Tag Archive | Chính trị – Xã hội

40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013)

QĐND – LTS: Giô-dép A.Am-tơ là một luật gia ở Đen-vơ, bang Cô-lô-ra-đô, Mỹ, người đã có một thời gian dài quan tâm đến công tác đối ngoại và hòa bình quốc tế. Am-tơ đã thành lập tổ chức “Quỹ tổ chức nghiên cứu hòa bình” và nhiều năm làm giám đốc tổ chức này.

Một gia đình người Việt Nam ở phố Khâm Thiên để tang người thân bị B-52 Mỹ giết hại. Ảnh: Corbis

Năm 1965, theo yêu cầu của Tổng thống Giôn-xơn, Am-tơ làm đồng chủ tịch các cuộc hội nghị Nhà Trắng nghiên cứu về sự cộng tác quốc tế để “tìm kiếm, thăm dò, suy xét và thảo luận mọi con đường có thể có để đưa đến hòa bình”. Theo Am-tơ, ông vô cùng thất vọng vì Tổng thống Mỹ không cho phép hội nghị thảo luận chính sách của Nhà Trắng đối với Việt Nam.

Qua cuốn “Lời phán quyết về Việt Nam”, Am-tơ cố gắng giải thích sự việc, không đưa những ý kiến cá nhân, mà chỉ nêu những kết luận qua tài liệu nghiên cứu tham khảo trong những năm làm việc tại Nhà Trắng.

Cuốn sách “Lời phán quyết về Việt Nam” ngoài lời mở đầu, gồm 4 phần lớn: Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam; Cuộc chiến tranh của Giôn-xơn; Cuộc chiến tranh của Ních-xơn; Thảm họa Việt Nam. Cuối cùng là phần kết ngắn: Lời phán quyết của một công dân Mỹ (cũng chính là tác giả).

Nhân dịp 40 năm ký kết Hiệp định hòa bình Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần xin trích dịch một phần trong cuốn sách trên đây, nhằm cung cấp thêm một góc nhìn về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam nói chung và khuôn khổ Hiệp định hòa bình Pa-ri nói riêng.

Kỳ I: Kế hoạch “giành chiến thắng”

Vì Ri-chát Ních-xơn công bố “hòa bình đã ở tầm tay” nên ông ta theo đuổi kế hoạch giành thắng lợi hoàn toàn bằng một cuộc tiến công không quân dã man nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Bắc Việt Nam, cố gắng buộc Hà Nội đầu hàng. Ngày 20-11-1972, sau khi cuộc bầu cử đã xong xuôi, Kít-xinh-giơ đồng ý gặp lại ông Lê Đức Thọ. Trong lúc đó, Mỹ tập trung cung cấp cho Sài Gòn mọi vũ khí có thể. Mỹ gửi cho tướng Thiệu một số lượng vũ khí lớn, gồm xe tăng, máy bay lên thẳng, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu. Việc cung cấp vũ khí mà chẳng bao lâu rơi vào tay quân Bắc Việt Nam, tốn của Mỹ nhiều tỷ USD và làm yếu các căn cứ khác của chúng ta trên thế giới. Trong khi đó, quân đội Sài Gòn lại nổi lên “với lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới, với hơn 2000 máy bay, tuy rằng, phi công của họ chưa được kiểm tra để bay một số các máy bay tinh vi hơn”.

Chính quyền Ních-xơn cố gò ép toàn bộ chương trình viện trợ quân sự của cả năm tới cho quân đội Sài Gòn chỉ trong một vài tuần lễ, trước khi hiệp định hòa bình có thể đạt được.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt là một hoạt động trọng yếu cho chiến lược Ních-xơn và Kít-xinh-giơ nhằm chấm dứt chiến tranh theo các điều kiện của Mỹ. Họ tin tưởng rằng, sức ép như vậy sẽ củng cố lập trường thương lượng của họ và buộc Hà Nội khuất phục theo các điều kiện của họ. Theo quan điểm của Ních-xơn, In-han-xơ Plớt phục vụ hai mục đích. Chương trình đó ủng hộ chế độ Sài Gòn và làm cho Thiệu dễ bảo hơn khi có hiệp định hòa bình. Tổng thống cử tướng He-gơ đến Sài Gòn để giám sát việc giao hàng. He-gơ cảnh cáo Thiệu là sẽ có thể đến lúc Mỹ buộc phải rời khỏi Việt Nam và Thiệu phải hợp tác với Nhà Trắng. He-gơ nói rõ cho nhà lãnh đạo chính quyền Sài Gòn là phải tập trung vào việc làm thế nào để sống sót sau khi Mỹ rời Việt Nam.

Kế hoạch In-han-xơ Plớt còn có một mục tiêu nữa là làm cho Thiệu thấy rằng, Mỹ có ý định đứng sau lưng hắn ta. Để nhấn mạnh điểm đó, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh các cuộc đánh phá mới bằng không quân chống Hà Nội ngay vào lúc In-han-xơ Plớt bắt đầu. Hà Nội tố cáo Ních-xơn “củng cố phe lũ Nguyễn Văn Thiệu để chuẩn bị những cuộc xâm lược mới”. Tuy nhiên, ông Lê Đức Thọ vẫn trở lại Pa-ri dự một cuộc họp nữa với Kít-xinh-giơ. Tại cuộc họp đó, ông Lê Đức Thọ ra tuyên bố: “Nếu Mỹ kéo dài các cuộc thương lượng trì hoãn việc ký hiệp định và tiếp tục chiến tranh thì người Việt Nam không có cách nào khác hơn là quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu của mình cho đến khi đạt được độc lập, tự do và hòa bình thực sự”.

Mỹ trả lời bằng việc đưa ra những yêu sách mới làm cho nhiều vấn đề đã được thỏa thuận hồi tháng 10-1972 bị lật lại. Bây giờ, Kít-xinh-giơ đòi rằng khu phi quân sự phải được thừa nhận như một biên giới tạm thời. Hà Nội phải rút một số quân khỏi miền Nam và thừa nhận thực sự chủ quyền của chính quyền Sài Gòn. Kít-xinh-giơ cũng phác họa một số phản đối của Thiệu. Khi Oa-sinh-tơn đã ra những yêu sách mới hơn nữa vào ngày 25-11-1972, ông Lê Đức Thọ yêu cầu ngừng họp. Hai bên tỏ ra bế tắc một lần nữa.

Khi rời Pa-ri, Kít-xinh-giơ đe dọa là cuộc chiến tranh sẽ tăng lên trừ phi Hà Nội nhượng bộ. Trong một bức điện cho Kít-xinh-giơ, Ních-xơn viết: “Nếu họ ngạc nhiên vì tổng thống có thể có hành động mạnh mẽ như ông ta đã làm trước cuộc họp cấp cao Mát-xcơ-va và trước cuộc bầu cử thì bây giờ họ sẽ thấy, với cuộc bầu cử bỏ lại sau lưng chúng ta, tổng thống sẽ có bất kỳ hành động nào mà ông ta cho là cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ”.

Rồi Ních-xơn cam kết bí mật với Thiệu là nếu Hà Nội, dù bằng cách nào vi phạm hiệp định đã được dự định thì Mỹ sẽ đến cứu Sài Gòn. Ních-xơn viết: “Tôi xin bảo đảm với ông rằng, nếu Hà Nội không tôn trọng các điều khoản của hiệp định, tôi sẽ có hành động trả đũa nhanh chóng và nghiêm khắc”. Tổng thống bảo đảm với giới nội bộ của ông ta là ông ta có ý định giữ lời cam kết bí mật đó. Ông ta cũng hướng dẫn Lầu Năm Góc hoàn thành việc vạch ra một kế hoạch đặc biệt để thực hiện cam kết đó, gọi là kế hoạch “các thay đổi về tổ chức ở Đông Nam Á”. Kế hoạch đó phác họa việc Mỹ có thể tiếp tục dính líu ở Việt Nam như thế nào: Sau khi đạt được một số giải pháp, bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn sẽ được thay bằng một cơ quan của tùy viên quốc phòng Mỹ, viết tắt là DAO, với nhiều chức năng tương tự.

DAO sẽ phối hợp các hoạt động quân sự “trong nước” điều khiển sự “giám sát của không quân Mỹ” phối hợp các biện pháp an ninh cho quân đội Sài Gòn và thành lập một mạng lưới đưa tin tức tình báo ở miền Nam Việt Nam và các “lãnh thổ kế cận”. Kế hoạch này đặt ra thực tế là dù cho hiệp định có thể nói gì về việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã có ý định ở lại và chuẩn bị tình huống cho một cuộc chiến tranh không quân mới, dùng B-52 đậu ở Thái Lan trên cơ sở báo động 24 tiếng một ngày.

Kít-xinh-giơ và ông Lê Đức Thọ nối lại các cuộc thảo luận của họ vào tuần đầu của tháng 12-1972 ở Pa-ri. Cả hai đại diện xem xét lại các vấn đề một lần nữa nhưng không bên nào thay đổi lập trường. Kít-xinh-giơ giữ vững những thay đổi lớn mà cả Ních-xơn lẫn Thiệu muốn có trong hiệp định tháng 10 và đe dọa Hà Nội với những cuộc tiến công ném bom hơn nữa nếu Hà Nội không chịu nhượng bộ. Về phần mình, ông Lê Đức Thọ hy vọng buộc được Kít-xinh-giơ thương lượng thực tế hơn.

Phố Khâm Thiên, Hà Nội, bị B-52 của không quân Mỹ tàn phá trong cuộc ném bom Lễ Giáng sinh 1972. Ảnh: Corbis

Cuộc thảo luận bị cắt đứt lần nữa vào ngày 13-12-1972. Kít-xinh-giơ về Oa-sinh-tơn và gặp Ních-xơn ngày hôm sau. Họ quyết định ra một tối hậu thư cho Hà Nội: “Nhượng bộ theo yêu sách của Mỹ trong vòng ba ngày hoặc phải đương đầu với một chiến dịch ném bom”. Hành động nhanh chóng, Kít-xinh-giơ giải thích tình hình cho Đô đốc Mu-rơ của Bộ Tham mưu liên quân và hỏi có bao nhiêu B-52 sẵn có cho một cuộc tấn công Hà Nội. Câu trả lời rõ ràng làm vừa lòng Nhà Trắng. Ngay tức khắc, Ních-xơn ra lệnh các cuộc tiến công không quân lớn nhất của cuộc chiến tranh vào Hà Nội và Hải Phòng.

Để biện bạch cho việc ném bom, Kít-xinh-giơ nói với dân Mỹ rằng, Hà Nội có lỗi và đã phá hoại các cuộc đàm phán tại Pa-ri. Ông ta nói rằng, Hà Nội đã đưa ra “hết vấn đề phù phiếm này đến vấn đề phù phiếm khác” như là một phần của “trò chơi đố chữ” lớn và mỗi lần “một giải pháp sắp đạt được thì lại bị đẩy ra khỏi tầm với của chúng tôi”. Kít-xinh-giơ chỉ làm theo các chỉ thị của Tổng thống Ních-xơn: “Chúng ta phải đóng một vai trò mà chúng ta có thể đóng được làm sao để tỏ ra là Hà Nội chứ không phải chúng ta chịu trách nhiệm về vệc phá vỡ hội nghị. Và rồi chúng ta phải thương lượng ở mức càng thấp càng tốt, hành động càng mạnh mẽ càng hay, mà không gây sự huyên náo về thực tế là chúng ta đẩy mạnh ném bom và do đó nối lại chiến tranh…”.

Trong 12 ngày tiếp theo, từ ngày 18-12 đến 29-12-1972, Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng với sự tàn bạo hơn bao giờ hết trong lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam, thả hơn 35.000 tấn bom vào bên trong hai trung tâm đô thị lớn ở Bắc Việt Nam. Lầu Năm Góc đã dùng 200 B-52, các “pháo đài bay” này bay theo từng nhóm 3 chiếc, mang bom 500 và 700 bảng Anh, mà khi thả xuống, đúng là nhấn chìm những khu vực hình chữ nhật, một dặm bề dài, nửa dặm bề ngang của thành phố. Giới quân sự cho rằng, các trung tâm dân cư cũng như các mục tiêu quân sự sẽ bị quét sạch. Và trong phần lớn các trường hợp, khu vực mục tiêu chỉ còn là những đống gạch vụn. Gạch vụn là mục tiêu thừa nhận của Lầu Năm Góc nhằm “làm tê liệt đời sống hằng ngày của Hà Nội và Hải Phòng và phá hủy khả năng của Hà Nội ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam”.

Các cuộc ném bom Lễ Giáng sinh năm 1972 đã tàn phá và gây đau khổ lớn lao. Chỉ riêng ở Hà Nội, hơn 2000 người dân thường chết. Toàn bộ các vùng lân cận đã bị xóa sạch. Các phương tiện vận tải bị hoàn toàn phá hủy. Những nhà thương quan trọng bị tàn phá. Nhà thương Bạch Mai, cơ sở y tế hiện đại nhất của Hà Nội, với hơn 900 giường, đã bị biến thành đống đổ nát. Các nhà báo nước ngoài mô tả những hố bom 50 bộ Anh và những gốc cây trốc rễ trong chính trung tâm Hà Nội.

NGUYỄN HOÀNG biên soạn
qdnd.vn

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ cuối)

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

Mặt trận ngoại giao “đợi tin” chiến trường

QĐND – Trên mặt trận ngoại giao, cơ quan của ta ở Pháp cũng nhận thức rằng, Pa-ri là một trong những đài quan sát quan trọng nhất của ta trên thế giới để thu thập tin tức, nghiên cứu các vấn đề phối hợp với chiến trường nên cần phải làm việc khẩn trương và chính xác. Chúng tôi đã huy động hầu hết lực lượng nghiên cứu, tiếp xúc của hai cơ quan Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để tổng hợp và đưa ra nhận định cho thấy những hạn chế của Mỹ trong khả năng trở lại Việt Nam bằng quân sự. Trong đó có một số việc chỉ riêng ở vị trí của tôi mới làm được.

Năm thành viên chính thức của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri (từ trái sang phải): Nguyễn Minh Vỹ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Sung. Ảnh tư liệu

Ví dụ, sau khi ta giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long, tôi có gặp và hỏi ông Nguyễn Duy Quang ý kiến về việc ta giải phóng Phước Long. Ông Nguyễn Duy Quang nguyên là Đổng lý văn phòng của Bảo Đại. Ông này đã tham gia kháng chiến chống Pháp đến năm 1953, là Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu 4 của ta; năm 1953 trở về vùng tạm chiếm và được chính quyền Sài Gòn sử dụng và chọn làm Đại sứ ở Pa-ri. Ông Quang tỏ thái độ khá lo lắng và nói đại ý không rõ tình hình. Tôi nói: “Chỗ anh em với nhau, tôi xin nói thẳng, năm 1953 anh đã không tiếp tục đi với kháng chiến thì bây giờ anh nên cân nhắc và tôi có thể đảm bảo với anh rằng, nếu anh quay trở về thì vẫn được hoan nghênh”. Ông Quang xin thêm thời gian suy nghĩ. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi lại chủ động gặp ông Nguyễn Duy Quang. Ông Quang cho tôi biết đại ý là không thấy Mỹ động tĩnh gì. Tôi nhắc lại việc “trở lại với kháng chiến”, ông ta vẫn trả lời lần lữa. Chỉ có một lần tôi hỏi quan hệ giữa Mỹ và Thiệu như thế nào, ông ta trả lời cho tôi hiểu rằng quan hệ đó không tốt.

Cùng với việc thăm dò đối phương, các hoạt động đề cao vị thế quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng được đẩy mạnh. Cao điểm là từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 2-1975: Đấu tranh cho sự tham gia của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Hội nghị quốc tế về Luật Nhân đạo tại Giơ-ne-vơ. Đồng thời, tiếp tục tiến hành vận động thêm một số nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Tôi có một số kỷ niệm đáng nhớ giúp cho ta thấy được tình cảm của chính phủ các nước đối với Chính phủ Cách mạng lâm thời nhiều khi không như biểu hiện về mặt ngoại giao chính thức. Ví dụ như việc tôi xin gặp Đại sứ Van-đơ Clao-xơ, Trưởng phái đoàn của Hà Lan tại Giơ-ne-vơ (về sau ông này làm Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan) nhưng Văn phòng của phái đoàn Hà Lan trả lời đại sứ không tiếp vì cách đó hai ngày đã từng gặp một người xưng là đại diện của ta. “Chúng tôi chưa có ai gặp các ông cả. Ông Võ Văn Sung xin gặp là Đại sứ của Hà Nội tại Pa-ri kiêm nhiệm Đại sứ tại Hà Lan”- ta trả lời. Chưa đầy 15 phút sau, phái đoàn Hà Lan gọi lại cho biết đại sứ có thể tiếp tôi lúc nào tôi muốn. Khi tôi bước vào phòng khách, Đại sứ Van-đơ Clao-xơ vồn vã ra tận cửa đón và nói: “Xin bạn đồng nghiệp miễn chấp vì tôi cứ tưởng người xin gặp tôi là đại sứ của chính quyền bù nhìn ở Sài Gòn”. Tôi nói: “Lời nói của bạn đồng nghiệp làm cho tôi hiểu được tình cảm thật sự của bạn đối với chúng tôi. Thế lập trường của Sài Gòn thế nào mà Hà Lan không thể ủng hộ được?”. Đại sứ Hà Lan trả lời: “Họ đề nghị tôi chống việc Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia Hội nghị”. Tôi hỏi: “Thế Hà Lan sẽ ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời chứ?”. Trả lời: “Đó là ý định của chúng tôi”. Sự việc này khiến tôi thấy rằng giữa hành động ngoại giao chính thức và tình cảm thực sự có lúc có khoảng cách và không nên vì thế mà xem nhẹ tình cảm thật của bạn bè đối với chính nghĩa của ta.

“Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”

Hai năm sau ngày ký kết Hiệp định Pa-ri, chúng tôi dự kiến có một hoạt động với ý đồ phục vụ hai mục đích như các việc đã kể trên. Kinh nghiệm vận động Việt kiều hàng chục năm trước ở Pháp và Tây Âu cho thấy, Tết là dịp có thể huy động được số đông Việt kiều và bạn bè quốc tế. Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành hai đợt hoạt động: Đợt 1 nặng về chính trị làm vào ngày 26-1-1975 nhân dịp hai năm ký kết Hiệp định Pa-ri; đợt 2 tổ chức một đêm Tết lớn với nòng cốt là Hội Liên hiệp Việt kiều gọi là “Tết hòa giải hòa hợp Ất Mão” bao gồm cả Việt kiều ở Pháp và các nước lân cận. Mọi việc diễn ra suôn sẻ đúng với ý định của ta. Sau lễ Tết “hòa giải hòa hợp”, tôi để ý thấy nhiều người xin gặp tôi và có thái độ gần như “chúng ta là cùng một phía”.

Ngày 13-4-1975, tôi được triệu tập sang Mát-xcơ-va gấp và ngày 14-4-1975 tôi được nối “đường dây” mà anh Lê Đức Thọ nói khi lên máy bay rời Pa-ri. Bất ngờ đầu dây bên kia là anh Lê Thanh Nghị. Anh Lê Thanh Nghị đã giao cho tôi một số việc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, sau đó nói với tôi về tình hình trong nước và báo riêng “anh Sáu Thọ nhắn anh là các việc cứ xúc tiến như đã bàn; có nhiều khả năng xong trước mùa mưa này”. Trước khi chia tay, anh Nghị nói với tôi một câu đầy xúc động khác với tác phong thường ngày của anh: “Sắp thống nhất rồi anh Sung ơi!”. Tôi thấy trong người như được thêm một sức mạnh mới, phấn chấn hẳn lên. Trên máy bay trở về Pa-ri tôi liên tục nghĩ về công việc của những ngày sắp tới…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung – người duy nhất còn sống trong năm thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri (Kỳ 1)

Có một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” trong lòng Pa-ri

Sau khi ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Tham gia cuộc đấu tranh ngoại giao của ta tại Hội nghị Pa-ri, sau đó là giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định, nhà ngoại giao Võ Văn Sung là một trong số ít người có may mắn chứng kiến toàn bộ cuộc đụng đầu lịch sử giữa nền ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và một nền ngoại giao lão luyện của Mỹ ngay tại Pa-ri.

40 năm sau, chúng tôi có dịp trò chuyện với ông tại nhà riêng. Qua hồi ức của ông, một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” thầm lặng và không tiếng súng đã diễn ra gay go và ác liệt ngay trong lòng trung tâm văn minh lớn của phương Tây.

Nhà ngoại giao Võ Văn Sung. Ảnh: Song Thanh

Pa-ri, trọng điểm của mặt trận ngoại giao

Tháng 11-1970, tôi sang Pháp, bên trong là tham gia nhóm làm việc của anh Lê Đức Thọ đàm phán “bí mật” với Kít-xinh-giơ, bên ngoài tôi làm Tổng đại diện của chính phủ ta. Tôi nhớ trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom B-52 xuống Hà Nội tháng 12-1972, tại Pa-ri ngày nào Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Mô-rít-xơ Su-man và tôi cũng gặp gỡ, hoặc gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ. Ngược lại, ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom đó. Ngày 31-12-1972, nghe tôi thông báo thắng lợi của ta bắn rơi 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 máy bay B-52, ngoại trưởng Pháp đã thốt lên “Thật kỳ diệu” và sau đó đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao. Tại đây, đã có hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế chờ sẵn để nghe tôi nói về sự kỳ diệu ấy.

Thực tiễn cho thấy, Pa-ri đúng là môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận và tranh thủ quốc tế tốt cho ta. Trong các năm 1968-1975, ta lần đầu tiên đã đưa ngoại giao thành một mặt trận, thực sự hình thành cuộc đấu tranh: Chính trị, quân sự, ngoại giao chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Các cuộc đàm phán: Hai bên Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ (1968); bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Mỹ – Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – chính quyền Sài Gòn (1969-1973); đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ – Kít-xinh-giơ (1970-1973); hiệp thương hai bên miền Nam Việt Nam (3-1973 đến cuối năm 1974) đều diễn ra tại Pa-ri.

Liên tục trong 5 năm, thường xuyên có các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp ủng hộ hòa bình ở Việt Nam và lập trường đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ trường Đảng Trung ương đi nơi khác để lấy địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam sử dụng. Báo chí Pháp cũng luôn bám sát, phản ánh đều đặn và hầu hết đều bình luận có lợi cho việc giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam cũng như bênh vực lập trường có tình có lý của ta.

Đòn cân não sau Hiệp định

Khoảng đầu tháng 5-1973, phía Mỹ đã gặp tôi chuyển đề nghị cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để tổ chức cuộc gặp tại Pa-ri giữa anh Lê Đức Thọ với Kít-xinh-giơ. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trả lời đồng ý với mục đích buộc Mỹ phải hành động thực sự thi hành đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Đợt gặp này bắt đầu từ 17-5 đến 13-6-1973. Anh Lê Đức Thọ bác bỏ mọi điểm xin sửa đổi của phía Mỹ và nêu điều kiện, phải ký như đã thỏa thuận nếu không thì kết thúc hội đàm. Sài Gòn tiếp tục đánh thì ta phải đánh trả lại. Thái độ miễn cưỡng của Mỹ và sự ngoan cố của Nguyễn Văn Thiệu cho ta thấy rõ khả năng thi hành Hiệp định Pa-ri ngày càng ít.

Ngày 25-11-1974, anh Lê Đức Thọ sang Pa-ri công tác đã gặp và yêu cầu tôi chuẩn bị để kịp thời xử lý những hoạt động ở Pháp trong tình huống sự chỉ đạo cụ thể của trong nước sang Pa-ri không thể kịp thời. Trước khi lên máy bay, anh Thọ còn cho tôi biết, sẽ có “đường dây” báo riêng cho tôi biết “thời điểm” để tôi hiệp đồng tốt với “nhà”. Từ đây, tôi cho rằng vấn đề hàng đầu có ý nghĩa cốt lõi khi quyết định dùng quân sự là việc đánh giá đúng ý đồ và khả năng Mỹ có đưa quân trở lại miền Nam để cứu chính quyền Sài Gòn không…

BÍCH TRANG
qdnd.vn

(Theo lời kể của nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung- người duy nhất còn sống trong 5 thành viên của đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Pa-ri).

(Còn nữa)

Ngày “họa mi” rời ngục tối

QĐND – Chuyến bay cuối cùng chở tù chính trị từ Cần Thơ về Lộc Ninh theo Hiệp định Pa-ri vừa hạ cánh, hàng trăm người lập tức ùa tới. Ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy viên trung úy cai ngục lẽo đẽo bước theo một cô gái. Khi mọi người xúm đến ôm chầm cô gái vào lòng, viên sĩ quan ngụy nước mắt lưng tròng, đứng lặng nhìn. Khoảnh khắc ấy đã đi vào tác phẩm của các văn nghệ sĩ có mặt lúc bấy giờ. Cô gái ấy là Trần Thu Hồng, vừa tròn 17 tuổi, nhưng đã phải ở tù hơn 4 năm…

“Họa mi” Trần Thu Hồng sau ngày ra tù.

“Họa mi” trong “chuồng cọp”

Cô gái của 40 năm trước, giờ đã là một phụ nữ U.60, đã có cháu nội, nhưng chị vẫn rất đẹp. Những năm tháng chịu cực hình, đòn roi trong “chuồng cọp”, tù ngục và chuỗi thời gian vất vả nơi thương trường dường như không làm nhạt phai nét xuân sắc của chị. Là một phụ nữ thầm lặng và bình dị nên cái tên của chị còn xa lạ với truyền thông. Cũng bởi vì: “Từ lúc đi làm cách mạng cho đến những năm tháng bị tù đày, mình đều được các chị, các anh, những đồng chí đi trước dìu dắt, giúp đỡ. Công lao của các anh, các chị lớn lắm chứ mình thì cũng bình thường thôi…”. Ấy là chị khiêm nhường nói thế, nhưng khi tiếp xúc với các đồng đội của chị và được xem các tài liệu, tác phẩm văn học viết về chị ngày ấy, tôi mới nhận ra, chị là một con người đặc biệt. Điều đặc biệt nhất, chị là nữ tù chính trị trẻ tuổi nhất. 13 tuổi đã bị địch bắt giam vào “chuồng cọp”. Và những câu chuyện cảm động trong lao tù cũng bắt đầu từ cái “nhất” ấy.

Sinh ra ở vùng quê Điện Bàn, Quảng Nam, lên 10 tuổi chị đã được dìu dắt, tham gia làm giao liên cho các cơ sở cách mạng trong vùng. Năm 1968, chị sa vào tay giặc trong một lần đi trinh sát, tìm đường cho đoàn cán bộ vượt sông. Bị địch bắt, chị đã mưu trí hét toáng lên, báo động cho đoàn cán bộ của ta rút êm vào rừng. Chị bị tống giam vào nhà tù Non Nước ở Đà Nẵng, biệt giam vào “chuồng cọp” ở nhà lao Phú Tài (Quy Nhơn). Sau đó, chị nằm trong nhóm 10 nữ tù bị địch liệt vào hàng “cứng đầu” bắt giam vào hầm cầm cố. Năm 1972, gần 1000 nữ tù chính trị, trong đó có nhóm 10 nữ tù “cứng đầu” bị đưa vào nhà tù Cần Thơ.

Ở cái tuổi thiếu niên, mọi đường đi, nước bước của Hồng đều được các chị đi trước hướng dẫn, dìu dắt. Cô bé dù phải chịu cực hình, tra tấn tàn khốc, vẫn không mất đi nét duyên nhí nhảnh trời cho. Hồng càng lớn càng xinh đẹp, là “con chim họa mi” trong tù. Tiếng hát líu lo và sự hồn nhiên, nhí nhảnh của tuổi mới lớn ở Hồng đã làm bừng lên tinh thần lạc quan, ý chí đấu tranh của chị em tù. “Tại sao lại có thể bắt giam một cô bé xinh đẹp, trong trẻo, hồn nhiên như vậy?”. Viên sĩ quan cai ngục tên Thọ ở nhà tù Phú Tài nhiều lần thốt lên như vậy. Vẻ đẹp thánh thiện của nữ tù chính trị tuổi trăng tròn đã làm mềm lòng một số sĩ quan, binh lính cai tù. Nhiều đối tượng trong số đó được ta cảm hóa, trở thành “tay trong”, tích cực giúp đỡ tù nhân. Ngày Hồng bị chuyển vào nhà tù Cần Thơ, trung úy Thọ, không hiểu vì lý do gì, một thời gian ngắn sau đó cũng có mặt trong đám cai tù ở đây. “Có một số cai tù luôn tỏ ý giúp đỡ chúng tôi. Các chị thường nói vui với tôi, có lẽ thấy mày xinh đẹp nên chúng nó nương tay. Nhưng tôi thì nghĩ, có thể có những trường hợp người của ta cài cắm vào…” – chị Hồng kể.

Bà Thu Hồng và cháu nội hiện nay.

Một trong những nhân vật “bí ẩn” ấy là trung sĩ, y tá trưởng tên Sỹ ở nhà tù Cần Thơ. “Lúc bị bắt, trên người tôi có một đôi khuyên tai, một chiếc nhẫn và một dây chuyền vàng. Tôi đã giấu được. Đến khi vào nhà tù Cần Thơ, tôi nhờ Sỹ bán số nữ trang này để lấy tiền mua sắm đồ dùng, vải vóc phục vụ chị em trong tù. Sỹ giúp đỡ chị em tôi rất tận tình mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì…” – chị Hồng nhớ lại.

Ký ức ngày về

Hôm đó tầm 5 giờ chiều, Sỹ đưa Hồng từ bệnh viện về lại trại giam, khi đi ngang qua sân bay Trà Nóc, bất ngờ Hồng nghe tiếng hét: “Hiệp định Pa-ri được ký rồi!”. Cô bé như quên hết tất cả, nhảy phốc lên chạy một mạch về buồng giam, vừa chạy vừa hét toáng lên: “Cách mạng thắng lợi rồi! Hiệp định Pa-ri được ký rồi! Chúng ta được tự do rồi…”. Thế là suốt đêm hôm đó, nhà tù như mở hội. Các buồng giam vang lên tiếng hát của tù nhân: Đảng đã cho ta một mùa xuân… Nhờ chiếc ra-đi-ô mà Sỹ mua giúp, buồng giam 10 nữ tù chính trị “cứng đầu” vừa nghe đài vừa hát vang những ca khúc ca ngợi Đảng, Bác Hồ…

Trưa hôm sau, tù nhân được ăn một bữa rất ngon. Thức ăn có đủ món thịt, cá, rau xanh, cơm trắng. Trước khi thực hiện thủ tục trao trả tù binh, trung úy Thọ cho gọi Hồng lên phòng điều hành. Anh ta nói:

– Tôi đã có thiện cảm với em từ ngày em còn ở nhà tù Phú Tài. Em xinh đẹp, lại rất trẻ, phải chịu cảnh tù đày… Bây giờ được trả tự do rồi, chi bằng em ở lại đây, tôi sẽ lo cho em một cuộc sống sung sướng, giàu sang, hạnh phúc.

Hồng đáp:

– Cảm ơn lòng tốt của ông. Nếu thực tình ông có thiện tâm như vậy thì hãy làm một việc gì đó có ích cho dân, cho nước. Tôi làm sao có hạnh phúc khi các đồng chí của tôi suốt ngày đêm bị người của các ông tra tấn, đánh đập. Làm sao có hạnh phúc nếu người chồng của mình làm tay sai cho bọn Mỹ, phản bội lại Tổ quốc, nhân dân. Chị em tù chúng tôi sống chết có nhau. Các chị đi đâu, tôi đi đó.

Một cuộc hội ngộ của các nữ tù chính trị ở Quảng Nam.

Trung úy Thọ cố thuyết phục, níu kéo nhưng Hồng nhất định không nghe. Trong lúc đó, 9 nữ tù chính trị chưa thấy Hồng trở lại cũng dứt khoát không chịu lên máy bay. Có mấy chị xông thẳng vào phòng điều hành đòi trung úy Thọ phải đưa Hồng ra máy bay gấp. Chuyến bay sắp cất cánh nhưng bên ta phát hiện còn thiếu 10 người trong danh sách, lo sợ bị bọn chúng thủ tiêu nên kiên quyết đòi phía bên kia phải bàn giao đủ. Tình thế ấy buộc trung úy Thọ phải để cho Hồng trở về. Hồng và các đồng chí của mình vừa bước lên cầu thang máy bay thì trung úy Thọ cũng vội vã bước theo. Đó là chuyến bay cuối cùng từ Cần Thơ về Lộc Ninh thực hiện việc trao trả tù binh theo Hiệp định Pa-ri.

Cuộc đón tiếp tù nhân tại sân bay Lộc Ninh diễn ra hết sức cảm động. Hồng nhận được thật nhiều tình cảm, sự động viên, mến mộ của các bác, các chú, các cô. Chứng kiến ngày về của Hồng trong vòng tay yêu thương của đồng bào, đồng chí, trung úy Thọ đứng im một góc, nước mắt chảy dài. Anh ta lặng lẽ rời Lộc Ninh theo máy bay trở lại Cần Thơ…

Trong đoàn người đón tù chính trị trở về có nhiều văn nghệ sĩ. Hình ảnh của nữ tù chính trị tuổi 13 đã trở thành nhân vật trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong bài thơ “Em về chiến thắng” tặng nữ tù chính trị tuổi 13 Trần Thu Hồng của nhà thơ Trần Đình Vân đăng trên Báo Giải Phóng sau đó có đoạn: Em gái cười như ánh mặt trời/ Màu da xanh bỗng chuyển hồng tươi/ Em ơi Trái Đất này vui lắm/ Em đó niềm vui của mọi người… Thằng ngụy khoanh tay đứng lặng nhìn/ Cả rừng người đến đón mừng em/ Nghĩ chi nó bước chân không vững/ Nắng hắt bên lề bóng đổ nghiêng… Nhưng “bài thơ” tuyệt vời nhất dành tặng chị trong ngày trở về chính là tình yêu của nhà thơ Đỗ Nam Cao ở Ban Văn nghệ giải phóng. Cảm phục tinh thần cách mạng của người con gái xứ Quảng, nhà thơ Đỗ Nam Cao sau cuộc đón chị ở sân bay đã đem lòng yêu mến. Năm 1977, họ trở thành vợ chồng.

Giờ đây, chị Hồng sinh sống cùng hai con (một trai, một gái) ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh. Hôm đến dự ngày giỗ đầu của nhà thơ Đỗ Nam Cao, tôi được gặp nhiều bạn tù ngày xưa của chị. Trở về cuộc sống đời thường sau chiến tranh, ngoài chị Hồng, tất cả các chị trong nhóm 10 nữ tù chính trị ngày ấy đều đã qua thời con gái. Nay, mỗi người một hoàn cảnh. Có người đã mất. Có người vẫn phải còng lưng làm đủ nghề mưu sinh khi cõi ngày đã cạn và ước mơ về một mái ấm gia đình mãi mãi không thành hiện thực. Trong câu chuyện với tôi, các chị nhắc đến những kỷ niệm ở chốn lao tù. Chìm trong muôn vàn tội ác và sự tàn khốc của kẻ thù, vẫn le lói những gam màu nhân ái. Trung úy Thọ, trung sĩ Sỹ, trung sĩ Tấn, trung sĩ Trường… là những con người như vậy. Không biết bây giờ họ ở đâu? Nếu có một cuộc hội ngộ, biết đâu lại gợi ra thật nhiều điều chưa bao giờ nói…

Bài: PHAN TÙNG SƠN – Ảnh: HỒNG THU
qdnd.vn

Hà Nội tặng thành phố Choisy le Roi bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa–ri

QĐND – Ngày 27-1, các nghệ sĩ của Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội đã hoàn thành bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Pa-ri tặng thành phố Choisy le Roi (Pháp).

Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy (trái) bên bức tranh gốm Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

Bức tranh gốm là quà tặng của TP Hà Nội, do họa sĩ Nguyễn Thu Thủy thiết kế và cùng cộng sự thể hiện. Các bức ảnh lịch sử về cuộc đàm phán Hiệp định Pa -ri được họa sĩ Thu Thủy in trên gốm, lưu giữ những hình ảnh lịch sử về Bác Hồ, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, toàn cảnh ngày ký kết hiệp định… Những bức ảnh lịch sử này được sắp đặt trên nền hai dải lụa mềm uốn lượn tượng trưng cho sông Hồng của Việt Nam và sông Seine của Pháp. Bức tranh sẽ được đặt trong phòng họp lớn của Tòa thị chính thành phố Choisy le Roi và dự kiến sẽ được khánh thành vào ngày 20-3 tới.

VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Những chuyện chưa kể bên lề Hội nghị Pa-ri

QĐND Online – Bên lề đàm phán ở Hội nghị Pa-ri 40 năm trước có những câu chuyện, tình tiết ít người được biết. Xin chia sẻ những mẩu chuyện thú vị do ông Lưu Văn Lợi, nguyên Thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri kể lại.

Nhiệt tình biếu… gà

Các nhà ngoại giao của ta tham gia đàm phán ở Pa-ri đã nhận được những sự quan tâm giản dị nhưng rất chân thành, tình cảm của bà con Việt kiều. Có cặp vợ chồng, vợ người Việt, chồng là người Pháp trước đó từng đi lính sang Việt Nam. Cả hai vợ chồng đều rất yêu Việt Nam, nhớ Việt Nam lắm nhưng không có điều kiện để về nước. Biết có đoàn đàm phán Việt Nam đang ở Pa-ri, vậy là hằng tuần, khá đều đặn, ông chồng tự lái xe chở 50 con gà tới biếu đoàn đàm phán VNDCCH đang ở trường Đảng Maurice Thorez ở Choisy Le Roi. Ông tới nhiều lần đến mức ông bảo vệ người Pháp đã quen mặt và những lần sau thấy xe chở gà của ông tới là ra mở cổng ngay, không cần phải xin phép. Vợ chồng họ làm việc này trong hai năm liền, tới mức đoàn miền Bắc mặc dù rất cảm động nhưng cũng thấy ái ngại và phải nói cám ơn, nếu không họ còn tiếp tục biếu gà.

“Tôi không cười thì khóc à”

Báo chí ở Pa-ri hồi ấy săm soi nhất cử nhất động của hai đoàn ta và Mỹ rất ghê, nhất là trong những cuộc đàm phán riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Họp trong phòng mà có phóng viên còn thuê nhà bên cạnh, dỡ cả mái ngói để trèo lên rồi chĩa máy ảnh sang. Hai ông cố vấn họp xong đi ra ngoài cửa, có bắt tay không, có cười không, mặt lạnh hay cười…đều bị chụp lại rồi đưa lên báo. Có lần họp căng thẳng, quyết liệt, kết quả chưa ngã ngũ mà chẳng hiểu sao báo chí lại đồng loạt đăng tin nghe chừng đàm phán có tiến triển. Thì ra họ chụp được cảnh đồng chí Lê Đức Thọ đang cười, dẫu chưa biết ông cười vì cái gì, họp có kết qủa không nhưng đã vội tung tin lên báo theo chiều hướng tích cực. Ở Hà Nội theo dõi tin tức thấy vậy gọi sang hỏi tình hình thế nào, sao đồng chí Thọ lại cười! Lúc ấy, đồng chí Lê Đức Thọ mới lộ ra rằng: “Tôi không cười thì khóc à, vì Kít-xinh-giơ bắt tay tôi chặt quá!”.

Cánh nhà báo “bé cái nhầm”

Ở Pa-ri, đoàn ta nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí thuộc Đảng Cộng sản Pháp. Vào kỳ nghỉ hằng năm, một số đồng chí tình nguyện tham gia phục vụ hậu cần các đoàn đàm phán của ta. Một số người còn mang theo cả ô tô riêng tới phục vụ việc đi lại của đoàn. Có lần họp quan trọng với đoàn Mỹ ở địa điểm do ta chọn, vì không muốn bị cánh báo chí làm phiền, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy đã lên xe của một đồng chí Pháp đi theo lối cổng sau, chạy thẳng tới chỗ họp. Trong khi đó, một xe khác đi lối cổng chính đằng trước hòng đánh lạc hướng cánh báo chí đang tập trung chờ bám theo. Là xe xịn nên khi kéo kính lên và đóng cửa xe thì khó nhìn được bên trong. Ngoài cổng chính vẫn có mấy ông bảo vệ mở cửa, bảo vệ đứng gác bồng súng chào như bình thường. Thế nên các nhà báo đã bị nhầm là xe chở đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy nên vội vã phóng mô tô đuổi theo. Nhưng đi một lúc, ngó nghiêng mãi thì các tay săn tin, săn ảnh phát hiện không phải hai ông trên xe nên vội vàng quay lại. Lúc đó, thì xe hai chở hai đồng chí đã đi lâu rồi nên địa điểm lần họp đó được giữ kín.

Tình báo tồi

Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng tiếng cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn

Mùa xuân nhớ Bác

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Hình nền

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết
Ấm áp lòng người
Bác đã đi xa rồi
Để lại chúng con bao nỗi nhớ
Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
Làm sao có thể quên
Mỗi lần gặp Bác
Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
Người thường nhắc nhở:
Yêu nước, thương dân
Dẫu thân mình có phải hy sinh
Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
Day dứt vì mình chưa làm được
Những điều hằng ước mơ
Những điều chúng tôi thề
Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
Được Đảng chăm lo
Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời
Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng
Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
Những trang sử vẻ vang dân tộc
Chúng tôi được học
Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung
Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?
Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước
Bác Hồ được sống đến hôm nay
Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Thời buổi này,
Không thiếu người xông pha thuở trước
Nay say sưa trong cảnh giàu sang
Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước
Nhớ mãi Bác Hồ
Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Phạm Thị Xuân Khải – Xuân Bính Dần

Theo nguồn Báo Tiền Phong 
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động Công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự:

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia Đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc Tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông ta mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho Đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, Đoàn về Nhà khách Chính phủ chúc tết Bác. Các đồng chí Văn phòng bảo Đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

2 tet
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ – nhân viên
Văn phòng Phủ chủ tịch – Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả Đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở Trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương- Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng một Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải soong. Rau cải soong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải soong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, Rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, Em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều… Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hằng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa… Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Đỗ Văn Phú
Theo http://www.tinmoi.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Không ai khôn hết được đâu

36
Ảnh Tư liệu

Ông Nguyễn Tiến Sự kể lại:

Trong thời gian ở cùng với gia đình tôi, một lần sau bữa cơm, Bác hỏi:

– Ông Chủ nhiệm Việt Minh của xã Tân Trào bao nhiêu tuổi rồi?

– Thưa Bác, tôi ba mươi tám. Tuy chưa già nhưng đã yếu.

Bác liền bảo:

– Chú còn khoẻ lắm. Nên đi học cho biết chữ, phải học nhiều. Học văn hoá, học kinh nghiệm công tác ở mọi người, mọi lứa tuổi để làm việc tốt hơn. Không ai khôn hết được đâu.

Rồi Bác kể chuyện.

Một hôm đi công tác, giữa đường gặp mưa to. Đường vừa dốc lại trơn nên phải thận trọng bước từng bước một. Bỗng gặp ba em bé cùng trú mưa ở cái lều bên đường. Nhìn tôi đi chậm, một em nói.

– Chà. Cụ già này trời mưa, đường trơn đi không có gậy mà không sợ ngã nhỉ.

Từ bữa ấy về sau hễ đi đường gặp mưa trơn, nhớ lời các cháu kháo nhau tôi đều tìm gậy để chống. Quả nhiên có chiếc gậy đi dễ hơn mà lại không sợ ngã.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ, tập 3
NXB Nghệ An năm 2000
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”

50Ảnh Tư liệu

Sáng ngày 19-5-1953, nhân kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ, Ban phụ trách lớp chỉnh huấn cho cán bộ trung cao cấp tại Tân Trào quyết định tổ chức chiếu phim. Đồng chí liên lạc đi nhận phim ở xa, phải vượt qua đèo, suối mãi chiều mới về, gánh theo hai làn phim và cầm theo một bức thư có dòng chữ “phim mới nhận chưa có thuyết minh”.

Sau phần ngâm thơ một cán bộ ở lớp chỉnh huấn cầm micro nói:

– Thưa Bác, ngành điện ảnh vừa nhận được một bộ phim mới đã gủi đến ngay để chiếu phục vụ Bác vì vậy nên chưa có nội dung, chưa có bản thuyết minh. Xin phép được chiếu để Bác và mọi người cùng xem.

Chờ chiếu xong một cuốn, Bác quay lại bảo:

– Đưa micro cho Bác.

Bác cầm micro và giải thích cho mọi người hiểu nội dung phim. Sau đó cứ chiếu hết mỗi cuốn thì dừng lại ít phút để Bác thuyết minh cho. Đó là phim “Hoa bông” của Liên Xô.

Cuối buổi chiếu, chờ mọi người về hết Bác nói với người chiếu phim:

– Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga lên thuyết minh giúp. từ nay nếu chưa rõ nội dung phim nói gì thì đừng chiếu… Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!

Bài học về buổi chiếu phim ấy qua lời căn dặn nhẹ nhàng mà sâu sắc của Bác cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với những người hoạt động điện ảnh.

Theo 108 chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Lê Bá Dương kể chuyện về lời dặn cuối cùng của Bác

“Còn đất nước thì nhất định không được chia!”, đó là lời dặn của Bác trong lần chúc thọ cuối cùng của Người.

Đó là đêm 3/9/1969. Trên đường vượt dốc cao điểm 405 để chuẩn bị cho trận đánh mới, chúng tôi nhận được tin đau đớn: Bác Hồ qua đời.

Mệnh lệnh của đơn vị gấp rút trở về hậu cứ chịu tang Bác. Chúng tôi như chết lặng giữa sườn núi. Tôi nhớ lại câu chuyện về người đồng đội Lê Nhật Tụng, người đã may mắn được gặp Bác Hồ lần cuối trong Lễ mừng thọ Người trước lúc Người đi xa.

loi bac dan
Dù Bác đã đi xa nhưng kỷ niệm, những ấn tượng về
Người vẫn mãi được lớp lớp cháu con lưu giữ

Lê Nhật Tụng là Trung đội phó của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 Nghệ An đỏ, thuộc Trung đoàn 27 Xô viết Nghệ Tĩnh (nay là Trung đoàn 27 – Triệu Hải). Trong cùng một trận đánh tại bắc đường số 9 (Quảng Trị), anh đã dùng khẩu B41, lần lượt bắn tiêu diệt 6 xe tăng địch, trở thành dũng sĩ diệt tăng nổi tiếng mặt trận B5.

Với chiến công đặc biệt xuất sắc đó, tháng 5 năm 1969, Lê Nhật Tụng được vinh dự đại diện cho các chiến sĩ Quân giải phóng đường 9 Quảng Trị, tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội dự đại hội chiến sĩ thi đua.

Cũng trong dịp này, Lê Nhật Tụng đã có được niềm hạnh phúc tột cùng khi được tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam thăm, chúc thọ Bác Hồ.

Để rồi, ngày trở lại đơn vị, trong hành trang của mình, ngoài chiếc Huy hiệu Bác Hồ do chính người tự tay gắn trên ngực áo của Lê Nhật Tụng, cùng tấm ảnh Lê Nhật Tụng đang cùng các dũng sĩ miền Nam quây quần bên Bác, còn có nguyên những câu chuyện cảm động về Bác Hồ.

Những câu chuyện đó được Lê Nhật Tụng kể lại cho chúng tôi đã trở thành động lực giúp những người lính Trung đoàn 27 vượt qua những cam go, thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Hồi đó, ai cũng khao khát được một lần gặp Người nên luôn cố gắng lập công.

Trong đêm mưa đầu tháng 9 năm 1969, giữa mặt trận khét lẹt đạn bom, tin Bác mất khiến ai cũng trào nước mắt tiếc nuối. Bất chợt trong nghẹn lòng tiếc thương, câu chuyện kể về lần thăm, chúc thọ Bác Hồ của Lê Nhật Tụng lại trở về…

Chuyện rằng, hôm đó, mặc dù tuổi Bác đã cao, sức khỏe Bác không được tốt như trước, nhưng Bác vẫn dành cả một khoảng thời gian khá dài để tiếp và thăm hỏi nam, nữ dũng sĩ miền Nam. Trên bàn tiếp khách được bày sẵn những đĩa kẹo, bánh, trái cây.

Mặc dù Bác liên tục nhắc mọi người ăn kẹo, uống nước, nhưng trong một không khí ấm áp tình cha con, cả Đoàn như quên hẳn các đĩa kẹo, bánh, nước trà trên bàn.

Cứ vậy, sau những lời thăm hỏi, động viên và tự tay mình gắn Huy hiệu cho từng người, Bác chia tay với Đoàn. Nhưng ra đến cửa, Bác bỗng dừng bước, ngoảnh về phía dãy bàn còn nguyên các đĩa kẹo bánh và bình nước trà và nhắc:

– Kẹo bánh của nhân dân cho đó, các cháu ăn không hết thì chia nhau mang về. Rồi bất ngờ Bác nhấn mạnh từng lời: Còn đất nước thì nhất định không được chia!

Theo tinmoi.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, pháp luật, kỷ luật trong Quân đội

6TTHCM ve van hoa ky luat trong quan doi

Tư tưởng về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật trong Quân đội là một nội dung trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh. “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(1). Do đó, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật của Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luật của quân nhân.

Văn hoá pháp luật trong Quân đội là một bộ phận, một biểu hiện của văn hoá nói chung, là tổng hoà những tri thức, tình cảm, hành vi ứng xử của quân nhân đối với pháp luật, với nền pháp chế và hệ thống quan hệ pháp luật. Văn hoá pháp luật của quân nhân biểu hiện tập trung ở sự hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí và lòng tin vào pháp luật Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội, tự giác hành động theo pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội. Bởi vậy, muốn có văn hoá pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là phải học tập chính cương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội. Phải thực hiện phương châm: “Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải phục tùng và kiên quyết chấp hành…”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Nghiên cứu tư tưởng của Người, có thể thấy:

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức pháp luật, kỷ luật, xây dựng ý thức tự giác và bản lĩnh chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân được hình thành phát triển trên cơ sở có nhận thức, hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí, lòng tin tưởng tuyệt đối vào pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội và hành vi tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Trong giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, Bác dạy phải chăm lo giáo dục những tri thức về pháp luật, điều lệnh, điều lệnh của Quân đội, chỉ rõ những điều nên làm và không nên làm: “Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”(3). Cùng với việc giáo dục tri thức pháp luật, cần khơi dậy ý thức tự giác chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh của Quân đội. Phải làm cho bộ đội có nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của đơn vị, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu khách quan của việc chấp hành pháp luật, kỷ luật, trên cơ sở đó có thái độ, động cơ, ý chí, trách nhiệm, tinh thần đoàn kết và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong bồi dưỡng văn hoá pháp luật.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đơn vị. Nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm của mình, cán bộ quản lý, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm và năng động, sáng tạo đổi mới hình thức, biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật, đồng thời tổ chức, quản lý đơn vị chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ quản lý, chỉ huy cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, “phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sỹ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”(4). Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có kỷ luật, điều quan trọng là cán bộ phải quyết tâm cao, tự giác: “Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”(5). Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào cán bộ quản lý, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật, thì ở đó chiến sỹ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật tốt và ngược lại, ở đâu cán bộ quản lý, chỉ huy thiếu gương mẫu, tự do tuỳ tiện, thì ở đó sẽ có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Ba là, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật, rèn luyện tác phong chính quy, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Theo Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, “khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”(6). Bác nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày. Việc rèn luyện tác phong giữ nghiêm kỷ luật phải được thông qua việc hướng dẫn cụ thể, tỷ mỉ của người cán bộ; càng tỷ mỷ, cụ thể bao nhiêu thì càng bớt sai lầm, vi phạm pháp luật, kỷ luật bấy nhiêu. Người quan niệm: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết”(7). Vì vậy, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân không chỉ dựa trên công tác giáo dục cơ bản, mà còn phải dựa vào sự hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên, sâu sát của cán bộ các cấp, làm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật trở thành thói quen. Người chỉ rõ: “Các cán bộ từ chỉ huy trở xuống phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sỹ”(8).

Trong việc giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, Bác chỉ rõ: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng chưa bị xử lý kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”(9). Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người khác. Bác lưu tâm nhiều đến khen thưởng và xử phạt để động viên cán bộ, chiến sỹ chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Bác nói: “Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu…”(10) và “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”(11).

Bốn là, thống nhất bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức.

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi con người, hướng con người tới chân – thiện – mỹ. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở thực hiện pháp luật. Đạo đức có tác dụng thúc đẩy, định hướng hành vi của quân nhân phù hợp yêu cầu của pháp luật, kỷ luật. Đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí Minh là “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(12). Khi quân nhân biết tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì đó sẽ là điều kiện tốt để họ chấp hành pháp luật, tỏ rõ tinh thần bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, giữ nghiêm kỷ luật. Đối với cán bộ Quân đội ta, Người yêu cầu phải luôn luôn là tấm gương sáng trong bồi dưỡng cũng như thực hành đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để quân nhân phấn đấu bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2002, tr.560. (2) Sđd, tr.318. (3) Sđd, tập 7, tr.336. (4) Sđd, tập 8, tr.308. (5) Sđd, tập 5, tr.250. (6) Sđd, tập 12, tr.146. (7) Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, NXBCTQG, H.1996, tr.426. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.2002, tr.426. (9) Hồ Chủ tịch và pháp chế, Nxb TP. Hồ Chí Minh,1998, tr.148. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.392. (11) Sđd, tập 7, tr.466. (12) Sđd, tập 9, tr.285. (13) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân,

Theo NXBQĐND, H.1975, tr.157-158.
Thượng tá. Vũ Văn Thường
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn