Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hồ Chí Minh với việc khẳng định những giá trị cốt lõi trong mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh; trong đó, những luận giải rất phong phú của Người về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như một biểu trưng mẫu mực về sự nghiền ngẫm uyên bác những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, về tinh thần sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh các nước thuộc địa. Đây là những luận điểm đặt tiền đề quan trọng và là kim chỉ nam cho hành trình tới tương lai tươi sáng của dân tộc, đặc biệt cho sự nghiệp đổi mới tư duy lý luận hiện nay.

Trong các di sản lý luận của mình, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã nêu lên những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Hai ông đã có công biến chủ nghĩa xã hội vốn là học thuyết không tưởng thành học thuyết có cơ sở khoa học. Tuy vậy, do điều kiện lịch sử, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ có thể dự đoán những nét chủ yếu, chứ không thể nêu lên một cách chi tiết những quan niệm của mình về xã hội tương lai. Hơn nữa, những dự đoán ấy được hình thành chủ yếu trên cơ sở nghiên cứu hiện thực xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển tương đối cao ở một số nước Tây Âu. Có hai vấn đề đặt ra: Thứ nhất, chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không? Thứ hai, có thể có một mô hình chủ nghĩa xã hội chung cho mọi quốc gia, dân tộc không?

Về vấn đề thứ nhất: Chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không? Vấn đề này được Hồ Chí Minh cùng những người cách mạng ở châu Á và Đông Dương quan tâm ngay từ năm 1921. Muốn hiểu biết vấn đề đó và muốn trả lời câu hỏi đó, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh cho rằng cần phải xem xét tình hình cụ thể ở lục địa châu Á về mặt lịch sử và địa lý. Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo và sự hiểu biết sâu rộng, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các nước châu Á một cách toàn diện cả về lịch sử xã hội – văn hoá, kinh tế, chính trị… Người đi đến kết luận: “Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép Chủ nghĩa Cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”(1). Bởi ở châu Á, tư tưởng về cộng đồng xã hội, bình đẳng, giáo dục và đề cao giá trị nhân văn; tư tưởng phải đấu tranh cho hạnh phúc của con người, đề cao nhân dân.v.v.. đã phát triển sớm, trở thành cơ sở thuận lợi để tiếp nhận tư tưởng của Chủ nghĩa Cộng sản. Cuối thế kỷ XX, một sự thật lịch sử là trong khi một mô hình chủ nghĩa xã hội tan rã ở các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, thì chế độ xã hội chủ nghĩa lại được củng cố và phát triển ở các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc… Thực tế đó đã chứng minh nhận định thiên tài của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.

Ho Chi Minh voi viec khang dinh nhung gia tri cot loiBác Hồ nói chuyện với bà con nông dân Hùng Sơn – Đại Từ – Thái Nguyên năm 1954. Ảnh: http://dbnd.baclieu.gov.vn

Về vấn đề thứ hai: Có thể có một mô hình chủ nghĩa xã hội chung cho mọi quốc gia, dân tộc không? Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã có những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai, song chưa lúc nào các ông cho rằng, trong tương lai chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ có một mô hình duy nhất. Chủ nghĩa xã hội về bản chất và mục tiêu là thống nhất, nhưng có nhiều mô hình khác nhau, thể hiện sự đa dạng, phong phú trong việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia bao giờ cũng mang trong nó những nét đặc thù về lịch sử, văn hoá, dân tộc của quốc gia đó.

Hồ Chí Minh đã tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ nhiều phương diện khác nhau: Từ chủ nghĩa yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, từ phương diện đạo đức, từ góc độ văn hoá… Trên các phương diện Người đều thấy rằng, về bản chất chủ nghĩa xã hội là một chế độ mới khác biệt về chất, một chế độ thực sự ưu việt, đầy tính nhân văn cao cả. Người chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc…”(2). Đối với Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau này, trong lý luận nhận thức về Chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định thêm nhiều luận điểm quan trọng: “Không có một chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và đảm bảo cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”(3); Chủ nghĩa xã hội là “nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được no ấm và sống một đời hạnh phúc”(4)…

Giá trị xuyên suốt và đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình chủ nghĩa xã hội gắn liền với khát vọng cháy bỏng của Người; đó là xã hội giải phóng thật sự con người, xã hội do nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ chính trị – xã hội ưu việt là nhằm giải phóng con người về mặt chính trị. Khi đó con người mới thực sự là mục tiêu theo ý nghĩa chân chính của nó. Mặt khác, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột và nô dịch trong xã hội có giai cấp đối kháng là một động lực mạnh mẽ, là công cụ chủ yếu để khai thác và phát huy mọi khả năng vật chất và tinh thần của con người vào sự phát triển xã hội. Một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã nêu những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cả sáu vấn đề người đưa ra đều liên quan đến con người và giải phóng con người. Đó là:

Nhân dân đang đói, làm gì để thoát khỏi nạn đói.
Nhân dân đang dốt, làm gì để thoát khỏi dốt.
Nhân dân chưa được hưởng dân chủ, làm gì để nhân dân được hưởng tự do.
Nhân dân bị đầu độc bằng rượu và thuốc phiện, phải làm gì để thoát khỏi nạn này.
Nhân dân phải chịu nhiều thứ thuế, phải bỏ ngay các thứ thuế đó cho dân.
Nhân dân bị thực dân chia rẽ, phải làm gì để đoàn kết nhân dân lại.

Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người thường xuyên nhắc nhở Đảng và Chính phủ phải luôn lo cho dân: Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Trước lúc đi xa, trong Di chúc Người lại nhắc: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”(5). Như vậy, yêu thương những con người lao động, đấu tranh nhằm giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, khỏi sự nghèo đói, dốt nát là điểm xuất phát trong cách tiếp cận mô hình chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong lịch sử Việt Nam, các triều minh quân đều nhận thức: Yêu thương nhân dân là việc đầu tiên của vương chính; có đặt dân sinh lên chốn chiếu êm mới làm cho thế nước vững như Thái sơn, bàn thạch. Tư tưởng ái dân, nhân hậu với nhân dân, mưu lo cho dân an cư lạc nghiệp được Trần Hưng Đạo nâng lên thành thượng sách giữ nước và Nguyễn Trãi coi như biểu trưng của việc nhân nghĩa. Chủ trương ái dân và đã có những chính sách “chăn dân”, nhưng trên thực tế hầu như ở tất cả các triều đại xưa quyền làm chủ của người dân không được xác lập; có chăng nhân dân chỉ được hưởng cái “quyền” của mình khi đất nước lâm nguy, khi thái ấp của vua chúa có nguy cơ rơi vào tay giặc. Đặc biệt ở các triều đại vua chúa nhà Nguyễn (cuối thế kỷ XIX), “đức” thương dân của vương quan trong triều chỉ là đức thương của người cưỡi ngựa thương con ngựa; ái dân cốt để vinh thân, củng cố vương quyền. Và những khẩu hiệu: “Tự do, bình đẳng, bác ái” mà chủ nghĩa tư bản rêu rao, được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh khảo cứu bằng chính thực tế cuộc sống người lao động ở các nước: Pháp (1911), Hoa Kỳ (1912), Anh (1914)…, rốt cuộc chỉ là sự che đậy bản chất bất công tàn bạo và đê tiện của chủ nghĩa tư bản. Trên thực tế, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột rất dã man. Cho đến nay, Chủ nghĩa tư bản đã kéo dài sự phát triển qua mấy thế kỷ, vẫn không thể xoá bỏ được những mâu thuẫn cố hữu giữa lao động và tư bản, giữa người bị áp bức, bóc lột và kẻ áp bức, bóc lột; sự phát triển ấy không những không thể khắc phục được mà ngày càng làm trầm trọng hơn sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội.

Ho Chi Minh voi viec khang dinh  nhung gia tri cot loi 2Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên HTX – NN Lai Sơn – Vĩnh Phúc ngày 30-3-1958. Ảnh: http://dbnd.baclieu.gov.vn

Đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, chủ nghĩa xã hội là xã hội duy nhất mà ở đó quyền con người trở thành hiện thực, là xã hội có khả năng phát huy cao nhất mọi tiềm năng con người (cá nhân, tập thể, cộng đồng). Với Hồ Chí Minh, con người là chủ thể tích cực của lịch sử, nhân dân là giá trị quý báu nhất, cao nhất; của dân, tài dân, sức dân là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển. Không có dân ủng hộ giúp đỡ thì cách mạng không có sức mạnh, không thể thành công. Không có dân thì Đảng không có lực lượng. Có dân, được dân tin, dân yêu, dân phục, lại có đường lối đúng để dẫn dắt dân tranh đấu thì việc khó mấy cũng giải quyết được.

Nói đến quyền con người trong chủ nghĩa xã hội không thể không nói đến tư tưởng dân chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự thể hiện quyền con người của cá nhân và cộng đồng ở mức cao nhất. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nếu trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân thì dân chủ là của quý báu nhất trên đời của nhân dân; dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ(6). Quan niệm đó thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa tính nhân văn và tính pháp lý của dân chủ, được thể hiện thống nhất trong nội hàm dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân và vì nhân dân. Nhưng để nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình, đem lại hạnh phúc cho chính mình cần phải có sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới công việc thực tế để xây dựng nền dân chủ tiến bộ nhất thực sự là của dân, do dân, vì dân. Suốt cuộc đời của mình, Người luôn quan tâm xây dựng Đảng trên cả ba phương diện: Tư tưởng, lý luận; đường lối chính trị; tổ chức cán bộ. Người đòi hỏi Đảng phải thực sự là đạo đức, là văn minh, cán bộ đảng viên phải “chính tâm”, “nghiêm pháp”; phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, ngoài ra không còn lợi ích nào khác. Đảng và Nhà nước không phải là “cứu tinh” của nhân dân mà có trách nhiệm phụng sự nhân dân, là đày tớ của nhân dân. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng phải quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chú trọng nâng cao dân trí; đặt dân sinh, dân trí, dân chủ trong quan hệ thống nhất.

Khi xác lập những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng nhấn mạnh, chủ nghĩa xã hội không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải tuân theo, không phải là những sắc lệnh từ trên xuống, mà nó là một phong trào hiện thực, là sự nghiệp sáng tạo của bản thân quần chúng nhân dân. Vì thế, mọi sự gò ép, bất chấp hiện thực, công thức hoá những tư tưởng lý luận trên thực tế đều phải trả giá. Chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn phát triển, do đó quan niệm về nó cũng phải được phát triển.

Chủ nghĩa xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản nhưng được diễn ra ở một xứ thuộc địa không hoàn toàn giống một cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo ở phương Tây như các nhà kinh điển Mác – Lê nin đã chỉ ra. Vì vậy, tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin đòi hỏi sự vận dụng cần phải “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(7). Đồng thời, nó phải được cụ thể hoá, phát triển và hoàn thiện trong quá trình cách mạng. Hơn nữa, Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội có nhiều nội dung, mỗi nội dung có quy luật phát triển riêng và luôn mang tính khả biến, gắn với diễn trình lịch sử trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng. Bởi vậy, để cách mạng thắng lợi đòi hỏi trong nghiên cứu, hoạch định đường lối cách mạng và chỉ đạo thực tiễn phải có quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển; phải thấy rõ, phân tích và giải quyết tốt các mối liên hệ, có bước đi phù hợp, có những điều kiện cơ bản đảm bảo cho con đường cách mạng được hiện thực hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phát hiện ra con đường cách mạng Việt Nam mà Người đã không ngừng phát triển hoàn thiện nó qua những thời kỳ lịch sử với những quan điểm cực kỳ đúng đắn, sáng tạo, chẳng những chỉ đạo cách mạng Việt Nam lúc sinh thời của Người mà còn có giá trị xuyên suốt tới ngày nay và mai sau.

Tính cách mạng khoa học, đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định con đường cách mạng Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, sau chiến thắng 30-4-1975 cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển không ngừng của đất nước trước những cam go, thử thách và biến động thăng trầm của lịch sử, những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong gần thế kỷ qua càng chứng minh giá trị và sức sống mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự vận động của thực tiễn cách mạng đòi hỏi lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội phải có bước phát triển mới. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và việc tiếp tục bổ sung, phát triển quan niệm về chủ nghĩa xã hội trong Nghị quyết Đại Hội XI của Đảng ta là sự tiếp nối kiên định, sự hiện thực hoá tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới của đất nước.

Con người – cuộc đời – sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hội kết, chiết suất các giá trị và trở thành hệ giá trị vĩnh hằng đi sâu vào tâm thức mỗi người, thành biểu tượng thiêng liêng của lớp lớp các thế hệ không dễ phai nhạt. “Trong mọi sự biến đổi cũng có một số điều quan trọng không thể thay đổi, đó là lý tưởng Chủ nghĩa xã hội, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do dân chủ và công bằng xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng đó”(8). Ai đó cố tình rêu rao cái gọi là “chọn sai đường” và “giá như”… là không thể chấp nhận với tất cả những ai có lương tri và biết trân trọng lịch sử.

——————–

1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H. 1995, tr.35.
2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H.1995, tr.461.
3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H. 1996, tr.291.
4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.1996, tr.17.
5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H. 1996, tr.511.
6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 1995, tr.515, 365
7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H. 1995, tr.465.
8) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (trích tham luận của đại biểu quốc tế UNESCO và Uỷ ban KHXHNV), H.1990, tr. 168.

Đại tá – Tiến sĩ NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Theo Báo Quân đội Nhân dân
Huyền Trang (st)

Tư tưởng Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”

Từ Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1930 – 3-2-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và “Đảng ta thật là vĩ đại”. Khẳng định Đảng ta là đạo đức, là văn minh bởi Đảng là một tổ chức chính trị chân chính, trung thực, trung thành, quang minh, chính đại, chung thủy, tôn trọng công lí và chính nghĩa, phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng bao gồm những người ưu tú của xã hội kết thành một tổ chức có năng lực, trí tuệ cao, có trình độ văn hóa , lí luận đủ sức tiên phong dẫn đường cho nhân dân trong các giai đoạn phát triển của lịch sử.

Trong công tác xây dựng đảng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng về xây dựng đạo đức cách mạng. Bởi đạo đức là biểu hiện trực tiếp của tư tưởng, chỉ đạo tư duy và hành động của con người. Giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm, xây dựng nhân cách người đảng viên, cũng như chăm lo củng cố xây dựng tổ chức đảng phải đặt trên nền tảng đạo đức cách mạng, bảo đảm hiệu quả vững chắc và lâu bền.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ một trong những tư cách của người cách mạng là “ít lòng ham muốn về vật chất”, cái hữu hạn của giá trị vật chất so với cái vô hạn của giá trị tinh thần: Ai chẳng muốn no cơm, áo ấm. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người ta hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt vẫn lan truyền đến ngàn  đời về sau. Vì vậy, người cách mạng chớ để cho ham muốn vật chất tầm thường làm cho mình sa ngã.

Hồ Chí Minh không chỉ đề ra một hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng cho các thế hệ học tập mà bản thân Người đã suốt đời gương mẫu thực hiện. Trước khi từ biệt chúng ta, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, vững mạnh, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thực tế cho thấy, sự suy thoái về đạo đức là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng. Sự kém cỏi về đạo đức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến sự tha hóa về chính trị. Trong lãnh đạo, Đảng cũng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, Đảng đã nghiêm túc trong phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Điển hình như trong Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản năm 1930, Đảng đã tiến hành tự phê bình rất nghiêm khắc bằng sự “tự chỉ trích”, “chuyển hướng phong trào dân chủ 1936-1939”. Đại hội VI của Đảng năm 1986 khởi xướng công cuộc đổi mới trên toàn quốc và đã thu được những thành tựu có ý nghĩa bước ngoặt. và gần đây nhất là Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đã đề ra nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiên nay”. Nghị quyết chỉ rõ: “Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng đảng còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kì chậm khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”(1) và  khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lí tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỉ, cơ hội, tham nhũng lãng phí, tùy tiện vô nguyên tắc”(2). Vì vậy, sau khi kiểm điểm, phê bình, tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương, trước toàn Đảng, toàn dân về những yếu kém trong công tác xây dựng đảng và những suy thoái, hư hỏng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu. Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương cũng nghiêm túc tự phê bình và hứa trước nhân dân sẽ có gắng hết sức mình để từng bước khắc phục sữa chữa.

Dù luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc, vào bản lĩnh của Đảng ta nhưng nhân dân vẫn chưa thật yên tâm trước những diễn biến đáng lo ngại hiện nay. Tình trạng sa sút nghiêm trọng về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đang làm suy yếu Đảng, làm cho nhân dân xa rời Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) xác định.

Tham nhũng thường gắn liền với chức quyền nhưng không phải bất cứ ai có chức quyền cũng đều tham nhũng. Hoàn cảnh khách quan chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua chủ quan của con người, tức là tham nhũng hay không vẫn phụ thuộc phần lớn vào công tác giáo dục và sự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người. Điều đó cho thấy, chúng ta đã thiếu chủ động trong việc đề ra chiến lược về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên khi bước vào đổi mới cơ chế, thực hiện mở cửa, hội nhập. Chúng ta chưa kế thừa tốt tấm gương đạo đức và phong cách làm việc của Bác Hồ trước mỗi bước chuyển của cách mạng. Vì vậy,  học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, toàn xã hội chúng ta đang chứng tỏ tính tất yếu khách quan của vấn đề giáo dục đạo đức và việc tu dưỡng, rèn luyện nhân cách người cán bộ, nhất là phẩm chất đạo đức, lối sống của người đảng viên.

Đã có không ít cán bộ, đảng viên cách mạng, thời trẻ chấp nhận gian khổ, hi sinh, hiến dâng tuổi thanh xuân và cả tính mệnh quý giá của mình cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Một thời, họ đã là những anh hùng, là biểu tượng về lí tưởng và đạo đức cách mạng nhưng tiếc thay khi đã ngồi vào ghế quyền lực, họ cũng bị quyền lực làm cho tha hóa, trở thành những con người  tầm thường, lợi dụng chức quyền để vơ vét, vì đồng tiền mà bước qua pháp luật, tiếp tay cho những kẻ phi pháp, đánh mất phẩm giá và sự nghiệp chính trị đã theo đuổi cả đời. Tình trạng đó có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, xin đừng đổ lỗi riêng cho mặt trái cơ chế thị trường tác động, hoặc do tàn dư của xã hội thực dân phong kiến. Công bằng mà nói, thời nào bên cạnh bọn “quan tham, ô lại” cũng có những “minh quan lương lại”. Những người này đọc sách thánh hiền cũng biết đề cao thanh liêm, công minh, chính trực, cũng tự xem mình là công bộc của dân. Nhưng đáng tiếc, số này không nhiều.

Đến vấn đề cần suy ngẫm, thực hiện

Bệnh trọng thì phải dùng thuốc đắng. Muốn giữ được nhân cách, đạo đức, muốn giữ nghiêm kỉ luật của Đảng, tránh hủ hóa, sai lầm, khuyết điểm thì phải dùng “bốn thứ thuốc” đặc trị: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bởi có siêng năng mới hiểu được giá trị về một nắng hai sương của hạt gạo làm ra, mới biết tiết kiệm. Có giản dị, tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí thì mới giữ được thanh liêm. Đã có liêm thì sẽ giữ được ngay thẳng, chính trực, thấy đúng dám bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh, vì không phụ thuộc vào thế lực nào, không sợ “há miệng mắc quai”, “rút dây động rừng”. Đồng thời phải giữ nghiêm kỷ cương, phép nước như Hồ Chí Minh khẳng định: Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

Sự lành mạnh của đời sống đạo đức xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự nêu gương của người lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xưa nay, niềm tin của người dân Việt Nam luôn gắn liền với niềm tin vào tấm gương đạo đức của người cầm quyền. Đối với các dân tộc phương Đông thì “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(3). Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đó là trách nhiệm về nêu gương của cán bộ, đảng viên: “Đi đầu trong đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; nêu gương về đức khiêm tốn giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của quần chúng”(4).

Chúng ta đã tích cực đấu tranh chống những những căn bệnh tham nhũng, tiêu cực đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực song tình hình đó chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, trái lại, có nơi còn gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Như thế có nghĩa là một số phần tử cố tình lún sâu vào con đường suy thoái, biến chất về chính trị, đạo đức, lối sống. Tại sao như vậy? Phải chăng có hiện tượng “nhờn” pháp luật, coi thường kỉ cương, phép nước? Nếu chúng ta không kiên quyết  với bọn giặc “nội xâm” này, liệu chúng ta có còn kiểm soát được tình hình đất nước? Đó là vấn đề mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần suy ngẫm và thực hiện cho được những biện pháp đã đề ra.

Đại tá TS. Nguyễn Dân Quốc – Trung tá ThS. Nguyễn Ngọc Sáng
Trường Sĩ quan Lục quân 2

—————————————-
(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, NXBCTQG, H. 2012, tr.21,22.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H. 2012, tr.552.
(4) Quy định số 101 QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Nguồn: xaydungdang.org.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Người khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”(1), làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới và chỉ làm cách mạng giải phóng dân tộc để có độc lập dân tộc thì phụ nữ mới được giải phóng.

Trong văn kiện thành lập Đảng tháng 2 năm 1930, Bác Hồ đã nêu một chủ trương lớn về phương diện xã hội “thực hiện nam nữ bình quyền”. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi thành lập Đảng, vấn đề giải phóng phụ nữ đã được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng, là một nội dung trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Nét đặc biệt là Người đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Quyền của phụ nữ gắn liền quyền dân tộc độc lập, quyền dân tộc tự quyết. Đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc thì mới thực hiện được quyền bình đẳng của phụ nữ. Trên con đường đi tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, tình cảnh người phụ nữ Việt Nam, phụ nữ các dân tộc bị áp bức là nỗi đau trăn trở đối với Bác. Trong hàng loạt bài viết của mình, Hồ Chí Minh đã tố cáo tội ác man rợ của chế độ thực dân đối với người phụ nữ. Trong bài “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp” đăng trên báo Lơ Paria (Người cùng khổ) ngày 1-8-1922, Người viết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa”(2). Người gọi chế độ thực dân là chế độ “ăn cướp và hiếp dâm”. Vì vậy, chỉ khi nào đánh đuổi được bọn thực dân cướp nước, giành độc lập dân tộc, người phụ nữ mới được giải phóng.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị tù đày và khi đã là lãnh tụ cách mạng, Người cảm nhận sâu sắc thân phận của người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, nhất là trong xã hội còn chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ phong kiến và đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại lợi ích cho con người, trong đó phụ nữ được chăm lo, được giải phóng. Đó cũng là công việc quan trọng trong công cuộc kiến thiết nước nhà, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, nội dung cơ bản là huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vươn lên, thật sự bình đẳng với nam giới. Muốn làm được điều đó, “phụ nữ cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử”(3).

Giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng về chính trị. Bởi vì nước mất, nhà tan, phụ nữ là người bị đọa đày đau khổ nhất. Dân tộc được giải phóng thì phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc ứng cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp luật. Theo Bác, muốn giải phóng phụ nữ một cách triệt để thì phải bằng các hình thức thích hợp đào tạo và bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ giỏi đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các cấp uỷ đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ty và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập… Phụ nữ phải nhận rõ địa vị người làm chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng CNXH”(4) .

Hai là, giải phóng về xã hội. Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội. Đồng thời bình đẳng trong hôn nhân với chế độ một vợ một chồng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình. Bác nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Đồng thời phụ nữ phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò của mình trong chế độ mới, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình. Người chỉ rõ: Công bằng cho phụ nữ là sự phân công một cách hợp lý công việc đến từng người, tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân và sức khoẻ. Sự bình đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Ba là, giải phóng tâm lý tự ty, đầu óc phụ thuộc bởi thân phận người phụ nữ trong chế độ cũ, phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội. Bác nhắc nhở phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới về trình độ, về năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Muốn vậy phụ nữ phải cố gắng học tập, chủ động quyết tâm khắc phục khó khăn, phải tự tin, tự lực, tự cường, không nên tự ty, ngồi chờ Chính phủ giải phóng cho mình. Người khẳng định: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ mà người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương Đông”(5).

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên khắp cả nước, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống xâm lược Pháp và Mỹ, hàng triệu phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng vạn, hàng nghìn anh hùng, liệt sĩ là nữ mà tên tuổi của họ còn ghi mãi trong sử vàng dân tộc. Trong bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác nói: “Phó tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”(6).

Trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay, phụ nữ Việt Nam luôn vươn lên khẳng định vị trí người làm chủ xã hội, thiên nhiên và gia đình, bản thân. Trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế, xây dựng gia đình văn hóa mới đều có và ngày càng nhiều phụ nữ tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực, đạo đức con người mới. Vị thế và vai trò người phụ nữ ngày càng nâng cao. Trong gần 20 năm qua, liên tục có phó chủ tịch nước là nữ. Các nhiệm kỳ Đại hội Đảng luôn có nữ là ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và nhiều ủy viên Trung ương, bộ trưởng, thứ trưởng; tỷ lệ nữ trong quốc hội chiếm 25%… Trong phát triển kinh tế, lao động nữ chiếm tỷ lệ hơn 50% trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nữ tham gia nhiều ngành nghề mới mà trước chỉ dành cho nam giới. Ở lĩnh vực khoa học, công nghệ phụ nữ tham gia tới gần 40% và tỷ lệ các nhà khoa học nữ đạt hơn 6%. Đặc biệt trong giáo dục, đào tạo và y tế, cán bộ nữ chiếm tỷ lệ lớn và nhiều người có trình độ cao…

Trong những năm qua, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ luôn được thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Quan điểm của Người ngời sáng niềm tin vào tinh thần yêu nước và khả năng lao động sáng tạo của phụ nữ. Người đã khởi động, xây dựng, phát huy phong trào phụ nữ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần tiếp tục thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em.

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2

———————————-

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 204
(2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, Tr.96
(3). Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 37
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 294-296
(5). Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 97
(6). Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 148, 149

Nguồn: xaydungdang.org.vn
Vkyno (st)

Tìm hiểu thêm về vấn đề cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ vai trò, vị trí của vấn đề cán bộ. Vì thế Người có những yêu cầu rất cao và có những chỉ dẫn hết sức sáng suốt về vấn đề này.

Với tư cách là chủ thể

Tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là cái gì trừu tượng, cao xa mà là những điều bình thường, hết sức cụ thể, dễ hiểu, nhưng thực hiện được nó phải có ý chí rèn luyện rất cao.

Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người luôn kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa; không có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; là người luôn biết đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của tập thể lên trên hết, biết giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của Đảng, của dân tộc, của tập thể; là người liên hệ mật thiết với nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, khéo tổ chức và lãnh đạo nhân dân; bằng lời nói và hành động của mình làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, từ đó tuyên truyền và vận động nhân dân một cách có hiệu quả; là người có ý thức tổ chức, kỷ luật cao, không độc đoán chuyên quyền, tự cho phép mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật. Ý thức tổ chức, kỷ luật phải được thể hiện cả trong suy nghĩ lẫn trong hành động, cả trong cách nói năng lẫn trong giao tiếp, ứng xử hằng ngày.

Người cán bộ có đạo đức cách mạng thì nghĩ, nói và làm phải thống nhất. Nhân dân thường đánh giá cán bộ thông qua những lời nói và việc làm cụ thể hằng ngày. “Nói một đằng, làm một nẻo” là điều tối kỵ đối với người cán bộ. “Một sự bất tín vạn sự bất tin”, người cán bộ một khi đã không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chỉ là người “vô tích sự, không làm nên trò trống gì”.

Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người có ý thức tự phê bình và phê bình rất cao. Phê bình phải đi liền với tự phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra cái căn bệnh thường thấy của cán bộ là chỉ biết phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình, không tự phê bình một cách thật thà, nghiêm chỉnh. Người chỉ rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi”(1). Người còn nói thêm: “Dân ta rất tốt, rất yêu thương Đảng, yêu thương cán bộ. Khi ta có khuyết điểm mà nói trước dân, chẳng những dân không ghét, không khinh, mà còn thương yêu, quý trọng, tín nhiệm ta hơn nữa”(2). Quán triệt tư tưởng này của Chủ tịch Hồ  Chí  Minh, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đặc biệt nhấn mạnh tới những khuynh hướng tiêu cực cần phải tránh trong việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là: “vuốt ve ca tụng”, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc lợi dụng phê bình để mạt sát, nhục mạ, xúc phạm nhau,…

Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người có lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, lãng phí, hủ hóa, tham nhũng, không có tư tưởng đặc quyền, đặc lợi. Ngay từ những năm đầu khi ta mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ  Chí  Minh đã nghiêm khắc chỉ ra những biểu hiện thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên về mặt này.

Theo Người, người cán bộ có đạo đức nhưng lại phải có tài. Cán bộ chỉ có đức mà thiếu tài thì cũng chẳng khác nào “những ông bụt ngồi ở trong chùa”. “Tài”, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn. Muốn có được những năng lực đó, người cán bộ phải chịu khó học tập, rèn luyện, trước hết là học tập lý luận Mác – Lê-nin, sau đó phải chịu khó lăn lộn trong thực tiễn. Bởi vì theo Người, lý luận luôn được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động.

Có đức, có tài vẫn chưa đủ. Người cán bộ còn phải có cả phong cách công tác khoa học. Theo Người, muốn có phong cách công tác khoa học phải chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái; chống bệnh ham chuộng hình thức, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai; chống cách làm việc theo lối bàn giấy, ngồi một nơi “chỉ tay năm ngón”, không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác, kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,…

Với tư cách là khách thể

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức và những người trực tiếp làm công tác cán bộ, nhất là người đứng đầu phải:

Hiểu rõ và đánh giá đúng cán bộ. Bởi vì có hiểu rõ và đánh giá đúng cán bộ mới bố trí và sử dụng đúng cán bộ; mới phát hiện đúng ai là cán bộ tốt, ai là cán bộ xấu, ai là người có tài, ai là kẻ bất tài; mới kích thích được mặt tích cực và hạn chế được mặt tiêu cực trong con người cán bộ,… Muốn đánh giá đúng cán bộ phải căn cứ vào những chuẩn mực nhất định. Những chuẩn mực đó có thể thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng. Thí dụ, trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ hàng đầu của người cán bộ là nêu gương trong cuộc đấu tranh giữa cái sống và cái chết, phấn đấu hy sinh để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ hàng đầu của người cán bộ lại là cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo lôgíc đó thì ngày nay, cán bộ phải là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, có thái độ đúng đắn đối với công cuộc đổi mới, có kiến thức và năng lực thực hiện đường lối đổi mới.

Khéo dùng cán bộ. Khéo dùng cán bộ thể hiện ở chỗ đặt người đúng việc, vì việc mà đặt người chứ không phải vì người mà đặt việc; tức là “nồi tròn úp vung tròn” chứ không thể “nồi tròn úp vung vuông”. Người thường căn dặn: Chúng ta phải nhớ rằng, người đời ai cũng có chỗ hay, chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của họ và giúp họ chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được. Khéo dùng cán bộ còn thể hiện ở chỗ biết kết hợp các thế hệ cán bộ một cách đúng đắn. Chủ tịch Hồ  Chí  Minh thường nói: Trong đội ngũ cán bộ của Đảng có cán bộ già, có cán bộ trẻ. Cán bộ già là vốn quý của Đảng, họ có kinh nghiệm về mặt lãnh đạo, được rèn luyện, thử thách nhiều trong thực tế đấu tranh. Nhưng cũng có một số cán bộ già đến một thời kỳ nào đấy là dừng lại, không tiến lên được, hay bám lấy cái cũ, không nhạy cảm với cái mới. Còn cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập cho nên tiến bộ rất nhanh. Vì vậy, Người luôn căn dặn: “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ. Không nên coi thường cán bộ trẻ. Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ “cha chú”’ với cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là “trứng khôn hơn vịt”, “măng mọc quá tre”. Thời đại của ta hiện nay rất oanh liệt. Xã hội, thế giới phát triển rất nhanh. Thế mà các đồng chí lớn tuổi lại coi thường cán bộ trẻ là không đúng. Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”(3). Muốn dùng cán bộ cho đúng còn phải hết sức khách quan, công tâm và phải chống tư tưởng “địa phương chủ nghĩa”, “óc bè phái”, “óc hẹp hòi”, “ai hẩu với mình dù họ nói không đúng cũng nghe, họ không có tài cũng dùng; còn ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”…

Có gan cất nhắc cán bộ. Có gan tức là phải mạnh dạn. Sở dĩ Người nói như thế vì chúng ta thường quá rụt rè, quá khắt khe trong việc bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Có gan không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều. Người thường nói: “Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng. Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không. Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào. Ta nhận họ tốt, còn phải xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không. Phải biết ưu điểm của họ, mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”(4). Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi đề bạt, bổ nhiệm, mà sau khi đề bạt, bổ nhiệm còn phải tiếp tục bồi dưỡng, giúp đỡ họ để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. “Có lên, có xuống, có vào, có ra” trong việc cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ nói chung là đúng. Song, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là điều “vạn bất đắc dĩ”. Người nói: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”(5).

Trên đây chỉ là một số yêu cầu lớn, rất cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác cán bộ, còn toàn bộ tư tưởng của Người về vấn đề này có thể khái quát lại trong những cặp từ mà Người vẫn hay dùng là: “hiểu biết”, “khéo dùng”, “mạnh dạn”, “nâng cao”, “nghiêm khắc”, “thương yêu”.

Quán triệt đầy đủ tinh thần của những cặp từ đó đã là điều khó. Cái khó hơn là thực hành đúng nội dung của nó. Muốn vậy, đòi hỏi những người trực tiếp làm công tác cán bộ, trước hết là người đứng đầu các cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị phải có thái độ thật khách quan, công tâm, không mảy may xen động cơ cá nhân mới có thể xem xét cán bộ một cách đúng đắn, sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng việc.

Nói chung, lâu nay chúng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý Mác-xít – Lê-nin-nít và những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta có một đội ngũ cán bộ về cơ bản là tốt, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của cách mạng trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, sự hoạt động, phát triển của đội ngũ cán bộ và hiệu quả của sự hoạt động đó còn phụ thuộc rất nhiều vào đường lối chính trị, vào tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý… Đó chính là những nguyên nhân khách quan tác động khá toàn diện đến người cán bộ.

Không thể đặt người cán bộ ra ngoài mối quan hệ với đường lối chính trị của Đảng. Đường lối chính trị của Đảng sai thì đương nhiên không thể có đội ngũ cán bộ tốt. Đường lối sai sẽ làm cho người cán bộ mất hết phương hướng và đẩy hàng loạt cán bộ vào chỗ sai lầm. Tình hình thực tế của nhiều đảng cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập niên cuối của thế kỷ XX đã chứng minh điều đó.

Không thể đặt người cán bộ ra ngoài mối quan hệ với tổ chức và cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, bởi những thứ đó ảnh hưởng không nhỏ tới phương hướng và mục tiêu hành động của họ, điều khiển họ, thậm chí buộc họ phải hành động như thế này chứ không thể như thế khác. Nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống quản lý kinh tế khoa học, phù hợp với quy luật kinh tế theo đúng nguyên tắc sản xuất thì đó sẽ là điều kiện rất quan trọng buộc người cán bộ phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế của sản xuất, phải đi sâu nắm vững cơ cấu và quá trình sản xuất, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ và khả năng quản lý,… Trước đây vì chúng ta cứ mò mẫm, lúng túng mãi trong cơ chế mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp, do đó đã hình thành một cách tự nhiên lớp cán bộ quan liêu, làm ăn tùy tiện, kế hoạch thực hiện đến đâu hay đến đó. Khi chuyển sang cơ chế quản lý mới, do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên một số chính sách, chế độ quản lý chưa hoàn chỉnh, có nhiều thiếu sót, sơ hở để cho một bộ phận cán bộ không tốt lợi dụng, nhũng loạn, đục khoét của công. Đây là một vấn đề cấp bách đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước  ở Trung ương và các ngành, các cấp cần cố gắng khắc phục.

Không thể đặt cán bộ ra ngoài mối quan hệ với pháp luật. Trong một tổ chức, trong công việc, mối quan hệ giữa thủ trưởng với nhân viên là mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo; nhưng đối với pháp luật, cả hai đều là công dân, hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật. Song thực tế lại có không ít trường hợp cán bộ lãnh đạo phạm tội thì xử nhẹ, tội đáng đưa ra tòa nhưng lại chỉ xử lý nội bộ còn cán bộ bình thường thì bị xử nặng, thậm chí có trường hợp xử phạt cả người vô tội. Tình trạng không công bằng và không công minh trước pháp luật, nếu cứ tiếp diễn thì không thể hạn chế được những biểu hiện tiêu cực nảy sinh trong đội ngũ cán bộ.

Muốn làm tốt công tác cán bộ, một mặt phải quán triệt những nguyên lý Mác-xít  - Lê-nin-nít và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ; mặt khác, phải tiến hành đồng bộ hàng loạt những biện pháp tích cực, khoa học. Nếu không như vậy, rất có thể chúng ta sẽ rơi vào tình trạng: trên lý thuyết thì đề cao lý luận Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng trên thực tế thì làm ngược lại./.

______________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 9, tr. 290
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 213
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 211
(4), (5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 281 – 282

Nguyễn Tiến Hải
Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Tâm Trang (st)

Về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Người coi đó là cuộc đấu tranh trực tiếp liên quan tới vận mệnh của Đảng và quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng. Tinh thần đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong gần 200 bài nói, viết về công tác xây dựng đảng, về rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, góp phần hình thành tư tưởng lý luận, thực tiễn về công tác xây dựng đảng và có ý nghĩa đối với xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Về chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”(1). Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hoá Đảng, chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân thì cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính. Người cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết trên trán chữ “cộng sản” là được họ yêu mến”(2), mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

Theo Người, chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của dân với Đảng. Và: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(3). Nguyên nhân sâu xa, xét đến cùng dẫn tới sự suy thoái biến chất, làm giảm sức chiến đấu trong Đảng đó chính là chủ nghĩa cá nhân: “Do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(4); “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”(5).

Người đưa ra kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6).

Giải pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(7) và “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có những diễn biến phức tạp”(8).

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI của Đảng thể hiện một quyết tâm chính trị lớn của Đảng: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”(9).

Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, theo chúng tôi cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Một là, các cấp ủy đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Mỗi cán bộ, đảng viên có kế hoạch học tập, không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu và những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Hai là, giữ vững các nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình. Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI yêu cầu các tổ chức đảng khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi; kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất hiện nay. Quá trình tiến hành kiểm điểm phải bảo đảm thật sự dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng, đúng yêu cầu, nội dung, cách làm, thời gian mà Trung ương, Bộ Chính trị đã đề ra. Cấp trên phải làm gương tự phê bình trước, cấp dưới làm sau; tập thể làm trước, cá nhân làm sau; các đồng chí trong thư­ờng vụ, cấp ủy viên cấp trên gư­ơng mẫu, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, làm gương cho cấp dư­ới.

Ba là, không ngừng giáo dục nhân dân, nâng cao dân trí, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, công chức, có cơ chế để nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng, kịp thời khen thưởng những cá nhân, cơ quan báo chí đã tích cực đấu tranh, phê phán những hành động sai trái, góp phần phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, phòng chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Bốn là, xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức, làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng và tổ chức”(10). “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định ít đi”(11). Vì vậy, các cấp ủy đảng cần có nghị quyết lãnh đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa đơn vị.

Năm là, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.

 (1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 10, tr.306. (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.552. (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.557-558. (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.439.(5)  Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.438-439. (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.292. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.173. (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.185. (9) ĐCSVN, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2012, tr.26. (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.300. (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.287.

ThS. Nguyễn Tùng Lâm
Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Nguồn: xaydungdang.org.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh và những câu chuyện ứng xử ngoại giao

(Chinhphu.vn) – Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ”, không bị ràng buộc bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại”.

Dù người đối thoại là nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng, chính khách, trí thức hay chỉ là người công nhân, nông dân bình thường, Hồ Chí Minh cũng luôn chủ động trong ứng xử. Sự chủ động đó vừa tự nhiên, bình dị, chân thành vừa ân cần tế nhị, được thể hiện hết sức sinh động và phong phú trong tư thế chủ động, với ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu, với nụ cười luôn đem lại sự bất ngờ làm xóa nhòa mọi khoảng cách, đem lại hiệu quả cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận hoa từ các em bé trong chuyến thăm Cộng hoà Dân chủ Đức tháng 7/1957

Ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh tới điều này khi kể câu chuyện Bác đối phó với tướng Tiêu Văn của quân đội Tưởng Giới Thạch khi chúng âm mưu thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” tháng 9/1945: “Bác bước nhanh vào phòng khách của Lãnh sự quán như bước vào chốn quen thuộc đã từng lui tới nhiều lần… Tiêu Văn đang ngồi, vội đứng lên đón Bác. Hình như những bước đi thoải mái, tự nhiên và nụ cười rộng mở, đầy chân tình của Bác, tất cả nói lên nhiệt tình của người chủ hiếu khách, như thể Bác chờ đợi cuộc gặp gỡ này từ lâu, đã làm cho Tiêu Văn có phản ứng bất giác đó”.

Đồng chí Song Tùng, nguyên Phó trưởng ban đối ngoại Trung ương, người được giao nhiệm vụ phiên dịch cho Bác Hồ trong những ngày Bác sang thăm nước Cộng hoà Dân chủ Đức vào tháng 7/1957, kể: Cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta với các vị đại diện nước bạn diễn ra suốt cả ngày 26/7/1957. Do thời gian cách nhau sáu tiếng, 15 giờ chiều ở Berlin thì ở Việt Nam đã 21 giờ đêm, lại phải làm việc căng thẳng nên các đồng chí trong đoàn đại biểu ta ai cũng mệt mỏi và buồn ngủ. Khi phía bạn báo cáo năng suất cao của việc nuôi một loại cá chép lai giống, Bác hỏi: “Các đồng chí có loại cá không có xương không?” “Thưa không. Ở Việt Nam có loại cá không xương hay sao?” Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Otto Grotewohl hỏi với vẻ ngạc nhiên. Bác Hồ của chúng ta nói nghiêm nghị: “Vâng, có” (các thành viên đoàn Việt Nam tỉnh ngủ). “Thưa Chủ tịch, có thể xuất khẩu loại cá ấy cho chúng tôi được không?” Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Otto đề nghị. Bác nghiêm trang trả lời: “Chúng tôi sẵn sàng. Loại cá này ở quê hương đồng chí Song Tùng” rồi Bác kể về câu chuyện “con cá gỗ” của người xứ Nghệ. Các đại biểu được một trận cười thoải mái. Mọi người tỉnh táo hẳn.

Trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì nền độc lập của đất nước, tự do của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao tiếp với nhiều đối thủ. Với các đối tượng này, Người đã ứng xử bằng phong cách của một nhà hoạt động chính trị lão luyện, một nhà ngoại giao từng trải để giành thắng lợi. Nhiều người thường nhắc tới câu chuyện về cách ứng xử của Bác trong lần tới thăm Bộ trưởng Bộ nước Pháp Hải ngoại Marius Moutet năm 1946. Ông ta đi từ trên thang gác xuống đón Bác, Bác đi lên. Moutet giơ tay ra bắt tay, nhưng Bác lại bế bé gái đi cùng ông ta lên đã, âu yếm cháu trong khi vẫn bước lên. Chỉ khi ở bậc thang ngang với Moutet, Bác mới đưa tay ra. Nếu Bác giơ tay đáp lại ngay thì trong tấm ảnh của các nhà báo chụp phút đó Bác sẽ ở vị thế dưới Moutet, là điều mang ý nghĩa tượng trưng không hay cho ta.

Chính vì tinh tế nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất am hiểu các đối tượng giao tiếp và rất uyển chuyển trong cách giao tiếp: Nếu cần làm thơ thì Người sẽ làm thơ, cần viết văn thì Người sẽ viết văn hoặc vận dụng những áng văn thơ điển hình của dân tộc và nhân loại phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp. Khi đón Tổng thống Guinea Sekou Toure đến thăm Việt Nam tháng 9/1960, Người mượn ý lẩy Kiều để thể hiện tình cảm:

Bây giờ mới gặp nhau đây
Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông

Sáng ngày 10/5/1963, tại sân bay Gia Lâm, khi đón Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ và Phó Thủ tướng Trần Nghị sang thăm Việt Nam, Bác cũng đọc thơ và câu thơ khi đó nay đã trở thành câu nói tượng trưng cho quan hệ hai nước: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Tháng 12/1961, đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức nước ta. Trong kế hoạch đón tiếp có nội dung đoàn sẽ đến chào Bác ngay sau khi đến Hà Nội. Khi xem kế hoạch, Bác nói: “Hồi trước, khi Bác đi từ Diên An về phương Nam, đồng chí Diệp Kiếm Anh đã từng là đội trưởng và Bác là Bí thư chi bộ. Nay đồng chí ấy đến Việt Nam mà Bác lại đợi đồng chí ấy đến chào chính thức là không thân tình”. Do đó, Bác quyết định là Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ ra đón đoàn tại sân bay, khi về tới Bắc Bộ phủ đã có Bác. Bác sẽ dự bữa cơm thân mật với đoàn nhưng không công bố trên báo, vì như vậy không tiện về mặt lễ tân. Bởi vì lúc đó, Bác là Chủ tịch nước, còn đồng chí Diệp Kiếm Anh chỉ là một trong 10 nguyên soái của Trung Quốc, chưa phải là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng là chỗ thân tình từ trước nên Bác sẽ có mặt ở Bắc Bộ phủ. Đó là một cách xử trí rất tinh tế của Bác về mặt ngoại giao, lại có lý có tình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Wilfred Burchett

Trên cương vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nghe đài, đọc báo của nước ngoài để nắm vững tình hình, cùng Bộ tham mưu của mình vạch chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn và sáng suốt. Với các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là một người bạn lớn. Những nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng những lời lẽ có lý có tình, thông qua báo chí, những thiện chí của Người và nhân dân Việt Nam đã đến được với nhân dân yêu chuộng hòa bình và tín nghĩa trên thế giới, qua đó họ hiểu và đứng lên đấu tranh ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành.

Trong chiến khu Việt Bắc, trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà báo Australia Wilfred Burchett đã gặp Bác Hồ. Ông viết: “Con người mảnh khảnh với chòm râu dài từ trong cánh rừng bước ra, gậy cầm tay, áo vắt vai, không phải ai khác mà chính là Cụ Hồ Chí Minh truyền thuyết. Được người Pháp đưa tin đã chết đến vài chục lần. Cụ vẫn ở đó tay dang rộng, mảnh dẻ, nhưng không thể nào nhầm được. Không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người. Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh ân cần hỏi thăm về sức khoẻ của tôi”.

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện tầm vóc, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc của Người trong những mối quan hệ hết sức đa dạng, phong phú đối với mọi lớp người ở các cương vị và thuộc các dân tộc khác nhau.

ThS. Vũ Kim Yến

Tin bài liên quan:
Ngôi nhà đơn sơ của một tâm hồn vĩ đại

Nguồn: baodientu.chinhphu.vn
Vkyno (st)

Vài điều suy nghĩ về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua câu chuyện “Hai bàn tay”

Việt Nam - Hồ Chí MinhNhư chúng ta đã biết, sau một thời gian dạy học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết, Bình Thuận), Bác Hồ đi vào Sài Gòn, để thực hiện hoài bão của mình, đó là ra đi tìm đường cứu nước. Sau một thời gian sinh sống ở đây, Bác đã gặp được anh Lê và trở thành một đôi bạn thân thiết. Những ngày này, Bác thấy được nhiều điều mới lạ, từ xem đèn điện, chiếu bóng đến ăn kem…

Một hôm, Bác đột nhiên hỏi bạn: Anh Lê, anh có yêu nước không? Anh Lê ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”. Anh có thể giữ bí mật không? – Có. Tôi muốn đi ra nước ngoài để xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi trở về giúp đồng bào của chúng ta… Anh có muốn đi với tôi không? Anh Lê trả lời: Nhưng chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi? Đây, tiền đây! Bác vừa nói, vừa giơ hai bàn tay; Chúng ta sẽ làm việc, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ? Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của Bác, anh Lê đồng ý. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, anh Lê không đủ can đảm và giữ lời hứa nữa. Ngày 05/6/1911, trên một chiếc tàu buôn của Pháp (Latouche Tréville), Bác bắt đầu con đường vạn dặm tìm đường cứu nước để đem lại độc lập, tự do cho dân tộc bằng đôi bàn tay lao động chân chính của mình .

Câu chuyện ngắn gọn nhưng lại là một hình ảnh mang tính biểu trưng rất đậm nét về tinh thần lao động của Người; ẩn chứa đằng sau hành động ấy, là cả một hành động yêu nước thiết tha, một ý chí kiên định, dũng cảm và sáng suốt, quyết chí đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, mà bao đời nay các bậc cách mạng tiền bối vẫn chưa làm được. Người biết, con đường ở phía trước còn dài, rất gian lao, vất vả nhưng Người vẫn vững niềm tin vào con đường chính nghĩa, tin vào sức lao động chân chính của mình. Chúng ta càng thấy rõ ý chí quyết tâm của Bác về hướng đi và ý chí căm thù giặc ngoại xâm đã giày xéo lên quê hương đất nước. Câu chuyện trên là một sự khẳng định ý chí ban đầu về lòng yêu nước, đến cả đời hoạt động cách mạng của Bác.

Những ngày ấy, Bác Hồ đã gặp không ít khó khăn, thử thách nhưng bằng niềm tin và ý chí, đã đưa Bác vượt qua cái lạnh giá, cắt da của mùa đông ở Châu Âu, chỉ với “Viên gạch hồng” hằng ngày trước lúc đi làm, Bác đã đem viên gạch này bỏ vào lò sưởi để đêm đến Bác dùng làm sưởi ấm, hoặc những ngày bị giam cầm trong nhà lao của Tưởng Giới Thạch, Bác viết: “Kiên trì và nhẫn nại, không chịu lùi một phân, vật chất tuy đau khổ, không nao núng tinh thần”, hay “Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”. Xuyên suốt câu chuyện, chúng ta càng nhận rõ: Tư tưởng chỉ đạo trong hành động của Bác. Yếu tố tinh thần đã nâng bước đưa Bác Hồ vượt mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, thực hiện lý tưởng đó là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, nhằm đem lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Ở đây chúng ta càng cảm phục hơn về tấm lòng của Bác Hồ; vì nước, vì dân. Tấm gương đó luôn là bài học quý để cho mỗi người chúng ta học tập suốt đời. Đồng thời, chúng ta càng ý thức rõ hơn về mình, nhất là những hạn chế của bản thân mà cần phải có nhiều cố gắng học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người.

Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Ta bên Người. Người toả sáng bên ta,
 Ta bỗng lớn lên bên Người một chút”.

Để lớn lên, ta thường xuyên rèn đức, luyện tài, có lý tưởng sống và ý chí tự lực tự cường, bằng sức lao động chân chính. Cho nên, mọi người phải xác định rõ lý tưởng sống là cống hiến, là tận tâm, tận lực để phục vụ. Trong lao động phải xuất phát từ mục tiêu trong sáng, làm việc phải có ý chí quyết tâm, vì: ý chí đó là một đức tính cần nhất trong những lúc khó khăn.

Trong công việc, phải kiên trì làm từ những việc nhỏ, đến việc lớn, từ những việc đơn giản đến phức tạp. Sống luôn cầu tiến bộ, vươn lên bằng ý chí, bằng đôi bàn tay hăng say lao động thì mọi việc mới đem lại hiệu quả cao. Bác Hồ đã dạy: “Không có cái gì dễ, mà cũng không có cái gì khó. Nghĩa là có dễ đi nữa thì phải phấn đấu mới thành công, còn khó đến mấy mà quyết tâm phấn đấu, phấn đấu có phương pháp, có kế hoạch thì mới thắng lợi… Đây là bài học nghị lực, can đảm quyết tâm trong mọi việc, mọi cảnh, bài học bền chí, nhẫn nại, khắc khổ trong gian lao hằng ngày” để làm tốt công việc, bên cạnh không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, mà còn phải thường xuyên học tập để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Vì vậy, mọi người phải tự rèn luyện ý chí tự học; tự học qua sách vở, báo chí v.v… Học ở đây là “học thật” bằng chính sức lao động của mình mà đạt được. Bác Hồ dạy đã: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể”. Học phải có ý chí quyết tâm để phục vụ nhân dân, chứ không phải học để thăng quan, tiến chức. Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, bằng đôi bàn tay lao động cần cù, chân chính của mình, vừa làm để kiếm sống, vừa học tập để hoạt động cách mạng. Đây thực sự là một bài học lớn về “Học phải đi đôi với hành” mà mọi người cần phải học tập và rèn luyện suốt đời. Câu chuyện trên, thật sự là một bài học nêu gương thiết thực về ý chí tự lực tự cường, tấm lòng yêu nước sâu sắc của Bác Hồ mà chúng ta cần phải học tập noi theo.

Ngày nay, cả đất nước và cả dân tộc Việt Nam của chúng ta đã và đang thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác”; Chúng ta cần hiểu rằng, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng ngời để mọi người dân Việt Nam học tập và noi theo. Trên thực tế, từ cuộc đời, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng qua từng giai đoạn cách mạng, đất nước ta đã không ngừng phát triển, dù có những khó khăn nhất thời, nhưng chúng ta vẫn quyết tâm vượt qua để đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng đến thắng lợi hoàn toàn .

Đạo đức của Bác Hồ là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại, là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích chung của cách mạng; là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân; Người luôn để lại cho mọi người, lòng cảm phục kính trọng và niềm tin sâu sắc. Người tuy đã đi xa nhưng cuộc đời sự nghiệp, công lao và tấm gương đạo đức của Bác luôn toả sáng và còn rất nhiều, rất nhiều câu chuyện nói về Người, nhưng chắc chắn rằng vẫn không thể nào nói hết. Qua câu chuyện này, sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu thêm về Bác, để mọi người chúng ta ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người./.

Theo ubmttq.quangngai.gov.vn
Tâm Trang (st)

Gặp Nhạc sĩ Lào viết bài hát hay nhất về Bác Hồ

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một trong những bài hát được yêu thích ở Lào bằng song ngữ Việt – Lào, do nhạc sĩ Lào sáng tác, thường được biểu diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, giao lưu nghệ thuật Việt Nam – Lào. Và đây cũng là bài hát về Bác Hồ hay nhất xứ Lào. Người sáng tác bài hát này là Nghệ sĩ Quốc gia, nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông (Buangeun Saphouvong).

nhac-sy-lao
Nhạc sĩ Bua- ngơn – Sa – phu- vông

Gặp nhạc sĩ, ông cho biết ông viết về Bác Hồ với tâm huyết của một người con ngưỡng vọng một lãnh tụ. “Bác Hồ là của chúng ta, không chỉ là Bác Hồ của nhân dân Việt Nam, mà cũng là của nhân dân Lào chúng tôi”, ông nói. Với ông, Bác Hồ là tấm gương sáng suốt đời cho các thế hệ người Lào học tập, nên khi viết xong bài hát về Người ông mới cảm thấy thanh thản.

Âm hưởng bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được ông sáng tạo giữa hai miền âm nhạc dân ca Việt Nam và dân ca Lào, theo nhịp lăm–vông, dành cho hợp xướng và đồng ca. Theo điệu nhạc, mọi người có thể múa lăm-vông tập thể theo phong tục Lào. Ca từ nhẹ nhàng như một lời kể, tâm sự đầy ngưỡng vọng, đề cao công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một con người rất vĩ đại mà rất đỗi giản dị, cả nhân loại tiến bộ trên thế giới đều yêu kính Người. Chân lý của Người là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Buangeun đã dùng chủ đề này xuyên suốt bài hát.

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được Nghệ sĩ Buangeun sáng tác cách đây 5 năm, hưởng ứng phong trào sáng tác bài hát về Bác Hồ do Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào phát động. Ngay sau khi được công bố, bài hát đã được công chúng Lào trân trọng đón nhận, được bà con Việt kiều yêu thích; tại các hội diễn nghệ thuật toàn quốc Lào hay giao lưu của cộng đồng người Việt tại Lào đều được đem biểu diễn. Mỗi lần tham gia hội diễn, tiết mục thường đoạt giải cao. Năm ngoái, tại hội diễn kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác do Đại sứ quán Việt Nam tại Lào tổ chức, Đội văn nghệ Câu lạc bộ đồng hương Việt kiều Xiêng Khoảng đã đoạt giải đặc biệt xuất sắc. Không chỉ trong các hội diễn, mỗi lần sinh hoạt giao lưu, đón khách hay lễ hội, bài hát đều được đem biểu diễn.

Nghệ sĩ Bua Ngơn-Sa-phu-vông sinh năm 1949, là một nghệ sĩ nổi tiếng và đa tài, quê ở bản Tôn-muồng (Tonmuang), huyện Na-xai-thong (Naxaithong), thủ đô Viêng chăn (Vientiane).Ông vừa là một nhạc sĩ, lại vừa là ca sĩ nổi tiếng, không một người dân Lào nào không biết tên ông và những bài hát do ông sáng tác. Ông đến với công chúng Lào trước tiên bằng giọng hát đằm thắm, trẻ trung, mềm mại, say đắm lòng người. Đã sang lứa tuổi “lục tuần” (60 tuổi) nhưng giọng hát và phong cách biểu diễn của ông vẫn trẻ trung không có tuổi. Nhiều bài hát ông sáng tác đã trở thành những tác phẩm đi cùng năm tháng, được công chúng Lào yêu thích như “Nhớ ơn Đảng Lào”, “Quê mẹ ta”, “Si-phan-đon xinh đẹp”, “Yêu lắm Át-ta-pư”…

Tôi còn nhớ, một Lào kiều sống ở Mỹ hơn 30 năm, tìm đến ông chỉ để được nghe ông hát “Si-phan-đon xinh đẹp”, là mãn nguyện cho chuyến trở về. Hay một buổi giao lưu thắm tình Việt – Lào giữa các đồng chí lãnh đạo cấp cao hai nước, Phó thủ tướng Lào Sổm-sa-vạt-leng-sa-vát (Somsavat Lengsavad) đã hát tặng các đại biểu bài hát “Quê mẹ ta” của ông. Đại ý bài hát, dù ở đâu, nơi nào trên thế giới cũng không bằng quê mẹ, nơi ta được sinh ra, trưởng thành. Về quê ta,  ăn xôi chấm mắm cá ngon hơn mọi cao lương mĩ vị…

Một lợi thế dẫn đến thành công của bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” là Nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông đã có thời gian học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (từ 1966-1969), sau đó về công tác tại Đài Phát thanh Quốc gia Lào, sơ tán về Ninh Bình – Việt Nam cùng với Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1969- 1972), sau đó đi học tiếp ở Nga. Ông hiện là Thứ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa và Du lịch Lào. Dù ở cương vị nào, nghệ sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông vẫn là người nghệ sĩ của nhân dân, gần gũi và giản dị.

Theo Quốc Khánh (VOV/Vientiane)

Thanh Huyền (st)

Sưu tầm 600 bức ảnh, 400 bài viết về Bác Hồ

Gần 10 năm qua, một người cựu binh bằng tấm lòng say mê, ngưỡng mộ Bác Hồ đã miệt mài sưu tầm tranh, ảnh, sách báo và các tài liệu liên quan đến Bác. Hơn 600 bức ảnh, 400 bài viết là những minh chứng rõ rệt nhất khiến ông luôn cảm thấy tự hào.

Ông là cựu chiến binh Nguyễn Quang Huy, ở Khu phố 3, thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Với ông Huy, những tài liệu, tranh ảnh ông đã dày công sưu tầm là những tài sản vô giá nhất của đời mình, luôn được ông cất giữ hết sức cẩn thận nhằm thể hiện lòng tôn kính và ngưỡng mộ Bác Hồ. Thậm chí, ông đã dành hẳn một căn phòng để trưng bày, giới thiệu những bức ảnh về Bác.

suu-tam-a
Ông Huy cùng vợ đang nghiên cứu những tài liệu, tranh ảnh về Bác

Tôi may mắn được gặp ông, được nghe ông kể về “cơ duyên” đưa ông đến với việc làm có ý nghĩa này. “Tháng 5/2007, Đảng bộ thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thời điểm đó, nguồn tư liệu phục vụ công tác tuyên truyền, nhất là những tư liệu liên quan đến Bác vẫn còn rất ít. Để tầng lớp cán bộ, đảng viên có thể hiểu thêm về tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì phải có những tài liệu nghiên cứu sâu, kể cả những điều bình dị nhất về Bác. Bởi tôi cho rằng, học tập tấm gương của Bác Hồ phải xuất phát từ những điều giản dị, đời thường rồi mới đến những triết lý sâu xa, mang đậm tính nhân văn… Từ suy nghĩ đó tôi bắt đầu có ý định làm một điều gì đó, ít ra để mình có thêm một cách nhìn mới về Bác Hồ. Quyết định sưu tập các tư liệu về ảnh, các bài viết về Bác cũng khiến cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều và gặp không ít khó khăn vì không biết lấy đâu ra nguồn tư liệu phong phú như vậy”, ông nhớ lại những ngày đầu tiên bắt tay vào sưu tầm ảnh, tư liệu về Bác.

Một lần tình cờ, ông Huy như vỡ òa trong hạnh phúc khi vấn đề ông từng trằn trọc, suy nghĩ bấy lâu được nhen nhóm bằng một ý tưởng mới. Khi xem những bài báo, ông thấy có nhiều bài viết, hình ảnh về Bác Hồ. Nhưng điều ông luôn cảm thấy băn khoăn là những bài viết và hình ảnh đó rất khó để sưu tầm, nhất là khi ông không phải là tác giả. Nhưng với quyết tâm đã được nung nấu từ lâu, ông Huy đã lặn lội đến từng nhà anh em, đồng đội có đặt báo để mượn những số báo cũ để chép lại những bài viết và xin cắt cả những tấm hình của Bác.

suu-tam-b5 cuốn sổ được đóng thành tập gọn gàng và kỳ công với gần 400 bài viết về Bác được ông sưu tầm và chép lại trên các loại sách, báo, tư liệu khác nhau

Ông Huy tâm sự: “Nếu may mắn mua được sách, báo cũ có thể cắt nguyên cả bài báo viết về Bác Hồ, tôi lưu giữ cẩn thận để làm tư liệu và chép dần vào các cuốn sổ tay cá nhân. Những tờ báo có in bài viết về Bác mà không mua được thì tôi mượn về nhà, rồi thuê thợ chụp lại những bức ảnh này, sau đó tranh thủ ngày đêm, vợ đọc chồng chép tay cẩn thận vào cuốn sổ để kịp mang trả đúng hẹn”.

Trong rất nhiều tấm ảnh về Bác mà mình thu thập được, ông Huy cảm thấy rất tâm đắc với những bức hình giản dị, đời thường của Bác như bức ảnh Bác đang trò chuyện với ngư dân; bức ảnh Bác bưng cá lên bờ, hay bức ảnh Bác Hồ giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng hòa mình cùng với quân dân… Sau khi đã sưu tầm được nhiều bức ảnh về Bác, ông Huy tiếp tục lựa chọn, phân loại, sắp xếp ảnh Bác theo thứ tự nội dung, từng giai đoạn cụ thể về thời gian của từng bức ảnh.

suu-tam-c
Bức ảnh đời thường, gần gũi giữa Bác Hồ với ngư dân

Nhìn căn phòng trưng bày nhiều bức ảnh, tài liệu có giá trị liên quan đến Bác được ông giữ gìn cẩn thận khiến ai cũng cảm phục tấm lòng của ông. Chính vì vậy, ngôi nhà nhỏ của ông như một “thư viện” nhỏ cho nhiều người đến tham quan, tìm hiểu. Ông Huy nói: “Mình cất công sưu tầm vừa để trau dồi kiến thức, học tập tấm gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại. Bên cạnh đó, nếu niềm đam mê của mình góp một phần nhỏ trong việc thôi thúc thế hệ trẻ sau này học tập, nghiên cứu về Bác thì việc làm đó mới có ý nghĩa. Nhưng tôi nghĩ rằng, cả dân tộc Việt Nam ai cũng dành sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ sâu sắc nhất đối với Bác Hồ, việc làm của tôi cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó”.

Không để niềm đam mê của mình bị dang dở, mỗi kỳ nhận lương hưu, ông Nguyễn Quang Huy liền đạp xe quanh huyện Quảng Trạch, vào tận Đồng Hới để tìm mua các loại sách, báo ở các quầy sách báo có các bài viết, ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

suu-tam-s
Ông Huy đã giành riêng một căn phòng để trưng bày các tư liệu, tranh ảnh về Bác

Đến nay, cựu chiến binh Nguyễn Quang Huy đã sưu tầm được hơn 600 bức ảnh các loại về Bác và hơn 400 bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều bức ảnh về Ba Đồn – nơi ông sinh ra. Không chỉ có vậy, bên cạnh việc sưu tập những tranh ảnh về Bác, ông Huy đã cần mẫn chép lại những bài viết về Bác Hồ từ những cuốn sách, trang báo để làm tư liệu và xem đó là nguồn tư liệu sống cho mình. 5 cuốn sổ được đóng thành tập gọn gàng và kỳ công với gần 400 bài viết về Bác trên các loại sách, báo, tư liệu khác nhau và chép tay được đánh số từ tập I đến tập V là những tư liệu quý suốt đời ông luôn gìn giữ và trân trọng./.

Đăng Đức – Đặng Tài

Theo http://dantri.com.vn

Phương Thúy (st)

Gặp người nấu cơm cho Bác Hồ ở ATK

Với người nấu cơm như bà Tôm, Bác cũng rất quan tâm, động viên như người thân trong gia đình. Khoảng tháng 9/1952, Bác được biếu mấy quả bưởi Đoan Hùng. Bác bảo Thư ký là đồng chí Vũ Kỳ tặng vợ chồng bà Tôm một quả.

Tỉn Keo nằm ở trung tâm An toàn khu (ATK) Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên được chọn làm nơi Bác ở và làm việc trong kháng chiến chống Pháp. Ngày 6/12/1953, tại nơi đây, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Bác Hồ đã thông qua kế hoạch chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 của Tổng quân ủy và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Những năm tháng Bác sống và làm việc tại Tỉn Keo luôn được bà con nơi đây yêu kính, bảo vệ, chăm sóc. Một trong những người dân được vinh dự chăm lo bữa cơm cho Bác vẫn đang tiếp tục ngày ngày gìn giữ, trông nom những kỷ vật về Người ở ATK…

Năm 1945, trước khi cùng các cơ quan Trung ương rời Tân Trào về Hà Nội, Bác Hồ dặn các cán bộ ở lại xây dựng ATK: “Biết đâu chúng ta còn quay lại nhờ cậy đồng bào lần nữa”…

Sau ngày Tuyên ngôn Độc lập, Bác đã cử các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh trở lại Việt Bắc, tìm các địa điểm làm ATK chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Huyện Định Hóa với địa thế “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” và Đại Từ (Thái Nguyên) cùng với các huyện Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và Chợ Đồn, Chợ Mới (Bắc Kạn) đã trở thành ATK của Trung ương… Đồi Tỉn Keo đáp ứng các tiêu chí của Bác Hồ: “Trên có núi, dưới có sông/ Có đất ta trồng, có bãi ta vui/ Tiện đường sang Bộ Tổng, thuận lối tới Trung ương/ Nhà thoáng ráo kín mái, gần dân không gần đường”.

Nơi Bác ở chỉ có lác đác 5-7 nóc nhà nhỏ ẩn hiện trong rừng cây. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: Địch cũng không ngờ ở chỗ (giáp ranh) bản làng nghèo nàn, vắng vẻ lại là nơi “Chùa rách, bụt vàng”.

Tỉn Keo nghĩa tiếng Tày là gót đèo (chân đèo) bởi nơi đây nằm dưới chân đèo De thuộc dãy núi Hồng thuộc xóm Nà Lọm, xã Lục Giã (nay là xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa). Dưới những tán cây rừng rậm rạp là những lán nhỏ đơn sơ là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lán họp Trung ương và Chính phủ, lán Cảnh vệ, nhà bếp. Trên đồi có hầm làm việc, hệ thống hầm hào tránh máy bay dẫn xuống chân đồi.

Trong những năm từ 1948-1954, Bác Hồ đã nhiều lần ở, làm việc tại Tỉn Keo. Tại Tỉn Keo, ngày 28/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Nguyễn Bình, các Thiếu tướng Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Thiết Hùng, Trần Đại Nghĩa, Lê Hiến Mai, Hoàng Sâm, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Chu Văn Tấn.

nau-com-aLán Tỉn Keo

Đặc biệt, ngày 6/12/1953 tại nơi đây, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Bác Hồ đã thông qua kế hoạch chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 của Tổng quân ủy và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, giao Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, Tổng Chỉ huy chiến dịch.

Trước khi Đại tướng lên đường, Bác hỏi: “Chú đi xa vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thưa: “Thưa Bác, chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị”. Bác nói ngay: “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh”.

Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi nói về sự kiện lịch sử diễn ra tại Tỉn Keo đã khẳng định: Không có quyết định của Bộ Chính trị tại Tỉn Keo thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chúng tôi đến thăm ATK Định Hóa vào một ngày nắng chói chang nhưng Khu Di tích tại đồi Tỉn Keo mát lộng gió với những tán cây rợp bóng. Bà Ma Thị Tôm, người đảng viên dân tộc Tày đã gần 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn. Khi kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện về Bác Hồ, đôi mắt đã mờ đục của bà chợt sáng lên những tình cảm xúc động.

Ngày ấy, cô gái Ma Thị Tôm (em gái ông Ma Tiến Chanh, Chủ tịch xã Lục Giã) cùng chồng là Lương Đình Nam và gia đình sơ tán đến ở tại chân đồi Tỉn Keo. Cả xã Lục Giã lúc đó còn heo hút lắm, chỉ lác đác vài chục nóc nhà sàn, đường đi phải len lách trong rừng thẳm, suối sâu, nhiều thú dữ. Cán bộ và nhân dân sống trong khu vực tích cực tăng gia sản xuất nhưng do quân Pháp liên tục càn quét và dùng máy bay bắn phá nên đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, bà con vẫn một lòng một dạ theo cách mạng.

Cũng như mọi người dân trong vùng, bà Tôm đã được nghe nhiều về Bác Hồ. Ai cũng kính trọng và mong được gặp Bác. Năm 1950, sau gần 2 năm sống ở chân đồi Tỉn Keo, một hôm khi đang trồng rau, bà Tôm được cán bộ tìm gặp, thông báo bà được đi gặp Bác Hồ và dặn phải hết sức giữ bí mật.

nau-com-bBà Ma Thị Tôm và PV

Bà rất vui nhưng bất ngờ và lúng túng vì nghĩ chắc Bác phải ở xa lắm, đi nhiều ngày đường mới có thể gặp được Bác; nhưng cán bộ nói, Bác đang đợi ngay trên đồi Tỉn Keo. Bà run run bước vào căn lán nhỏ và bất ngờ nhận ra Bác chính là ông lão có đôi mắt sáng vẫn hay cuốc đất trồng rau, phát nương cùng đồng bào trong vùng mà mình đã có lần được gặp…

Bà Tôm được giao nhiệm vụ nấu cơm phục vụ cơ quan. Hằng ngày, bà lên nấu cơm cho Bác và anh em Cảnh vệ ở hầm bếp tránh khói để không bị địch phát hiện. Đến bữa, khi cơm được dọn lên, Bác ăn chung với anh em bằng bát ăn là ống bương rừng cưa ra, thức ăn chủ yếu chỉ là rau, măng rừng hoặc quả trứng gà tăng gia được. Ngon nhất cũng chỉ có thịt chim, thịt sóc săn bắt hoặc đánh bẫy được đem kho mặn với muối để ăn dần.

Những khi giáp hạt, cơm cũng không đủ ăn, phải độn thêm nhiều khoai, sắn nhưng Bác vẫn vui vẻ, thậm chí khi biết một gia đình đói kém quá, Bác còn bảo bà Tôm bớt chút gạo mang tới giúp nhà đó. Bác bảo: “Nhường cơm sẻ áo một chút với bà con cháu ạ. Một bát khi đói bằng một gói khi no…”.

Đôi mắt bà Tôm trầm lặng nhìn xa xăm: “Hồi ấy, do phải làm việc nhiều, điều kiện sinh hoạt lại thiếu thốn đủ bề nên Bác gầy lắm, tôi rất thương nhưng nhà tôi cũng nghèo quá chẳng có gì để giúp Bác được, chỉ biết lấy công sức của mình tận tụy cơm nước phục vụ Bác và anh em Cảnh vệ”.

Hàng ngày, ngoài giờ làm việc, Bác vẫn cùng các đồng chí Cảnh vệ trồng rau, nuôi gà, phát nương, hướng dẫn và giúp đồng bào tăng gia sản xuất để chống đói. Bác thường bảo: “Trồng rau vừa để cải thiện bữa ăn, vừa có màu xanh no ấm, nếu chuyển đi thì người sau đến ở sẽ có rau mà ăn. Thực có túc thì binh mới cường”.

Ở xa quê nhưng tình cảm quê hương vẫn luôn đau đáu trong lòng Bác. Bác đã trồng cây râm bụt gần lán ở để vơi bớt nỗi nhớ quê nhà vì ở làng Kim Liên quê Bác, cây râm bụt rất gần gũi với người dân, được trồng từ đầu ngõ vào nhà. Cây râm bụt Bác trồng vẫn tươi tốt tới tận ngày nay.

Với người nấu cơm như bà Tôm, Bác cũng rất quan tâm, động viên như người thân trong gia đình. Khoảng tháng 9/1952, Bác được biếu mấy quả bưởi Đoan Hùng. Bác bảo Thư ký là đồng chí Vũ Kỳ tặng vợ chồng bà Tôm một quả. Bác ươm hạt được ba cây từ mấy quả bưởi ấy. Bác tỉa bớt cây nhỏ, chỉ để lại một cây và đến nay tại khu di tích ở đồi Tỉn Keo vẫn còn cây bưởi dù cây giờ đã già, bị gẫy ngọn, quả nhỏ lại. Mỗi khi cây bưởi cho quả, bà Tôm lại chọn quả to nhất kính cẩn đặt lên bàn thờ Bác.

Trong những tháng năm ở ATK, nhiều lần vì điều kiện công việc và bí mật, Bác và các đồng chí Cảnh vệ phải di chuyển đến địa điểm khác thì toàn bộ tài sản, cây cối ở đồi Tỉn Keo được chính quyền giao cho vợ chồng bà trông coi để khi Bác về có thể làm việc tiếp được ngay.

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng chuyển về Hà Nội trong tình cảm lưu luyến của bà con ATK. Gia đình bà Tôm được giao chăm nom khu vực làm việc của Bác ở đồi Tỉn Keo. Bà và những người thân trong gia đình đã tâm nguyện chăm nom, gìn giữ những đồ vật của Bác như vật báu trong nhà.

Ngày 17/5/1997, Nhà trưng bày Khu Di tích lịch sử ATK Định Hóa dưới chân đồi Tỉn Keo được Thủ tướng Võ Văn Kiệt cắt băng khánh thành. Bà Tôm và gia đình đã tình nguyện hiến hàng chục hécta đất của mình cho Nhà nước và bàn giao toàn bộ đất Di tích đồi Tỉn Keo cho Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên.

Chính quyền địa phương gợi ý mời bà chuyển đến nơi ở mới khang trang nhưng bà xin ở lại và hằng ngày cần mẫn quét dọn, tưới cây và chăm nom những kỷ vật của Bác Hồ. Bà bảo: “Mỗi lần nhìn lán Tỉn Keo, nhìn cây bưởi, cây râm bụt và rừng cây… tôi như thấy hình bóng Bác vẫn ở nơi đây. Tôi đã ở tuổi gần đất xa trời rồi nhưng ngày nào còn sống tôi còn gắng góp sức giữ gìn đồ vật cho Bác để mai này khi ở suối vàng nếu được gặp lại Bác, tôi không phải băn khoăn với Người…”

Nguyễn Hoàng Đoàn
Theo Công nhân dân
Thanh Huyền (st)

Tình yêu thương con trẻ trong thơ Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà Bác còn là một nhà thơ lớn. Thơ Bác luôn ẩn chứa một thông điệp về tinh thần yêu nước, thương nòi và khát khao giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đối tượng phản ánh trong thơ Bác rất phong phú và trẻ em chiếm một vị trí quan trọng.

Trong bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” Bác đã thể hiện tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ em nước nhà khi đất nước có xâm lăng phải sống trong cảnh “bạo tàn” của giặc Nhật, giặc Tây. Bác viết “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, ngủ biết học hành là ngoan”. Hình ảnh “như búp trên cành” đó chính là mầm non của quê hương, đất nước phải được nuôi dưỡng và học hành đến nơi đến chốn, nhưng vì “Chẳng may vận nước gian nan/Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”. Do nước nhà bị ách cai trị của thực dân nên cái “búp trên cành” cũng phải “Làm tôi tớ người ta bên ngoài”.

Bác viết bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” như lời hiệu triệu các cháu “góp phần mình một tay” cùng cha ông đánh đuổi giặc ngoại xâm: “Vậy nên trẻ em nước ta/Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/Người lớn cứu nước đã đành/Trẻ em cũng góp phần mình một tay/Bao giờ đuổi hết Nhật Tây/Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”. Một lần nữa ta lại thấy được sự uyên bác nhìn xa trông rộng ở Người. Tinh thần đoàn kết cần phải được xây dựng từ thế hệ “búp măng non” và đó là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng.

tya1Bác Hồ với thiếu nhi Việt Bắc.    

Đọc bài thơ “Trẻ chăn trâu” được Bác viết năm 1942 ta càng hiểu sâu sắc hơn về những sót xa của Người khi nước nhà bị xâm lược, khi đó đối tượng khổ nhất là trẻ em mà trẻ em sống trong cảnh bần hàn thì tương lai nước nhà sẽ ra sao? Những câu hỏi thường trực trong trái tim Người và Bác đã “vạch mặt” kẻ gây ra nỗi khổ đau cho nhân dân Việt Nam nói chung và trẻ em nói riêng là “Ấy là vì Nhật, vì Tây/Ra tay vơ vét, đọa đày chúng ta/Làm cho tan cửa nát nhà/Trẻ em vất vả người già đắng cay”. Vì vậy, tất cả chúng ta phải đoàn kết lại “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Tây/Anh em ta mới có ngày vinh hoa/Nhi đồng cứu quốc hội ta/Ấy là lực lượng ấy là cứu tinh/Ấy là bộ phận Việt Minh/Dân mình khắc cứu dân mình mới xong/Ai nghe mà chẳng động lòng/Khá khen con trẻ mục đồng Việt Nam”. Lời kêu gọi ấy của Bác Hồ có sức lan tỏa mãnh liệt trong thiếu niên nhi đồng cả nước tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà. Đã có biết bao tấm gương thiếu niên nhi đồng anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc mà tiêu biểu là Kim Đồng, Vừ A Dính…

tya2Cô và trò Trường Mầm non Hưng Thành (TP Tuyên Quang)
chăm sóc cây xanh trong khuôn viên nhà trường

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đập tan ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, trẻ em được sống trong niềm hoan ca, trong tình yêu thương vô bờ bến của Bác. Ngay trong Tết Trung thu đầu tiên khi nước nhà giành độc lập, Bác đã viết thư gửi thiếu niên nhi đồng “Tết Trung thu với nền độc lập” chia sẻ niềm hân hoan cùng các cháu và dạy bảo các cháu rèn luyện, học hành để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.

Tình yêu con trẻ của Bác còn được thể hiện rõ trong những bài thơ chúc Tết Trung thu được Bác viết trong những năm 1951, 1952, 1953, 1954. Đó là những năm tháng cả nước đang bước vào giai đoạn đầy cam go, quyết liệt của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược. Vẫn là tình cảm đầy ắp tình yêu thương dành cho con trẻ, vẫn là những lời căn dặn hết sức gần gũi, thân thương nhưng trẻ em như được bồi đắp tinh thần yêu nước, khí phách kiên cường đấu tranh vì nền độc lập của nước nhà. “Trung thu trăng sáng như gương/Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” và Bác “Mong các cháu cố gắng/Thi đua học và hành/Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/Tùy theo sức của mình/Để tham gia kháng chiến/Để giữ gìn hòa bình/Các cháu hãy xứng đáng/Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Sự gắng sức của các cháu chắc chắn sẽ góp sức mang lại hòa bình cho đất nước “Bao giờ Nam Bắc một nhà/Các cháu xúm xít thì ta vui lòng…”.

Mỗi lần đọc những vần thơ Bác viết cho thiếu nhi, trẻ em như được sống trong tình thương yêu của Bác, như được nghe lời Bác dặn dò nỗ lực học tập, vươn lên trở thành con ngoan trò giỏi, chủ nhân tương lai của quê hương, đất nước.

Thành Thanh
Theo baotuyenquang.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình (phần cuối)

Đầu năm 1948 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là Tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn; quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng.

Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10 – do Tướng Bằng Giang làm Tư lệnh Quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu Chủ tịch Khu 10, ông Trần Đức Trung Chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt Tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

a1. vuameo  p.cuoiKhu mộ Vương Chí Thành

 Bác Hồ cắt máu ăn thề và đổi họ, tên cho Thủ lĩnh Vương?

Sau cuộc gặp gỡ, ông Vương Chí Sình trúng đại biểu Quốc hội Khoá I (6-1-1946) và được giao trọng trách Chủ tịch Đồng Văn. Bác còn cử ông Võ Khải Ca – phái viên của Chính phủ, bên cạnh ông Vương làm Tham mưu Cố vấn giúp ông Vương quản lý mọi mặt ở địa phương. Đồng thời đổi lại tên châu Thường Kiệt, trả lại tên cũ là châu Đồng Văn cho đồng bào dễ nhớ, dễ gọi. Sau tham dự kỳ họp Quốc hội Khoá I, ông Vương còn ở lại Hà Nội chơi qua Giêng mới trở về Đồng Văn.

Về chính ngôn thì Việt Minh giao phó trách nhiệm Chủ tịch hành chính Đồng Văn cho ông Sình (gồm 4 huyện núi đá: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc). Nhưng theo thiết chế dòng họ của xã hội người Mèo thì cụ Vương Chính Đức vẫn là thủ lĩnh tối cao quyết định mọi vấn đề của người Mèo. Ông Sình chỉ là người thực thi nhiệm vụ theo ý kiến của thủ lĩnh.

Cần nhớ rằng, khi ông Sình có gia đình riêng ông chuyển ra nhà riêng ở Phó Cáo và mở cửa hàng tạp hoá để mưu sinh. Trước khi Nhật đảo chính Pháp không lâu, ông Thành có mua chức Lý trưởng Nam triều. Ông cũng không nằm trong bộ máy tham mưu của bố ông.

Sau ngày Hồ Chủ tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), lúc này cụ Đức lâm bệnh nặng khó bề qua khỏi. Cụ viết thư nhắn Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người lên Đồng Văn để nhận bàn giao lại vùng đất của người Mèo. Ông Mai Trung Lâm lại được cử lên để tiếp thụ ý kiến cụ Vương. Khi ông Lâm lên tới nơi, cụ Vương triệu tập thủ lĩnh (người cầm quyền các dòng họ) về Sà Phìn để bàn thảo.

Như trên đã nói, ông Sình dự họp với tư cách là người quản lý hành chính chứ không phải tư cách thủ lĩnh. Theo truyền thống của xã hội người Mèo không có tập tục cha truyền con nối. Ai giỏi nhất thì được tôn vinh làm thủ lĩnh – không phân biệt tuổi tác, nguồn gốc. Kết luận, cụ Vương giao ước với các dòng họ Mèo rằng: Ông Mai Trung Lâm là người Cụ Hồ cử lên thay mặt Cụ. Từ nay mọi việc nhất nhất phải nghe theo ông Lâm. Như vậy là cụ Đức bàn giao đất Đồng Văn cho ông Lâm chứ không phải ông Sình.

Ông Mai Trung Lâm là người hoạt động ở vùng Mèo nhiều năm nên hiểu rõ về phong tục, xã hội người Mèo. Ông không thể chỉ đạo, thống lĩnh lượng vũ trang Mèo một khi chưa được thủ lĩnh các dòng họ suy tôn, chấp thuận. Vì vậy ông giới thiệu ông Vương Chí Sình vào vị trí đó. Song cụ Đức không chịu, cụ nói rằng: ”Vương Chí Thành nó có tính khí đàn bà. Gặp việc lớn không dám quả quyết nên không giao được”.

Người dân tộc nói như dao chém cây, khó lòng thay đổi được. Đâm ra ông Lâm trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ông đành phải nhận. Song với vai trò, vị trí mới, sau khi tiếp thụ lệnh của cụ Đức, ông giao nhiệm vụ đó cho ông Vương Chí Thành. Nghĩa là ông vẫn là người chỉ huy cao nhất, là cấp trên của ông Thành, nhưng không đứng ra trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người Mèo. Phương án tế nhị, khôn ngoan của ông Lâm cuối cùng đã được cụ Vương chấp nhận. Trong không khí vui vẻ, phấn khởi ông Lâm kết nghĩa anh em với ông Thành ngay sau đó.

Ông Vương Chí Thành cũng vui vẻ nhận thêm trọng trách mới, nhưng ra điều kiện: ”Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong ông trả lại đất Đồng Văn cho Cụ Hồ”.

Mấy tháng sau, vào đầu năm 1947 cụ Vương Chính Đức từ trần ở tuổi 82. Lúc này ông Thành mới chính thức là người chỉ huy cao nhất của các dòng họ Mèo, đồng thời lãnh trách nhiệm cao nhất về hành chính ở Đồng Văn để lo toan công việc kháng chiến. Ông Vương Chí Sình có công lớn giải thoát cho thủ lĩnh các dòng họ Mèo bị thực dân Pháp giam ở Hỏa Lò năm 1936. Nhờ sự kiện đó, ông có uy tín với các thủ lĩnh và họ phải mang ơn cứu mạng của ông, nên ông được thủ lĩnh các dòng họ tôn vinh như vua.

Những tháng đầu năm 1947 và sau đó, tình hình thực tế diễn biến hết sức phức tạp. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tranh nhau lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo chúng: Đồng thời chúng gầm ghè giữ miếng và xâu xé lẫn nhau. Để ngăn chặn quân Pháp đánh vào các khu căn cứ cách mạng, Việt Minh đã tổ chức chiến dịch và một số trận đánh lớn. Ở địa phận Đồng Văn do Vương Chí Sình cai quản, các lực lượng thù địch vẫn không thể lấy được tấc đất nào. Đồng Văn đứng vững, trước sóng gió của cuộc chiến.

Để tạo thế ”ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương, đe nẹt lũ cướp nước và bán nước, Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là Cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ – tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở.

Nếu bọn nào đụng vào ông Thành cũng tức là đụng vào ông Hồ. Như trên đã nói, trong thời gian này Việt Minh đã mạnh lên, giáng những đòn đau vào quân Pháp, diệt ác trừ gian. Chiến cuộc đã chuyển dần sang thế chủ động có lợi cho Việt Minh. Vì vậy bọn chúng rất e nể, càng không dám quấy nhiễu, liều mạng đánh vào quân ông Sình, sợ Việt Minh trừng trị.

Sau nhiều năm cùng cụ Vương Quỳnh Sơn bôn ba trên những chặng đường công tác, tôi đã hỏi cụ ít nhất là 2-3 lần về sự kiện ông Thành gặp Bác Hồ ở Hà Nội để xem cụ có sự nhầm lẫn nào chăng? Đến nỗi có một lần cụ phát cáu với tôi: ”Tao là người trực tiếp có mặt ở đó. Nhầm thế nào được”. Rồi cụ mỉm cười đôn hậu: ”Nhiều người chẳng hiểu biết gì về người Mèo, nhưng lại hay bày đặt ra những giai thoại. Kể nhiều thành quen tai cứ ngỡ rằng có thật. Những tin đồn đó chỉ có tính chính trị trong lúc bấy giờ mà thôi. Người Mèo chúng tao có những luật tục rất đặc thù. Giải thích thì dài dòng lắm. Bác Hồ là vị lãnh đạo hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán dân tộc Mèo. Bác còn là người rất tinh tế, lịch lãm và sáng suốt lắm. Làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết. Chỉ có một câu nói của Bác mà sinh ra lắm chuyện rắc rối thế? Câu chuyện gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ông chú tao còn kể đi, kể lại với con cháu (chính xác như tao đã kể với mày) sau này như một niềm vinh dự, tự hào của dòng họ Vương”.

a2. vua meo p. cui

 Kỷ vật Bác Hồ tặng thủ lĩnh Vương hiện giờ ở đâu?

Trước hết, xin nói về kỷ vật. Theo cụ Vương, Bác Hồ tặng ông Thành 2 kỷ vật. Thứ nhất là chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo đó may bằng vải kaki ngoại dầy, chắc, màu vàng dịu chứ không vàng khè như màu quân phục của công an trước đây (khi chưa thay đổi mẫu mã và màu như hiện nay). Cuối thân áo có thêu dòng chữ: ”Hội Phụ nữ cứu quốc kính tặng”. Đường chỉ may trần theo ô quả trám có cải thêm sợi kim tuyến lóng lánh rất đẹp. Chiếc áo này Hội Phụ nữ tặng Bác, nhưng Bác dành tặng lại cho ông Vương Chí Thành.

Thứ hai là thanh đoản đao – chứ không phải thanh gươm như các bài viết từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng khi nghe chi tiết này. Theo mô tả của cụ Vương, thanh đoản đao dài chừng trên 60cm một ít. Nơi bản đao rộng nhất to gần bằng bàn tay người lớn trông giống như chiếc mã tấu, hay giống như binh khí của tướng lĩnh, anh hùng hảo hán. Cuối chuôi đao có đục một cái lỗ buộc sợi dây có gắn quả tua khá đẹp. Việc chế tác thanh đoản đao Bác giao cho Xưởng Quân giới của ông Trần Đại Nghĩa.

Theo yêu cầu của Bác, xưởng quân giới chọn loại thép xanh vừa cứng, vừa dẻo để rèn.Không biết cụ Vương có lý tưởng hoá lên, chỉ biết cụ bảo nó ánh lên chất thép xanh sáng loáng và cực kỳ sắc bén. Để 1 sợi tóc vào lưỡi đao thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm đôi. Vỏ đao được làm bằng gỗ tốt, có vân, không bị nứt nẻ bởi thời tiết và qua thời gian.

Sau khi hoàn thành mang lên để Bác kiểm tra, Người vén tay áo viết vào 2 mặt vỏ bao 8 chữ nho. Một bên là ”Tận trung báo quốc”, bên kia là ”Bất thụ nô lệ” và bên dưới có chữ ký của Bác. Nét chữ rắn rỏi, bay bướm rất đẹp.

Nếu bạn có dịp thăm Dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, Đồng Văn sẽ thấy những chữ đó được khắc vào phiến đá mặt tiền phần mộ của vua Mèo Vương Chí Thành. Ảnh của ông ở giữa, hai bên ảnh mỗi bên 4 chữ. Khu mộ của dòng họ Vương nằm ở bên phải cổng vào dinh thự, dưới bóng mát của rặng samu cổ thụ hàng trăm năm.

Điều tôi băn khoăn nhất là tại sao lại là thanh đao chứ không phải thanh bảo kiếm như mọi người thường nói? Điều này được cụ Vương giải mã như sau: Trong lịch sử hơn 3.000 năm chiến đấu chống các triều đại nhà Hán (Hán tộc) từ thời Chu Thương 1600 năm trước Công nguyên nhà Hán luôn đánh vào vùng Mèo để giành vùng đất đai màu mỡ lưu vực sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Ngưới Mèo đã nhiều lần bị nhà Hán bội ước, lừa gạt, nhiều phen thua trận. Giặc Hán còn sát hại, tru di các họ Mèo, giết hết đàn ông ở nhiều vùng đất chúng cai trị nhằm đồng hoá tộc người Mèo. Nhưng người Mèo vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và không chịu khuất phục.

Mối thù truyền kiếp đó đến mức cực đoan. Người Mèo thường làm nhiều điều đối ngược với người Hán: Hán dùng môi bạc, thìa bạc, Mèo dùng môi gỗ, thìa gỗ; Hán giỏi võ tay, Mèo giỏi võ chân (vì thế nên người Mèo múa khèn chứ không chỉ thổi, đặc biệt đôi chân rất dẻo). Thù sâu đến nỗi, khi chết đi người Mèo cho vào quan tài người chết một chiếc nỏ làm bằng ống trúc nhỏ bằng ngón tay (đặc biệt trong quan tài người chết không được cho một tí sắt nào vào) với ý nghĩa, khi xuống thế giới tổ tiên – nơi ”trời lạnh, đất tối”- ma người Mèo tiếp tục chiến đấu giết ma Hán.

Trong tục ngữ Mèo có câu: ”Lá chuối không là lụa, người Hán không là bạn”. Theo đó, vua chúa Hán dùng gươm, vua chúa Mèo dùng đao. Ở đây nếu có suy luận ra một chút thì ở chỗ, chứng tỏ Bác Hồ rất hiểu lịch sử dân tộc Mèo mới tặng đao chứ không phải là kiếm? Điều này với tôi là quá bí hiểm không thể tranh cãi được gì, chỉ biết ghi lại thôi.

Đầu năm 1949, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Quân cách mạng đã trưởng thành và lớn mạnh nhiều mặt. Các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt các khu căn cứ địa cách mạng của Pháp thất bại, tiêu biểu là chiến cuộc Đông Xuân 1947. Pháp xoay sang mở chiến dịch đánh vào Cao Bắc Lạng. Khi đã nắm rõ ý đồ của địch ta mở chiến dịch Sông Lô. Chiến dịch chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ 29/4 kéo dài tới 31/5/1949 mới kết thúc. Trong những năm trước đó tình hình diễn biến hết sức phức tạp. Pháp, Nhật, Tưởng và bọn thân chúng khi có cơ hội đã liên tục tấn công vào lực lượng của ta. Trong lúc loạn quân, loạn quan dải đất Đồng Văn vẫn giữ vững để khích lệ biểu dương lực lượng vũ trang Mèo và công lao Vương Chí Sình trong mấy năm song hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, Bác Hồ cử ông Võ Nguyên Giáp và ông Bùi Công Trừng mang tặng ông Vương hai kỷ vật đã nêu ở phần trên tại thị xã Hà Giang.

”Vậy kỷ vật ấy hiện nay ai giữ, cụ có biết không?”. Cụ bảo: ”Biết mà không biết”. Lạ. Cụ bảo ông chú Sình có 3 con trai: Vương Đình Phú, Vương Đình Quang và Vương Đình Thọ. Năm 1990, Thọ nó xin phép Nhà nước được xuất cảnh đi Canada, nó mang theo chiếc áo trấn thủ Bác tặng bố nó. Khi ông chú tao mất (1962) nó mới 2 – 3 tuổi. Năm nó đi định cư ở nước ngoài nó chừng 40 – 41 tuổi gì đó. ”Thế còn thanh đoản đao”?. Cụ cười buồn. ”Về cái vụ này tao có đôi ba lần hỏi cơ quan chức năng. Nghe nói có cán bộ lên Sà Phìn hỏi mượn hay xin gì đó, bảo là để trưng bày ở bảo tàng. Chẳng rõ là ai, vì lắm cán bộ quá. Cũng chẳng thấy trưng bày ở bảo tàng nào. Chịu”. Bây giờ cụ đã thành người thiên cổ. Liệu có còn ai tâm huyết đi tìm kỷ vật có giá trị lịch sử như vậy? Thật tiếc thay!

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)