Thư viện

Cuộc gặp gỡ tháng 5

(ĐCSVN)– Sáng nay 19-5, Kỷ niệm 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Khu di tích Phủ chủ tịch, gần 40 cán bộ, nhân viên – những người đã từng sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ kính yêu, đã có buổi gặp mặt thân mật, đầy xúc động…

Theo sáng kiến của hai bác Phùng Thế Tài và Tạ Quang Chiến – hai người từng trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, hàng năm, cứ vào ngày này, không cần thông báo cũng không cần giấy mời, bất cứ ai đã từng có thời gian làm việc và phục vụ bên Bác lại về đây tụ họp cùng ôn lại những kỷ niệm về Người…

Tại buổi gặp, ông Phan Đức Mấn Giám đốc Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên – đơn vị từng được Bác về thăm, đã tặng Khu Di tích chiếc máy quay phim. Ông tâm sự: “Với chiếc máy quay này, tôi mong chúng ta sẽ ghi lại được ngày càng nhiều hơn kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu và lưu giữ nhiều hình ảnh sống động của các nhân chứng lịch sử về Bác Hồ”. 

Cũng trong buổi gặp mặt đầy xúc động này, ông Nguyễn Sơn – Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên đã viết bài thơ nói lên tình cảm của mình – đối với Bác khi vào thắp hương tưởng nhớ người:

“Trước Lăng người
Con dâng một Đài sen
Nhớ Ngày sinh nhật Bác
Trong nhớ thương lòng con khẽ hát
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người
Hồ Chí Minh con theo Bác trọn đời”

Kim Dung-Việt Hà
cpv.org.vn

Ban Quản lý Lăng phục vụ Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự

phan-lan-duong

Hàng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào trong nước và khách quốc tế đến Việt Nam đều hướng về Thủ đô Hà Nội, về Ba Đình lịch sử, nơi Bác Hồ yên giấc ngàn thu. Do vậy, số lượng khách đến viếng Bác trong dịp này thường tăng từ 1,5 đến 2 lần so với các thời gian khác, có buổi lên đến trên 3 vạn người.

Đồng chí Thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa- Trưởng ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Dịp kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Bác năm nay gắn với bước đầu toàn Đảng, toàn dân ta triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và bầu cử Quốc hội khoá XII nên lượng khách đến viếng Bác sẽ rất đông. Các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã làm tốt mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức thêm giờ Lễ viếng, phục vụ đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác: Tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền, Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng và Trung đoàn 375- Bộ Tư lệnh cảnh vệ đã chủ động bồi dưỡng cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ về Quy định đón tiếp khách; phương pháp tổ chức sinh hoạt chính trị, văn hoá; nội dung tuyên truyền, giới thiệu về sự nghiệp giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác và công trình Lăng của Người; tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ và dịch phim tài liệu “Những giờ phút cuối đời của Bác” ra các tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga để phục vụ khách nước ngoài. Đảm bảo mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ vừa tinh thông nghiệp vụ chuyên môn, vừa tận tình, chu đáo đón tiếp, tuyên truyền phục vụ khách.

Đặc biệt trong dịp này, Ban Quản lý Lăng đã khai trương Trang tin điện tử trên hệ thống internet để giới thiệu rộng rãi cả trong nước và quốc tế về hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của quận Ba Đình và Thành phố Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện được vào nội Thành để đưa, đón khách gần xa đến viếng Bác.

Bình thường, đơn vị tổ chức đón tiếp khách đến viếng Bác tại số 8 đường Hùng Vương và số 17 phố Ngọc Hà. Những buổi khách đông sẽ tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách xếp hàng vào Lăng từ công viên Bách Thảo để tránh ùn tắc quanh khu vực quanh Lăng. Các mặt bảo đảm như: hệ thống mái cơ động che nắng, che mưa; công tác an ninh, y tế chăm sóc sức khoẻ; nước uống; nơi vệ sinh, nơi nhận trả đồ dùng, máy ảnh, điện thoại phục vụ khách đều được chuẩn bị chu đáo. Các đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đến viếng Bác sẽ được phục vụ xe đẩy rất thuận lợi.

Quảng trường Ba Đình và quanh Lăng Bác trong những ngày này lộng lẫy cờ hoa. Cờ Đảng, cờ Tổ quốc tung bay trước Lăng Bác và 2 bên Lễ đài Lăng như gắn kết hình ảnh của Đảng, của dân tộc và lãnh tụ kính yêu. Cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã cẩn thận chăm sóc từng nhành hoa, khóm cỏ; lựa chọn hàng trăm cây cảnh quý, nâng niu hàng trăm chậu hoa đẹp từ các nơi về ươm trồng, tạo nên cảnh quan, môi trường quanh Lăng Bác luôn xanh, sạch đẹp trong những ngày tháng Năm này.

Càng đến gần Ngày sinh của Bác, đồng bào từ mọi miền của Tổ quốc và khách quốc tế đến viếng Bác càng đông, mỗi buổi hàng chục ngàn người, riêng ngày Quốc tế Lao động 1/5 số khách viếng Bác hơn 16 ngàn người, nhưng tất cả đều được hướng dẫn, được đón tiếp, phục vụ tận tình, chu đáo, dòng người nối tiếp thứ tự, thành kính đến bên Người. Đó cũng là tình cảm thiêng liêng, là tấm lòng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dâng lên Bác kính yêu nhân dịp kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Người.

bqllang.gov.vn

Cảm nhận sáng 19 tháng 5 tại Lăng Bác

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tham dự khai trương tuyến phố đi bộ tại phía Nam đường Hùng Vương

Hôm nay, trên Quảng trường Ba Đình nhộn nhịp, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác; chuẩn bị khai trương tuyến phố đi bộ khu vực Lăng; lắp đặt mái che và chuẩn bị địa điểm nơi tập kết để phục vụ đồng bào trong nước và khách quốc tế về viếng Người.

Đúng 6 giờ sáng, Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình vang lên, mọi ánh mắt đều đổ dồn về lá cờ Tổ quốc đang tung bay trước Lăng Bác. Biểu tượng của Tổ quốc và hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn hoà quyện nơi Ba Đình lịch sử. Nơi đó, những chiến sỹ tiêu binh danh dự ngày đêm thành kính và trang nghiêm thực hiện nghi lễ chào cờ.

Toàn cảnh đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác.

Đông đảo đồng bào và khách quốc tế đã về Lăng viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người

Lễ chào cờ vừa kết thúc, cũng là thời điểm bắt đầu khai trương tuyến phố đi bộ tại khu vực Lăng. Dự Lễ khai trương có đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng lãnh đạo, chỉ huy các ban, ngành, cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội và Ban Quản lý Lăng.

Đoàn trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La vào Lăng viếng Bác

Được biết, hôm nay Lăng Bác sẽ mở cửa đón khách từ 7 giờ 15 phút, sớm hơn so với mọi ngày 15 phút. Nhưng từ 6 giờ sáng, trước cổng số 17 phố Ngọc Hà đã rất đông đồng bào và khách quốc tế xếp hàng chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Cụ Phùng Thanh Huân, 78 tuổi ở Đông Quang, Ba Vì, Hà Nội cho biết: “Tôi về từ chiều hôm qua. Biết hôm nay khách đến viếng Bác rất đông, nên từ 5 giờ sáng, tôi giục cháu đưa đến đây sớm. Đã 3 lần đi viếng Bác, nhưng lần này có cảm giác đặc biệt. Bởi tôi sẽ là người khách đầu tiên được nhìn thấy Bác trong Ngày sinh của Người”. Cùng trong dòng người đầu tiên viếng Bác, bà Trương Thị Cúc, 66 tuổi ở Trấn Hưng, Gia Trung, Gia Viễn, Ninh Bình đã bắt đầu đi từ lúc 2 giờ sáng. Bà nói: “Từ năm 2000 đến nay, 12 lần tôi đều chọn đúng ngày 19/5 để về Lăng viếng Bác. Năm nào dòng người viếng Bác đều rất đông, nhưng đối với những người nông dân như chúng tôi có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay ơn Đảng, ơn Bác nhiều lắm. Tôi còn làm cả bài thơ “Dâng Bác”, trong đó có đoạn: Các con áo vải màu nâu tím/ Về Lăng viếng Bác nhớ ơn Người/ Trong Lăng Bác như vừa chợp mắt/ Đón ngày ngày con cháu viếng thăm”.

Dòng người từ các ngả đường Điện Biên Phủ, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Kim Mã hướng về Lăng Bác mỗi lúc một đông. Bởi lẽ ai cũng muốn đến viếng Bác đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người. Là cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Văn Khang, Chính trị viên Đội Cảnh vệ Đặc biệt, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cho biết: “Đơn vị đã chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng phục vụ khách. Ngày thường chiến sỹ gác 30 phút đổi ca một lần. Nhưng hôm nay, anh em sẵn sàng phục vụ thêm ca, thêm giờ, có đồng chí đứng hướng dẫn, phục vụ khách suốt lễ viếng. Tuy thấm mệt nhưng mọi người đều cảm thấy rất vui, được phục vụ nhiều đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác trong ngày lễ trọng thể này”.

Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh vào Lăng viếng Bác

Trong dòng người tụ hội về bên Lăng Bác hôm nay, chúng tôi thấy có các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang của tỉnh Hưng Yên tại Hà Nội; Đoàn đại biểu Người Anh hùng và thân nhân Anh hùng liệt sỹ; Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh và các thành phần dân tộc, tôn giáo. Các cháu ở Trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La đã mong chờ, hồi hộp cả tháng nay khi biết thông báo sẽ được về Lăng viếng Bác trong dịp 19/5. Cô giáo Bùi Thị Hải, Hiệu trưởng Nhà trường cho biết: “Từ ngày 19/4 đến 19/5/2012, Nhà trường phát động phong trào thi đua “Dành nhiều điểm tốt kính dâng lên Bác”. Thầy thi đua dạy giỏi, trò thi đua học tốt. Trong số 16 thầy cô giáo và 66 học sinh về viếng Bác hôm nay đều rất tiêu biểu. Nổi bật là cháu Sộng Thị Dung, dân tộc Mông ở bản Nà Ham, xã Mường Gai, Sông Mã, gia đình nghèo nhưng vượt khó, học giỏi và cháu Vừa Thị Ca, lớp 8A ở bản Hổi Pản, xã Huổi Một, Sông Mã, bị khuyết tật nhưng 8 năm liền đều là học sinh giỏi”.
Không chỉ đồng bào trong nước, mà rất đông những người khách quốc tế cũng đều thể hiện tình cảm đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn khách du lịch đến từ Ôx-trây-li-a, các bạn Jana, Javren và David còn rất trẻ cho biết: “Đây là lần đầu tiên đến Việt Nam và điểm tham quan đầu tiên là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy chưa hiểu nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chứng kiến dòng người xếp hàng dài chờ đợi rất lâu, dưới trời nắng nóng, oi bức để được vào Lăng viếng Người, thì chúng tôi cảm nhận được tình cảm sâu nặng của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất muốn ở đất nước mình cũng có lãnh tụ vĩ đại được nhân dân kính trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Còn anh Andrea đến từ I-ta-li-a cho biết: “Tôi đã tìm hiểu về đất nước Việt Nam, về Hồ Chí Minh. Biết Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Ở đất nước các bạn “Việt Nam – Hồ Chí Minh” luôn gắn liền với nhau”. Lần đầu đến Việt Nam, nhưng tôi thật ngỡ ngàng về kiến trúc Công trình Lăng rất đẹp, rất trang trọng trong không gian Quảng trường Ba Đình rộng lớn. Đặc biệt là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong Lăng rất thanh thản, bình yên, thể hiện cuộc sống thanh bình của đất nước các bạn”.

Những người khách cuối cùng trong dòng người về viếng Bác hôm nay lặng lẽ rời Công trình Lăng. 11 giờ 15 phút buổi Lễ viếng kết thúc. Trong thời gian 4 giờ tổ chức viếng, tại Lăng Bác đã đón tiếp gần 18 ngàn lượt người, trong đó có hơn 4 ngàn lượt khách quốc tế đến từ khắp mọi miền Tổ quốc và vùng lãnh thổ trên thế giới về viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh
old.bqllang.gov.vn

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

Yeu bac long ta trong sang hon

Tháng năm về, chúng ta lại rộn ràng, bâng khuâng nhớ Bác, nhớ ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Suốt cả cuộc đời, Người đã cống hiến, hy sinh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, cho ấm no, hạnh phúc, hoà bình của nhân dân. Trong toàn bộ di sản Người để lại, bản Di chúc có giá trị bất tử, thiêng liêng, kết tinh hồn sông núi và trí tuệ, trái tim bao la của Người. Khi biết mình sắp phải đi gặp Cụ Các Mác, Lênin, đivào cuộc trường chinh nhẹ cánh bay, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải đoàn kết, cố gắng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Và cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày nay, mỗi lần lật mở từng trang Di chúc, chúng ta lại xúc động tự hào vì dân tộc ta có Bác, Người luôn trằn trọc, băn khoăn vì lo nỗi nước nhà, Người đã kinh qua bao thăng trầm sóng gió, bôn ba hải ngoại để tìm hình của nước, với một ham muốn tột bậc “đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những tư tưởng vĩ đại ấy toát lên từ chính cuộc đời giản dị, thanh cao. Với bộ quần áo kaki, đôi dép cao su, Người đã đi khắp năm châu bốn bể tìm con đường giải phóng dân tộc, góp phần vào phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân loại cần lao. Tuy không được chứng kiến ngày Bắc – Nam sum họp, thống nhất, Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân, nhưng trong Di chúc, Người đã hình dung rất rõ về tương lai tất thắng của dân tộc “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Và lịch sử đã chứng minh chân lí muôn đời: chính nghĩa thắng phi nghĩa. Chúng ta chiến thắng nhờ vào sự đồng tâm nhất trí, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, và đặc biệt là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Vì vậy trong Di chúc, điều đầu tiên Người căn dặn là vấn đề về Đảng. Người viết:

“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.(1)

Không chỉ đến Di chúc Người mới đề cập đến vấn đề xây dựng, tổ chức đảng mà trongSửa đổi làm việc (1947) Người cũng đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh mà đảng viên và các tổ chức Đảng thường mắc phải như: Bệnh chủ quan, thói ba hoa, quan liêu, lãng phí, chuộng hình thức, hư danh…, những thói hư tật xấu ấy sẽ làm băng hoại đạo đức cách mạng. Vì thế, cần phải trau dồi phẩm chất cách mạng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để Đảng ngày càng trong sạch. Người từng viết: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí. Cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng. Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”(2.) Thực tế đã chứng minh, ở đâu cơ sở Đảng làm tốt nhiệm vụ của mình, gương mẫu đi đầu trong mọi công việc thì luôn được nhân dân tin yêu, kính trọng, yên tâm trao quyền lãnh đạo.

Những lời Người viết trong Di chúc đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi Người đã nói trúng, nói đúng vào những vấn đề trọng tâm, cốt yếu, có tính muôn thuở là bài học về đạo đức cách mạng. Nếu không có tinh thần đoàn kết, yêu thương thì không thể tạo ra sức mạnh, thậm chí lại là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, chia bè kết cánh, tham quyền cố vị nảy sinh. Đó là mầm mống của những hiểm họa khi con người đứng trên tập thể, cộng đồng để sai khiến, chỉ huy.

Để Đảng thật sự trong sạch, đòi hỏi mỗi đảng viên phải ý thức rõ về vai trò, sứ mệnh của mình, thấy được ý nghĩa lớn lao cao cả khi được đứng vào hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được nhân dân tin yêu, ngưỡng mộ. Trong Đảng phải thực hành tiết kiệm, dân chủ, công khai, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện sai trái, tiêu cực. Và một trong những phẩm chất quý báu, một yêu cầu tiên quyết của người đảng viên là phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy là lòng yêu Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, chia sẻ vui buồn với quần chúng, sống chan hoà, gương mẫu, có lòng vị tha, nhân ái… Đạo đức cách mạng của mỗi người là tấm gương để cá nhân khác soi vào, tự răn mình phải sống tốt hơn, sống có ý nghĩa, có lí có tình, phù hợp với thuần phong mĩ tục, với đạo lí, truyền thống tốt đẹp của cha ông. Từng lời, từng chữ trong Di chúc đều thấm đượm tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là mong ước, khát khao mà trọn đời Người cố gắng ươm mầm, vun trồng, gây dựng, hình thành các tổ chức, cơ sở Đảng, cũng như chăm lo, tạo điều kiện phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng làm nên sự lớn mạnh, cường thịnh, phồn vinh của đất nước. Những lời ấy thật giản dị, gần gũi nhưng rất đỗi thiêng liêng như những châm ngôn để mỗi cán bộ, đảng viên phải tự răn mình: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng như lời răn dạy của cổ nhân và những bậc hiền triết thuở xưa “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu / Hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc” (Phàm người làm quan phải biết lo cái lo trước thiên hạ và vui cái vui sau thiên hạ), phải tu nhân tích đức, sống hợp qui luật thì sẽ đắc nhân tâm.

Ngày nay, sau hơn 40 năm thực hiện Di chúc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã ra sức hăng hái thi đua lao động sản xuất, kiến thiết nước nhà, tiến tới xây dựng thành công CNXH như mong ước của Người. Những điều Người căn dặn trong Di chúc như sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam hành động thôi thúc, cổ vũ, động viên nhân dân tiến lên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng cuộc sống mới.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, hợp tác, bên cạnh những yếu tố tích cực thì vẫn còn đó bao vấn đề nhức nhối đang đặt ra với bao mặt trái của của giao lưu văn hoá toàn cầu đem lại. Lối tư duy cũ, tâm lí ăn xổi ở thì, lối sống thực dụng cá nhân, chạy chọt, luồn cúi vì danh vọng tiền tài, vì lợi ích riêng của bản thân, gia đình mà nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội chà đạp lên những lí tưởng đẹp đẽ mà cha anh và các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu gây dựng nên.

Trước tình trạng tha hoá về đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 12-NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã kịp thời ra đời đề cập đến những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết nêu rõ:

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lí, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lí tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc…”.(3)

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên có nhiều, song chủ yếu là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Có thể nói Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh trầm kha khó chữa, mang tính dây chuyền, ăn sâu trong nếp nghĩ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lí, làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Những kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XI vừa có tính tổng kết, vừa mở ra bao vấn đề cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên đến các chi bộ Đảng phải phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, đẩy lùi tham ô, lãng phí, sống gần dân, hiểu dân, coi dân và yêu dân như yêu chính người thân máu mủ ruột thịt. Từ Trung ương đến địa phương phải làm mạnh mẽ, quyết liệt tạo sự chuyển biến tích cực trong Đảng, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, xứng đáng với niềm tin tưởng, kì vọng của Bác: Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Tư tưởng xuyên suốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI là sự tiếp nối, phát huy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Tuy có nhiều điểm mới nhưng nội dung cốt yếu vẫn là vấn đề tu dưỡng tính Đảng và đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cách mạng, học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ vĩ đại: Cả cuộc đời vì nước vì dân.

Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ được phát động trong toàn Đảng toàn dân đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng rộng khắp, có tác động sâu sắc tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên chưa thấm nhuần tư tưởng của Người.

Chúng ta cần phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lí những trường hợp vi phạm, truy tố trước pháp luật những hành vi gây tổn thất, lãng phí tiền của Nhà nước, xâm hại đến lợi ích, đời sống nhân dân. Bên cạnh đó phải tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người đứng đầu trước vận mệnh, số phận quốc gia, dân tộc, tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở đâu xa mà thật gần gũi, giản dị.

Tuy Bác đã đi xa nhưng những tư tưởng nhân văn – tư tưởng vì con người của Bác vẫn toả sáng đến mãi mai sau.

Tháng Năm về mang theo bao tia nắng chói chang của mặt trời chân lí cách mạng, mang màu xanh của cây lá hoà bình, mang hương thơm ngọt lành, dịu mát của hoa sen, và mang cả nỗi nhớ đong đầy, thiết tha, sâu nặng của người dân Việt Nam nhớ Bác với lòng biết ơn vô hạn. Để rồi “Mỗi khi lòng xao xuyến rung rinh / Môi ta thầm kêu: Bác Hồ Chí Minh”. Nhớ Bác, yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn./.

Theo Nguyễn Huy Phòng/ Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

_________

(1) Di chúc, Nxb.CTQG, H.1999, tr.38

(2) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.261

(3) Nghị quyết số 12-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, năm 2012

Những bài học quý qua mỗi dịp sinh nhật Bác Hồ

Bác Hồ trong một lần về thăm xã Nam Chính, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Theo chân Bác” đã viết: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Cuộc đời 79 mùa xuân tươi sáng, Bác đã cống hiến trọn vẹn cho dân, cho nước. Bác vui với niềm vui chung của dân tộc, Bác đau khi nhìn thấy nhân dân lầm than, nước mất, nhà tan… Vì vậy, sinh thời, cứ đến dịp 19-5, kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức linh đình vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, gian khổ.

Trên cương vị là chủ tịch nước, hằng năm, vào ngày sinh của mình, Bác thường đi làm việc hoặc đến thăm hỏi một số nơi để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Có năm, vào dịp ngày sinh của Bác, Người sang công tác tại Trung Quốc. Ở đây, các đồng chí nước bạn biết ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ. Thấy vậy, Người ân cần nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”. Vào một dịp sinh nhật năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, tránh “tặng quà”.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có lần Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc vào đúng dịp sinh nhật của Người. Trước khi đi, Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ ở nhà đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và anh chị em trong cơ quan hằng ngày vẫn phục vụ, chăm sóc Bác để cải thiện bữa ăn. Việc làm của Người vừa thể hiện sự quan tâm, chăm lo đời sống đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người đã tận tụy công tác, chăm lo cuộc sống hằng ngày cho Bác.

Mỗi dịp sinh nhật, thay việc tổ chức tiệc chúc thọ linh đình, tặng quà, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bè bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Đặc biệt, Người còn làm thơ nói về tuổi tác của mình thay những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về ngày sinh của mình, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non song đất nước, đồng bào, đồng chí, cao hơn là nguyên tắc sống của một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam suốt đời “Trung với Ðảng, hiếu với dân”; đồng thời, thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam về “thực hành tiết kiệm”, chống xa hoa, lãng phí trước hoàn cảnh đất nước còn không ít khó khăn, thiếu thốn! Năm 1965, nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” của mình, lần đầu tiên Bác viết: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khoẻ mạnh. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”… tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Tài liệu này được Bác bắt đầu viết vào ngày 15-5-1965, có sự chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Đảng.

Ba năm sau, tình trạng sức khỏe của Bác giảm sút! Người đã nhiều lần sửa đi sửa lại và đặt bút viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau vào lúc 9h ngày 10-5-1968: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Vì vậy, sinh nhật lần thứ 78 của mình, Bác không “vắng nhà” như những năm trước mà dành tất cả thời gian, tập trung suy nghĩ, sửa chữa bản “Di chúc” – “tài sản vô giá” của Người để lại cho dân tộc Việt Nam. Năm đó, Bác viết thêm vào “tài sản” của mình một số nội dung cụ thể, căn dặn những việc phải làm ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân… Những lời căn dặn, chỉ dẫn thiêng liêng và tình cảm thiết tha của Người đã trở thành mệnh lệnh trái tim đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn là cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc hiện nay.

Sinh nhật lần thứ 78, tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối ngày 18-5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa ngày 19-5, Bác và một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ cùng ăn một bữa cơm thân mật nhân ngày sinh của Người. Cũng nhân sinh nhật lần thứ 78, sau khi dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III, ngày 20-5-1968, bằng những lời lẽ chân tình, mộc mạc, kèm theo bốn câu thơ chan chứa tình cảm, thể hiện khí phách của Người trước toàn dân tộc: “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này: Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm/Vẫn vững hai vai việc nước nhà/Kháng chiến dân ta đang thắng lớn/Tiến bước! Ta cùng con em ta… Lời thơ như tiếp thêm sức mạnh tinh thần, cổ vũ, động viên toàn dân tộc tiếp tục “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu kết của bài thơ như lời hứa danh dự của Bác trước dân tộc: Bác luôn sát cánh, tiến bước cùng dân tộc Việt Nam không chỉ đến ngày non sông thu về một mối mà cho cả đến tận những năm tháng bây giờ, cả nước đang tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Mỗi dịp sinh nhật của Người luôn là một bài học quý giá cho chúng ta trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào của đất nước. Sinh nhật của Người giản dị, thanh cao như chính con người Bác vậy! Sinh nhật là dịp để Người bày tỏ tình cảm bao la của mình đối với toàn dân tộc. Tình cảm của Người được nhà thơ Tố Hữu khắc hoạ trong bài “Theo chân Bác”: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Năm nay, kỷ niệm sinh nhật Bác đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay”. Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm giản dị, trong sáng qua mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta tu chỉnh lại chính mình khi soi chung tấm gương lớn! Mong sao khi soi vào tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những đồng chí lãnh đạo, chủ chốt càng gương mẫu học tập và làm theo Người, nhanh chóng khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; qua đó, công khai, lên tiếng đấu tranh với tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí, cục bộ địa phương…

Sinh nhật Bác cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát động nhiều phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác, lập nhiều thành tích xuất sắc mừng ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Đây không chỉ là dịp để mỗi chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Bác mà còn là dịp để dân tộc Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục đưa đất nước Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân II
xaydungdang.org.vn

Ngàn năm đẹp mãi tên Người – Hồ Chí Minh

Chuyện kể về một làng Sen, một ngôi làng nhỏ nghèo khó nhưng kiên cường, phải sống trong cảnh “đóng khố thay quần” tần tảo quanh năm mà vẫn nghèo túng. Quê hương đó chính là nơi sinh ra Hồ Chí Minh, vị cha già dân tộc đầy kính yêu của nhân dân Việt Nam. Cũng như bao làng quê Việt Nam khác, làng Sen với những mái tranh ẩn mình dưới bóng tre làng, âm vang những lời ca, tiếng hát vượt lên nghèo khó. Người lớn lên, trong tâm hồn mang dấu ấn văn hoá bản sắc quê hương, nơi nuôi dưỡng tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng của Người.

Từng bước trưởng thành và khôn lớn trong nhận thức về nỗi nhục mất nước, thấu hiểu được tình cảnh khốn cùng của cả dân tộc đang bị giày xéo dưới gót giày thực dân Pháp, Người đã nhận ra bộ mặt tàn bạo của kẻ thù, từ đó sôi sục một ý chí tìm ra con đường cứu nước, tìm con đường đúng đắn giải phóng cho dân tộc mình.

Khi theo cha vào Nam và dừng chân tại Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành tham gia dạy học cho trường Dục Thanh, ngôi trường bồi dưỡng tri thức và đạo đức cho thế hệ trẻ thời bấy giờ. Rồi có những buổi bình minh le lói ngôi cầu tròn vời vợi, ngồi trên bãi biển Phan Thiết phóng tầm mắt ra xa khơi, Người mơ về những chuyến đi xa, tới chân trời góc bể – ở những nơi đã sản sinh ra những tư tưởng tiến bộ: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Ở đó đang vẫy gọi bầu nhiệt huyết của người thanh niên đầy dũng khí. Hướng về phương Nam, nơi có đô thị Sài Gòn phồn hoa đô hội, nơi có cảng biển với những con tàu vượt đại dương, Người đã quyết định xếp bút nghiên vào Sài Gòn theo đuổi lý tưởng cao cả đó. Sài Gòn xa hoa, Sài Gòn náo nhiệt, nhưng nghịch cảnh giữa vật chất kim tiền và những cuộc đời lam lũ, khốn khổ của người dân lao động khiến Nguyễn Tất Thành càng hứng khởi hơn cho chuyến hành trình ra đi để “xem nước Pháp và các nước khác họ làm thế nào, để khi về sẽ giúp đồng bào mình”.

Trên chuyến tàu vượt muôn ải trùng dương
Bác ra đi với đôi lòng mong mỏi
Ngày trở về giúp dân mình bớt khổ
Trả thù nhà, xoá nhục nước trăm năm.

Từ  một chàng trai thư sinh có học vấn, con nhà quan triều đình chưa từng chịu lam lũ, nhọn nhằn của lao động chân tay, nhưng vì lý tưởng, vì muốn khám phá cái mới, vì tư tưởng yêu nước thương dân, Người quyết chí xuống làm phu phen phục dịch trên chiếc tàu Latuso Torevin với tên mới Văn Ba để được “xem người ta như thế nào” và cũng là dịp tốt để rèn luyện mình trong lao động như bao thân phận của hàng triệu người dân nước Việt lúc đó. Hoà mình trong đời sống thợ thuyền – một cuộc thâm nhập thực tế lớn lao chưa từng thấy trong đời người lãnh tụ nhân dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, được nhận vào làm phụ bếp trên tàu, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm hiểu nền văn minh thế giới, tìm con đường cứu nước.

Tay cầm tay tròn quay một lời hát
Hồ Chí Minh bát ngát nụ cười hiền
Chuyến đi này là chuyến đi hạnh phúc
Người mang về đất nước trọn niềm vui !

Hồ Chí Minh từng bảo “bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác anh em và hoà bình các dân tộc”. Và trọn hành trình cuộc đời “79 mùa xuân”, Cụ đã làm đúng như những gì mình nói.

Một người hi sinh cả đời mình cho giống nòi, cho đất nước, Hồ Chí Minh thật vĩ đại trong lòng chúng ta. Phạm Văn Đồng, nguyên là học trò Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là bạn chiến đấu trường kì cùng Cụ từng viết: “Cụ Hồ không có cái gì riêng, cái gì của nước của dân là của Người, quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng hàng ngày của Người, gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam”.

Nhân 121 năm ngày sinh nhật Bác, xin kết một tràng hoa “79 mùa xuân” vĩnh cửu mà trọn đời Người cống hiến cho non sông, đất nước, cùng hoà chung vào “rừng xuân đẹp nhất tên Người – Hồ Chí Minh” !.

Thân mời các bạn đón nghe chương trình Radio mừng sinh nhật Bác vào ngày 19 tháng 5, để cùng hoà chung không khí trọn niềm vui của cả dân tộc mà 121 năm trước đó, cả dân tộc hăm hở chào đón sự ra đời của một bậc vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hoá thế giới “Hồ Chí Minh – Ngàn năm đẹp mãi tên Người”.

Đặng Lộc Sâm

suctrenhanvan.edu.vn

Hơn nửa thế kỉ đam mê sưu tầm tem về Bác

(Dân trí) – “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” – đó là câu giải thích cho niềm đam mê sưu tầm tem về Bác trong hơn 50 năm qua của ông Nguyễn Lương Hốt (82 tuổi) ở 10/38 Lê Thánh Tôn, TP Huế, người có nhiều bộ sưu tập tem về Bác Hồ trong CLB tem Huế.

Ông Nguyễn Lương Hốt và bộ sưu tập tem về Bác.

Hơn nửa thế kỷ sưu tầm tem, đến nay ông Hốt đã có những bộ sưu tập đồ sộ, nhiều bộ tem thuộc nhóm quý hiếm như: gần 1 vạn con tem các loại về các chủ đề như: Bác Hồ, Điện Biên Phủ, Cây Tre Việt Nam, chính quyền, thanh niên, lực lượng vũ trang, hoa, bướm, thú … trong đó, bộ tem về Bác Hồ là lớn nhất.

Câu chuyện “bén duyên” với tem được ông cho biết, đó là vào năm 1945, ông tham gia cách mạng với nhiệm vụ bình dân học vụ và xây dựng cơ sở cách mạng tại Hương Trà, TT Huế.

“Hồi đó nhận được thư gia đình, bạn bè là quý lắm, thư trở thành niềm vui chung cho mọi người trong đơn vị. Từ đó, mình luôn trân trọng những cái bì thư có tên những người thân yêu của mình gửi, cũng là lúc tôi yêu những con tem”, ông Hốt nhớ lại.

Năm 1957, ông bị thương phải ra Bắc để điều trị. Khi vết thương lành, ông vào làm việc tại văn phòng Ban thống nhất Trung ương. “Mỗi ngày văn phòng nhận rất nhiều thư của các cơ quan ở miền Nam gửi ra, thư Liên Hiệp Quốc, thư từ nước ngoài, từ đó dễ dàng thực hiện niềm say mê của mình”, ông nói.

Mãi cho đến khi về hưu (năm 1987), ông mới “toàn tâm toàn ý” cho thú chơi tem của mình. “Chơi tem ngoài giải trí, còn rất nhiều cái lợi, vừa văn học nghệ thuật, vừa trí tuệ. Đó là thú chơi tao nhã, lành mạnh. Khi đã say mê rồi thì sẽ từ bỏ được thói hư tật xấu”, ông tâm sự.

Bộ sưu tầm tem kỉ niệm 80 năm sinh nhật Bác Hồ trên tem.

Theo ông, chơi tem ngoài những kiến thức về nội dung in trên tem còn có những cái “ngón nghề” bắt buộc của người chơi tem: đó là sự tỉ mỉ, cẩn thận, cần mẫn, nhờ đó mà cũng tạo nên tính cách thông qua chơi tem.

Ông nói: Tôi học tập được ở Bác nhiều bài học như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư qua những hình ảnh Bác đi tát nước, đi đạp nước với nhân dân qua những con tem.

Một bộ sưu tập tem màu về Bác.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác năm nay (19/5/2010), ông sẽ triển lãm bộ sưu tập “Bác Hồ sống mãi với Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam, Nhân loại thế giới” tại Nghệ An, quê Bác, sau đó sẽ dự triển lãm quốc gia tại Hà Nội, kỉ niệm 1000 năm Thăng Long.

Trước đó, ông Hốt cũng đã cho ra mắt độc giả các tỉnh 5 bộ tem quý về Bác Hồ như bộ sưu tập “Thơ ca, ca ngợi Bác Hồ trên tạp chí tem”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tem bưu chính hiện nay”, “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp”… Trong đó, bộ tem “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp” đã đoạt giải khuyến khích tại triển lãm các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên năm 2004. Bộ tem này sau đó mang đi dự triển lãm tranh tại Bảo tàng trung ương và đoạt giải đồng năm 2005.

Trọng Bình

dantri.com.vn

“Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Anh hùng dân tộc vĩ đại”

Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta…”.

>> “Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm.

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ kỷ niệm có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Tới dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội, các lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội; đại diện các đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Hà Nội.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại những cống hiến to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Việt Nam và thế giới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Với những thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

Bày tỏ niềm tự hào về những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư chỉ rõ, để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn Đảng, toàn dân ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Tổng Bí thư khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hóa những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong không khí trang trọng, chị Nguyễn Thùy An, gương điển hình về học tập và làm theo lời Bác của Tỉnh đoàn Nghệ An, đại diện cho tuổi trẻ cả nước phát biểu bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ. Tuổi trẻ cả nước nguyện suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, tiếp tục cống hiến, nỗ lực học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ, để đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc đối mới xây dựng đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nêu rõ, năm 1987, đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Bày bỏ tình cảm ngưỡng mộ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Katherine Muller Marin xúc động nói, hôm nay, nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Người vì Hồ Chí Minh được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bà Katherine Muller Marin đã nêu bật những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lĩnh vực hoạt động của UNESCO như văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa, truyền thông, bình đẳng giới, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, ngoại giao.

Bà Katherine Muller Marin kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói nổi tiếng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói này còn rất có giá trị và tác động mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới ngày nay, bà Katherine Muller Marin khẳng định.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm ngày sinh của Người, chương trình nghệ thuật đặc sắc do các nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn tại buổi lễ đã ngợi ca công ơn trời biển của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Hương Thủy
Vietnam+

dantri.com.vn

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam”

(Dân trí) – Đó là khẳng định của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) vừa diễn ra long trọng tại Hà Nội sáng nay 18/5.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu tại Lễ mit tinh kỷ niệm.

Dân trí xin trân trọng giới thiệu toàn văn diễn văn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại lễ kỷ niệm sáng nay:

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng,
Thưa các vị khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí,

Hôm nay, cùng với đồng bào, đồng chí cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, với lòng biết ơn vô hạn, chúng ta long trọng tổ chức kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân, người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực và người bạn thân thiết của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Thưa đồng bào, đồng chí,
Thưa các vị khách quý,

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890, trong một gia đình nhà nho thanh khiết, yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Được nuôi dưỡng bởi những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, phải chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước bi hùng của cha ông chống thực dân Pháp xâm lược và cảnh lầm than, cực khổ của nhân dân, Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước-nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua cuộc sống lao động, học tập, nghiên cứu lý luận và nhất là qua thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người là nhu cầu cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Đường lối đó thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội nước ta: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.”

Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta. Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc. Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta. Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.

Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước do nhân dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta, đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam từ nô lệ trở thành độc lập, tự do.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Với những thắng lợi đó, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.” Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, với đặc điểm nổi bật là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội gặp nhiều khó khăn, thử thách, cách mạng nước ta đứng trước nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức to lớn. Đảng ta càng phải nắm vững, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Đó là yêu cầu thiết thực cho việc chuẩn bị tốt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải quán triệt đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã chỉ ra cho cách mạng nước ta. Đây là tư tưởng chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội thể hiện một cách rõ ràng trong từng lời nói và việc làm của Người. Người nói “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt,” “một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng.”

Người còn nói: “Chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.” Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là mục tiêu chung nói rõ thực chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vì dân tộc, vì con người. Đó cũng là động lực, là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân quyết tâm phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Phương châm xây dựng chủ nghĩa xã hội Người nêu ra là: “thiết thực, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể… Chớ đem chủ quan của mình thay thế cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan và tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định chính sách của Đảng và Nhà nước.”

Xác định chủ nghĩa xã hội ở nước ta “là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng,” Người hết sức chăm lo xây dựng các lực lượng cách mạng của nhân dân, trước hết là xây dựng Đảng.

Người nói : “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào.” “Nhiệm vụ của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.” “Đảng ta là đạo đức, là văn minh,” “một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để.” “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,” “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đày tớ tận tuỵ của nhân dân”. Để đáp ứng yêu cầu to lớn đó, Đảng ta cần thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng, làm tốt nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, nhất là trước những tình hình, nhiệm vụ mới.

Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, Đảng ta phải luôn ghi nhớ và thực hành đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ vững sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.”

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại, chưa có tiền lệ, vừa mở đường vừa tiến lên. Trong Đảng có ý kiến khác nhau để tìm tòi các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu của Đảng là cần thiết và là điều bình thường. Tuy nhiên, có lúc, có nơi đã để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng bản vị, cục bộ địa phương, tham vọng quyền lực, tranh công đổ lỗi… là nguyên nhân chủ yếu gây ra chia rẽ, bè phái. “Bệnh này tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất” và thanh danh của Đảng. Đó là một tội ác cần phải loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.”

Nước ta là một cộng đồng gồm 54 dân tộc anh em với nhiều giai tầng và tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng ta chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi tập hợp, đoàn kết được toàn dân trong một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.” Người nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ.”

Chúng ta phải làm cho tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ thấm sâu vào việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, trong tổ chức, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất và thực hiện các nhiệm vụ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phải nắm vững nguyên tắc đại đoàn kết là : trên cơ sở liên minh công, nông, trí thức, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước; lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân làm điểm tương đồng, trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế. Phương pháp đại đoàn kết là phát huy dân chủ, vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương…, lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả cao vào sự nghiệp cách mạng chung.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, cả nước đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thế và lực đã được nâng cao hơn, đất nước đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, kinh tế phát triển chưa bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh còn thấp, trình độ công nghệ còn lạc hậu so với các nước phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.

Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống… chưa được đẩy lùi. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy thật đầy đủ. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Toàn Đảng, toàn dân ta phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nắm vững quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phong trào hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, tăng cường hợp tác, góp phần hình thành một trật tự thế giới công bằng và bình đẳng.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải giải quyết mâu thuẫn lớn của xã hội nước ta là mâu thuẫn giữa trình độ còn thấp kém của lực lượng sản xuất với yêu cầu cao của nền sản xuất hiện đại của chủ nghĩa xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu nhất của chúng ta lúc này là phải dốc sức vào việc phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều của cải để chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời phải chăm lo xây dựng và từng bước phát triển quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp.

Mỗi bước tiến của cách mạng là một bước đem lại những lợi ích thiết thực trong cuộc sống đối với người dân, đem lại công bằng cho xã hội. Dân chủ và công bằng là đặc trưng ưu việt thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là những vấn đề chúng ta phải đặc biệt chú ý khi bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thực hiện những nhiệm vụ trên, mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh. Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ 21, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong công tác xây dựng Đảng, phải làm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời, tổ chức và lãnh đạo thực hiện thành công các quyết định đó. Đồng thời, phải tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao năng lực của các tổ chức đảng, của mọi đảng viên trong vận động, thuyết phục quần chúng. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức và gia đình phải thực sự đi đầu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là tấm gương về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đấu tranh kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Cần phát huy kết quả của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” kết hợp với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và gắn liền với cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đóng góp tài lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời có các biện pháp thiết thực tham gia giám sát cán bộ, công chức, đảng viên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bất kể họ là ai và giữ cương vị gì. Các tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… phải có các biện pháp mạnh mẽ để khắc phục có hiệu quả tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Về mặt tổ chức, cần hết sức coi trọng việc xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức đảng, kiện toàn và đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện các quyết định của cấp uỷ đảng. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tập trung vào những khâu quan trọng, như đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; có cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Thực hiện nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình trong tổ chức đảng, trong cơ quan nhà nước, không né tránh, nể nang; đồng thời lắng nghe ý kiến của nhân dân để có thể đánh giá và lựa chọn đúng những cán bộ có tinh thần tiên phong, gương mẫu, kiên định mục tiêu, lý tưởng, có đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tác phong và lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, được nhân dân tin yêu. Phải làm thật tốt công tác cán bộ, kiện toàn các cấp uỷ đảng, hình thành một đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Cùng với việc đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta phải quyết tâm thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội”, một thế hệ người Việt Nam có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí độc lập, tự cường, tinh thần phấn đấu vươn lên vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc, đất nước; có đức, có tài, đủ sức đảm đương sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thưa đồng bào, đồng chí,

Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hoá những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào đầu năm 2011. Yêu cầu quan trọng của Đảng ta trong lúc này là lãnh đạo thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tăng cường học tập một cách thiết thực tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và kiểm điểm việc thực hiện những nhiệm vụ của giai đoạn 2005-2010, mở rộng sinh hoạt dân chủ để tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.

Nhân buổi Lễ kỷ niệm trọng thể này, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin trân trọng cảm ơn!

dantri.com.vn

Người con Nam bộ với vị cha già của dân tộc

Hồ Chủ tịch trên đường đi chiến dịch biên giới. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Giữa những ngày tháng Năm, trong lúc toàn dân nô nức kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng tôi đã tìm gặp anh Ngô Long Minh, một chứng nhân lịch sử – một thanh niên Nam bộ đã được ra Bắc gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc năm 1953.

Trong ngôi nhà riêng của mình, nằm trong con hẻm đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Minh đã bồi hồi nhớ lại và xúc động kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm lần đầu gặp Bác Hồ, mà theo anh, đó là những giây phút hạnh phúc nhất của đời anh.

“Giữa năm 1952, rời miền Đông Nam Bộ, đoàn chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình ra Bắc. Sau hơn 7 tháng trời gian nan vất vả, trèo non vượt suối, đến đầu năm 1953, chúng tôi đã ra đến Việt Bắc, và đã vinh dự được gặp Bác Hồ.

Hôm ấy, vào buổi chiều tối, chúng tôi được đưa đến một hội trường lớn giữa núi rừng Việt Bắc, có mặt các lãnh đạo trung ương Đảng, Chính phủ và đông đảo các cán bộ. Chúng tôi thấy có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhiều lãnh đạo trung ương và đông đảo các anh hùng chiến sĩ thi đua; những người vừa tham gia chiến dịch biên giới Tây-Bắc trở về.

Lúc đó hội trường đã gần kín hết chỗ. Là những người đến sau, chúng tôi phải kẻ đứng người ngồi. Tuy đông người nhưng không khí vẫn rất trật tự. Riêng tôi thì cứ rạo rực, bồn chồn đứng ngồi không yên, vì có nghe tin hôm nay có Bác Hồ đến. Và không ngờ Bác đã đến. Niềm khát khao, mơ ước bấy lâu nay của chúng tôi đã trở thành sự thật.

Trong lúc mọi người ai cũng mang nỗi khát khao, đợi chờ được thấy Bác, thì bổng có tiếng vọng từ phía trước: “Bác Hồ đến! Bác Hồ đến! Bác Hồ….”. Tất cả trong hội trường đồng loạt đứng dậy và hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Trong tiếng hô vang dậy kéo dài của mọi người, tôi tranh thủ len lỏi chạy lên phía trước để mong sao được thấy Bác ở khoảng cách gần nhất. Khi vừa thấy Bác, tôi không kềm được cảm xúc và hô vang “Bác đây rồi! Bác đây rồi!”

Tôi thấy nước mắt mình cứ tràn ra trong một niềm vui sướng, hạnh phúc không bờ bến. Tiếng hô của tôi đã hòa lẫn trong tiếng vỗ tay hoan hô Bác Hồ như sấm dậy của mọi người.

Sau phút giây không dằn được cảm xúc của mọi người, không khí lắng xuống, bởi mọi người ai cũng muốn nhìn thấy Bác thật kỹ. Ở miền Nam, chúng tôi chỉ thấy ảnh của Bác và nghe những câu chuyện kể về Bác, nhưng sao lần đầu gặp Bác, chúng tôi vẫn thấy Bác gần gũi quá, quen thuộc quá, thân thương quá.

Vẫn bộ áo quần bà ba màu chàm giản dị, khuôn mặt quắc thước, hiền từ với chòm râu dài phất phơ… Bác Hồ đẹp như một ông tiên trong câu chuyện cổ tích. Mọi người lần nữa không kiềm được cảm xúc, lại vỗ tay vang dậy “Hồ Chủ tịch muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”

Bước lên diễn đàn, Bác đưa cả hai cánh tay về phía trước, ra hiệu ngồi xuống, mọi người mới chịu ngồi. Hội trường im phăng phắc, mọi người ai nấy đều cố mở đôi mắt thật to để thu được hình dáng của Bác vào mắt mình nhiều nhất. Lời đầu tiên Bác nói: “Các cháu Nam Bb ở đâu, đứng dậy cho bác xem mặt!”

Tất cả chúng tôi đồng loạt đứng lên để được thấy rõ Bác và mong được Bác nhìn thấy mình. Thấy chúng tôi còn có những người đứng sau xa, Bác liền bảo: “Các chú ngồi hàng trước lùi về phía sau, ưu tiên nhường chỗ cho các cháu Nam Bộ lên ngồi phía trước cho Bác nhìn rõ mặt hơn!”

Tiếng vỗ tay lại vang lên. Nhiều cán bộ trung ương, chính phủ đã vui vẻ lui về hàng sau, nhường chỗ cho chúng tôi, những đứa con của miền Nam được lên ngồi gần Bác. Chúng tôi sung sướng đến nghẹn ngào, không nói nên lời và hầu như ai cũng không cầm được những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng của mình.

Bác đưa ánh mắt trìu mến với tình thương bao la nhìn chúng tôi. Tôi nhớ rất rõ, lời đầu tiên của Bác đã trầm ấm vang lên, rót vào tai, thấm vào lòng chúng tôi từng tiếng:

“Hôm nay muôn dặm một nhà
Cho người thấy mặt để ta thỏa lòng!”

Chúng tôi hiểu rằng, Bác Hồ đã dành cho miền Nam những tình cảm sâu nặng, thiêng liêng. Tấm lòng của Bác đối với nhân dân Nam Bộ cũng như nhân dân cả nước thật bao la như trời biển, như lời Bác thường nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi.”

Trong tình cảm ruột thịt chan hòa của những người con cùng chung một Tổ quốc Việt Nam . Không phân biệt kẻ Bắc, người Nam, chúng tôi đang sum họp một nhà, dưới ánh mắt vui sướng của vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Có niềm vui, niềm hạnh phúc nào như hôm nay!. Tôi và tất cả mọi người hôm đó đều có chung suy nghĩ như thế!”/.

Lê Bá Lư (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hồ Chí Minh với độc lập dân tộc – chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn và sáng tạo về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (Nguồn: Internet)

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã có bài viết : “Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.” TTXVN trân trọng giới thiệu bài viết của giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa:

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra.

Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta.”

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan.

Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tours, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là “Đường Kách mệnh” (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.

Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2/1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác-Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác-Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản.

Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác-Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465).

Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465).

Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp.

Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác-Lênin trong dòng chảy của sự tiến hóa tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hóa nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó.

Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hóa cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được.

Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298).

Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28).

Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp.

Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới.” (Sđd, t.1, tr.416) Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới,” “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.” (Sđd, t.9, tr.314)

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp,” do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không?

Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người,” đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động.

Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hóa, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hóa cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái.

Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội.

Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn, xin nguyện cùng Người vươn tới mãi”

HNP – Nhân dịp kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã có bài viết về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Ảnh tư liệu

Tôi xin mở đầu bài viết bằng hai câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn/Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi” để nói lên tình cảm và nguyện ước của mỗi chúng ta vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Trong di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp của Người là tài sản tinh thần vô giá.

Năm nay, kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Bác, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng; thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quyết tâm nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta tiếp tục vững bước tiến lên phía trước.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta càng thêm tự hào, tin tưởng và biết ơn Bác, Người trọn đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân; là hiện thân của những tư tưởng, tình cảm, đức tính cao đẹp nhất của dân tộc ta; là tấm gương mẫu mực và sáng ngời về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tận trung với nước, tận hiếu với dân; “dĩ công vi thượng”. Càng tự hào, biết ơn Bác, mỗi người chúng ta càng phải nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của việc học tập, làm theo tấm gương vừa vĩ đại vừa gần gũi của Người. Không chỉ cán bộ, đảng viên mà hết thảy, từ người cao tuổi đến các cháu học sinh, ai ai cũng đều mong muốn học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động đã được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chỉ thị 06-CT/TƯ, ngày 7-11-2006 của Bộ Chính trị (khóa X) đã nêu rõ: “Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong Đảng, trong xã hội về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh…, nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

Mới đây, đánh giá về kết quả hơn hai năm thực hiện cuộc vận động, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động đã khẳng định, cuộc vận động đã tạo ra những kết quả tích cực, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng; xây dựng nền tảng đạo đức của Đảng và toàn xã hội. Chính vì vậy, trong thời gian tới phải tiếp tục đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu, trở thành nội dung quan trọng trong mọi hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể ở mọi cấp, mọi ngành, chú trọng cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương để cán bộ, đảng viên, công chức và mỗi người tự giác làm theo; vừa học tập, vừa làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, phong cách làm việc “nói đi đôi với làm”. Đặc biệt phải thực hiện thật tốt Di chúc của Bác Hồ, nhất là những lời căn dặn của Người về xây dựng Đảng để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Mục đích cao cả, lâu dài của cuộc vận động là xây dựng nền tảng đạo đức tinh thần xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là nền tảng tinh thần và động lực phát triển của xã hội; là thực hiện lời dạy vô cùng quan trọng của Người “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Với ý nghĩa ấy, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một cuộc vận động vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, là cơ sở quan trọng cho phép phát huy sức mạnh tổng hợp và lực lượng to lớn trong toàn Đảng, toàn dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và đất nước.

Toàn bộ cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Cho đến trước lúc giã từ cuộc sống, Người chỉ tiếc một điều là không được phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Vì vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là nhu cầu tự hoàn thiện tư cách, đạo đức của mỗi cá nhân, vừa là yêu cầu đối với toàn xã hội; bất cứ ai, dù trên cương vị nào, lứa tuổi nào, cũng đều cần phải và đều có thể học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Để nhấn mạnh sự cần thiết phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của mỗi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CầN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này, từ “Đường Kách mệnh” cho đến bản Di chúc lịch sử. Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…”

Trong rất nhiều bài nói, bài viết, Bác Hồ đã giải thích một cách hết sức sâu sắc và dễ hiểu về nội dung những đức tính quan trọng cần thiết cho mỗi con người.

CẦN theo Người là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao. Người nói: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Muốn thực hiện CầN cho có kết quả thì làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là phải không ngừng nâng cao năng suất lao động…

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đôi với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm cũng như một cái thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì không phát triển được. Bác yêu cầu phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Bác nói: Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm…

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Bác nói: Liêm phải đi đôi với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ…

CHÍNH “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình – không tự cao tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với nguời – không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà; không dối trá, lừa lọc. Đối với việc – để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho dân.

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích: “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm, có dịp là đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp là “dĩ công vi tư”. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết.

Cuộc đời Bác Hồ là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ ăn, mặc, ở cho đến mọi sinh hoạt hằng ngày. Ngay khi đã là Chủ tịch nước, Bác luôn nêu tấm gương vô cùng mẫu mực về đạo đức cách mạng. Trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, bằng hai bàn tay lao động, Người đã trải qua những công việc nặng nhọc và vất vả: phụ bếp, cọ rửa sàn tàu, dọn tuyết. Trong những năm kháng chiến và cả sau này khi đã là lãnh tụ của Đảng và nhân dân, Người vẫn cùng cán bộ, chiến sỹ cuốc đất trồng rau, nuôi cá, sống một cuộc sống giản dị và lạc quan “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. Có biết bao câu chuyện chân thực và cảm động về tấm gương đạo đức của Bác. Có đồng chí yêu cầu Bác bỏ đi chiếc áo vá, nhưng Bác không cho bỏ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Đôi dép cao su, bộ quần áo ka-ki, ngôi nhà sàn, ao cá của Bác Hồ… đã trở thành biểu tượng văn hóa, đạo đức, văn minh của một vị Chủ tịch nước, một lãnh tụ của Đảng, của nhân dân.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của cuộc vận động, hơn hai năm qua, cùng với đồng bào và chiến sỹ cả nước, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội đã sôi nổi hưởng ứng, triển khai thực hiện nghiêm túc, sáng tạo các nội dung của cuộc vận động, bước đầu đạt được những kết quả tích cực.

Bằng các hình thức phong phú, sinh động, chúng ta đã tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho mọi người càng thêm tin tưởng, tự hào và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, càng thêm quyết tâm trong học tập, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện. Ai ai cũng thấm nhuần lời nhắc nhở hết sức ân cần của Bác: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Đạo đức cách mạng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Cuộc vận động có sức lôi cuốn và lan tỏa đến 6,4 triệu người dân và 31 vạn đảng viên của Đảng bộ thành phố. Các hình thức học tập đa dạng, các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác… đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chúng ta cũng vui mừng nhận thấy, cuộc vận động được triển khai thực hiện hơn hai năm qua đã tạo nên một dấu ấn sâu sắc trong suy nghĩ của đại bộ phận cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước.

Sau hơn hai năm thực hiện, đã xuất hiện nhiều điển hình cá nhân, tập thể trong việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác, tiêu biểu là 144 tập thể và 71 cá nhân được tuyên dương tại Hội nghị biểu dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” của thành phố vừa qua. Ở mỗi cấp, mỗi ngành và từng địa phương, đơn vị đều có thể kể ra những tấm gương, những việc làm thiết thực hưởng ứng cuộc vận động. Những việc làm ý nghĩa đó đã góp phần đem lại kết quả cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong mọi lĩnh vực của Thủ đô: Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện nghiêm túc, với việc giảm bớt các cuộc họp không cần thiết, rút ngắn thời gian đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc họp; sử dụng hợp lý, tiết kiệm xăng, xe, điện, nước, văn phòng phẩm nơi công sở. Công tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, giảm bớt phiền hà và thời gian chờ đợi của người dân, tổ chức và doanh nghiệp. Không ít cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đã tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn…

Mặc dù đã đạt được một số kết quả và chuyển biến tích cực, song đối chiếu với yêu cầu của cuộc vận động và những thiếu sót, khuyết điểm cần phải ra sức khắc phục, nhất là yêu cầu “đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội” và để cuộc vận động thực sự trở thành động lực mạnh mẽ giúp thành phố thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội một cách xứng đáng nhất, trong thời gian tới, các ngành, MTTQ, các tổ chức, đoàn thể thành phố cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Kế hoạch số 14-KH/TU ngày 10-3-2009 của Thành ủy về thực hiện cuộc vận động trong năm 2009, trong đó chú trọng thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, từng cấp ủy, nhất là các cấp ủy ở cơ sở phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu, thấm vào mọi hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể ở mọi cấp, mọi ngành từ thành phố tới cơ sở. Cần cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể ở từng cơ quan, đơn vị sao cho dễ hiểu, dễ nhớ; đồng thời có biện pháp tổ chức để mọi người tự giác thực hiện làm theo. Mỗi cơ quan, đơn vị, từng cá nhân, cán bộ, đảng viên Thủ đô căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình, chọn lấy những việc làm cụ thể để phấn đấu, thực hiện, quyết tâm làm bằng được.

Hai là, học tập và làm theo, nhận thức và hành động cần phải được kết hợp một cách sinh động, cụ thể và thiết thực; phải gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở từng cấp, từng ngành. Kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cá nhân, tổ chức là thước đo rõ nhất kết quả thực hiện cuộc vận động. Nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong năm 2009 là tập trung thực hiện tốt các giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, cùng với đó là tiếp tục thực hiện 9 chương trình công tác lớn của Thành ủy, 5 nhiệm vụ trọng tâm, 2 khâu đột phá của thành phố; đẩy mạnh thực hiện và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào thi đua yêu nước hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Điều làm chúng ta trăn trở, suy nghĩ hơn cả, đó là chúng ta phải làm gì để biến quyết tâm của Đảng bộ, của lãnh đạo thành phố thành phong trào, động lực, là niềm tự hào của mỗi người dân trong việc giữ gìn những nét đẹp văn hóa của người Hà Nội, của văn hóa Thăng Long, văn hóa xứ Đoài. Bên cạnh việc ra sức hoàn thành đúng thời hạn các công trình, dự án trọng điểm, một trong những trọng tâm của việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong năm 2009 – 2010 là khơi dậy ý thức và thực hiện tốt việc xây dựng nếp sống văn hóa người Hà Nội “thanh lịch, văn minh, giàu lòng nhân ái, có ý thức chấp hành pháp luật”, trong đó việc đề cao vai trò tiền phong gương mẫu và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, đơn vị của thành phố có vai trò quyết định.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền; thực sự đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Kịp thời phát hiện để biểu dương, nhân rộng những tấm gương cá nhân, tập thể điển hình trong thực hành làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, đặc biệt là ở những người lao động trực tiếp; đồng thời phê phán, đấu tranh với những thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu, những cá nhân và tập thể không gương mẫu trong công việc và đời sống hằng ngày.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá mà Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhất định sẽ thu được kết quả thiết thực, to lớn hơn khi mỗi cán bộ, đảng viên, người dân Hà Nội tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là danh dự, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

Như muôn mạch nước nhỏ hòa thành dòng sông lớn, mỗi ngày, mỗi người hãy cố gắng làm thêm một việc tốt, có ích cho mình, cho cơ quan, đơn vị, có lợi cho dân, cho nước. Nếu ai cũng làm được như vậy thì chắc chắn sẽ tạo thành một động lực mạnh mẽ, làm chuyển biến nhanh hơn nữa, tích cực hơn nữa mọi mặt của đời sống xã hội, làm cho Thủ đô yêu quý của chúng ta ngày càng đẹp hơn, thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân cả nước. Đó chính là chúng ta làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ một cách thiết thực nhất.

Phạm Quang Nghị – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
hanoi.gov.vn