Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Cách mạng tháng Tám qua lăng kính hai sử gia phương Tây

– Lên án cuộc chiến lầm tại Việt Nam ngay thời điểm cao điểm của chiến tranh Pháp – Việt, sử gia người Pháp Phillip Devillers biểu hiện một hành động dũng cảm và sáng suốt. Còn với sử gia David Marr, người Mỹ, tác phẩm Việt Nam 1945 của ông xuất bản lần đầu năm 1995 có thể coi là công trình nghiên cứu sử học chi tiết nhất về Cách mạng 1945 của nước ngoài.

1. Phillip Devillers, người Pháp

Ông là một trong những sử gia phương Tây có cái nhìn sớm nhất và đúng đắn nhất về Cách mạng tháng Tám Việt Nam. Tôi quen ông từ những năm 80, qua một bà bạn chung là nhà thơ nữ Francoise Corrèze. Lần cuối cùng, tôi gặp ông ở Paris vào năm 1997, nhân ngày Quốc tế Pháp ngữ. Chúng tôi cùng được mời nói chuyện một buổi. Ông nói về lịch sử hiện đại Việt Nam và tôi nói về văn hóa Việt Nam. Ông người cao, xương xương, điềm tĩnh, nói nhỏ nhẹ, phát biểu gì cũng viết ra giấy cẩn thận.

Những ngày tháng 8/1945 tại Hà Nội. Ảnh Bản tin ĐH Quốc GiaNhững ngày tháng 8/1945 tại Hà Nội – Nguồn ảnh: Bản tin ĐH Quốc Gia

Cuốn Lịch sử Việt Nam (từ 1940-1952) của ông ra năm 1952, biểu lộ một hành động dũng cảm và sáng suốt, vì lúc đó là cao điểm cuộc chiến tranh Pháp – Việt, ông đã lên án một cuộc chiến sai lầm, điều mà mấy chục năm sau ông chứng minh bằng tư liệu chặt chẽ trong cuốn Paris – Sài Gòn – Hà Nội.

Ông có mặt ở Việt Nam ngay từ khi tướng Leclerc đổ bộ, nên có thể coi ông là một nhân chứng lịch sử. Về Cách mạng Tháng Tám và Việt Minh, ông nhận định:

“Cuộc Cách mạng không phải là sự bùng nổ. Nó là kết quả cuối cùng của sự thấm lọc, điểm nút logic của sự thâm nhập Việt Minh vào tất cả các lĩnh vực quốc gia. Chỉ có một sự tụ hội kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được.

Việt Nhật lật đổ Pháp đã thay đổi các dữ kiện của vấn đề một cách cơ bản. Cho đến lúc đó, Việt Minh không có cơ may gì hơn Việt Nam Quốc dân đảng (1930) và Đảng Cộng sản Đông Dương (1931) để thắng được cấu trúc mạnh mẽ của Pháp… Bạo lực của Nhật mở ra cho Việt Minh triển vọng mới, do sự phá hủy mọi quyền lực trong nước nhờ vào tình trạng vô chính phủ chung…

Ngày 6/8, trái bom Hirosima nổ tung. Ngày 10/8, Hồ Chủ tịch ra lệnh Tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng, nhờ sự hội tụ kỳ lạ các điều kiện, Việt Minh đã chiếm được một số ví trí chính trị và tâm lý tuyệt vời”.

2. David Marr, người Mỹ

Tác phẩm Việt Nam 1945 của ông xuất bản lần đầu năm 1995 có thể coi là công trình nghiên cứu sử học chi tiết nhất về Cách mạng 1945 của nước ngoài. “Hết sức chi tiết và khách quan, đây là một sự kiện thiết yếu để hiểu nguồn gốc sự dính líu của Mỹ và Việt Nam“.

David Marr là giáo sư Trường đại học Quốc gia Australia. Tuy lâu lâu mới gặp, tôi có dịp cộng tác với ông trong nhiều năm để thực hiện một dự án của Quỹ Ford: Chọn 10 cuốn sách về khoa học xã hội và nhân văn điển hình nhất của phương Tây để dịch và xuất bản cho giới nghiên cứu ở Việt Nam. (Hội đồng tư vấn gồm có David Marr, Phan Huy Lê, Lương Văn Hy, Việt Phương, Hữu Ngọc). Ông Marr dáng người nho nhã, nói năng từ tốn. Ông có bà vợ người Việt, ông nói tiếng Việt giỏi.

Trước khi viết cuốn Việt Nam 1945, ông đã viết Sự chống chủ nghĩa thực dân của Việt Nam (1971) và Truyền thống Việt Nam bị xét xử (1981).

Cuốn Việt Nam 1945 là 13 năm lao động trí óc bền bỉ. Ông Marr đã đi tìm tư liệu ở Mỹ, Pháp, Australia, Việt Nam và ông dệt một bức thảm lịch sử, kết hợp tất cả các nguồn thuộc các đối tác lịch sử khác nhau để đi đến một sự khách quan có thể có được.

Shawn McHale đánh giá cuốn sách là cái nhìn đầy đủ nhất về một trong những năm quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam, một cột mốc của sự nghiên cứu Việt Nam, ông cho đây là một cuốn sách tham khảo mẫu mực cho một thời gian dài.

2005
Hữu Ngọc
Lãng du trong Văn hóa Việt Nam, trang 373-374

bee.net.vn

Long An Lưu sở trưởng – Sở trưởng Long An họ Lưu

LONG AN LƯU SỞ TRƯỞNG

Biện sự nhận chân Lưu sở trưởng,
Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình;
Vǎn tiền lạp mễ đô công bố,
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.

SỞ TRƯỞNG LONG AN-HỌ LƯU

Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việc
thận trọng, đúng đắn,
Mọi người đều khen ông công bằng;
Đồng tiền, hạt gạo đều công bố,
Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.

———————–

Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng
Ai ai cũng bảo bác công bình;
Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tảo giải – Giải đi sớm

TẢO GIẢI

I

Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

II

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư nhất tảo không 1 ;
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!

GIẢI ĐI SỚM

I

Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trǎng lên đỉnh núi mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.

II

Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.

I

Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.

II

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đồng Chính (Thập nhất nguyệt nhị nhật) – Đồng Chính Ngày 2 tháng 11

ĐỒNG CHÍNH
(Thập nhất nguyệt nhị nhật)

Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.

ĐỒNG CHÍNH)
(Ngày 2 tháng 11)

Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao Bình Mã,
Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng không;
Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.

————————–

Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu đích chỉ bị – Chiếc khǎn giấy của người bạn tù

NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ

Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?

CHIẾC KHĂN GIẤY CỦA NGƯỜI BẠN TÙ

Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
Chǎn giấy còn ấm hơn không có chǎn;
Người trên giường ngọc trướng gấm có biết chǎng,
Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?

—————————-

Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
Chǎn giấy còn hơn chẳng có chǎn;
Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
Trong tù bao kẻ ngủ không an?

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch

Bản dịch khác:

Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
Chǎn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
Trong lao không ngủ biết bao người.

HOÀNG NGÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ lãnh – Đêm lạnh

DẠ LÃNH

Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hình cung yêu bất khả miên;
Nguyệt chiếu đình tiêu tǎng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.

ĐÊM LẠNH

Đêm cuối thu không đệm cũng không chǎn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ được;
Trǎng soi khóm chuối trước sân càng tǎng thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang trời.

—————————

Đêm thu không đệm cũng không chǎn,
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
Khóm chuối trǎng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Cuối thu chǎn đệm cũng đều không,
Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
Sân chuối trǎng soi thêm lạnh lẽo,
Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.

TRẦN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Bang – Giây trói

BANG

Hỉnh tý trường long hoàn nhiễu trước,
Uyển như ngoại quốc vũ huân quan;
Huân quan đích thị kim ti tuyến,
Ngã đích ma thằng nhất đại đoan.

DÂY TRÓI

Rồng dài quấn quanh cẳng chân và cánh tay,
Giống hệt dây tua quan võ nước ngoài;
Dây tua quan võ là tơ kim tuyến,
Còn của ta là một sợi thừng gai lớn.

———————————-

Rồng quấn vòng quanh chân với tay,
Trông như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan võ bằng kim tuyến,
Tua của ta là một cuộn gai.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch

Bản dịch khác:

Rồng dài vòng quấn khắp chân tay,
Quan võ nước ngoài thắng bộ đây;
Quan võ đeo tua kim tuyến thật,
Còn ta, quấn một cuộn thừng đay!

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Lạc liễu nhất chích nha – Rụng mất một chiếc rǎng

LẠC LIẾU NHẤT CHÍCH NHA

Nhĩ đích tâm tình ngạnh thả cương,
Bất như lão thiệt nhuyễn nhi trường;
Tòng lai dữ nhĩ đồng cam khổ,
Hiện tại đông tây các nhất phương.

RỤNG MẤT MỘT CHIẾC RĂNG

Tính tình anh rắn rỏi và kiên cường,
Chẳng mềm và dài như lão lưỡi;
Trước nay vẫn cùng anh chung ngọt bùi, cay đắng,
Bây giờ phải xa nhau, người một phương.

——————————–

Cứng rắn như anh chẳng kém ai,
Chẳng như lão lưỡi dẻo và dài;
Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,
Nay kẻ chân mây, kẻ cuối trời.

TÂN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Long An – Đồng Chính – Long An – Đồng Chính

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH)

Thử gian thổ địa quảng nhi bần,

Sở dĩ nhân dân kiệm thả cần;

Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,

Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH

Vùng này ruộng đất rộng nhưng cằn cỗi,

Vì thế nhân dân tiết kiệm và siêng nǎng;

Nghe nói mùa xuân nǎm nay gặp đại hạn,

Mười phần chỉ thu hoạch được vài ba phần.

——————————

Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn,

Vì thế nhân dân kiệm lại cần;

Nghe nói xuân nay trời đại hạn,

Mười phần thu hoạch chỉ đôi phần.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch
cpv.org.vn

Nhai thượng – Trên đường phố

NHAI THƯỢNG

Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian,

Hán gian dữ ngã bản vô can;

Vô can nhưng thị hiềm nghi phạm,

Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.

TRÊN ĐƯỜNG PHỐ

Trên đường phố mọi người tranh nhau xem
Hán gian,

Hán gian vốn chẳng liên can gì với ta;

Nhưng không liên can mà vẫn là người tù
bị tình nghi,

Khiến lòng ta cảm thấy có chút ghê lạnh.

——————————-

Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian,

Hán gian, ta vốn thực vô can;

Vô can vẫn bị nghi là có,

Thực khiến lòng ta lạnh tới gan.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Lộ thượng – Trên đường

LỘ THƯỢNG

Hĩnh tý tuy nhiên bị khẩn bang,

Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương;

Tự do lãm thưởng vô nhân cấm,

Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.

TRÊN ĐƯỜNG

Mặc dù chân tay bị trói chặt,

Nhưng đầy núi chim hót và hoa thơm;

Tự do thưởng ngoạn, không ai cấm được,

Nhờ thế, đường xa cũng bớt quạnh hiu.

——————————

Mặc dù bị trói chân tay,

Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;

Vui say, ai cấm ta dừng,

Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Dẫu trói chân tay đến ngặt nghèo,

Khắp rừng hương ngát với chim kêu;

Tự do thưởng ngoạn, ai ngǎn được,

Cô quạnh đường xa, vợi ít nhiều.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Trưng binh gia quyến – Gia quyến người bị bắt lính

TRUNG BINH GIA QUYẾN

Lang quân nhất khứ bất hồi đầu,

Sử thiếp khuê trung độc bão sầu;

Đương cục khả liên dư tịch mịch,

Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.

GIA QUYẾN NGƯỜI BỊ BẮT LÍNH

Chàng ra đi không trở về,

Để thiếp chốn buồng the một mình ôm sầu;

Nhà đương cục ý hẳn thương thiếp cô quạnh,

Nên mời thiếp đến ở tạm nhà tù.

————————

Biền biệt anh đi không trở lại,

Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;

Quan trên xót nỗi em cô quạnh,

Nên lại mời em tạm ở tù!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn