Thư viện

Tháng Năm nhớ Bác

Trong những ngày Tháng 5 lịch sử, toàn Đảng, toàn dân ta nhớ về ngày sinh của Bác với tấm lòng trân trọng và vô cùng thành kính. Bác có công lao vô cùng to lớn, đó là đem lại sự hồi sinh cho dân tộc ta, đưa đất nước ta từ nô lệ, lầm than trở thành một đất nước độc lập, tự do. Nhưng cái to lớn và vĩ đại hơn cả là những tư tưởng đạo đức, nhân văn của Người mãi mãi tỏa sáng trong hành trình phát triển của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ.

Cả cuộc đời Bác Hồ kính yêu là cả cuộc đời “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nhớ về những kỷ niệm Ngày sinh của Bác khi Người còn sống, Người thường tránh việc tổ chức linh đình, tốn kém, tránh quà cáp, biếu xén. Nhiều năm trên cương vị là người đứng đầu Đảng cầm quyền – Đảng Lao động Việt Nam, người đứng đầu Nhà nước – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác thường tránh mọi người tổ chức ngày sinh của mình. Khi thì Bác đi thăm thương binh, khi thì Người đi sang nước bạn. Có năm sang nước bạn, bên nước bạn phát hiện ngày sinh của Người, liền tổ chức chúc tụng, chiêu đãi, tặng hoa. Bác đã bày tỏ rõ tâm tình của mình là không muốn được mọi người tung hô, chúc tụng. Có lần Bác còn yêu cầu đồng chí Bí thư riêng của mình là nhắc mọi người dành quà mừng tặng sinh nhật Bác để giúp cho các cháu thiếu niên, nhi đồng có thêm điều kiện học tập, vui chơi. Ngày 19-5-1969, năm cuối cùng trên cõi nhân sinh, Bác đến thăm một lớp tập huấn các tướng lĩnh cao cấp toàn quân. Khi Bác đến, cả hội trường lặng đi, sau đó tất cả các đồng chí có mặt đều đứng dậy hô vang những lời chào mừng Bác. Nhân Ngày sinh của Bác, đồng chí đồng bào chưa kịp đến chúc thọ Người mà Người lại chủ động đến thăm và chúc Tết Quân đội. Hôm đó, một sĩ quan cao cấp của quân đội ta đã ôm một bó hoa lên chúc thọ Người và hứa với Người là sẽ làm tròn nhiệm vụ của Đảng, của nhân dân giao cho như lời Người dặn… Bác đến như nhắn gửi lời của Người nhân Ngày sinh của Người về một nỗi niềm lớn lao, một tâm nguyện lớn lao miền Nam phải được giải phóng, mà muốn giải phóng miền Nam, bên cạnh sức mạnh toàn dân, chiến tranh nhân dân, thì lực lượng chủ công quyết định chiến thắng là Quân đội nhân dân. Miền Nam với Bác, như Người đã nói: Miền Nam trong trái tim tôi! Chừng nào miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất thì tôi ăn chưa ngon, ngủ chưa yên… Đồng chí Vũ Kỳ là người sống gần Bác đã kể lại câu chuyện Bác muốn đi thăm miền Nam năm đó. Chắc Bác đã linh nghiệm được điều mà mình khó có thể sống thêm được 5, 6 năm nữa, cho đến ngày giải phóng miền Nam, nên Người có ý định vào Nam. Bác đã dự liệu cho chuyến đi, các phương án đi, phương tiện đi, cách cải trang để đi… Nhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị đã không dám để Bác đi bởi vì Người không thật khỏe.

Cả cuộc đời, Bác sống trong giản dị, đạm bạc, kể cả những năm tháng trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, của dân tộc, thay cho cháo bẹ, rau măng của những tháng ngày cách mạng còn trong trứng nước là cơm trắng, cá kho, cà muối, canh cua, không có cao lương, mỹ vị. Tất cả Bác còn lo và dành cả cho đời, cho dân, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trên cương vị là Chủ tịch Đảng mười tám năm, Chủ tịch nước hai mươi bốn năm khi đi thăm hỏi đồng bào, đồng chí, ít khi Bác báo cho biết trước và càng không cho tổ chức tiếp đón linh đình. Bác thường đến thăm nom từ chỗ đơn giản nhất, chỗ ăn, nơi ở, như người cha đến thăm con…

Tháng Năm nhớ Bác, học ở Bác đức tính khiêm tốn, giản dị, hết lòng vì dân, vì nước, vì những mảnh đời còn gian nan vất vả. Tháng Năm, có ngày sinh của Đức Phật, có ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mùa sen thơm ngát. Đức Phật dạy sống phải chân chính từ ý nghĩ, sự ham muốn đến việc làm. Bác Hồ dạy chúng ta, lời dạy có gốc từ đạo Nho, đạo Phật, chắt lọc tinh hoa của tiền nhân: Phải cần, kiệm, liêm, chính. Chữ chính tưởng như dễ mà khó, bởi vì trong mỗi con người đều đang tồn tại những ham muốn mang nặng chủ nghĩa cá nhân – một thứ giặc ở trong lòng, chỉ cần thiếu chịu tu dưỡng là nó kéo ta nhào xuống hố, học cái tốt thì khó như leo núi, khó mới phải kiên trì học.

Tháng Năm nhớ Bác và học theo Bác. Bài học thiết thực và hiệu quả nhất là nói đi đôi với làm, bởi vì sinh thời Bác đã dạy: Đối với các dân tộc phương Đông, một tấm gương sống có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Bác đã sống là một tấm gương trong sáng và mãi mãi sáng trong soi cho mỗi người con theo Bác, theo con đường mà Người đã chọn cho Đảng ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta./.

Theo vfu2.edu.vn
Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên toàn thế giới

Sáng 19/5 chính quyền tỉnh Na-khon Pha-nôm (Thái Lan) đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm lần thứ 116 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Làng hữu nghị ở Na-khon Pha-nôm. Đông đảo các quan chức tỉnh và hàng trăm bà con Việt kiều từ các tỉnh Na-khon Pha-nôm, U-bôn, Mục-đa-hản và Sa-kon Na-khon đã tới dự.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó tỉnh trưởng Na-khon Pha-nôm Thi-la-đệt Vông-lạn đã ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng về đạo đức, thuỷ chung trong sự nghiệp phát triển đoàn kết, hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia trong khu vực, nhất là trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan. Ông cũng kêu gọi bà con Việt kiều tăng cường đoàn kết và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng mối quan hệ hữu nghị, sự hiểu biết giữa Thái Lan và Việt Nam.

Chiều cùng ngày tại tỉnh U-đon, cộng đồng bà con Việt kiều đã tổ chức lễ cắt băng khánh thành khu Di tích Bác Hồ tại làng Nọng Ổn. Đông đảo các quan chức địa phương do Phó Tỉnh trưởng U-đon, Phít-tha-da Xủn-thon Vi-phạt dẫn đầu đã dự lễ khánh thành.

Phát biểu tại buổi lễ cắt băng khánh thành khu di tích trên, đồng chí Phạm Quang Vinh, Đại biện lâm thời đại sứ quán ta tại Thái Lan đã nêu bật công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt đời đấu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng đối các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Thay mặt cộng đồng bà con Việt kiều, đồng chí Phạm Quang Vinh gửi lời cảm ơn tới chính quyền địa phương tỉnh U-đon đã tạo điều kiện cho cộng đồng Việt kiều xây dựng khu Di tích Bác Hồ và coi đây là một biểu tượng về mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Thái Lan.

Khu di tích Bác Hồ tại làng Nọng Ổn, cách trung tâm tỉnh U-đon khoảng 15 km, là nơi Bác Hồ đã sống và hoạt động từ năm 1929 với bí danh ông Thầu Chín.

* Pháp:

Cùng ngày, Đại sứ quán nước ta tại Pháp đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm lần thứ 116 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như đã thành truyền thống từ nhiều năm nay, Đại sứ nước ta tại Pháp Nguyễn Đình Bin, Đại sứ nước ta bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Vũ Đức Tâm cùng đông đảo cán bộ, nhân viên sứ quán và các cơ quan đại diện của Việt Nam tại Pháp đã đến đặt hoa và thăm lại căn nhà số 9 ngõ Công-poanh ở thủ đô Pa-ri, nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở trong thời gian sống và hoạt động ở Pháp.

Tiếp đó, Đại sứ Nguyễn Đình Bin và Đại sứ Vũ Đức Tâm cùng đoàn đã đến đặt lẵng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công viên thành phố Mông-tơ-rơi. Tại đây, Phó Thị trưởng, bà Tê-re-dơ Phrăng-xoa cùng Giám đốc Bảo tàng lịch sử sống Gin-be Sun và đông đảo quan chức của thành phố, cán bộ và nhân viên của bảo tàng cùng đặt lẵng hoa tưởng nhớ Hồ Chủ tịch.

Nói chuyện với Đại sứ Nguyễn Đình Bin và đoàn, bà Tê-re-dơ Phrăng-xoa và ông Gin-be Sun cho biết thành phố Mông-tơ-rơi và Bảo tàng lịch sử sống rất tự hào được chọn là nơi đặt tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi đó là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân Pháp và Việt Nam nói chung, giữa những người cộng sản Pháp và Việt Nam nói riêng.

Nhân dịp này, Đại sứ Nguyễn Đình Bin đã chân thành cảm ơn lãnh đạo cùng tất cả quan chức, cán bộ của thành phố Mông-tơ-rơi và Bảo tàng lịch sử sống trong thời gian qua đã góp phần đáng kể vào việc tăng cường và thắt chặt quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, chăm sóc Không gian Hồ Chí Minh giữ mãi màu xanh, trở thành một trong những điểm được nhiều người tham quan.

Trước đó, sáng cùng ngày, Đại sứ Nguyễn Đình Bin cùng toàn thể cán bộ Đại sứ quán và các cơ quan đại diện của Việt Nam tại Pháp đã dâng hương lên bàn thờ Hồ Chủ tịch trong niềm xúc động và tình cảm sâu sắc của những người con tưởng nhớ đến công lao của vị cha già dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại đã đem lại tự do, độc lập cho toàn dân tộc Việt Nam.

* Cu-ba:

Sáng 19/5, Viện Cu-ba Hữu nghị với các Dân tộc (ICAP) và Hội Hữu nghị Cu-ba-Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Cu-ba, đã tổ chức trọng thể lễ đặt vòng hoa tại khu tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Công viên Hòa bình, quận Quảng trường, thủ đô La Ha-ba-na, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 ngày sinh của Người (19/5/1890- 19/5/2006) và lần thứ 111 ngày hy sinh của vị Anh hùng dân tộc Cu-ba Hô-xê Mác-ti (19/5/1895-19/5/2006).

Phó chủ tịch ICAP Bu-ê-na-vên-tu-ra Rê-dết A-cô-xta, đại diện ICAP, Hội Hữu nghị Cu-ba -Việt Nam, cán bộ nhân viên Đại sứ quán và các cơ quan đại diện khác của Việt Nam tại Cu-ba, cùng đông đảo tập thể giáo viên và học sinh trường phổ thông cấp II Um-bec-tô Blat, đã tham dự tại buổi lễ trọng thể này.

Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Cu-ba -Việt Nam Pê-đrô Pa-la-xi-ô đã phát biểu nêu bật tiểu sử và qúa trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Pê-đrô nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của ngày 19/5, ngày sinh của Lãnh tụ cách mạng Việt Nam và cũng là ngày vị Anh hùng dân tộc Cu-ba Hô-xê Mác-ti ngã xuống trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chống bọn thực dân Tây Ban Nha. Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cu-ba-Việt Nam ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ phong kiến và ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông-Nam Á. Ông khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng chiến thắng Điện Biên phủ lịch sử và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước, đưa non sông về một mối.

Ông đánh giá cao những thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X vừa qua tổng kết và đúc rút kinh nghiệm, đồng thời ca ngợi mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Cu-ba và Việt Nam đã được Hô-xê Mác-ti, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dày công vun đắp.

Thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đại sứ nước ta tại Cu-ba Phạm Tiến Tư đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với Đảng, Chính phủ và nhân dân Cu-ba đã tận tình giúp đỡ nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Đại sứ nhắc lại lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc còn sống rằng “Cu-ba và Việt Nam là hai anh em sinh đôi” và câu nói bất hủ của Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô khi cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang ở trong giai đoạn quyết liệt “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến cả dòng máu của mình”.

Trước khi buổi lễ kết thúc, những người tham dự đã hô vang khẩu hiệu nổi tiếng trước đây “Cu-ba, Việt Nam đoàn kết, nhất định thắng”.

Trước đó, ngày 18/5, tập thể giáo viên và học sinh Trường tiểu học “Bác Hồ” ở quận Pla-gia, thủ đô La Ha-ba-na, đã tổ chức triển lãm tranh do học sinh của trường vẽ ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và vị Anh hùng dân tộc Hô-xê Mác-ti. Các em học sinh đã phát biểu, trình bày những hiểu biết của mình về hai vị lãnh tụ cách mạng của Việt Nam và Cu-ba. Cùng ngày, đông đảo các cán bộ cơ quan đại diện Việt Nam tại Cu-ba, đại diện sinh viên và Việt kiều đang học tập và sinh sống tại Cu-ba, đã dự lễ kỷ niệm lần thứ 116 ngày sinh của Bác và nghe Đại sứ kiêm bí thư Đảng ủy Phạm Tiến Tư thông báo về kết qủa của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.

* Anh:

Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh 19/5 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại sứ quán nước ta tại Anh đã tổ chức dâng hoa tưởng niệm trước Biển di tích kỷ niệm Bác tại tòa nhà Niu Di-lân, trụ sở của Đại sứ quán Niu Di-lân ở trung tâm thủ đô Luân Đôn.

Đại sứ Trịnh Đức Dụ và toàn thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán, các cơ quan đại diện như Thương vụ, Thông tấn xã, Bảo Việt, Hàng không Việt Nam, Hội người Việt Nam tại Anh và một số bà con Việt Kiều, đã tham dự lễ kỷ niệm sinh nhật Bác.

Tham dự buổi lễ còn có Đại sứ Niu Di-lân Giô-na-than Hăn và Thư ký Hội hữu nghị Anh-Việt Len An-đi-xơ. Đại sứ Giô-na-than Hăn đã bày tỏ vui mừng và vinh dự được tham dự lễ dâng hoa kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tòa nhà của Đại sứ quán Niu Di-lân. Ngài Giô-na-than Hăn coi tấm Biển di tích kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên bức tường của Đại sứ quán Niu Di-lân là một vinh dự lớn đối với Niu Di-lân và là biểu tượng của quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa Niu Di-lân và Việt Nam.

Phát biểu tại lễ dâng hoa kỷ niệm, Đại sứ Trịnh Đức Dụ đã điểm lại công lao to lớn của Bác đối với dân tộc và chặng đường gian khổ mà Người đã phải trải qua trong những ngày bôn ba tìm đường cứu nước. Đại sứ kêu gọi toàn thể cán bộ nhân viên Sứ quán và các cơ quan đại diện cố gắng phấn đấu, tu dưỡng theo tư tưởng và lời dạy của Bác.

Toà nhà Đại sứ quán Niu Di-lân hiện nay được xây trên nền khách sạn Can-tơn, nơi Bác đã làm phụ lò năm 1913 và phải nướng gạch bọc vào báo để ủ ấm mình trong những đêm Đông lạnh giá nơi “xứ sở sương mù”. Năm 1960, khách sạn Can-tơn đã bị phá bỏ để xây dựng tòa nhà Niu Di-lân. Được sự đồng ý của Đại sứ quán Niu Di-lân, năm 1990, Hội hữu nghị Anh-Việt và Hội người Việt Nam tại Anh đã đề nghị Chính phủ Anh cho gắn tấm Biển kỷ niệm Bác trên bức tường phía ngoài tòa nhà. Tấm biển hình ô-van nền xanh da trời, có dòng chữ màu trắng bằng tiếng Anh “Hội Anh-Việt. Nơi đây, Hồ Chí Minh 1890-1969, Người sáng lập ra nước Việt Nam đã làm việc năm 1913”./.

BTK-TTXVN
cpv.org.vn

Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên sân khấu

Hình tượng Hồ Chủ tịch đã được các loại hình văn học – nghệ thuật khai thác nhiều ngay từ khi Người còn sống. Nhưng phải tới năm 1976, lần đầu tiên hình tượng Bác mới được phản ánh trên sân khấu. Đó là vở “Người công dân số một” do Nhà hát Cải lương Trung ương thể hiện (sáng tác của Vũ Đình Phòng và Hà Văn Cầu). Kể từ đó, hình tượng Bác Hồ xuất hiện rất nhiều trên sân khấu, để lại nhiều ấn tượng trong lòng khán giả và làm nên tên tuổi của nhiều nghệ sĩ. Ngày 17-5-2012, tại Bảo tàng Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn Phát huy Văn hóa Dân tộc phối hợp với Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức hội thảo: “Nghệ thuật sân khấu thể hiện hình tượng Bác Hồ”.

Cảnh trong vở ca kịch Hồ Chí Minh – Hồi ức màu đỏ

Tiếp theo “Người công dân số một”, vở “Đêm trắng” (Lưu Quang Hà sáng tác, Đoàn kịch Trường Sơn biểu diễn), đã đem lại tiếng vang cho sân khấu. Năm 1984, vở “Lịch sử và nhân chứng” (Hoài Giao sáng tác) Đoàn kịch Hải Phòng biểu diễn và vở “Người không thể chết” của Đoàn kịch Tổng cục Chính trị cũng nối tiếp ra đời. Cũng trong thời kỳ đầu, nghệ sĩ Văn Tân đã mạnh dạn sáng tác và biểu diễn được một số hoạt cảnh có hình tượng Bác Hồ trên sân khấu khá thành công và cho đến giờ phút này nghệ sĩ Văn Tân đã có tới hơn ngàn xuất diễn.

Từ 1990, khi Unesco tôn vinh Bác và trọng thể kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người thì ngành sân khấu cũng rộ lên phong trào sáng tác và biểu diễn đề tài Hồ Chủ tịch. Các bộ môn sân khấu từ kịch nói đến tuồng, chèo, dân ca kịch đều có tác phẩm thể hiện hình tượng Bác Hồ, mặc dù đây là một công việc vô cùng khó khăn bởi xây dựng hình tượng Hồ Chủ tịch không chỉ đòi hỏi giống về ngoại hình mà còn phải giống về cốt cách, phong cách và tâm hồn của một vị lãnh tụ vĩ đại mà toàn dân tộc đang thành kính tôn thờ.

Rất mừng là lãnh đạo của Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới việc sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ trên sân khấu. Hầu hết các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đều đến dự, buổi khai mạc “Liên hoan biểu diễn hình tượng Bác Hồ trên sân khấu” (do Viện Sân khấu và Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 18-5-1991 với sự tham gia của các nghệ sĩ tên tuổi như Sỹ Hùng, Tiến Thọ, Tiến Hợi, Đức Trung, Văn Tân) diễn liên hoàn năm trích đoạn hay nhất có hình tượng Bác Hồ. Sự thành công của liên hoan đã khiến cho các đồng chí lãnh đạo ở TP. Hồ Chí Minh thời đó quyết định mời các đoàn vào biểu diễn nhân kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2-9-1992. Chương trình đưa vào Nam được hoàn chỉnh thêm một bước nữa và được mang tên “Hình tượng Bác Hồ qua các thời kỳ lịch sử”, trong đó gồm 5 trích đoạn trong các vở: “Người công dân số 1”, “Giai điệu tháng 5”, “Lịch sử và nhân chứng”, “Đêm trắng”, và hoạt cảnh “Bác Hồ với anh hùng dũng sĩ miền Nam”.

Cuộc vận động sáng tác về đề tài Hồ Chủ tịch cũng đã đem lại kết quả nhất định. Ngành Chèo cũng đã mạnh dạn sáng tác hình tượng Bác Hồ. Đoàn chèo Thái Nguyên có vở “Đêm trăng huyền thoại” và vở “Vần thơ thép” của Trần Đình Ngôn do Nhà hát Chèo Việt Nam biểu diễn khá thành công… Và gần đây lại xuất hiện vở “Hồ Chí Minh – Hồi ức mầu đỏ” của Nguyễn Quang Vinh do Nhà hát Ca kịch Huế biểu diễn. Hai vở diễn đã gây được tiếng vang trong công chúng, đều giành được giải cao trong hai đợt hội diễn sân khấu toàn quốc, mặc dù là Chèo và ca kịch Huế là hai bộ môn nghệ thuật dân tộc rất khó trong việc thực hiện đề tài lãnh tụ, nghĩa là ngoài việc tạo hình cho giống nhân vật chính là Bác Hồ còn phải hát chèo, hát ca Huế, nếu không hợp lý, không tinh tế thì sẽ xảy ra phản cảm, gây ra hiệu ứng ngược!.

Tất cả những thành công nói trên đều thể hiện tấm lòng của anh chị em nghệ sĩ sân khấu đối với Bác Hồ kính yêu, đồng thời cũng cho thấy nhân dân ta từ Bắc chí Nam đều thiết tha được nhìn thấy Bác, dù chỉ qua hình tượng do các nghệ sĩ tài năng sáng tạo trên sân khấu. Điều đó đặt ra cho những người hoạt động sân khấu một nghĩa vụ cao cả là tiếp tục sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ. Nghĩa là thông qua hình tượng Bác Hồ, thông qua sân khấu mà nói lên cho được tư tưởng đạo đức của Bác Hồ. Như vậy cũng là thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” như Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động.

Qua mấy nét khái quát về quá trình sáng tác và biểu diễn hình tượng Bác Hồ trước đây, chúng ta có thể suy nghĩ và rút kinh nghiệm: Tục sáng tác và biểu diễn đề tài đặc biệt này theo nhiều hình thức, như kịch tư liệu lịch sử theo kiểu “Người công dân số một”, “Đêm trắng”, “Lịch sử và nhân chứng”, “Vần thơ thép”, “Hồ Chí Minh – Hồi ức mầu đỏ”… Hoặc chỉ phát triển theo hình thức (tableau) như trong “Bài ca Điện Điên”, “Không còn đường nào khác”, “Sáng mãi niềm tin”, kể cả làm hoạt cảnh như trong “Bác Hồ với các anh hùng dũng sĩ miền Nam”. Và diễn xuất thì học tập và phát triển từ sự thành công của các nghệ sĩ đi trước. Từ kinh nghiệm ấy chắc chắn các thế hệ nghệ sĩ tiếp theo sẽ có được những kinh nghiệm quý để sáng tạo ra những tác phẩm hay, những hình tượng đẹp về Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Làm thế nào để đưa được tư tưởng Hồ Chí Minh vào sâu rộng trong nhân dân một cách tốt nhất, đáp ứng sự đòi hỏi của nhân dân là được chiêm ngưỡng hình ảnh Bác có chiều sâu hơn, giống hơn, sống động hơn và xúc động hơn trên sân khấu.

GS. HOÀNG CHƯƠNG
daidoanket.vn

Nhớ Bác Hồ qua Lễ hội Làng Sen

Lễ hội Làng Sen năm 2012 với chủ đề “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và ca ngợi Đảng, quê hương đất nước” là hoạt động có ý nghĩa nhân kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2012) và hướng tới kỷ niệm 55 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ Nhất (14-6-1957 – 14-6-2012).

Tái hiện hình tượng Bác Hồ trên sân khấu

Lễ hội làng Sen năm 2012 được tổ chức từ 17-5 đến 19-5, nhằm tôn vinh các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh – người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất. Không gian lễ hội trải dài từ TP. Vinh đến huyện Nam Đàn và các huyện, thị xã của tỉnh Nghệ An. Địa điểm tổ chức lễ hội là Quảng trường Hồ Chí Minh, Nhà hát dân ca, rạp 12-9; xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và các huyện, thị xã.

Theo thông tin từ Ban tổ chức, trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức như: Lễ dâng hoa trước Tượng đài Bác Hồ tại Quảng trường Hồ Chí Minh; Lễ dâng hoa, dâng hương báo công với Bác tại nhà tưởng niệm Bác ở Khu di tích Kim Liên; Lễ rước ảnh Bác Hồ qua các thời kỳ từ nhà Tưởng niệm Bác tại Khu di tích Kim Liên ra sân vận động Làng Sen; Liên hoan tiếng hát Làng Sen và thi người đẹp Lễ hội Làng Sen tại TP. Vinh; Chiếu phim về đề tài Bác Hồ tại TP. Vinh và Kim Liên – Nam Đàn; Trưng bày triển lãm về đề tài Đảng, Bác Hồ và Lễ hội Làng Sen tại Kim Liên (Nam Đàn); Biểu diễn nghệ thuật tại Quảng trường Hồ Chí Minh; Tham quan các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên – Nam Đàn; Tổ chức giải bóng chuyền Lễ hội Làng Sen 2012 tại Kim Liên – Nam Đàn; Tổ chức các hoạt động thể thao và hội trại của các xã, thị trấn huyện Nam Đàn…

Lễ tổng kết Lễ hội Làng Sen 2012 vừa diễn ra tại Rạp 12 – 9, TP. Vinh vào 14h00 ngày hôm nay (19-5).

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

“Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”

Đưa tiễn một cuộc đi xa. “Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi. Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”. Thế rồi con tàu càng đi, càng bồi hồi nhớ nước. “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ. Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương…”. Chao ôi, sóng quê hương? Biển, trong cảm thức của người Việt rất mãnh liệt và sâu lắng. Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ….

Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó. Đường biên giới của ta là bất khả xâm phạm”! Những dòng chữ đầy ắp cảm xúc này được trích từ tác phẩm “Thiên nhiên Việt Nam” của GS. Lê Bá Thảo – nhà khoa học địa lý hàng đầu của Việt Nam, xuất bản năm 1990. Từ những ý tưởng ấy nếu biết chân thành cảm thụ, bền tâm suy ngẫm sẽ hiểu ra rất nhiều điều. Từ lớp vỡ lòng, con em chúng ta cần phải được dạy điều đó để từ tờ giấy trắng tâm hồn tuổi thơ đã đậm tô rõ nét niềm tự hào về biển trời của Tổ quốc. Có như vậy thì mới thấm thía được với cảm nhận “sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”.

Hơn năm trăm năm trước, 1473, theo sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, vua Lê Thánh Tông đã cảnh báo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy: “Nếu người dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di ”. Lùi xa về mấy trăm năm trước nữa, giữa thế kỷ XII, cũng sách trên ghi: năm 1161, “Lý Anh Tông sai Đô tướng Tô Hiến Thành và Phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa”. Năm 1171, vua “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa, gần thế nào”. Năm 1172, “mùa xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về”. Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước?

Đừng quên là nhiều trận quyết chiến chiến lược đánh tan giặc ngoại xâm đã từng xảy ra nơi cửa biển khi mà những đạo binh xâm lược luôn dùng đường biển để tiến vào nước ta: trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán do Vạn vương Hoằng Tháo cầm đầu và chết trên biển. Bình về chiến công này, Ngô Thì Sĩ viết: “một vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”! Quả đúng như thế.

Trận quyết chiến chiến lược của quân dân đời Trần tháng ba năm Mậu Tí (1288) dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên cũng diễn ra trên khúc sông Bạch Đằng lịch sử này. Trong “Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện” chép: Kịch chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu” tức là từ sáng đến chiều, đã nói lên tính khốc liệt của cuộc chiến. Tướng giặc Ô Mã Nhi từng khoác lác hăm dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời; ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” để rồi cuối cùng bị tóm cổ tại ghềnh Cóc, sông Chanh, một nhánh chảy vào sông Bạch Đằng, nơi Hưng Đạo Vương đã dàn thế trận với những bãi cọc đâm thủng thuyền giặc. Rõ ràng là, trong những trận quyết chiến chiến lược đó, thủy binh luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong tư duy chiến lược của ông cha ta, tiêu biểu là Hưng Đạo Vương.

Vì thế, việc dựng tượng Trần Hưng Đạo thiên tài quân sự Việt Nam, vị tướng duy nhất được nhân dân phong Thánh tại Song Tử Tây, nơi đầu sóng ngọn gió ở Trường Sa là một việc làm thật có ý nghĩa, một bước đột phá trong quyết sách giữ nước, thể hiện rõ bản lĩnh “có cứng mới đứng đầu gió” của dân tộc ta. Trong tâm thức Việt Nam, “Đức Thánh Trần” còn tượng trưng cho oai lực trừ tà diệt quỷ. Những hồn ma Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp… và lũ hậu duệ của chúng đang lảng vảng ở Biển Đông chắc sẽ phải hồn xiêu phách tán trước oai lực ấy.

Trong tương quan về vị thế địa chính trị, địa chiến lược thì mỗi thước, mỗi tấc đất trên thềm lục địa, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Tổ quốc hôm nay. Khi mà vấn đề Biển Đông đang là một thực tế nổi cộm trong đời sống quốc tế với những thủ đoạn vừa nham hiểm, vừa trắng trợn của thế lực bành trướng hiếu chiến đang thè cái “lưỡi bò” ham hố muốn liếm trọn vùng biển giàu “vàng đen” và vị trí chiến lược nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương này, thì việc thông tin đầy đủ và khơi động tình cảm yêu nước và ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ phải là nghĩa vụ của những người có trách nhiệm với đất nước. Đồng thời, càng phải có ý thức thường trực việc tuyên truyền về tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ, cổ vũ và tạo cho họ điều kiện để thực hiện quyền được yêu nước của mình. Làm thất thoát hay để thui chột tình cảm yêu nước đó là có tội với đất nước, đáng hổ thẹn với cha ông đã bao đời đổ máu để giữ gìn từng tấc đất, từng thước biển, từng hòn đảo làm nên giang sơn gấm vóc hôm nay. Vì thế, tượng Đức Thánh Trần dựng tại Song Tử Tây cùng với phong trào “góp đá xây dựng Trường Sa” là một tín hiệu cổ vũ cho ý chí quật cường của thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay. Hai câu thơ ghi trong “Kỷ yếu Trường Sa” sau đây đã phần nào nói lên được điều đó:

“Xây vững chãi những công trình trên biển
Tôn cao nền Tổ quốc giữa đại dương”

Là một bán đảo với chiều dài gấp bốn chiều rộng, bờ biển trải dài từ Vịnh Bắc Bộ sang đến Vịnh Thái Lan, hải phận mở rộng ra 12 hải lý, tức là trên 22km và vùng kinh tế biển rộng 200 hải lý thường tương ứng với thềm lục địa ở đáy biển, nối dài bờ biển ra ngoài khơi đến độ sâu 200m thì chiến lược biển phải là một chiến lược có tầm vóc xuyên suốt thời gian và không gian. Khi con thuyền đất nước đã vượt qua quãng nước lợ pha vị mặn ở đầu cửa sông, khởi đầu một vòng lượn ngoạn mục ở khúc quanh của dòng chảy để hướng ra biển thì một “chiến lược biển” được vạch ra cách đây hơn 5 năm là sự ghi nhận một bứt phá trong tư duy về biển.

Phải chăng truyền thuyết 50 người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống biển là một lựa chọn của sự cân bằng tâm thế hướng núi và hướng biển. Vì thế, dựa vào địa hình, “yếu tố trội” biến đổi chậm nhất theo thời gian cùng với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, sông ngòi và lớp phủ sinh vật, thì chọn “hướng núi” dựa vào núi để mà mở nước phải chăng là một sự lựa chọn trong thế chẳng đặng đừng vào thời ấy. Mặc dù vậy, trong sâu thẳm tâm thức Việt, cả hai hướng ấy quyện vào nhau. Những lời “nguyện nước thề non” của thi sĩ Tản Đà có sức khơi gợi mãnh liệt tâm thức ấy

“Non cao đã biết hay chưa,
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn”

Mà đâu chỉ nỗi khắc khoải của một tài thơ nằm vắt ngang thế kỷ XIX và thế kỷ XX, hơn nửa thế kỷ sau nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng nói về sự gắn quyện ấy:

Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao, đi về biển rộng”

Vì trên đất nước ta đâu cũng có “những giòng sông nối đôi tay liền với biển khơi”. Người nhạc sĩ thiên tài ấy gợi lên một ý tưởng rất lạ: “Bao năm chờ đợi sóng gần ta” và rồi trong “bao năm chờ đợi” ấy liệu đã có những ai nghe được, cảm nhận được “biển có bâng khuâng gọi thầm”?
Vâng, biển gọi. Vì đi về phía biển là đi tìm một chân trời.

Lịch sử đã từng ghi nhận bản lĩnh mở đường, đi về phương Nam của Nguyễn Hoàng thế kỷ XVII. Bản lĩnh đó được bật dậy từ một tầm nhìn: nhìn ra cái thế chiến lược của việc mở nước về phương Nam, hướng ra biển từ giải Hoành Sơn tạo ra một thế phát triển mới. Quả là, “vạn đại dung thân” là gì, nếu không phải là thấy chiến lược bừng sáng trong đầu về một chân trời mới mở rộng ra trước mắt, không phải cho một đời Nguyễn Hoàng, mà cho ngàn ngàn đời một dân tộc thường xuyên đi tìm lối thoát khỏi một vị thế địa dư trứng nằm dưới đá ? (Cao Huy Thuần). Tầm nhìn chiến lược xuyên lịch sử, xuyên không gian và thời gian từ đôi mắt của bậc danh sĩ thế kỷ XVI Nguyễn Bỉnh Khiêm, với bản lĩnh và sự nghiệp của người anh hùng đi mở cõi Nguyễn Hoàng đã khởi đầu cho một chuyển đổi tâm thế dân tộc: hướng ra biển.

Gợi lại đôi điều “cảm thức về biển” khi vấn đề Biển Đông đang “nóng” đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải biết hướng ra biển không chỉ bằng đôi mắt mà phải bằng cả trái tim. Chính với trái tim ấy mà Hồ Chí Minh quyết vượt biển tìm đường cứu nước trong trái tim rớm máu

“Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương”

(Chế Lan Viên)

Vì thế, thay vì “làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác”, hôm nay, nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 122 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, học theo tầm nhìn đại dương của Bác Hồ, thế hệ trẻ quyết noi gương ông cha giữ vững và phát huy bản lĩnh Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước theo mong ước cuối cùng của Bác: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

GS Tương Lai
daidoanket.vn

Kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quí báu của dân tộc ta. Đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn luôn là nguyên nhân của mọi thắng lợi trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng nước ta. Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của mọi thành công. Bác nói: “Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết cả. Ví dụ : lật đổ chế độ thực dân phong kiến có khó không? Khó thế nhưng ta đoàn kết nên ta lật đổ được. Lúc bắt đầu kháng chiến ta ở trong hoàn cảnh rất khó khăn. Pháp có hải quân, không quân, xe tăng, có những tên tướng có kinh nghiệm mấy chục năm, có khí giới của Mỹ giúp. Lúc đó cơ đồ ta chỉ có tay không mà phải đánh một kẻ địch mạnh hơn. Nhưng chúng ta đã thắng. Vì sao ? Vì đoàn kết”.

Điều quan trọng nhất trong tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đoàn kết thống nhất trong Đảng – “hạt nhân” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Về tình hình đoàn kết trong nội bộ Đảng hiện nay, Văn kiện Đại hội XI đã chỉ ra: “Một số tổ chức Đảng… nội bộ không đoàn kết”. Đảng mà không đoàn kết thì khó có thể thực hiện được sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đổi mới của nước ta trong tình hình hiện nay. Quán triệt và thực hiện tư tưởng về đoàn kết trong Đảng, Bác Hồ đòi hỏi Đảng phải thường xuyên thực hành dân chủ rộng rãi và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình đó là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng ra đời và lãnh đạo, cũng là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đem lại. Chính nhờ có đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng mà chúng ta có được những thắng lợi vẻ vang, kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chủ nghĩa thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân lao động; đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc My, giành độc lập, tự do trọn vẹn cho dân tộc; thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước từng bước tiến lên CNXH.

Giai đoạn hiện nay – giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, tiếp tục sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thế giới có những diễn biến phức tạp. Vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta phải tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, đi đôi với củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm phát huy hết các nguồn nội lực, sử dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn ngoại lực cho xây dựng đất nước và hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và trong toàn dân, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đã chỉ rõ : “Tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động… Đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết, thực hiện đúng Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc…”. Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội X của Đảng còn chỉ rõ: ”Củng cố sự đoàn kết, thống nhất và tình đồng chí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình”. Tổng kết kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta, nhất là trong 25 năm đổi mới, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Những quan điểm và giải pháp của Đảng đề ra trong các nghị quyết nói trên cũng chính là nhằm thực hiện nghiêm túc Di chúc của Bác Hồ về đoàn kết nhất trí trong Đảng, phát huy vai trò “hạt nhân” để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới tạo ra sức mạnh vô song, đưa sự nghiệp cách mạng nói chung và sự nghiệp CNH, HĐH, hội nhập quốc tế nói riêng của nước ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng CNXH thắng lợi và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng là một sự nghiệp vĩ đại, sự nghiệp của muôn dân, sự nghiệp của đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết 54 dân tộc anh em trong cả nước và đoàn kết quốc tế. Từ thời các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, lòng yêu nước là đặc trưng quý báu nhất của dân tộc ta. Hễ là người Việt Nam, đều là con cháu Lạc Hồng ai cũng có lòng yêu nước. Đó là một truyền thống, là sức mạnh của dân tộc ta và là một nền tảng cho sự đoàn kết dân tộc.

Thực hiện Di chúc của Bác Hồ về đoàn kết trong Đảng đòi hỏi các tổ chức Đảng từ trung ương đến cơ sở phải định kỳ kiểm điểm đánh giá những việc làm của tổ chức đảng trên tinh thần tự phê bình và phê bình, làm rõ ưu điểm và khuyết điểm; đồng thời đề ra biện pháp để phát huy ưu điểm và khắc phục thiếu sót. Trong tự phê bình và phê bình, cấp uỷ phải gương mẫu nhận thiếu sót khuyết điểm để đảng viên noi theo, tránh tình trạng xuê xoa chỉ nêu thành tích và ưu điểm mà không mạnh dạn nhận khuyết điểm (nếu có) để sửa chữa. Lẩn tránh tự phê bình và phê bình, giấu giếm khuyết điểm là có lỗi với dân, với nước.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc mà hạt nhân là sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng luôn luôn là kim chỉ nam để xây dựng sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, hành động của Đảng và của dân tộc ta trong mọi giai đoạn cách mạng để đưa đất nước đến thắng lợi cuối cùng.

Hơn tám mươi năm qua kể từ khi thành lập Đảng đến nay nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, Đảng ta đã đoàn kết tổ chức và lãnh đạo nhân dân đồng tâm, đồng sức, lập nên nhiều kỳ tích trong sự nghiệp cách mạng của nước ta đưa đất nước từ chỗ là một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước thống nhất, độc lập, tự do, có vị thế trên trường quốc tế và đang từng bước tiến lên CNXH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

PGS, TS CAO DUY HẠ
daidoanket.vn

Chủ tịch nước nói chuyện với cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh

(VOV) – Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, việc tuyên truyền giáo dục tư tưởng của Bác là hết sức quan trọng trong đó có sự góp sức của cán bộ nhân viên Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Chiều nay (16/5), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tới thăm và nói chuyện với cán bộ nhân viên, người lao động của Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cùng dự có Bộ trưởng Bộ VH – TT&DL Hoàng Tuấn Anh.

Giới thiệu với Chủ tịch nước về Bảo tàng, ông Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cho biết, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, thể theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bảo tàng về Người.

Sau 20 năm chuẩn bị và xây dựng, ngày 19/5/1990, Bảo tàng Hồ Chí Minh khánh thành, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch nước thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh

Trong 22 năm qua, Bảo tàng đã đón 24 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 2,7 triệu khách quốc tế, nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hiện Bảo tàng đang lưu giữ hơn 120.000 tài liệu, hiện vật, phim ảnh gốc về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam trong việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước, học tập tư tưởng, đạo đức trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; bồi dưỡng các thế hệ người Việt Nam kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người.

Sau khi thăm và tìm hiểu các gian trưng bày của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước đã nói chuyện với tập thể cán bộ, công nhân viên của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Qua phát biểu của đại diện cán bộ nhân viên bảo tàng, Chủ tịch nước vui mừng nhận thấy mỗi cán bộ nhân viên ở đây thường xuyên tiếp xúc với những giá trị di sản to lớn của Bác nên đã thấm được sự giản dị, khiêm nhường.

Mặc dù điều kiện sống và làm việc còn khó khăn so với các ngành khác nhưng các cán bộ ở đây không đòi hỏi mà dành hết tâm huyết cho việc gìn giữ, sưu tầm và giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ- vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Đánh giá cao hoạt động của Bảo tàng thời gian qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: Những hình ảnh người dân mọi miền đất nước về viếng Bác với dòng lệ xúc động tuôn trào khi chứng kiến di vật của Người đã khẳng định tình yêu vô bờ bến của người dân với Bác. Do đó mỗi cán bộ nhân viên của Bảo tàng phải luôn ý thức được nhiệm vụ hết sức vinh dự của mình là giữ gìn và phát huy những tài liệu, hiện vật của Bác đến với nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Chủ tịch nước lưu ý, hiện nay, Đảng ta đang tích cực thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, do đó việc tuyên truyền giáo dục tư tưởng của Bác là hết sức quan trọng, trong đó có sự góp sức của cán bộ nhân viên Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Bảo tàng nên có nhiều cuộc triển lãm Bác Hồ với công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, chính tư liệu và giới thiệu dung dị ấy sẽ là biện pháp tuyên truyền hiệu quả thấm vào mỗi người, qua đó góp phần vào thành công của công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Bảo tàng Hồ Chí Minh./.

Hoàng Dũng/VOV1
vov.vn

Chủ tịch nước tiếp các cựu cán bộ bảo vệ Bác Hồ

(VOV) – Nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng 16/5, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật Đoàn đại biểu các cựu cán bộ từng bảo vệ và phục vụ Bác Hồ.

Trong không khí xúc động, tưởng nhớ tới Bác Hồ kính yêu, các thành viên trong Đoàn phát biểu bày tỏ những cảm xúc, những kỷ niệm sâu sắc của mình trong những năm tháng vinh dự được làm việc và phục vụ, giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Tiến Năng – Trưởng ban liên lạc cho biết, đã mấy chục năm qua đi, những cán bộ năm xưa thường ngày chăm sóc, phục vụ Bác nay đều đã tuổi cao, sức yếu. Thế nhưng cứ mỗi lần nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhớ đến hình ảnh của Bác thì trong lòng mọi người vẫn ngập tràn niềm vinh dự, tự hào được sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ.

Dù đã về nghỉ hưu, nhưng lúc nào các cán bộ phục vụ Bác Hồ năm xưa cũng lấy những thói quen, cách sống, cách sinh hoạt của Bác làm hình mẫu, làm mục tiêu sống, tu dưỡng và phấn đấu.

Tất cả gia đình các cựu cán bộ về hưu luôn sống gần gũi với bà con khối phố, là những gia đình văn hóa gương mẫu, đồng thời tiếp tục có đóng góp cho sự phát triển của địa phương.

Chủ tịch nước tặng quà cho các cựu cán bộ từng bảo vệ và phục vụ Bác Hồ

 

Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ niềm vui được gặp các đồng chí cựu cán bộ đã từng có thời gian chăm sóc, phục vụ Bác Hồ.

Ân cần hỏi thăm sức khoẻ, cuộc sống của các thành viên trong Đoàn, Chủ tịch nước bày tỏ sự trân trọng trước những tình cảm, sự kính trọng của các cựu cán bộ, nhân viên đối với Bác Hồ.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, tư tưởng của Bác, đạo đức của Bác là hết sức giản dị nhưng cũng hết sức vĩ đại. Trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã và đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế nhất là việc làm theo, điều đó cũng đã được chỉ rõ tại Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng.

Hội nghị Trung ương 5 vừa kết thúc hôm qua (15/5), một lần nữa khẳng định sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên để đưa đất nước phát triển xứng đáng với mong mỏi của Bác Hồ kính yêu.

Chúc các cựu cán bộ từng bảo vệ và phục vụ Bác Hồ mạnh khỏe, Chủ tịch nước mong muốn mỗi người là tấm gương sáng trong học tập và làm theo tấm gương của Bác để con cháu và mọi người cùng noi theo đi theo con đường mà Bác Hồ đã chọn, đồng thời tùy điều kiện của mình các đồng chí tiếp tục có những đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương, của đất nước./.

Hoàng Dũng/VOV1
vov.vn

Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân

QĐND – Hôm nay, cả nước tưng bừng kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào dịp Ban Bí thư tổ chức Hội nghị sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đồng thời toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang tích cực thi đua, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết đại hội đảng các cấp, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng.

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ là một lần chúng ta thấy rõ hơn giá trị to lớn về tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời Hồ Chí Minh. Một trong những tư tưởng vĩ đại nhất mà Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta là tình yêu thương con người, vì con người, vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Cả cuộc đời, Bác đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí; cho cụ già, trẻ em, các cháu gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược; từ Bắc đến Nam… Bác tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là tư tưởng lớn lao và cũng là thông điệp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào, thể hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với nhân dân.

Thấm nhuần lời dạy của Người, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bằng trách nhiệm và tình thương bao la, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta vượt qua muôn vàn chông gai thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, thực hiện đường lối Đổi mới, Đảng đã quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc đưa đất nước phát triển; vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên thế giới. Đó là thành quả vĩ đại từ giá trị to lớn của tư tưởng vì dân, thương dân mà Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: internet
Tuy nhiên, soi mình vào thực tiễn, vẫn còn đâu đó tình trạng đội ngũ cán bộ của Đảng làm phiền dân, chưa thực sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; vẫn còn biểu hiện của sự quan liêu, cửa quyền, xa dân. Thậm chí, một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại tiếp xúc với dân, thiếu quan tâm đến cuộc sống của người dân. Tình trạng trên dẫn đến việc cán bộ “mắc” bệnh quan liêu, có những hành động đi ngược lại lợi ích của đa số nhân dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm tổn hại đến uy tín của Đảng, của Nhà nước; làm giảm hiệu lực thực thi pháp luật.

Sinh thời, Bác từng dạy: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Tư tưởng đó của Người mang bản chất cốt lõi là Đảng, Nhà nước không có lợi ích gì khác ngoài việc chăm lo cuộc sống hạnh phúc, ấm no trong độc lập, tự do, hòa bình thật sự của nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng, quyết sách của Nhà nước; hành động của từng cán bộ, đảng viên đều phải hướng đến mục đích cuối cùng là vì nhân dân. Đó là giá trị nhân văn cao đẹp, là biểu hiện tiến bộ của xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tư tưởng thương dân, vì dân của Bác mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của mỗi chúng ta; nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

Thiết thực kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không chỉ thể hiện lòng tôn kính đối với vị lãnh tụ kính yêu, mà hơn lúc nào hết phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc những giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc cùng tinh hoa văn hóa thế giới. Đó là tài sản vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, học Bác và làm theo Bác đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng sự nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định; chủ động, tự giác quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, nhằm tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thực sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, đưa đất nước ngày càng phát triển.

Để Đảng ta thực sự là Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, trên hết và trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, nắm vững những nội dung cốt lõi được xác định trong Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để tự soi mình, tự sửa chữa, hoàn thiện mình; kết hợp chặt chẽ giữa nói với làm. Mọi hành động, lời nói; mọi chủ trương, quyết sách đều phải đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết; tích cực sửa chữa, gạt bỏ bệnh quan liêu, hành chính, mệnh lệnh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học Bác và làm theo Bác phải rất tự giác và trở thành công việc thường xuyên, hằng ngày trong đời sống, sinh hoạt, công tác của từng cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Quân đội ta gần 68 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã tỏ rõ là đội quân trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Ngay sau Đại hội XI của Đảng, toàn Đảng bộ Quân đội đang nỗ lực triển khai các biện pháp, với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực; tạo được sự chuyển biến vững chắc, đồng bộ trên các lĩnh vực công tác. Với tinh thần ấy, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nguyện đem hết tài trí, sức lực của mình bảo vệ và xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, xứng đáng là đội quân mang phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

QĐND
qdnd.vn

Những ngày 19 tháng 5

ND – Cứ mỗi dịp Tháng 5 về, lòng mỗi người chúng ta lại bâng khuâng nhớ về kỷ niệm của những ngày 19-5 khi Bác Hồ kính yêu còn sống.

Chợt nhớ lại ngày 19- 5-1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ đó trở đi, cứ đến dịp 19-5, toàn dân ta cùng sống những giờ phút đặc biệt, niềm vui lâng lâng, kính yêu Bác vô hạn. Cũng vào dịp này toàn dân lại dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất học tập, công tác, mừng Ngày sinh Bác Hồ kính yêu.

Là lãnh tụ tối cao, nhưng Bác Hồ luôn gần gũi nhân dân. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân, trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân còn khó khăn, gian khổ.

Ở Hà Nội, đúng ngày 19-5, Bác thường đi làm việc, thăm hỏi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức tốn kém. Có năm, vào dịp Ngày sinh của Bác, Bác Hồ sang công tác bên Trung Quốc. Hôm ở nhà nghỉ Bắc Kinh, các đồng chí ở đây biết Ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ, Người nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”.

Và vào một dịp ngày sinh năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Ngày 19-5, Bác vắng nhà. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá thịt tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, để biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước cho anh chị em trong cơ quan phục vụ Bác cải thiện bữa ăn. Việc này vừa thể hiện sự quan tâm chăm lo của Bác đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người tận tụy công tác chăm lo cuộc sống hằng ngày của Bác.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Bác làm thơ nói về tuổi tác thay vì những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về Ngày sinh của Bác, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Bác Hồ đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí, là nguyên tắc sống của Bác: “Trung với Ðảng, hiếu với dân”, và thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, của dân tộc ở trong từng thời điểm lịch sử.

Những ngày này tôi nhớ tới dịp kỷ niệm ngày sinh Bác 40 năm trước (5-1968), năm sức khỏe của Bác giảm sút. Ðó là vào lúc 9 giờ ngày 10- 5-1968, Bác viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Bởi vậy, sinh nhật năm nay, Bác không vắng nhà. Và như những năm trước, Bác tập trung cho công việc suy nghĩ, sửa chữa vào bản Tài liệu dặn lại cho đời sau. Năm nay, Bác viết thêm vào bản Di chúc, dặn việc phải làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh.

Tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối 18- 5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa 19-5, một bữa cơm thân mật được tổ chức ở Hồ Tây, gồm một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ nhân kỷ niệm lần thứ 78 của Bác Hồ.

6 giờ 15 ngày 20-5-1968, Bác Hồ dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III. Họp sớm để tránh hoạt động của máy bay Mỹ. Hội trường sôi động hẳn lên nhất là khi nghe Bác Hồ kết thúc buổi họp vào lúc 8 giờ bằng những lời chân tình và bốn câu thơ:

“Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta”

Cũng như mọi năm, vào dịp sinh nhật Bác, Bác cho anh em bảo vệ bắt cá ở ao để cải thiện bữa ăn. Năm nay anh em bảo vệ bắt được con cá trắm cỏ rất to. Khi đưa con cá để Bác xem, Bác bảo cân xem con cá nặng bao nhiêu? Anh em mượn chiếc cân bàn của nhà bếp, khi đặt con cá lên vì cá to đầu, đuôi chạm đất, đang loay hoay tìm cách cân cá, thì Bác bảo: Chú Ðỉnh (lúc đó là tổ trưởng tổ bảo vệ nhà sàn) ôm cá lên, và bước lên cân, trừ cân chú thì còn lại là cân của con cá. Theo chỉ dẫn của Bác, đồng chí Ðỉnh báo cáo, con cá nặng 24 kg. Lúc đó Bác nói vui: Bắt nó lên để cá lớn không nuốt cá bé.

Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng, trong dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị, đó là bản chất của người đầy tớ của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và là tấm gương mẫu mực về đức tính khiêm tốn, giản dị và đạo lý làm người cao đẹp nhất.

Bác Hồ đã đi xa gần 40 năm, nhưng mỗi người dân Việt Nam, bạn bè của nhân dân Việt Nam đều cùng chung một tình cảm: Bác Hồ không mất. Bác Hồ vẫn đời đời sống cùng non sông, đất nước và bạn bè khắp nơi. Vì vậy, vẫn như có Bác Hồ, hằng năm tới dịp Tháng 5 là toàn thể nhân dân ở khắp các miền quê Việt Nam, và cả bạn bè năm châu vẫn nô nức tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào năm thứ hai toàn Ðảng, toàn dân ta thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm trong sáng của Người trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người, sẽ là dịp chúng ta soi chung tấm gương lớn, và mong sao mỗi cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức có quyền, gương mẫu học và làm theo Bác, để khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống bớt đi những tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí.

TS Trần Viết Hoàn
nhandan.com.vn

Tầm nhìn của một nhà chiến lược

Đền thờ Bác Hồ ở Đèo De, Định Hóa

(DVT.vn) – Chọn Việt Bắc mà trung tâm là Thái Nguyên làm Thủ đô kháng chiến, cho thấy một tầm nhìn của một nhà chiến lược.

Ngày 20/05/1947, vừa tròn 65 năm, là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về Định Hóa, Thái Nguyên để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 5 năm 1951, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ “Sáng Tháng 5”:

.

Vui sao một sáng Tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn

Những câu thơ này không chỉ thể hiện được tình yêu, sự tin tưởng, phấn chấn của người cách mạng đối với lãnh tụ, với thắng lợi đang đến gần mà còn cho biết sự gắn bó đặc biệt của Bác Hồ đối với “thủ đô gió ngàn”.

Bác là người xây dựng thủ đô kháng chiến, là hiện thân của thủ đô kháng chiến.

Năm 1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước, Người trở về Tổ quốc, dừng chân ở Pắc Bó, cùng Trung ương thành lập căn cứ địa Việt Bắc chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Trở về Cao Bằng và đứng chân ở đó có phải là một ngẫu nhiên đối với  nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc  không? Không, đó chính là suy tính, lựa chọn rất kỹ càng của một nhà chiến lược.

Người khẳng định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc  thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ…

Xây dựng căn cứ địa là một trong những yếu tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của mọi cuộc khởi nghĩa, mọi cuộc kháng chiến. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy được những kinh nghiệm vô giá về xây dựng căn cứ địa.

Thành phố Thái Nguyên

Phải là một nhà quân sự thiên tài, mới có được tầm nhìn chiến lược trong việc xác định và xây dựng căn cứ địa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài phát biểu hội thảo kỷ niệm 50 năm chiến thắng Việt Bắc – Thu Đông cho biết:

“Tôi còn nhớ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng có chỉ thị xây dựng Thái Nguyên thành căn cứ địa. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong một cuộc họp, Bác nói: Hiện nay ta có hai chõ đứng chân là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn), ta phải củng cố hai căn cứ đó, mở rộng căn cứ Cao – Bắc – Lạng. Cao Bằng có truyền thống cách mạng, lại thuận tiện cho việc liên lạc với quốc tế nhưng vị trí ở xa Trung ương quá. Vì vậy phải chọn một nơi để xây dựng thành trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc. Nơi ấy phải có nhân dân tốt, có cơ sở chính trị tốt. Và ở nơi đó “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Cuối cùng thì Bác đã lấy Thái Nguyên làm địa bàn trung tâm của toàn khu căn cứ Việt Bắc, và đã đề ra chủ trương mở đường Nam tiến từ Cao Bằng qua Phia Uắc xuống Nghĩa Tá (Chợ Đồn – Bắc Cạn); mặt khác đi qua Thất Khê – Bắc Sơn về đến Võ Nhai (Thái Nguyên)”…

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiên đoán trước âm mưu, hành động của thực dân Pháp, năm 1946, Bác phái đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc xây dựng ATK (An toàn khu).

Bác nói: “Cách mạng Tháng Tám đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến nhất định do Việt Bắc mà thắng lợi!”

Phong cảnh Hà Giang

ATK kháng chiến bao gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên; Chợ Mới, Chợ Đồn của Bắc Cạn; Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa của Tuyên Quang. Định Hóa là nơi đặt đại bản doanh của Bác Hồ, T.Ư Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tham mưu (Võ Nguyên Giáp), Bộ Quốc phòng (Tạ Quang Bửu) và các cơ quan đầu não khác.

Ngày 20/05/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở và làm việc tại đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, Định Hóa. Tại đây, Người đã viết tác phẩm nổi tiếng Sửa đỏi lề lối làm việc.

Ngày 28/05/1948, tại thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, Định Hóa, Hội đồng Chính phủ làm lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và quân hàm cấp tướng cho một số sĩ quan khác.

Ngày 06/12/1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1954 và quyết định mở  Chiến dịch Điện Biên Phủ…

Cũng tại ATK Thái Nguyên thời kỳ chống Pháp, Chủ tịch Xuphanuvong, Tổng Bí thư Cayxon Phomvihan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Tổng Bí thư Sơn Ngọc Minh Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia đã từng sống và làm việc.

PVA
dvt.vn

Những ngày 19 tháng 5 với Bác Hồ kính yêu

Mỗi người dân Việt Nam ai cũng biết ngày 19 tháng 5 là một ngày vô cùng ý nghĩa – Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Bác Hồ là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta và chính Người cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, mãi đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đó Bác Hồ 56 tuổi, lần đầu tiên nhân dân ta mới có dịp kỷ niệm ngày sinh của Người. Khi đó, tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ tổ chức tiếp đại biểu các cháu thiếu nhi Thủ đô Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ, các hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Bác. Bác Hồ đã chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam bộ. Tại buổi gặp mặt này, Bác thổ lộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả mà trước các anh các chị trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”.

Từ đó, ngày 19 tháng 5 hằng năm là ngày sinh của một lãnh tụ, của “cha già dân tộc” ai ai cũng hướng tới. Tuy nhiên, đối với Bác, Người không tỏ ra quan tâm tới sinh nhật của mình, không muốn có sự khác biệt giữa Người với nhân dân. Vì vậy, cứ vào dịp đó, Bác Hồ thường căn dặn các địa phương, các cơ quan, đoàn thể là không nên tổ chức chúc thọ linh đình làm tốn thời giờ, tiền của của nhân dân, trong khi cuộc kháng chiến còn kéo dài, đời sống người dân còn nhiều gian khó. Có lần Bác Hồ đã nói: “Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại còn tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên”. Hoặc có lần Bác nói: “Hôm nay, đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi”.

Vào dịp 19 tháng 5 các năm 1960, 1961, 1962, 1965, 1966, Bác Hồ thường ra nước ngoài, trong đó có Trung Quốc. Một dịp, Bác Hồ nói rõ ý của mình với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ ở trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ”. Một lần khác, Bác Hồ viết thư gửi Đặng Dĩnh Siêu – một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn gián, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Với mục đích đó, trong tất cả các dịp sinh nhật của mình, nếu không ra nước ngoài thì Bác Hồ thường tránh những cuộc chúc thọ, tặng quà bằng cách xuống cơ sở, đến với đồng bào hoặc nếu vì tình huống bất đắc dĩ, Người thường cố gắng “hoãn binh” bằng những bài thơ rất ý nhị. Trong nhiều dịp 19 tháng 5 Bác Hồ đã để lại cho chúng ta những vần thơ bất hủ về niềm lạc quan, yêu đời, sự say mê quên cả tuổi tác, chỉ mong sao cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Vào dịp ngày 19 tháng 5 năm 1949, Bác Hồ làm bài thơ “Không đề”, nói lên tâm trạng của mình:

“Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1951, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Tuyên Quang, để cảm ơn và đáp lại những lời chúc thọ của mọi người, Bác Hồ đã làm bài thơ mà cho đến nay rất nhiều người trong chúng ta đều thuộc và coi đó như là tấm gương sáng để noi theo:

“Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1953, Bác Hồ làm một bài thơ chữ Hán (Sáu mươi ba tuổi) với niềm lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ được dịch là:

“Chưa năm mươi tuổi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai.
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”.

Dịp sinh nhật lần thứ 74, tháng 5 năm 1965, Bác lại làm thơ thể hiện mong ước, đau đáu chờ đợi một ngày Bắc – Nam xum họp một nhà:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta.
Bao giờ Nam – Bắc một nhà,
Dân giàu, nước mạnh thì ta vui lòng”.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bác Hồ thăm Trung Quốc, tới quê hương của Khổng Tử, thăm khu di tích Khổng phủ, Khổng miếu, Khổng lâm, trên đường về Tế Nam, thủ phủ của tỉnh Sơn Đông, Người đã làm bài thơ chư Hán phỏng Khúc Phụ:

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa.
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 77 của mình, tháng 5 năm 1967, Bác Hồ sang Trung Quốc. Từ Quảng Châu, Người đã viết bài thơ gửi Bộ Chính trị:

“Thời gian đã chóng tựa con thoi,
Thấm thoắt xa nhà một tháng rồi.
Nghìn dặm vui nghe tin thắng trận,
Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Vào ngày 20 tháng 5 năm 1968, tại Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III, sau khi nghe Báo cáo và lời chúc thọ của các đại biểu dự họp, Bác Hồ có nói: “… lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm tôi thấy mình như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ thế này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta”.

Đồng thời với việc đi cơ sở, gặp gỡ đồng chí, đồng bào, bắt đầu từ năm 1965, vào dịp sinh nhật của mình, Bác Hồ bắt đầu viết “mấy lời” để lại cho mai sau. Bản Di chúc đầu tiên Bác đề “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Cuối bản Di chúc, Bác ghi: “Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1965”. Cùng với chữ ký của Người là chữ ký “chứng kiến” của Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Từ đó, mỗi dịp sinh nhật, Bác đem ra xem lại và bổ sung, chỉnh sửa.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969, sinh nhật cuối cùng của Người, sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chức thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản Di chúc mà mình đã viết, bổ sung vào các năm trước. Sau đó, Bác tiếp chị Phạm Thị Quyên (vợ của Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên – Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đến chúc thọ. Tiếp đó, Bác viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng Non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) vì đã có nhiều thành tích trong việc chăm sóc tốt trâu, bò. Đây cũng là bức thư cuối cùng Bác viết gửi cho các cháu thiếu nhi. Cùng ngày, Bác còn tặng ảnh chân dung của mình cho cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, Đảng bộ tỉnh Nghệ An, cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Trong suốt 24 năm, kể từ ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đầu tiên nhân dân ta tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Bác, đến ngày 19 tháng 5 năm 1969, trước khi từ giã cõi đời này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dành riêng cho mình bất cứ một thứ gì, suốt đời Người dành cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Những ngày 19 tháng 5 là những ngày mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.

Vũ Bình Minh
xaydungdang.org.vn