Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Đồng bào Tây Nguyên vui Xuân bên tượng Bác Hồ

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, ngày nào cũng đi bộ ra quảng trường để chiêm ngưỡng tượng vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi.

Cuối năm 2012 đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Quảng trường Đại đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ ngày đó đến nay, nhất là trong những ngày xuân này, ngày ngày, có hàng nghìn người đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết để thể hiện lòng tôn kính với Bác.

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, 81 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, ở phường Tây Sơn, thành phố Pleiku cho biết, từ khi công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên khánh thành, ngày nào ông đi bộ từ nhà ra quảng trường Đại đoàn kết để ông chiêm ngắm hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng sáng ngời và vĩ đại của Bác –  người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.

Vinh dự lớn nhất đời ông Nay Pơ là 4 lần được gặp Bác Hồ. Những lời Bác dạy ông vẫn khắc ghi trong tim, đồng bào Kinh, Ba Na, Ja Rai, hay Ê Đê, Xê Đăng … đều là anh em một nhà, đồng bào phải biết đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hơn 37 năm kể từ ngày giải phóng, ông chưa có dịp ra thủ đô Hà Nội, ra thăm lăng Bác, nên hôm nay đây, trong những ngày xuân mới này, ông rất phấn khởi vì Đảng và Nhà nước đã quan tâm, xây dựng tượng đài Bác Hồ ngay tại Tây Nguyên. Ông cũng như nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều đảng viên có cơ hội được tỏ lòng tôn kính với Bác ngay tại quê nhà. Đối với ông, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong những ngày cuối đời.

Ông nhớ lại buổi lễ khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên (tối 9/12/2012), trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: ‘Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào 5 tỉnh Tây Nguyên và là niềm vui chung của cả nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đến thăm Tây Nguyên, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim, Người lúc nào cũng đau đáu một niềm thương nhớ, yêu quý đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng,  với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên nói chung sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, đạt nhiều thành tựu và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc’.

Hôm nay đây, tượng đài Bác Hồ được dựng lên giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị như chính cuộc đời của Người – vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân. Đồng bào Tây Nguyên nhớ ơn và luôn khắc ghi lời dạy của Bác, luôn mang trong tim hình ảnh Bác Hồ như điểm tựa tinh thần, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần từng bước làm cho Tây Nguyên ngày càng trở nên trù phú.

Tối nay (9/2), đêm giao thừa đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai mở hội mừng xuân ngay tại Quảng trường Đại đoàn Kết, ngay dưới chân tượng đài Bác Hồ. Qua đó, nhân dân báo cáo với Bác, năm qua, tỉnh Gia Lai nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, an ninh chính trị được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên. Đồng thời, hứa với Bác, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ tiếp tục phấn đấu để xây dựng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, giàu đẹp như niềm mong mỏi của Bác./.

Vài hình ảnh về nhân dân Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ:

Đồng bào Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu

Công Bắc/VOV-Tây Nguyên
daklak24h.com

Bác với Đảng – Những mùa xuân ghi nhớ

Xây dựng ĐảngSau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam lại bồi hồi nhớ lời Bác Hồ dặn về “Chào Xuân”:

Năm cũ lịch cũ vừa qua,
Năm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khi. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, mà lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “nhất niên chi kế, thi ư Xuân” (suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân). Cũng vì thế cho nên năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân.

Với ý nghĩa của ngày Xuân như vậy, Bác đã đưa đến cho Đảng ta cuộc đời gắn với mùa Xuân: Ngày Xuân 3-2-1930, Bác đã sáng lập Đảng ta. Và sau đó vài ngày (khoảng từ ngày 5 đến ngày 8), Bác đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm, vừa linh đình để chúc mừng ngày Đảng chào đời. Bắt đầu từ Xuân và mãi mãi về sau, cứ mùa Xuân đến là mùa Xuân mừng Đảng ra đời, là mùa Xuân để Đảng sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm.

Và từ khi về nước (28-1-1941) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, cứu dân, cứ ngày Xuân đến, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân hưởng cảnh Xuân vui vẻ, đón Xuân, mừng Xuân bằng những lời chúc Xuân ấm áp, mang nặng nghĩa “Xuân sinh” và đặc biệt mang đến cho mọi người “kế hoạch hoạt động và sống còn” cho cuộc sống. Mùa xuân 1942, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân cảnh đón Xuân, mừng Xuân, vui với Xuân với những lời thơ chúc Tết đầu tiên của Người:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi.
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt minh ta càng lấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rấtt vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới “.

Và cũng mùa Xuân này, Bác Hồ đã chỉ rõ bổn phận của người dân Việt Nam qua cuốn “Lịch sử nước ta” mà Bác viết cho dân, cho nước vào tháng 2-1942:

“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà…
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”…

Ngày 6-1-1946, ngày quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước nhà, Bác Hồ – lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ tối cao của dân tộc đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%. Đó là Xuân “đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ”; là Xuân “đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình”; là Xuân “mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Đúng vào lúc giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc năm 1947 – Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược theo lời hiệu triệu “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lần đầu tiên nhân dân ta được trực tiếp nghe lời chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, vào lúc gần 24 giờ ngày 21-1-1947 (tức ngày 30 Tết Nguyên đán) :

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy núi sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Mùa Xuân năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đó là Đại hội:

“- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
– Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
– Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
– Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”.

Bằng sức mạnh của dân tộc, đất nước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Xuân 1960, Xuân “mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh. Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ”- Xuân cho ta niềm tự hào lớn lao về Đảng, như Bác Hồ đã nói tại lễ kỷ niệm Đảng 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức là văn minh,
Là thống nhất độc lập, là hoà bình ấm no”.

Và bắt đầu từ Xuân này, nhân dân ta thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trên đất nước Việt Nam, như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên.
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Xuân Mậu Thân năm 1968, đã đi vào lịch sử, đó là mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến tranh, buộc địch phải lùi vào chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường. Cuộc Tổng tiến công này là bước tập dượt cho cuộc Tổng tiến công toàn thắng mùa Xuân năm 1975. Vì thế, đất nước vào Xuân 1968 với khí thế như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta”.

Cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam, với chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc vĩ đại Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975, đã đánh bại đế quốc Mỹ, đưa giang sơn Việt Nam thu về một mối, cả nước chung sức chung lòng bảo vệ nền độc lập thống nhất và đi lên CNXH. Như lời chúc Tết của Bác Hồ năm 1969:

‘Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.

Mùa Xuân năm 2000, đó là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ mà với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt nam dưới sự dẫn dắt của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; đó là mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh kỷ niệm 70 tuổi, tổng kết đợt 1 của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự là Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo dân tộc, đất nước và cùng với đất nước, dân tộc bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mà đất nước đã độc lập thống nhất, đi vào xây dựng cơ đồ Việt Nam đàng hoàng, to đẹp và văn minh.

Xuân 2001, mùa Xuân Đảng ta tiến hành Đại hội IX – Đại hội phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Xuân cả nước một lòng vượt qua khó khăn, tất cả để năm đầu tiên của thế kỷ mới với Nghị quyết IX của Đảng soi sáng sẽ giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Xuân đầu tiên Đảng, dân tộc thực hiện hành trang mà Bác Hồ chuẩn bị cho mọi người làm hành trình đi trong thế kỷ mới “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tới Xuân 2006, Đảng ta tiến hành Đại hội X – Đại hội đánh dấu thời điểm có ý nghĩa trọng đại: đất nước đã qua 5 năm đầu tiền của thế kỷ XXI thực hiện đường mối đổi mới; Xuân thứ 60, nhân dân ta hưởng dụng quyền dân chủ và quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Năm 2010 đã đi qua, năm mà đảng ta kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: kỷ niệm 80 năm ra đời và trưởng thành của Đảng, 1000 năm Thăng Long đông đô Hà Nội, 35 năm giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 120 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, năm 5 học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người,…Trong niềm vui hân hoan đó, nhân dân trong cả nước ra sức thi đua lao động xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH mà Bác và Đảng đã vạch ra.

Chỉ còn không ít giờ nũa, một mùa xuân mới lại về. Xuân mới, lịch mới năm 2011 này, Đảng ta “sắp đặt và lên kế hoạch hoạt động cho cả năm” mà mở đầu là diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01/2011), kỷ niệm 81 năm thành lập Đảng (03/02/1930-3/02/2011), năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai giai đoạn 2010-2020…những kế hoạch trên một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, tinh thần chiến đấu của nhân dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã tạo nên bởi những mùa Xuân dựng nước, giữ nước. Để Xuân Tân Mão này – năm bản lề của giai đoạn phát triển kinh tế 2010-2020 và cũng là năm Đảng ta kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của trong hoàn cảnh đất nước đang không ngừng đổi mới, đang phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lại thêm một năm chí Đảng đã quyết, lòng dân đã đồng, kiên quyết, kiên trì tiêu diệt “giặc nội xâm”, “giặc quốc nạn”, “giặc trong lòng”, loại giặc quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận người có chức, có quyền đã biến chất đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của dân chúng vào Đảng, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, bước vào mùa Xuân 2011 này, chúng ta như được thúc giục bởi lời chúc Xuân Mậu Thân 1968 của Bác Hồ:

“Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”./.

Bá Dương
busta.vn

Những bài thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

Người là niềm tin tất thắng    Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự, đó là: Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân. Đặc biệt bởi lối viết nôm na, kêu gọi ấy, trong mỗi câu, mỗi bài đều chan chứa ý thơ, tràn đầy sắc xuân, vừa độc đáo, hào hùng, vừa ấm áp thương yêu. Hơn thế, đó không chỉ vì thơ, vì Tết, vì xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Người gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, là những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

     Xuân này, chúng ta kỷ niệm bốn mươi xuân – Xuân Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất (1968 -2008). Điều đặc biệt là chùm thơ xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Có thể nói, đây là một trong những thời điểm đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thời điểm mà sự vươn lên của mỗi con người, mỗi chiến công, mỗi khoảng đất của Tổ quốc, mỗi bước đi của thời gian đang dần trở thành lịch sử, thành hùng văn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

     Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân (1968).

     Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 thăng 1 năm 1968. Sau khi điểm lại những thắng lợi của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1967, Người chỉ rõ “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược ngày càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lơi to lớn hơn nữa”. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng bằng những vần thơ xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

     Thật tài tình! Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, Bác Hồ đã cho chúng ta cả một bài ca chiến thắng, một dự đoán thiên tài về sự tất thắng của quân và dân ta trong trận đánh lịch sử mừng xuân này. Điệp khúc “thắng trận”, “toàn thắng” vừa động viên khích lệ, vừa thôi thúc lòng người, dục giã mỗi bước chúng ta đi. Ở câu cuối, sự đột ngột ngắt câu, chuyển dòng, lời thơ như một mệnh lệnh để cả dân tộc muôn người như một, cùng hăng hái tiến lên, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Vâng lời Bác, toàn dân ta đã cùng lên đường ra trận, quyết chiến đấu và chiến thắng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin, tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

     Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

     Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

     Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dây đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

     Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc trong mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, từ năm 1966, khi sức khoẻ của Bác Hồ đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Về chuyện này, theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ, Bác Hồ tâm sự, nếu bỏ được thì tốt, nhưng vì Bác đã hút thuốc lá đã nhiều năm, nên đó là một việc không dễ, và Người đề nghị: các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này. Sau đó, Bác Hồ định ra kế hoạch bỏ thuốc lá, rồi nghiêm túc thực hiện. Người giao thuốc cho đồng chí giúp việc quản lý, mỗi ngày chỉ hút ba lần và hút giảm dần: tuần đầu mỗi lần hút 2/3 điếu, tuần thứ hai hút 1/2 điếu, tuần thứ ba hút 1/3 điếu, tuần thứ tư chỉ một vài hơi. Người bỏ luôn cả cà phê sáng và nhờ đồng chí thư ký uống hộ. Người bảo: cà phê ngon, nhưng uống thì Bác lại nhớ thuốc lá. Khi bỏ thuốc, Người cũng thôi uống rượu.

      Vui niềm vui của riêng mình, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện này. Đó là bài Nhị vật bằng chữ Hán:

“Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần” .

     Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả là bỏ không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề” bằng chữ Hán:

“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân” .

      Xuân này, đọc lại những vần thơ xuân của Bác Hồ 40 xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Người vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triến của non sông đất nước.

     Vui đón Xuân về, đọc lại những vần thơ xuân của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Người để mỗi cuộc đời mãi mãi: Một năm là cả bốn mùa xuân!

T.s. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

lichsuvietnam.vn

Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn

Bác Hồ và mùa xuân năm ấy

Việt Nam - Hồ Chí MinhTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có 30 mùa xuân bôn ba đáng ghi nhớ.

Những cái Tết đạm bạc trên đất khách quê người nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ, cũng có khi lại là những tháng ngày buồn tẻ trong ngục tối với cuốn sách thơ mà ngậm ngùi nhớ về đồng bào đang lầm than. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước, nhớ quê hương da diết cùng với bao dự định lớn lao. Dấu mốc lớn nhất phải kể đến mùa xuân năm 1930 của Bác và cũng là mùa xuân lịch sử của Cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long, Trung Quốc thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ở tại phòng và xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

83 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn, đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong suốt  83 năm, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới Quý Ty 2013, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Vị cha già dân tộc, nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “Một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”./.

ttttninhbinh.gov.vn

Công tác an ninh bảo vệ Hội nghị Paris

Kỉ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):
Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, chưa từng có cuộc hội đàm nào kéo dài suốt 5 năm (Từ năm 1968-1973) như Hội nghị Paris. Hiệp định Paris là thắng lợi ngoại giao nổi bật, có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; là kết quả cuộc đấu trí, đấu lực kiên trì trên mặt trận ngoại giao. Tham gia vào Hội nghị Paris, có những cán bộ làm công tác an ninh và họ đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi trên bàn đàm phán.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris tôi may mắn được gặp ông Trần Hữu Diệt, một trong những cán bộ Cảnh vệ tại Hội nghị Paris, người trực tiếp bảo vệ đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên đến ngày kết thúc cuộc hoà đàm lịch sử.

Ông Trần Hữu Diệt năm nay đã gần 80 tuổi, hiện là Trưởng ban liên lạc sĩ quan hưu trí Cảnh vệ. Người đầu tiên mà ông nhắc tới là Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ), người được đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn giao phụ trách công tác an ninh cho cả hai đoàn A và B (Đoàn A bảo vệ phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đoàn B bảo vệ phái đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam).

Trong số 42 cán bộ Cảnh vệ được lựa chọn kĩ càng (lần lượt trong 5 năm) đưa đi bảo vệ Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã về cõi vĩnh hằng. Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nay đã trên 90 tuổi, đang sinh sống tại TP HCM; một số khác như ông Nguyễn Văn Việt ở Bắc Giang, ông Nguyễn Văn Chuyền ở Bắc Ninh, ông Lê Văn Chín ở Nghệ An, ông Phạm Quý ở Bà Rịa – Vũng Tàu còn lại phần đông nghỉ hưu tại Hà Nội và đều ở độ tuổi xưa nay hiếm.

Ông Diệt nhớ lại: Sau chiến thắng Mậu Thân 1968, Hoa Kỳ buộc phải tính đến việc ngồi vào bàn đàm phán để tìm một giải pháp rút khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của, bị nhân dân thế giới và chính nhân dân Mỹ phản đối.

Đầu tháng 5/1968, chúng tôi mới được biết địa điểm đàm phán là Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp). Paris được lựa chọn sau khi xem xét nhiều địa điểm do các bên liên quan đưa ra. Đây là nơi có phong trào yêu nước mạnh mẽ của Việt kiều, trong đó nhiều người vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, luôn dành sự ủng hộ to lớn với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.  Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Pháp sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phái đoàn đàm phán của ta.

Ông Diệt nhớ lại lời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nhắc nhở anh em Cảnh vệ trước ngày sang Paris: “Công tác an ninh bảo đảm an toàn tuyệt đối cho phái đoàn ta, phải xác định dựa vào sức mình là chính, đồng thời phải làm tốt công tác ngoại giao, vận động kiều bào”.

Mới đầu, ta thuê khách sạn Lutestia (quận 6, Paris) để đoàn Chính phủ ta sinh hoạt. Đây là một khách sạn sang trọng, anh em phấn khởi nghĩ là an toàn nhưng khi kiểm tra an ninh ta phát hiện có đến 16 máy nghe trộm ở nhiều chỗ trong các phòng; riêng phòng của đồng chí Xuân Thủy, Trưởng đoàn đàm phán có tới 6 cái! Thật là nguy hiểm. Tất nhiên ta không thể chuyển ngay địa điểm đến nơi khác một sớm một chiều mà phải lập tức có biện pháp đối phó. Từ đó bộ phận Cảnh vệ tham mưu cho đồng chí trưởng đoàn đề ra qui định: Tất cả mọi người không được trao đổi công việc tại phòng riêng, muốn trao đổi phải viết ra giấy rồi hủy luôn hoặc đến cơ quan Tổng đại diện nước ta ở phố LeVerrer để  giữ được bí mật. Khi cần thiết phải đi ra vườn trao đổi…


Ông Trần Hữu Diệt (thứ hai từ trái sang), người đã tham gia bảo vệ phái đoàn ta tại Hội nghị Paris. Ảnh: Duy Hiển.

Nhận thấy ở khách sạn Lutesia không thuận tiện cho công tác bảo vệ an ninh, hơn nữa giá thuê rất đắt nên đồng chí Phan Văn Xoàn báo cáo và đề nghị đồng chí Xuân Thủy chuyển địa điểm. Nhân một chuyến đoàn ta đến chào Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp, đồng chí Xuân Thủy đã đề nghị và được đồng chí Tổng Bí thư đảng bạn nhiệt tình giúp đỡ, mời đoàn ta về lưu trú tại trường Đảng mang tên Maurice Thoresz (ở Choisy Le Roy, ngoại ô Paris).

Trường này có đủ phòng làm việc, phòng ăn, phòng nghỉ. Các đồng chí cộng sản Pháp đã dành mọi sự giúp đỡ tận tình, hiệu quả, cử 10 người bảo vệ, 10 lái xe, 10 người phục vụ… Thị trưởng sở tại cũng cử Cảnh sát thường  trực cùng bảo vệ với ta suốt ngày đêm và một đội môtô hộ tống đoàn ta khi di chuyển.

Chúng tôi đến nơi ở mới gần được một tháng thì đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đàm phán được Chính phủ ta cử sang Paris. Đồng chí đi kiểm tra thực địa và tỏ ý hài lòng, cảm ơn Đảng Cộng sản Pháp. Đồng chí nhắc lãnh đạo đoàn ta cần có một phòng bảo mật. Chấp hành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Cố vấn đặc biệt, bộ phận kỹ thuật chỉ trong 3 ngày đã xây dựng xong một phòng đạt tiêu chuẩn, chống được nghe trộm. 

Nơi họp chính là ở Trung tâm hội nghị quốc tế thường diễn ra có 4 bên dự gồm: Hoa Kỳ; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Cộng hòa Miền Nam Việt Nam; Việt Nam Cộng hòa,  nhưng các đoàn đều có một địa điểm riêng để họp kín. Đối với  đoàn ta,  nhờ một Việt kiều là ông Lê Ủy tìm thuê được một ngôi biệt thự 2 tầng xinh xắn ở phố Darthe thuộc thị xã Choisy Leroi. Đây là phố nhỏ ít người qua lại nên  đảm bảo được yếu tố bí mật.

Trong số 45 cuộc họp kín tại đây, đã diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Hariman (trưởng đoàn Mỹ) với Bộ trưởng Xuân Thủy vào đêm 30/10 rạng sáng 31/10/1968. Trong cuộc gặp, ông Hariman thông báo với Bộ trưởng Xuân Thủy: Trong vòng 24 giờ tới, Tổng thống Mỹ Johnson sẽ ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá trên toàn miền Bắc Việt Nam, yêu cầu ta giữ bí mật thông tin này cho đến khi Tổng thống đọc xong bài diễn văn. Để đảm bảo bí mật, ta trao đổi với an ninh Mỹ tất cả hai đoàn đến địa điểm họp mặt đều đi xe dân sự, không có xe cảnh sát Pháp dẫn đường. Ông Hariman và an ninh Mỹ chấp nhận đề nghị này và tỏ ra tâm đắc với sáng kiến của phía Việt Nam.

Ngày 31/10/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ ngày 1/11/1968. Sang đầu năm 1969, Hội nghị 4 bên mở ra, có hiện diện của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, ông  Dương Đình Thảo, ông Trần Bảo Kiếm… đại diện của Chính Phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam lần lượt sang Paris. Công tác Cảnh vệ lại thêm nhiệm vụ mới, số người phải bảo vệ được tăng thêm nhưng số sỹ quan Cảnh vệ vẫn như cũ.

Một trong những khó khăn của công tác bảo vệ là sự đeo bám của phóng viên báo chí đối với đoàn ta, vì một số báo chưa hiểu rõ tình hình, vẫn tỏ ra thiên vị phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Một số tờ báo cho rằng Mặt trận giải phóng là “bóng ma Việt cộng”, là “tay sai cộng sản Bắc Việt”… Nhưng khi hội nghị chính thức mở ra, với sự khôn khéo của hai trưởng đoàn ta và các thành viên trong đoàn, dần dần ta đã “thu phục được nhân tâm”.

Chuyện bảo vệ trên đường cũng lắm tình huống gay cấn. Paris thời đó cũng đã có tắc đường nhưng dĩ nhiên không căng thẳng như Hà Nội bây giờ. Để đưa Đoàn đến địa điểm đúng giờ họp, chúng tôi thường cho người đi tiền trạm, thấy không tắc đường mới bàn với cảnh sát Pháp cho xe dẫn. Biện pháp này tỏ ra hiệu quả, nên phía bạn cũng rất vui vì họ cũng hoàn thành nhiệm vụ.

Cũng có lần xảy ra sự cố, do đường vắng nên xe cảnh sát dẫn đường chạy tốc độ cao. Hôm đó đoàn ta đi dự buổi họp do kiều bào ta tổ chức ở nhà Tương tế khu phố La – tinh.  Lúc 24h đêm cuộc họp mới kết thúc, xe cảnh sát dẫn đoàn về nơi ở. Do tốc độ nhanh một xe cảnh sát đâm vào một xe ôtô khác khiến viên lái xe dẫn đường chết ngay tại chỗ. Hôm sau đoàn ta cử cán bộ mang vòng hoa đến viếng chia buồn. Người vợ cảnh sát lái xe rất xúc động nói: “Chồng tôi hy sinh là sự mất mát lớn đối với tôi và gia đình nhưng cũng góp một phần nhỏ vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam”. Tình cảm đó đến nay chúng tôi còn nhớ mãi.

Đến ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi ngoại giao lịch sử này có phần đóng góp của những cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ nói riêng và lực lượng CAND nói chung

Văn Chấn
cand.com.vn

Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam

Đại Tá TS Nguyễn Thành Hữu
Đêm 20 rạng ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tung hàng loạt máy bay B-52 oanh tạc tàn phá Hà Nội. Với ý chí quyết chiến quyết thắng, ta thắng lớn, bắn rơi 19 máy bay địch, trong đó có 7 chiếc B-52. Chỉ trong 9 phút của đợt đầu, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, trong 20 phút của đợt 3 ta đã bắn rơi 4 máy bay B-52, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ. Pháo đài bay Mỹ hạ gục trước ý chí, trí tuệ của người Hà Nội.

Hẳn nhiều người biết, từ 19h20 ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tập trung 93 lần chiếc B-52 cùng 151 lần chiếc không quân chiến thuật tổ chức tập kích ba trận vào Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Tại Hà Nội, địch đánh các đầu mối giao thông, chân hàng ở Bắc ngoại thành, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, sân bay Nội Bài, Khu tập thể An Dương. Xen kẽ giữa các trận đánh của B-52, địch tăng cường 25 chiếc F-111 hoạt động…

Sau hai đêm, địch thay đổi thủ đoạn và quy luật đánh phá, nhận ra đối thủ chính của chúng là tên lửa. Do đó, trước khi đưa B-52 vào, ngoài việc đánh phá các sân bay của F-111, chúng đưa F4 và F-105 lùng sục các trận địa tên lửa của ta để dọn đường; tăng cường nhiễu các loại; tăng cường sử dụng các tốp B-52 giả.

Bộ đội rada vẫn đĩnh đạc phát hiện và thông báo các tốp B-52 cho chiến dịch. Không quân ta khắc phục khó khăn do các sân bay bị địch đánh phá và khống chế liên tục, sửa chữa không kịp, cất cánh từ đường lăn lên đánh B-52. 19h27, hai tốp MIG cất cánh lên hướng Việt Trì, Phú Thọ và Mộc Châu, Suối Rút.

Từ 19h41 đến 19h55, nhiều tốp B-52 giả vào khu vực hỏa lực. Bộ đội ta nhanh chóng nhận dạng tín hiệu B-52 giả, nên không một tiểu đoàn tên lửa nào đánh nhầm. Đây là một thành công lớn trong cuộc đấu trí với địch. 20h5, 2 tốp B-52 vào đánh khu vực Gia Lâm. Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 261 Quân chủng Phòng không – Không quân (PKKQ) xử trí nhanh sau khi phóng 2 quả thấy tín hiệu mục tiêu trong nhiễu đã phóng bồi quả thứ 3 diệt một B-52 rơi tại Yên Thượng, Yên Viên cách trung tâm Hà Nội 10km.

Trận đánh thắng đầu tiên trong đêm 20/12 của Tiểu đoàn 93 đã giải tỏa được những căng thẳng sau đêm 19 không bắn rơi tại chỗ được B-52. Các tiểu đoàn khác tiếp tục đánh các tốp B-52 đi sau đội hình.

Xác pháo đài bay B52 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Ảnh: Duy Hiển.

20h34, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn tên lửa 257 lợi dụng thuận lợi của một trận địa chốt, phát sóng bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi xuống xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Tây. Sau thắng lợi giòn giã ngay từ đợt đầu, khí thế chiến đấu của bộ đội thay đổi hẳn. Kinh nghiệm của các tiểu đoàn 93, 77 Quân chủng PKKQ được nhanh chóng phổ biến đến các đơn vị. Tiếp đó, 20h36, Tiểu đoàn 94 Trung đoàn tên lửa 261 nỗ lực đánh tập trung bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi tại biên giới Thái Lan – Lào. Tiểu đoàn 76 Trung đoàn tên lửa 257 cũng vận dụng phương pháp phát sóng gần bắt mục tiêu. Nhưng do thao tác không hợp lý, không đúng thời cơ nên bị tốp hộ tống B-52 phóng tên lửa tự dẫn vào trận địa làm đơn vị tạm thời mất sức chiến đấu. 

Phối hợp chiến đấu, hỏa lực pháo súng phòng không tầng thấp của ta đánh rất mãnh liệt chặn đánh F-111. Lúc 21h, phòng không dân quân tự vệ ở trận địa Vân Đồn đã bắn rơi 1 chiếc F-111.

Tại Hải Phòng, lúc 22h22, Tiểu đoàn 72 Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi 1 máy bay F4; lúc 0h10 ngày 21-12, Tiểu đoàn 83 Trung đoàn tên lửa 238 cùng pháo phòng không khu vực bắn rơi một F4 nữa.

Tại Thái Nguyên, từ 23h30 đến 0h45, B-52 đánh vào Nhà máy Điện Cao Ngạn và Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ.

Tại Hà Nội, máy bay F-111 vào đánh xen kẽ. Các tốp máy bay cường kích chiến thuật săn tìm trận địa tên lửa, bay lởn vởn vòng ngoài hỏa lực làm mồi nhử cho tên lửa đánh để khi B-52 vào thì tên lửa không còn đạn, đồng thời nhử cho ta phát sóng tự bộc lộ đội hình để đánh trả bằng tên lửa tự dẫn. Các tiểu đoàn tên lửa đã dày dạn với thủ đoạn nghi binh của địch nên không bị đánh lừa.

4h10 ngày 21/12, địch lại tổ chức trận tập kích thứ ba vào Hà Nội với 45 lần chiếc B-52. Lúc này, đạn tên lửa ở các trận địa của ta còn rất ít. Tình huống hết sức khó khăn, Bộ Tư lệnh chiến dịch, Quân chủng và Sư đoàn Phòng không Hà Nội chỉ thị các đơn vị tích cực đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất, đánh tiết kiệm đạn, đánh chắc thắng, tiếp tục bắn rơi tại chỗ B-52; đồng thời chỉ thị cho Cục Kỹ thuật tìm mọi cách tăng nhanh số lượng đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực; các lực lượng pháo cao xạ tích cực đánh bảo vệ trận địa tên lửa…

Cán bộ, chiến sĩ bảo đảm kĩ thuật làm việc liên tục, lắp ráp, vận chuyển tiếp đạn tên lửa với tinh thần tất cả vì chiến thắng, cho đến gần sáng ngày 21, đạn đã được bổ sung tương đối đầy đủ cho các trận địa hỏa lực.

Tên lửa ta sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972.

Sau các trận đánh tập trung, khi đạn bảo đảm chưa kịp, các đơn vị phải cân nhắc tính toán sử dụng trong từng trận và chọn phương pháp điều khiển thích hợp. Lúc 5h9, Tiểu đoàn 77 bắn trúng một B-52 rơi xuống Phúc Yên, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn rơi 1 máy bay B-52 khác. Năm phút sau, Tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257 lại bắn rơi 1 máy bay B-52 tại khu vực Phả Lại. Với cự li đánh và phương pháp điều khiển thích hợp, với trình độ bám sát điêu luyện của kíp chiến đấu, chỉ 13 phút sau, bằng một quả đạn, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn 1 chiếc B-52 rơi xuống khu vực chợ Thá – Núi Đôi. Đó là trận đánh cuối cùng kết thúc chiến đấu đêm 20 rạng sáng 21/12 và cũng là trận đánh hết sức điển hình về tài nghệ chiến đấu của bộ đội tên lửa.

Trận đánh đêm 20 rạng ngày 21/12 thực sự là một trận đánh then chốt tiêu diệt lớn B-52 của địch trong chiến dịch, làm thay đổi lớn về kế hoạch sử dụng lực lượng và cách đánh cả của địch và của ta. Trận đánh đêm 20 đã phá vỡ kế hoạch ban đầu của cuộc tập kích chiến lược. Níchxơn cho rằng chỉ cần ba ngày cũng đủ làm cho ta phải khuất phục. Nhưng thực tế trong ba ngày, 30 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 11 chiếc B-52 kể cả 1 chiếc do tên lửa ta ở Nghệ An bắn rơi, tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi ngày càng tăng.

Đối với ta, trận then chốt tiêu diệt lớn B-52 đêm 20 có ý nghĩa lớn về xây dựng quyết tâm và phát triển cách đánh chiến dịch, càng khẳng định vai trò của từng lực lượng trong tác chiến chiến dịch, tạo điều kiện cho cách đánh tập trung của tên lửa có hiệu quả, phát huy được mọi cách đánh của tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chưa bao giờ truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam được phát huy cao độ trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào khôn tả

N.T.H.
cand.com.vn

Gặp người bắn rơi chiếc máy bay Mỹ cuối cùng trong trận chiến lịch sử

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, Không quân Việt Nam đã lập những chiến công giòn giã, góp phần vào thắng lợi vang dội của dân tộc: 24 lần xuất kích đã bắn rơi 7 chiếc máy bay, trong đó, có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng. Cùng với Anh hùng Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Trần Việt, Hoàng Tam Hùng…, phi công Bùi Doãn Độ cũng bắn cháy một máy bay Mỹ vào đêm cuối của cuộc không kích, 29/12/1972.

Chiến công này đặc biệt, bởi đây là chiếc F-4 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi vào ban đêm, bằng máy bay MiG-21, lại là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong 12 ngày đêm máu lửa. Đây cũng là máy bay Mỹ cuối cùng do Không quân ta bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Vì chỉ vài tiếng sau, 7h sáng 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nich-xơn tuyên bố ngừng ném bom và chấp nhận quay lại bàn đàm phán. 

Sau tròn 40 năm, chúng tôi tìm gặp lại người đã hạ gục tên “giặc trời”, “khóa đuôi” chiến dịch lừng lẫy đó. Chàng trai trẻ nhất Phi đội đánh đêm 40 năm trước giờ đã là vị đại tá nghỉ hưu hiền lành, nhỏ nhẹ và khiêm nhường. Trong ngôi nhà rộng lớn bên đường Lê Trọng Tấn (Hà Nội), Đại tá Bùi Doãn Độ cùng chúng tôi ôn lại chuyện xưa.

Vượt qua những đợt kiểm tra nghiêm ngặt về sức khỏe, Bùi Doãn Độ nhập ngũ ở tuổi 16, rồi được sang Liên Xô học lái máy bay MIC-21. Tốt nghiệp năm 1970, tròn 20 tuổi, anh về nước nhận nhiệm vụ ở Phi đội 5, cùng Trung đội với Anh hùng Phạm Tuân.

Cuối năm 1972, tiên đoán khả năng Mỹ sẽ huy động B-52 đánh phá miền Bắc, Quân chủng Phòng không – không quân đã khẩn trương tổ chức huấn luyện bay đêm cho Phi đội 5. Gần 10 phi công bay giỏi, kỹ thuật tốt, bản lĩnh vững vàng được lựa chọn để tập luyện cất cánh với tên lửa bổ trợ, bay chặn kích máy bay B-52 bằng rada và kết hợp bằng mắt. Vì đánh đêm khó khăn hơn đánh ban ngày rất nhiều: không thể quan sát địch trực tiếp bằng mắt, mà phải dựa vào rada, trong khi địch luôn gây nhiễu sóng rada nên khó xác định được mục tiêu và cũng khó theo kịp nếu máy bay địch cơ động. Mà thời cơ phát hiện mục tiêu chỉ 10-15 giây.

Hơn nữa, các phi công đánh đêm còn hiểu rất rõ, cuộc chiến trên không vô cùng nguy hiểm, khi vừa phải đối mặt trực tiếp với kẻ thù, vừa có cả rủi ro từ chính các trận địa pháo cao xạ, pháo phòng không dày đặc ở mặt đất, vì có lúc, lệnh xuất kích của máy bay ta không thể thông báo kịp đến các đơn vị. Chính anh Bùi Doãn Độ trong một lần bay qua Việt Trì, cũng từng bị pháo cao xạ của ta bắn vì tưởng máy bay địch. Chúng tôi hỏi khi đó, anh có sợ không, Đại tá Bùi Doãn Độ cười hiền: “Chiến tranh là thế, có gì mà phải sợ! Khi đó, chúng tôi đều khao khát được trực tiếp chiến đấu, được tự mình bắn rơi máy bay địch để trả thù cho nhân dân Thủ đô, cho đồng đội, không ai nghĩ đến sự hi sinh.”

Đại tá Bùi Doãn Độ bên chiếc máy bay MIG21 từng tham chiến trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.

Được chuẩn bị kỹ càng về kỹ-chiến thuật đánh B-52 cũng như tinh thần, nên toàn bộ Phi đội 5 bước vào chiến dịch 12 ngày đêm với khí thế hừng hực và quyết tâm cao: có điều kiện là kiên quyết tiêu diệt bằng được, dù đó là “thần sấm” B-52 hay các loại máy bay khác.

12h ngày 18/12/1972, cuộc chiến 12 ngày đêm bắt đầu. Trong suốt chiến dịch, anh Độ được xuất kích 4 lần: Ngày 21/12 sau khi cất cánh ở Sân bay Miếu Môn, anh gặp được B-52, nhưng vì độ cao chênh lệch quá lớn, không đủ điều kiện phóng tên lửa. Hai lần sau, anh xuất kích từ Sân bay Nội Bài nhưng lại không gặp địch. Đến ngày 29/12, cuộc chiến càng ác liệt. Địch đánh phá dữ dội Sân bay Miếu Môn, khiến các phi công phải đi ôtô về Sân bay Hòa Lạc, rồi mới đi máy bay trực thăng lên sân bay Nội Bài để lấy máy bay về Sân bay Kép trực chiến.

Trọn 1 ngày vất vả, căng thẳng. Đêm, bọn “giặc trời” F111 điên cuồng đánh phá, thì anh Độ được lệnh cất cánh. Lúc đó khoảng 23h. Nhưng không “săn” được B-52, anh Độ quay về, thì lại được Sở chỉ huy thông báo có địch. Ngay khi phát hiện địch, anh liền tăng tốc đuổi theo. Đúng lúc này, anh lại nhận thông báo phía sau cũng có địch và yêu cầu anh nhanh chóng công kích. Một giây cân nhắc, anh quyết tâm truy kích đến cùng chiếc F4 phía trước. Khi chọn được khoảng cách thích hợp, anh phóng 2 quả tên lửa cùng lúc, rồi nhanh chóng thoát ly theo lệnh của Sở chỉ huy.

Anh nhớ lại: Khi lật sang trái thoát ly, tôi thấy máy bay F4 của địch đang bốc cháy dữ dội và cắm xuống 1 góc khoảng 30 độ, bụng máy bay lật ngửa. Khoảng cách giữa máy bay của tôi và chiếc F4 chỉ chừng 100m, nên tôi có thể nhìn rõ từng chiếc đinh tán trên thân máy bay đang cháy. Niềm vui ngập tràn, vì đã được tham gia chiến đấu, lại bắn rơi máy bay địch. Trở về đơn vị, dù rất mệt nhưng tôi vẫn thao thức đến sáng với niềm hân hoan vô bờ.

Với chiến công đó, anh Bùi Doãn Độ đã vinh dự được tặng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba.

Kết thúc chiến tranh, anh tiếp tục đi học ở Liên Xô, rồi trở thành chuyên gia cho nước bạn Campuchia, sau đó lại đi Pháp học trước khi trở thành Cơ trưởng loại máy bay ATR-72 của Hàng không Việt Nam, rồi về hưu năm 2010. Năm tháng trôi qua, Đại tá Bùi Doãn Độ cũng trải qua nhiều cương vị khác nhau, nhưng ký ức về những ngày được trực tiếp chiến đấu và lập công trong những ngày bảo vệ Thủ đô năm 1972 chưa bao giờ nguôi quên trong anh.

Vào những ngày này, khi cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Bùi Doãn Độ càng thêm tự hào vì được sống lại giữa những cảm xúc hào hùng của ngày tháng lịch sử ấy, được gặp gỡ bao đồng đội yêu thương, gắn bó và nhất là, cảm nhận thật rõ rằng, sự cống hiến của mình đã không bị lãng quên!

Thanh Hằng
cand.com.vn

Bác Hồ với mùa xuân kháng chiến đầu tiên xuân Đinh Hợi 1947

Bác Hồ chúc TếtĐêm 13 tháng 1 năm 1947, tức là ngày 23 tháng chạp, đúng ngày ông Táo lên chầu trời, Bác Hồ bí mật lặng lẽ rời xã Xuyên Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), chuyển đến xã Cầu Kiệm, huyện Quốc Oai tỉnh Sơn Tây,tiếp tục chặng đường trường kỳ kháng chiến.

Trên đường đi, ngồi trong xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ, Bác đang nghĩ nhiều đến những người con yêu dấu của dân tộc đang chiến đấu giữa vòng vây của thực dân Pháp trong lòng Hà Nội. Quá nửa đêm, Bác mới đến địa điểm mới. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh bố trí Bác ở trong một ngôi nhà mới làm xong, nhưng nền đất chưa nện kỹ, các bức vách chưa được trát bùn. Bác ở trong một gian buồng nhỏ cuối nhà đã đặt sẵn một chiếc giường tre lót ổ rơm. Cạnh giường là một cái bàn nhỏ, một chiếc ghế để ngồi làm việc. Đây là ngôi nhà ông Nguyễn Đinh Khuê làm cho người con thứ, nhưng chưa đến ở. Thường ngày, Bác ngồi trên giường vai khoác chiếc áo ba – đờ – xuy cũ, đọc sách báo hoặc viết.

Tối 16 tháng 1 năm1947, tức ngày 26 tháng chạp, Bác chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở Chương Mỹ. Trong cuộc họp Bác căn dặn: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được để các

em đói ăn, thiếu mặc, các cụ già phải khổ sở vì chiến tranh, đặc biệt là trong dịp Tết sắp tới. Khi nhắc đến vấn đề này, cặp mắt Bác rưng rưng như muốn khóc. Tất cả các thành viên Hội đồng chính phủ đều im lặng xúc động.

Tối ngày 21 tháng 1 năm 1947, tức ngày 30 tết, Hội đồng Chính phủ họp phiên tất niên tại phủ Quốc Oai. Ngoài các thành viên Chính phủ đều có mặt đầy đủ, còn có cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban và linh mục Phạm Bá Trực, Ủy viên Ban thường trực Quốc hội khóa I. Có mặt đêm nay ở đây là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến. Có người trước đây là thượng thư của triều đình cũ, có người là đức giám mục, có người là tri thức, có người là đảng viên Đảng Cộng sản, có người là Việt minh, có người tóc đã điểm bạc, có người đang lứa tuổi thanh niên… Đây là hình ảnh thu nhỏ của Hội nghị Diên Hồng đời Trần năm xưa. Tất cả đều cùng chung một ý chí: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” theo lời kêu gọi khẩn thiết của Bác Hồ.

Cuộc họp tất niên của Hội đồng Chính phủ được các đồng chí Hoàng HữuNam, Nguyễn Văn Lưu lo chạy được một tí mứt kẹo, thuốc lá và mấy chiếc bánh chưng. Mọi người nhất trí bánh chưng thì để chờ Bác, còn mứt kẹo, thuốc lá thì đem ra dùng trước.

21 giờ, Bác đột ngột bước vào phòng họp. Bác đội mũ cát, cổ quấn khăn che kín bộ râu, chân lấm bùn lên tận đầu gối. Bác bắt tay tất cả mọi người, đặc biệt Bác xiết chặt tay hồi lâu cụ Bùi Bằng Đoàn và linh mục Phạm Bá Trực, và nói: “Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi”. Rồi Bác kể chuyện xe bị sa lầy dọc đường. Xe sa bánh ba lần xuống ruộng, phải vận động nhân dân địa phương ra khiêng lên, rồi đẩy cho xe nổ máy. Bác nói vui: “chỉ một việc xe đi thôi, không có nhân dân thì Chủ tịch nước cũng đành chịu. Huống hồ chi việc kháng chiến kiến quốc, một công việc to lớn vĩ đại, nhất định phải dựa vào khối đại đoàn kết toàn dân mới thành công”. Bác chủ trì cuộc họp tất niên của Hội đồng chính phủ. Kết thúc cuộc họp, Bác đọc cho Hội đồng Chính phủ nghe trước bài thơ “ Chúc năm mới” Đinh Hợi mà lát nữa Bác sẽ đọc tại Đài Tiếng nói ViệtNam đặt ở chùa Trầm.

22 giờ 30 phút, Bác lên xe ra đi trong mưa phùn gió rét.Tất cả các thành viên Hội đồng Chính phủ đều tiễn Bác ra cửa. Riêng đồng chí Võ Nguyên Giáp tiễn Bác ra tận xe. Khi ngồi trong xe, Bác gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến gần,và dặn: “Tối mai, bảo Nhân (đồng chí Trường Chinh) cùng chú đến chỗ Bác nhé!”.

Do đường lầy lội khó đi, gần 12 giờ đêm, Bác mới tới chùa Trầm. Đài tiếng nói Việt Nam đặt trong hang núi đá, điện sáng trưng, máy chuyển ầm ầm. Bác vào buồng thu, đọc trước máy: Chúc năm mới:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Bài thơ như một lời hiệu triệu vang dậy non sông, như một hồi kèn thúc giục quân và dân cả nước xông lên giết giặc lập công…. Trong 24 năm ở cương vị chủ tịch nước, tết năm nào Bác cũng có thơ “Chúc năm mới” gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước. Nhưng có lẽ bài thơ “Chúc năm mới” Đinh Hợi là một trong những bài thơ hay nhất.

Sau đó, Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đài Tiếng nói ViệtNam.

Bác sắp ra về thì sư cụ chùa Trầm xin yết kiến. Chú tiểu thành kính đội mâm bánh chưng đặt lên bàn. Sư cụ thưa với Bác: “Đây là lòng thành của nhà chùa kính dâng, mong cụ Chủ tịch thu nhận cho”.

Bác cám ơn sư cụ, và chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công!

Gần một giờ đêm, trời vẫn mưa to. Bác ra về, cách nhà khoảng hai cây số thì xe tụt cả hai bánh trước xuống ruộng. Giờ này, chẳng còn nhờ được ai khênh xe. Thế là Bác và những người tùy tùng phải lội bùn đi bộ, khi về đến nhà đã gần bốn giờ sáng. Đồng chí lái xe phải ngủ lại trên xe giữa cánh đồng.

Tối ngày 22 tháng 1 năm 1947, tức tối Mồng một Tết, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đến chúc mừng năm mới Bác. Lúc này, Bác đang ngồi trên giường, vai khoác chăn, và đang viết bên ngọn đèn dầu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rút trong cặp ra một gói mứt, một gói chè do phu nhân đồng chí gửi, và năm bao thuốc lá ngon mà đồng chí Trần Quốc Hoàn ở trong Liên khu I ra gửi biếu Bác.

Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đưa bánh chưng ra đãi hai đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp. Cùng dự có đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí Trường Chinh báo cáo với Bác về công tác xây dựng đảngở Nam Bộ, một vấn đề mà lâu nay Bác rất quan tâm. Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác tình hình khả quan về kháng chiến và kiến quốc ở Liên khu V. Những người có mặt hôm ấy ngồi vây quanh bếp lửa nghe Bác nói về tình hình thế giới, tình hình nước Pháp, triển vọng của phong trào đòi độc lập của các dân tộc thuộc địa.

Một giờ sáng, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp xin phép Bác ra về.

Ngày 27-1- 1947, tức mồng sáu Tết, Bác còn viết thư đầy xúc động gửi đến các chiến sĩ cảm tử quân thủ đô. Cuối thư, Bác viết:” Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng  toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”

CHÍNH LUẬN (tổng hợp)
xaydungdang.org.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

“Một Đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…” – điều Bác Hồ nói vào mùa Xuân cách đây 45 năm đến nay còn thấm thía.

Chuyện suy tư đêm 30

Bác Hồ chúc TếtTrước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.  Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Tổng hợp: Văn Hòa
thanhdoanquynhon.org

Bác Hồ với mùa xuân Tây Nguyên

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vui mừng đón xuân Quý Tỵ năm 2013 cùng lúc với sự kiện khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên quảng trường Đại Đoàn Kết tại thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai. Đây là một công trình lịch sử – văn hoá mang tính thời đại và đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Gia Lai cũng như đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngày 19 tháng 4 năm 1946 – cách đây 67 năm – tại Pleiku, tỉnh Gia Lai đã tổ chức Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam với hơn 1000 người tham dự. Tại Đại hội này, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất vinh dự và tự hào đón nhận bức thư đầy tâm huyết của Bác Hồ gửi đến. Trong thư, Bác Hồ viết: “Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ. Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự Đại hội được. Tôi tuy xa nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là anh em ruột thịt… Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do độc lập của chúng ta”.

Thấu hiểu nguyện vọng, tình cảm của Bác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và tấm lòng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên đối với Bác; năm 2008, Bộ Chính trị TW Đảng đã đồng ý cho xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Ban Bí thư đã chọn duyệt được mẫu tượng Bác Hồ cùng bức phù điêu khá hoành tráng về các dân tộc Tây Nguyên. Sau hai năm xây dựng, ngày 11 tháng 12 năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai, lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được tổ chức trọng thể với sự hiện diện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Các bộ ban ngành TW … các đồng chí lãnh đạo tỉnh Gia Lai cùng đông đảo đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và các tỉnh bạn

Trích đoạn phù điêu tượng đài

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên với một quần thể các kiến trúc, biểu tượng có diện tích 12,5ha. Có thể coi đây là một trung tâm tâm linh, lịch sử, văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc và một không gian xanh.

Tượng đài Bác Hồ – sáng tác của nhà điêu khắc Nguyễn Bá Đua, được thể hiện bằng chất liệu đồng tấm, dày 5 ly, có chiều cao 10,8m và trọng lượng 16 tấn. Bức tượng được thực hiện bằng phương thức ép khuôn thuỷ lực từ những lá đồng nguyên chất và hàn lại với nhau theo một quy trình với chất lượng cao, đảm bảo việc chuyển đổi chất liệu đúng nguyên mẫu tượng. Đây là lần đầu tiên tượng đài bằng đồng ở Việt Nam được thực hiện với kỹ thuật ép khuôn hiện đại này với sự tham gia của các nhà khoa học chuyên ngành. Tượng được đặt trên bệ cao 4,5m, lõi là bê tông cốt thép nhưng phủ ngoài được thực hiện bằng đá tảng có tạo hình khối như những ngọn núi của Tây Nguyên. Phía trước bệ tượng có dòng chữ nổi bằng đồng “Chủ tịch Hồ Chí Minh (1891-1969)” cùng một bông hoa sen cách điệu. Phía dưới là tảng đá để đặt các lẵng hoa và hoa kính viếng Bác. Phía sau tượng Bác là bức phù điêu đá có hình cánh cung – sáng tác của nhà điêu khắc Lê Lạng Lương – có chiều dài 58m và chiều cao nhất là 11m, tổng diện tích 600m2 được làm từ đá tự nhiên của Thanh Hoá với khối lượng trên 1000 tấn. Bức phù điêu này được đặt trên bệ cao 1,5m. Nhìn vào tổng thể phù điêu, ta thấy có hình hoa sen cách điệu, nhấp nhô như núi rừng Tây Nguyên, mặt trời và nhà rông. Nội dung phù điêu được chia làm ba phần: Phần chính diện ở giữa thể hiện những hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Phía bên phải có nội dung “Tây Nguyên chiến đấu”. Phía bên trái có nội dung “Tây Nguyên sản xuất”. Phía sau tượng đài Bác Hồ và phù điêu là một ngọn núi nhân tạo có hình dáng mô phỏng núi Hàm Rồng – ngọn núi linh thiêng cao nhất ở cao nguyên Pleiku được trồng cây cỏ, trong tương tai, ngọn núi này sẽ trở thành một rừng cây phía sau tượng đài và phù điêu. Điều đặc biệt của công trình này là không có các lễ đài được xây sẵn. Các nhà thiết kế đã dành khu vực sân đặt tượng đài và phù điêu có diện tích hơn 1000m2 để làm sân biểu diễn nghệ thuật với các bậc có độ rộng 2m ở phía trước để đến ngày lễ khi đặt bàn và ghế sẽ có một lễ đài hoành tráng.

Phía cánh phải và trái của bức phù điêu các dân tộc Tây Nguyên là hai dàn cồng chiêng gồm các chiêng bằng và chiêng núm (biểu tượng của không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại). Phía trước tượng đài Bác Hồ ở hai bên là đài phun nước. Cách con đường lớn là Quảng trường “Đại đoàn kết” có diện tích 23.823m2 với 205 ô cỏ cùng các đường đi lát đá granit được khai thác và chế tạo ở các nhà máy đá trong tỉnh. Trước nữa là cột cờ cao 25m với lá Quốc kỳ 40m2. Bên trái quảng trường là Thạch thư Bác Hồ bằng khối đá hoa cương cao 6m, rộng 3,5m và dày 2,5m. Mặt trước khắc thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku ngày 19 tháng 4 năm 1946. Phía bên phải quảng trường là Biểu tượng Đại đoàn kết được tạo hình như một tháp đá ba tầng, cao 12m với 54 trụ đá ba gian tự nhiên – loại đá đĩa ta thấy ở Phú Yên nhưng được khai thác ở một mỏ đá ở tỉnh Gia Lai. Hồ sen Bách tán Hà Nội được chọn giống cùng với bùn Hồ Tây được đưa vào để đảm bảo cho sen được phát triển và có vẻ đẹp như sen Hồ Tây (hồ sen này để gợi nhớ đến Thủ đô yêu quý của cả nước). Phía sau, bên phải của tượng đài là quần thể các bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên chi nhánh Gia Lai – Kon Tum, Bảo tàng Gia Lai, Bảo tàng Cổ vật Gia Lai, tượng Anh hùng Núp. Bao quanh quảng trường và tượng đài là một vườn Bách thảo với hàng trăm loại cây cỏ của Tây Nguyên và nhiều vùng miền trên đất nước. Nhiều cây thông cổ thụ, cùng với nhiều cây khác được trồng trước đây được giữ gìn nguyên trạng cùng với các loại cây cổ thụ từ các huyện chuyển về trồng và các loại cây khác được trồng mới, đã tạo nên một không gian xanh cho quảng trường, tạo bóng mát cho du khách và cũng là nơi giúp du khách có thêm cơ hội để tìm hiểu về các loại thực vật đặc hữu của đất nước. Ngoài ra các nhà thiết kế quy hoạch còn dành nhiều không gian rộng để có thể tổ chức các hoạt động lễ hội, hội chợ, thể thao, cắm trại,… Đặc biệt, không gian quảng trường không đặt các ghế ngồi như ở các quảng trường khác mà kết hợp thiết kế bệ bao quanh các bồn hoa, hồ sen, cây và những khối đá ba zan được cắt ngắn, xếp đặt tạo thành hàng ngàn chỗ ngồi khắp quảng trường. Cùng với đó là những ki-ốt thấp thoáng trong các vườn cây làm chỗ bán hàng lưu niệm, giải khát phục vụ du khách tham quan.

Có thể nói, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại đoàn kết là một quần thể kiến trúc có bố cục tốt, được các nghệ sĩ tạo hình, kiến trúc sư sáng tạo hoàn chỉnh và được các công ty tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm và chất lượng cao. Để có công trình hoàn chỉnh cho đến ngày khai mạc, (được nhân dân Gia Lai đánh giá là “niềm tự hào của người Gia Lai”) chúng tôi đánh giá cao sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân và các Sở ban ngành của tỉnh Gia Lai và đặc biệt là đồng chí Phạm Thế Dũng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật đã biết tập hợp và trân trọng các ý kiến đóng góp của Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, của các nhà điêu khắc, kiến trúc thuộc hai Hội; không nệ vào bản vẽ đã được phê duyệt, lấy không gian thực để điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án. Qua đó đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, không ngại một số thay đổi chi tiết phát sinh mới nhưng vẫn đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật với chất lượng cao nhất. Công ty này thuộc về công ty TNHH một thành viên Bảo tồn Di sản Văn hoá trực thuộc Hội Di sản Văn hoá Việt Nam do ông Nguyễn Văn Mạc – giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo. Có thành công như hôm nay, còn có sự đóng góp to lớn của lãnh đạo Sở Văn hoá, Sở Xây dựng và các Sở ban ngành, các cán bộ được tỉnh giao theo dõi và thực hiện dự án.

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên thực sự là một công trình nghệ thuật kiến trúc có chất lượng nghệ thuật cao, là một bài học cho việc tổ chức xây dựng các tượng đài sau này ở Việt Nam.

Mùa xuân này, Bác Hồ đến với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Cây ở quảng trường xanh lá, nở hoa. Lòng người Tây Nguyên rạo rực trong niềm vui Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Bác Hồ với một công trình văn hoá có ý nghĩa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tây Nguyên… và là niềm vui chung của những người đã tham gia xây dựng công trình và là niềm tự hào của tất cả chúng ta.

Trần Khánh Chương
vietnamfineart.com.vn