Thư viện

Tôn vinh hai đoàn đại biểu quân sự đấu tranh thi hành Hiệp định Paris

(Chinhphu.vn) – Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đại biểu trên được Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 20/4 tại Hà Nội.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự. – Ảnh: QĐND

Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 28/1/1973, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền.

Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, từ khi thành lập đến khi kết thúc nhiệm vụ (30/4/1975), hai đoàn đại biểu quân sự đã dũng cảm kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris để đấu tranh, vạch trần âm mưu và lên án các hành động phá hoại Hiệp định Paris của quân Mỹ-ngụy trước cộng đồng quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858, đất nước sạch bóng quân xâm lược.

Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Biểu dương tinh thần đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với những thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của hai đoàn đại biểu quân sự, Chủ tịch nước nêu rõ, việc thành lập hai đoàn đại biểu quân sự là sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây cũng là bài học vô cùng quý báu trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng.

Trong tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, những kinh nghiệm và bài học quý báu trong đấu tranh ngoại giao của hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong thi hành Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ vững hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh Hà
chinhphu.vn

Mốc son không phai mờ trong lịch sử dân tộc

QĐND – Cách đây đúng 40 năm, ngày 27-1-1973, tại Pa-ri, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đã được ký kết. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Nguồn: Internet

Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Pa-ri (từ ngày 15-3-1968 đến 27-1-1973). Ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa-ri là cuộc đấu trí, cuộc thử thách quyết liệt về bản lĩnh giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đến thắng lợi.

Hiệp định Pa-ri thắng lợi là kết quả tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Với Hiệp định Pa-ri, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo thời cơ thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ký Hiệp định Pa-ri là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Vượt lên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản quý báu của phong trào giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu thoát khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Để đi đến thắng lợi có tính bước ngoặt này, nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo. Vận dụng khéo léo nghệ thuật “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán, buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.

Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri năm 1973 phản ánh xu thế thắng lợi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao Nhà nước với ngoại giao nhân dân. Chính vì thế, Hiệp định Pa-ri còn là kết quả tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Có thể nói, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.

40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song những bài học của cuộc đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Đó là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; là bài học về tầm quan trọng của thực lực kết hợp với chủ động, sáng tạo; là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là bài học về xây dựng lực lượng, về sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực.

Trong một thế giới đầy biến động hiện nay, bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế cần được phát huy hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong bất kỳ tình huống nào, việc bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mãi mãi là nguyên tắc bất di bất dịch. Lợi ích của quốc gia, của dân tộc là trên hết. Và trong thời kỳ hiện đại, tinh thần, bản lĩnh sáng tạo, linh hoạt cần phải phát huy hơn nữa.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa-ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế, đồng thời vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

QĐND
qdnd.vn

Đóng góp của lực lượng Công an nhân dân vào thắng lợi của Hội nghị Paris về Việt Nam

(ĐCSVN) – Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

Lực lượng công an nhân dân đã đóng góp không nhỏ
vào thành công của Hội nghị Paris về Việt Nam
(Ảnh tư liệu)

Cách đây 40 năm, ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại thủ đô Paris, nước Cộng hòa Pháp. Đây là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của nhân dân, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài, gay cấn, phức tạp và giành thắng lợi toàn diện cả mục tiêu đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao như tại Hội nghị Paris. Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới “đánh cho Ngụy nhào” như lời dạy và lời tiên đoán vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn thống nhất đất nước vào ngày 30-4-1975.Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết là “thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. Thắng lợi đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh đầy cam go, thử thách của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và chủ trương sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta “vừa đánh vừa đàm” trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Paris là một cuộc đấu trí, đấu mưu, đấu lực, đấu pháp hết sức gay go giữa ta và Mỹ trên nhiều phương diện. Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi đó. Nhờ nắm chắc tình hình, luôn cảnh giác cao độ, vận dụng sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ, đồng thời biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ Pháp và kiều bào cho nên công tác đảm bảo an ninh và bảo vệ phái đoàn đàm phán đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hội nghị Paris.

Để phục vụ mặt trận đấu tranh ngoại giao, ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội nghị, ngày 13-5-1968, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã cử một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ và kinh nghiệm làm công tác an ninh và bảo vệ phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoạt động tại Hội nghị và sau đó hơn 40 lượt cán bộ chiến sĩ công an được cử tới Paris để làm công tác bảo vệ an ninh và cảnh vệ cho cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị. Với phương châm: Công tác an ninh phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, dựa vào sức mình là chính, đồng thời làm tốt công tác ngoại giao vận động kiều bào, lực lượng Công an đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh cho cả hai đoàn tại nơi ở, nơi làm việc, hội họp, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người cũng như các tài liệu bí mật quốc gia liên quan đến đàm phán; bảo vệ an toàn những chuyến đi lại từ Hà Nội đến Paris và ngược lại của các đồng chí Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ và nhiều cuộc đi thăm các nước của bà Nguyễn Thị Bình – đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam v.v…

Thông qua công tác xây dựng cơ sở trong các tổ chức Việt kiều yêu nước, qua công tác trinh sát, tình báo, ta nắm được danh sách phái đoàn và ý đồ của Mỹ đến đàm phán tại Hội nghị Paris. Những tin tức đó được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo đấu tranh trên bàn Hội nghị. Trong quá trình diễn ra Hội nghị, lực lượng bảo vệ đã thường xuyên nêu cao cảnh giác, giữ vững kỷ luật, tham mưu cho lãnh đạo, hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn đảm bảo cho hoạt động của đoàn tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy, quy định về quan hệ, đi lại, tiếp xúc, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, các quy định về bảo vệ cơ quan phái đoàn, bảo vệ tài liệu, giữ gìn bí mật về chủ trương, đường lối của Đảng. Trong hoạt động nghiệp vụ, lực lượng an ninh đã chủ động bố trí những buồng BHP (“buồng hạnh phúc”), BBM (buồng bí mật), thậm chí nhiều vấn đề không được trao đổi bằng miệng mà phải viết ra giấy, khi cần thiết phải trao đổi ngoài sân hoặc trong vườn khuôn viên biệt thự… Vì vậy, mọi thông tin hoạt động đàm phán của phái đoàn ta, các bí mật tin tức, biện pháp đấu tranh ngoại giao của Đảng và Chính phủ đều giữ được bí mật đến phút cuối cùng, khiến cho địch luôn bị bất ngờ, đối phó bị động.

Ở những địa điểm phái đoàn ta hội họp, nơi làm việc, nghỉ ngơi, lực lượng Công an Việt Nam đều phối hợp với lực lượng Cảnh sát, An ninh và các lực lượng tiến bộ của nước Cộng hòa Pháp lập kế hoạch bảo vệ tuyệt đối an toàn cả trên đường di chuyển và ở nơi làm việc. Đặc biệt, tổ Tình báo F68 đã có những thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ an toàn phái đoàn ta tại Hội nghị. Bằng trí tuệ sắc sảo, sự nhạy cảm, khôn khéo, thông qua công tác trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ, lực lượng công an đã phát hiện và vô hiệu hóa các phương tiện kỹ thuật nghe, chụp ảnh trộm của đối phương. Khi Hiệp định Paris chuẩn bị được ký kết, qua công tác tình báo, lực lượng công an nắm được âm mưu của Mỹ muốn thay đổi một số nội dung trong dự thảo Hiệp định. Những tin tức trên đã được kịp thời báo cáo với lãnh đạo Đảng để có chủ trương và biện pháp đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận tại Hội nghị. Tuy số lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ Hội nghị không nhiều, nhưng do biết dựa vào tập thể, tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ của Chính phủ và các lực lượng tiến bộ Pháp, đồng thời biết phát huy tác dụng các biện pháp nghiệp vụ nên lực lượng Công an Việt Nam đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc đã 40 năm và đã để lại những bài học vô cùng quý giá. Những bài họcđó vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với lực lượng Công an nhân dân trong tình hình thế giới đầy biến động và phức tạp hiện nay. Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2013), lực lượng Công an nhân dân tự hào, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi tới của dân tộc, quyết tâm phát huy tinh thần và bài học của Hội nghị Paris trong công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ và chủ động hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Bình Ban (Viện Lịch sử Công an, Bộ Công an)
cpv.org.vn

Nghệ thuật đàm phán ngoại giao ở Pa-ri

QĐND – Cuộc đàm phán Pa-ri và Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là thành công lớn nhất trong lịch sử ngoại giao của dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Là một trong số ít những nhân chứng còn lại từ cuộc đàm phán lịch sử này, nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh đã chia sẻ với chúng tôi những bài học thực tiễn quý báu về đấu tranh ngoại giao khi đó.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh.

Mặt trận thứ hai

Có thể nói, cuộc đấu tranh ngoại giao trong suốt quá trình đàm phán ở Pa-ri giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nếu nói quân sự là mặt trận thứ nhất, mặt trận quyết định, thì ngoại giao là mặt trận thứ hai, mặt trận mang ý nghĩa chiến lược. Để phát huy được ý nghĩa chiến lược này, ta cần xác định rõ ngoại giao có nhiệm vụ gì và đàm phán Pa-ri để thực hiện điều gì?

Đương nhiên, không phải đàm phán với Mỹ là có thể ký ngay hiệp định chấm dứt chiến tranh và bắt Mỹ rút quân được. Vì vậy, ta phải dùng đàm phán để tấn công, lên án Mỹ, cô lập, làm rối loạn hậu phương địch để phục vụ cuộc chiến đấu của quân đội ta, cổ vũ cho quân đội ta đánh mạnh. Mấu chốt ở đây là ngoại giao phải song song, phải bám sát với chiến trường. Khi quân đội có chiến thắng thì làm sao phát huy thắng lợi đó trên bàn ngoại giao.

Ngược lại, khi quân ta gặp khó khăn, ngoại giao phải đỡ lấy để Mỹ không lấn tới. Ví như những năm 1969, 1970 và 1971, lực lượng ta bị tổn thất: Đất mất, dân mất, quân chủ lực phải tránh sang Lào, sang Cam-pu-chia… Ba năm đó, ngoại giao cũng cầm cự, nhưng cầm cự không có nghĩa là nhân nhượng. Nghệ thuật là ở chỗ cầm cự mà vẫn phải tấn công địch, vẫn phải lên án, đòi địch rút quân. Ta đã từng đề nghị Mỹ rút quân trước 31-12-1971, rồi dăm ba bữa lại đưa ra đề nghị khác. Cả thế giới theo dõi những đề nghị đó. Nhưng trên thực tế, ta đề nghị mang tính tấn công thế thôi chứ làm sao ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971 được. Khi ấy, ta chưa đủ mạnh để ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971. Ta đề nghị “cò cưa” như thế để biểu thị có thiện chí và vẫn giữ vững lập trường, chủ trương, nhưng cũng đồng thời là để chờ quân ta giành chiến thắng trên chiến trường quân sự.

“Biết địch biết ta, trăm trận không thua”

Người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không thua”. Hiểu và đoán biết trước được ý đồ của địch cũng là một trong những nghệ thuật quan trọng của ngoại giao. Nếu đoán biết được Mỹ làm gì, đánh chỗ nào, lập luận nó thế nào thì ta sẽ tìm được cách đối phó. Với việc Mỹ đòi miền Bắc rút quân, đòi đàm phán không điều kiện, đòi ở trên thế mạnh, ngoại giao ta phải đàm phán làm sao đánh bại các thủ đoạn đó để bảo vệ lẽ phải của ta, để tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.

Ta cũng biết chắc rằng, trên chiến trường, ta chưa thể đánh thắng Mỹ chỉ trong một ngày, một tháng, một năm. Mà chiến tranh phải kéo dài nhiều năm. Cho nên, ta chủ trương suy tính làm sao kéo dài được đàm phán mà địch lại không thể đổ lỗi cho ta được. Ta tính trước, khi nào cần kéo dài, ta kéo dài. Khi nào cần đi sâu, đi vào thực chất, ta sẽ đi vào đàm phán thực chất. Những bước đi của người đàm phán giống hoàn toàn như người đánh trận. Do vậy, thời cơ là yếu tố quyết định thắng bại. Ngoài thận trọng, khéo léo, ta cũng phải linh hoạt nắm bắt cơ hội. Biết dân Mỹ quan tâm tới 300 tù binh toàn sĩ quan cao cấp “con ông cháu cha”, ta nắm lấy thời cơ này để tranh thủ được dư luận Mỹ. Ta cân nhắc khi nào dân Mỹ “sôi sục” về vấn đề thả tù binh nhất, khi nào Quốc hội Mỹ họp bàn về vấn đề này thì đó cũng là lúc ta ấn định thời hạn thả tù binh.

Đề cao Mặt trận

Tại Pa-ri, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đàm phán chính thức, ngồi cùng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đàm phán song phương với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Có một điều nổi bật, thể hiện rõ chính sách ngoại giao khôn khéo và sáng suốt của Việt Nam trong những năm đàm phán Pa-ri, đó là trong những phiên họp 4 bên, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa thường nhường quyền phát ngôn đối với tất cả các vấn đề liên quan đến hiệp định hòa bình cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Kể cả thứ tự phát biểu cũng ưu tiên đoàn Mặt trận giải phóng trước.

Có thể hiểu điều này từ câu phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam dân chủ cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Vừa là hai mà là một, vừa là một mà lại là hai. Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau”. Ta chủ trương, Mặt trận Dân tộc phải được coi như người phát ngôn về những đề nghị hòa bình được đưa ra. Bởi trong việc tranh thủ dư luận, đấu tranh lên án tấn công Mỹ thì phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quyết liệt, mạnh mẽ, rất có tác dụng. Với chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng dễ đi vào lòng người. Thêm vào đó, khi ở diễn đàn đàm phán công khai, ta nhường quyền và sức mạnh tấn công địch cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có nghĩa là ta tôn trọng và đề cao vị thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Đó là một đặc thù, một ưu thế mà không nước nào trên thế giới có được trong cùng một hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Trong gần 5 năm đấu tranh gian nan trên bàn đàm phán, ngoài nỗ lực của toàn dân tộc Việt Nam, không thể không kể đến sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Những ngày này, hàng chục vị khách quốc tế – nhân chứng của sự kiện 40 năm trước – có mặt tại Hà Nội, cùng nhân dân Việt Nam kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris.

Thị trưởng Choisy le Roi Daniel Davise: Choisy le Roi là nơi phái đoàn Việt Nam đã làm việc trong những ngày diễn ra Hội nghị Paris. Tòa nhà trường Đảng Cộng sản Pháp tại phố Maurice Thorez được dành riêng cho phái đoàn Việt Nam ở miễn phí trong gần 5 năm. Chúng tôi đã làm mọi điều có thể, từ việc cử người bảo vệ và nấu ăn cho phái đoàn Việt Nam, trong suốt thời gian đàm phán căng thẳng về lập lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Nhiều cán bộ của Hội đồng Thị chính Choisy le Roi và các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã nhiệt tình giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất cho 2 phái đoàn Việt Nam…

Hiện nay, các tài liệu, hình ảnh, hiện vật, băng ghi hình… từ các buổi đàm phán tại Hội nghị Paris đều được lưu giữ cẩn thận. Đặc biệt chúng tôi còn có những cuốn phim tài liệu dài về phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đến thời điểm này, tại thành phố vẫn còn rất nhiều nhân chứng sống. Căn phòng nơi diễn ra hội nghị cùng những hiện vật trong đó vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.

Cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Ramsey Clark: Đây là lần thứ 2 sau năm 1970 chúng tôi đến Việt Nam, bởi trước đó, đến Việt Nam chúng tôi bị coi là phản bội đất nước. Nhưng cần khẳng định một điều, chúng tôi – những người yêu chuộng hòa bình đã luôn đấu tranh để ủng hộ các bạn. Khi Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, thì ở Mỹ cũng có cuộc chiến tranh của những người yêu chuộng hòa bình. Hàng ngàn người Mỹ đã bị bắt và buộc tội vì gây mất trật tự để ủng hộ Việt Nam. Hội nghị Paris kéo dài, chúng tôi đã rất lo lắng. Một số người trong nhóm chúng tôi còn sang tận Paris gặp bà Nguyễn Thị Bình để được thông tin về tình hình đàm phán. Sau khi Hiệp định Paris được ký, chúng tôi cùng các bạn cũng phải mất 2 năm đấu tranh để biến nó thành hiện thực, bao gồm điều khoản cung cấp hỗ trợ để hoàn gắn vết thương chiến tranh, chấm dứt sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ cho Thiệu. Chúng tôi đã thông qua nhiều hiệp hội những người bạn của Mỹ đấu tranh, quyên góp ủng hộ các bạn Việt Nam thời kỳ này…

Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt Helene Luc: Trong suốt thời gian diễn ra cuộc đàm phán, rất nhiều người Pháp thuộc nhiều tôn giáo, đảng phái chính trị khác nhau, đặc biệt là những người đấu tranh cho hòa bình đã đến nơi ở của phái đoàn Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ. Có thể nói, Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Paris cũng củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris: “40 năm đã trôi qua, độ dài thời gian cho phép chúng ta có thể nhìn lại rõ hơn tính chất cuộc đấu tranh tại bàn đàm phán và đánh giá sâu hơn về ý nghĩa của Hiệp định Paris đối với vận mệnh đất nước và sức mạnh ngành ngoại giao Việt Nam. Cuộc đàm phán Paris để lại rất nhiều bài học. Có người coi các bài học này có thể ghi lại thành một pho từ điển. Xin nêu 3 bài học có nhiều ý nghĩa cơ bản và thực tiễn. Thứ nhất, đề cao chính nghĩa dân tộc và ngọn cờ hòa bình, đánh mạnh vào chỗ yếu của đối phương làm chiến tranh phi nghĩa và gây tội ác. Thứ hai, kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, gắn đàm phán với chiến trường, với tình hình nội bộ của Mỹ và tình hình quốc tế. Thứ ba, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế là bảo đảm cơ bản có thành công của ngoại giao và đàm phán”.

PV ghi
daibieunhandan.vn

40 năm Hiệp định Paris: Gặp các nhân chứng lịch sử

Bà Nguyễn Thị Bình gặp gỡ các nhân chứng lịch sử. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Nằm trong chương trình hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013) do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức, ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 50 đại biểu quốc tế cùng các nhân chứng lịch sử của Việt Nam đã tham dự hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử.”

Cùng dự có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đại diện lãnh đạo Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban Nhân dân và đông đảo đại diện các tầng lớp nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam mãi mãi không quên sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế

Tại hội thảo, các đại biểu quốc tế và trong nước đã cùng nhau ôn lại ý nghĩa lịch sử của quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với nhân dân Việt Nam trong cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đánh giá về những giá trị của Hiệp định Paris đối với Việt Nam, bà Hélene Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp-Việt, chia sẻ: “Chiến thắng đó là nhờ lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam, cùng sự thống nhất, đoàn kết quốc tế và nhất là sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước. Thành phố Choisy-le-Roi có vinh hạnh đón đoàn Việt Nam, nhiệm vụ của chúng tôi là làm cho thế giới thấy rằng xung quanh phái đoàn Việt Nam là tình thương yêu, tình đoàn kết quốc tế, Việt Nam không cô đơn.”

Ở góc nhìn bao quát hơn, bà Men Sam An, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia cho rằng Hiệp định Paris được ký kết không chỉ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam mà ở cả ba nước Đông Dương.

Theo bà Men Sam An, qua câu chuyện từ cha mẹ mình và những ấn tượng sâu sắc khi bộ đội Việt Nam đến giúp ngôi làng của bà có hòa bình, bà đã quyết định tham gia quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhiều câu chuyện, kỷ niệm, cảm xúc về cuộc đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, đã được bạn bè quốc tế chia sẻ tại hội thảo.

Đại biểu Rabin Deb, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn; bà Hyun Soonhye, vợ nhà văn Oda Makoto (Nhật Bản); ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ… cũng đã chia sẻ về những hoạt động, việc khởi xướng và phát động các phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam, sự quyên góp về vật chất cũng như tinh thần ủng hộ nhân dân Việt Nam trong quá trình đàm phán, đấu tranh thống nhất đất nước.

Phía về Việt Nam, nhiều nhân chứng lịch sử như ông Hà Văn Lâu, Phó trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; bà Phan Thị Quyên, vợ anh hùng, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi… cũng đã chia sẻ những kỷ niệm, câu chuyện xúc động trong quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris và tình hình thực tế tại Việt Nam trong những năm tháng chống chiến tranh tại Việt Nam.

Thay mặt người dân Việt Nam gửi lời cám ơn đến các đại biểu quốc tế, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, bày tỏ: “Tôi muốn thông qua các bạn gửi đến hàng triệu người trên thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và cả nước Mỹ, lời cảm ơn đã đồng hành cùng chúng tôi trong cuộc trường chinh 20 năm. Có thể nói, nhiều bạn bè trên thế giới đã đi cùng chúng tôi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Mãi mãi nhân dân Việt Nam không bao giờ quên bạn bè đã giúp chúng tôi.”

Bà Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi, trong đó nhân tố quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Việt Nam trong những năm tháng gian nan đó, cả triệu người như một và sự nghiệp của chúng tôi được phong trào thế giới với hàng triệu, hàng triệu người ủng hộ. Mong rằng các bạn luôn luôn nhớ Việt Nam và chúng ta cùng đoàn kết trên con đường đấu tranh cho hòa bình, cho tự do.”

Đoàn kết các dân tộc cho một thế giới hòa bình

Kết thúc hội thảo, bà Jeanne Ellen Mirer, Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế, đại diện cho các đại biểu quốc tế tham gia lễ kỷ niệm đã đọc Thông điệp đoàn kết của các đại biểu quốc tế.

Thông điệp nêu rõ các đại biểu quốc tế đã tập hợp tại Việt Nam để tôn vinh và chào mừng lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, mở đường cho thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam giải phóng và thống nhất đất nước sau nhiều thập niên chiến tranh xâm lược.

“Chúng tôi bày tỏ tinh thần đoàn kết nhiệt thành với nhân dân Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, bình đẳng, dân chủ, văn minh và có điều kiện để phát triển trong một môi trường hòa bình, nơi nhân dân làm chủ vận mệnh và tài nguyên của mình,” thông điệp nhấn mạnh.

Thông qua thông điệp của mình, các đại biểu quốc tế đã bày tỏ lòng tôn trọng và ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam, những người đã chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm, đặc biệt đối với những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Các đại biểu bày tỏ tình đoàn kết, chia sẻ đối với các nạn nhân chiến tranh, đặc biệt các thế hệ đến nay vẫn phải gánh chịu hậu quả của chất độc da cam.

Thông điệp có đoạn: “Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức và chiếm đóng có quyền kháng cự và đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp nào của nước ngoài. Bảo vệ chính các giá trị và nguyên tắc mà chúng tôi từng bảo vệ trong thời gian chiến tranh Việt Nam , chúng tôi tuyên bố đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh cho một thế giới hòa bình và một xã hội công bằng.

Từ Việt Nam, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi bày tỏ niềm tin tưởng rằng tấm gương Việt Nam sẽ cổ vũ các dân tộc trên thế giới đến thắng lợi cuối cùng”./.

Hoàng Anh Tuấn (TTXVN)
vietnamplus.vn

Thắng lợi của Hiệp định Pari là bài học về sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Trong thời gian diễn ra Hội nghị Pari về Việt Nam (1968 – 1973), bà Nguyễn Thị Bình (ảnh) đại diện cho đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) tham gia đàm phán trên bàn Hội nghị. Bà cũng là người phụ nữ duy nhất ký tên trong bản Hiệp định Pari cách đây 40 năm với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau này, bà đảm nhận cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên báo Tin tức đã có cuộc gặp và phỏng vấn nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Hiệp định Pari 40 năm về trước. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

´Là nữ bộ trưởng ngoại giao duy nhất trong Hội nghị Pari, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Pari tham dự Hội nghị, tôi rất lo lắng, vì biết đây là nhiệm vụ rất quan trọng và rất khó khăn. Hơn nữa, tôi lại không phải là người được đào tạo bài bản ở trường ngoại giao, nên cũng khá lo lắng. Bởi tôi biết, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị là điều không đơn giản. Tuy nhiên, khi đó tôi nghĩ rằng, các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, thì chắc các đồng chí nghĩ tôi có đủ điều kiện và khả năng đảm nhận công việc này nên tôi đã tự tin lao vào công việc, và thực tế là tôi cũng đã rất cố gắng.

´Trước khi Hiệp định Pari được ký kết năm 1973, thì thời gian đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Pari bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) Mỹ và Việt Nam Cộng hòa với mục đích nhằm tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong suốt thời gian gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán, có rất nhiều lúc căng thẳng. Nhưng căng thẳng nhất là vào những tháng cuối năm 1972. Lúc đó, tình hình chiến trường cũng tạo cho ta những điều kiện thuận lợi so với đối phương. Mặt khác, lúc bấy giờ Tổng thống Mỹ Nixon cũng sắp bước vào cuộc tổng tuyển cử thứ 2, nên phía Mỹ cũng muốn tỏ ra cuộc đàm phán Pari đã đi đến kết thúc, điều mà nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Mỹ rất mong đợi, nên hai bên ta và Mỹ đã đi vào thương lượng thực chất (trước đó không phải thương lượng mà nói cho đúng là cuộc đấu tranh về chính trị, về lý lẽ trên bàn Hội nghị và trong dư luận quốc tế) để chấm dứt chiến tranh. Hai bên đã đi đến thỏa thuận về một dự thảo Hiệp định.

Tuy nhiên, phía Mỹ chưa phải là muốn chấm dứt chiến tranh thực sự, mà đó chỉ là ý đồ của Tổng thống Nixon, muốn cho mọi người thấy có thể chấm dứt chiến tranh để tranh thủ sự ủng hộ trong cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ, do đó hai bên đã đi đến thỏa thuận một bản Dự thảo cơ bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Bởi vậy, ngay khi Tổng thống Mỹ Nixon đạt được mục đích là thắng cử ngày 4/11/1972, Mỹ đã lật lọng, đặt ra vấn đề xem xét lại Dự thảo Hiệp định Pari, gây sức ép buộc ta sửa đổi một số điều không có lợi cho Mỹ trong Dự thảo Hiệp định. Đỉnh điểm của sự ép buộc đó là cuộc không kích 12 ngày đêm bằng B52 vào Hà Nội. Sau khi thất bại, buộc phải ngừng ném bom B52 xuống Hà Nội ngày 30/12/1972, Mỹ đã đặt vấn đế quay lại bàn ngoại giao để bàn về Hiệp định Pari. Tôi cho rằng đó là giai đoạn hết sức căng thẳng. Nếu chúng ta không thắng ở trận Điện Biên Phủ trên không, chắc chắn sẽ rất phức tạp. Nhưng Mỹ đã thất bại hoàn toàn trên bầu trời Hà Nội, do đó Mỹ buộc phải đi đến ký kết Hiệp định cơ bản như Dự thảo hai bên đã thỏa thuận cuối năm 1972.

´Xin bà cho biết, chúng ta đã đặt ra mục tiêu gì, đã đạt được gì từ Hiệp định Pari và đâu là nhân tố quyết định thành công trên bàn đàm phán?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Pari là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ 20 năm của quân và dân ta. Từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đến năm 1955 ta đã bắt đầu cuộc đấu tranh, nhưng đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang, đồng thời vừa kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của Hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài, một cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi về quân sự, đồng thời là thắng lợi về chính trị và cũng là thắng lợi về ngoại giao. Nếu nói đâu là kết quả của thắng lợi thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Pari.

´Theo bà, từ cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Pari có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Pari trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Pari. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ, cuộc đấu tranh ở Hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học quý báu, và những bài học đó vẫn có giá trị cho cả ngày nay và mai sau. Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp, bởi tuy là cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ, nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Bài học đầu tiên từ Hội nghị trước hết là bài học về độc lập tự chủ. Chúng ta giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, chúng ta phải xuất phát từ lợi ích quốc gia của mình, phải biết là lực lượng mình như thế nào, đối phương như thế nào để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của chúng ta, tuy nhiên, trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán hai yêu cầu: Yêu cầu thứ nhất là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng khi tình hình đến một mức nào đó, thì chúng ta tập trung vào một mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Vì chúng ta biết, khi Mỹ rút quân và chấm dứt sự can thiệp ở miền Nam Việt Nam, thì vấn đề miền Nam Việt Nam chúng ta sẽ có điều kiện giải quyết và giành được thắng lợi.

Một bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình, do đó về mặt chính trị, quân sự chúng ta đều hết sức cố gắng, nên chúng ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, chúng ta cũng nhận thấy, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, với một đối phương mạnh hơn chúng ta nhiều lần, thì chúng ta cũng phải biết trông vào sức mạnh đoàn kết quốc tế, và điều đó chúng ta đã làm được. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn góp sức thêm vào cuộc đấu tranh, vào sức mạnh dân tộc của chúng ta, do đó mà chúng ta đã đạt được thắng lợi.

´Là người đã tham gia và đóng góp nhiều công sức trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, bà có nhắn nhủ gì với thế hệ trẻ hôm nay?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Trước hết, các thế hệ trẻ ngày nay cần thấy được giá trị của độc lập, tự do mà cha ông ta đã giành được. Các bạn trẻ hãy ghi nhớ, để các bạn có cuộc sống như ngày hôm nay là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong suốt những năm tháng đấu tranh gian khổ. Đã có nhiều thế hệ cha, ông đã phải hy sinh, đổ xương máu trong mấy chục năm chiến tranh rất ác liệt để gìn giữ đất nước. Cũng chính từ những cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta mà thế giới đã biết đến, khâm phục và rất trọng thị đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta chưa phát triển được theo cách như chúng ta mong muốn nên cần phải cố gắng rất nhiều. Thế hệ trẻ cần biết suy nghĩ và vươn lên. Bây giờ chưa phải là lúc mình hưởng thụ, mà phải tiếp tục sự nghiệp này như Bác Hồ đã nói: Mình có độc lập, có hòa bình, nhưng đất nước chưa phát triển, nhân dân chưa hạnh phúc, thì độc lập đó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Nên bây giờ chúng ta phải tiếp tục một cuộc đấu tranh mới, cuộc đấu tranh này tuy không gian khổ, không chết chóc như trước, nhưng nó cũng đòi hỏi một sự phấn đấu, nỗ lực không phải chỉ của một số người, mà của cả nhân dân, cả dân tộc.

Xin cảm ơn nguyên Phó Chủ tịch nước vì cuộc trò chuyện này!

Phương Lan (thực hiện)
baotintuc.vn

Gặp gỡ nhân chứng Hiệp định Paris

Ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam tổ chức Hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Toàn cảnh hội thảo.

Bà Men Som Ol, Thượng nghị sĩ, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia, người đã từng tham gia lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại hội thảo.

Bà Nguyễn Thị Bình (bên trái), Trưởng Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, người đã đặt bút ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, gặp gỡ các chứng nhân lịch sử trong nước và quốc tế.

Bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu với “Nụ cười chiến thắng” trong tấm ảnh lịch sử thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phát biểu tại hội thảo.

Ông Andre Menras (tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết), hiện là Ủy viên Ủy ban toàn quốc Hội Hữu nghị Pháp – Việt, Chủ tịch Hội Hữu nghị vì sự phát triển và trao đổi giáo dục Pháp – Việt, người đã công khai lao lên đầu tượng đài 2 lính thủy đánh bộ trước trụ sở Quốc hội chính quyền Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ông Ramsey Clark, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) dưới thời Tổng thống L.B.Johnson, người đã lên tiếng phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều đóng góp trong các hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt (chồng là cố Thị trưởng Paris, ông Choisy le Roi, đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động đoàn kết hữu nghị với Việt Nam), giới thiệu bức ảnh tư liệu lịch sử của gia đình bà, trong ảnh là bà Nguyễn Thị Bình phát biểu trước hội nghị đàm phán 4 bên ở Paris; với mong muốn tặng lại bức ảnh này cho Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Thành phố.

Chùm ảnh: Thế Anh – TTXVN
baotintuc.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Nhân tố góp phần tạo nên thắng lợi

Họ là những nhân tố không thể thiếu góp phần tạo nên thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Bà Raymond Dien.

Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973 – 27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam diễn ra ngày 24/1 tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiều cô bác Việt kiều và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam tham dự mít tinh đã chia sẻ với phóng viên TTXVN những tình cảm đoàn kết, hữu nghị và kỷ niệm gắn bó với nhân dân Việt Nam.

Nhân dịp này, ông Pierre Laurent, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp (PCF), đã bảy tỏ sự biết ơn và sự cám ơn đối với những đảng viên có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, những người bạn Pháp luôn bên cạnh nhân dân Việt Nam như: Henri Martin, Raymond Dien, Madeleine Rifaud, Charles Fourniau, Raymon Aubarac…

Ông nói không chỉ rất tự hào về điều đó, mà càng tự hào hơn khi các cuộc đàm phán diễn ra tại Pari và các văn kiện lịch sử đã được ký tại đây, tạo tiền đề cho Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thống nhất đất nước.

Đánh giá về sự giúp đỡ và ủng hộ của thành viên PCF, nhân dân tiến bộ vì hòa bình trên toàn thế giới cũng như của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định hỗ trợ của họ cho các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam là “những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ quý báu” – là “chất kết dính” để bà con tiếp tục tăng cường đoàn kết, gắn bó hơn nữa, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển thịnh vượng.

Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.

Nhìn lại 40 năm qua, ông Jean Joel Lemarchand, Phó Thị trưởng thứ nhất Choisy-Le-Roi, cho biết ông không thể quên những tình cảm gắn bó ông với Việt Nam khi đó ông là thư ký đặc biệt của nghị sỹ, Thị trưởng thành phố Choisy-Le-Roi, ông Fernand Dupuy, lúc bấy giờ. Những cuộc tiếp đón và làm việc của Thị trưởng thành phố Fernand Dupuy với đoàn đại biểu miền Bắc – Việt Nam đến lưu trú trường của PCF, nơi ông cũng từng học trong vòng 4 tháng, luôn “trở về đầy ắp trong ông”.

Khi đó, ông là một sinh viên triết học, ông nhớ như in những cuộc biểu tình lớn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình của nhân dân Việt Nam diễn ra tại Choisy-Le-Roi và Pari, khi ông tham gia và hô lớn tên của bà Bình, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam sẽ chiến thắng”. Theo ông, đây là “ngôi trường của hòa bình, tình hữu nghị và sự thân quen”, nó thể hiện tình cảm của thành phố Choisy-Le-Roi đối với bạn bè Việt Nam.

Cũng như ông Jean Joel Lemarchand, bà Raymond Dien, tuy đang phải ngồi xe đẩy nhưng rất sôi nổi và hào hứng khi được hỏi về những tình cảm của mình dành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà là người nằm ngang đường ray ngăn cản các đoàn tàu chở vũ khí đạn dược sang Việt Nam và đã bị cảnh sát bắt giam. Ngày nay, bà vẫn tiếp tục chia sẻ, ủng hộ nạn nhân và giúp đỡ những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh do tác hại của chất độc da cam, những khó khăn của gia đình họ.

Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy-Le-Roi cho biết, cách đây 40 năm, khi mới 18 tuổi bà đã tham gia biểu tình ủng hộ Việt Nam. Sau đó, khi là sinh viên bà vẫn biểu tình để ủng hộ, bảo vệ Việt Nam, bảo vệ hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Thật cảm động khi bà kể lại, bà không thể nào quên khi cô con gái đầu lòng ra đời đúng vào tháng 1/1972 và bà lấy tên “Lan” (tên Việt Nam) đặt cho con, dạy những từ “Hô Chí Minh …chiến thắng”….! (Ho Chi Minh Vaincra) khi con bắt đầu bi bô tập nói.

Bà chia sẻ : “Tôi thực sự cảm động vì cuộc kháng chiến vì hòa bình của các bạn”. Theo bà, Việt Nam đối với bà đó là “Việt Nam của thế hệ trẻ” – “Việt Nam của sự giác ngộ về chính trị”. Với bà đây thật sự là một tình cảm mãnh liệt và bà luôn “giơ cao ngọn cờ tình hữu nghị Pháp – Việt”.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, bác Lâm Bá Châu, người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều thực hiện các nhiệm vụ của đoàn giao cách đây 40 năm cho biết thế hệ của bác ai cũng nhớ kỷ niệm sâu sắc nhất là khi các bạn sinh viên quốc tế hết lòng ủng hộ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Mỹ.

Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, các bạn sinh viên Mỹ không bao giờ ủng hộ cho phái đoàn Mỹ hay chính quyền Sài Gòn. Những sinh viên Mỹ, Pháp hay sinh viên quốc tế khác họ đều phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.

Bác Đào Thị Hoàng Anh, 76 tuổi, cho biết, hồi đó bà được giao việc lo hậu cần, trang trí nhà, tham gia may hơn trăm chiếc màn gió (rideau) cho đoàn đại biểu Việt Nam và lo chỉnh trang trang phục cho bà Nguyễn Thị Bình, bà Dung… ở Verrière-le-Buisson khi đến tham gia đàm phán.

Trước khi đi dự hội nghị, ông Xuân Thủy nói rằng: “Cô Hoàng Anh cố gắng lo trang phục thật đẹp cho các chị, vì sẽ có hàng triệu cặp mắt chăm chú dõi cho nên phải mặc cho phù hợp”.

Bà Hoàng Anh cho biết từ những việc nhỏ nhất, nếu có thể, bà đều sẵn sàng và cố gắng giúp cho đoàn đàm phán.

Làm sao có thể kể hết sự ủng hộ và giúp đỡ của bà con cộng đồng người Việt tại Pháp khi đó. Có những sự ủng hộ công khai, có những sự giúp đỡ thầm lặng, có những điều chỉ có thể cảm nhận, nhưng tất cả đều là những đóng góp vô giá tạo thành quả hôm nay.

Nhóm phóng viên TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

Hiệp định Paris – Dấu son của ngành ngoại giao Việt Nam

Đúng 40 năm trước, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là kết quả thắng lợi hết sức quan trọng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Bốn thập kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán vẫn luôn in đậm trong ký ức những nhân chứng lịch sử, đồng thời đây cũng là một dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng.

Thắng lợi ngoại giao to lớn

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13-5-1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhớ lại những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chia sẻ, đó là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Cuộc đàm phán thể hiện sự đối đầu toàn diện về chiến lược và chiến thuật, bản lĩnh và trí tuệ, đạo lý và pháp lý giữa Việt Nam và Mỹ. Sự kết hợp khôn khéo chiến lược “vừa đánh vừa đàm” của Việt Nam buộc Mỹ phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động ném bom đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên.

Ông Huỳnh bồi hồi kể lại, mãi đến ngày 27-10-1968, hai bên mới thỏa thuận được tất cả các vấn đề và đến 31-10-1968, Johnson mới ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc. Lúc đó Hà Nội chỉ thị sang cuộc họp bốn bên sẽ không tiến hành trước ngày 6-11-1968.

Do đó, hai đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) chuẩn bị hai bản tuyên bố ngắn.

Theo thông lệ, vào phiên họp, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ưu tiên phát biểu trước. Nhưng lần này, bắt đầu vào phiên họp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đứng lên tuyên bố bỏ phiên họp.

Ngay sau đó, không một phút chần chừ, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là bà Nguyễn Thị Bình cũng đứng lên đồng tình ủng hộ ý kiến hủy bỏ phiên họp. Hai đoàn ra về nhanh chóng, điều đó làm cho đoàn Mỹ hoàn toàn bất ngờ không kịp phản ứng.

Đây có lẽ cuộc họp ngoại giao ngắn nhất trong lịch sử, ông Huỳnh cho biết.

Ngày đó, chỉ là một cán bộ bình thường tham gia thành viên của đoàn đàm phán nhưng mỗi khi nhớ lại, ông Nguyễn Khắc Huỳnh vẫn cảm thấy tự hào đã được đóng góp công sức cho thời khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi ngoại giao sáng chói, mở ra một chương mới cho nền ngoại giao Việt Nam và cả vận mệnh đất nước.

Qua đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam tiếp thu thêm những ý tưởng mới, hiểu thêm thế giới và các quan hệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác ngoại giao sau này.

Bằng chất giọng trầm ấm, tuy hơi chậm do tuổi tác nhưng vẫn toát lên khí chất của một cán bộ ngoại giao kỳ cựu, như đang sống lại những thời khắc lịch sử ấy, ông bộc bạch: “Đến ngày 20-10-1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31-10-1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tôi và các thành viên trong đoàn đều không thể nào ngủ được vì vui sướng, bởi điều mình chờ đợi rất lâu, nay đã đến. Lúc đó, chỉ muốn báo tin ngay về cho người thân để thốt lên: Việt Nam sắp hòa bình rồi”.

“Tù binh” trong vấn đề tù binh tại đàm phán Paris

Trong văn bản Hiệp định Paris, vấn đề tù binh, nhất là tù binh chính trị trở thành một trong các vấn đề đấu tranh gay gắt nhất. Các quy định chính của Hiệp định Paris năm 1973 đã đáp ứng đúng những yêu cầu cơ bản nhất của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Việt Nam và rút hết quân đội về nước, song song với việc Việt Nam thả hết tù binh Mỹ.

Với tư cách là người được giao nhiệm vụ phụ trách vấn đề quản lý tù binh Mỹ, ông Trần Tuấn Anh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể lại: “Khi Hiệp định Paris diễn ra, tôi không phải là người đầu tiên đi theo đoàn mà ở lại nhận nhiệm vụ phụ trách vấn đề tù binh ở Hà Nội. Tháng 9-1969, tôi mới sang Paris để nhập vào đoàn đàm phán theo dõi tình hình tù binh.

Sau thời gian 9 tháng, đoàn Việt Nam nhận định hội nghị còn có thể kéo dài, ít chuyển biến, thêm nữa vấn đề tài chính của đoàn lúc này có khó khăn nên tôi đã trở về nước. Đến tháng 11-1972 tôi trở lại Paris và trực tiếp tham gia vào vấn đề đấu tranh trao trả tù binh”.

40 năm đã qua đi, nhưng ký ức xưa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm của những nhân chứng lịch sử như ông Trần Tuấn Anh. Những lý luận đấu tranh cứng rắn, chắc chắn và quyết liệt, chặt chẽ của Việt Nam về vấn đề tù binh trở thành một trong những giải pháp buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.

Chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ của Việt Nam đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 5-1969, khi chính quyền Nixon khuấy lên rất mạnh vấn đề này. Những hoạt động chủ yếu của chính quyền Nixon dựa vào xuyên tạc và vu cáo.

Nhưng thời gian đầu, họ đã lợi dụng hệ thống thông tin rộng lớn và hiện đại, nhất là vào sự ít hiểu biết về Việt Nam của nhân dân và dư luận Mỹ và đánh lừa được khá nhiều người. Do đó, cuộc đấu tranh của Việt Nam về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt.

Mục tiêu đấu tranh của Việt Nam là làm thất bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, đề cao chính sách nhân đạo của Việt Nam đối với tù binh Mỹ, làm nổi bật tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Điều đó đã làm cho những luận điệu xuyên tạc của Nixon ngày càng mất tác dụng, đồng thời tạo thuận lợi cho lĩnh vực đấu tranh của Việt Nam trong vấn đề tù binh. Chính vì vậy, ở thời điểm đó, các hãng thông tin của Mỹ và dư luận báo chí nhận xét: “Chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực, trơ trụi như bây giờ”, “chính quyền này tự đào hố chôn mình”, “Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh”… ông Trần Tuấn Anh kể.

Khi Hiệp định Paris 1973 bắt đầu có hiệu lực, Việt Nam trao trả tất cả tù binh Mỹ bị bắt vào đúng các thời điểm mà các bên thỏa thuận. Điều đó đã trở thành sức mạnh, tạo sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam, nhất là chống lại âm mưu của chính quyền Sài Gòn gây ra những khó khăn, trục trặc để không trao trả hết tù binh của Việt Nam.

Ngày 29-3-1973, diễn ra đợt cuối cùng Việt Nam trao trả tù binh cho Mỹ, đồng thời cùng diễn ra đợt cuối cùng quân đội Mỹ rút hết khỏi miền Nam, đánh dấu việc hoàn thành điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Paris.

Nhờ khéo vận dụng nhiều chính sách và sách lược phù hợp với tình thế ta-địch, với tình hình và luật pháp quốc tế nên Việt Nam đã có những thành công lớn trong việc dùng vấn đề tù binh, trước hết là vấn đề phi công Mỹ bị bắt, trong đấu tranh chính trị và đàm phán với Mỹ, góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo sức ép trong dư luận và chính giới Mỹ, tạo thế mạnh khi đàm phán kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh và gắn thời hạn rút hết quân Mỹ với thời hạn thả hết tù binh.

Vấn đề tù binh chỉ là một vấn đề cụ thể, một bộ phận của giải pháp. Tuy nhiên đấu tranh thắng lợi trên vấn đề này cũng thể hiện trí tuệ và nghệ thuật đàm phán của Việt Nam , ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Trận chiến phối hợp giữa quân sự và ngoại giao

Những ngày này, thành công của Hiệp định Paris 40 năm về trước, một lần nữa lại bừng lên, vẹn nguyên trong ký ức của nguyên Đại sứ, nguyên Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Viết Tân.

Ông nhớ lại: “Vào khoảng đầu tháng 12-1969, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Ngoại giao gọi tôi đến phòng làm việc để giao nhiệm vụ mới: Thư ký phái đoàn Chính phủ (phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tôi nghĩ đây là niềm vinh dự lớn nhưng là một nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề. Sau đó ít ngày, tôi theo đoàn cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris.

Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên đầy ấn tượng, mọi việc đều mới lạ và bỡ ngỡ. Tôi đã nỗ lực cao, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ ngoại giao đi trước nên sớm thích nghi với công việc.

Tôi được bố trí vào tổ ngoại giao do đồng chí Phan Hiền, Ủy viên Phái đoàn phụ trách (sau là Bộ trưởng Bộ Tư pháp) với nhiệm vụ hàng ngày là theo dõi và tập hợp các phát biểu của những nhân vật chính quyền, Quốc hội Mỹ cả hai phái “diều hâu” và “bồ câu” cùng những vị đứng đầu các nước thuộc phe Mỹ liên quan đến giải pháp cuộc chiến tranh Việt Nam. Những tư liệu này để cung cấp cho nghiên cứu giải pháp đàm phán với Mỹ”…

Thời gian làm Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, có một sự kiện ấn tượng mà ông Tân nhớ như in: “Đó là đầu năm 1971, Mỹ Ngụy mở chiến dịch lấy tên Lam Sơn 719 tại Đường 9 Nam Lào nhằm đánh chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Quân Việt Nam đánh trả quyết liệt, giành thắng lợi lớn.

Lúc này tại Paris, Trưởng phái đoàn Việt Nam nhận định địch thua nặng ở chiến trường, tại phiên họp bốn bên ngày hôm sau sẽ có phản ứng, có thể phía Mỹ sẽ chuyển văn bản, xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam và chuyển qua đường thư ký. Trưởng Đoàn Việt Nam chủ trương không nhận văn bản của phía Mỹ.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, vào hội nghị, trước lúc Trưởng đoàn Mỹ phát biểu, Thư ký Mỹ David Angel ngồi đối diện đẩy văn bản sang phía tôi. Như một phản ứng tự nhiên, tôi lập tức đẩy trả lại. Việc “đẩy-trả” diễn ra 2-3 lần. Nhận thấy cách đó không xong, David Angel đã phát biểu phê phán thư ký đoàn Việt Nam không nhận văn bản.

Sự việc trên cho thấy phía Việt Nam đã phán đoán rất đúng âm mưu của đối phương. Điều đó cũng thể hiện cách xử lý linh hoạt nhưng kiên quyết của phái đoàn Việt Nam trong đấu tranh giành từng chút thắng lợi, để đạt được thắng lợi cuối cùng trên bàn đàm phán. Ông Trần Viết Tân tâm đắc: “Đây là trận chiến phối hợp đẹp mắt giữa quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và bàn hội nghị!”.

TTXVN
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 2: Mỹ lật lọng và hành động của chúng ta

Nhận định chính xác

QĐND – Tháng 2-1971, sau khi đánh giá những thắng lợi của cả hai miền đã đạt được, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 khóa III đã phân tích tình hình và dự báo âm mưu, thủ đoạn sắp tới của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam-Bắc: “Trên chiến trường miền Nam, chúng sẽ ráo riết “bình định” giành giật quyết liệt với nhân dân ta và phá hoại các vùng giải phóng; đồng thời, chúng sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới, tìm cách liều lĩnh mở những cuộc phản công cục bộ, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam”. Hội nghị khẳng định: “Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này. Phải động viên sự cố gắng cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền nước ta, ra sức thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Năm 1972, cả Việt Nam và Mỹ đều nhận định là năm quyết định cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đàm phán dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, hai bên vẫn chưa thực sự đi vào đàm phán, vẫn nỗ lực trên chiến trường và thăm dò nhau trên bàn hội nghị. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 đến 12-10-1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong đó, phía Việt Nam đưa ra Văn bản Dự thảo hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay hiệp định đó. Hai bên thỏa thuận ngày 31-10-1972, sẽ ký hiệp định chính thức tại Pa-ri. Hiệp định Pa-ri đã có thể được ký kết theo đúng lịch trình nếu không có sự lật lọng từ phía Mỹ. Ngày 22 và 23-10-1972, Mỹ đòi hoãn ngày ký để thảo luận thêm.

Toàn cảnh Lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 27-1-1973. Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi Mỹ lật lọng, tráo trở, trì hoãn việc ký hiệp định, đòi Việt Nam nhân nhượng thêm, ta quyết định công bố dự thảo hiệp định đã thỏa thuận giữa hai bên và tuyên bố không gặp lại trước ngày tuyển cử như Mỹ đề nghị. Đảng ta nhận định: Mỹ muốn tiếp tục kéo dài chiến tranh trong một thời gian nữa để giành thắng lợi về quân sự, nhằm kết thúc chiến tranh trên thế mạnh.

Trước những diễn biến mới của tình hình, Quân ủy Trung ương nhận định: Mỹ sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hóa trở vào, đồng thời chúng có thể sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại.

Đúng như dự kiến, sau ngày 23-10-1972, đặc biệt là sau khi trúng cử tổng thống (8-11-1972), Tổng thống Mỹ Ních-xơn ráo riết chuẩn bị bước phiêu lưu quân sự mới. Mỹ trở giọng đe dọa, phá ngang làm cho cuộc đàm phán tại Hội nghị Pa-ri bị gián đoạn. Đồng thời, Mỹ tập trung lực lượng không quân ở mức cao nhất để đánh phá ngăn chặn các tuyến giao thông từ nam vĩ tuyến 20 trở vào, trọng điểm đánh phá là các tuyến vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam.

Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc từ ngày 18 đến 30 tháng 12-1972. Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng rằng, với sức mạnh của không lực Hoa Kỳ, Mỹ sẽ đạt được mục đích. Nhà sử học người Mỹ Giơ-lin-gơ-rin-út tiết lộ: “Tổng thống Ních-xơn, Cố vấn Kít-xinh-giơ và 1.700 nhân viên đội bay B-52 thực hiện cú đấm chiến lược này đều có niềm tin mãnh liệt ban đầu về kết quả chiến đấu. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như thế, Mỹ cho rằng, hệ thống ra-đa trinh sát phòng không và tên lửa SAM-2 của Bắc Việt Nam cũng không thể nào “với tới” được.

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và thắng lợi ở Pa-ri

Nhưng với ý chí và trí tuệ của con người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, để giành thắng lợi về quân sự và chính trị, quân dân miền Bắc đã kịp thời giáng trả đế quốc Mỹ những đòn đích đáng. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 được ví là trận “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm chiến đấu, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của đế quốc Mỹ, bắn cháy 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay ném bom chiến lược B-52, 5 máy bay F.111, nhiều B-52 bị bắn rơi ngay tại thủ đô Hà Nội, hàng chục phi công bị bắt sống, trong đó có nhiều phi công lái B-52.

Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam và thất bại trong cuộc tập kích đường không chiến lược vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc Việt Nam, ý chí đàm phán trên thế mạnh của Nhà Trắng đã bị đè bẹp. Thất bại nặng nề về quân sự và chính trị trên cả hai chiến trường buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngừng ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, kể từ ngày 30-12-1972. Ngày 6-1-1973, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chỉ thị cho Cố vấn đặc biệt Kít-xinh-giơ cần đạt được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện khắt khe và nhấn mạnh là sẵn sàng chấp nhận văn bản đã thỏa thuận tháng 10-1972, buộc phải chấp nhận kết quả đàm phán ngoài mong muốn. Ngày 8-1-1973, Mỹ phải tiếp tục nối lại cuộc đàm phán trên thế yếu tại Hội nghị Pa-ri.

Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược B-52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pa-ri. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn của Chính phủ VNDCCH tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận.

Ngày 23-1-1973, Hiệp định và các nghị định thư được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Kít-xinh-giơ ký tắt. Thất bại nặng nề về quân sự của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc-những cố gắng quân sự cuối cùng – buộc Mỹ phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 27-1-1973.

Trong thời gian gần 5 năm, Hiệp định Pa-ri đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trong các phiên họp chung công khai cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía Việt Nam không bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi rút hết quân Mỹ và quân 5 nước đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ, trước sau vẫn nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân đội miền Bắc có tại miền Nam) “cùng rút quân”.

Với thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, tạo tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975. Hiệp định Pa-ri 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi về quân sự và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước. Đây là thắng lợi về quân sự và chính trị có ý nghĩa lịch sử, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Là đỉnh cao và là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, cuộc đấu trí hết sức gay go, quyết liệt nhưng cũng rất hào hùng của nhân dân ta, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Bác Hồ. Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, phát huy cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.

———

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

QĐND – Thắng lợi của Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri 40 năm về trước có ý nghĩa về quân sự, chính trị và đối ngoại to lớn. Thắng lợi lịch sử này là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thất bại của quân đội Mỹ và quân đội ngụy Sài Gòn; tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc của ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Nêu cao chính nghĩa

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền Nam, ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam, mặt khác, tiến hành leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định rằng, Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền Bắc, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch. Trên thực tế, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta. Về mặt chính trị, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của Mỹ. Ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc.

Quân giải phóng trên đường vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong Xuân Mậu Thân 1968 cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Ðêm ngày 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận thất bại trong Xuân Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Ông ta còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử Tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Trước tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ bắt đầu tại Pa-ri. Gần sáu tháng sau đó, hai bên đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước VNDCCH từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Pa-ri một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

“Vừa đánh, vừa đàm”

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pa-ri về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động; giữa hòa bình với chiến tranh. Ðó là cuộc đối thoại giữa hai lực lượng đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị-tinh thần, chính nghĩa. Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Pa-ri đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.

Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Có nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường, cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Phía ta, coi Hội nghị Pa-ri không chỉ là các cuộc đàm phán ngoại giao thông thường mà còn là một mặt trận. Mặt trận ấy không chỉ có ý nghĩa tuyên truyền cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam, mà còn đem lại sự xác nhận những kết quả của các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Theo đánh giá của phía VNDCCH thì: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Cam-pu-chia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị-Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ – ngụy bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22-10-1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định thực hiện chủ trương có ý nghĩa chiến lược vượt ra khỏi khuôn khổ của “Việt Nam hóa chiến tranh”, nghĩa là “Mỹ hóa” trở lại một phần cuộc chiến tranh. Ngày 6-4-1972, Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và trở lại đánh phá miền Bắc.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Mỹ thực hiện leo thang nhanh, đánh phá với cường độ cao trên cả hai miền Nam, Bắc và coi đó là một biện pháp quyết định. Theo đó, từ đầu tháng 4 đến tháng 5-1972, Mỹ đã huy động tới hơn 40% lực lượng không quân chiến thuật (1300 chiếc), 45% máy bay ném bom chiến lược B-52 (150 chiếc), 60 tàu chiến, trong đó có 5 tàu sân bay và 5 tàu tuần dương. Chỉ tính riêng lực lượng không quân Mỹ đánh Việt Nam gần bằng lực lượng không quân của ba nước mạnh nhất Tây Âu lúc đó là Anh, Pháp và Tây Đức cộng lại. Với quyết định quay trở lại đánh phá miền Bắc, Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng sẽ bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam Việt Nam, làm cho miền Bắc suy yếu, buộc phải thương lượng với Mỹ trên thế thua.

Đánh giá đúng tình hình, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ đạo tập trung đập tan những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri. Đảng ta nhận định: Mỹ trắng trợn gây trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn, nhằm hạn chế thắng lợi của quân dân miền Nam, hòng cứu vãn tình thế suy sụp của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không xấu hơn nữa đối với chúng. Từ kinh nghiệm của cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Đảng chỉ đạo miền Bắc nhanh chóng chuyển từ thời bình sang thời chiến. Lực lượng phòng không kiên quyết giáng trả không quân Mỹ những đòn đích đáng.

———-

(còn nữa)

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn