Thư viện

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”- Kỳ 4: Căng thẳng

Ngày 17/9/1970, tại bàn đàm phán Pari chúng tôi mở đợt tấn công 8 điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam đòi Mỹ rút hết quân trước ngày 30/6/1971 và gạt bỏ Thiệu – Kỳ – Khiêm, thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời ở miền Nam và được dư luận thế giới hoan nghênh, cho là linh hoạt, mềm dẻo.

Quang cảnh phiên khai mạc Hội nghị Pari tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Pari (Thủ đô CH Pháp) ngày 13/5/1968. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bên phải) và đoàn đại biểu Hoa Kỳ (bên trái) tham dự Hội nghị. Ảnh Tư liệu -TTXVN

… Năm 1971, tình hình chiến trường rất căng thẳng. Trên bàn hội nghị cuộc đấu lý cũng hết sức gay gắt. Đến những tháng cuối năm 1971, đầu 1972 thế địch ta giằng co, trên bàn hội nghị cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục nhưng là “Cuộc nói chuyện giữa những người điếc” như lời các nhà báo. Có thể nói đây là thời gian chán ngán nhất của chúng tôi. Những lúc như thế càng thấy nhớ gia đình. Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng chữ nguệch ngoạc của Mai, con gái tôi, đã mười một tuổi (khi tôi ra đi, cháu mới lên tám) “Chừng nào mẹ về với chúng con?”. Chồng tôi vẫn ở trường Công binh nhưng sức khỏe anh đã bắt đầu giảm sút. Tôi thêm một mối lo mà chẳng biết làm sao, tôi không được ở gần để chăm sóc anh…

Tâm trạng riêng của tôi là vậy, và tôi biết mỗi người trong đoàn đều có những ngổn ngang riêng, nhưng có điều rất đặc biệt là tất cả chúng tôi không bao giờ nghĩ Việt Nam có thể thất bại. Chúng ta nhất định chiến thắng, vấn đề chỉ là “lúc nào?”.

Tháng 2/1971, Mỹ mở chiến dịch đường 9 Nam Lào nhằm cắt đứt liên lạc giữa Bắc – Nam, hòng bao vây cô lập Quân giải phóng của chúng ta, nhưng chúng đã thất bại nặng nề. Khi chúng tôi từ Pari thông báo cho Stockholm, Rome, Montréal, New York về việc Mỹ mở rộng xâm lược đối với Lào, thì từ các nơi này tin tức lập tức lan truyền đến các nước khác. Các cuộc biểu tình, mít tinh liền nổ ra khắp nơi, lên án Mỹ, đòi Mỹ chấm dứt leo thang chiến tranh.

Những ngày đó, cả hai đoàn Nam Bắc chúng tôi rất bận rộn. Chúng tôi thực hiện cái mà chúng tôi gọi “đối ngoại phối hợp với chiến trường”. Hơn một tháng sau, quân Mỹ – ngụy phải rút khỏi Nam Lào, tổn thất rất lớn về quân sự và cả về chính trị. Thế ta ngày càng mạnh lên rõ rệt. Với ý thức hết sức khiêm tốn, tôi nghĩ có thể nói những chiến sĩ ở Pari bấy giờ cũng đã góp phần dù nhỏ và gián tiếp của mình vào chiến thắng Nam Lào năm ấy.

Ngày 1/7/1971, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam đưa ra kế hoạch nổi tiếng 7 điểm: Mỹ rút hết quân đi đôi với việc thả tù binh, chính quyền miền Nam phải từ chức và nhường chỗ cho một chính quyền mới sẵn sàng bàn bạc với Chính phủ Cách mạng Lâm thời để lập ra Chính phủ hòa hợp dân tộc. Như vậy là ta chủ động tách vấn đề rút quân Mỹ với vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Lại thêm một bước đi khôn khéo của chúng ta. Trong ngoại giao vẫn thế, rất nhiều khi mềm dẻo lại chính là tấn công. Sáng kiến này gây chấn động mạnh, được dư luận thế giới hoan nghênh, nhiều Chính phủ các nước lên tiếng ủng hộ. Oasinhtơn tìm cách bày mưu khác. Kissinger rồi Nixon đi thăm Bắc Kinh, thâm ý làm cho mọi người nghĩ rằng vấn đề Việt Nam sẽ do các nước lớn giải quyết với nhau, và cũng còn nhằm chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc. Báo chí nước ngoài nói nhiều về cuộc họp bí mật ở Thượng Hải và tuyên bố của Trung Quốc “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi”. Tôi nghĩ rằng rồi lịch sử sẽ còn ghi nhớ cuộc họp bí mật “không bình thường” này.

Không gì có thể làm cho nhân dân hai miền chúng ta nhụt chí, cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao càng được đẩy mạnh.

Giữa năm 1971, tôi về Hà Nội đúng những ngày lũ lụt lớn. Quân đội và nhân dân đang cố gắng vừa chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, vừa giữ vững đê sông Hồng, phá cả đê bao Gia Lâm để nước không tràn vào Hà Nội.

Tháng 3/1972, quân dân ta bắt đầu cuộc tiến công lớn ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Quảng Trị – Thừa Thiên là hướng quan trọng. Chiến dịch ở Quảng Trị kéo dài đến tháng 9/1972 là một trong những chiến dịch ác liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi trở lại Pari đầu năm 1972 và lại tiếp tục đến Kléber mỗi sáng thứ năm. Trên chiến trường lúc này rất căng thẳng, nhưng trên bàn hội nghị thì vẫn là cuộc đối đáp “giữa những người điếc”. Cảm giác chán ngán vẫn đeo đẳng, cứ phải tố cái âm mưu, tội ác của Mỹ – Thiệu, đòi Mỹ rút quân không điều kiện, không biết chừng nào mới ra khỏi bế tắc. Phải tìm cách gỡ ra cho kỳ được. Ngày 11/1/1972, tôi được chỉ thị tuyên bố 2 điểm, đề nghị một giải pháp logic và hợp lý: Rút quân Mỹ, thành lập ở miền Nam một Chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần: Chính phủ Cách mạng Lâm thời, chính quyền miền Nam và thành phần thứ ba.

Lúc này trên chiến trường quân ta ở thế phản công, ở Mỹ là năm bầu cử Tổng thống, Nixon đang chịu áp lực mạnh của nhân dân đòi đưa binh lính Mỹ về nước. Tôi cho rằng lập trường 7 điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cùng 2 điểm nói thêm, nhấn mạnh đến yêu cầu Mỹ phải rút quân, để các bên Việt Nam ở miền Nam giải quyết vấn đề nội bộ của mình, là một chủ trương chiến lược sáng suốt và đúng lúc, chúng tôi ra sức tuyên truyền, giải thích… Dư luận thế giới, đặc biệt ở Mỹ hoan nghênh, chính quyền Sài Gòn càng lúng túng, mâu thuẫn nội bộ của họ càng tăng, họ càng bị nhân dân căm ghét.

Để đánh lừa dư luận Mỹ trước bầu cử rằng chính quyền Nixon đang sắp đạt được một giải pháp chính trị cho chiến tranh ở Việt Nam, tại Pari phía Mỹ đồng ý cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi vào đàm phán “bí mật”. Cuộc đấu trí lịch sử giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kissinger bắt đầu. Có thể nói đến lúc này trên cả hai mặt trận quân sự và ngoại giao đều vào hồi quyết liệt. Đồng thời không quân Mỹ còn dự định ném bom phá đê sông Hồng giữa mùa nước lớn hòng dìm xuống nước mấy triệu con người. Lúc đó, tại bàn hội nghị, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên tiếng tố cáo âm mưu độc ác của Mỹ. Chúng ta đã mời nhiều đoàn khách quốc tế đến tận nơi để quan sát. Chính vào lúc này, chị Jane Fonda đến thăm đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời ở Pari, ăn cơm với tôi, rồi đi thăm Việt Nam. Và cũng vào dịp này, ông Ramsey Clark – nguyên Bộ trưởng Tư pháp dưới thời kỳ Tổng thống Johnson, đã từ chức vì không tán thành chính sách chiến tranh của Mỹ, cũng đi Hà Nội. Cả hai, chị Jane và ông Ramsey, sau khi từ Việt Nam trở về Mỹ, đều nói điều “mắt thấy tai nghe” rằng đó là những đê điều bảo vệ đồng bằng sông Hồng, không phải là hệ thống quân sự như chính phủ Mỹ lừa dối dư luận. Ông Raymomd Aubrac, người bạn lớn của chúng ta ở Pháp cũng rất tích cực vận động Vatican, Liên hợp quốc lên tiếng ngăn chặn kế hoạch tội ác nói trên. Ở trong nước, chiến tranh lên đến đỉnh cao ở cả hai miền. Đường mòn Hồ Chí Minh bị bắn phá 24/24 giờ mỗi ngày. Các cảng ở miền Bắc bị thủy lôi bao vây.

Ở Pari, chúng tôi từng giờ hướng về Quảng Trị, đặc biệt về cuộc chiến đấu ở Thành cổ nổi tiếng. Không có tin tức cụ thể, kịp thời, nhưng những gì được thông báo làm nhói tim chúng tôi. Chúng tôi biết các chiến sĩ của chúng ta đều rất trẻ. Họ hiểu cuộc giành giật “đất” ở đây có nghĩa là giành lại Tự do và Độc lập cho Tổ quốc, và họ sẵn sàng hy sinh. 81 ngày đêm khốc liệt, quân ta không giữ được Thành cổ, nhưng tinh thần kiên cường chiến đấu của các chiến sỹ là thể hiện quyết tâm không gì lay chuyển được của cả dân tộc, và ở Pari chúng tôi hiểu chính tinh thần đó đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của chúng tôi trên bàn hội nghị.

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

Kỳ 5: Thắng lợi

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”- Kỳ 3: Mặt trận báo chí

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời được 8 năm đã lớn nhanh như Phù Đổng. Các Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thành lập ở khắp nơi, kể cả trong vùng còn bị địch tạm chiếm.

Đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các cố vấn tại phiên đàm phán chính thức giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày 13/5/1968. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Ở nước ngoài, tuy với danh nghĩa là Mặt trận, nhưng đã được nhiều nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nước bạn bè khác công nhận như là một chính phủ. Đã đến lúc thành lập chính phủ để thực hiện việc quản lý vùng giải phóng ngày càng rộng lớn, và có tiếng nói chính thức của nhân dân miền Nam trên trường quốc tế. Ngày 6/6/1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập với 12 chính sách đối nội và đối ngoại, là một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Chính phủ có Hội đồng Cố vấn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch, cùng nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng tham gia. Đứng đầu Chính phủ là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Tôi được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời làm trưởng đoàn đàm phán tại hội nghị bốn bên ở Pari thay đồng chí Trần Bửu Kiếm về nước làm Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ. Đón tin bổ nhiệm làm Bộ trưởng, tôi thực sự không coi là tin vui, mà thấy nhiệm vụ sẽ nặng nề hơn.

Việc công bố thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam là sự kiện rất quan trọng, nhân dân trong nước vui mừng, ở Sài Gòn rất xôn xao, dư luận quốc tế cũng hết sức quan tâm. Tại bàn đàm phán khi đưa ra việc tôi thay thế đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, đồng thời đoàn ta từ đây sẽ dự hội nghị với tư cách là đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam vừa được thành lập, chúng tôi dự kiến có mấy khả năng xảy ra: đại diện Mỹ có thể phản đối, ngừng cuộc họp… Không ngờ hôm đó trưởng đoàn Mỹ chỉ tỏ ra hơi bất ngờ và phát biểu gượng gạo “ai đại diện là việc nội bộ của quý vị…”. Còn ở đoàn chúng tôi tại Pari những ngày này là những ngày hội. Tôi nhận được rất nhiều hoa và thiếp chúc mừng, phải liên tục đón tiếp các đoàn. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy dẫn đầu đến trước tiên. Rồi đến các Đại sứ Liên Xô, Trung Quốc, Cuba… đến chúc mừng và thông báo Chính phủ các nước ấy chính thức công nhận ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hội Liên hiệp Việt kiều ở Pháp, Đảng Cộng sản Pháp cùng các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, công đoàn… liên tiếp đến. Báo chí quốc tế đưa tin dồn dập. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có 20 nước, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa và hai nước bạn chí cốt của Việt Nam là Cuba và Algérie, ra tuyên bố công nhận ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thế của đại diện miền Nam trên bàn hội nghị rõ ràng mạnh hơn và đàng hoàng hơn.

Thành phần đoàn chúng tôi không có gì thay đổi lớn. Tôi thay đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn. Các đồng chí Đinh Bá Thi và Nguyễn Văn Tiến là phó trưởng đoàn. Chị Duy Liên cũng về nước, nhưng đoàn lại được tăng cường chị Nguyễn Thị Chơn, và năm sau là chị Phan Thị Minh.

Tại Pari, đoàn chúng tôi có trụ sở tại Verrièré-le-Buisson (đường Cambacéres) và một bộ phận tại Massy cách đó năm, sáu cây số, trong một khu lao động. Toàn bộ đoàn không quá 30 người kể cả cán bộ nhân viên giúp việc. Riêng ở Verrièré-le-Buisson chỉ có 10 người: Tôi, Bình Thanh và vài đồng chí lễ tân, bảo vệ… Đây là một biệt thự cũ nhưng xinh xắn, nằm trên một khu đồi rộng, từ đó nhìn xuống hồ nước có mấy con thiên nga bơi lội, rất nên thơ. Sau nhà là một vườn nhỏ với khoảng chục cây cerise, buổi chiều chị em trong đoàn thường thích ra hái quả ăn và trò chuyện. Trước dãy nhà sau bếp, đồng chí cấp dưỡng có trồng mấy luống rau cải và nuôi mấy con gà. Sau những buổi làm việc căng thẳng, chúng tôi thường tham gia tưới rau, cho gà ăn, giải trí. Chúng tôi đã sống tại biệt thự Verrièré-le-Buisson gần năm năm cùng với năm năm đời thiên nga trong hồ. Cũng là năm năm lịch sử khó quên.

Phục vụ việc đi lại hoạt động của đoàn, chúng tôi được Chính phủ Pháp cử cảnh sát hộ tống, trưởng đoàn được một xe cảnh sát, bốn mô tô hộ tống hai bên, nếu đi cả đoàn như những hôm họp ở Kléber thì phải tám mô tô.

Đảng Cộng sản Pháp là tổ chức giúp đỡ đoàn nhiều nhất. Chúng ta chỉ có một số cán bộ bảo vệ từ trong nước sang, còn tất cả các đồng chí bảo vệ khác và cả lái xe đều do Đảng Cộng sản Pháp phái đến giúp đoàn, không công.

Hầu hết thành viên của đoàn là cán bộ chính trị từ nhiều địa phương, nhiều ngành đến, chỉ có một đồng chí quân sự. Chúng tôi làm việc với nhau rất đoàn kết, mọi người chỉ đinh ninh một tâm niệm vì miền Nam ruột thịt, vì những người thân yêu đang chiến đấu ở quê hương, phải làm tốt nhất nhiệm vụ của mình. Bình Thanh, cô thư ký rất nhạy cảm của tôi thường nói: “Đây là một tập thể yêu thương”. Chúng tôi ít đi chơi, chỉ thỉnh thoảng cả đoàn rủ nhau ra công viên hay vào rừng hái nấm. Bên Massy có hai bàn bóng bàn, chiều nào anh em cũng đánh bóng và chơi bi sắt. Báo chí nước ngoài, nhất là báo Pháp, so sánh đoàn chúng tôi với đoàn Sài Gòn. Lương của họ khá cao, họ có điều kiện đi giải trí nhiều nơi. Có báo viết cơ quan chúng tôi như một “nhà tu”, nam giới không có vợ đi theo, nữ cũng không có chồng đi theo. Chúng tôi sống rất đạm bạc, tiết kiệm.

Có những nhà báo muốn quay phim cảnh sinh hoạt ăn ở của trưởng đoàn “Việt cộng”, chúng tôi kiên quyết từ chối, lấy lý do phong tục Việt Nam không cho phép đưa công khai sinh hoạt riêng của người phụ nữ. Thực tế là chúng tôi khó lòng cho họ xem chỗ ở của tôi và Bình Thanh, trên gác thượng (mansarde) sát mái, chỉ có hai cái giường sắt như ở bệnh viện. Có nhà báo tò mò hỏi tôi đi may áo dài ở đâu, làm tóc ở đâu, chăm sóc sắc đẹp ở đâu, tôi tìm cách đối đáp cho qua chuyện. Cũng có phóng viên hỏi soi mói: “Bà có phải là đảng viên cộng sản không?”, tôi chỉ mỉm cười trả lời: “Tôi là người yêu nước, Đảng tôi là đảng yêu nước, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của đất nước”. Có nhà báo nhận xét: “Tên bà là hòa bình nhưng bà chỉ nói về chiến tranh”. Tôi có thể nói gì khác là lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và nêu rõ ý nghĩa cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì hòa bình và độc lập, tự do? Phải khẳng định rằng chúng ta không hề muốn có chiến tranh. Chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã buộc nhân dân ta phải đứng lên tự vệ…

Đối phương cũng như một số báo chí thường xoáy vào vấn đề có quân đội miền Bắc ở miền Nam Việt Nam không? Chúng tôi được chỉ thị không nói có mà cũng không nói không. Tôi trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Các nhà báo có xoay đi xoay lại thế nào chúng tôi cũng chỉ một mực giữ nguyên cách nói đó, cuối cùng họ cũng đành chịu. Năm 1969, chúng tôi tuyên bố vùng giải phóng chiếm hai phần ba miền Nam.

Đến năm 1971, chúng tôi “mở rộng” ra đến ba phần tư. Lúc đó chiến trường quân chủ lực ta có khó khăn, một số phải dạt ra biên giới Campuchia. Địch ném bom khắp nơi, kể cả vùng ngoại ô Sài Gòn. Chúng tôi bàn với nhau để trả lời báo chí: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”. Lý lẽ này vững vàng, khiến các nhà báo đều gật đầu.

Tôi nhớ nhất một cuộc gặp mặt báo chí trên truyền hình trực tiếp vào giữa năm 1971. Truyền hình Pháp có sáng kiến tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Pari và Washington. Có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ coi như bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người khác phần lớn là Pháp coi như trung lập, khách quan. Khi được mời, tôi có phần ngần ngại, nghĩ mình chỉ có một mình giữa bao nhiêu nhà báo sừng sỏ không quen biết, lại phải tranh luận bằng tiếng Pháp. Đồng chí Dương Đình Thảo, người phát ngôn của đoàn và anh chị em động viên tôi, coi đây là dịp rất tốt để ta giới thiệu trước toàn thế giới lập trường chính nghĩa của ta và vạch âm mưu, tội ác của Mỹ, nên phải hết sức tận dụng. Gần hai tiếng đồng hồ căng thẳng dưới ánh đèn sáng chói của trường quay. Các nhà báo chủ yếu xoay quanh lập trường của Mỹ và Việt Nam tại bàn đàm phán. Tuy hồi hộp tôi vẫn cố gắng bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí của chúng ta muốn tìm giải pháp chính trị, chấm dứt đau khổ của nhân dân, và cũng kiên quyết đến cùng vì tự do độc lập và thống nhất thiêng liêng của đất nước… Kết thúc họp báo tôi thở phào vì đã hoàn thành một nhiệm vụ phức tạp. Đồng chí Xuân Thủy điện thoại khen: “Cô rất dũng cảm”. Nhiều bạn Pháp, nhất là các bạn nữ thì gọi điện hoan hô, coi đây là một thành công quan trọng. Nhiều ngày sau, báo chí còn tiếp tục nói đến sự kiện này.

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

Kỳ 4: Căng thẳng

Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử – Kỳ 2: Quyết tâm sắt đá

Ngày 20/12/1960, sau bốn năm đấu tranh chính trị quyết liệt không thành, nhân dân miền Nam Việt Nam đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đoàn kết các tầng lớp nhân dân giương cao ngọn cờ tiếp tục đấu tranh chống xâm lược đòi độc lập và thống nhất.

Mặt trận tuyên bố lập trường hòa bình trung lập, là một chủ trương rất phù hợp với tình hình, làm nổi bật nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân miền Nam và tranh thủ được sự ủng hộ rộng lớn của nhân dân thế giới, từ các lực lượng cách mạng tiến bộ đến các nhà hoạt động xã hội, tôn giáo, hòa bình, các đảng phái chính trị khác nhau, kể cả những người không ưa chủ nghĩa xã hội và “sợ cộng sản”. Trong gần 16 năm, lá cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận đã phấp phới bay trên hầu khắp năm châu, thực sự là biểu tượng cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam. Biết bao nhiêu người đã ngã xuống dưới lá cờ vẻ vang này vì sự nghiệp chung của dân tộc.

Ngày 9/5/1968, tại sân bay Buốcgiê (Pháp), đông đảo kiều bào Việt Nam, nhân dân Pari và các phóng viên nước ngoài vây đón đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Pari tham dự cuộc đàm phán hòa bình. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Tại cuộc đàm phán bốn bên ở Pari, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với tư cách đại diện của nhân dân miền Nam đang trực tiếp chiến đấu đã đưa ra giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình, và từng thời kỳ, linh hoạt theo từng bước diễn biến của cuộc đấu tranh, đã đưa ra những sáng kiến mà chúng tôi gọi là những cuộc tấn công ngoại giao, tỏ rõ thiện chí của mình, tranh thủ thêm dư luận, đẩy đối phương vào thế ngày càng lúng túng. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tư cách đại diện cho nhân dân miền Bắc, hậu phương của cuộc chiến đấu, luôn đề cao vai trò của Mặt trận, ủng hộ mọi giải pháp do Mặt trận đưa ra. Đến nay nhớ lại tôi vẫn còn như thấy bên tai tiếng nói điềm đạm, khoan thai của đồng chí Xuân Thủy mỗi lần tôi tuyên bố một sáng kiến mới: “Tôi hoàn toàn nhất trí với bà Bình”. Đấy cũng là lúc ở trong nước vang lên tiếng nói tha thiết của nhân dân hai miền: “Miền Nam gọi, miền Bắc trả lời”. Về mặt công khai là vậy, còn bên trong hai đoàn phối hợp với nhau rất chặt chẽ dưới một sự chỉ đạo linh hoạt và tinh tế từ trong nước.

Bước vào đàm phán, buộc phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đàm phán, là một thất bại lớn của Mỹ. Trên bàn hội nghị, cuộc đấu lý diễn ra rất dai dẳng. Hai đoàn chúng ta nhằm vào Mỹ phê phán, lên án. Còn Mỹ thì tránh né, đẩy cho đoàn Sài Gòn đối đáp dài dòng…

Sau 5 tháng hội nghị, ngày 8/6/1969, Tổng thống Nixon tuyên bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, để lộ ý đồ dùng người Việt đánh người Việt, báo chí quốc tế thì gọi là “thay màu da trên xác chết”.

Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber của Pháp nằm trên đường Kléber, cách Khải hoàn môn gần trăm mét, tức ở chính giữa thủ đô Pari. Tòa nhà kiến trúc hơi xưa, không rộng lắm, nhưng rất uy nghi. Một cái sảnh dẫn đến phòng họp lớn, xung quanh có bốn phòng làm việc. Có hai cửa chính đi vào, đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn cùng vào một cửa, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam một cửa.

Phiên họp đầu tiên là sự kiện quan trọng, có thể nói cả thế giới đều hướng về nơi đây, mong hội nghị sẽ sớm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh đã gây biết bao đau thương hơn chục năm trời. Các nhà báo đến rất đông. Nhân dân Pari, đặc biệt đông đảo kiều bào ta với lá cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ của Mặt trận hân hoan chào đón hai đoàn chúng tôi. Lác đác cũng có mấy lá cờ ba sọc của chính quyền Sài Gòn. Khó nói hết được cảm xúc của bà con Việt kiều trước cảnh lá cờ của Tổ quốc và của Mặt trận xuất hiện giữa Pari, lại trong ngày diễn ra một sự kiện trọng đại gắn liền với cuộc chiến đấu gian nan và anh hùng của nhân dân ta. Biết bao nhiêu xương máu đã đổ dưới hai ngọn cờ vinh quang này. Có cụ phụ lão Việt kiều nghẹn ngào tâm sự: “Bao nhiêu năm nay chúng tôi đâu có quyền được phất lá cờ này. Có người đã vì nó mà phải bị bắt bớ tù đày. Nay thấy đại diện của ta giương cao ngọn cờ của đất nước, được cả cảnh sát Pháp hộ tống đi giữa Pari, còn vui sướng nào bằng!”. Còn chúng tôi, được vinh dự thay mặt nhân dân hai miền đang chiến đấu để đến đây, chúng tôi hiểu sâu sắc dù nhiệm vụ của chúng tôi có khó khăn đến mấy cũng không thể so sánh được với sự hy sinh của đồng bào chiến sĩ ta trên chiến trường. Nhưng tiền tuyến ngoại giao này cũng là một mặt trận, cố gắng góp phần đắc lực nhất cho thắng lợi của chiến trường. Trong suốt bốn năm liền, cứ mỗi ngày thứ năm hàng tuần, hai đoàn chúng tôi đến trung tâm hội nghị Kléber chính là để làm nhiệm vụ đó, nhiệm vụ vạch trần âm mưu xâm lược của Mỹ trước dư luận thế giới, làm rõ chính nghĩa vì độc lập, tự do và thống nhất của nhân dân ta.

Trong các phái đoàn ở hội nghị điều đáng chú ý là ba đoàn không có thành viên nữ, chỉ đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có. “Đội quân tóc dài” miền Nam có mặt tại Pari. Đoàn chính quyền Sài Gòn lúc đầu có Nguyễn Thị Vui, nhưng sau không thấy xuất hiện nữa. Cũng khá lý thú là chuyện thiết bị kỹ thuật: trên bàn của hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ có một máy magnétophone để thu phát biểu của mỗi đoàn, trong khi phía Mỹ thì đầy máy móc hiện đại, có thể thông tin thẳng về Washington, quả thật “tương quan” rất chênh lệch. Nhưng về đấu lý ta chẳng hề thua, nhất là khi mọi người đều có thể thấy thái độ khoan thai, điềm đạm mà cứng cỏi của đồng chí Xuân Thủy. Đồng chí Xuân Thủy và tôi (sau khi nhận nhiệm vụ thay đồng chí Trần Bửu Kiếm) đã làm trưởng đoàn đàm phán đến khi hội nghị kết thúc, trong lúc Mỹ thay trưởng đoàn tới năm lần (Cabot Lodge, David Bruce, William Porter, Habib, Bunker). Nhiều nhà bình luận đã nói vui: “Việt cộng nhất định thắng vì họ quá kiên trì!”. Đây cũng là sự thể hiện quyết tâm sắt đá của ta, và sự lúng túng của Mỹ.

Tại bàn hội nghị, tôi thường chú ý quan sát hai đoàn đối phương, nhất là đoàn chính quyền Sài Gòn, trong nhiều năm do Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn. Nhìn họ, tôi tự hỏi không biết họ đang nghĩ gì trong đầu, về tương lai của đất nước, và của chính họ? Sau này, tôi được biết Phạm Đăng Lâm là người cùng quê với tôi, quả là Mỹ chia cắt đất nước, đến từng xóm làng, từng gia đình.

Cuối tháng 4/1969 tôi về Hà Nội để nhận chỉ thị mới. Tôi đi thăm ba tôi ở Bệnh viện Việt – Xô. Ba tôi nằm bệnh viện đã mấy tháng rồi. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Ba. Cuối tháng 5, ở Pari, tôi được tin ba đã mất. Tôi vô cùng đau đớn, ân hận đã không có mặt bên cạnh ba trong những giây phút cuối cùng của ông.

Cũng lần về nước này, Bác Hồ gọi tôi đến thăm và ăn một bữa cơm với Bác, Bác hỏi thăm về công việc đàm phán ở Pari phong trào kiều bào ở Pháp, ở Anh… Bác dặn tôi hết sức quan tâm vận động nhân dân các nước, vì họ là những người yêu chuộng hòa bình và công lý. Tôi không ngờ đó là lần cuối tôi được gặp Bác.

Tôi đem đến bàn hội nghị lập trường 10 điểm của Mặt trận. Đồng chí Trần Bửu Kiếm, trưởng đoàn, tuyên bố lập trường này tại cuộc họp ở Kléber ngày 8/5/1969. Tác động của lập trường 10 điểm rất lớn, đặc biệt đối với dư luận Mỹ, chính điều này cắt nghĩa cho những hoạt động sôi nổi, có lúc quyết liệt ở Mỹ trong thời gian đó.

Đầu tháng 9, một điều vô cùng đau đớn đối với chúng tôi: Bác Hồ, vị cha già của dân tộc đã ra đi… khi cuộc chiến đấu của nhân dân đang trong giai đoạn quyết liệt.

Ngày 2/9, tôi và đồng chí Xuân Thủy về Hà Nội, chịu tang Bác. Cả nước đau buồn.

Chính quyền Nixon hy vọng nhân dân ta sẽ xao lòng, nhưng ngược lại càng thương nhớ Bác, nhân dân ta càng quyết tâm chiến đấu để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ sớm đến thắng lợi cuối cùng. Hai đoàn đàm phán của chúng tôi ở Paris cùng một tâm nguyện: đấu tranh đi đến một giải pháp đảm bảo hoàn toàn quyền độc lập tự do thiêng liêng của dân tộc.

Nguyễn Thị Bình
baotintuc.vn

Kỳ 3: Mặt trận báo chí

Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử – Kỳ 1: Lên đường*

LTS: Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình dài nhất, gay go nhất thế kỷ XX đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn bè quốc tế. Ngoài tên tuổi của những nhà ngoại giao tầm cỡ lớn như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, nhân dân Việt Nam và thế giới vẫn còn nhắc đến Madam Bình (Nguyễn Thị Bình), nữ Bộ trưởng ngoại giao xuất sắc của Việt Nam trong thế kỷ 20 – một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh và đầy bản lĩnh. Những năm tháng đại diện cho đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMN), sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (CPCMLTMN) tham gia đàm phán ở Hội nghị Pari đã được bà kể lại trong cuốn Hồi ký vừa xuất bản năm 2012. Để giúp độc giả có cái nhìn đầy đủ về Hội nghị Pari, được sự đồng ý của Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Báo Tin tức xin trích đăng một số nội dung trong chương “Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử” – viết về Hội nghị Pari từ năm 1968-1973.

Giữa tháng 7/1968, tôi cùng các đồng chí Dương Đình Thảo, Lý Văn Sáu, Ngọc Dung… được lãnh đạo Ban Thống nhất mời lên phổ biến chủ trương của Đảng về “đánh và đàm”. Tôi hiểu đây chưa phải là lúc giải quyết vấn đề giữa ta và Mỹ, mà là triển khai thêm một hình thức đấu tranh mới. Trên chiến trường phải tiếp tục đánh mạnh hơn nữa để cho kẻ địch biết rằng dù có tàn bạo đến mấy chúng cũng không thể khuất phục được nhân dân ta, và đấy là nhân tố quyết định; đồng thời tình thế cũng đã cho phép chúng ta mở thêm mặt trận ngoại giao rộng lớn hơn làm cho thế giới hiểu rõ hơn nữa mưu đồ và tội ác của Mỹ ở Việt Nam hòng áp đặt sự thống trị của chúng lên một dân tộc nhỏ, nghèo, chỉ mong muốn hòa bình tự do, không hề chạm đến lợi ích của nước Mỹ. Mặt trận mới này sẽ giúp ta tranh thủ thêm nữa dư luận quốc tế, dư luận Mỹ, cô lập các phần tử hiếu chiến, hỗ trợ đắc lực cho chiến trường. Đương nhiên chúng ta cũng đã nghĩ cuối cùng chiến tranh cũng phải kết thúc và hai bên sẽ phải ký kết hiệp định hòa bình… trên bàn đàm phán.

Gần sáu năm hoạt động đối ngoại cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, tôi đã tích lũy được một số kiến thức ngoại giao và kinh nghiệm đấu tranh chính trị, nhưng tôi không nghĩ mình lại may mắn được chọn lựa cho nhiệm vụ khó khăn, nặng nề và quan trọng này: cuộc đàm phán lịch sử ở Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây có lẽ là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử thế giới, bắt đầu tháng 11/1968, kết thúc ngày 27/1/1973. Khi rời Hà Nội lên đường cuối tháng 10/1968, tôi không ngờ nó sẽ kéo dài đến thế.

Trước ngày đi, tôi điện cho anh Khang từ trường Công binh ở Bắc Giang về gặp. Tôi bối rối không biết nói thế nào với chồng tôi, và trước các con tôi còn quá nhỏ mà phải xa mẹ biền biệt. Anh Khang hiểu tôi phải đảm nhiệm một công việc rất quan trọng, anh không hỏi gì cụ thể, chỉ động viên: “Em có việc phải làm, cứ yên tâm đi, các con đã có anh và ba lo”. Tôi thương quý và biết ơn anh vô cùng.

Tôi, đồng chí Dương Đình Thảo, cùng Bình Thanh, Phan Bá, Nguyễn Văn Khai là bộ phận của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đi trước để tham gia hội nghị trù bị, Chúng tôi bay qua Bắc Kinh, rồi Mátxcơva. Đối với mọi người, đoàn chúng tôi “đi công tác Cuba”. Ngày 2/11/1968, khoảng 2 giờ chiều, thời tiết Pari bắt đầu lạnh, trời âm u sẩm tối, chúng tôi đáp xuống sân bay Bourget phía bắc Pari. Trên máy bay, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy đám đông người chờ đón. Hồi hộp, xúc động, mừng vui!

Chúng tôi dặn nhau phải có thái độ đàng hoàng, tươi cười như đồng chí Xuân Thủy đã dặn. Hôm ấy, tôi mặc áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với khăn quàng cổ đen có điểm hoa. Vừa bước vào nhà ga, mặc dù có anh em bảo vệ người Pháp và người Việt to lớn vạm vỡ dẫn đường, chúng tôi vẫn bị đám đông trong đó có nhiều nhà báo, nhiếp ảnh… bao vây xô đẩy. Tôi suýt ngã, nhưng tôi và Bình Thanh, là thư ký và phiên dịch của tôi, luôn đi sát nhau. Chúng tôi có nhiệm vụ nêu rõ lý do và ý nghĩa sự có mặt của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Pari. Tôi cố gắng nói dõng dạc, Bình Thanh cũng dịch mạch lạc rõ ràng, nhiều người khen cô nói tiếng Pháp rất hay không thua gì người Pháp. Xung quanh chúng tôi vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ vì người ta chen lấn để được nhìn thấy, nghe và chụp ảnh các thành viên trong đoàn.

Về đến biệt thự Thévenet, nơi các đồng chí đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thuê hộ từ trước, chúng tôi lúng túng trước cảnh các nhà báo, nhiếp ảnh cứ bám theo, có người leo cả qua tường, có người để máy ảnh qua kẽ hở ở cửa để chộp lấy một vài hình ảnh đặc biệt của đoàn “Việt cộng”. Nhưng rồi chúng tôi cười xòa, nói với nhau: Chúng ta đến đây trước hết là để tuyên truyền, tranh thủ dư luận, vậy sao lại phải ngại báo chí, nhiếp ảnh, trái lại mới phải. Tất nhiên cần có kế hoạch chu đáo. Hai ngày sau chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo lớn. Có đến hơn 400 nhà báo. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với nhiều nhà báo đến thế. Tôi phát biểu, nêu lập trường chính nghĩa của Mặt trận và thiện chí muốn tìm giải pháp hòa bình. Các nhà báo thi nhau hỏi. Tôi thầm lo, sợ mình nói có sơ hở sẽ bị họ khai thác, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra bình tĩnh, điềm đạm. Đưa tin về cuộc họp báo này, các nhà báo đều tỏ ra có thiện cảm, không “bắt bẻ” gì nhiều. Trước mặt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực cháy lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình, hẳn bước đầu đã gây cho họ cảm tình. Những ngày sau đó nhiều nhà báo và hãng truyền hình muốn phỏng vấn riêng, có ngày đến vài ba cuộc. Công việc rất căng thẳng, nhất là phải ngồi trước ánh đèn pha chiếu vào mặt. Anh em trong đoàn động viên tôi: Như vậy là họ chú ý nhiều đến đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đúng như điều chúng ta mong muốn.

Đáng lẽ cuộc họp trù bị Hội nghị bốn bên bắt đầu họp từ ngày 6/11/1968, nhưng phía Mỹ lấy lý do là chính quyền Sài Gòn chưa đến nên chưa họp, và cái cớ họ trì hoãn nữa là vấn đề thủ tục, mà nổi lên là hình thù cái bàn… Trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới chưa bao giờ lại có kiểu bắt đầu đặc biệt như vậy: Trước tiên là đấu tranh về cái bàn. Đương nhiên có lý do, hình thù và cách phân chia chỗ ngồi ở bàn chính là xác nhận tính chất pháp nhân của các bên đàm phán. Từ tháng 5 đến tháng 10/1968, cuộc bàn cãi giữa đồng chí Xuân Thủy trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Harriman Đại sứ Mỹ đã rất gay gắt về vấn đề vai trò của đoàn Mặt trận. Phía ta nêu rõ Mặt trận là đại diện cho nhân dân miền Nam đang trực tiếp chống Mỹ nên đương nhiên phải là một bên đàm phán. Mỹ thì cho rằng Mặt trận là “người của miền Bắc”, là ‘cộng sản” muốn lật đổ “quốc gia” ở miền Nam. Ta nói rằng chính quyền Sài Gòn là do Mỹ dựng lên, là tay sai của Mỹ. Cuộc đấu tranh “bốn bên hay hai bên” có ý nghĩa chính trị rất quan trọng. Chúng ta yêu cầu một cái bàn vuông cho bốn bên đàm phán hoặc một cái bàn tròn chia bốn. Mỹ đòi một cái bàn chữ nhật có hai bên hoặc một cái bàn tròn chia đôi… Có điều vui là đoàn đồng chí Xuân Thủy đã nhận được nhiều mẫu bàn của các hãng làm đồ mộc nổi tiếng thế giới gửi đến chào hàng. Chắc đoàn Harriman cũng nhận được như vậy. Sau cùng đi đến thống nhất sẽ là một cái bàn tròn to, đường kính 8 m, cắt đôi, trải khăn bàn màu xanh, mỗi bên có một vạch phân chia nằm bên ngoài, như vậy ai hiểu là hai bên hay bốn bên cũng được. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một bên, còn phía ta đoàn Mặt trận và đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi thành hai đoàn riêng biệt. Đối với dư luận cách ngồi của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là không có lợi cho họ, có thể thấy rõ chính quyền Sài Gòn là tay sai của Mỹ, làm sao mà đại diện được cho nhân dân miền Nam?

Ngày 27/11/1968, cuộc họp trù bị được tiến hành. Cuộc họp đơn giản, chủ yếu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật, như số lượng thành viên chính thức, thứ tự phát biểu… Nhưng mãi đến 25/1 năm sau, hội nghị 4 bên mới chính thức bắt đầu. Đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, tôi và đồng chí Trần Hoài Nam làm phó đoàn. Việc có hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là điều đặc biệt hầu như chưa từng có trong lịch sử ngoại giao quốc tế, và tôi nghĩ cũng cần nói rõ điều này. Đấy là sự hiện diện của hai thực thể, đại diện cho một cuộc chiến đấu, dưới một sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về mặt chính trị ngoại giao chúng ta đã thiết lập một thế trận “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai phái đoàn trên hai góc độ khác nhau phát huy sức mạnh của mình tạo thế cho mặt trận đối ngoại trở nên rộng lớn và sống động, cùng góp sức vào thắng lợi chung của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ, giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.

Chúng ta đều biết sự thật lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, giành thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký Hiệp định Genève năm 1954, theo đó Pháp và các nước cùng công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Riêng Mỹ không ký vào Tuyên bố chung. Trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ chúng ta buộc phải chấp nhận đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai, việc thống nhất đất nước sẽ thực hiện qua một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam được tổ chức sau hai năm. Nhưng hiệp định ký chưa ráo mực, Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, thay chân Pháp, phá bỏ Hiệp định Genève 1954, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa thực dân mới của Mỹ.

Nguyễn Thị Bình
baotintuc.vn

Kỳ 2: Quyết tâm sắt đá
* Đầu đề nhỏ do Ban biên tập đặt

“Bàn đàm phán không phải nơi mặc cả độc lập dân tộc”

(Dân trí) – “… Với Việt Nam, bàn đàm phán không phải là nơi mặc cả. Độc lập, thống nhất Tổ quốc không thể thắng lợi từ việc đôi co, mặc cả với đối phương”.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê, Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Cận – Hiện đại, trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội bình luận như vậy về thắng lợi của Hiệp định Paris (27/1/1973).

Thưa ông, chỉ riêng chiếc bàn cho các bên tham gia đàm phán tại Hội nghị Paris cũng là vấn đề tranh luận nhiều tháng với nhiều phương án được đưa ra. Điều tưởng như đơn giản này cũng đã báo trước về một cuộc đàm phán lâu dài, căng thẳng và nóng bỏng?

Họp ở đâu và tọa đàm quanh chiếc bàn như thế nào đã là chủ đề tranh luận giữa phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hoa Kì. Riêng việc chọn dáng bàn như thế nào 2 bên cũng tốn nhiều thời gian tranh luận, bàn tròn hay bàn hình e-líp… Cuối cùng 2 bên đã nhất trí chọn bàn vuông trong phiên họp toàn thể 4 bên. Tuy nhiên khi tọa đàm riêng (còn gọi họp bí mật) và khi ký công khai thì ngồi ở dạng bàn khác, như các ảnh chụp thể hiện.

Trong các tọa đàm quốc tế thông lệ, ít khi người ta chọn kiểu bàn như vậy. Vì nó ít thẩm mỹ và không thân mật. Tuy nhiên, tọa đàm Paris là một ngoại lệ. Bàn vuông thể hiện 4 bên độc lập, ngang bằng nhau. Phía Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với 2 phía còn lại. Ngồi như vậy thì dù muốn hay không Hoa Kì cũng phải công nhận Chính phủ Lâm thời trên thực tế. Đây là điều mà không chỉ Hoa Kì vô cùng ái ngại mà ngay chính quyền Sài Gòn lúc đó cũng không muốn thừa nhận. Chiếc bàn đàm phán cuối cùng đã thể hiện được vị thế của Chính phủ Lâm thời ở hội đàm và trên trường quốc tế.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường.PGS.TS Nguyễn Đình Lê: “Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường”.

Tại chiếc bàn đàm phán đó, những thực tế trên chiến trường có song hành thực sự với cuộc đàm phán giữa các bên và tạo những bước ngoặt quan trọng nhất?

Trong chỉ đạo cách mạng Việt Nam cũng như trên thực tế chiến trường, Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường. Với Việt Nam, bàn đàm phán không phải là nơi mặc cả. Độc lập, thống nhất Tổ quốc không thể thắng lợi từ việc đôi co, mặc cả với đối phương.

Chưa thực hiện Tổng tiến công nổi dậy năm 1968, ta chưa mở mặt trận “vừa đánh vừa đàm”. Chưa thực hiện tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam, phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính Phủ Lâm thời chưa đưa thực chất yêu cầu đàm phán. Xin lưu ý là từ năm 1968 đến 1971, ta chưa nêu các nội dung chủ chốt của đàm phán, mà mới chỉ nêu các nguyên tắc đòi Hoa Kì chấm dứt ném bom, chấm dứt xâm lược Việt Nam. Như vậy 2 bước đấu tranh cơ bản của phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị luôn song hành với tiến công quyết liệt trên chiến trường.

Với thắng lợi của mặt trận phía Nam (qua 3 đòn tiến công năm 1972, cùng với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”), cuối cùng đối phương mới kí Hiệp định.

Cũng phải nói thêm rằng, đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến khá sát tình huống này. Người từng chỉ ra là chỉ khi ta đánh bại át chủ bài của Hoa Kì thì họ mới chịu xuống thang, mới chịu thất bại về quân sự.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh ngoại giao/mặt trận ngoại giao có thế chủ động, tích cực riêng của nó. Điều này được phái đoàn Việt Nam vận dụng triệt để, sáng tạo, có kế hoạch trong suốt mấy năm đấu tranh ở Paris.

Tại sao phía Hoa Kì lại chấp nhận ký hiệp định Paris và dường như có phần “nôn nóng” trong việc ép Chính quyền Sài Gòn ký vào bản hiệp định này. Tại sao một Hoa Kì cao ngạo như vậy ở thời điểm đó lại chấp nhận hai thất bại liên tiếp ở Chiến dịch “Linebacker II” (chiến dịch bắn phá Hà Nội bằng B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972) và ở bàn đàm phán?

Vấn đề này rất phức tạp. Sự phức tạp ở phía Hoa Kì, phía Tổng thống R.Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Ý tưởng về một Hiệp định hòa bình trong tầm tay – một hiệp định danh dự cho Hoa Kì kết thúc chiến tranh của 2 người này diễn ra trong bối cảnh mà ở đó tình hình trong nước và quốc tế đang chuyển động nhanh và khá hỗn độn.

Tình hình chiến trường Đông Dương rối rắm, phe của ông Thiệu ở Sài Gòn vừa phụ thuộc Hoa Kì, vừa ngang ngạnh. Hoa Kì có thỏa thuận nước lớn, uy tín của Tổng thống đang lên, nhưng mặt khác cơ quan lập pháp Hoa Kì đang “sờ gáy” hành pháp. Việc Quốc hội xóa bỏ Nghị định Vịnh Bắc Bộ (đã thông qua năm 1964) và sắp sửa xem xét lại chính sách của Hoa Kì ở Việt Nam khiến cho Tổng Thống R.Nixon dù vừa tái đắc cử nhưng thời yên ổn của ông cũng không còn. Thực tế năm 1973, Nixon đã gặp muôn vàn khó khăn phải đối phó với dư luận trong nước và sau đó thì “thất sủng” năm 1974. Thực tế, lúc đó, hơn ai hết, Tổng thống Hoa Kì biết rõ thời gian vật chất của ông ta đang bị dồn nén.

Sự câu thúc của dư luận, của phong trào phản chiến trong nước và quốc tế, sự thôi thúc từ tính toán thâm hiểm muốn tiếp tục theo đuổi chính sách ở Việt Nam theo hướng mới, sự ngang ngạch của Sài Gòn… khiến Tổng thống và ông ngoại trưởng hành động có phần thô lỗ, thúc ép đồng minh. Bức tranh xám xịt trong quan hệ Hoa Kì – Sài Gòn trong việc ký hay không bản Hiệp định được tạo nên như thế.

Còn thất bại ở chiến dịch “Linebacker II”, tôi đã trao đổi, biện giải cụ thể trong bài nói về chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” ngày 20/12 vừa qua.

Tôi muốn nói thêm việc Hoa Kì, Nhà trắng đã tính toán khá thâm hiểm, rất lợi hại, một mũi tên trúng nhiều đích. Nhưng cuối cùng họ đã thất bại. Lí do cơ bản là những người Việt Nam yêu nước đã dám hi sinh và thực tế đã cao tay hơn đối phương trong mọi ván bài nên rốt cuộc Nhà Trắng đã thất bại.

Tổng thống miền Nam Việt Nam thời đó Nguyễn Văn Thiệu từng nói rằng: “với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình”, nhưng tại sao cuối cùng vẫn phải ký vào hiệp định này?

Ông Thiệu có lí khi nói như vậy. Nhưng xin nói thật, chính người đứng đầu Nhà trắng “nói toặc móng heo” là nếu Thiệu không kí, Hoa Kì vẫn kí. Chính ông Thiệu cũng từng nói, Henry Kissinger ghét Sài Gòn hơn Hà Nội. Nếu Henry Kissinger có quyền thì chắc ông ta dùng B52 “choảng” vào Sài Gòn rồi mới ném bom Hà Nội!

Xin nói thêm rằng không phải tất cả các chính khách của Sài Gòn lúc đó đều muốn Hoa Kì đưa quân viiễn chinh vào miền Nam và dùng B52 đánh phá miền Bắc. Nhưng ông Thiệu muốn có cả hai thứ đó và duy trì càng lâu càng tốt. Cho nên dư luận Hoa Kì từng gọi ông ta là người bấm giừo cho B 52 đánh phá miền Bắc. Ông Thiệu gần như phụ thuộc Hoa Kì vè mọi phương diện. Nhưnghơn ai hết ông ấy biết ký Hiệp định có nghĩa là ký sự cáo chung của chế độ Sài Gòn. Nên ông Thiệu làm mình là mẩy với Hoa Kì một thời gian.

Ông Thiệu nếu không kí thì chính bản thân ông ta cũng khó an bài. Một vụ tai nạn, ám sát hay một cuộc đảo chính để thủ tiêu một cá nhân nào đó thì CIA thừa sức làm!

Ông đánh giá thế nào về thắng lợi mà hiệp định Paris mang lại?

Đây là thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam, là kết quả và đỉnh cao của 18 năm chống Mỹ, cứu nước, là kế thừa và phát huy kinh nghiệm đấu tranh cách mạng từ Cách mạng Tháng 8 (1945) và cả trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1945-1954).

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Việt Nam chỉ dành được ở bàn Hội nghị những gì ta thu được ở chiến trường.Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa với Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Xuân Thủy, cố vấn cấp cao Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris.

Với những điều khoản ký kết trong Hiệp định Paris, ông có thể bình luận gì về những được – mất của các bên?

Lực lượng cánh mạng đạt được những yêu cầu căn bản đã đề ra khi mở mặt trận vừa đánh vừa đàm. Điều cốt tử, thắng lợi lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kì rút quân còn lực lượng bộ đội miền Bắc ở lại chiến trường. Việt Nam đã mở lối thoát danh dự cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ phải xuống thang chiến tranh, cam kết chấm dứt dính líu quân sự. Hoa Kỳ lấy được tù binh (chủ yếu là phi công) về nước. Còn phái Sài Gòn thì ký vào. Hiệp định như chấp nhận bản án. Ông Thiệu đã nói rõ điều này trong diễn văn từ chức ngày 21/4/1975. Chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu phải chịu hậu quả nặng nề để 2 năm sau sụp đổ.

Cuộc đấu trí giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trong tiến trình đàm phán ở Hội nghị Paris thì sao, thưa ông?

Cố vấn Lê Đức Thọ là bộ óc bẩm sinh có biệt tài đối ngoại, đối phó, khẩu chiến. Ông Lê Đức Thọ đại diện cho tinh thần giải phóng dân tộc. Đối phương của ông phía bên kia chiến tuyến, bất lợi về vị thế.

Ông bình luận gì về việc Kissinger nhận giải Nobel hòa bình còn ông Lê Đức Thọ lại từ chối giải thưởng này?

Sự kiện này chứng tỏ Henry Kissinger “non” hơn ông Lê Đức Thọ. Ông Lê Đức Thọ thừa biết Hiệp định là thắng lợi cốt tử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng đối phương không thể thực hiện hoà bình vì chính ông Thiệu từng nói “hòa bình, thi hành hiệp định là con đường tự sát của chế độ Sài Gòn”. Với bản lĩnh chính trị của mình, ông Thọ không thể nhận giải thưởng đó (ông từ chối nhận giải với lý do hòa bình vẫn chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam). Và với bản lĩnh nhà cách mạng chuyên nghiệp ông Lê Đức Thọ hiểu sâu sắc rằng nền tảng hòa bình đó là kết quả đấu tranh, hy sinh to lớn của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

Cấn Cường – Phương Thảo (thực hiện)
dantri.com.vn

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):

(Dân trí) – Trong cuộc hội thảo “Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói: “Lê Đức Thọ là nhà ngoại giao khổng lồ”.

Ông Nguyễn Dy Niên nói tiếp: “Ông ấy khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với ông là Kissinger – một nhân vật rất lớn của Mỹ thời đó. (Kissinger lúc ấy là cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ Nixon, Kissinger đã từng bí mật gặp gỡ Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai và sau đó là Brezhenev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô cũ để nhờ ba vị này ép ta ký kết hiệp định hòa bình theo các điều kiện của Mỹ – Tác giả). Kissinger rất ngạo mạn, tưởng có thể đè bẹp được ta. Nhưng Kissinger đã không thể làm được vì Lê Đức Thọ đại diện cho chính nghĩa. Điều làm nên thành công của Lê Đức Thọ là ông đã nhuần nhuyễn, có trí tuệ để thực hiện điều mình cần và mục tiêu đề ra. Chẳng hạn vấn đề Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Kissinger đòi nếu Mỹ rút thì miền Bắc Việt Namcũng phải rút quân khỏi miền Nam. Ông Lê Đức Thọ cho rằng Mỹ đánh đồng như thế là không được. Với trí tuệ của mình, ông đã tìm ra giải pháp như sau: Vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam thì do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ phải rút quân là bắt buộc. Trí tuệ của ông là tìm ra được một giải pháp mà giải pháp đó lại đúng với lợi ích của ta… Cái khó trong ngoại giao đối với nhà đàm phán là lúc nào thì “nhu”, lúc nào thì “cương”, thậm chí lúc nào thì nặng lời với đối phương. Ông Lê Đức Thọ đã thành công trong việc ứng xử linh hoạt này, khiến Kissinger phải nể phục…”.

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ tại Hội nghị ParisCố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trao tặng bút cho tiến sĩ Kissinger sau khi hai bên ký tắt “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 23/1/1973. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN

Khi thương lượng bí mật với Kissinger tại Paris, ông Lê Đức Thọ đã ở tuổi 60, trong khi Kissinger mới ngót 50 tuổi lại rất khỏe mạnh. Kissinger lúc nào cũng muốn gặp ông Lê Đức Thọ vào buổi tối và cố tình kéo dài tới thật khuya, thậm chí tới tảng sáng hôm sau, nhằm làm cho ông Thọ mệt mỏi, thiếu minh mẫn hòng tìm cách lừa ông có những đối sách không có lợi cho ta.

Nhưng ông Lê Đức Thọ lúc nào cũng tỉnh táo, vững như bàn thạch, và khi nào mệt mỏi quá thì ông đề nghị phía Mỹ nghỉ giải lao để giải khát và đi bách bộ ra vườn quanh biệt thự để bàn bạc với các thành viên khác trong đoàn ta.

Sau hơn bốn năm đàm phán, ngày 8/10/1972 ta chủ động đưa ra dự thảo hiệp định và sau hơn 10 ngày bàn bạc và bổ sung, Kissinger báo cáo về Mỹ và Nixon đã nói hiệp định xem như đã hoàn thành. Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay”. Phía ta muốn có được hiệp định trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và dự định ký hiệp định vào tuần cuối cùng của tháng 10/1972. Nhưng ngày 23/10/1972, Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và thông báo rằng, do chính quyền Sài Gòn ngăn cản nên Mỹ đề nghị có thêm một cuộc gặp bí mật nữa. Chính phủ ta đã vạch mặt sự tráo trở của Mỹ và công bố nội dung Hiệp định hòa bình đã được ta và Mỹ thỏa thuận cùng hai bức điện của Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mỹ bị dồn vào chân tường. Mãi đến ngày 20/11/1972 ta và Mỹ mới gặp lại nhau. Và tại cuộc gặp này, Lê Đức Thọ đã lên án Kissinger và chính quyền Mỹ lật lọng. Kissinger nhũn như con chi chi ngồi chịu trận, và chiều hôm đó ông ta đòi sửa tới hơn 60 câu chữ trong hiệp định đã thỏa thuận. Ta chỉ đồng ý sửa một vài chi tiết không thực chất, không chấp nhận sửa những vấn đề thuộc về nguyên tắc và cuộc họp đi vào bế tắc.

Ngày 14/12 Kissinger về Mỹ bàn bạc thêm, ngày hôm sau Lê Đức Thọ rờiParis về nước để báo cáo với Bộ Chính trị chuẩn bị tình huống xấu nhất. Chiều 18/12, Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà ở phố Nguyễn Cảnh Chân thì đêm 18/12/1972 Mỹ cho B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Chúng ta đã giáng trả đích đáng, hạ 81 máy bay Mỹ trong 12 ngày này, trong đó tiêu diệt 34 chiếc B.52 như mọi người đã biết.

Ngay trong ngày 18/12, Mỹ gửi thư yêu cầu ta quay lại bàn đàm phán vào ngày 26/12, nhưng ta từ chối. Và sau chiến thắng B.52 trên bầu trời Hà Nội, nghe nói trên đường trở lại Paris Lê Đức Thọ mang theo một mảnh xác máy bay B.52 để “tặng” Kissinger trong cuộc gặp ngày 8/1/1973.

Buổi gặp hôm đó, Lê Đức Thọ đến địa điểm trước và đoàn ta không ra cổng đón Kissinger như mọi khi, chỉ có người bảo vệ Pháp ra mở cổng cho đoàn xe của Kissinger vào. Chắc đoàn Mỹ cũng hiểu ý nghĩa sự lạnh nhạt đó của phía ta.

Lê Đức Thọ mở màn cuộc gặp như sau: ”Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom lại miền Bắc Việt Nam giữa lúc tôi vừa về đến Hà Nội có thể nói là rất “lịch sự”! Tôi có thể nói rằng hành động của các ông rất trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông đã nhầm… Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố!”.

Lê Đức Thọ đòi Mỹ chấm dứt thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh. Kissinger không hăng hái bào chữa như những lần trước, chỉ thanh minh rằng sở dĩ có những việc vừa qua là vì cách đàm phán của Việt Nam trong tháng 12 làm cho Mỹ và Việt Nam kéo dài đàm phán, không muốn giải quyết…

Sau mấy ngày đàm phán, ngày 20/1/1973 kết thúc. Ngày 23/1 các bên ký tắt hiệp định, ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh được 4 bên chính thức ký kết. Hòa bình được lập lại ở Việt Nam, tiếp đó là ở Lào và cuối cùng là ở Campuchia. Hai ngày sau Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy về đến Hà Nội trong niềm vui khôn tả của nhân dân cả nước.

Đầu tháng 2/1973, Kissinger đến Hà Nội, Lê Đức Thọ đón và đưa ông ta tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Ông dẫn Kissinger tới chỗ văn bia của Lý Thường Kiệt và nói bài “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư” chính là lời tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam cũng giống như bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vậy. Ai không tôn trọng chủ quyền của Việt Nam thì đều bị Việt Nam chống lại và đánh cho thất bại.

Theo Nguyễn Như Kim
 Báo Tin tức

dantri.com.vn

Ngày này 40 năm trước, Hiệp định Paris có hiệu lực

(VOV) -Hồi ức của một nhà báo Đài TNVN trong ngày lịch sử đáng nhớ của đất nước và đời người

Sau ngày Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, cố vấn Lê Đức Thọ trở lại bàn Hội nghị Paris, chúng tôi không khi nào rời máy thu thanh. Ai cũng nghe các bản tin thời sự, bình luận của đài phát thanh Giải phóng, đài Tiếng nói Việt Nam.

Tối đến, dưới căn nhà hầm của Ban Tuyên huấn tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đóng ở động Mang Chang sôi nổi hẳn lên. Mỗi người nói lại rồi bình về diễn biến hội nghị Paris mỗi kiểu khác nhau. Paris xa xôi mà mặt trận chỉ cách một tiếng súng nổ đầu nòng.

Nhưng đến sáng 28/1/1973 thì không ai bàn cãi gì nữa, chúng tôi cùng hô vang: ta thắng rồi.

Ông Dương Xuân Tư, phụ trách điện đài đoàn VNDCCH trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris chuyển điện công khai và mật mã với Hà Nội

Sáng ấy lạ lắm. Mưa rừng lất phất, đường đất trơn tuột, nhưng cánh thanh niên chúng tôi hết đi lại chạy, vừa leo lên dốc lại xuống suối, chặt cây, hái hoa rừng để chuẩn bị đón giây phút hòa bình đầu tiên. Chiếc tăng dã chiến được căng lên phủ kín bức tường đất. Chính giữa là ảnh Bác Hồ. Bàn ghế là những cây gỗ được đẽo phẳng, chôn thẳng xuống đất. Mặt bàn bằng cây cau rừng ghép lại, lổn nhổn, gồ ghề. Lọ hoa là vỏ hộp thịt Mỹ từ thời nơi đây là căn cứ hành quân dã ngoại của chúng. Hoa rừng tươi rói đủ màu vàng, đỏ.

Gần ba chục con người xiết vai nhau đứng vòng quanh chiếc bàn dã chiến hướng lên chân dung Bác Hồ đón đợi giây phút hòa bình đầu tiên ở chiến trường.

Im lặng. Không gian mỏng tang. Tôi nghe rõ tiếng tích tắc trên chiếc đồng hồ đeo tay của anh Hiểu, bên Tỉnh đội.

Đúng 7 giờ sáng. Hòa bình rồi!

Chúng tôi reo to. Không gian vỡ òa.

Chúng tôi, những nhà báo, nhà văn, nhà giáo, huấn học, cán bộ phong trào, cán bộ chính trị từ Huế, Quảng Trị lên, từ Hà Nội vào họp thành đội ngũ thông tin tuyên truyền. O Gái, còn gọi là Kim Cúc cười tươi, nhe chiếc răng “cời” dễ thương:

–         Chà, ở bờ sông Hai Nhánh giờ này đi lại tự do nghe. Không sợ rọ, gáo
trên đầu nữa.

–         Anh em ở trên “trọc” Phong Điền, Phú Lộc, Hương Thủy tha hồ mà bay nhảy.

Anh Sự, trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy chỉ tay vào chiếc đài bán dẫn đặt ngay ngắn giữa bàn. Mọi người hướng vào. Tiếng phát thanh viên long trọng thông báo: Hà Nội và cả miền Bắc treo cờ Tổ quốc 8 ngày. Việt Khoa đọc lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mọi người nâng cốc chè rừng chào mừng ngày hòa bình đầu tiên. Anh Ngô Kha có biệt tài “ngủ không nhắm mắt” cười to:

–         Chao ôi là sướng. Muốn viết thư cho vợ quá.

Anh Quế Lâm chăm chú nghe đài, hý hoáy ghi chép, chợt kêu lên:

–         Anh em có nghe gì không? Ông Lê Đức Thọ ký xong hiệp định Paris liền trao bút cho ông Kissinger và nói: ông cầm lấy và nhớ thi hành hiệp định nhé. Khoái thật. Thế mới là ngoại giao chứ.

Thế là câu chuyện xoay sang đại lộ Kleibe giữa Paris tráng lệ. Quế Lâm khịt khịt mũi:

–         Này, thằng cha Trần Văn Lắm khi nào cũng phải ký cuối cùng nhé.

–         Hứng chịu thất bại mà.

–         Chắc là mặt mày ủ rũ lắm.

–         Buộc phải ký thôi.

Anh Đoàn Dũng, phó ban tuyên huấn nhỏ nhẹ:

–         Yên mà nghe đài tường thuật kìa. Bà Nguyễn thị Bình ghê thật. Chữ ký lịch sử nhé, lại là phụ nữ nữa mới oai chứ.

Sợ mất sóng nên chúng tôi mở ba đài một lúc. Tiếng phát thanh viên đang đọc xã luận báo Nhân dân, nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập nền ngoại giao cách mạng. Anh Khiêm, cán bộ huấn học vốn trầm lắng bật khóc. Hòa bình thật rồi, Bác Hồ ơi.

Mưa rừng thêm nặng hạt. Mái lá lao xao rồi xô nhau theo ngọn gió thổi thốc từ đầu suối. Anh Đoàn Dũng trầm ngâm:

–         Chà, cái năm 69, sau Mậu Thân, cực da diết, đói lắm quý vị ơi. Ai chớ, anh Sự đây này, ăn một lúc 9 chiếc bánh móng trâu, rồi tháo dạ, đói vẫn hoàn đói.

Anh Sự nhỏ nhẹ:

–         Lại còn khát muối nữa chứ. 17 người mới được hai thía cà phê muối. Đầu gối cứ rũ ra.

Anh Ngô Kha chậm rãi kể lại chuyện anh bộ đội đói quá, khát quá, không đi được nữa. Biết mình không gắng gượng nổi, anh lấy hơi sức cuối cùng cho áo vào quần ngay ngắn rồi nằm lên võng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Có đơn vị bộ đội trước khi vào trận đánh chỉ được phát một khúc sắn luộc. Lệnh của chỉ huy là khi vào hàng rào số một mới được ăn để có sức chiến đấu. Có chiến sỹ khi hy sinh tay vẫn nắm chặt mẩu sắn đẫm máu.

Anh Sự lau nước mắt nhòa hết mặt kính, nghẹn ngào:

–         Chúng ta phải trả giá hòa bình quá đắt.

Tiếng máy bay xoẹt qua đầu phá tan không khí trầm lắng. Chúng nó trở mặt rồi đây. Tin điện từ quân khu thông báo rạng sáng 28/1/1973, địch đã vi phạm Hiệp định Paris, nống ra đánh chiếm Cửa Việt. Tin khắp nơi điện về, địch đang thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn đất, giành dân.

Tôi được lệnh lên trạm xá Nam khai thác tù binh ngụy vi phạm Hiệp định hòa bình. Tôi hỏi tên tù binh: “Tại sao biết có lệnh đình chiến rồi mà anh vẫn lấn chiếm?” Anh ta trả lời: “Tôi biết đã có hiệp định hòa bình. Tôi mừng lắm chứ, nhưng chỉ huy bắt tôi đi bắn giết. Tôi không đi thì chúng sẽ giết hết cả nhà tôi.”

Vậy là Hiệp định Paris đã đưa chúng tôi đến một cuộc chiến đấu mới cho toàn thắng./.

CTV Vĩnh Trà/VOV online
vov.vn

Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế là những nhân tố quyết định thắng lợi của Hiệp định Paris

(ĐCSVN) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, vào thời điểm đó là người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký vào văn kiện lịch sử này.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
(Ảnh: Khánh Lan)

Phóng viên (PV): Quá trình đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là sự kiện tâm điểm của thế giới trong giai đoạn từ 1968 – 1972. Vậy, với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là người phụ nữ duy nhất tham gia vào sự kiện quan trọng này, bà có thể chia sẻ cảm xúc của bà tại thời điểm đặt bút ký vào Hiệp định Paris?Bà Nguyễn Thị Bình: Năm 1960, khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập thì tôi được cử làm Uỷ viên Trung ương Mặt trận phụ trách về đối ngoại. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1967, tôi cũng đã tham gia vào nhiều hoạt động đối ngoại. Các đồng chí lãnh đạo đã quyết định cử tôi tham gia đoàn đàm phán Hiệp định Paris với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khi nhận được quyết định này, tôi cảm thấy rất vinh dự, song cũng rất lo lắng vì đây là một nhiệm vụ, trọng trách nặng nề. Song với quyết tâm, tôi nghĩ mình có thể làm và phải cố gắng làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, tôi – đại diện đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và ông Nguyễn Duy Trinh, đại diện cho đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH); ông Williams Rogers, đại diện cho Hoa Kỳ và ông Trần Văn Lắm, đại diện cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã chính thức ký Hiệp định Paris và các Nghị định thư liên quan về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam sau gần 5 năm đàm phán. Tại thời điểm đó, tôi cảm thấy rất xúc động vì đã được thay mặt cho nhân dân miền Nam Việt Nam ký vào một văn kiện lịch sử.

Để có được kết quả trên là có sự đóng góp xương máu của đồng chí, đồng bào đã ngã xuống vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc kéo dài gần 20 năm; có sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế… Tất cả những điều đó khiến tôi vô cùng xúc động và có lẽ cảm xúc này sẽ đi theo tôi suốt cuộc đời mình.

PV: Cuộc đàm phán Hiệp định Paris là một cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử và có những lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ. Bà có thể chia sẻ một vài thông tin về cuộc đàm phán và những suy nghĩ của mình trong quá trình tham gia đàm phán?

Bà Nguyễn Thị Bình: Chính xác cuộc đàm phán Hiệp định Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, với 202 phiên họp công khai diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber từ ngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973, và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Cuộc đàm phán chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ ngày 13/5/1968 đến hết tháng 10/1968, giai đoạn thứ hai từ ngày 25/1/1969 đến ngày 27/1/1973.

Cuộc đàm phán diễn ra gần 5 năm, cũng có lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ và có những lúc báo chí đã nói, đây là “cuộc đàm phán giữa những người điếc” vì mỗi bên đều thể hiện lập trường của mình và không ai nghe ai hết. Mặc khác, trên chiến trường, tương quan lực lượng chưa có quyết định gì cho ai mạnh hơn ai, hai bên giằng co. Cứ vào thứ 5 hàng tuần, tại Trung tâm Kléber, các cuộc họp cứ lặp đi lặp lại. Nhiều lúc các đại biểu cảm thấy chán ngán và không biết đến khi nào cuộc đàm phán sẽ kết thúc.

PV: Được biết, về nội dung của Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản giống bản dự thảo Hiệp định Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” của đoàn Chính phủ VNDCCH đưa ra tháng 10/1972. Vậy, bà có thể chia sẻ một số nội dung của Hiệp định này?

Sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình tại Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973 (Ảnh tư liệu)

Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10/1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ đã dùng B52 để không kích, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Cuộc không kích của Mỹ thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị. Chưa chấm dứt ném bom, Mỹ đặt vấn đề nối lại cuộc đàm phán. Sau thất bại đó, Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản về nội dung giống như bản Hiệp định đã được dự thảo trước đó.Hiệp định Paris là một tổng thể bao gồm Hiệp định, 4 Nghị định thư, 8 bản Hiểu biết (Understanding), Định ước quốc tế, Tuyên bố chung và các văn thư trao đổi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hiệp định Paris đã ghi nhận cam kết của Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Quy định việc Mỹ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam; Công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, có hai lực lượng vũ trang đối lập kiểm soát hai vùng lãnh thổ khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Việc thi hành Hiệp định Paris 1973 làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng, củng cố lực lượng của cách mạng, làm cho chính quyền thân Mỹ ở miền Nam mất chỗ dựa, suy yếu về chính trị, vì trên thực tế, Mỹ không còn công nhận ngụy quyền là chính quyền duy nhất đại diện cho Nam Việt Nam.

PV: Bà đánh giá thế nào về vai trò, thế của đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Phải nói là khi bắt đầu đàm phán, một trong những vấn đề giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và phía Mỹ phải đấu tranh rất quyết liệt bởi sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên. Mỹ hoàn toàn không muốn sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng tình thế buộc Mỹ chấp nhận. Việc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một thắng lợi chính trị – ngoại giao bước đầu, một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chúng ta trên bàn Hội nghị. Mỹ vô hình chung đã phải thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có một phong trào yêu nước, có một cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại sự xâm lược của Mỹ và chính quyền thân Mỹ.

Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam (ở giữa) ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình tại Việt Nam (Ảnh tư liệu)

Trong 4 đoàn, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho cuộc chiến đấu trực tiếp với Mỹ. Do đó theo tôi, chú ý của thế giới tập trung vào đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; và hơn nữa, như chúng ta biết, hai đoàn này là một, mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tất cả những đề nghị giải pháp đưa ra đều do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ủng hộ. Vì thế, vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quan trọng trong đàm phán Hiệp định Paris. Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn có vị trí quan trọng, bởi là người trực tiếp chiến đấu, với đường lối độc lập hòa bình trung lập, nhấn mạnh đến đường lối hòa bình, mềm dẻo đối ngoại trong đàm phán.PV: Bà đánh giá thế nào về sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, một trong những yếu tố quan trọng, góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris nói riêng ,cũng như thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước?

Bà Nguyễn Thị Bình: Trước hết, tôi nhấn mạnh rằng, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam, tiến hành trên 3 mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao. Và đây cũng là thắng lợi của tất cả những ai trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Để có được thắng lợi trên là do những đóng góp tích cực không mệt mỏi của các đồng chí đã tham gia hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, những người đã trực tiếp tham gia cuộc đàm phán Hiệp định Paris lâu dài và hết sức khó khăn; sự hy sinh của các đồng chí, đồng bào ta trong suốt 20 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc… Nếu không có chiến thắng Mậu Thân 1968, không có những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có sự hỗ trợ chi viện của miền Bắc thì không có Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và đương nhiên, nếu không có Hiệp định Paris năm 1973 thì sẽ không có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Tại cuộc đàm phán, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên cương vị và nhiệm vụ của mình, khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Với những lý lẽ đanh thép nhưng có tình có lý, đã ảnh hưởng đến các quốc gia, ảnh hưởng mạnh mẽ đến dư luận quốc tế, khơi dậy được tình cảm mến phục của bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của chúng ta.

Như tôi đã nói, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuy hai mà một, nên sự tranh thủ vận động bạn bè quốc tế có khác nhau về đối tượng. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với đường lối rộng rãi, có thể tranh thủ các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý, những người có chính kiến khác nhau, các tôn giáo… Đoàn VNDCCH đã thu hút sự ủng hộ của các nước XHCN và các lực lượng yêu chuộng hòa bình tiến bộ và lực lượng cánh tả. Vì vậy, đoàn kết quốc tế do hai đoàn chúng ta triển khai tạo thành mặt trận đoàn kết quốc tế rất lớn, chưa từng có trong lịch sử, một mặt có tác động đến chính phủ Mỹ, tạo thuận lợi cho cuộc chiến tranh.

Chúng ta không thể không kể đến đông đảo người dân trên thế giới đã tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam. Ngoài ra, phong trào đoàn kết với Việt Nam của nhân dân Pháp, với sự tham gia nhiệt tình, mạnh mẽ của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều đảng phái chính trị, các đoàn thế và nhân dân Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hai đoàn đàm phán Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

PV: Bà có thể chia sẻ kỷ niệm sâu sắc nhất trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Đối với tôi, trong gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris có nhiều kỷ niệm sâu sắc, song có một câu chuyện mà mỗi khi nhớ đến tôi lại rất xúc động. Trong giai đoạn 1968 đến 1973, cuộc đàm phán Paris trở thành sự kiện tâm điểm, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Họ theo dõi xem bao giờ chiến tranh ở Việt Nam có thể chấm dứt vì nó đã kéo dài gần 20 năm. Sự kiện này thu hút được sự quan tâm của nhiều hãng thông tấn quốc tế. Riêng trên cột 1 của Tờ New York Time (Mỹ) đã tổng kết, trong 10 năm liền chỉ nói về Việt Nam; các kênh truyền hình của thế giới đã ghi hình và phát rộng rãi trong vòng gần 5 năm các cuộc đàm phán diễn ra vào thứ 5 hàng tuần. Tôi và các thành viên tham gia đàm phán đã trở thành những khuôn mặt quen thuộc với bạn bè quốc tế.

Có một lần, trong chuyến đi từ Paris đến một quốc gia ở châu Phi, đi qua sân bay Ai Cập, có một số phụ nữ đã đến gặp tôi, tay bắt mặt mừng như những người bạn thân lâu ngày gặp lại, mặc dù tôi không hề quen biết họ. Họ nói đã rất quen với tôi qua các chương trình truyền hình phát về cuộc đàm phán Hiệp định vào thứ 5 hàng tuần. Điều đó khiến tôi rất xúc động và nó cũng thể hiện được sự quan tâm, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà Nguyễn Thị Bình!

Khánh Lan (thực hiện)
cpv.org.vn

Bản Hiệp định mở đường cho đại thắng

“Hiệp định Pari đánh dấu một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng tôi trong cuộc kháng chiến chống lại cuộc xâm lăng của Mỹ. Đối với chúng tôi, những điều khoản của Hiệp định thật là thuận lợi… Hiệp định Pari mở đường cho đại thắng mùa xuân năm 1975, chấm dứt hơn một thế kỷ đô hộ của thực dân cũ và mới và tái lập nền độc lập, tự do và thống nhất của quê hương chúng tôi” – Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời phóng viên truyền hình Mỹ Walter Cronkite (năm 1975).

Vẫn còn nhiều tiếng nói khác nhau

Sau bốn thập kỷ, sự phân tích đánh giá về Hiệp định Pari đã tiến gần với sự thật lịch sử hơn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tiếng nói khác nhau.

Có phải Mỹ không thua trận?

Có phải Sài Gòn sụp đổ vì bị Mỹ “bỏ rơi”?

Những người có vai trò chính trong việc ký Hiệp định Pari từ phía Mỹ là các ông R. Nixon và H. Kissinger đều cho rằng họ đã thắng trong chiến tranh, biện hộ cho những thất bại của Mỹ và sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn là do Quốc hội (Mỹ) đã làm “mất hòa bình”.

Mỹ đã gấp rút thực hiện kế hoạch Enhance (Tăng cường) và Enhance Plus (Tăng cường thêm nữa) nhằm củng cố cho quân đội Sài Gòn đủ sức đứng vững một mình sau khi quân Mỹ rút đi.

Ông R. Nixon cho rằng Sài Gòn sụp đổ là do Quốc hội đã không cho Tổng thống (khi đó là G. Ford) quyền sử dụng quân lực để bảo vệ Nam Việt Nam như ông ta đã hứa với Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu trước đó. Không những thế, Quốc hội (Mỹ) còn bác đề nghị chi 722 triệu USD để cứu cho Nam Việt Nam tồn tại. Ông Kissinger thì cho rằng thảm kịch của Mỹ do chính tình hình nội bộ của Mỹ (ý nói vụ Watergate) và nếu không có chuyện đó, Nixon sẽ có điều kiện hạ lệnh ném bom trở lại Bắc Việt Nam ngay từ tháng 4/1973. Ông Kissinger cũng thừa nhận sai lầm của mình khi đánh giá sự sẵn sàng của dân Mỹ ủng hộ những can thiệp của Mỹ – mà ông ta gọi là để bảo vệ Hiệp định. Ngay từ ngày Hiệp định được ký (27/1/1973), kết quả thu được của cơ quan điều tra dư luận Gallup cho thấy đa số dân Mỹ đã chán ghét chiến tranh và phản đối Mỹ quay lại Việt Nam.

Một đánh giá khác của tác giả Phrank Snep trong cuốn Decent Interval (Một khoảng thời gian thích đáng) cho rằng Hiệp định Pari chỉ là “một hình thức bỏ chạy” của Mỹ để rút các lực lượng Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam, những vấn đề còn lại của chiến tranh không được giải quyết.

Cuốn Không hòa bình, chẳng danh dự – Nixon, Kissinger, và sự phản bội ở Việt Nam của GS Larry Berman1 dẫn lời của Nixon và Kissinger nói rằng họ có thể nhìn thấy Nam Việt Nam thất bại nhưng muốn sự thất bại đó không diễn ra trong nhiệm kỳ của mình. Tổng thống Nixon muốn một tình trạng bế tắc vô hạn định bằng cách sử dụng máy bay B52 bảo vệ Nam Việt Nam cho đến hết nhiệm kỳ. Tuy nhiên vụ Watergate đã làm hỏng những toan tính đó.

Một số tiếng nói giận dữ và oán hận từ những đồng minh bị thất bại của Mỹ (Nguyễn Văn Thiệu và những phụ tá thân cận của ông ta) cho rằng Thiệu thua vì Mỹ đã phản bội và “bỏ rơi” Nam Việt Nam, thậm chí cho rằng Nam Việt Nam đã thua vì vừa phải đối phó với “kẻ thù Bắc Việt” vừa phải đối phó với đồng minh Mỹ của mình. Những tiếng nói này cũng đồng quan điểm với Siric Matac ở Campuchia cho rằng “Chúng tôi đã lầm lẫn mà tin tưởng vào các ngài, những người bạn Mỹ” khi chế độ thân Mỹ được dựng lên ở đây (sau cuộc đảo chính của Lonnon năm 1970) đang hấp hối.

“Leo thang” trong thế “xuống thang”

Chính thức từ ngày 13/5/1968, Mỹ (buộc phải) đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pari. Từ thời điểm đó, người ta bắt đầu nói đến những biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề của cuộc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sáu tháng sau khi bước vào Nhà trắng trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Nixon bắt đầu thực thi một chiến lược chiến tranh mới: Rút dần quân Mỹ về nước; từng bước thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”; dùng người Việt đánh người Việt bằng viện trợ và vũ khí của Mỹ; kết hợp chiến tranh hủy diệt, chiến tranh giành dân và chiến tranh bóp nghẹt để khống chế phần lớn miền Nam, tiến tới bao vây cô lập, làm cho cuộc chiến tranh cách mạng bị “tàn lụi”, tạo thế mạnh để Mỹ giành thắng lợi về quân sự và chính trị. Tuy “Học thuyết Nixon” có làm “thay đổi màu da xác chết” trên chiến trường nhưng những mục tiêu chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam không thay đổi.

Trong tình thế phải “xuống thang” để rút lực lượng Mỹ nhưng muốn gây sức ép để đạt được kết quả có lợi trên bàn hội nghị, Mỹ vẫn tiếp tục cố gắng kéo dài cuộc chiến ở Việt Nam, thậm chí mở rộng chiến tranh ra ngoài biên giới miền Nam Việt Nam. Trên chiến trường, Mỹ chọn biện pháp tấn công những căn cứ hậu cần chiến lược để tiêu diệt và đẩy lùi lực lượng kháng chiến ra xa thay vì tấn công lại miền Bắc bằng không quân. Nhưng những mục tiêu cơ bản là tiêu diệt các đơn vị chủ lực, tiêu diệt căn cứ kháng chiến đầu não ở miền Nam, cắt đường vận chuyển chiến lược xuyên Đông Dương… đều không đạt được. Một phần lực lượng quân chủ lực thiện chiến và cùng theo đó là số vũ khí, trang thiết bị quân sự bị tổn thất. Không những thế, khi bộ phận quân chủ lực được đưa ra tác chiến ở vùng rừng núi biên giới, thì vùng nông thôn và đô thị đã bị “để lỏng” cho đối phương giành lại thế chủ động.

Những vi phạm được chuẩn bị trước

Mỹ đã dự kiến và gấp rút thực hiện những biện pháp đối phó với những bất lợi của họ bị bản Hiệp định Pari quy định. Nhiều điều khoản của Hiệp định đã bị vi phạm trước khi ký và chuẩn bị cho sự vi phạm sau khi ký.

Ngay sau khi thống nhất cụm từ “ba vùng kiểm soát” dưới sự quy định của một cuộc ngừng bắn tại chỗ trong khi dự thảo Hiệp định với trưởng đoàn Việt Nam là ông Xuân Thủy trong cuộc họp (dài nhất trong các buổi họp kín) ngày 11/10/1972, Kissinger đã điện cho E. Bunker, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, “yêu cầu Thiệu cố gắng hết sức để lấn chiếm được càng nhiều càng tốt vùng do Chính phủ cách mạng lâm thời kiểm soát”(2). Thiệu đã thực hiện điều này một cách rất tích cực, xúc tiến gấp kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm, bình định trong thời gian trì hoãn việc ký Hiệp định Pari. Sau khi bản Hiệp định này có hiệu lực, những vi phạm này vẫn tiếp tục với quy mô lớn bằng nhiều cuộc hành quân của Thiệu đánh chiếm Cửa Việt, đánh chiếm Sa Huỳnh và nhiều nơi khác ở miền Trung, lấn chiếm vùng đồng bằng sông Cửu Long…

Mỹ đã gấp rút thực hiện kế hoạch Enhance (Tăng cường) và Enhance Plus (Tăng cường thêm nữa) nhằm củng cố cho quân đội Sài Gòn đủ sức đứng vững một mình sau khi quân Mỹ rút đi. Chỉ trong thời gian ngắn từ cuối năm 1972 đến đầu năm 1973, cầu hàng không đã đổ cho chính quyền Thiệu 700 máy bay, 500 pháo các loại, 400 xe tăng và xe bọc thép, bổ sung 2 triệu tấn dự trữ vật tư chiến tranh (3).

Sự suy yếu trên chiến trường và trên chính trường

Về quân sự, sau khi lính Mỹ rút đi, nguồn viện trợ quân sự Mỹ sụt giảm, quân đội Sài Gòn, dù được tiếp sức cấp tốc, không thể làm nổi những gì mà hơn nửa triệu quân Mỹ và gần 10 triệu tấn bom đạn đã không làm được trong những năm trước đó.

Về chính trị, Mỹ chọn giữ lại Thiệu như một bảo đảm về cơ hội để can thiệp vào Việt Nam và Đông Dương, bảo đảm cho vai trò của Mỹ ở khu vực và giữ cho Nam Việt Nam không bị trung lập hóa rồi cuối cùng rơi vào tay lực lượng cách mạng. Thiệu là người chống cộng quyết liệt. Nếu một nhân vật ôn hòa hơn được cả hai phía chấp nhận sẽ dẫn đến một chính phủ liên hiệp trong tương lai và phía cộng sản – với sự ủng hộ của dân chúng – sẽ dần dần chiếm đa số trong chính quyền đó. Nhưng Mỹ đã “đặt cược” sai. Chính quyền Thiệu, tiếp nối những chính quyền Sài Gòn trước đó (do Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng) là một chính quyền không có dân chúng. Lý do tồn tại của nó là chiến tranh và nguồn sống của nó chỉ là viện trợ Mỹ. Bộ máy của chính quyền này bị mục ruỗng vì nạn tham nhũng (đến mức đã báo hiệu sự cáo chung), bị hư hoại vì hàng loạt những vấn đề chính trị – kinh tế – xã hội nảy sinh và chưa giải quyết được sau khi quân Mỹ rút đi và viện trợ Mỹ bị cắt giảm.

Vụ Watergate đã làm Nixon ra đi và lực lượng quân sự Mỹ không còn khả năng quay lại Nam Việt Nam như trước Hiệp định Pari và như lời hứa của ông ta với đồng minh ở Sài Gòn. Việc không thực hiện được lời hứa này là lý do để Thiệu và nhiều người khác kết tội Mỹ “bỏ rơi” đồng minh ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Tiến Hưng (Tổng trưởng Kinh tế cuối cùng của Thiệu) trong cuốn sách của mình đã công bố một số trong số những bức thư của Nixon gửi Thiệu, trong đó nhấn mạnh:

“… Tôi tuyệt đối cam đoan với ngài rằng, nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt” (14/11/1972).

“… nền tự do và độc lập của Việt Nam cộng hoà vẫn là một mục tiêu tối cao của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ…
– Thứ nhất, chúng tôi chỉ thừa nhận chính phủ của ngài là chính phủ hợp pháp duy nhất tại Việt Nam.
– Thứ hai, chúng tôi không thừa nhận quyền ở lại của quân đội ngoại quốc trên phần đất miền Nam Việt Nam.
– Thứ ba, Hoa Kỳ sẽ phản ứng mãnh liệt đối với những vi phạm hiệp định…” (17/1/1973)(4).

Thiệu đã coi đó như một “lời hứa danh dự”. Còn ông Kissinger lại trả lời trước Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ (năm 1975) rằng những lá thư đó “không phải là cam kết pháp lý. Chúng tôi chưa bao giờ nói là có một cam kết pháp lý” (5).

“Khả năng thứ hai”

Con đường đi từ Hiệp định hòa bình đến hòa bình và thống nhất đất nước trên thực tế của nhân dân Việt Nam không bằng phẳng. Để đi từ hòa bình trên đầu ngọn bút đến hòa bình trong thực tế, quân và dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam còn phải chịu thêm nhiều tổn thất hy sinh do những âm mưu và hành động ngoan cố của Mỹ và tập đoàn tay sai do họ dựng lên. Những người lãnh đạo và nhân dân Việt Nam không có ảo tưởng về sự “bằng phẳng” trên con đường đi đến hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Tháng 10/1973, Hội nghị trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã dự kiến tình hình sẽ phát triển theo hai khả năng:

1. Do đấu tranh tích cực trên ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam, hòa bình được lập lại thật sự, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam nhằm hoàn thành độc lập, dân chủ tuy còn lâu dài nhưng ngày càng phát triển và ở thế tiến lên mạnh mẽ.

2. Mặt khác, do âm mưu chiến lược của đế quốc Mỹ cố bám giữ khu vực Đông Dương, Đông Nam Á, do bản chất cực kỳ phản động ngoan cố của Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt tay sai Mỹ, Hiệp định Pari về Việt Nam tiếp tục bị địch vi phạm và phá hoại, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn.
Ta phải hết sức tranh thủ thực hiện khả năng thứ nhất và chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng thứ hai” (6).

Thực tế lịch sử đã diễn ra theo khả năng thứ hai như Đảng ta đã dự kiến.

Ngô Vương Anh
baotintuc.vn

(1) Bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản tiếng Anh của Nxb Free Press, thuộc tổ hợp Simon & Schuster, NewYork, 2001 – Dịch giả Nguyễn Mạnh Hùng – Việt Nam Tyde xuất bản (2003).
(2) H. Kissinger – Ở Nhà trắng – Dẫn lại theo Lưu Văn Lợi; Nguyễn Anh Vũ – Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ Kísinger tại Paris (1996) – Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 417 và Larry Berman – Không hòa bình chẳng danh dự… Sđd, tr 215.
(3) Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị – Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – Thắng lợi và bài học (1996) – Nxb CTQG, Hà Nội, tr 328.
(4) Nguyễn Tiến Hưng và Jerold. L. Schecter – Palace file (Hố sơ mật dinh Độc lập) (1978), NewYork, Harper & Row – Phần tiếng Việt, The printers, Mountain View, tr 2; 3.
(5) Larry Berman – Không hòa bình, chẳng danh dự… Sđd, tr 387.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đảng toàn tập (2004) – Nxb CTQG, Hà Nội, tập 34, tr 231.

Nụ cười Võ Thị Thắng

Kỷ niệm ngày ký kết Hiệp định Paris 27-1-1973:

Theo tinh thần bản Hiệp định Paris, kẻ địch buộc phải trao trả những người yêu nước bị chúng bắt, cầm tù. Người sinh viên yêu nước, chiến sĩ biệt động thành Võ Thị Thắng với “Nụ cười chiến thắng” nổi tiếng tại phiên tòa của Mỹ – ngụy năm 1968 nằm trong số đó. Và có một người đã ghi lại được những hình ảnh cảm động ngày trở về của chị.

… “Thời điểm đó, tôi (Hồ Văn Sanh) được tổ chức phân công làm Trưởng ban Thông tấn báo chí của phái đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN trong Ban liên hiệp quân sự hai bên. Đoàn ta đóng tại trại David (sân bay Tân Sơn Nhất).

Tôi là phát ngôn viên của phái đoàn quân sự ta – Trong căn nhà cấp 4 trên đường Cách Mạng Tháng Tám – TP Cần Thơ, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh nay đã 80 tuổi nhớ lại – Chính vì danh nghĩa đó tôi có thể đi lại, đến được tận cầu thang máy bay (theo quy định, nơi trao trả thuộc quyền ta kiểm soát cách nơi đỗ máy bay hơn 100m). Do có ý định nên trước khi ra Lộc Ninh đón đoàn tôi đã mượn anh em chiếc máy ảnh Minota đã cũ cùng một cuộn phim.

Chị Võ Thị Thắng (bìa phải hàng thứ hai)
và đồng đội (1973).
Ảnh: HỒ VĂN SANH

Chị Võ Thị Thắng nằm trong nhóm cuối cùng của chiếc máy bay cuối cùng chiều hôm đó. Đúng như dự đoán, địch ngăn không cho các phóng viên ảnh, quay phim của ta vô khu vực đỗ máy bay. Tôi đi sát một số nhân viên giám sát quốc tế, len vào, ra tận cầu thang máy bay. Tôi nhận ngay ra chị bởi nụ cười, một nụ cười rất thân thiện, dịu dàng, cởi mở. Và sau đó trên đoạn đường hơn 100m về nơi tập kết của ta tôi chụp hình chị liên tục. Rất tiếc chỉ chụp được khoảng 10-11 tấm thì hết phim.

Trước kẻ thù, chị Thắng tự tin, bình thản cười kiêu hãnh, giễu cợt mức án 20 năm khổ sai của chúng. Một phóng viên người Nhật đã chớp được khoảnh khắc tuyệt vời đó để rồi nhân dân cả nước và thế giới biết đến “Nụ cười chiến thắng”, biết đến bản lĩnh bất khuất của những người con gái Việt Nam. Sau 5 năm tù đày, qua nhiều nhà lao tàn bạo, kẻ thù vẫn không dập tắt nổi nụ cười đó, niềm tin đó. Hôm nay chị trở về với đồng bào đồng chí với nụ cười đầy dịu dàng, tin cậy.

…Chiến tranh đã đi qua nhiều năm rồi nhưng những kỷ vật của một thời chinh chiến tôi vẫn luôn lưu giữ. Nó nhắc nhở mình luôn phải sống xứng đáng hơn”.

(Theo SGGP)
cpv.org.vn

Kỷ niệm trọng thể 40 năm ngày ký Hiệp định Pari

Ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Pari đã đến dự.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pari đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Pari làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Hiệp định Pari là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, những bài học của Hội nghị Pari là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Pari, công tác đối ngoại cần quán triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Pari là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng Trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có miền Bắc – Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Pari về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á – Phi – Mỹ la tinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt nhấn mạnh, Hiệp định Pari cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Pari đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

* Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp đoàn khách quốc tế dự kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại. Các đại biểu đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, CHDCND Lào nhấn mạnh, những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Pari năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể. Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế, đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại. Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực. Chủ tịch nêu rõ, trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Tham dự buổi lễ có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng; Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Noël Poirier; Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO; ông Pierre Laurent, Thượng nghị sỹ, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp; lãnh đạo hai thành phố Choisy-Le-Roi và Verrières-Le-Buisson, nơi hai đoàn đàm phán Việt Nam từng lưu trú giai đoạn 1968 – 1973; đại diện các hội đoàn hữu nghị và đoàn kết với Việt Nam cùng những Việt kiều từng tham gia giúp đỡ đoàn và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định rằng việc ký kết Hiệp định về Việt Nam tại Pari cách đây 40 năm là một sự kiện lịch sử, một dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh hào hùng của nhân dân Việt Nam giành độc lập và giải phóng dân tộc. Việc ký kết Hiệp định Pari năm 1973 buộc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút quân khỏi Nam Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất đất nước vào tháng 4/1975. Hai sự kiện là ký kết thắng lợi Hiệp định Pari năm 1973 và thống nhất đất nước vào năm 1975, đã đi vào biên niên sử của nhân loại như một ví dụ về ý chí của một dân tộc kiên quyết đấu tranh vì các quyền cơ bản của con người và là minh chứng hùng hồn về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh để giành độc lập dân tộc và tự do.

Để giành được thắng lợi vẻ vang đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình, trong đó phải kể đến các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức, cá nhân người Pháp trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam cùng cộng đồng người Việt yêu nước ở Pháp.

Đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và hai thành phố từng giúp đỡ đoàn đàm phán Việt Nam bày tỏ tinh thần đoàn kết, hữu nghị gắn bó với nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng thắng lợi của nhân dân Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Hoàng Giang – Nhóm p/v TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

“Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao”

(Dân trí) – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

>> Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

Ngày 25/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam – một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)

Tới dự Lễ mít tinh có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Đại tướng Phùng Quang Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Đinh Thế Huynh – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Huỳnh Đảm – Chủ tịch UBTƯMTTQVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, các lãnh đạo ban, ngành đoàn thể Trung ương và Thủ đô Hà Nội, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí trực tiếp tham gia và phục vụ cho cuộc đàm phán; đại diện gia đình một số đồng chí nguyên là cán bộ của hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam, góp phần vào thắng lợi cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, các vị Đại sứ, đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và quốc tế.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

“Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện hai Đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris

Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.

Chủ tịch nước cho rằng, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.

Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

“Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý…”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu.

Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Đó là, bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – cho biết, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam”, bà Nguyễn Thị Bình cho biết.

Theo bà Bình, việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của tất cả những người có lương tri trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Trúc Linh
dantri.com.vn