Tag Archive | Bác Hồ

Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

(ĐCSVN) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới các đồng chí thương binh và gia đình liệt sĩ.  Ngày 27-7-1947, Người gửi thư cho Ban Tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” và từ đó ngày 27-7 hằng năm trở thành Ngày thương binh, liệt sĩ.

Tiếp tục đọc

Những người kể chuyện Bác Hồ ở Khu Di tích Đá Chông

Ngày mùng 8 tháng 3 năm 2013 vừa qua, chúng tôi có chuyến “Hành quân về nguồn”, tới thăm Khu Di tích Đá Chông, địa danh được Bác Hồ chọn làm căn cứ của Trung ương từ tháng 5 năm 1957; nơi Bác đã nhiều lần lên thăm, làm việc và tiếp những người bạn quốc tế trong những năm cuối đời; đây cũng là nơi mà Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương chọn để giữ gìn thi hài Bác chủ yếu trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt (1969 – 1975).

Tiếp tục đọc

Trong trái tim kiều bào luôn có Bác

QĐND – Với mỗi kiều bào ở xa Tổ quốc, ngoài tấm lòng luôn hướng về quê cha đất Tổ, trong trái tim họ luôn in đậm hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, khi đến thăm Khu di tích Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), nơi ở và làm việc của Bác Hồ trong kháng chiến chiều 10-4, nhiều kiều bào đã không nén được xúc động trước cuộc sống dung dị của Người.

Tiếp tục đọc

4 lời khuyên của Bác Hồ với báo chí

Việt Nam - Hồ Chí MinhMột trong những lớp học báo chí đầu tiên của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám là lớp học trong rừng Việt Bắc được Bác cho mở tại Trường Huỳnh Thúc Kháng. Khi chuẩn bị bước vào chiến dịch Biên giới – Thu Đông 1949-1950, dù bận trăm công ngàn việc cho cuộc kháng chiến, nhưng trong thư gửi các học viên của lớp báo chí đầu tiên này, Người đã khuyên các nhà báo:

Tiếp tục đọc

Bác Hồ sáng lập Báo Việt Nam Độc Lập

Sau ba tháng về nước, tại đầu nguồn Khuổi Nậm, Pắc Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) Bác đã triệu tập và chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10-19.5.1941). Tại hội nghị quan trọng này, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã thảo luận, quyết định đường lối, sách lược Cách mạng Giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, gọi tắt là “Mặt trận Việt Minh” nhằm tập hợp thống nhất lực lượng cách mạng các dân tộc ở Đông Dương vì mục đích đánh đuổi Nhật, Pháp, giành nền độc lập vĩnh viễn cho Tổ quốc.

Sau hội nghị trung ương 8, Bác chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa Cách mạng, chuẩn bị mở rộng khu giải phóng dọc biên giới, tạo hành lang thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, nhân dân và quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, làm hậu thuận vững chắc cho cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống Pháp sau này.

Một trong những họa bản của Báo Việt Nam độc lập ngày 25. 3.1945

Nhận thấy cần có công cụ và phương tiện tuyên truyền chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng của Mặt trận Việt Minh trước mắt trong khu Cao-Bắc-Lạng mà lực lượng là nhân dân các dân tộc thiểu số, Bác Hồ đã sáng lập ra tờ báo Việt Nam Độc Lập với danh nghĩa ban đầu thuộc tổ chức Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Cách hội nghị trung ương lần thứ 8 không đầy 3 tháng, đúng ngày 1.8.1941, tờ báo Việt Nam Độc Lập được đánh số xuất bản 101 ra mắt bạn đọc. Sau này phong trào cách mạng phát triển, căn cứ địa mở rộng, Báo Việt Nam Độc Lập trở thành cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Liên tỉnh Việt Minh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Suốt từ khi thành lập tới lúc chuẩn bị nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách, tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân năm 1945, Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập.

Giống như thời kỳ làm Báo Le Paria (Người Cùng Khổ) ở Paris năm 1922, làm Báo Thanh Niên năm 1925 ở Quảng Châu, Tạp chí Đỏ tại Hương Cảng năm 1930; để ra được Báo Việt Nam Độc Lập năm 1941, ở Pắc Bó, Bác Hồ lại tự mình viết tin, bài, tổ chức trình bày, tạo công cụ in ấn rồi phát hành, cổ động quần chúng đọc báo, làm theo báo và vận động bạn đọc quyên góp tài chính ủng hộ báo.

Vốn có nhiều kinh nghiệm làm báo bí mật ở nước ngoài, trước khi ra Báo Việt Nam Độc Lập, Bác Hồ đã tìm hiểu trình độ văn hóa, trình độ nhận thức của bạn đọc vùng dân tộc thiểu số nhiều năm bị chế độ thực dân Pháp, hệ thống quan lang kìm kẹp, áp bức, thực hiện chính sách ngu dân, chia rẽ dân tộc, lâu nay họ chưa được giác ngộ cách mạng. Nhận thấy mặt bằng dân trí còn thấp, các vùng đồng bào thiểu số có đoàn thể cứu quốc chưa nhiều, địa hình lại chia cắt nên Bác quyết định khổ báo 20cm x 30cm để dễ dàng in ấn, lưu hành, bảo quản, phổ biến. Mỗi số chỉ in hai trang, mỗi trang đăng từ hai đến ba tin bài, bài dài nhất không quá ba trăm chữ. Bài, tin phải gọn, thông tin những vấn đề cần thiết mà người dân quan tâm, cách viết giản dị, súc tích, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Bác Hồ phải viết thế nào để cho người không được học nhiều và cả người không biết chữ khi được nghe cũng hiểu, hiểu rồi là dễ làm theo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tham gia viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập cũng đã có lần được Bác Hồ chỉ bảo cách viết một bài báo sao cho chính người cần vụ của mình đọc cũng hiểu.

Để có khuôn in Báo Việt Nam Độc Lập, Bác phải cùng các cán bộ địa phương lặn lội tìm kiếm trong rừng những phiến đá mềm, thớ đá mịn rồi đem về mài nhiều ngày đến lúc mặt đá phẳng lỳ, sờ tay vào cảm thấy mát lạnh thế là tạo được một khuôn in báo. Nếu in một lúc nhiều trang báo thì phải cần thêm số khuôn tương ứng số trang báo. Sau này, trong điều kiện kháng chiến chống Pháp khó khăn, nhiều địa phương, cơ quan in báo, in khẩu hiệu, truyền đơn, công văn đã học theo cách in Báo Việt Nam Độc lập, lâu dần người ta gọi là cách in ly tô. Khởi đầu cách in là họa sĩ trình bày ma két báo lên mặt đá. Bài, tin trang nào được trình bày gọn trang ấy, không chuyển tiếp trang sau. Họa sĩ thể hiện ma két theo nguyên tắc sao nguyên văn nội dung in, bài, tranh vẽ đã được duyệt vào từng cột, từng dòng. Tùy mức độ quan trọng khác nhau của tin, bài mà dùng ngòi bút sắt, mực keo viết chữ to, nhỏ, đậm, nhạt lên mặt đá. Lúc in báo hoặc tài liệu, giấy được đặt lên khuôn, người thợ dùng ru lô đã tẩm mực đẩy đi, đẩy lại nhiều lần sao cho chữ nổi lên đều trên mặt giấy là đạt yêu cầu. Vì phải in hai mặt nên trang một xong theo số bản quy định phải chờ mực khô mới in tiếp trang hai. Cách in thủ công này đòi hỏi tính kiên trì, nhẫn nại của người thợ, bởi mỗi lượt in, mặt chữ mòn dần, cạn nét, nếu muốn chữ rõ hơn, không còn cách nào khác là rửa khuôn liên tục, dùng bút sắt khơi sâu từng nét chữ trên mặt đá. Để ra được nội dung số báo sau, phiến đá khuôn in phải mài phẳng, xóa đi những dòng chữ đã khắc được viết tỉ mỉ, công phu từ số báo trước.

nguoi thap lua dau nguon cach mangBáo Việt Nam Độc Lập số ra ngày 1.1.1942

Trong hoàn cảnh “cháo bẹ, rau măng”, ăn ngủ làm việc trong hang đá thiếu thốn trăm bề lại phải thường xuyên di chuyển tránh sự theo dõi, truy tìm của bọn quan lang, tay sai, mật thám Pháp, Bác Hồ và những cán bộ giúp việc vẫn bảo đảm mỗi tháng ra ba kỳ báo, mỗi kỳ hai trang báo. Từ tháng 8.1941 đến khi Bác đi Trung Quốc (tháng 8.1942), Bác trực tiếp tổ chức xuất bản tại Khuổi Nậm, Pắc Bó được trên 30 kỳ Báo Việt Nam Độc Lập với 400 bản in từ khuôn đá. Tờ báo ra đời đầu nguồn Khuổi Nậm đã phản ánh rất phong phú, cụ thể phong trào cách mạng còn trứng nước ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, góp phần khơi dậy, thổi bùng ngọn lửa cách mạng vốn âm ỉ cháy suốt mấy chục năm ở Việt Bắc. Dưới sự chỉ đạo và trực tiếp viết bài, tổ chức phát hành của Bác Hồ, tờ báo đã thông tin thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội cứu quốc quân, nêu gương đồng bào các dân tộc Việt Bắc ủng hộ cách mạng, cách tổ chức đoàn thể Việt Minh, bài học tăng gia sản xuất, xóa mù chữ, cách xây dựng khu căn cứ, chiến khu, cách vận động binh lính người dân tộc mang súng trở về với nhân dân, với cách mạng. Những bài thơ và diễn ca nổi tiếng của Bác dưới chuyên mục Vườn văn, Hòn đá to, hòn đá nặng, Khuyên bạn thanh niên, Dân cày, Tặng cho đội tự vệ phụ nữ, Con cáo và tổ ong, Ca Việt Minh, Ca tự vệ đội, Ca người lính, Ca du kích, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đều được in trên Báo Việt Nam Độc Lập trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng giành chính quyền về tay nhân dân. Sau ngày Bác Hồ rời Cao Bằng đi Trung Quốc, Báo Việt Nam Độc Lập được giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách, tiếp tục xuất bản cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công với 141 kỳ. Sau ngày giành chính quyền thắng lợi, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Báo Việt Nam Độc Lập được chuyển giao cho Tổng bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn chỉ đạo nội dung xuất bản. Tờ báo do Bác Hồ sáng lập từ 1941 đã làm trọn vai trò, chức năng tuyên truyền “kháng chiến kiến quốc” trong suốt những năm cả nước dồn sức người, sức của đánh thắng thực dân Pháp.

VĂN HIỀN

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Người khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”(1), làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới và chỉ làm cách mạng giải phóng dân tộc để có độc lập dân tộc thì phụ nữ mới được giải phóng.

Trong văn kiện thành lập Đảng tháng 2 năm 1930, Bác Hồ đã nêu một chủ trương lớn về phương diện xã hội “thực hiện nam nữ bình quyền”. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi thành lập Đảng, vấn đề giải phóng phụ nữ đã được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng, là một nội dung trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Nét đặc biệt là Người đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Quyền của phụ nữ gắn liền quyền dân tộc độc lập, quyền dân tộc tự quyết. Đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc thì mới thực hiện được quyền bình đẳng của phụ nữ. Trên con đường đi tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, tình cảnh người phụ nữ Việt Nam, phụ nữ các dân tộc bị áp bức là nỗi đau trăn trở đối với Bác. Trong hàng loạt bài viết của mình, Hồ Chí Minh đã tố cáo tội ác man rợ của chế độ thực dân đối với người phụ nữ. Trong bài “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp” đăng trên báo Lơ Paria (Người cùng khổ) ngày 1-8-1922, Người viết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa”(2). Người gọi chế độ thực dân là chế độ “ăn cướp và hiếp dâm”. Vì vậy, chỉ khi nào đánh đuổi được bọn thực dân cướp nước, giành độc lập dân tộc, người phụ nữ mới được giải phóng.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị tù đày và khi đã là lãnh tụ cách mạng, Người cảm nhận sâu sắc thân phận của người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, nhất là trong xã hội còn chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ phong kiến và đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại lợi ích cho con người, trong đó phụ nữ được chăm lo, được giải phóng. Đó cũng là công việc quan trọng trong công cuộc kiến thiết nước nhà, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, nội dung cơ bản là huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vươn lên, thật sự bình đẳng với nam giới. Muốn làm được điều đó, “phụ nữ cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử”(3).

Giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng về chính trị. Bởi vì nước mất, nhà tan, phụ nữ là người bị đọa đày đau khổ nhất. Dân tộc được giải phóng thì phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc ứng cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp luật. Theo Bác, muốn giải phóng phụ nữ một cách triệt để thì phải bằng các hình thức thích hợp đào tạo và bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ giỏi đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các cấp uỷ đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ty và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập… Phụ nữ phải nhận rõ địa vị người làm chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng CNXH”(4) .

Hai là, giải phóng về xã hội. Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội. Đồng thời bình đẳng trong hôn nhân với chế độ một vợ một chồng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình. Bác nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Đồng thời phụ nữ phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò của mình trong chế độ mới, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình. Người chỉ rõ: Công bằng cho phụ nữ là sự phân công một cách hợp lý công việc đến từng người, tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân và sức khoẻ. Sự bình đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Ba là, giải phóng tâm lý tự ty, đầu óc phụ thuộc bởi thân phận người phụ nữ trong chế độ cũ, phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội. Bác nhắc nhở phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới về trình độ, về năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Muốn vậy phụ nữ phải cố gắng học tập, chủ động quyết tâm khắc phục khó khăn, phải tự tin, tự lực, tự cường, không nên tự ty, ngồi chờ Chính phủ giải phóng cho mình. Người khẳng định: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ mà người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương Đông”(5).

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên khắp cả nước, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống xâm lược Pháp và Mỹ, hàng triệu phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng vạn, hàng nghìn anh hùng, liệt sĩ là nữ mà tên tuổi của họ còn ghi mãi trong sử vàng dân tộc. Trong bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác nói: “Phó tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”(6).

Trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay, phụ nữ Việt Nam luôn vươn lên khẳng định vị trí người làm chủ xã hội, thiên nhiên và gia đình, bản thân. Trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế, xây dựng gia đình văn hóa mới đều có và ngày càng nhiều phụ nữ tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực, đạo đức con người mới. Vị thế và vai trò người phụ nữ ngày càng nâng cao. Trong gần 20 năm qua, liên tục có phó chủ tịch nước là nữ. Các nhiệm kỳ Đại hội Đảng luôn có nữ là ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và nhiều ủy viên Trung ương, bộ trưởng, thứ trưởng; tỷ lệ nữ trong quốc hội chiếm 25%… Trong phát triển kinh tế, lao động nữ chiếm tỷ lệ hơn 50% trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nữ tham gia nhiều ngành nghề mới mà trước chỉ dành cho nam giới. Ở lĩnh vực khoa học, công nghệ phụ nữ tham gia tới gần 40% và tỷ lệ các nhà khoa học nữ đạt hơn 6%. Đặc biệt trong giáo dục, đào tạo và y tế, cán bộ nữ chiếm tỷ lệ lớn và nhiều người có trình độ cao…

Trong những năm qua, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ luôn được thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Quan điểm của Người ngời sáng niềm tin vào tinh thần yêu nước và khả năng lao động sáng tạo của phụ nữ. Người đã khởi động, xây dựng, phát huy phong trào phụ nữ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần tiếp tục thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em.

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2

———————————-

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 204
(2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, Tr.96
(3). Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 37
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 294-296
(5). Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 97
(6). Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 148, 149

Nguồn: xaydungdang.org.vn
Vkyno (st)

Gặp Nhạc sĩ Lào viết bài hát hay nhất về Bác Hồ

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một trong những bài hát được yêu thích ở Lào bằng song ngữ Việt – Lào, do nhạc sĩ Lào sáng tác, thường được biểu diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, giao lưu nghệ thuật Việt Nam – Lào. Và đây cũng là bài hát về Bác Hồ hay nhất xứ Lào. Người sáng tác bài hát này là Nghệ sĩ Quốc gia, nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông (Buangeun Saphouvong).

nhac-sy-lao
Nhạc sĩ Bua- ngơn – Sa – phu- vông

Gặp nhạc sĩ, ông cho biết ông viết về Bác Hồ với tâm huyết của một người con ngưỡng vọng một lãnh tụ. “Bác Hồ là của chúng ta, không chỉ là Bác Hồ của nhân dân Việt Nam, mà cũng là của nhân dân Lào chúng tôi”, ông nói. Với ông, Bác Hồ là tấm gương sáng suốt đời cho các thế hệ người Lào học tập, nên khi viết xong bài hát về Người ông mới cảm thấy thanh thản.

Âm hưởng bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được ông sáng tạo giữa hai miền âm nhạc dân ca Việt Nam và dân ca Lào, theo nhịp lăm–vông, dành cho hợp xướng và đồng ca. Theo điệu nhạc, mọi người có thể múa lăm-vông tập thể theo phong tục Lào. Ca từ nhẹ nhàng như một lời kể, tâm sự đầy ngưỡng vọng, đề cao công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời”, một con người rất vĩ đại mà rất đỗi giản dị, cả nhân loại tiến bộ trên thế giới đều yêu kính Người. Chân lý của Người là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Buangeun đã dùng chủ đề này xuyên suốt bài hát.

Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” được Nghệ sĩ Buangeun sáng tác cách đây 5 năm, hưởng ứng phong trào sáng tác bài hát về Bác Hồ do Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào phát động. Ngay sau khi được công bố, bài hát đã được công chúng Lào trân trọng đón nhận, được bà con Việt kiều yêu thích; tại các hội diễn nghệ thuật toàn quốc Lào hay giao lưu của cộng đồng người Việt tại Lào đều được đem biểu diễn. Mỗi lần tham gia hội diễn, tiết mục thường đoạt giải cao. Năm ngoái, tại hội diễn kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác do Đại sứ quán Việt Nam tại Lào tổ chức, Đội văn nghệ Câu lạc bộ đồng hương Việt kiều Xiêng Khoảng đã đoạt giải đặc biệt xuất sắc. Không chỉ trong các hội diễn, mỗi lần sinh hoạt giao lưu, đón khách hay lễ hội, bài hát đều được đem biểu diễn.

Nghệ sĩ Bua Ngơn-Sa-phu-vông sinh năm 1949, là một nghệ sĩ nổi tiếng và đa tài, quê ở bản Tôn-muồng (Tonmuang), huyện Na-xai-thong (Naxaithong), thủ đô Viêng chăn (Vientiane).Ông vừa là một nhạc sĩ, lại vừa là ca sĩ nổi tiếng, không một người dân Lào nào không biết tên ông và những bài hát do ông sáng tác. Ông đến với công chúng Lào trước tiên bằng giọng hát đằm thắm, trẻ trung, mềm mại, say đắm lòng người. Đã sang lứa tuổi “lục tuần” (60 tuổi) nhưng giọng hát và phong cách biểu diễn của ông vẫn trẻ trung không có tuổi. Nhiều bài hát ông sáng tác đã trở thành những tác phẩm đi cùng năm tháng, được công chúng Lào yêu thích như “Nhớ ơn Đảng Lào”, “Quê mẹ ta”, “Si-phan-đon xinh đẹp”, “Yêu lắm Át-ta-pư”…

Tôi còn nhớ, một Lào kiều sống ở Mỹ hơn 30 năm, tìm đến ông chỉ để được nghe ông hát “Si-phan-đon xinh đẹp”, là mãn nguyện cho chuyến trở về. Hay một buổi giao lưu thắm tình Việt – Lào giữa các đồng chí lãnh đạo cấp cao hai nước, Phó thủ tướng Lào Sổm-sa-vạt-leng-sa-vát (Somsavat Lengsavad) đã hát tặng các đại biểu bài hát “Quê mẹ ta” của ông. Đại ý bài hát, dù ở đâu, nơi nào trên thế giới cũng không bằng quê mẹ, nơi ta được sinh ra, trưởng thành. Về quê ta,  ăn xôi chấm mắm cá ngon hơn mọi cao lương mĩ vị…

Một lợi thế dẫn đến thành công của bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” là Nhạc sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông đã có thời gian học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (từ 1966-1969), sau đó về công tác tại Đài Phát thanh Quốc gia Lào, sơ tán về Ninh Bình – Việt Nam cùng với Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1969- 1972), sau đó đi học tiếp ở Nga. Ông hiện là Thứ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa và Du lịch Lào. Dù ở cương vị nào, nghệ sĩ Bua-ngơn-Sa-phu-vông vẫn là người nghệ sĩ của nhân dân, gần gũi và giản dị.

Theo Quốc Khánh (VOV/Vientiane)

Thanh Huyền (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình (phần cuối)

Đầu năm 1948 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là Tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn; quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng.

Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10 – do Tướng Bằng Giang làm Tư lệnh Quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu Chủ tịch Khu 10, ông Trần Đức Trung Chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt Tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

a1. vuameo  p.cuoiKhu mộ Vương Chí Thành

 Bác Hồ cắt máu ăn thề và đổi họ, tên cho Thủ lĩnh Vương?

Sau cuộc gặp gỡ, ông Vương Chí Sình trúng đại biểu Quốc hội Khoá I (6-1-1946) và được giao trọng trách Chủ tịch Đồng Văn. Bác còn cử ông Võ Khải Ca – phái viên của Chính phủ, bên cạnh ông Vương làm Tham mưu Cố vấn giúp ông Vương quản lý mọi mặt ở địa phương. Đồng thời đổi lại tên châu Thường Kiệt, trả lại tên cũ là châu Đồng Văn cho đồng bào dễ nhớ, dễ gọi. Sau tham dự kỳ họp Quốc hội Khoá I, ông Vương còn ở lại Hà Nội chơi qua Giêng mới trở về Đồng Văn.

Về chính ngôn thì Việt Minh giao phó trách nhiệm Chủ tịch hành chính Đồng Văn cho ông Sình (gồm 4 huyện núi đá: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc). Nhưng theo thiết chế dòng họ của xã hội người Mèo thì cụ Vương Chính Đức vẫn là thủ lĩnh tối cao quyết định mọi vấn đề của người Mèo. Ông Sình chỉ là người thực thi nhiệm vụ theo ý kiến của thủ lĩnh.

Cần nhớ rằng, khi ông Sình có gia đình riêng ông chuyển ra nhà riêng ở Phó Cáo và mở cửa hàng tạp hoá để mưu sinh. Trước khi Nhật đảo chính Pháp không lâu, ông Thành có mua chức Lý trưởng Nam triều. Ông cũng không nằm trong bộ máy tham mưu của bố ông.

Sau ngày Hồ Chủ tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), lúc này cụ Đức lâm bệnh nặng khó bề qua khỏi. Cụ viết thư nhắn Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người lên Đồng Văn để nhận bàn giao lại vùng đất của người Mèo. Ông Mai Trung Lâm lại được cử lên để tiếp thụ ý kiến cụ Vương. Khi ông Lâm lên tới nơi, cụ Vương triệu tập thủ lĩnh (người cầm quyền các dòng họ) về Sà Phìn để bàn thảo.

Như trên đã nói, ông Sình dự họp với tư cách là người quản lý hành chính chứ không phải tư cách thủ lĩnh. Theo truyền thống của xã hội người Mèo không có tập tục cha truyền con nối. Ai giỏi nhất thì được tôn vinh làm thủ lĩnh – không phân biệt tuổi tác, nguồn gốc. Kết luận, cụ Vương giao ước với các dòng họ Mèo rằng: Ông Mai Trung Lâm là người Cụ Hồ cử lên thay mặt Cụ. Từ nay mọi việc nhất nhất phải nghe theo ông Lâm. Như vậy là cụ Đức bàn giao đất Đồng Văn cho ông Lâm chứ không phải ông Sình.

Ông Mai Trung Lâm là người hoạt động ở vùng Mèo nhiều năm nên hiểu rõ về phong tục, xã hội người Mèo. Ông không thể chỉ đạo, thống lĩnh lượng vũ trang Mèo một khi chưa được thủ lĩnh các dòng họ suy tôn, chấp thuận. Vì vậy ông giới thiệu ông Vương Chí Sình vào vị trí đó. Song cụ Đức không chịu, cụ nói rằng: ”Vương Chí Thành nó có tính khí đàn bà. Gặp việc lớn không dám quả quyết nên không giao được”.

Người dân tộc nói như dao chém cây, khó lòng thay đổi được. Đâm ra ông Lâm trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ông đành phải nhận. Song với vai trò, vị trí mới, sau khi tiếp thụ lệnh của cụ Đức, ông giao nhiệm vụ đó cho ông Vương Chí Thành. Nghĩa là ông vẫn là người chỉ huy cao nhất, là cấp trên của ông Thành, nhưng không đứng ra trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người Mèo. Phương án tế nhị, khôn ngoan của ông Lâm cuối cùng đã được cụ Vương chấp nhận. Trong không khí vui vẻ, phấn khởi ông Lâm kết nghĩa anh em với ông Thành ngay sau đó.

Ông Vương Chí Thành cũng vui vẻ nhận thêm trọng trách mới, nhưng ra điều kiện: ”Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong ông trả lại đất Đồng Văn cho Cụ Hồ”.

Mấy tháng sau, vào đầu năm 1947 cụ Vương Chính Đức từ trần ở tuổi 82. Lúc này ông Thành mới chính thức là người chỉ huy cao nhất của các dòng họ Mèo, đồng thời lãnh trách nhiệm cao nhất về hành chính ở Đồng Văn để lo toan công việc kháng chiến. Ông Vương Chí Sình có công lớn giải thoát cho thủ lĩnh các dòng họ Mèo bị thực dân Pháp giam ở Hỏa Lò năm 1936. Nhờ sự kiện đó, ông có uy tín với các thủ lĩnh và họ phải mang ơn cứu mạng của ông, nên ông được thủ lĩnh các dòng họ tôn vinh như vua.

Những tháng đầu năm 1947 và sau đó, tình hình thực tế diễn biến hết sức phức tạp. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tranh nhau lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo chúng: Đồng thời chúng gầm ghè giữ miếng và xâu xé lẫn nhau. Để ngăn chặn quân Pháp đánh vào các khu căn cứ cách mạng, Việt Minh đã tổ chức chiến dịch và một số trận đánh lớn. Ở địa phận Đồng Văn do Vương Chí Sình cai quản, các lực lượng thù địch vẫn không thể lấy được tấc đất nào. Đồng Văn đứng vững, trước sóng gió của cuộc chiến.

Để tạo thế ”ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương, đe nẹt lũ cướp nước và bán nước, Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là Cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ – tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở.

Nếu bọn nào đụng vào ông Thành cũng tức là đụng vào ông Hồ. Như trên đã nói, trong thời gian này Việt Minh đã mạnh lên, giáng những đòn đau vào quân Pháp, diệt ác trừ gian. Chiến cuộc đã chuyển dần sang thế chủ động có lợi cho Việt Minh. Vì vậy bọn chúng rất e nể, càng không dám quấy nhiễu, liều mạng đánh vào quân ông Sình, sợ Việt Minh trừng trị.

Sau nhiều năm cùng cụ Vương Quỳnh Sơn bôn ba trên những chặng đường công tác, tôi đã hỏi cụ ít nhất là 2-3 lần về sự kiện ông Thành gặp Bác Hồ ở Hà Nội để xem cụ có sự nhầm lẫn nào chăng? Đến nỗi có một lần cụ phát cáu với tôi: ”Tao là người trực tiếp có mặt ở đó. Nhầm thế nào được”. Rồi cụ mỉm cười đôn hậu: ”Nhiều người chẳng hiểu biết gì về người Mèo, nhưng lại hay bày đặt ra những giai thoại. Kể nhiều thành quen tai cứ ngỡ rằng có thật. Những tin đồn đó chỉ có tính chính trị trong lúc bấy giờ mà thôi. Người Mèo chúng tao có những luật tục rất đặc thù. Giải thích thì dài dòng lắm. Bác Hồ là vị lãnh đạo hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán dân tộc Mèo. Bác còn là người rất tinh tế, lịch lãm và sáng suốt lắm. Làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết. Chỉ có một câu nói của Bác mà sinh ra lắm chuyện rắc rối thế? Câu chuyện gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ông chú tao còn kể đi, kể lại với con cháu (chính xác như tao đã kể với mày) sau này như một niềm vinh dự, tự hào của dòng họ Vương”.

a2. vua meo p. cui

 Kỷ vật Bác Hồ tặng thủ lĩnh Vương hiện giờ ở đâu?

Trước hết, xin nói về kỷ vật. Theo cụ Vương, Bác Hồ tặng ông Thành 2 kỷ vật. Thứ nhất là chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo đó may bằng vải kaki ngoại dầy, chắc, màu vàng dịu chứ không vàng khè như màu quân phục của công an trước đây (khi chưa thay đổi mẫu mã và màu như hiện nay). Cuối thân áo có thêu dòng chữ: ”Hội Phụ nữ cứu quốc kính tặng”. Đường chỉ may trần theo ô quả trám có cải thêm sợi kim tuyến lóng lánh rất đẹp. Chiếc áo này Hội Phụ nữ tặng Bác, nhưng Bác dành tặng lại cho ông Vương Chí Thành.

Thứ hai là thanh đoản đao – chứ không phải thanh gươm như các bài viết từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng khi nghe chi tiết này. Theo mô tả của cụ Vương, thanh đoản đao dài chừng trên 60cm một ít. Nơi bản đao rộng nhất to gần bằng bàn tay người lớn trông giống như chiếc mã tấu, hay giống như binh khí của tướng lĩnh, anh hùng hảo hán. Cuối chuôi đao có đục một cái lỗ buộc sợi dây có gắn quả tua khá đẹp. Việc chế tác thanh đoản đao Bác giao cho Xưởng Quân giới của ông Trần Đại Nghĩa.

Theo yêu cầu của Bác, xưởng quân giới chọn loại thép xanh vừa cứng, vừa dẻo để rèn.Không biết cụ Vương có lý tưởng hoá lên, chỉ biết cụ bảo nó ánh lên chất thép xanh sáng loáng và cực kỳ sắc bén. Để 1 sợi tóc vào lưỡi đao thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm đôi. Vỏ đao được làm bằng gỗ tốt, có vân, không bị nứt nẻ bởi thời tiết và qua thời gian.

Sau khi hoàn thành mang lên để Bác kiểm tra, Người vén tay áo viết vào 2 mặt vỏ bao 8 chữ nho. Một bên là ”Tận trung báo quốc”, bên kia là ”Bất thụ nô lệ” và bên dưới có chữ ký của Bác. Nét chữ rắn rỏi, bay bướm rất đẹp.

Nếu bạn có dịp thăm Dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, Đồng Văn sẽ thấy những chữ đó được khắc vào phiến đá mặt tiền phần mộ của vua Mèo Vương Chí Thành. Ảnh của ông ở giữa, hai bên ảnh mỗi bên 4 chữ. Khu mộ của dòng họ Vương nằm ở bên phải cổng vào dinh thự, dưới bóng mát của rặng samu cổ thụ hàng trăm năm.

Điều tôi băn khoăn nhất là tại sao lại là thanh đao chứ không phải thanh bảo kiếm như mọi người thường nói? Điều này được cụ Vương giải mã như sau: Trong lịch sử hơn 3.000 năm chiến đấu chống các triều đại nhà Hán (Hán tộc) từ thời Chu Thương 1600 năm trước Công nguyên nhà Hán luôn đánh vào vùng Mèo để giành vùng đất đai màu mỡ lưu vực sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Ngưới Mèo đã nhiều lần bị nhà Hán bội ước, lừa gạt, nhiều phen thua trận. Giặc Hán còn sát hại, tru di các họ Mèo, giết hết đàn ông ở nhiều vùng đất chúng cai trị nhằm đồng hoá tộc người Mèo. Nhưng người Mèo vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và không chịu khuất phục.

Mối thù truyền kiếp đó đến mức cực đoan. Người Mèo thường làm nhiều điều đối ngược với người Hán: Hán dùng môi bạc, thìa bạc, Mèo dùng môi gỗ, thìa gỗ; Hán giỏi võ tay, Mèo giỏi võ chân (vì thế nên người Mèo múa khèn chứ không chỉ thổi, đặc biệt đôi chân rất dẻo). Thù sâu đến nỗi, khi chết đi người Mèo cho vào quan tài người chết một chiếc nỏ làm bằng ống trúc nhỏ bằng ngón tay (đặc biệt trong quan tài người chết không được cho một tí sắt nào vào) với ý nghĩa, khi xuống thế giới tổ tiên – nơi ”trời lạnh, đất tối”- ma người Mèo tiếp tục chiến đấu giết ma Hán.

Trong tục ngữ Mèo có câu: ”Lá chuối không là lụa, người Hán không là bạn”. Theo đó, vua chúa Hán dùng gươm, vua chúa Mèo dùng đao. Ở đây nếu có suy luận ra một chút thì ở chỗ, chứng tỏ Bác Hồ rất hiểu lịch sử dân tộc Mèo mới tặng đao chứ không phải là kiếm? Điều này với tôi là quá bí hiểm không thể tranh cãi được gì, chỉ biết ghi lại thôi.

Đầu năm 1949, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Quân cách mạng đã trưởng thành và lớn mạnh nhiều mặt. Các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt các khu căn cứ địa cách mạng của Pháp thất bại, tiêu biểu là chiến cuộc Đông Xuân 1947. Pháp xoay sang mở chiến dịch đánh vào Cao Bắc Lạng. Khi đã nắm rõ ý đồ của địch ta mở chiến dịch Sông Lô. Chiến dịch chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ 29/4 kéo dài tới 31/5/1949 mới kết thúc. Trong những năm trước đó tình hình diễn biến hết sức phức tạp. Pháp, Nhật, Tưởng và bọn thân chúng khi có cơ hội đã liên tục tấn công vào lực lượng của ta. Trong lúc loạn quân, loạn quan dải đất Đồng Văn vẫn giữ vững để khích lệ biểu dương lực lượng vũ trang Mèo và công lao Vương Chí Sình trong mấy năm song hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, Bác Hồ cử ông Võ Nguyên Giáp và ông Bùi Công Trừng mang tặng ông Vương hai kỷ vật đã nêu ở phần trên tại thị xã Hà Giang.

”Vậy kỷ vật ấy hiện nay ai giữ, cụ có biết không?”. Cụ bảo: ”Biết mà không biết”. Lạ. Cụ bảo ông chú Sình có 3 con trai: Vương Đình Phú, Vương Đình Quang và Vương Đình Thọ. Năm 1990, Thọ nó xin phép Nhà nước được xuất cảnh đi Canada, nó mang theo chiếc áo trấn thủ Bác tặng bố nó. Khi ông chú tao mất (1962) nó mới 2 – 3 tuổi. Năm nó đi định cư ở nước ngoài nó chừng 40 – 41 tuổi gì đó. ”Thế còn thanh đoản đao”?. Cụ cười buồn. ”Về cái vụ này tao có đôi ba lần hỏi cơ quan chức năng. Nghe nói có cán bộ lên Sà Phìn hỏi mượn hay xin gì đó, bảo là để trưng bày ở bảo tàng. Chẳng rõ là ai, vì lắm cán bộ quá. Cũng chẳng thấy trưng bày ở bảo tàng nào. Chịu”. Bây giờ cụ đã thành người thiên cổ. Liệu có còn ai tâm huyết đi tìm kỷ vật có giá trị lịch sử như vậy? Thật tiếc thay!

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 3) Thủ lĩnh Vương về Hà Nội – Hoàng Việt Hưng mắc kẹt

Theo đúng kế hoạch, khi xe ông Vương từ từ chậm lại trước cây số 17, một ông cụt tay cao lớn chặn xe hỏi lớn: ”Có phải xe của bác Vương không?”. Tài Hồ bảo đúng. Ông cụt tay đứng nghiêm chào: ”Tôi, Chu Phóng, Đại Đội trưởng Việt Minh nhận lệnh đón bác”.

Ông cụt tay đưa ông Vương vào một ngôi nhà dân gần đường. Đó là nhà một người Tày cơ sở cách mạng của ta. Khi ông Vương bước vào đã thấy ông Mai Trung Lâm ở đó. Ông Lâm đứng dậy chào hỏi, bắt tay rồi đưa ông Vương đến bàn nước. Sau khi hỏi sơ qua về sức khoẻ, ông Lâm hỏi: ”Bác có mang bàn đèn đi không?”. Ông Vương bảo có. ”Vậy thì bác lấy ra đi. Tôi tiêm thuốc cho bác hút”- ông Lâm vui vẻ nói. Tại đây, ông Vương chuyển sang xe của Việt Minh đi tiếp đến thị xã Tuyên Quang. Xe dừng, ông Lâm đưa ông Vương vào một ngôi nhà ven đường. Ông Trữ – Chủ tịch tỉnh Phú Thọ đã trực sẵn ở đó. Ông Lâm giới thiệu ông Trữ với ông Vương và bàn giao cho ông Trữ đưa ông Vương đi tiếp. Ông Trữ mang theo bảo vệ, sau khi thuốc nước xong xuôi, chia tay ông Lâm, ông đưa ông Vương qua Phú Thọ theo ngả đường về bến phà Trung Hà, Sơn Tây để về Hà Nội. Từ đây là khu vực an toàn không có trở ngại nào nữa. Về đến Hà Nội, ông Vương được ông Bùi Công Trừng – lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương đón tiếp, lo chỗ ăn nghỉ.

Quay lại sự việc Hoàng Quốc Chính phục kích nhằm vào ông Vương. Do biết được kế hoạch của Chính, Việt Minh đã nghi binh đánh lừa được Chính, đưa ông Vương đến cây số 17 an toàn. Chính rất điên tiết, liền nghĩ ra kế hiểm. Hắn cho quân bắn tin đến tai cụ Vương Chính Đức rằng Vương Chí Thành đã bị Việt minh giết chết. Nghe được tin này, cụ Vương bán tín bán nghi. Để ăn chắc cụ Vương giữ ông Hoàng Việt Hưng (do Việt Minh cử ở lại làm tham mưu, cố vấn cho cụ) quản thúc không cho đi đâu. Hoàng Việt Hưng giải thích rằng đó là âm mưu của Quốc dân đảng nói xấu, nhằm chia rẽ người Mèo với Việt Minh. Rồi ông cam đoan: ”Nếu Việt Minh giết ông Thành thì các ông cứ lột xác tôi”. Ông đề nghị cụ Đức cho người về Hà Nội để kiểm tra, xác minh cụ thể. ”Nếu thực sự ông Thành đã chết, tôi xin chết ngay trước mặt cụ”.

a1. vuameo  p.3Vua Mèo Vương Chính Đức trên Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Vấn đề đặt ra là làm thế nào về được Hà Nội và ai sẽ đi, bằng cách nào để tránh con mắt nhòm ngó của Chính? Ông Hoàng Việt Hưng giới thiệu với cụ Đức một người là điệp báo viên của tướng Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang tìm ngựa để về Hà Nội. Ông Hưng gợi ý cho hắn mượn ngựa, cử giám mã cưỡi ngựa đi cùng để chăm sóc ngựa. Bằng cách đó sẽ xuống được Hà Nội thực thi nhiệm vụ tìm gặp ông Thành. Ông Vàng Giống Sử chăn ngựa của cụ Vương được cử đi. Về Hà Nội, ông Sử đã gặp được ông Thành ở 12 Hàng Ngang – là hiệu bánh khảo nổi tiếng Hồng Thái – nơi ông Thành đang nghỉ. Ông bà Hồng Thái là bạn hàng thân thiết với ông Thành. Vợ ông thường cất bánh ở đây đưa lên cửa hàng tạp hoá của gia đình ông ở Phó Cáo để bán lẻ.

Gia đình ông bà Hồng Thái mở tiệc chia tay để ông Vương sang ở và làm việc với Chính phủ. Xong việc, ông Sử vội quay về báo tin cho cụ Vương đang sốt ruột chờ đợi ở nhà. Trước khi rời Hà Nội, Bác Hồ giao cho ông Sử 2 thùng trà ướp sen (đặc sản của đất Thăng Long) nói là quà của Chủ tịch biếu cụ Vương để ăn Tết Nguyên đán. Đồng thời kèm theo bức thư báo con trai cụ đã về Hà Nội bình yên cùng lời chúc Tết của Bác. Tới khi ông Sử về đến dinh thự gia đình cụ Vương ở Sà Phìn ông Hưng mới được giải oan.

Về Hà Nội chưa lâu, ông Vương biết tin Hoàng Quốc Chính và bè lũ quốc dân đảng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Vậy Việt Minh lấy lực lượng ở đâu và diệt Chính thế nào trong khi quân của hắn còn khá mạnh?

Để trả lời câu hỏi này cần diễn giải một chút. Số là, trong lực lượng của Quốc dân đảng ở vùng biên giới có 2 lực lượng theo 2 phái. Một phái ”tạp pí lù” không đựợc tổ chức chặt chẽ, không được huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trung thành ôm chân Chính để cướp bóc kiếm lợi lộc. Phái kia do Ba Viên cầm đầu là lực lượng lính khố đỏ từ bên kia biên giới mới về nước. Đội quân này có kỷ luật, chính quy, trang bị vũ khí đầy đủ và có năng lực chiến đấu. Được biết cụ Vương mạnh như thế mà đã ngả theo Việt Minh, thấy thái độ Ba Viên cũng quyết tâm theo Việt Minh về với Cụ Hồ, Mai Trung Lâm gợi ý: ”Ông về với Cách mạng là có lý và thức thời, góp công, góp sức giúp Hồ Chủ tịch cứu nước, cứu dân rất đáng được hoan nghênh, nhưng chẳng nhẽ về tay không hay sao?”.

Sau một hai đêm thức trắng suy nghĩ, Ba Viên cho gọi 2 quan một tên là Hải và Mai đến bàn việc. Phương án, kế hoạch binh biến, tác chiến được lên chi tiết thận trọng. Ba Viên cử Mai và Hải đến gặp Hoàng Quốc Chính bàn bạc phối hợp lực lượng đánh Việt Minh.

Được một lực lượng chính quy tham chiến còn gì mừng hơn. Chính khai chi tiết về lực lượng, dẫn Mai và Hải đi xem việc bố phòng, các địa điểm đóng quân và các hoạt động, canh gác của quân Chính. Cùng với dụng ý khoe lực lượng, Hải và Mai báo cáo đầy đủ với Ba Viên, đồng thời cùng nhau bàn kế hoạch diệt thật gọn quân Chính. Có thêm lực lượng, Chính đã mắc mưu Ba Viên nên chủ quan không cảnh giác. Chỉ một hai hôm sau, nhằm vào yếu tố bất ngờ, Ba Viên đã khởi sự, đưa quân đánh úp quân Chính. Đúng như kế hoạch, bè lũ Quốc dân đảng do Chính cầm đầu bị diệt gọn. Chỉ còn người duy nhất là Trịnh Đình Phách, người Tày ở Cao Bằng chạy thoát.

a2. Vua meo p.3Gia đình Thủ lĩnh Vương.

 Xung quanh chuyện thủ lĩnh Vương ở Hà Nội và cuộc hội kiến với Hồ Chủ tịch

Theo lệnh của Bác Hồ, ông Bùi Công Trừng đưa ông Vương đến biệt thự 51 – Trần Hưng Đạo. Biệt thự này là nơi ở của Cựu hoàng Bảo Đại khi ông này được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mời làm Cố vấn, cũng là nơi ông sống với bà Bùi Mộng Điệp – người đẹp Bắc Ninh – bà là thứ phi cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. (Số nhà đó từ 10-1957 là trụ sở Báo Văn nghệ, hiện nay là trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam).

Sau khi xem xét nội thất trong nhà, ông Vương đi vòng quanh nhà một lượt rồi không đồng ý ở đây. Ông cho rằng phố này vắng vẻ, ra vào dễ lộ mặt và không an toàn trong lúc ở Thủ đô còn rất phức tạp. Ông Trừng lại xin ý kiến của Bác, xếp ông Vương ở Phủ Chủ tịch cho ông yên tâm. Ông Vương từ chối và nói: ”Các ông không phải bận tâm sắp xếp nơi ăn nghỉ cho tôi, tôi tự lo được. Tôi về số nhà 12 Hàng Ngang – hiệu bánh khảo Hồng Thái là chỗ thân quen cho được tự do”. Rồi ông sốt ruột hỏi khi nào thì được gặp Cụ Hồ. Ông Trừng bảo: ”Bác đi đường sá xa xôi vất vả, cứ nghỉ vài ngày cho lại sức. Cụ Hồ lúc này bận nhiều công việc lắm.Tôi sẽ xin ý kiến Cụ rồi bố trí để bác được gặp vào thời gian sớm nhất”.

Vài hôm sau ông Vương bị ốm. Ông không phải đi bệnh viện mà Việt Minh cử bác sỹ đến thăm bệnh cho ông tại nơi ông đang ở. Bác sỹ vừa bắt mạch vừa dùng ống nghe, chẩn đoán bệnh rồi chào ông ra về. Một hai tiếng đồng hồ sau có một người mang đơn và thuốc đến cho ông. Anh ta tự giới thiệu tên là Lý Quang Hoa người của Việt Minh. Sau này ông Vương mới biết anh ta chính là Hoàng Văn Hoan (người đã làm tới chức Phó Chủ tịch Quốc hội phản bội chạy sang Trung Quốc sau này).

Trước khi nói về chuyện ông Vương hội kiến với Bác Hồ cần nhắc tới một nhân chứng trong cuộc gặp là ông Vương Quỳnh Sơn. Bà vợ cả của cụ Vương Chính Đức sinh cho ông 2 người con trai: Vương Chí Tình và Vương Chí Thành. Ông Vương Chí Tình có một con trai là Vương Đình Quý. Ông Quý chỉ có một con trai là Vương Quỳnh Sơn. Ông Sơn gọi ông Thành là ông chú. Thời gian này ông Sơn mới 18-19 tuổi. Việc ông có mặt ở Hà Nội là do Việt minh giới thiệu ông vào học Trường Quân sự (sau khi được cụ Vương Chính Đức đồng ý). Đó là trường Lục quân võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở phi trường (sân bay) Tông gần thị xã Sơn Tây.

Cùng học khoá I còn có 3 thanh niên Mèo nữa là ông Vương Quỳnh Anh – người anh cùng dòng họ với ông Sơn – cũng do Việt minh giới thiệu. Hai thanh niên Mèo khác là Dưong Mí Tường và Dương Mí Phụng do Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) giới thiệu. Việt cách không phá phách phản động như Việt quốc (Quốc dân đảng). Việt cách có thiện cảm và có xu hướng ngả theo cách mạng. Nhưng học đến giữa chừng thì Tường và Phụng đào ngũ chạy về theo quân Tàu Tưởng. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông Võ Nguyên Giáp, ông Giáp giao cho ông Trần Tử Bình là lãnh đạo của nhà trường dẫn anh em ông Vương Quỳnh Sơn vào trường. Ông Bình bố trí ông Sơn vào học lớp C.

Khi đã có lịch gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Thành có ý nguyện cho gặp cháu ông là Vương Quỳnh Sơn. Lúc ông Thành đến Phủ Chủ tịch, đã thấy Bác Hồ ở đó. Bác đi xuống bậc thềm đến tận nơi tươi cười bắt tay ông Thành, chào hỏi thân tình, rồi dẫn lên phòng khánh tiết Phủ Chủ tịch. Khi đã an toạ, Bác hỏi thăm sức khoẻ cụ Vương Chính Đức, gia đình ông Thành, quá trình ông đi đường, việc ăn ở trong những ngày qua có được chu đáo… Rồi trao đổi tình hình và việc giới thiệu ông làm đại biểu Quốc hội khoá I (6/01/1946).

Trước đó, trong Tuần lễ vàng 4/9/1945, ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, ông Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9 cân vàng. Nên nhớ rằng khi giành được chính quyền ngân khố quốc gia chỉ có 1,2 triệu đồng tiền giấy rách nát. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân đã đóng góp cho chính phủ 20 triệu đồng và 370kg vàng.

Theo ông Vương Quỳnh Sơn, bản tính ông Sình trung thực, đã hứa là làm, nhưng ông kiệm lời, ít nói. Phong cách tiếp khách của Bác Hồ thì lại luôn thân tình, gần gũi, sao cho người đối thoại cảm thấy không có sự phân biệt cao thấp, kẻ trên người dưới. Nhưng ông Thành vẫn có sự e ngại, rụt rè. Ông luôn miệng gọi Bác Hồ là Cụ. Có lẽ Bác Hồ thấy việc xưng hô như thế bất tiện và không được thoải mái, tự nhiên.Vì vậy đột ngột Bác hỏi: ”Ông tuổi gì?”. Vương Chí Sình nói: ”Thưa Cụ, tôi tuổi hợi”. Ngẫm ngợi đôi phút Bác nói: ”Vậy là ông hơn tuổi. Tôi phải gọi ông là quan bác”. Bởi theo tiểu sử Hồ Chí Minh, Bác sinh năm canh dần 1890, như vậy kém ông Sình 3 tuổi. Rồi Bác nói thêm: ”Từ giờ trở đi đừng gọi tôi là Cụ nữa. Chúng ta là anh em”. Câu chuyện đơn giản chỉ có vậy. Sau này ông Sình còn kể lại nhiều lần với con cháu ông.

Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Bác dặn dò, giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận. Sau khi tốt nghiệp trường Sỹ quan lục quân, Vương Quỳnh Anh được điều về Bộ Quốc phòng làm phái viên. Vương Quỳnh Sơn trở về Đồng Văn vận động thanh niên Mèo tham gia cách mạng, rồi thành lập lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1948, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn, và quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn Trưởng. Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10, do tướng Bằng Giang làm Tư lệnh quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu chủ tịch khu 10, ông Trần Đức Trung chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn Trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Bài hát hay nhất về đề tài Bác Hồ với tuổi thơ

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” là một trong những bài hát thiếu nhi hay nhất viết về đề tài Bác Hồ với tuổi thơ. Bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã là tình cảm kính yêu của thiếu nhi Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh được tác giả khắc sâu vào trong giai điệu và lời ca chân thành, tha thiết, với hình ảnh Hồ Chủ tịch bình dị và gần gũi.

Phong Nhã tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh năm 1924. Ông đã có nhiều tác phẩm viết về thiếu niên nhi đồng như “Cùng nhau ta đi lên”, “Kim Đồng”, “Nhanh bước nhanh nhi đồng”, “Đi ta đi lên”… nhưng “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” được đánh giá là bài hay nhất viết về Bác Hồ và thiếu nhi của ông.

bai-hat-tuoi-thoAi yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (Ảnh tư liệu)

Thời điểm khi sáng tác ca khúc này, Phong Nhã có nhiệm vụ đưa Đội Thiếu niên Tiền phong Nguyễn Thái Học đi đón và tiễn Bác nhân dịp Bác đến Quảng trường Ba Đình đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Lúc đó là đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi Phong Nhã mới 21 tuổi, là thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, cán bộ phụ trách thiếu nhi.

Trong không khí hân hoan, phấn khởi của các em nhi đồng khi được gặp Bác, Phong Nhã đã bị tác động mạnh mẽ, khơi gợi niềm cảm hứng sáng tác. Ông tâm sự: “Thấy đàn cháu đứng reo lên Hồ Chí Minh muôn năm, Bác nhoài người ra vẫy tay bằng cả hai tay, thân thiết như người ông thân yêu của đàn cháu. Giây phút ấy tôi cảm động lắm vì Bác là Chủ tịch nước, một lãnh tụ cách mạng lớn mà đối với các cháu thân mật thương yêu đến như vậy, tôi không thể tưởng tượng được… Từ đó tôi thấy cần phải có một bài hát về Bác”.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” đã ra đời từ ý tưởng đó. Tình cảm kính yêu dành cho Bác Hồ đã thôi thúc cảm hứng sáng tác của Phong Nhã, để rồi ông chỉ mất có một ngày để hoàn thiện tác phẩm: “Trong buổi sinh hoạt đội, anh phụ trách đố các em là: Ai yêu Bác Hồ nhất? Các em nói rằng nhi đồng yêu Bác Hồ nhất rồi cùng nhau hô: Bác Hồ yêu thiếu nhi nhất và thiếu nhi yêu Bác Hồ nhất… Tôi nảy ra ý tứ và cứ thế phát triển”.

Ca từ trong sáng, giản dị nhưng toát lên hình ảnh vị Chủ tịch kính yêu như một người ông, người cha thân thương, gần gũi đến lạ thường. Giai điệu bài hát như theo mãi tuổi thơ mỗi người từng nghe, từng hát, để rồi sau này lớn lên, họ lại hát cho thế hệ sau của mình nghe, truyền lòng kính yêu đối với Bác cho con cái họ, để Bác mãi tồn tại trong lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” nằm trong chùm tác phẩm được trao tặng “Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật” của nhạc sĩ Phong Nhã./.

Mỹ Ngọc/VOV – Trung tâm tin
Theo http://vov.vn
Thu Hiền (st)

Các câu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng

1. Đến thăm trường thiếu nhi miền Nam.

Nghe tin Bác đến thăm trường thiếu nhi miền Nam, các cô chú phụ trách trường tíu tít chuẩn bị, trang hoàng hội trường đón Bác.

Khi Bác đến, tất cả mọi người ùa ra đón Bác và đưa Bác đến hội trường đã được chuẩn bị cờ, hoa lộng lẫy. Nhưng Bác đề nghị dẫn Bác đến nhà bếp và phòng ngủ xem các cháu có được ăn no, ngủ ấm và chăm sóc chu đáo không. Sau đó Bác lấy ra một gói kẹo lớn chia đều cho các cháu. Đang nhìn các cháu ăn kẹo, Bác chợt nhận ra có 1 cháu đang đứng ở góc phòng, nét mặt buồn xo. Bác gọi lại hỏi:

– Cháu tên là gì? Vì sao lại đứng ở đây?

– Cháu tên là Tộ. Vì cháu phạm lỗi, tay bẩn không rửa nên các cô chú phạt, không cho nhận kẹo của Bác.

Bác cười bảo bạn Tộ đi rửa tay rồi chia kẹo cho Tộ, sau đó Bác dạy:

– Từ nay, cháu phải luôn giữ gìn đôi tay cho sạch nhé. Bàn tay con người rất đáng quý.

Bạn Tộ rất cảm động trước sự chăm sóc ân cần của Bác. Từ đấy, bạn luôn giữ đôi tay sạch sẽ và rửa tay sạch trước khi ăn.

2. Thiếu nhi Tiệp Khắc với Bác Hồ.

Trong một lần đến thăm nước Tiệp Khắc, Bác Hồ được tiếp một đoàn thiếu nhi Tiệp Khắc đến thăm Bác. Cháu nào cũng muốn đứng cạnh Bác nên đã chen chúc, tranh giành nhau rất dữ. Để ổn định trật tự, Bác đã nẩy ra sáng kiến hỏi các cháu:

– Các cháu thấy Bác gầy hay mập?

Các cháu trả lời:

– Bác gầy lắm ạ.

Bác lại hỏi:

– Vậy các cháu có muốn Bác gầy không?

Các cháu đồng thanh trả lời:

– Không ạ

Bác nói tiếp:

– Vậy các cháu đừng chen nhau hôn Bác nữa. Hãy cử 1 đại biểu đến hôn Bác thôi.

Sau câu nói của Bác, tất cả đều trật tự và cử bạn đội trưởng thay mặt tất cả đến hôn Bác. Bác ôm hôn bạn đội trưởng và cảm ơn các bạn thiếu nhi Tiệp Khắc. Còn các chú bảo vệ thì lại cảm ơn Bác vì Bác đã có sáng kiến duy trì được trật tự mà vẫn giữ được tình cảm yêu quý của thiếu nhi Tiệp Khắc với Bác Hồ.

3. Bể cá vàng dành cho các cháu.

Các bạn đều biết ngôi nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch rất đơn sơ nhưng khi thiết kế, Bác đã đề nghị các đồng chí xây cho Bác một hàng ghế ximăng bao quanh để các cháu thiếu nhi đến thăm Bác có chỗ ngồi. Thấy các cháu có chỗ ngồi nhưng lại không có gì để chơi, Bác lại đề nghị kiếm 1 bể cá để nuôi cá vàng cho các cháu đến thăm Bác có cá để xem. Thấy các cháu xúm xít xem cá trong bể, Bác rất vui. Hàng ngày, sau giờ làm việc, Bác thường cho cá vàng ăn. Bác để dành những mẩu bánh mì ăn sáng làm thức ăn nuôi cá. Được Bác chăm sóc, mấy con cá vàng trong bể ngày một lớn và phát triển thành cả một đàn cá. Mùa đông trời lạnh, Bác nhờ mấy chú làm một chiếc nắp đậy bể để bảo đảm độ ấm cho cá.
Mỗi lần đến thăm nhà sàn của Bác, khách thường thích thú ngắm bể cá, nhất là khách thiếu nhi.

4. Hãy để các cháu được làm chủ.

Trong năm 1961, có 1 sự kiện đáng nhớ của các cháu thiếu nhi. Bác Hồ cho 2000 cháu lần lượt đến vui chơi trong Phủ Chủ tịch. Bác dành phòng khách long trọng nhất trong Phủ Chủ tịch làm nơi cho các cháu triển lãm tranh ảnh của mình. Bác cho trang trí vườn hoa và mắc âm thanh tốt nhất cho các cháu ca hát, liên hoan văn nghệ. Các cháu đến Phủ Chủ tịch rất thích, được ca hát nhảy múa, nằm lăn ra bãi cỏ xanh mượt mát rượi.

5. Bác Hồ rất thương trẻ con.

Có lần đang ngủ đến gần sáng, lạnh quá Bác thức dậy. Gió vun vút đập vào cửa kính. Chợt Bác nghe thấy có tiếng trẻ em rao hàng dưới đường, Bác mở cửa ngó xuống nhìn em bé, nhìn mãi cho đến khi em bé đi khuất mới từ từ khép của lại.

Một lần khác, Bác cùng xem phim với cán bộ đồng bào sau Đại hội Chiến sĩ thi đua năm 1952. Buổi chiếu phim tan, mọi người lục đục kéo nhau đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên đưa tay ra lệnh trật tự và nói to:

– Xin hãy để các cháu bé ra trước kẻo lộn xộn các cháu sẽ lạc đấy.
Thế là những người lớn lại ngồi xuống chờ các cháu nhỏ ra hết mới đứng lên về.
Có lần Bác bảo đồng chí phục vụ Bác mang cháu nhỏ 5 tuổi đến chơi với Bác.

Đồng chí phục vụ dẫn con đến, lúc ấy Bác bận nên đã bảo đồng chí cho cháu ngồi chơi ăn kẹo. Khi Bác trở vào vẫn thấy 2 cha con ngồi chờ và không dám lấy kẹo ăn. Bác tỏ vẻ không bằng lòng, phê bình đồng chí:

– Ở nhà, cháu là con của cô chú, nhưng đến đây, cháu là khách của Bác. Chú phải có nhiệm vụ giúp Bác đãi khách chứ, ai lại để cháu bé ngồi chơi suông hay sao?

6. Quả táo Bác Hồ.

Năm 1946, Bác sang Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh đất nước. Thị trưởng thành phố Pari mở tiệc long trọng thiết đãi Bác Hồ. Khi ra về, Người lấy trên bàn một quả táo bỏ vào túi. Mọi người ngạc nhiên, tò mò trước cử chỉ ấy của Bác.

Ra đến cửa, Bác nhìn thấy rất đông bà con Việt Kiều và người Pháp đứng đón mừng Bác. Trông thấy một bà mẹ bế trên tay một cháu bé, Bác tiến lại gần, giơ tay bế cháu bé. Lúc ấy, Bác rút trong túi ra quả táo đưa cho cháu bé. Mẹ cháu bé và những người cùng đi rất cảm động trước tấm lòng yêu trẻ của Bác Hồ.

 

7. Bác Hồ với thiếu nhi Việt Nam

Mở đầu lá thư gởi cho nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu năm 1951, Bác Hồ kính yêu đã bộc lộ cảm xúc của mình:

“Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng” (1)

 Không chỉ yêu thương thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ còn khẳng định vai trò quan trọng của thiếu nhi đối với tương lai mai sau của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục các em không phải của riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Bác đã viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” (2). Tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới muốn tồn tại và phát triển bền vững, đều phải quan tâm bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng. Xác định được vai trò quan trọng của lực lượng hậu bị, Bác Hồ thường nhắc nhở các cấp, các ngành, đoàn thể phải làm tốt công tác chăm sóc và giáo dục thiếu nhi.

Với những người trực tiếp tham gia công tác thiếu nhi, Bác Hồ đã hướng dẫn cách giáo dục thiếu niên nhi đồng, trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc vào ngày 25-8-1950, Bác đã viết: “Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả… (3).

Trẻ em cần có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, thích gần gũi và biết yêu thiên nhiên, yêu loài vật; các em phải biết kính yêu và tôn trọng mọi người thân quanh mình như cha mẹ, ông bà, bà con chòm xóm và biết yêu Tổ quốc; biết nhận ra và có thái độ yêu ghét đúng đắn với những hiện tượng tốt, xấu quanh mình… Cụ thể hơn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền Phong 5-1961, Bác gửi đến lá thư và thiếu nhi cả nước đã đón nhận 5 lời dạy thiêng liêng của Người, xem như đó là mục tiêu để phấn đấu, là tiêu chuẩn để đánh giá đội viên tiêu biểu của Đội như:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh

Thật thà dũng cảm

Cũng ngay trong lá thư này, Bác ân cần nhắc nhở thiếu niên nhi đồng: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (4).

Hết lòng thương yêu và ân cần dạy bảo thiếu nhi, Bác Hồ rất tin tưởng xác định trách nhiệm trọng đại của thiếu nhi đối với tương lai đất nước. Trong thư gửi học sinh vào tháng 9-1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (5).

Ngày nay, thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và toàn xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đã được thể hiện bằng luật định. Nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi, thiếu nhi nước ta một lần nữa ôn lại lời dạy của Bác Hồ kính yêu trong những câu thơ mà Bác đã gởi cho các em vào tết trung thu năm 1952 thay cho lời kết của bài viết này.

 Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh. (6)

 

8. Những bức thư của Bác Hồ gửi các cháu thiếu nhi nhân ngày 1-6

Bác Hồ là người luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Những lời dạy và bài viết của Người dành cho lứa tuổi thiếu nhi được xem như là một trong những di sản vô giá của dân tộc và của thế hệ trẻ nước ta. Đó cũng chính là những quan điểm, phương hướng mà Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền đã, đang và sẽ lấy đó làm phương châm để giáo dục và rèn luyện thế hệ măng non của đất nước

Còn nhớ, tháng 7-1926, Bác đã có ý định gửi một số gương mặt thiếu nhi tiêu biểu của nước ta sang đào tạo ở Liên Xô (cũ). Trong một bức thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin, Người đã quan tâm đến một vấn đề rất nhỏ, Người hỏi các bạn Liên Xô rằng “Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét ?”. Chỉ vì lý do là thiếu nhi nước ta đã quen với khí hậu khô nóng. Quả thật, tấm lòng đó của Bác đối với tuổi thơ đã gây những xúc động đặc biệt cho mọi người.

Những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong hoàn cảnh “vận nước gian nan”, Người đã đau lòng trước cảnh “Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng/ Học hành, giáo dục đã không/ Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa/ Sức còn yếu, tuổi còn thơ/ Mà đã khó nhọc cũng như người già/ Có khi lìa mẹ, lìa cha/ Đi ăn ở với người ta bên ngoài...”. Và mong muốn lớn của Bác lúc bấy giờ là “Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng” … Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Người cũng có rất nhiều bài viết, ý kiến dưới rất nhiều hình thức đề cập đến tuổi thơ Việt Nam.

Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1-6-1950 đã đăng bức thư gửi thiếu  nhi  toàn  quốc  nhân  ngày 1-6. Bức thư với lời lẽ âu yếm, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc đã thể hiện được sự quan tâm, thương yêu hết mực của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với tuổi thơ. Mở đầu bức thư, Người viết : “Các cháu yêu quý! Ngày 1- 6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô…”. Và Người đã vạch rõ: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Người còn nêu ra những dẫn chứng cụ thể: “Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi làm thuê, làm mướn. Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến”. Đặc biệt, chúng ta vô cùng cảm động trước tình cảm, lời hứa và trách nhiệm của Người dành cho thiếu nhi: “Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng…”.

Một năm sau, vào ngày 29-5-1951, trên báo Cứu Quốc số 1828, Bác lại có “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi”. Cũng lời lẽ trìu mến, đầm ấm, thiết tha như năm nào, Bác đã gửi lời thân ái đến toàn thể nhi đồng cả nước. Bác nhắc đến ngày 1-5, Ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là Ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “Thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn có lời khuyên nhủ chí tình: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “Đó là tinh thần quốc tế”. Mà đã có tinh thần quốc tế thì khi lớn lên, thế giới sẽ không có áp bức, không có chiến tranh, không có xung đột mà chỉ có tình thân ái, giúp đỡ, giữ gìn và hưởng thụ hạnh phúc, hòa bình và dân chủ. Chao ôi, tình của Bác thật dạt dào cao cả, ý của Bác thì vô cùng sâu sắc, nhìn xa, thấy rộng. Cho đến bây giờ, những lời căn dặn, khuyên nhủ, dạy bảo của Bác năm nào cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi và giá trị thiết thực của nó.

Năm 1952, Bác không có thư cho Ngày Quốc tế Thiếu nhi, nhưng lại có thư Trung thu gửi các cháu thiếu nhi. Vẫn tình cảm vô cùng dạt dào nồng thắm ấm tình người, Bác thổ lộ tâm tình: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh“; Bác căn dặn các cháu : “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình“, để mãi mãi xứng đáng “Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Năm 1953, trên báo Nhân Dân số 115, từ ngày 1 đến 5-6-1953, Bác gửi đăng bức “Thư gửi nhi đồng trong nước và ngoài nước nhân ngày 1-6”. Lần này, Bác lại thể hiện tình thân ái, ân cần, trìu mến và thân thương nhất không chỉ đối với các cháu nhi đồng trong nước mà cả với “nhi đồng các nước bạn và nhi đồng thế giới”. Bác còn đặc biệt “gửi lời khen ngợi các cháu trong vùng bị tạm chiếm đã hăng hái tham gia kháng chiến”.

Ngày 7-5-1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Đất nước còn bộn bề khó khăn và công việc, Bác và Trung ương vẫn chưa về tiếp quản thủ đô, nhưng Bác vẫn không quên gửi bức thư ngắn cho các cháu nhi đồng toàn quốc nhân ngày 1-6. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác vẫn căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khoẻ và tiến bộ. Năm 1955, nhân ngày 1- 6, Bác liên tiếp có hai bài viết, một gửi cho các cháu và cán bộ các trường miền Nam (Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); một đăng trên báo Nhân Dân số 445, ra ngày 1-6-1955. Lần này, Bác lại vẫn nhắc đến vấn đề đoàn kết. Và trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ, Bác nhấn mạnh rằng: “Trước hết, các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé… giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác… giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”. Bác nhắc các cháu thiếu nhi các trường miền Nam phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”. Không những thế, Bác còn căn dặn các cô, các chú cán bộ “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình” để chăm nom, bồi dưỡng các cháu – những người chủ tương lai của nước nhà”. Bác nhấn mạnh rằng: “Ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng”, “Yêu quí các em” là phải lấy “tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quí của công”, và nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, “thành trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà”… và có “tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan”. Bác nhấn mạnh rằng: “8, 9 năm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức”, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Ba tháng trước lúc Người đi xa, cũng nhân dịp ngày 1-6, Bác đã có lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân cần “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” (báo Nhân Dân, số 5526, ngày 1-6-1969). Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”, Bác nhắc đến các cháu thiếu nhi ở hai miền Nam, Bắc thi đua làm nghìn việc tốt như thế nào, thành tích ra sao. Tuy nhiên, “vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”. Nói thế là Bác muốn nhắc đến vai trò và trách nhiệm của người lớn đối với các em. Người luôn cho rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…”. Bác kêu gọi mọi người: “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Chuẩn bị cho ngày đi gặp các cụ Các Mác, Lênin, trong Di chúc của mình, Người lại nói: “…Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ôi, lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng…

Nguồn: Báo Đồng Nai
Hoàng Giai tuyển của nhiều tác giả -NXB Thanh niên, 1999.
Theo http://phuly.edu.vn
Thu Hiền (st)

Quán triệt sáu điều Bác Hồ dạy về tư cách người Công an cách mạng trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa lực lượng Công an với nhân dân

GS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Giám Đốc Học Viện An Ninh Nhân Dân
Trong mối quan hệ với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”. Theo Người, “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước nói chung và đối với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công an cách mạng nói riêng. Việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quán triệt tư tưởng của Người về tư cách người Công an cách mạng vào công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các cấp ủy Đảng, đơn vị trong toàn lực lượng Công an nhân dân (CAND).

Trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII ngày 11/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 điều dạy về “Tư cách người Công an cách mệnh”. Sáu điều dạy của Bác đã trở thành di sản tinh thần vô cùng quý báu của lực lượng CAND, là cẩm nang, chuẩn mực đạo đức, tư cách, là mục tiêu rèn luyện, phấn đấu, công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ (CBCS) CAND.

Trong mối quan hệ với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”. Theo Người, “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân”. Công an “là một bộ phận của cả bộ máy Nhà nước nhân dân dân chủ chuyên chính tiến lên chủ nghĩa xã hội, công an phải bảo vệ dân chủ nhân dân và thực hiện chuyên chính với những kẻ chống lại dân chủ nhân dân”. Người còn luôn nhắc nhở công an “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì dù tài tình mấy cũng không làm gì được”. Và Người khẳng định: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn. Dân ta rất tốt. Gặp trường hợp nguy hiểm, nếu công an khéo léo thì được dân giúp ngay. Khéo ở đây không phải là cái lối khéo bề ngoài, mà khéo có nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”. Để đạt được điều đó, công an “phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”, “phải đi đường lối quần chúng”, “phải làm sao cho dân yêu mến, phải nhớ rằng dân là chủ, dân như nước mình như cá, lực lượng bao nhiêu là ở dân hết. Phải làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”. Công an phải gần dân, kính trọng và lễ phép với nhân dân.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lực lượng CAND đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, trưởng thành và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của Người cho những cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 600 CANDVT đạt nhiều thành tích trong công tác bảo vệ.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, sự nghiệp cách mạng nước ta đang đứng trước những thời cơ và vận hội lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”, trong đó, lực lượng CAND cũng không ngoại lệ. Trong lực lượng CAND vẫn có hiện tượng quan liêu, hách dịch, sách nhiễu người dân, thường được phản ánh ở một số lĩnh vực mà CBCS công an thường xuyên tiếp xúc với người dân, dễ xảy ra tiêu cực… Những tiêu cực đó đã và đang làm giảm lòng tin, gây nhiều bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và mối quan hệ giữa lực lượng công an với quần chúng nhân dân.

Do đó, việc nghiên cứu, quán triệt 6 điều Bác Hồ dạy để làm sâu sắc hơn, xây dựng mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa lực lượng CAND với quần chúng nhân dân là một yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Để làm tốt nhiệm vụ này, thời gian tới, lực lượng CAND cần chú ý thực hiện một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức cách mạng, chú ý hướng vào mục tiêu giáo dục ý thức vì nhân dân phục vụ cho CBCS.

Xác định giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho CBCS là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng lực lượng CAND thời kỳ đổi mới. Mục đích, yêu cầu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung vào việc bồi dưỡng, tăng cường bản lĩnh chính trị, xây dựng lòng tin vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và lợi ích của nhân dân, tận hiếu với nhân dân. Do vậy, nội dung giáo dục cần tập trung vào việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, trau dồi đạo đức cách mạng cho CBCS CAND. Trong đó cần thường xuyên chú ý xây dựng, bồi dưỡng và củng cố phương châm, lẽ sống đúng đắn cho mỗi CBCS; xây dựng ý thức phục vụ nhân dân, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên của nhân dân.

Giáo dục chính trị, tư tưởng trong CAND cần phát động và tổ chức thực hiện tốt các phong trào cách mạng. Đặc biệt là triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ” gắn với phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, Cuộc vận động “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”, các phong trào thi đua “Vì An ninh Tổ quốc”, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Trong chỉ đạo, cần từng bước đưa phong trào đi vào chiều sâu, chuyển trọng tâm chỉ đạo từ học tập, quán triệt, nâng cao nhận thức sang thực hiện, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hai là, mỗi CBCS CAND cần phải xây dựng, rèn luyện tác phong quần chúng, dân chủ.

Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới phong cách làm việc của lực lượng CAND, trước hết là tác phong quần chúng. Bác luôn nhắc nhở công an phải làm sao cho dân yêu mến, muốn vậy, CBCS công an phải “vào sâu trong quần chúng”, phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, chịu khó giúp dân trong mọi việc; đồng thời qua đó biết được dân đang suy nghĩ gì, cần cái gì, lo cái gì, muốn cái gì…, trên cơ sở đó mới “tìm mọi cách” để “thực hành những công việc nên làm, những công việc do Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”. Làm được như thế thì mới được dân tin, dân phục, dân yêu, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, “đi dân nhớ, ở dân thương”.

Theo Hồ Chí Minh, tác phong quần chúng là phải thực hiện “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” bám sát thực tiễn. Bác đòi hỏi CAND phải kết hợp “óc nghĩ” với “mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, nghĩa là phải thâm nhập thực tế, chịu khó quan sát, nghe ngóng để biết tình hình.

Tác phong quần chúng còn biểu hiện ở việc “gương mẫu trong lời nói, việc làm, thái độ sao cho người ta thấy rõ mình” là người công an cách mạng. Người chỉ rõ: “Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là con người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt”. Bên cạnh đó, cần xây dựng phong cách ứng xử có văn hóa của người CBCS công an, chấp hành nghiêm điều lệnh CAND, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân, trách nhiệm trong công tác.

Ba là, xây dựng cơ chế phát huy vai trò tích cực và quyền làm chủ của quần chúng trên lĩnh vực ANTT.

Kính trọng, lễ phép đối với nhân dân không chỉ dừng lại ở lòng tôn trọng, gần gũi, bảo vệ, chăm lo sự bình yên của nhân dân mà cần xây dựng cơ chế phát huy vai trò tích cực, quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực ANTT. Để đạt được điều đó, cần phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; đề cao vai trò giám sát, góp ý của nhân dân trong xây dựng lực lượng CAND; đồng thời tạo các điều kiện để khuyến khích nhân dân tham gia góp ý kiến, phê bình, xây dựng lực lượng CAND; xây dựng các cơ chế trong công tác để tiếp nhận, xử lý những thông tin phản ánh sự giám sát của nhân dân.

Phát huy vai trò giám sát của nhân dân là một kênh thông tin quan trọng, là con đường để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, phòng, chống quan liêu, tham nhũng. Sự giám sát đó cần được thực hiện dưới nhiều hình thức… Các ý kiến thể hiện sự giám sát của nhân dân cần phải được cơ quan, CBCS công an tiếp nhận, trân trọng và giải quyết kịp thời, thỏa đáng, tiếp thu ý kiến phê bình của nhân dân để khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót; khen thưởng, động viên kịp thời.

Bốn là, kiên quyết phê phán, đấu tranh với các biểu hiện quan liêu, hách dịch, sách nhiễu người dân của CBCS, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Làm công an không phải làm “quan cách mạng”, “phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh”, “chớ tự kiêu, tự mãn”. Bảo vệ ANTT là một lĩnh vực đặc thù, nên lực lượng CAND được Nhà nước trao cho một số quyền uy riêng biệt. Nếu CBCS công an không thấm nhuần đạo đức cách mạng, không rèn luyện quan điểm, tác phong quần chúng thì rất dễ xảy ra hiện tượng hách dịch, quan cách, sách nhiễu người dân, tham nhũng, tiêu cực… Bác căn dặn, CAND trong thực hiện nhiệm vụ “Phải triệt để sửa đổi tác phong mệnh lệnh, quan liêu, hống hách; phải gây quan hệ thật tốt giữa công an và nhân dân”.

Để phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hiện tượng quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật; tăng cường thực hiện nghiêm điều lệnh; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng nhanh, gọn để phục vụ nhân dân được tốt hơn, đồng thời cũng góp phần hạn chế, loại trừ các hiện tượng tiêu cực của CBCS trong khi làm nhiệm vụ.

Học tập, quán triệt 6 điều Bác Hồ dạy CAND, xây dựng mối liên hệ mật thiết giữa lực lượng công an với quần chúng nhân dân là một yêu cầu quan trọng cần phải được nhận thức đúng đắn và thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, góp phần xây dựng lực lượng “Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu”

N.V.N.

cand.com.vn
Vkyno (st)