế trên cơ sở một nền khoa học kỹ thuật; một hoài bão về dân giàu, nước mạnh, đất nước đẹp đẽ và đàng hoàng hơn xưa…

Tư tưởng bách khoa ở Người đã trở thành một chủ nghĩa nhân văn bao trùm gắn với những giá trị dân tộc trong thời đại mới. Một chân lý khoa học đã khẳng định rằng, khi một dân tộc không biết nhào nặn và chuyển hóa những cái đã tiếp thu thành cái của mình, như sự phát triển tự thân, thì dân tộc đó sẽ chết đi về mặt chính trị. Nhào nặn trên cơ sở tính dân tộc và tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, phát triển các giá trị tinh thần. Sự kết tinh nhiều dòng văn hóa ở Hồ Chí Minh là sự nhào nặn tinh hoa văn hóa loài người với truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc. Đúng như tổ chức UNESCO đã xác nhận: Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng các dân tộc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh là một nhân vật quốc tế lỗi lạc nhưng ở Người không bao giờ mang theo một thứ chủ nghĩa thế giới xa lạ với những giá trị tinh thần chân chính. Văn hào Gorki đã từng nói: “Những bậc vĩ nhân xưa nay đều là con đẻ của đất nước họ, bao giờ cũng có tính cách dân tộc của nhân dân mình, vì họ sở dĩ vĩ đại ở chỗ đại biểu được cho nhân dân. Khi một vĩ nhân vật lộn với nhân dân thì đó không phải là một cuộc đấu tranh giữa nhân tố nhân loại với nhân tố dân tộc mà cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa ý niệm với chủ nghĩa kinh nghiệm, giữa lẽ phải với thành kiến”(9). Nhân dân là nền tảng của quốc gia, là gốc rễ sâu bền của dân tộc, là đối tượng phải phục vụ của một chế độ chính trị chân chính, nhưng nhân dân không phải là một khối thuần nhất. Vật lộn với một bộ phận nhân dân thoái hóa, lạc hậu, biến chất để cho cái tiến bộ, cái tinh lọc, cái cao cả chiến thắng, còn khó khăn, gian khổ hơn cả “vật lộn” với kẻ thù bằng mọi thứ vũ khí. Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết những chỗ mạnh chỗ yếu, những mặt cần phát huy và những mặt cần hạn chế của nhân dân nên Người đề ra cho văn hóa những bước đi, những nhiệm vụ trong từng hoàn cảnh. Người yêu cầu “văn hóa phải đi sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống mới”, rằng “văn hóa phải sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên được hưởng”.

Nền văn hóa mới mà Người khởi công xây dựng là mở mang dân trí đi đôi với trau dồi đạo đức, nhân cách của con người, trên cơ sở tính dân tộc và bản lĩnh dân tộc. Giáo dục, văn chương, nghệ thuật và thông tin đại chúng góp phần đắc lực vào việc xây dựng con người; từ đó quyết định sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền văn hóa bác học, đồng thời quyết định vị trí của dân tộc trên trường quốc tế. Nền văn hóa mới của chúng ta đạt đến trình độ và thành quả như hiện nay không thể tách rời với sự nghiệp to lớn của Hồ Chí Minh, với một đường lối khoa học, thực tiễn, rất dân tộc và hiện đại.

Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài, tức là vừa phát huy tinh thần đổi mới trong di sản tư tưởng – văn hóa của Hồ Chí Minh, vừa tạo ra những nhân tố mới trong giao lưu mà trước đây chưa đặt ra tiền lệ. Giao lưu văn hóa tốt, có nghĩa rằng ta phải có cái gì là tinh hoa và đặc điểm Việt Nam để góp phần vào kho tàng văn hóa của loài người chứ không phải suy nghĩ theo cái đầu của người ngoài cuộc. Giao lưu theo kiểu đó là một sự lặp lại, một lối sao chép hoặc lai căng. Mà như thế là phá hoại và hạ thấp văn hóa dân tộc, đi ngược lại một xu thế của văn minh loài người. Không phải ngẫu nhiên mà khoa học kỹ thuật càng phát triển, thế giới càng đề cao bản sắc dân tộc của các nền văn hóa. Đề cao để chứng minh sự phong phú, đa dạng của trí tuệ, tâm hồn con người, để thật sự khác biệt nhưng không tách biệt giữa các nền văn hóa khác nhau. Tất cả những mặt ấy nhằm thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa mọi dân tộc và chủng tộc trên khắp hành tinh. Sự ảnh hưởng lẫn nhau về những yếu tố nào đó qua giao lưu văn hóa là một tất yếu, nhưng không thể nào tất yếu khi nó không được nhào nặn, nhuần nhuyễn qua bản sắc dân tộc trong nền văn hóa dân tộc. Không ngừng hoàn thiện và nâng cao tầm vóc văn hóa dân tộc trong nền văn hóa thế giới đang trong thời hội nhập. Bảo vệ văn hóa dân tộc còn là sự ngăn ngừa những nọc độc văn hóa có thể xảy ra.

Nhà học giả nữ – bà Marala Lonbado – Giám đốc trung tâm nghiên cứu triết học, chính trị và xã hội Mehicô đã có một lập luận đáng tham khảo khi bà cho rằng, khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai kiểu triết học về cuộc sống trên thế giới sẽ diễn ra rõ rệt hơn bao giờ hết: một kiểu nhìn thế giới như một cái gì bất biến, mọi thay đổi chỉ có tính chất hình thức; và một kiểu nhìn thế giới như một quá trình mà ở đó những thay đổi là cội nguồn của sự giàu có, tiến bộ và đạo đức. “Vì thế, những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình” về một nền văn minh chân chính(10).

Hồ Chí Minh đã vận dụng tinh thần biện chứng Macxit để tìm đường đi cho dân tộc, do đó bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh rất xa lạ với mọi thứ giáo điều, trì trệ, cơ hội, cực đoan và đặc quyền đặc lợi. Cũng từ đó đặc điểm nổi bật của Hồ Chí Minh là sự tích hợp phong phú nhiều kiểu dạng tinh hoa và sự kết hợp tinh tế, nhuần nhị các kiểu dạng tinh hoa ấy, từ thế đứng và đặc điểm dân tộc. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trở thành hiện thực, khi Di sản của Người được vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình đổi mới của đất nước, và trước những diễn biến tư tưởng phức tạp của thời đại, rất khác với thời điểm khi quả tim Hồ Chí Minh ngừng đập cách đây hơn 40 năm. Văn học, nghệ thuật và thông tin đại chúng, những bộ phận nhạy cảm của đời sống đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trong định hướng văn hóa phát triển, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập trước xu thế toàn cầu hóa. Đó chính là “văn hóa phải soi đường cho quốc dân” như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc đến./.

Trường Lưu
Theo Tạp chí Văn học


(1) Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Nxb. Sự thật, H, 1990.
(2) Hồ Chí Minh, notre camarade – Theo tư liệu thư viện Báo Nhân dân.
(3) Bác Hồ như chúng ta đã biết. Nxb. Thanh niên, H, 1985.
(4) Theo Trường Chinh: Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự thật, H, 1966.
(5) Le Vietminh – Hồ Chí Minh. Ed. Payot, Pari, 1952.
(6) Tạp chí Lịch sử Rokixi Hyeron, số 232, tháng 9-1969. Đăng lại trên báo Thống nhất, H, số 194 ngày 19-5-1973.
(7) Những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Nxb. Sự thật, H, 1992.
(8) Tổng tập văn học, Tập 36. Nxb. KHXH, 1980.
(9) Gorki bàn về văn học. Nxb. Văn học, H, 1992.

hochiminhhoc.com

Chế Lan Viên viết về Bác Hồ

Ngoài hai bài thơ rất quen thuộc viết về Bác là Người đi tìm hình của nước và Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, nhà thơ Chế Lan Viên còn có một loạt bài viết từ năm 1954 đến 1976 in trong tập Hoa trước Lăng Người.

Những bài viết của Chế Lan Viên về Bác hay ở sự sâu sắc, ở những phát hiện tài tình về sự giản dị – vĩ đại trong tư tưởng, tâm hồn của Bác.

Thơ Chế Lan Viên thiên về triết luận, lý trí, lý sự, lật ngược lật xuôi vấn đề nên độc giả phổ thông khó đọc, khó nhớ. Trên đài phát thanh, truyền hình, thơ ông cũng được giới thiệu không nhiều.

Nói về vai trò quan trọng quyết định vận mệnh của đất nước, của dân tộc, không ai có thể nói hay hơn Chế Lan Viên:

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất
Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai
Thế đi đứng của toàn dân tộc
Một cách vinh hoa cho 25 triệu con người.

(Người đi tìm hình của nước)

Bác lãnh đạo cách mạng thành công, làm sống dậy những tinh hoa của văn hóa dân tộc :

Người đánh thức hồn dân tộc đã về kia.
Ta nghe bừng tỉnh dậy
Câu quan họ, xẩm xoan xưa vứt ngã ba đường
Ðiệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rẫy
Bức tranh làng Hồ và cô tố nữ dáng quê hương.

(Người thay đổi đời tôi,
Người thay đổi thơ tôi
)

Nhà thơ nhận ra trong dòng nước mắt nhân dân ta khóc Bác một sức mạnh đã kết tinh :

… Tổ quốc khóc Người Cha. Ðấy là Việt Nam
Ðấy là sức mạnh
Tiếng khóc lọc hồn ta như lửa chói ngời
Mình nhận ra ta, ta nhận ra Người
Cả dân tộc tìm ra mình qua tiếng khóc

(Tiếng khóc đúc Việt Nam thành một khối)

Chế Lan Viên có khi không quen viết kịp thời. Bài thơ vừa dẫn ở trên, ông viết năm 1971, hai năm sau khi Bác qua đời. Những năm sau, ông vẫn tiếp tục phát hiện tầm lớn lao của trí tuệ và lòng nhân ái bao la trong trái tim của Bác ở những bài thơ khác :

Với tất cả chúng ta, Bác là một người ông
Râu như bông và tóc trắng như bông
Màu tinh khiết một đời đạm bạc
Ðây cũng là nhà hiền triết, hiểu chỗ đến chỗ đi sự vật
Người về nơi phải về, Người rất ung dung
Người trồng cây, suốt một đời trồng
Chỗ Người khổ công gieo, ta sẽ hái
Nhân loại biếc màu xanh Người để lại
Trong thế giới bạo tàn này, Người là những bóng cây xanh.

(Ta nhận vào ta phẩm chất của Người)

Trong bài thơ Cách mạng chương đầu, tái hiện lại những tháng năm Bác về Pắc Bó, Chế Lan Viên có những khổ thơ thấm đượm chất anh hùng ca :

Dân tộc rét chưa che Người đủ ấm
Hang đá này Bác đắp chiếc chăn sui
Khớp xương buốt vì hơi rêu lạnh thấm
Gió rừng đừng thổi nữa, gió rừng ơi
…

Những đêm ấy Bác thức cùng ngọn lửa
Thảo từng trang sử lớn cho đời
Tượng Mác trầm ngâm trong hình thạch nhũ
Rồi từng dòng từng chữ qua vai.

(Hang mở nước)

Còn nhiều … còn nhiều những ý thơ lạ, những phát hiện sâu sắc của nhà thơ Chế Lan Viên về Bác Hồ mà trong một bài viết ngắn không thể nào chứa được.

NGUYỄN BÙI VỢI (Báo Nhân Dân)

sites.google.com

Người “mê” sưu tầm những câu chuyện về Bác Hồ

Ông Thái Bá Đắc miệt mài ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ

(Congannghean.vn)- Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Lần theo từng ngõ nhỏ, từng con hẻm, tôi có mặt tại nhà ông vào một buổi xế chiều mưa, se lạnh. Ông đi vắng, mỗi mình bà ở nhà.

Ngỡ ngàng trước những chồng sách vở được bày biện ngăn nắp trong tủ để giữa sân, hiếu kỳ trước một tấm bảng đen với một cái lịch dày đặc những việc mà ông phải hoàn thành trong tháng đã khiến cho tôi tò mò, cố nán lại để hi vọng được gặp ông. Ông là Thái Bá Đắc (79 tuổi) ở xóm 12, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Là tấm gương sáng của Hội người cao tuổi huyện Đô Lương.

Thật may mắn cho tôi khi được trò chuyện cùng ông. Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Nhắc đến đó, mắt ông Đắc sáng rực lên, ông nở một nụ cười hiền từ, chia sẻ: “…Thời đó, lớp chúng tôi mới chuyển từ Trung Quốc về, đang còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Bác đến mang theo một gói trà xanh động viên lớp Văn chúng tôi. Hôm đó, khi xem xong cuốn sổ học tập của lớp, Bác tiến lại gần và hỏi tôi học tập thế nào. Tôi trả lời Bác: “Thưa Bác, cháu thường được điểm 4 ạ!” (Trước đây, điểm 5 là điểm cao nhất, tương tự điểm 10 bây giờ). Nghe xong, Bác liền nói cả lớp: “Tất cả các cháu phải học được điểm 5 thì nhân dân, đất nước mới được nhờ… ”. Lần khác, trong một đợt tổng kết năm học của trường, Bác đến dự lễ. Hôm đó, Bác đề cập rất nhiều vấn đề nhưng tôi nhớ mãi câu nói của Bác: “Các cháu nên nhớ là: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Cốt cách và việc làm của Bác Hồ đã theo ông suốt những năm tháng dạy học. Với ông Đắc, Bác Hồ là một hình tượng đẹp nhất, Người đã giúp ông trở thành một giáo viên dạy giỏi.

Đã mấy chục năm trôi qua, ông luôn trau dồi, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xem đó là mục tiêu phấn đấu của mình. Lời Bác Hồ dạy luôn sáng mãi trong ông.

Năm 1968, ông trở thành 1 trong 5 giáo viên dạy giỏi của tỉnh và điều mà ông “sướng” nhất là thường xuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn của Nghệ An tham dự các kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đạt giải cao. Trong các dịp hè, ông trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kinh nghiệm cho các giáo viên cấp 2. Với những nỗ lực ấy, ông đã được ngành giáo dục tặng Bằng khen.
Năm 1985, ông về hưu, Trường cấp 3 dạy nghề huyện Đô Lương ngỏ ý mời ông về dạy Văn và Anh văn. Theo giảng dạy được 4 năm, sau đó ở nhà ông hăng say nghiên cứu văn học, báo chí và nhiều lĩnh vực khác.

Đặc biệt, sáng nào cũng vậy, bên chiếc bàn làm việc, ông cặm cụi sưu tầm các mẩu chuyện, bài viết về Bác Hồ trên tất cả các loại sách báo. Ông ghi chép, tập hợp lại thành các tập sách.

Để có thể ghi chép ra những cuốn sách viết về Bác Hồ, ông Đắc đã tận dụng những tờ lịch cũ, đóng thành quyển và chép ra phía sau của tờ lịch. Để có những cuốn sách ghi chép đó, ông đã phải đến nhà bạn bè để mượn, có những cuốn mượn đến hàng tháng trời.

Đến nay, ông đã chép tay được 329 mẩu chuyện về Bác với 45 tác phẩm truyện, thơ viết về Bác như cuốn: Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế, Thơ chúc Tết của Bác Hồ, Ca dao về Bác Hồ…

Bên cạnh sưu tầm, ghi chép lại những mẫu chuyện, những câu thơ về Bác, ông Đắc còn có sở thích sưu tầm những bức ảnh chụp về Bác theo từng thời kỳ hoạt động cách mạng của Người. Trong tập ảnh: “Bác Hồ về thăm đền Hùng”, ông đã sưu tầm từ đầu chí cuối từ lúc Bác Hồ đến cho đến rời khỏi đền Hùng như thế nào, hay những bức hình Bác Hồ chụp với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến nay, ông Đắc đã có trên 200 ảnh chụp về Bác Hồ với những dấu ấn lịch sử. Ông tâm sự: “Tôi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thứ nhất để trả lại cái ơn của Người, thứ hai, sưu tầm những tấm ảnh, ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ sẽ cho tôi một kho tàng tư liệu quý giá để sau này con cháu mình học tập và noi theo”.

Không những là một người thích sưu tầm, ông Đắc còn tham gia viết báo, bình thơ và còn là một thầy thuốc giỏi. Trong nhà ông có một vườn cây thuốc nam. Ông tự mày mò, nghiên cứu chế ra nhiều loại thuốc như thuốc chữa thần kinh gót chân, chữa đau răng…

Hiện, ông đang nghiên cứu dược liệu chế thuốc chữa dạ dày và sỏi thận. Trên Báo Lao động, Báo Nhân Dân và Báo Nông nghiệp Việt Nam… thường xuyên có những bài viết của ông.

Năm 2006, ông được Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen trong cuộc thi tìm hiểu “An ninh nhân dân Việt Nam: 60 năm truyền thống vẻ vang” viết bằng văn xuôi.

Năm 2009, ông được đồng chí Nguyễn Thế Trung – Uỷ viên TW Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy khen ngợi về thành tích sưu tầm các tư liệu về Bác Hồ. Cũng trong năm này, ông được Ban Tuyên giáo gửi thư khen về thành tích học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tháng 8/2010, ông được đồng chí Phạm Quang Nghị – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội gửi thư khen ngợi về thành tích đóng góp hình ảnh 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vinh dự năm 2011, Thái Bá Đắc được Hội Người cao tuổi tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen về thành tích xuất sắc trong phong trào “Tuổi cao gương sáng” 10 năm ( 2001 – 2010).

Cần mẫn như một chú ong, ngày ngày ông Đắc vẫn miệt mài bên những trang giấy trắng. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn làm việc không biết mệt mỏi: Đều đặn đi bộ vào mỗi buổi sáng, bình thơ gửi báo và tiếp tục nghiên cứu lại tất cả những tài liệu để sưu tầm ghi chép lại các bài viết về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đăng trên các báo, tạp chí…

Theo Phan Tuyết
Congannghean.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng trong chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh

Ngày 5/6/1911, khi xuống tầu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin làm phụ bếp để ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước, ngoài chút kiến thức học được ở nhà trường và đôi bàn tay sẵn sàng làm đủ nghề “miễn là lương thiện” để sống và hoạt động, hành trang của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ là lòng yêu nước và yêu thương con người sâu sắc.

Hành trang giản dị ấy, nhưng lại là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được bổ sung bằng mồ hôi và máu của những phu Cửa Rào, phu đồn điền cao su Lộc Ninh, của hàng loạt những sĩ phu đã bỏ mình vì nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ; truyền thống ấy có lời hát ru của bà, có làn điệu ngọt ngào, da diết của dân ca xứ Nghệ… Tất cả sâu lắng trong lòng Anh, được chính Anh bổ sung, nâng cao và hoàn thiện suốt đời, trở thành lòng nhân ái bao la Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc biệt là nhận thức từ thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, có dịp so sánh những người Pháp ở Pháp với những tên thực dân Pháp ở Đông Dương, hoà mình vào cuộc sống của những người lao khổ ở khu Hắc Lem, thành phố Niu oóc… Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác, hai thứ việc: việc chính và việc tà. Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trìu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết giành cho người mất nước, người cùng khổ, chính vì vậy, Người giành cả cuộc đời Người để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân; Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó” .
Với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Trước hết, Người lo cho dân tộc của Người và sau đó, Người lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đoạ đầy, đau khổ, bởi vì: “Họ là thân thích ruột già, công nông thế giới đều là anh em”.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Cho tới trước lúc đi xa, trong lời Di chúc, khi để lại: “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai; Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ cũ như: trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người của Bác Hồ là rất cụ thể, từ việc to như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: “phần tốt ở mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi”, đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư, lạc nghiệp đến tương cà mắm muối hàng ngày cho nhân dân. Bác lo cho cả dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Theo Bác: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác, bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. Theo Bác, Yêu thương con người là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Năm 1968, khi làm việc với cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”, nhằm tuyên truyền sâu rộng những gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong ứng xử giữa những con người, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”.

Yêu thương con người vận dụng vào trong Đảng, trong tổ chức là phải “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại: Vào dịp tháng 5 các năm 1966, 1968, 1969, Bác đều cho mang bản Di chúc đã viết năm 1965 ra để bổ sung, sửa chữa. Năm 1966, bên cạnh câu đã đánh máy từ năm 1965: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Bác ghi thêm vào cùng dòng câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Chỉ một dòng này thôi, cho thấy sự trăn trở của Người về việc không ngừng rèn luyện đạo đức cho mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bản tự tay đánh máy năm 1965, Bác gạch chân 5 chữ: Tự phê bình và phê bình. Song dường như việc nhấn mạnh, kể cả đặt chữ tự phê bình lên trước phê bình chưa làm Người yên tâm, nên năm 1966 Người bổ sung thêm câu: phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đây chính là đòi hỏi xác định động cơ, hay nói chính xác hơn là cái Tâm của người phê bình. Bởi khi phê bình nhau, cần đúng lúc đúng chỗ đã khó, song mục đích phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ mới quan trọng hơn, cái vũ khí phê bình ấy phải trở thành văn hoá phê bình, chứ không phải là cớ để sát phạt, bới móc nhau.

Yêu thương con người là một trong bốn chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh. Các nhà đạo đức học, các nhà khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thuận như vậy. Trong 4 chuẩn mực ấy (Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng) không chuẩn mực nào có thể xem nhẹ, vì cả 4 chuẩn mực ấy là tiêu chí để đánh giá con người mới, con người mang dấu ấn đạo đức Hồ Chí Minh.

Tháng 5 này nhớ về Người, ôn lại những lời Người dạy về Đạo đức, đặc biệt soi vào tấm gương đạo đức của Người, vị lãnh tụ suốt đời tôn trọng nguyên tắc: “Nói thì phải làm”, mỗi người chúng ta càng thêm nhớ Bác, càng cố gắng thiết thực làm theo lời Bác dạy. Mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành ai ai cũng khuyến khích cho sự nẩy nở phần thiện vốn có ở mỗi con người và chung tay đẩy lùi phần ác cũng luôn rình rập quanh ta – đó chính là thực hiện chuẩn mực yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng của Đạo đức Hồ Chí Minh.

TD (theo: bthcm.com.vn)

quangbinh.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”

Tư tưởng về chiến lược trồng người là một giá trị to lớn Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam, chiến lược trồng người của Hồ Chí Minh là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt trong cuộc đời Người, mang tính nhân văn sâu sắc và có  giá trị to lớn đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

293.jpgBác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh: Tuấn Anh

Là một người suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải  phóng con người, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến những quyền con người xứng đáng được hưởng, những quyền “bất khả xâm phạm”, đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1) , sự quan tâm của Người đã trở thành khát vọng giải phóng triệt để con người, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời 79 mùa xuân của mình. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một chiều sâu về văn hóa, chiều sâu đó xét ra chính là chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn cao cả, đó là sự tôn trọng, đề cao và nâng cao những giá trị thuộc về con người.

Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nêu ra yêu cầu tất yếu để xây dựng một xã hội mới, chế độ mới tốt đẹp hơn – Chủ nghĩa xã hội đó chính là yếu tố con người, Hồ Chí Minh cho rằng: “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”(2) , Người cũng khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” (3), theo Hồ Chí Minh những con người xã hội chủ nghĩa này phải hội đủ 2 yếu tố đó là “vừa hồng, vừa chuyên”, nói rộng ra đó thực chất chính là hai mặt đức và tài, trong đó Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng, là yếu tố căn cốt của con người mới và là nhân tố thể hiện sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội.

Vậy, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa thì cần phải làm gì? Hồ Chí Minh cho rằng: “vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(4) , muốn có những con người đủ đức, đủ tài để đảm  đương nhiệm vụ trọng đại của dân tộc thì phải tiến hành “trồng người” đó là lợi ích trăm năm, là kế sách lớn cho sự phát triển.

Trong bản Di chúc lịch sử Người để để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta, Hồ Chí Minh yêu cầu công việc đầu tiên mà Đảng phải làm sau khi đã “chỉnh đốn” lại đó là “công việc đối với con người”(5) , trong đó Hồ Chí Minh đã căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” (6). Để làm được điều đó thì Người cho rằng “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”(7).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”, rất toàn diện và sâu sắc. Tùy từng thời kỳ và nhiệm vụ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh lại đặt ra những yêu cầu khác nhau về công tác trồng người. Nhưng tựu chung lại có thể khái quát thành những nội  dung lớn sau đây:

Thứ nhất, chiến lược trồng người phải làm sao đào tạo được những con người có đạo đức cách mạng, đó là lòng trung thành với tổ quốc và nhân dân, không ngừng bồi dưỡng, trau dồi những phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, có lòng yêu thương con người và tinh thần quốc tế vô sản, có ý thức và tinh thần làm chủ tập thể “mình vì mọi người, mọi người vì mình”(8) , đồng thời Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải đấu tranh chống lại những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân sinh ra như tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo  Hồ Chí Minh, đó chính là một thứ giặc nguy hiểm, giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, nó phá hoại sự nghiệp của chúng ta từ bên trong, nó là “kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội” vì vậy phải  kiên quyết “quét sạch”.

Thứ hai, chiến lược trồng người là phải tạo nên những con người có ý chí học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường năm 1945, Người đã chỉ ra nhiệm vụ cho thế hệ trẻ đó là “phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta” , để “cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu”, đó là một trách nhiệm rất nặng nề song cũng vô cùng vẻ vang. Trong nhiệm vụ vẻ vang giáo dục, đào tạo ấy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm, chú ý vì đó là tiền đồ, là tương lai của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ trong sự nghiệp cách mạng to lớn ấy là “cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào đạo  thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(9).

Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản luôn sống và chiến đấu cho lý tưởng đó của loài người thành hiện thực(10) . Trong bài nói chuyện tại buổi lễ khai mạc đại học nhân dân Việt Nam ngày 19/1/1955 Người đã chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ trẻ trong thời kỳ kiến thiết nước nhà xây dựng chế độ mới đó là “không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?” (11), vì vậy, thế hệ trẻ phải có trách nhiệm với sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc.

Thứ ba, chiến lược trồng người phải tạo nên những con người có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, “Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được. Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp”(12) . Đó là những con người phải nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời, đó phải là những con người “có chí tự động, tự cường, tự lập, phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị” (13). Hồ Chí Minh cũng yêu cầu thế hệ trẻ phải hết sức tránh xa ba sự ham muốn đó là ham muốn về tiền tài, danh vọng và quyền lực, Người còn cho  rằng “thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị, chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”(14)  có làm được như thế thì “mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà.”(15) . Người căn dặn thế hệ trẻ phải chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng các phẩm chất của đạo đức cách mạng đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, những tác phong đẹp đẽ của đạo đức như khiêm tốn, giản dị, siêng năng, gan dạ, sáng tạo và những đức  tính tốt đẹp như trung thành, thật thà, chính trực. Hồ Chí Minh đã đặt trọn niềm tin và sự kỳ vọng vào thế hệ trẻ. Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(16) . Với Hồ Chí Minh, tiền đồ và tương lai của dân tộc Việt Nam gắn bó chặt chẽ với tiền đồ và tương lai của đội ngũ thanh niên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người là một hệ thống quan điểm chặt chẽ, phong phú, hợp logic trong tiến trình phát triển tư tưởng của Người. Tư tưởng đó vừa thể hiện tính khoa học, vừa mang tính cách mạng và là một nội  dung quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người và giải phóng con người.

Sự nghiệp đổi mới đã đi qua được hơn 25 năm, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, vị thế của đất nước không ngừng được tăng cao trên trường quốc tế, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tuy vậy tiềm lực của chúng ta còn rất lớn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức,để có một thế hệ tương lai đủ đức, đủ tài gánh vác các trọng trách lớn lao của dân tộc, đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà, đó là những con người phải có cả đạo đức và tài năng, những người thực sự xứng đáng gánh vác những tiền đồ to lớn mà thế hệ cha ông đã để lại. Trong sự nghiệp vĩ đại đó, Đảng, Chính phủ và Nhân dân phải có trách nhiệm đối với  sứ mệnh này. “Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Mong mọi người phải cố gắng làm trọn nhiệm vụ”(17).

Đào Tuấn Anh – Nguyễn Thị Liên
Học viện Chính sách và Phát triển – Đại học Luật Hà Nội


(1)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.1
(2)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.281
(3)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.66
(4)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.528
(5)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.616
(6)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.622
(7)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.622
(8)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.66
(9)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.616-617
(10)Giáo trình tư tuởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.252
(11)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.265
(12)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(13)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(14)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.265
(15)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.464
(16)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.216
(17)Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.518

hochiminhhoc.com

Tấm áo ấm, những câu thơ và tấm lòng Bác Hồ

Bác nói: “Chúng ta đều biết, chú Thông từ Thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm về đến vùng căn cứ an toàn có thể xem như quân dân ta đã thắng to quân địch”.

Chuyện xảy ra từ hơn 60 năm về trước nhưng chưa ai kể lại vì cả 2 nhân vật chính đều đã qua đời. Nay nhờ Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, nhờ gia đình cụ Đặng Phúc Thông và các nhân chứng còn sống tại Hà Nội cung cấp tài liệu, chúng tôi xin chuyển tới bạn đọc câu chuyện sau đây để chúng ta hiểu thêm về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Một trong hai nhân vật của câu chuyện này là kỹ sư Đặng Phúc Thông – một nhà trí thức yêu nước – từng tốt nghiệp loại ưu hai trường danh tiếng của nước Pháp là Đại học Mỏ – Địa chất (Grande Ecole dé Mine) và Đại học Cầu đường (Grande Ecole dé Pont et Chaussees) hồi đầu thập niên 30 của thế kỷ XX. Về nước, mặc dù thực dân Pháp chủ động gợi ý với nhiều quyền lợi kèm theo nhưng ông đã cương quyết từ chối gia nhập “làng Tây”, sau đó bị “trừng phạt” bằng việc phải chuyển đi làm việc tại khu mỏ Phấn Mễ thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Không chịu nổi thái độ trịch thượng của bọn công chức người Pháp, năm 1933 kỹ sư Đặng Phúc Thông xin chuyển sang làm việc ở Sở Hỏa xa Đông Dương tại Hà Nội, đến năm 1941 chuyển vào làm kỹ sư trưởng ở Sở Hỏa xa Quận 3, phụ trách tuyến đường sắt từ ga Diêu Trì (Bình Định) vào đến ga Tháp Chàm (Phan Rang). Ông được tiếp xúc, tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 rồi trở thành vị Thứ trưởng đầu tiên của Bộ Giao thông công chính trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử phái đoàn Việt Nam mà Đặng Phúc Thông là một thành viên, sang dự Hội nghị Fontainbleau (Phông-ten-nơ-blô) tại Pháp. Ông đã được cách mạng – mà trực tiếp là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đánh giá cao.

Cuộc toàn quốc kháng chiến bùng nổ đêm 19/12/1946. Hai ông bà Đặng Phúc Thông bị kẹt lại trong thành phố Hà Nội bị tạm chiếm trong hơn 8 tháng. Thực dân Pháp đã ra sức dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông dứt khoát cự tuyệt cộng tác với chúng. Ông chủ động bắt liên lạc với các cán bộ cách mạng hoạt động bí mật trong nội thành. Cuối cùng, hai ông bà đã được cách mạng tổ chức đưa ra vùng tự do, lên chiến khu Việt Bắc vào cuối tháng 8 năm 1947.

Lên tới ATK (An toàn khu) Việt Bắc, kỹ sư Đặng Phúc Thông được giao tiếp tục làm Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính. Bác Hồ rất phấn khởi. Người nói: “Chúng ta đều biết, chú Thông từ Thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm về đến vùng căn cứ an toàn có thể xem như quân dân ta đã thắng to quân địch”. Đến đầu năm 1948, ông Đặng Phúc Thông được giao kiêm thêm nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Giao thông công chính.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những quý trọng năng lực chuyên môn, phẩm chất yêu nước của nhà trí thức cách mạng mà còn dành cho kỹ sư Đặng Phúc Thông tình cảm yêu thương đặc biệt. Một trong rất nhiều trường hợp cụ thể là: Đầu năm 1948, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đã tặng “chú Thông” chiếc áo len kèm theo trang giấy đề 4 câu thơ (Bác viết tay) như sau:

Tết nhất năm nay hoãn thịt xôi
Tết sau thắng lợi sẽ đền bồi
Áo bạn biếu tôi, tôi biếu chú
Chú mang cho ấm, cũng như tôi

4-2-48
HỒ CHÍ MINH

Với tinh thần trách nhiệm cao, Thứ trưởng Đặng Phúc Thông vẫn hăng hái thực hiện nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao phụ trách Liên khu 4 cách ATK hơn 500 km. Đường sá xa xôi, hoàn cảnh đi lại khó khăn, vất vả, ông sa sút sức khỏe rồi bị lâm bệnh nhưng vẫn gắng sức hoàn thành công việc.

Biết tin ông đau ốm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư vào nhắc nhở ông chú ý nghỉ ngơi, điều trị. Chính phủ cũng có chỉ thị cấp thuốc men, đường sữa bồi dưỡng cho ông. Nhưng do gắng sức trong thời gian dài, ông không chống chọi nổi với bệnh tật nên đã qua đời tại tỉnh Thanh Hóa ngày 31/12/1951.

Tiếc thương ông, trong lá thư chia buồn với tang quyến, Bác Hồ đã tôn vinh ông là: …“một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sỹ trung thành của dân tộc đồng thời là một người bạn tốt của tôi”./.

Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Về sự kiện Unesco ra nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969, các cá nhân, tổ chức chính trị-xã hội trên thế giới đã tập trung đánh giá cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh. Những đánh giá đó từ những người cộng sản, từ những chính khách không cộng sản, từ những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi. Tất cả đều đánh giá sự cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của nhân loại, không những đối với thế kỷ XX mà còn đối với thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo.

Nay thì thấy một số mạng điện tử tiếng Việt và cả DVD nói xấu Hồ Chí Minh. Điều này xuất phát từ thái độ thâm thù đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo và từ chủ trương “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” của các thế lực thù địch.

Trước khi nêu sự kiện Nghị quyết của UNESO năm 1987 về Kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi muốn nêu một vài sự kiện có liên quan.

Vào thời điểm sắp sửa kết thúc thế kỷ XX của thiên niên kỷ thứ hai và bước sang thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ ba, tờ Time (Thời báo) của Mỹ đã phối hợp với Hãng Truyền hình CBS làm một cuộc lấy ý kiến bằng cách phát ra 7 triệu phiếu gửi đi nhiều nước để bầu chọn lấy 100 nhân vật nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của thế kỷ XX. Kết quả được công bố cuối tháng 12 năm 1999. Trong số 100 nhân vật được chọn, có Hồ Chí Minh. Trong số 100 nhân vật đó, người ta lại phân ra danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín nhất trên thế giới trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong số 20 nhân vật đó, cùng với V.I. Lênin, M. Găngđi, W. Sớcxin, A. Khômêny, N. Manđêla, T. Rudơven, F.D. Rudơven, M. Xangơ, Luthơ Kinh, R. Rigân, v.v. Điều đó giải thích tại sao Trưởng Đại diện của tuần báo Time ở Hà Nội lúc ấy coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XX”.

Trước đó nữa, năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hoá thế kỷ XX (XXth Century culture) do Alan Bullock và R.B. Wodinger chủ biên (Do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hoá thế kỷ XX. Các nhà khoa học này đã thảo luận những tiêu chí thế nào là danh nhân văn hoá thế giới trong thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đưa ra quan niệm như sau:

a. Thế kỷ XX là thế kỷ của những đảo lộn khoa học và công nghệ, chẳng hạn Thuyết Tương đối của A. Anhxtanh. Ai phát minh ra những kết quả khoa học và công nghệ làm đảo lộn thế giới thì người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

b. Thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc chiến tranh tàn bạo. Ai tích cực đấu tranh cho quyền sống của con người, bênh vực con người, giải phóng con người, là người tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn, người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

c. Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hoá (décolonisation). Ai là người góp phần tích cực giải phóng các thuộc địa, giải phóng các dân tộc bị áp bức, làm đảo lộn thế giới thuộc địa, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, thì đó là danh nhân văn hoá thế giới.

Hồ Chí Minh đã được 300 nhà khoa học chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó (các trang 322, 333). Các nhà khoa học đó thừa biết rằng, Hồ Chí Minh là người cộng sản, mà một số người trên thế giới không ưa chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Hồ Chí Minh là người cộng sản đích thực, là nhà văn hoá, là chiến sĩ tiên phong của một dân tộc tiên phong tích cực nhất, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, cho nên Hồ Chí Minh xứng đáng được chọn. Trong các cuộc thảo luận, 300 nhà khoa học nhất trí cho rằng: “Hồ Chí Minh là nhà mácxít hay nhà Nho, điều đó không quan trọng. Hồ Chí Minh là người cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa, điều đó không quan trọng. Chỉ cần biết Hồ Chí Minh là Nguyễn ái Quốc – người yêu nước – thế là đủ để xếp ông vào hàng danh nhân văn hoá thế giới thế kỷ XX. Vì Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu á và của thế giới thứ ba”[1].

Còn đối với UNESCO, có một sự kiện liên quan đến Hồ Chí Minh cần làm sáng rõ hơn.

Với sự cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của đất n­ước và đối với sự phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại, Việt Nam — một quốc gia thành viên — đã gửi hồ sơ tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) để Tổ chức này xem xét kỷ niệm nhân dịp 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh.

Trong Khoá họp toàn thể lần thứ XXIV tại Pari (thủ đô nư­ớc Cộng hoà Pháp) từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, UNESCO có một ch­ương trình nghị sự thảo luận, xem xét và cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh[2].

Cần nhắc lại rằng, năm 1974, tại Khoá họp lần thứ XVIII của mình, Đại Hội đồng UNESCO đã định với nhau rằng: định kỳ xét để tổ chức kỷ niệm các danh nhân văn hoá thế giới theo tiêu chí chung nhất là “những người đã để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại”. Những danh nhân này sẽ được long trọng kỷ niệm nhân kỷ niệm các năm sinh chẵn 100, 200…Tại Khoá họp lần thứ XXIV, Đại Hội đồng UNESCO đã xem xét để ra nghị quyết kỷ niệm các danh nhân có các kỷ niệm năm sinh chẵn vào các năm 1988, 1989, 1990. Hồ Chí Minh là 1 trong 6 người có hồ sơ đề cử (có cả J. Nêru (ấn Độ), A. Macarencô (Liên Xô), 1 của Thái Lan, 1 của Cộng hoà Liên bang Đức, 1 của Thổ Nhĩ Kỳ). Tính đến Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO lần thứ XXIV năm 1987 này, đã có 21 người được ra nghị quyết kỷ niệm.

Bối cảnh của việc xem xét các danh nhân trong Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO cuối năm 1987 không mấy suôn sẻ, vì trước đó đã có một số quốc gia vì lý do chính trị đã rút ra khỏi danh sách thành viên của UNESCO. Có nước chỉ đề nghị nên xem xét những hồ sơ đề cử nào mà có năm chẵn 100 (đến năm 1988) thôi, vì họ còn “lấn cấn”, chưa thông lắm về các tiêu chí. Có nước đề nghị UNESCO nên hạn chế kỷ niệm các danh nhân…

Trong Khoá họp lần thứ XXIV này, UNESCO tôn vinh J. Nêru là “Nhà quán quân của phong trào giải phóng dân tộc”, với 45 phút thảo luận và thông qua nghị quyết.

Phía Việt Nam dự kiến khi xét Hồ Chí Minh có thể khó khăn hơn, bởi nhiều lý do. Lúc này, vấn đề Campuchia và vấn đề người Việt Nam vượt biên tỵ nạn đang nổi lên, nhiều nước đang hiểu lầm và không thiện cảm. Một bản kiến nghị gửi đến Đại Hội đồng có các chữ ký của 79 người Việt Nam vượt biên, di tản phản đối việc xét Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang “có vấn đề”, nghĩa là đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Trong tổng lượng phiếu 159 nước thành viên thì các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có 8.

Thế nhưng, tình hình không rắc rối, phức tạp như chúng ta tưởng. Cuộc thảo luận của Đại Hội đồng Khoá họp XXIV diễn ra trong không khí hữu nghị, tình cảm chân thành đối với nhân vật được đề xuất trong hồ sơ là Hồ Chí Minh. Gần 30 nước đã ký tên đồng tác giả dự thảo Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lên Đại Hội đồng. Cuộc họp Tiểu ban các vấn đề văn hoá đã thảo luận dự thảo này và được thông qua tại Đại Hội đồng bằng biểu quyết với đa số tuyệt đối. Tại Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Thủ đô Hà Nội, các ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Dy Niên, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban UNESCO của Việt Nam, đã có bài thuật lại những nét cơ bản nhất của sự kiện này.

Trong quá trình thảo luận, Chủ toạ Phiên họp là một quý bà người Thái Lan. Bà đã cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản chung của nhân loại, có giá trị vĩnh hằng, là niềm tự hào của các dân tộc. Một đại biểu của Cộng hoà Dân chủ Đức cho rằng, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn của mọi thời đại. Một đại biểu của Xri Lanca cho rằng, Hồ Chí Minh là một nhà tiên tri, Hồ Chí Minh là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Còn ông Trưởng Đoàn đại biểu của ấn Độ thì cho rằng, Hồ Chí Minh là một danh xưng cao quý, không chỉ nằm ngay trong mỗi chúng ta, mà gắn với sự tiến bộ của thời đại, vì vậy, việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh vừa là một sự kiện quan trọng, vừa là niềm tự hào, niềm vinh dự lớn lao đối với mọi người lao động.

Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết:

“Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá là góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Quyết định số 18 C-4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận rằng, năm 1990 sẽ đư­ợc đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.

Các văn kiện của UNESCO được quy định công bố bằng 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Arập, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nga. Nguyên văn tiếng Pháp đoạn cuối cùng của ba đoạn trích dẫn này trong Nghị quyết của UNESCO nh­ư sau: “Notant que, 1990 marquera le centième anniversaire de la naissance du Président Ho Chi Minh, héro de la libération nationale et éminent homme de culture du Vietnam”.Đáng chú ý là cụm từ éminent homme de culture được một số ngư­ời dịch là Nhà văn hoá lớn.

Theo tôi, bản Nghị quyết bằng tiếng Anh (trong đó có ghi là: Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) thì có thể dịch Nhà văn hoá lớn, nhưng cũng có thể dịch là Nhà văn hoá ưu tú (hoặc cũng có thể dịch là Nhà văn hoá xuất sắc hoặc Nhà văn hoá kiệt xuất – great man of culture). Nhưng đối với bản tiếng Pháp thì phải dịch là Nhà văn hoá kiệt xuấtmới đúng nghĩa. Mà đây cả hai cái danh: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất đều là của Việt Nam (du Vietnam), chứ không phải là Anh hùng giải phóng dân tộc là của Việt Nam, còn Nhà văn hoá kiệt xuất thì lại là của thế giới.

Một vấn đề cần lư­u ý nữa là: bản thân Nghị quyết này của UNESCO được thông qua theo lời mở đầu có tính mặc định mà tôi đã trích dẫn ở hai đoạn đầu bên trên. Đáng chú ý là những cụm từ, như “Những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá” cũng như Quyết định khung số 18 C-4351 của UNESCO “Kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” thì có thể hiểu đã mặc nhiên công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hoá thế giới rồi, chứ không nên gọi là Tổ chức UNESCO “phong” cho Hồ Chí Minh danh hiệu này, danh hiệu nọ. Tôi nghĩ rằng, nói đúng như thế thì sẽ không phức tạp hoá vấn đề.

Nghị quyết trên đây của UNESCO còn khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu t­ượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Ng­ười là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Do đó, Nghị quyết của UNESCO đã nêu rõ: “Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tư­ởng niệm Người, để làm cho mọi ngư­ời hiểu đ­ược tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Ng­ười vì công cuộc giải phóng dân tộc”.

Việc thực hiện Nghị quyết này của UNESCO ở Việt Nam, nhất là ở trên bình diện quốc tế, ở các nước thành viên Tổ chức UNESCO, có nhiều trắc trở.

Phải thấy được hoàn cảnh đặc biệt lúc đó.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam bước vào một cuộc thử thách mới, đầy chông gai trên bình diện quốc tế. Hầu như Việt Nam bị cô lập, ít được bạn bè cảm thông. Đây là một bi kịch lớn. Nói bi kịch lớn là vì lẽ ra mọi người, hay chí ít là bạn bè số đông của Việt Nam, sẽ cùng Việt Nam sẻ chia mừng vui và bắt tay vào công cuộc giúp Việt Nam băng bó vết thương chiến tranh, xây dựng một cuộc sống mới. Nhưng không đơn giản như vậy. Nói để cho người khác hiểu là việc không đơn giản. Việc Việt Nam đem quân sang Campuchia chẳng hạn. Đây là việc làm hợp với đạo lý, nhưng nhiều nước coi là Việt Nam đã xâm lược Campuchia. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sau khi bại trận “lấm lưng trắng bụng” ở Việt Nam, lại bước vào một cuộc phiêu lưu mới, tiến hành cấm vận mọi mặt với Việt Nam. Việt Nam bước vào những đợt khó khăn mới. Nạn đói đã xảy ra trong thời bình. Lòng người không yên. ở ngoài bắc thiếu lương thực phải ăn bo bo đã đành, nhưng đợt công tác mà tôi có mặt một tháng tại thành phố Hồ Chí Minh mùa hè năm 1977 ở giữa vựa thóc lớn đất nước mà vẫn không đủ gạo ăn, phải ăn bo bo. Đó còn là cơ chế vốn chỉ thích ứng trong chiến tranh nay đến thời bình tỏ ra cứng nhắc nhưng vẫn được vận hành và đương nhiên nó không phù hợp mà Đảng Cộng sản chưa sớm nhận ra.

Đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng. Làn sóng người Việt Nam ồ ạt ra đi khỏi đất nước, mà đây chủ yếu là lực lượng của chế độ Sài Gòn lòng đầy hận thù, trắc ẩn, mặc cảm với chế độ chính trị mới ở Việt Nam. Trung Quốc, sau những chuỗi không êm ả với Việt Nam, đầu năm 1979 đã đưa quân sang mấy tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam gây chiến, nói là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Trong hoàn cảnh đó, có sự chống phá quyết liệt từ những phần tử cực đoan, nhất là từ một số người gốc Việt ở nước ngoài. Họ ngăn trở việc Tổ chức UNESCO đứng ra tổ chức lễ Kỷ niệm hoặc đứng ra cổ suý cho các quốc gia thành viên tổ chức các hoạt động tưởng niệm hoặc lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Hồ Chí Minh theo đúng như Nghị quyết của UNESSCO, viết rằng: “Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam”.

Ngay tại Pari, trụ sở của Đại Hội đồng UNESCO, cũng không tài nào tổ chức nổi một lễ kỷ niệm, tưởng niệm Hồ Chí Minh. Chỉ có hai nước là đứng ra tổ chức được lễ kỷ niệm theo đúng tinh thần của Nghị quyết UNESCO, đó là Việt Nam (đương nhiên, vì là đất nước của Hồ Chí Minh) và ấn Độ. Lễ Kỷ niệm và cuộc Hội thảo nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh được long trọng tổ chức tại Hà Nội với nhiều bạn bè quốc tế, những người có cảm tình với Việt Nam và những người nhận rõ những cống hiến về nhiều mặt của Hồ Chí Minh đối với những bước tiến của dân tộc Việt Nam cũng như đối với hành trình của nhân loại vươn tới tất yếu của tự do.

Trở lại vấn đề Nghị quyết 18.65 của phiên họp lần thứ 24 Đại hội đồng UNESCO năm 1987. Tại sao thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như vậy? Tôi thấy chẳng phải ngẫu nhiên mà UNESCO đánh giá như thế. Tôi thấy như sau:

Một: Hồ Chí Minh là chiến sĩ tiên phong trong thế kỷ phi thực dân hoá.

Hồ Chí Minh là người lĩnh ấn tiên phong của dân tộc Việt Nam và của nhân loại cần lao tiến công vào chủ nghĩa thực dân để đưa lại độc lập, tự do cho mỗi dân tộc, mỗi con người. Thế giới thấy Hồ Chí Minh là một con người đặc biệt trong thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá. Chủ nghĩa thực dân là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sử của loài người. Đúng là một vết nhơ thật. Một dân tộc đang yên đang lành thì bỗng nhiên có một thế lực thực dân đến bắt làm nô lệ, không cho người ta có quyền sống, hoặc nếu để sống thì cái quyền con người sống bị chà đạp. Thực dân xâm chiếm thuộc địa nhưng lại được che dấu bằng những lời lẽ mỹ miều là đi “khai hoá văn minh”.

Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa thực dân là mục tiêu lớn nhất để công phá. Hồ Chí Minh tố cáo mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân ở tất cả mọi diễn đàn và sử dụng tất cả mọi vũ khí mà ông có. Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh là một con người tiên phong của một dân tộc tiên phong đấu tranh phi thực dân hoá trên đất nước ông và trên thế giới.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ chiều ngày 7-5-1954, Việt Nam đã mở đầu cho một quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Với chiến thắng trưa ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn, dân tộc Việt Nam đã báo hiệu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Một dân tộc tiên phong và một con người tiên phong của nhân loại tiến bộ. Thế giới không đặt lầm. Thế giới đã đúng. Việt Nam không làm hổ danh, không phụ lòng tin của lương tri loài người tiến bộ. Nếu tạc tượng những vĩ nhân thế giới thuộc thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá, thì Hồ Chí Minh xứng đáng được tạc bức tượng đẹp nhất.

Hai: Hồ Chí Minh là một con người đầy lòng vị tha, khoan dung.

Trong một thế giới đầy bất trắc của quan hệ con người, Hồ Chí Minh hiển hiện như một tấm lòng bao dung. Hồ Chí Minh đã nói rằng, sự bao dung là như biển cả, nó có thể nhận bao nhiêu nước từ các sông suối. Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống văn hoá khoan dung của dân tộc Việt Nam, như ông đã viết rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Hồ Chí Minh không bao giờ kỳ thị, bài bác các học thuyết, trong quan hệ ứng xử của con người và của cộng đồng này với cộng đồng khác. Sự khoan dung trong thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đến mức đến như một số người hiểu lầm là trong cuộc sống, giải quyết trong các mối quan hệ, Hồ Chí Minh hay nặng về tình. Thực ra, Hồ Chí Minh không duy tình, không duy lý, mà luôn luôn “vừa có lý, vừa có tình”, lấy chữ “nhân” làm nền tảng.

Trong khoan dung văn hoá Hồ Chí Minh, thì các giá trị văn hoá nhân loại như là một giòng chảy tự nhiên qua tâm hồn Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chính là bộ lọc văn hoá chắt lọc cái chân, cái thiện, cái mỹ. Nếu tập hợp, lần dở những trang sách, trang báo của các nhà “Hồ Chí Minh học”, “Việt Nam học” nổi tiếng trên thế giới thì biết cơ man nào là những đánh giá rất đặc sắc về khía cạnh văn hoá khoan dung của Hồ Chí Minh. Trong thực tế cuộc sống, mặc nhiên có sự so sánh. Trong sự so sánh đó, nổi bật lên Hồ Chí Minh, một nhân vật sáng ngời của nhân văn, văn hoá, khoan dung trong cái thế giới có lúc cũng có vẻ hỗn mang về các mối quan hệ giữa con người với con người này.

Ba: Hồ Chí Minh là một chiến sĩ văn hoá, là một hiệp sĩ của UNESCO tích cực giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Vấn đề lớn nhất mà Hồ Chí Minh nêu lên và hướng cả cuộc đời của mình cũng như hướng cả dân tộc Việt Nam cùng những dân tộc khác trên thế giới vào giải quyết là đấu tranh giải phóng con người. Đối với Hồ Chí Minh, mọi hoạt động, mọi cuộc đấu tranh đều hướng đích đó. Hồ Chí Minh tập hợp cả một véctơ lực vào cái đó.

Từ cái chung nhất đó, Hồ Chí Minh nêu lên và hướng vào giải quyết vấn đề hòa bình, hòa bình cho dân tộc Việt Nam và hòa bình cho thế giới, một nền hòa bình thật sự, hòa bình bền vững mà trên đó bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cái nguyên tắc đó trở thành cái khung cho mọi hiệp định chính trị, mà nó đã thể hiện ở Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương ngày 20-7-1954 và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Hồ Chí Minh là con người của hòa bình. Hồ Chí Minh coi đó là nguyên tắc hành xử giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhưng, cái chốt của Hồ Chí Minh là ở chỗ: đó phải là một nền hòa bình chân chính. Trước kẻ xâm lược, nhiều lúc Hồ Chí Minh nhân nhượng, nhưng kẻ cướp càng lấn tới thì ông kêu gọi cả dân tộc vùng lên đấu tranh gìn giữ hòa bình chứ không phải có hòa bình bằng mọi giá, hòa bình trong cái thế hèn kém của một kẻ nô lệ.

Sau khi giành được chính quyền, thiết lập được Nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như toàn thể nhân dân thế giới rằng, nước Việt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Cuộc kháng chiến đã nổ ra sớm ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ ngày 23-9-1945, tức là đúng 3 tuần lễ sau Ngày Độc lập 2-9-1945. Nhân dân miền Nam đã đi liền một mạch gian khổ, kiên cường, Thành đồng Tổ quốc, “đi trước về sau” từ ngày đó đến tận ngày 30-4-1975.

Ý đồ của thực dân Pháp là gây chiến tranh trở lại, “gặm nhấm” dần lãnh thổ Việt Nam, chia cắt Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam. Quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh là Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là tìm cách bảo vệ chính quyền còn non trẻ, tránh đụng độ với các thế lực có ý định xâm lược, bảo vệ nền hoà bình lâu dài cho đất nước. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh gồng mình lên để bước qua những chông gai. Hồ Chí Minh hoà với quân Tưởng Giới Thạch để kìm quân Pháp, ông hoà với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch, và ông ký Hiệp ước 6-3-1946, phái người đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, cử đoàn đi dự Hội nghị ở Phôngtenblô (Pháp) và khi các hội nghị đó không đạt kết quả, thì Hồ Chí Minh ký Tạm ước 14-9-1946.

Hồ Chí Minh tìm cách hoà hoãn với cả kẻ cướp để mong cứu vãn hoà bình, có lúc chịu nhận Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, bảo đảm quyền lợi kinh doanh và các quyền lợi kinh tế khác cho người Pháp ở Việt Nam, v.v. Hồ Chí Minh viết thư cho các tổ chức và cá nhân quốc tế, kể cả cho một số nước có vai trò lớn trong Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm, nguyên tắc đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng dành và tiếp nhận sự đầu tư về kinh tế với tất cả các nước, các nhà tư bản vào Việt Nam với mục đích cùng có lợi. Và Hồ Chí Minh cũng “rắn” khi tuyên bố rằng: nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên cầm tất cả mọi thứ có trong tay để làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ hoà bình, bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân nhượng của Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam chỉ có giới hạn, có nguyên tắc. Hoà bình không bằng mọi giá. Không có thứ hoà bình trong thân phận của những người nô lệ.

Thế là cuộc chiến tranh lần nữa lại nổ ra. Lần này kéo dài 9 năm binh đao khói lửa, bằng trận đại thắng của Việt Nam và cũng là trận đại bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ kết thúc vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 và bằng Hiệp định Giơnevơ 20-7-1954.

Sau này, chiến tranh đã qua đi nhiều năm, nhiều chính khách và các sử gia, các nhà quân sự, các nhà báo, các nhà hoạt động xã hội Pháp đã tốn bao giấy mực viết về cuộc chiến tranh đó. Có lúc, trong số đó, có người đổ lỗi cho Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến tranh. Nhưng, sự thật là sự thật, nó phơi bày ra đó, không ai có thể chỗi cãi được. ý kiến đổ lỗi cho Hồ Chí Minh là số rất ít và bị chìm nghỉm đi. Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện lên với tư cách là chiến sĩ hoà bình quốc tế.

Còn đối với cuộc chiến tranh Mỹ – Việt? Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không muốn cuộc chiến tranh này, nhất lại là “đấu” với lực lượng hùng mạnh, khổng lồ hơn Pháp nhiều. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu quan điểm muốn “trải thảm đỏ” cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nhưng, quân Mỹ cố bám lấy. Cuộc chiến đấu buộc phải diễn ra mà thiệt hại cho cả hai bên về vật chất và tinh thần không biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được. Hồ Chí Minh quý từng giây phút hoà bình, khát khao hoà bình. Nhưng, cũng như trong cuộc kháng Pháp, ông biết đâu là giới hạn của sự chịu đựng, biết nguyên tắc “chơi” với kẻ xâm lược. Hoà bình của Hồ Chí Minh là một loại hoà bình chân chính. ở trong con người Hồ Chí Minh, thông điệp hoà bình cho mỗi một dân tộc, cho cả toàn thế giới là như thế.

Thông điệp đó, cái nguyên tắc về hoà bình của Hồ Chí Minh đó cần được phát huy trong thời buổi hiện nay. Có những chuyện tréo ngoe. Để dập tắt đổ máu, nhân danh hoà bình, nhân danh dân chủ, tự do, người ta lại đi đổ xô bán vũ khí cho các nước hiện đang đổ máu, hoặc những nước đang gầm ghè nhau, đang ở bên miệng hố chiến tranh. Người ta đang lấy luật này luật nọ để hành xử không công bằng trong nhiều quan hệ quốc tế. Nước này có vũ khí hạt nhân, thử vũ khí hạt nhân thì có vẻ lo lắng đấy, nhưng rồi không sao, nhưng nước kia mà có thì không, nhất thiết không thể được, v.v. Khái niệm hoà bình, hoà bình chân chính đang bị thử thách một cách nghiệt ngã.

Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do đó là độc lập, tự do trong một nền hoà bình chân chính, trong sự hợp tác, hữu nghị của tất cả các dân tộc trên thế giới — dù dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ.

Hồ Chí Minh phấn đấu cho các dân tộc xích lại gần nhau, giao lưu, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng, hiện thân về cái đó. Mà điều đó lại bắt nguồn từ sinh khí của dân tộc, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý.

Có thể ai đó trong người Việt Nam cảm thấy bình thường, nhưng đối với thế giới, xét trong các vấn đề toàn cầu thì thấy rất thú vị, thú vị ở chỗ Hồ Chí Minh chính là người nêu ra và thực hành tích cực nhất cho việc bảo vệ môi trường, sinh thái.

Khỏi phải nói, vấn đề này hiện đang trở nên bức xúc, nhức nhối đến mức nào. Trong thời kỳ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, con người đã tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ cho chính mình đồng thời lại tạo ra những tố chất hại mình. Đó là sự xâm hại môi trường sinh thái. Hình như Ph. Ăngghen thì phải, đã viết đại ý rằng, chúng ta không nên quá ảo tưởng vào những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên; thiên nhiên sẽ trả thù chúng ta cho mỗi “chiến thắng” ấy.

Thế giới đang trở nên bất an hơn bao giờ hết. Sự xâm hại tự nhiên chính là hành vi phản văn hoá. Cái gọi là “sự thắng lợi” chinh phục tự nhiên của con người chính là sự tác động gây hiệu ứng phản lại của tự nhiên. Chinh phục tự nhiên không như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Bản thân con người là một thực thể của tự nhiên. Nếu gọi là sự chinh phục một cách đúng đắn của con người đối với tự nhiên thì đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn quy luật của tự nhiên để hành xử cho đúng. Con người sẽ đánh mất khả năng chủ thể văn hoá khi thoát ra khỏi hệ thống điều chỉnh của tự nhiên — đó là sự cân bằng sinh thái. Chính con người hiện đại, mặc dù nắm được khoa học và công nghệ, lại là yếu tố phá vỡ một cách tệ hại nhất sự cân bằng sinh thái. Chính sự thống nhất của con người với tự nhiên tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi vùng, miền.

Hiện thời, trên thế giới, người ta đã “quy” phát triển bền vững vào 6 nội dung:

1. Tăng trưởng kinh tế;
2. Công bằng xã hội;
3. Bảo vệ môi trường;
4. Phát triển văn hoá, giáo dục, công nghệ;
5. Bảo đảm tự do, dân chủ;
6. Phát triển con người.

Trong 6 nội dung đó, người ta lại hay tập trung vào ba nội dung có tính “trụ cột”, đó là Tăng trưởng kinh tế; Công bằng xã hội; Bảo vệ môi trường tự nhiên.

Quan niệm trên đây chính là phản ánh khái niệm phát triển, cho rằng, Phát triển là quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy cho là cơ bản và hiện đại. Hoặc như quan niệm của Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Riô đơ Janerô (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây từ cuối năm 1959. Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28-11-1959 bài “Tết trồng cây”, trong đó cho rằng: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”; rằng, miền Bắc hiện có độ 14 triệu người, trong đó có 3 triệu trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây; như vậy là mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây; từ năm 1960 đến năm 1965 là năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa có cây ăn quả, cây có hoa, vừa có cây làm cột nhà; và trong vòng 10 năm, nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn, đời sống nhân dân được cải thiện hơn.

Dịp cuối năm 1959, Hồ Chí Minh lại kêu gọi toàn dân hưởng ứng phong trào một tháng trồng cây (từ ngày 6-1-1960 đến ngày 6-2-1960) và mong nhân dân duy trì bền bỉ “Tết trồng cây” hằng năm.

Đi thăm các địa phương, các cơ quan, Hồ Chí Minh thường trồng cây. Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến của các chuyên gia lâm nghiệp để có thể trồng cây gì phù hợp nhất. Theo tư vấn của các chuyên gia, Hồ Chí Minh hay trồng nhất là cây đa. Đây là loại cây nếu trồng ở nơi công cộng thì rất thích hợp, nó tỏa bóng mát nhiều, ít sâu bệnh, dễ sống, tuổi thọ lâu (khoảng 500-700 năm). Hồ Chí Minh quan niệm trồng cây nào phải sống cây ấy, cho nên ông trồng “thật”, ông tưới nước thật chứ không phải trên ngực áo có bông hoa giả, xẻng xúc đất thì quấn giấy xanh giấy đỏ để quay phim, chụp ảnh, và khi về Hà Nội Hồ Chí Minh thường hỏi thăm cây do mình trồng còn sống không, nó đang như thế nào.

Tới thăm xã Nam Cường, một xã mới thành lập do lấn biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đang đi trên đường làng, Hồ Chí Minh thấy hai hàng cây mới trồng. Hồ Chí Minh cho rằng, hình như cán bộ và nhân dân ở đây mới trồng vội hôm qua để đón mình (Ông Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình lúc đó thừa nhận đúng là như vậy). Hồ Chí Minh dặn rằng, phải rào lại khỏi bị trâu bò phá, và trồng cây nào phải cố gắng chăm sóc để tất cả đều sống.

Lạ thay và thật thú vị biết bao, đọc trong tài liệu Tuyệt đối bí mật, tôi thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường sinh thái – vấn đề toàn cầu – rất rõ. Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp vào vấn đề xử lý thi hài của mình khi qua đời. Đến bản viết năm 1966, Hồ Chí Minh viết lại như bản viết năm 1965 một đoạn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”.

Đến cái chết của mình mà còn nghĩ đến giữ vệ sinh và để khỏi tốn đất nông nghiệp, nghĩ đến trồng cây, nghĩ đến môi trường sinh thái thì đến nay tôi chỉ thấy Hồ Chí Minh chứ không thấy người thứ hai.

Câu chuyện trên đây thật nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng, xét riêng về mặt môi trường sinh thái mà nói, thì quả là đáng khâm phục về tư chất của con người, một con người luôn luôn hướng tới việc nêu lên và giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Dẫn ra một số điểm trên đây để thấy rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh chính là con người của văn hoá, một nhà văn hoá hoạt động chính trị, một con người có tư duy luôn ở tầm quốc tế.

Phiên họp lần thứ XXIV Đại Hội đồng UNESCO năm 1987 tại Pari đã thực hiện được một sứ mệnh lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, làm cho thế giới đẹp hơn lên khi khuyến nghị các quốc gia thành viên có những hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm những danh nhân, những sự kiện văn hoá theo tiêu chí của mình. Chỉ điều này mới có ý nghĩa văn hoá lớn lao, chứ không phải là sự chống đối, sự quậy phá của những người có đầu óc thâm thù đối với sự nghiệp của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt Nam rồi đi đến ghét bỏ Hồ Chí Minh.

[1] Tham khảo báo Quân đội nhân dân, số Xuân Canh Ngọ, 27-1-1990.

[2] Những đoạn trích dẫn Nghị quyết này là từ tài liệu lư­u tại Uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

Mạch Quang Thắng, ngày 22/5/2011
http://xichloviet.wordpress.com
NDVN, ngày 14/1/2012

nhandanvietnam.org

Sửa đổi lề lối làm việc (Phần 5)

VII. CHỐNG THÓI BA HOA

1. Thói ba hoa là gì?

Bác Hồ làm việc ở Pắc Bó

Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn.

Thói ba hoa từ đâu ra?

Vì chúng ta trước kia học chữ Hán, sau này học chữ Pháp, cho nên khi nói khi viết, hay dùng chữ Hán và theo cách Pháp. Thành thử dài dòng mà khó hiểu, khó nghe. Lại cũng vì chủ quan và hẹp hòi.

Thói ba hoa tỏ ra nhiều vẻ.

a) Dài dòng, rỗng tuếch – Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy tốn mực, mất công người xem. Khác nào vải băng bó mụn lở, đã thối lại dài.

Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn dám xem nữa? Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết.

Trong lúc kháng chiến này, chiến sĩ trước mặt trận phải đánh giặc, đồng bào ở hậu phương phải tăng gia sản xuất. Ai có thời giờ đâu mà xem những bài dài quá.

Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài.

Thế những sách lý luận, hoặc cuốn sách này chẳng hạn, không phải dài sao?

Phải. Nó dài, nhưng mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch.

Tục ngữ nói: “Đo bò làm chuồng, đo người may áo”. Bất kỳ làm việc gì cũng phải có chừng mực. Viết và nói cũng vậy. Chúng ta chống là chống nói dài, viết rỗng. Chứ không phải nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt.

Viết và nói cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh nói dài, viết rỗng.

b) Có thói “cầu kỳ” – Trên các báo, sách, bức tường, thường có những bức vẽ, những khẩu hiệu, nhiều người xem không ra, đọc không được.

Họ cho thế là “mỹ thuật”. Kỳ thực, họ viết, họ vẽ, để họ xem thôi.

Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Nhiều người tưởng: mình viết gì, nói gì, người khác cũng đều hiểu được cả. Thật ra, hoàn toàn không như thế. Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao được?

Tục ngữ nói “gẩy đờn tai trâu” là có ý chế người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là “trâu”.

Muốn làm bạn, phải hiểu nhau. Nếu không hiểu nhau, không thành bạn. Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại.

c) Khô khan, lúng túng – Nói đi nói lại, cũng chẳng qua kéo ra những chữ “tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan”, và một xốc danh từ học thuộc lòng. Thậm chí những danh từ đó dùng cũng không đúng. Chỉ làm cho quần chúng chán và ngủ gật.

Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng.

Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực.

Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc. Nhưng phải có chừng có mực. Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta.

Có nhiều người có bệnh “dùng chữ Hán”, những tiếng ta sẵn có không dùng mà dùng chữ Hán cho bằng được. Thí dụ: ba tháng không nói ba tháng mà nói “tam cá nguyệt”. Xem xét, không nói xem xét mà nói “quan sát”, v.v..

Nhưng sẽ “tả” quá nếu những chữ Hán đã hoá thành tiếng ta, ai cũng hiểu, mà cố ý không dùng. Thí dụ: Độc lập mà nói “đứng một”, du kích thì nói “đánh chơi”. Thế cũng là tếu.

Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm. Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu.

Chẳng những các người phụ trách tuyên truyền, những người viết báo, viết sách, những người nghệ sĩ là người tuyên truyền, mà tất cả cán bộ, tất cả đảng viên, hễ những người có tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói nhất là học nói cho quần chúng hiểu.

Nhiều người, trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn. Nói nữa thì chán tai.

d) Báo cáo lông bông – Một là báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng. Hoặc báo cáo chậm trễ. Thành thử khi cấp trên nhận được báo cáo, thì việc đã trễ rồi, không đối phó kịp.

Hai là trong báo cáo chỉ thấy 1, 2, 3, 4 hoặc a, b, c, v.v.. Không nêu rõ vấn đề ra. Không phân tách, không đề nghị cách giải quyết các vấn đề. Không nói rõ tán thành hoặc phản đối.

Sao gọi là vấn đề ? Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết, tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó. Phải phân tách rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết.

Gặp mỗi vấn đề, đều phải kinh qua ba bước: đề nó ra, phân tách nó (điều tra, nghiên cứu, sắp đặt), giải quyết nó.

Khi viết một bài hoặc khi diễn thuyết cho khỏi rỗng tuếch, cũng phải như thế.

đ) Lụp chụp cẩu thả – Những tệ kể trên, một phần vì thiếu kinh nghiệm, mà một phần vì tính lụp chụp, cẩu thả.

Một thí dụ rất rõ ràng: mỗi ngày, chúng ta ai cũng rửa mặt. Rửa mặt rồi, thì chải đầu. Nhiều người chải đầu rồi, còn soi gương xem đã sạch, đã mượt chưa. Nếu viết bài và diễn thuyết cũng cẩn thận như thế thì chắc không đến nỗi có nhiều khuyết điểm.

Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa, vô ích bỏ đi.

Rửa mặt phải kỳ xát vài ba lần mới sạch. Viết văn, diễn thuyết cũng phải như vậy.

e) Bệnh theo “sáo cũ” – Chẳng những viết, nói, có thói ba hoa, mà huấn luyện, khai hội cũng mắc chứng đó.

Mở lớp huấn luyện là một việc rất tốt, rất cần. Nhưng phải hiểu rằng: học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích.

Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho những người đến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay. Nhiều đồng chí ta không hiểu cái lẽ rất giản đơn đó. Cho nên họ đã đưa “thặng dư giá trị” nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân. Họ đã đưa “tân dân chủ chủ nghĩa” nhồi sọ các em nhi đồng. Họ đã đưa “biện chứng pháp” nhồi sọ công nhân đang học quốc ngữ.

Chỉ trong một cuộc khai hội ở địa phương, chúng ta đã có thể thấy rất nhiều khuyết điểm.

1. Kém chuẩn bị – Đảng viên đến chỗ khai hội rồi, mà cũng chưa biết vì việc gì mà khai hội. Đến khi chủ tịch mời mọi người phát biểu ý kiến thì quần chúng ai có sẵn ý kiến mà phát biểu ?

2. Nói mênh mông – Thường thường đại biểu cấp trên đến khai hội với cấp dưới, trong lúc khai hội, chỉ một mình “ông” đại biểu, hay “bà” đại biểu nói, nói hàng hai, ba giờ đồng hồ. Nói mênh mông trời đất. Nói gì cũng có. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là những việc thiết thực cho địa phương đó, những việc mà dân chúng ở đó cần biết, cần hiểu, cần làm, thì không nói đến!

3. Không đúng giờ – Hẹn khai hội tám giờ thì chín, mười giờ mới đến. Làm mất thời giờ của những người khác. Họ không hiểu rằng: giữ đúng thời giờ là một tính tốt của người cách mạng, nhất là trong lúc kháng chiến này.

4. Giữ nếp cũ – Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, cũng khư khư giữ theo nếp cũ:

1. Tình hình thế giới.

2. Tình hình Đông Dương.

3. Báo cáo công tác.

4. Thảo luận.

5. Phê bình.

6. Giải tán.

Hiểu biết tình hình thế giới và trong nước, cố nhiên là việc hay, việc cần. Nhưng khổ thay! Nếu có đại biểu cấp cao đến, thì ông ấy kéo hàng giờ nào kế hoạch Mácsan, nào xứ Paragoay, nào gì gì, mà bà con không hiểu chi hết ! Nếu chỉ cán bộ cấp xã, thì biết đâu tình hình thế giới mà nói. Thế mà điểm thứ nhất cứ phải là “tình hình thế giới”.

Kết quả là việc thiết thực, việc đáng làm thì không bàn đến.

g) Nói không ai hiểu – Đảng thường kêu gọi khoa học hoá, dân tộc hoá, đại chúng hoá. Khẩu hiệu đó rất đúng. Tiếc vì nhiều cán bộ và đảng viên, có “hoá” gì đâu! Vẫn cứ chứng cũ, nếp cũ đó. Thậm chí, miệng càng hô “đại chúng hoá”, mà trong lúc thực hành thì lại “tiểu chúng hoá”. Vì những lời các ông ấy nói, những bài các ông ấy viết, đại chúng không xem được, không hiểu được. Vì họ không học quần chúng, không hiểu quần chúng.

Nhiều tờ truyền đơn, nhiều bản nghị quyết, nhiều khẩu hiệu của Đảng, mục đích và ý nghĩa rất đúng. Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu.

Thí dụ: vừa rồi đây, đi đến đâu cũng thấy dán những khẩu hiệu:

“Chống cô độc”

“Chống chủ quan”

“Chống địa phương”.

Nhưng khi hỏi kỹ, thì hơn chín phần mười cán bộ cấp dưới không hiểu gì hết. Họ nói: cấp trên bảo dán cứ phải dán, chứ thật ra chúng tôi không hiểu. Thậm chí có người luôn miệng đọc là “chống quan địa phương”.

Than ôi! Khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hoá ra lá bùa của thầy cúng. Lỗi đó tự ai ? Thế mà bảo “đại chúng hoá”, “dân tộc hoá” thì hoá cái gì?

Mỗi khẩu hiệu của Đảng phải là cái ý nguyện và mục đích của hàng ức đảng viên và của hàng triệu dân chúng. Mà muốn như thế, phải làm cho dân chúng đều hiểu, phải học cách nói của dân chúng. Nếu không hàng vạn khẩu hiệu cũng vô ích.

h) Bệnh hay nói chữ – Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ Hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to.

Thí dụ: Pháp và Việt gian bắt buộc đồng bào đi biểu tình, mà một tờ báo nọ của đoàn thể viết là những “cuộc biểu tình tự động”. Dùng quân đội quét một vùng, tiếng Trung Quốc gọi là tảo đãng, mà một tờ báo của đoàn thể viết là “tảo đảm”. Lại có tờ viết là “tảo đảng”!

Tục ngữ nói: “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Cái bệnh nói chữ đó đã lây ra, đã làm hại đến quần chúng. Vì vậy, có người đã nói:

“Chúng tôi xin thông phong” (xung phong).

“Các đồng chí phải luyến ái nhau” (thân ái nhau), v.v.. Trong một cuộc khai hội phụ nữ, có chị cán bộ nọ lên nói: “Thưa chị em, tôi xin bá cáo kinh nguyệt của tôi trong tháng này”.

Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là những chuyện thật. Những chuyện thật đáng đau lòng, do bệnh hay nói chữ sinh ra hoặc do bệnh dốt sinh ra.

2. Cách chữa thói ba hoa.

Trên đây đã kể qua những chứng ba hoa. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ đều phải ra sức sửa chữa bệnh đó. Nếu không, sẽ có hại to cho công việc của Đảng.

Sau đây là liều thuốc chữa thói ba hoa. Mọi người phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành:

1. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.

Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng.

2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe”?

4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.

Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần.

Làm được như thế – đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế – thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng thêm.

Tháng 10 năm 1947
Ký tên: X.Y.Z.

—————————-

Nxb. Sự thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948
Xuất bản lần thứ 7, năm 1959.
Theo sách xuất bản lần thứ 7, năm 1959.

Xem lại: Phần 1

bachovoihue.com