Thư viện

Kỷ niệm trọng thể 40 năm ngày ký hiệp định Paris

Chiều 22-1, tại Mátxcơva, Hội Hữu nghị Nga-Việt phối hợp cùng Đại sứ quán Việt Nam tổ chức kỷ niệm lần thứ 40 ngày ký Hiệp định Paris (27-01-1973/27-01-2003) và lần thứ 70 ngày Chiến thắng Stalingrad trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô (02-02-1943/02-02-2013).

Hai sự kiện dù xảy ra ở hai thời điểm lịch sử, hai bối cảnh khác nhau, nhưng lại có sự liên quan chặt chẽ, là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của hai dân tộc.

Tham dự lễ kỷ niệm về phía Việt Nam có Đại sứ Phạm Xuân Sơn cùng đại diện các phòng, ban của Đại sứ quán.

Về phía Nga có các ông Vladimir Buyanov, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt, ông Anatoly Pozdeev, Thiếu tướng, cựu chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam; các cựu chiến binh Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại; đại điện Hội Cựu chiến binh thành phố Mátxcơva; con em một số anh hùng Xô Viết đã ngã xuống trong trận Stalingrad và đông đảo sinh viên nghiên cứu chuyên ngành lịch sử của Học viện Kinh tế và pháp luật.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Phạm Xuân Sơn nhấn mạnh chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong trận Stalingrad đã góp phần cổ vũ tinh thần to lớn dẫn đến thành công của cuộc cách mạng tháng 8/1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau này, với sự ủng hộ về ngoại giao, sự trợ giúp thiết thực bằng vật chất của nhân dân Liên Xô, Việt Nam đã đạt được thắng lợi trong quá trình đấu trí cam go, buộc Mỹ phải đặt bút ký Hiệp định Pari lịch sử năm 1973 và sau đó quân và dân ta giành chiến thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thống nhất hoàn toàn đất nước vào năm 1975.

Đại sứ cho rằng việc tổ chức kỷ niệm thường niên hai sự kiện lịch sử này có giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ trẻ hai nước, giúp ôn lại quá khứ hào hùng của cha ông và tiếp thêm sức mạnh để các thế hệ mai sau vững tin trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Phát biểu bày tỏ cảm xúc, Thiếu tướng Pozdeev cho biết, những người đương thời với ông vẫn tự hào gọi Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không là Stalingrad của Việt Nam bởi quy mô cuộc chiến, lòng yêu nước và ý chí quyết tâm của hai dân tộc đã cùng tạo nên bước ngoặt lịch sử.

Đại diện cho các nữ cựu chiến binh từng tham gia trận đánh Stalingrad, bà Marina Rokhlina chia sẻ những ký ức khủng khiếp về thời bom đạn; mong muốn các bạn trẻ hôm nay không chỉ nghe, không chỉ biết mà còn phải ghi nhớ để nhắc nhở con cháu rằng đã có một cuộc chiến tranh tàn khốc như thế trong lịch sử dân tộc. Nhiều đại diện là con em các anh hùng Liên Xô đã ngã xuống trong trận Stalingrad bày tỏ ký ức họ còn lưu giữ về những người ông, người cha đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc.
Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm cùng nhau xem lại những trích đoạn phim tư liệu phản ánh cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô và cuộc chiến giành độc lập dân tộc của quân và dân Việt Nam.

Theo Vietnam+
qdnd.vn

Triển lãm “Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”

QĐND Online – 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách trưng bày tại triển lãm “Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”, do Bộ VH,TT&DL phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức khai mạc vào sáng 23-1, tại Hà Nội. Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đến dự triển lãm.

Tại triển lãm, công chúng được chiêm ngưỡng nhiều tư liệu, hiện vật quý, tái hiện quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri, trong đó có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như: Bản gốc Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định; cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam…

Qua cuộc triển lãm, người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán, sự kết hợp tài tình giữa 3 mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó trưởng Ban Thường trực Ban tổ chức cấp Nhà nước về các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga khẳng định: “40 năm đã trôi qua. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã sinh ra và lớn lên trong hòa bình, sau ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết. Trong các nhân chứng lịch sử của sự kiện này có những người đã đi xa. Nhưng ý nghĩa to lớn và những bài học lịch sử của đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri mãi mãi còn nguyên giá trị. Tôn vinh thắng lợi lịch sử, trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông để noi gương, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Cuộc triển lãm này là một trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”.

Triển lãm sẽ kết thúc vào ngày 28-1.

Dưới đây là một số hình ảnh tại triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

Cắt băng khai mạc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại triển lãm

Cặp đựng tài liệu ký Hiệp định Pa-ri

Cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam

Hai cây bút và một số hiện vật đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định

Đại diện Việt Nam, Mỹ cùng với tổ quốc tế giám sát, kiểm soát và Ban liên hợp quân sự 4 bên trao đổi thể thức trao trả tù binh (1973)

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xuân Thủy và đoàn Mỹ tại cuộc họp riêng ngày 8-9-1968 ở Pa-ri

Kiều bào phất cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tới dự phiên họp toàn thể lần thứ 2 của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam (25-1-1969)

Quang cảnh buổi trao trả 116 tù binh là nhân viên quân sự Mỹ và phi công Mỹ đợt đầu tiên (12-2-1973)

Tin, ảnh: KHÁNH HUYỀN
qdnd.vn

“Chiếc búa” của ông Sáu Búa

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

QĐND – Ông Sáu Búa là tên gọi thân mật của đồng chí Lê Đức Thọ ở miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, đồng chí là Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Xuân Thủy và của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Lê Đức Thọ được nhìn nhận như một nhà lãnh đạo chính trị quyền uy, một nhà đàm phán giàu bản lĩnh, đầy tự tin, lịch thiệp, cởi mở, biết tiến thoái, cương nhu đúng lúc.

“Chiếc búa” dùng trong bài này là để chỉ những đòn tiến công của ông nhằm vào đối phương. Tiến công vào mọi âm mưu và thủ đoạn của đối phương tại bàn đàm phán cũng như trên chiến trường. Tiến công khi phân tích đến tận gốc rễ mọi vấn đề đặt ra trong thương lượng.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ gặp Cố vấn Kít-xinh-giơ ngày 13-1-1973 chuẩn bị cho ký kết Hiệp định Pa-ri. Ảnh: Tư liệu

Xin dẫn ra sau đây ba lần Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ giơ “chiếc búa” đó trong đàm phán riêng ở giai đoạn cuối.

Lần thứ nhất: “Không có cách thần kỳ nào ngoài đàm phán nghiêm chỉnh”

Mùa hè năm 1971, tình hình trên chiến trường và tại bàn đàm phán Pa-ri đều rất căng thẳng, giằng co quyết liệt. Chính quyền Ních-xơn còn ráo riết vận động ngoại giao, tranh thủ hòa hoãn với Liên Xô và Trung Quốc hòng gây thêm sức ép đối với ta.

Ngày 31-5, tại cuộc gặp riêng, Cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ đưa ra đề nghị Bảy điểm. Ngày 26-6, VNDCCH đưa ra lập trường Chín điểm. Ngày 1-7, tại Hội nghị bốn bên, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra Tuyên bố Bảy điểm.

Trong khi đó, để thực hiện lời Thủ tướng Chu Ân Lai mời Tổng thống Ních-xơn thăm Bắc Kinh, ngày 9-7, Kít-xinh-giơ đi Trung Quốc nói là chuẩn bị cho chuyến thăm này, thật ra là còn bàn nhiều việc khác. Và ngày 15-7, tại Oa-sinh-tơn, Nich xơn tuyên bố sẽ đi thăm Trung Quốc vào đầu năm 1972.

Trong bối cảnh tình hình nói trên, đã diễn ra cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn Xuân Thủy với Kít-xinh-giơ ngày 26-7. Cuộc họp tập trung vào việc xem xét lập trường của hai bên trong Bảy điểm của Mỹ và Chín điểm của VNDCCH.

Kít-xinh-giơ cho rằng Bảy điểm là cái khung cho một giải pháp. Hai đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy nhận xét: Có hai điểm mấu chốt là thời hạn rút quân gắn liền với vấn đề tù binh và chính quyền Sài Gòn không có Thiệu (như Chín điểm của VNDCCH đã nêu) thì Mỹ không đả động gì tới. Vậy đó là một cái khung không có xương sống.

Đồng chí Lê Đức Thọ cũng phê phán mạnh cách thương lượng của Mỹ, luôn tách vấn đề quân sự với vấn đề chính trị, lẩn tránh vấn đề chính trị, chỉ chú ý vấn đề quân sự, mà giải quyết vấn đề quân sự thì ý định cũng là rút quân từ từ để giải quyết bằng thương lượng hay không, vẫn duy trì được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Cố vấn Lê Đức Thọ còn vạch ra rằng:

– Trong mấy năm nay, các ông chạy vạy chỗ này chỗ kia để tìm ra lối thoát nhưng không biết các ông có rút ra được kinh nghiệm gì không? Thực ra các ông uổng công vô ích, làm phức tạp thêm vấn đề cho các ông.

Cố vấn Lê Đức Thọ còn nhấn thêm:

– “Không có cách thần kỳ nào để giải quyết vấn đề Việt Nam ngoài cách đàm phán nghiêm chỉnh với chúng tôi ở Hội nghị Pa-ri trên cơ sở những đề nghị của chúng tôi và những đề nghị của các ông. Trong một ván cờ, quyết định thắng lợi là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết các vấn đề của chúng tôi”.

Kít-xinh-giơ đã phản bác nhiều điểm về cách thức và nội dung thương lượng. Nhưng để trả lời ám chỉ của Lê Đức Thọ về việc đi Trung Quốc của ông, Kít-xinh-giơ nói gần như thanh minh:

– Chúng tôi biết muốn giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng thương lượng thì phải giải quyết ở Pa-ri. Chúng tôi tôn trọng và khâm phục tinh thần độc lập mà các ngài luôn tỏ ra. Chúng tôi không muốn tìm một giải pháp ở nơi nào khác ngoài nơi đây.

Lần thứ hai: “Chưa bao giờ sự lừa dối lại trắng trợn như lần này”

Mùa thu năm 1972, đàm phán có bước tiến quan trọng.

Ngày 20-10, hai bên đã đi đến thỏa thuận Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Chính ngày đó, Tổng thống Ních-xơn đã gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khẳng định Hiệp định “xem như đã hoàn thành”. Kít-xinh-giơ còn nói: “Hòa bình đã ở trong tầm tay”.

Thế nhưng, sau đó, do sự phản ứng dữ dội của Thiệu, cũng do những toan tính từ trước của Ních-xơn, Mỹ đã lật lọng, đòi sửa đổi những điều cơ bản nhất của Hiệp định.

Một tháng sau, ngày 20-11, đàm phán riêng nối lại. Cố vấn Lê Đức Thọ đã mạnh mẽ tố cáo sự lật lọng của Mỹ: “ Chúng tôi đã bị người Nhật, người Pháp, người Mỹ lừa dối, nhưng chưa bao giờ sự lừa dối lại trắng trợn như lần này.”

Về sự cần thiết phải có sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, ông nhắc lại lời nói đó của Kít-xinh-giơ trước đây và hỏi: “Ông nói với chúng tôi như vậy rồi ông lật ngược đi thì ông nghĩ chúng tôi hiểu ông là người như thế nào?”

Trong đợt đàm phán riêng lần này, phía Mỹ đưa ra 69 điều sửa đổi, trong đó có rất nhiều sửa đổi lớn. Đáp lại ta cũng đưa ra những đòi hỏi sửa đổi mạnh hơn trước. Đàm phán càng lúc càng căng thẳng mà không giải quyết được gì. Kít-xinh-giơ bị xem là con người quá đáng. Đến nỗi sau này, trong hồi ký của mình, Ních-xơn cũng phải nói: “Kít-xinh-giơ đã không phân biệt được giữa những điều chúng ta cần thay đổi và những điều chúng ta thay mặt người Nam Việt Nam đưa ra”

Thấy rõ quan điểm hai bên rất xa nhau, tại phiên họp ngày 4-12-1972, Cố vấn Lê Đức Thọ tuyên bố: “Nếu các ông muốn giữ Hiệp định như cũ thì chúng tôi cũng sẵn sàng giữ nguyên như cũ, không thay đổi một chữ. Nếu ông không sửa một chữ nào thì chúng tôi cũng không sửa một chữ nào”

Ngày 6-12, Cố vấn Lê Đức Thọ nhắc lại đề nghị hai bên rút hết mọi đề nghị sửa đổi và trở lại Hiệp định đã thỏa thuận: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không chỉ một bên sửa một bên không sửa. Cứ như thế, sửa đi sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào, chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ Hiệp định”.

Đề nghị đó của Cố vấn Lê Đức Thọ đã làm cho không khí dịu hơn và nhiều vấn đề tồn tại được lần lượt giải quyết.

Đến ngày 12, chỉ còn hai vấn đề: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự.

Ngày 13, Cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ đề nghị ngừng các cuộc họp chính thức và hai bên về xin chỉ thị của chính phủ mình.

Lần thứ ba: “Cuộc tập kích chiến lược làm hoen ố danh dự nước Mỹ”

Đùng một cái, đêm 18-12-1972, Ních-xơn ra lệnh mở đợt tập kích chiến lược bằng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Thủ đoạn quen thuộc của Mỹ vẫn là dùng sức mạnh quân sự để ép đối phương. Nhưng Hà Nội đã đáp trả bằng một trận “Điện Biên Phủ trên không” vô cùng oanh liệt.

Ngày 8-1-1973, hai bên họp lại. Lê Đức Thọ “nổ phát súng” đầu tiên:

– “Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom lại miền Bắc Việt Nam giữa lúc tôi về đến nhà. Việc các ông đón chúng tôi khi về đến Hà Nội có thể nói là rất “lịch sự”. Tôi có thể nói rằng, hành động của các ông rất trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố!”

Cố vấn Lê Đức Thọ đòi Mỹ phải chấm dứt thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh.

Kít-xinh-giơ thanh minh rằng chính cách đàm phán của Việt Nam trong tháng 12 làm cho Oa-sinh-tơn cho là Việt Nam muốn kéo dài đàm phán, không muốn giải quyết.

Cố vấn Lê Đức Thọ tiếp tục phê phán Mỹ gay gắt. Kít-xinh-giơ nói: Tôi có nghe những tính từ, tôi đề nghị không dùng những tính từ đó!

Đồng chí Lê Đức Thọ: Tôi dùng những tính từ đó cũng là kiềm chế lắm rồi. Chứ dư luận thế giới, các nhà báo và chính các nhân vật ở Mỹ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều!

Kít-xinh-giơ ngồi im.

Đấy, hiệp đấu cuối cùng tại bàn đàm phán mở đầu là như vậy đấy.

Vậy mà chỉ 5 ngày sau, ngày 13-1-1973, hai bên đã đi đến thỏa thuận toàn văn Hiệp định. Và Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được chính thức ký ngày 27-1-1973.

HÀ ĐĂNG
Nguyên thành viên đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

Kỳ 4: Đấu tranh dư luận mọi lúc, mọi nơi

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Cuộc trả lời phỏng vấn lúc nửa đêm

QĐND – Một giờ sáng 4-9-1969, điện thoại của bộ phận báo chí đoàn CPCMLT tại Massy đổ vang. Giờ này trong nước, Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa đến cho đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài cái tin vô cùng đau đớn: Bác Hồ đã qua đời.

Phóng viên AFP xin lỗi là đã gọi tôi vào lúc này và đặt ngay câu hỏi: Hà Nội vừa thông báo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời. Xin được biết bình luận của người phát ngôn Mặt trận dân tộc giải phóng về sự kiện này.

Những ngày trước đó chúng tôi trong hai đoàn đã sống trong tâm trạng lo lắng và đau buồn vô hạn khi được thông báo mật là Bác ốm nặng. Không khí trong đoàn vắng lặng hẳn đi, chúng tôi khóc thầm nhưng vẫn phải làm ra vẻ bình thản.

Phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam lan rộng khắp thế giới. Ảnh tư liệu

Tôi trả lời: “Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ vĩ đại, là người Cha của cả dân tộc chúng tôi. Người qua đời là một mất mát to lớn không gì bù đắp được”.

Lại hỏi: “Ông có nghĩ rằng sự qua đời của Chủ tịch có tác động đến cuộc chiến đấu của đồng bào các ông không?”.

Trả lời: “Tất nhiên tác động rất lớn: Đồng bào chúng tôi ở cả hai miền Nam, Bắc sẽ càng đoàn kết, quyết tâm hơn bao giờ hết, chiến đấu kiên cường hơn nữa để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đến thắng lợi hoàn toàn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”.

Lại hỏi: “Theo ông sự kiện này có tác động gì đến Hội nghị bốn bên”?

Trả lời: “Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục đấu tranh cho một giải pháp bảo đảm các quyền dân tộc thiêng liêng của nhân dân chúng tôi, như Hồ Chủ tịch đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

“Chim bồ câu” quấy nhiễu

Hoạt động báo chí của chúng tôi đặc biệt nhắm vào dư luận Mỹ. Ngay từ những ngày đầu mới đến Pa-ri, chị Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, trưởng đoàn CPCMLT đã có sáng kiến viết một bức thư ngỏ gửi hai viện Quốc hội Mỹ và nhân dân Mỹ kêu gọi họ tác động buộc chính quyền Mỹ ngừng bàn tay tội ác, chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Rất nhiều cuộc gặp gỡ với báo chí và nhân sĩ Mỹ đã diễn ra tại trụ sở đoàn Mặt trận. Bản thân tôi đã dự một cuộc phỏng vấn bất thường do một kênh Truyền hình Mỹ tổ chức tại Versailles. Trong cuộc phỏng vấn này, bốn người phát ngôn của bốn đoàn ngồi ở bốn bàn đối diện đặt trong cùng một phòng và trả lời bằng tiếng Anh. Những câu hỏi đặt ra rất “hắc”, nhưng anh Ngạc, phát ngôn cho đoàn miền Bắc và tôi đã được dặn trước là phải bình tĩnh trả lời, nhắm đối tượng là người dân Mỹ mà nói. Chúng tôi dùng lời lẽ lịch sự nhưng mạnh mẽ vạch tội ác của chính quyền Ních-xơn tiếp tục và tăng cường và mở rộng chiến tranh gây đau thương, tang tóc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ, kêu gọi những người có lương tri ở Mỹ hãy cùng chúng tôi chặn bàn tay tội ác của Ních-xơn. Nhiều lúc trong quá trình cuộc “phỏng vấn bốn bên” này, tôi thấy người dẫn chương trình vung tay muốn cắt lời chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn nói hết ý của mình.

Vào lúc này, dư luận Mỹ và thế giới càng thấy rõ trở ngại cho một giải pháp hòa bình không phải là VNDCCH và Việt cộng mà chính là chính quyền Ních-xơn và chính quyền Sài Gòn. Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng ra tất cả các tầng lớp nhân dân, ngay cả trong chính giới, trí thức, nghệ sĩ và binh lính, cựu chiến binh Mỹ. Các đoàn đại biểu các tổ chức chống chiến tranh Mỹ như tổ chức phụ nữ đấu tranh vì hòa bình đến Pháp gặp hai đoàn chúng ta. Tôi được thấy họ cùng ngồi, cùng trò chuyện, cùng cười, cùng khóc, cùng hát với các thành viên nữ trong đoàn, như những người chị em. Không phải người Mỹ nào lúc mới đến cũng thông cảm với chúng ta, nhưng phần lớn dần dà họ hiểu ra và những cuộc gặp như vậy đã góp phần “làm tan băng giá” trong trái tim người Mỹ, như nhiều vị khách đã nói.

Phải chăng vì vậy mà giới cầm quyền Mỹ đặc biệt căm thù phong trào hòa bình. Về sau này Kít-xinh-giơ viết trong Hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng”: “Những con bồ câu chứng tỏ rằng chúng là loài chim đặc biệt quấy nhiễu và năm tháng qua đi chúng cũng không trở nên tốt hơn”.

Cuộc họp báo cuối cùng

Tháng 3-1972, quân và dân ta mở cuộc tấn công chiến lược rộng lớn ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng Liên khu 5 giành thắng lợi lớn. Ngày 6-4-1972, Mỹ ném bom miền Bắc trở lại với quy mô chưa từng có, kể cả Hà Nội và Hải Phòng, sử dụng cả máy bay chiến thuật và chiến lược. Tình hình hết sức căng thẳng. Dư luận lo âu không biết rồi Hội nghị Pa-ri có còn hay không, người ta bàn tán về nhiều khả năng và không ít người lo ngại bản chất cực kỳ phiêu lưu, hiếu chiến của chính quyền Ních-xơn.

Hội nghị Pa-ri đã ở năm thứ tư (1972) cũng là năm các phiên họp bốn bên bị cắt quãng nhiều lần. Cuộc kháng chiến ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta đã buộc Mỹ tiếp tục đàm phán và hai bên đi đến một văn bản dự thảo hiệp định mà ông Ních-xơn vào ngày 20-10-1972 xem như đã hoàn chỉnh và thỏa mãn. Nhưng sau đó, Mỹ lại trở mặt, đòi sửa hầu hết các điều khoản chủ yếu đã thỏa thuận mà họ nói là “theo yêu cầu của Sài Gòn”.

Ngày 18-12, Ních-xơn ra lệnh cho B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trong chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ 2” kéo dài 12 ngày đêm, nhưng cuối cùng đã thảm bại. Thất bại đau đớn này đã buộc Mỹ phải ký vào Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sau lễ ký kết, nhiều nhà báo quen thuộc kéo về “ngôi nhà nhỏ bên hồ”, trụ sở của đoàn CPCMLT để gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình. Chị đã nói về ý nghĩa Hiệp định, về những việc chúng ta còn phải đấu tranh để Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh. Chị cảnh báo âm mưu lật lọng, vi phạm Hiệp định của chính quyền Ních-xơn và chính quyền Thiệu… Chị nồng nhiệt cảm ơn các nhà báo quốc tế đã theo dõi Hội nghị suốt bấy nhiêu năm và đã góp phần vào thành công của Hội nghị. Nhiều nhà báo ngồi lại với chúng tôi rất lâu, cùng nhau ôn lại những ngày tháng không thể quên của cuộc hội nghị dài nhất trong lịch sử này.

Trước khi ra về, một nhà báo Mỹ hỏi tôi: “Ông có nhắn gì người Mỹ không?”. Tôi cầm tay ông và đáp: “Tôi mong ông nhắn với họ rằng họ hãy “Remember Vietnam!”- nhớ mãi Việt Nam để không bao giờ lại để cho những người cầm quyền của họ phạm lại sai lầm bi thảm như cuộc chiến tranh Việt Nam”.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Hết)

Kỳ 3: “Quả bom” nổ trên bàn hội nghị

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Một cuộc họp báo sôi nổi hiếm hoi

QĐND – Tháng 5-1969, gần 5 tháng trôi qua từ phiên họp lần thứ nhất, Hội nghị bốn bên “giẫm chân tại chỗ”, hết phiên này qua phiên khác các bên tiếp tục “cuộc đối thoại giữa những người điếc”. Ta đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân đội khỏi miền Nam, từ bỏ bè lũ Thiệu-Kỳ. Mỹ cũng đòi ta “chấm dứt xâm lược”, rút hết quân miền Bắc khỏi miền Nam, ngừng can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam…

Các cuộc họp báo tại Trung tâm Kleber nhiều khi trở nên chán ngắt và số nhà báo đến dự cũng ít hẳn đi. Tuy nhiên, mặt trận dư luận tiếp tục sôi động. Phong trào nhân dân thế giới nhất là ở Mỹ và châu Âu đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Chúng tôi tận dụng thời gian này để mở rộng diện tiếp xúc với các nhà báo các nước để trò chuyện, tìm hiểu và trình bày, phân tích cho họ hiểu về đất nước và nhân dân Việt Nam, về tình hình và cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta. Tại trụ sở của đoàn ngày nào cũng có vài cuộc gặp gỡ nhà báo, nhà sử học, nhà nghiên cứu, chính khách các nước, các cuộc trả lời phỏng vấn truyền hình hoặc phát thanh. Vào các ngày cuối tuần, chúng tôi chia nhau đi các địa phương của nước Pháp và một số nước châu Âu để nói chuyện với báo chí, các chính khách, các giới nhân dân và bà con kiều bào.

Một phiên họp tại Hội nghị Pa-ri. Ảnh tư liệu

Ngày thứ năm, 8-5-1969 là ngày họp phiên thứ 16. Tối hôm trước, không khí chuẩn bị cho phiên họp ở hai đoàn Việt Nam rất khẩn trương, chúng tôi làm việc đến tận ba, bốn giờ sáng để chuẩn bị cho “sự kiện lớn”. Sáng hôm đó, trước khi đi họp chúng tôi đã “rỉ tai” cho một số nhà báo và hãng thông tấn quen biết rằng, họ hãy “chờ điều mới”.

Trưởng đoàn Mặt trận Trần Bửu Kiếm, vẫn với giọng khoan thai như mọi phiên nói: “Hôm nay nhằm bày tỏ thiện chí và với lòng mong muốn đưa Hội nghị chúng ta khỏi bế tắc, tôi thay mặt Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra “Giải pháp toàn bộ 10 điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam”. Rồi ông chậm rãi đọc từng điểm một, bao gồm giải pháp về tất cả các vấn đề quân sự, chính trị, quan hệ đối nội và đối ngoại của miền Nam Việt Nam trong tương lai, việc giải quyết hậu quả chiến tranh, việc kiểm soát quốc tế, kể cả việc thống nhất đất nước trong tương lai. Khi anh Kiếm đọc đến đoạn nói: “Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”, chúng tôi thấy trưởng đoàn Mỹ Lót-giơ (Lodge) ghi vội điều gì đó trong sổ tay.

Thực ra đây là lần đầu tiên trên bàn hội nghị có một đề nghị giải pháp đầy đủ, cụ thể, với những điểm rất mới mà các nhà quan sát chính trị đều chú ý. Giải pháp nêu lên những đòi hỏi chính đáng và nguyện vọng xây dựng một miền Nam hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ, có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, kể cả Mỹ, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.

Về sau này, trong Hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng”, Cố vấn an ninh quốc gia của Mỹ Kít-xinh-giơ nhận xét Giải pháp 10 điểm của Mặt trận, đã viết: “Kế hoạch này lời lẽ thì xấc xược, về nội dung thì phiến diện. Tuy nhiên, chỉ riêng sự có mặt của một kế hoạch hòa bình của cộng sản, dù cho bản thân nó là bất ngờ, đã dấy lên một sự phản ứng tức khắc của Quốc hội, của các phương tiện đại chúng và của công chúng làm áp lực lên chính phủ, đòi không để lỡ mất thời cơ này”.

Có lẽ họ đã thông báo cho nhau, các nhà báo đến rất đông. Chúng tôi phân phát văn bản Giải pháp toàn bộ và bài phát biểu của anh Trần Bửu Kiếm. Chúng tôi cũng nói cho họ biết thái độ lúng túng và phản ứng tiêu cực của hai phái đoàn Mỹ và Sài Gòn. Ít khi có một cuộc họp báo sôi nổi như lần này. Các nhà báo muốn biết thêm chi tiết và bối cảnh của Giải pháp, về chính quyền miền Nam sau này, về định nghĩa đường lối trung lập v.v.. Nhiều nhà báo tức tốc về tòa soạn để đưa tin và viết bài và không mấy người ở lại dự cuộc họp báo của đoàn Mỹ và Sài Gòn. Một tờ báo Pháp đưa tít: “Kế hoạch hòa bình của Việt Cộng: Quả bom nổ trên bàn hội nghị”.

Cuối tháng 5-1969, tôi được theo anh Trần Bửu Kiếm sang thăm Cu-ba. Tại cuộc hội đàm với Bộ Chính trị và Chính phủ Cu-ba, anh Kiếm đã thông báo tình hình miền Nam và trình bày lập trường “10 điểm” của Mặt trận. Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Fidel Castro) đã nhiệt liệt ca ngợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta và ủng hộ mạnh mẽ lập trường “10 điểm” của Mặt trận, khẳng định một lần nữa sự ủng hộ chí tình dành cho Việt Nam. Trên đường về, anh Kiếm đã ghé thăm nước Cộng hòa dân chủ nhân dân An-giê-ri, hội đàm với Tổng thống H. Bu-mê-điêng (Houari Boumediene) và Ngoại trưởng A. Bu-tê-phlích-ca (A.Bouteflika), giành được sự ủng hộ kiên quyết cho Giải pháp 10 điểm.

“Giải pháp hòa bình” của Ních-xơn

Sau khi đề Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận được công bố, trong thế bị động, ông Ních-xơn lên truyền hình ngày 14-5-1969 đưa ra “kế hoạch hòa bình 8 điểm” để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông ta khoe khoang “thành tích” 4 tháng đầu cầm quyền, tuyên bố muốn rút quân Mỹ nhanh chóng nhưng đòi phải “có đi có lại”, phải rút đồng thời và nhanh chóng quân đội của cả hai bên trong vòng 12 tháng (có nghĩa là đòi quân miền Bắc cùng rút với quân xâm lược Mỹ). Làm ra vẻ rộng lượng, ông Ních-xơn tuyên bố “đồng ý” để cho Mặt trận dân tộc giải phóng “tham dự sinh hoạt chính trị ở Nam Việt Nam, tham gia bầu cử tự do dưới kiểm soát và giám sát quốc tế”. Ông Ních-xơn nói dài dòng về Hiệp định Giơ-ne-vơ, về ngừng bắn, về trao trả tù binh và không quên đe dọa sẽ “dùng biện pháp cứng rắn” nếu sự mềm dẻo của Mỹ bị hiểu lầm là thế yếu”.

Trong nhiều phiên họp và nhiều cuộc họp báo, hai đoàn Việt Nam vạch trần luận điệu hiếu chiến giả nhân giả nghĩa của Tổng thống Mỹ và đòi Mỹ phải chấp nhận Giải pháp toàn bộ 10 điểm của ta, nhất là về luận điệu “cùng rút quân” và “tuyển cử tự do” trong khi vẫn duy trì chính quyền Thiệu-Kỳ.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Còn nữa)

Kỳ 2: Ấn tượng hai cuộc họp báo đầu tiên

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Vùng giải phóng của các ông là ở đâu?

QĐND – Phiên họp chính thức đầu tiên của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam khai mạc lúc 10 giờ 30 phút ngày 25-1-1969 (sau phiên họp trù bị ngày 18-1). Phải nói rằng đây là một sự mở đầu lịch sử đối với nhân dân ta. Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, trên thực tế các nước lớn thảo luận và thỏa thuận với nhau. Lần này chính nhân dân ta là người đến Hội nghị trực tiếp đấu tranh với cường quốc số một là Mỹ để tìm ra một giải pháp cho cuộc chiến tranh mà Mỹ đã sa lầy và đang tìm “lối thoát trong danh dự”.

Phiên họp thứ nhất kết thúc lúc 6 giờ chiều với thỏa thuận duy nhất là tuần sau sẽ họp lại cùng ngày, cùng giờ. Ra về các trưởng đoàn phát biểu ngắn tại cổng lớn của Trung tâm, các người phát ngôn và các nhà báo tức tốc phóng xe về nơi họp báo, lúc này còn ở phố Suchet.

Đoàn VNDCCH trả lời báo chí sau một phiên họp ở Pa-ri. Ảnh tư liệu

Cuộc hội nghị bốn bên bắt đầu như vậy đó, các phiên họp về sau này cũng theo một khuôn khổ. Dư luận thế giới chăm chú theo dõi để biết rõ lập trường của các bên và hy vọng về một giải pháp. Ngay từ phiên họp đầu tiên người ta đã thấy chỉ có đoàn Mặt trận và đoàn VNDCCH là đưa ra những đề nghị cụ thể.

Về sau này trong Hồi ký của Tổng thống Mỹ Ních-xơn, ông ta viết rằng “những phiên họp công khai tạo cho người Bắc Việt và đồng minh Việt cộng của họ một diễn đàn hàng tuần trên vô tuyến truyền hình và tác hại rất lớn đối với Mỹ ở tại ngay nước Mỹ”.

Tại cuộc họp báo sau phiên họp đầu tiên, Người phát ngôn đoàn Mặt trận lên tiếng trước. Phòng họp báo lớn ở phố Suchet đã chật ních phóng viên các báo, hãng thông tấn, hãng truyền hình và đài phát thanh, có thể nói khắp các châu lục. Hàng chục ống kính và micro chĩa về chúng tôi, ánh đèn chiếu làm chúng tôi lóa mắt. Tôi ngồi trên bục họp báo, bên phải là chị Phạm Thanh Vân làm thư ký, bên trái là anh Huỳnh Hữu Nghiệp, một nhà trí thức quê miền Nam, đỗ bằng tiến sĩ, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp, đến giúp làm phiên dịch cho tôi. Sau này, anh Nghiệp cũng ngồi cạnh tôi trong hầu hết cuộc họp báo. Với cách phiên dịch chuẩn xác và đúng văn phong báo chí anh đã góp phần quan trọng vào việc tranh thủ dư luận.

Tôi tường thuật tóm tắt diễn biến của phiên họp và tuyên bố “sẵn sàng trả lời các câu hỏi nếu có”. Sau một loạt các câu hỏi về chi tiết của phiên họp, bỗng bên tay trái tôi xuất hiện một nhà báo Mỹ mà tôi chưa được biết danh tính. Ông này đưa ra một tấm bản đồ khá lớn và hỏi: “Mặt trận các ông thường khoe là kiểm soát được tới hai phần ba lãnh thổ Nam Việt Nam, vậy ông vui lòng chỉ cho tôi xem trên tấm bản đồ này các vùng giải phóng đó ở đâu?”.

Tôi trả lời: “Điều ông hỏi cũng là điều bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn muốn biết. Xin ông hãy đọc thông báo quân sự của Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ đã ném bom những nơi nào ở miền Nam Việt Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy”.

Có tiếng vỗ tay trong phòng họp

Vào thời điểm ấy quân Mỹ và Sài Gòn đang ráo riết phản công, đánh phá ác liệt các vùng giải phóng của ta. Vùng giải phóng ở đồng bằng Liên khu 5 bị thu hẹp lại. Ở Nam Bộ hầu hết các vùng giải phóng đều bị lấn chiếm. Trên toàn miền Nam, Mỹ-ngụy lập 5.800 ấp chiến lược và 6.964 đồn bốt để khống chế đồng bào ta. Vùng giải phóng của ta từ 7,7 triệu dân rút xuống chỉ còn 4,7 triệu người. Còn máy bay Mỹ kể cả B-52 thì trong những ngày ấy ném bom khắp nơi, ngay cả ngoại vi Sài Gòn.

Về sau này, tháng 6-1975, trong một chuyến đưa một đoàn nhà báo quốc tế về thăm tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) và Bến Tre, tôi được gặp mấy đồng chí lãnh đạo, trước ở R. Có đồng chí vỗ vai tôi và nói: “Lúc tụi này nằm dưới hầm, bom Mỹ nổ trên đầu, mà qua đài BBC nghe cậu nói nơi đó là vùng giải phóng tụi này khoái lắm”.

“Con lạc đà chui qua trôn kim”

Phiên thứ hai của Hội nghị bốn bên họp ngày 31-1-1969 là một phiên đầy kịch tính. Phạm Đăng Lâm đã lên gân đọc một bài phát biểu dài 26 trang, cả dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp mất 2 giờ, góp nhặt tất cả những luận điệu chống cộng rẻ tiền, xuyên tạc nguồn gốc chiến tranh Việt Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, nói xấu Mặt trận và chế độ miền Bắc, huênh hoang khoe chế độ Sài Gòn là độc lập, dân chủ, yêu nước. Chúng tôi ngồi nghe vừa buồn cười cho cái trò quạ mượn lông công, vừa tức giận trước những luận điệu láo xược của họ. Phát biểu của trưởng đoàn Mỹ chỉ ba trang, lên giọng dàn hòa, rồi đòi lập lại quy chế khu phi quân sự, rút quân miền Bắc.

Trở lại phòng họp, anh Trần Bửu Kiếm, Trưởng đoàn Mặt trận và anh Xuân Thủy, Trưởng đoàn VNDCCH tập trung nói rõ nguồn gốc cuộc chiến tranh Việt Nam, vạch mặt Mỹ là kẻ đã chà đạp lên Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, xâm lược miền Nam, lập nên chế độ bù nhìn, thối nát, độc tài của Thiệu, tay sai cho Mỹ. Bộ trưởng Xuân Thủy đã dẫn lời của Tổng thống Ních-xơn đe chính quyền Thiệu khi chính quyền này không chịu cử đại biểu đến Pa-ri, rằng “cái đuôi con chó không thể vẫy được con chó”. Anh phê phán họ là những kẻ “rước voi về giày mả Tổ”.

Phiên họp này mãi đến gần 6 giờ chiều mới kết thúc. Cuộc họp báo sau đó cũng rất sôi nổi. Anh Nguyễn Thành Lê, phát ngôn chính của đoàn VNDCCH đã nói về phản ứng của đại biểu chính quyền Sài Gòn trong phiên họp là “như đỉa phải vôi”. Một nhà báo Pháp hỏi tôi: “Ông nghĩ gì về việc trưởng đoàn Sài Gòn khoe khoang bản chất tốt đẹp của chính quyền họ?”, tôi đáp: “Con lạc đà chui qua lỗ trôn kim còn dễ hơn chính quyền Sài Gòn tự cho mình là độc lập, dân chủ, yêu nước”. (Tôi nhắc đến một điển tích trong Kinh Thánh).

Hôm sau tờ báo công giáo La Croix viết: “Người phát ngôn Việt Cộng cũng dùng đến điển tích trong Kinh Thánh”, còn báo Le Monde thì viết: “VNDCCH và Mặt trận đã dùng mọi danh từ trong vườn thú để ném về phía Mỹ và Sài Gòn”.

Và cứ như vậy, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, mỗi cuộc họp báo là một dịp để chúng tôi giới thiệu diễn biến hội nghị, tình hình chiến trường và chính trường miền Nam, vạch trần những tội ác, âm mưu, thủ đoạn và luận điệu dối trá của đối phương, làm rõ lập trường chính nghĩa của ta và giải đáp những câu hỏi của các nhà báo. Đối với những người phát ngôn chúng tôi, mỗi cuộc họp báo là một quá trình nghiêm túc theo dõi tình hình và dư luận, chuẩn bị nội dung và dự kiến các câu hỏi và phương án trả lời.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Còn nữa)

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

QĐND – Những năm sau này, khi chiến tranh đã chấm dứt và đất nước đã thống nhất, nhiều người bạn hỏi tôi: “Cậu ngồi ở Hội nghị Pa-ri gần 5 năm, họp báo gần trăm lần, nói cái gì năm này qua năm khác mà không sợ lặp đi lặp lại à?”. Câu hỏi vừa dễ, vừa khó trả lời. Suy nghĩ kỹ thì những người làm công tác phát ngôn báo chí chúng tôi, trong chừng ấy năm trời chỉ nói bằng nghìn cách khác nhau một chân lý không gì thay đổi được, đó là: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam dầu ở miền Nam hay miền Bắc cũng đều có nghĩa vụ thiêng liêng chung lưng đấu cật chống xâm lược Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Những người phát ngôn không “mặn mà” với họp báo

Ông Oan-tơ Cron-kít (Walter Cronkite), nhà bình luận chính của Hãng truyền hình Mỹ CBS và là một người được coi là có quan điểm khách quan, sau khi đi Sài Gòn để tận mắt xem xét tình hình đã đưa ra kết luận: “Giờ đây có lẽ điều chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam đã đi vào chỗ bế tắc… Chỉ còn một cách để người Mỹ thoát khỏi vũng lầy và thương lượng với Hà Nội”. Tuy nhiên, trong nước Mỹ cũng như trên thế giới còn không ít người chưa hiểu rõ nguyên nhân và nguồn gốc của cuộc chiến tranh Việt Nam và chịu ảnh hưởng của những luận điệu của bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Mỹ. Nhiều người còn chưa hiểu rõ “Việt cộng” là những người thế nào và chưa tin Việt Nam lại có thể chiến thắng được. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam mở ra cho ta một trận địa mới để làm sáng tỏ những vấn đề ấy và tranh thủ sự đồng tình của công luận ngay tại một trung tâm báo chí quan trọng của thế giới là Pa-ri.

Ông Lý Văn Sáu (bên phải), Người phát ngôn đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại một cuộc họp báo ở Hội nghị Pa-ri. Ảnh tư liệu

Hội nghị Pa-ri không chỉ là “diễn đàn” đấu trí, đấu lý giữa Việt Nam và Mỹ mà còn là nơi để ta đấu tranh dư luận nhằm kêu gọi và tranh thủ sự ủng hộ của dư luận đối với Việt Nam cũng như vạch trần tội ác của Mỹ và chính quyền tay sai. Hoạt động báo chí của ta tại Hội nghị Pa-ri chính là công cụ đắc lực trong cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận ấy.

Theo thỏa thuận giữa các bên, sau mỗi phiên họp chính thức của hội nghị “bốn bên” sẽ có họp báo của các người phát ngôn các đoàn. Phát ngôn báo chí cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam) qua các thời kỳ có các anh Dương Đình Thảo, Trần Hoài Nam và tôi. Những lúc chúng tôi đi công tác thì các anh Đinh Bá Thi, Trần Văn Tư chủ trì. Về phía đoàn Mỹ, người phát ngôn báo chí thường thay đổi, thời gian đầu là ông Đa-vít A. En-giơ (David A.Engel), rồi tới ông Lê-đô-ga (Ledoga). Nhưng xem chừng họ không “mặn mà” lắm với các cuộc họp này vì thường bị các nhà báo chất vấn tới tấp. Người phát ngôn báo chí của đoàn chính quyền Sài Gòn là ông Nguyễn Triệu Đan, người “bao sân” hầu như suốt mấy năm hội nghị. Cũng có lúc ông Nguyễn Xuân Phong, phó đoàn, họp báo thay ông Đan. Ngoài các cuộc họp báo tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, hai đoàn ta là VNDCCH và Mặt trận còn tổ chức các cuộc họp báo riêng, bất thường mỗi khi có sự kiện quan trọng.

Những người bạn cầm bút ở Pa-ri

Nhìn lại gần trăm cuộc họp báo, phải công nhận rằng giới báo chí quốc tế thật là những người kiên nhẫn và nhạy bén. Có những nhà báo không bỏ lỡ cuộc họp báo nào của chúng ta, dần dà họ trở thành những người bạn quen, như ông S. Gên-dơ-bớc (Serges Gainzbourg) hãng AFP, ông Xét-bon (Sedbon) hãng Roi-tơ, ông I-tô (Ito) hãng NHK (Nhật Bản), bà Phlo-ra Lê-uýt (Flora Lewis) của tờ New York Times và nhiều người khác. Các nhà báo cộng sản và cánh tả Pháp và các nước châu Âu là những người bạn trung thành chẳng những ủng hộ mạnh mẽ lập trường chính nghĩa của ta mà còn cung cấp cho ta nhiều thông tin và giúp chúng tôi cách phát biểu và trả lời như thế nào cho hợp với báo chí phương Tây. Trong số họ có những người có điều kiện vào Sài Gòn và đi đến nhiều vùng ở miền Nam, kể cả các vùng chiến sự. Họ thường thông tin cho chúng tôi biết trước khi đi và trở về lại cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức và những bức ảnh quý giá…

Trong số những nhà báo theo dõi hội nghị, tôi muốn được nhắc đến nhà báo và nhiếp ảnh người Pháp Rô-gơ Pích (Roger Pic), nhà báo người Ô-xtrây-li-a Uyn-phrét Bớc-xét (Willfred Burchett), chuyên gia về các vấn đề Đông Dương, cả hai đều đã được Mặt trận mời vào thăm vùng giải phóng. Nhà báo Bớc-xét cho biết, trong một chuyến bay quốc tế ông tình cờ ngồi cạnh một viên đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, làm quen và hỏi thăm về chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Ông đại sứ buột mồm nói: “Ồ, đó chẳng qua là việc thay đổi màu da các xác chết!”. “Định nghĩa” này về chính sách dã man của Mỹ, dùng người Việt giết người Việt, nhằm kéo dài chiến tranh, duy trì bè lũ bù nhìn ở Sài Gòn đã được chúng ta nhắc đến để vạch mặt Mỹ, ngụy tại bàn hội nghị mà họ không cách gì chối cãi được.

Cũng xin được nhắc đến chị Ma-đơ-lin Ríp-phô (Madeleine Riffaud), nhà báo của Đảng Cộng sản Pháp từng có mặt ở Việt Nam từ thời kháng chiến chống Pháp, đã được gặp Bác Hồ và vào thăm vùng giải phóng miền Nam. Chị cùng với tổng biên tập Giăng Mo-rô (Jean Moreau) và nhà báo Giăng Ê-min Vi-đan (Jean Emile Vidal) của báo L’Humanité… đã viết nhiều bài nghị luận và phóng sự sắc bén, ủng hộ mạnh mẽ lập trường của ta. Chị Ma-đơ-lin Ríp-phô cũng là người đã sáng tác ra cụm từ “đội quân tóc búi” (L’armée des chignons) mà chúng ta gọi là “đội quân tóc dài” để nói về người phụ nữ miền Nam kiên cường bất khuất đấu tranh chống Mỹ, ngụy.

LÝ VĂN SÁU
qdnd.vn

Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri

———

Còn nữa

“Mặt trận” báo chí tại Hội nghị Pa-ri 1973

QĐND – Hội nghị Pa-ri về Việt Nam được mở tại thủ đô Pa-ri của Pháp (bắt đầu từ 15-5-1968 và kết thúc vào 27-1-1973). Đây là sự kiện quốc tế hàng đầu, là chủ đề chính của báo chí và dư luận thế giới thời kỳ đó. “Mặt trận” báo chí và vận động dư luận đã góp phần vào thắng lợi chung trong cuộc đàm phán lịch sử của dân tộc.

“Đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của người Mỹ”

Nói như ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, việc lựa chọn Pa-ri là nơi đàm phán đã tạo thuận lợi lớn cho phái đoàn đàm phán Việt Nam. Bởi lẽ đây là địa điểm khá thuận lợi, có tác động mạnh, kịp thời, sức lan tỏa nhanh chóng đến dư luận xã hội Mỹ, phương Tây và thế giới. Khi đó, phong trào nhân dân thế giới lên án Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh lên cao chưa từng có. Trong dư luận Mỹ, tinh thần chán ghét chiến tranh, đòi phải đàm phán để đưa lính Mỹ về nước cũng ngày càng mạnh mẽ. Như các nhân chứng lịch sử và nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, chính các phương tiện thông tin đại chúng đã “đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của mọi người Mỹ” và làm thức tỉnh lương tri họ.

Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí báo chí ở Pa-ri. Ảnh: UPI

Cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa-ri còn nhận được sự ủng hộ hoàn toàn tự nguyện của bạn bè quốc tế, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc, Đức… và đặc biệt là Chính phủ và nhân dân Pháp. Đảng Cộng sản Pháp đã cho Việt Nam mượn Trường Đảng làm trụ sở của đoàn trong gần 5 năm; cho mượn một số cơ sở làm nơi gặp riêng với Mỹ; cử nhiều người đến giúp đỡ đoàn Việt Nam trong việc đi lại, ăn ở. Nhiều công nhân Pháp, kể cả những người về hưu đã tình nguyện làm công tác bảo vệ suốt ngày đêm cho hai đoàn Việt Nam. Bà con Việt kiều thuộc nhiều thế hệ và ngành nghề khác nhau đã ủng hộ và tích cực phục vụ cuộc đấu tranh của hai đoàn Việt Nam.

Bên cạnh đó, từ Cố vấn Lê Đức Thọ, các trưởng đoàn Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, cho đến các đoàn viên đều tích cực làm công tác vận động dư luận đi khắp các địa phương trên nước Pháp và các nước khác trên thế giới, dự các cuộc mít tinh, biểu tình, hội nghị, hội thảo về Việt Nam để giới thiệu tình hình và lập trường của Việt Nam. Thông qua các hoạt động vận động quốc tế, chúng ta đã đưa tiếng nói chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đến với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, bày tỏ lập trường, nguyện vọng, quan điểm để vận động nhân dân thế giới phản đối Mỹ, ủng hộ Việt Nam đấu tranh tại Hội nghị Pa-ri, để đi tới kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thua ngay trên mặt trận báo chí

Tại bàn đàm phán Pa-ri, công tác tuyên truyền đối ngoại, vận động báo chí đóng vai trò quan trọng. Phối hợp chặt chẽ với cuộc đàm phán, lực lượng tuyên truyền của hai đoàn Việt Nam đã tiến hành hàng trăm cuộc họp báo, hàng nghìn cuộc tiếp xúc báo chí và gặp gỡ đại diện các tổ chức quần chúng, nhân sĩ, trí thức, cá nhân người Pháp, người nước ngoài, Việt kiều… để tuyên truyền, đấu tranh dư luận và ngoại giao nhân dân ngay bên ngoài Hội nghị Pa-ri, trên nhiều vùng của nước Pháp và các nước láng giềng của Pháp như I-ta-li-a, Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan…

Theo cuốn sách “Cuộc đàm phán lịch sử” do NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2009, hàng nghìn nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, điện ảnh, quay phim truyền hình của rất nhiều nước trên thế giới đổ về thủ đô Pa-ri theo dõi, đưa tin, bình luận cuộc đàm phán Việt Nam-Mỹ, mà trong lịch sử chưa có hội nghị quốc tế nào (kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai) có mặt đội ngũ các nhà báo hùng hậu đến thế.

Riêng ở Pa-ri, bên cạnh 28 cuộc họp công khai với 12 cuộc họp bí mật trong giai đoạn hội nghị bốn bên, còn có đến gần 500 cuộc họp báo của hai đoàn, hàng nghìn cuộc tiếp xúc với bạn bè Pháp và quốc tế, kể cả những đồng bào từ miền Nam sang. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam kéo dài, lúc sôi nổi, lúc không tiến triển, giậm chân tại chỗ. Vì thế các nhà báo quốc tế đến theo dõi hội nghị cũng lúc đông đảo, náo nhiệt, lúc vắng vẻ, buồn tẻ. Các nhà báo của Việt Nam đã hoạt động rất tích cực, giao lưu với các nhà báo quốc tế, thu thập thông tin, tìm hiểu tình hình dư luận, giới thiệu đường lối, chính sách, lập trường của Việt Nam.

Các cán bộ trong đoàn đàm phán cũng tranh thủ đến các địa phương ở Pháp và các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Phi dự các cuộc mít tinh, biểu tình, diễu hành, hội thảo, hội nghị chống Mỹ xâm lược Việt Nam. Đoàn Việt Nam cũng hoàn toàn chủ động tổ chức các cuộc hội họp, gặp gỡ với Việt kiều ở Pháp và nhiều nước, với bà con đồng bào từ miền Nam đến tiếp nhận thông tin để gây ảnh hưởng đến dư luận.

Trụ sở của phái đoàn Việt Nam ở Pa-ri cũng thường xuyên tiếp nhiều đại biểu nhân dân Mỹ, nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ, nhiều nhà văn, nhà báo, luật gia Mỹ và các nước khác đến Pa-ri để bày tỏ sự ủng hộ nhân dân Việt Nam, phê phán chính sách hiếu chiến của chính quyền Mỹ.

Có thể nói rằng, vai trò báo chí của các nước hằng ngày, hằng tuần, suốt nhiều năm đưa tin về chiến tranh, đưa những bình luận sắc bén, cổ vũ Việt Nam, truyền đạt ý chí của nhân dân các nước với nhau, đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta đánh Mỹ và thắng Mỹ, nó khiến cho chính người Mỹ cũng phải thừa nhận “nước Mỹ thua trong cuộc chiến tranh trước hết là thua ngay trên mặt trận báo chí”.

BÌNH NGUYÊN
qdnd.vn

Khắc ghi tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình

Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris:

QĐND Online- Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam (27-1-1973/27-1-2013), sáng 27-1, tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), đã diễn ra cuộc Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, do Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã tới dự. Tham dự buổi gặp gỡ còn có ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam; đại diện lãnh đạo TP Hồ Chí Minh cùng đông đảo đại biểu trong nước và quốc tế.

Đây là sự kiện quan trọng nhằm ôn lại những năm tháng hào hùng của dân tộc, giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ trẻ, phát động và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế với Việt Nam trong tình hình hiện nay; đồng thời, là dịp để tri ân bạn bè quốc tế đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước.

Tại cuộc gặp gỡ, các đại biểu đã chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc với Việt Nam và bày tỏ lòng khâm phục nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, khẳng định: “Sở dĩ Việt Nam là một nước nhỏ bé nhưng đã chiến thắng nước Mỹ hùng mạnh là bởi tinh thần quật cường và trí thông minh, khéo léo, bởi sự chính nghĩa nên được nhân dân tiến bộ thế giới ủng hộ. Ngay trong những năm đàm phán tại Paris, đoàn Việt Nam cũng thể hiện rõ khí phách và tài trí ngoại giao kiên quyết và đầy mưu lược. Tôi rất ấn tượng với các bạn Việt Nam, về những thành công của Việt Nam cả trong chiến tranh và sự nghiệp xây dựng hòa bình. Người Việt Nam luôn lạc quan trước mọi khó khăn. Đây là phẩm chất lớn không dễ gì có được. Chúng tôi luôn ủng hộ các bạn”.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, phát biểu tại buổi gặp gỡ

Cùng quan điểm và ôn lại những hoạt động phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam, ông Rabin Dep, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ (AIPSO), bày tỏ: “Chúng tôi đã tổ chức những cuộc diễu hành với sự tham gia của hàng trăm sinh viên để yêu cầu Mỹ rút quân vô điều kiện khỏi Việt Nam. Đất nước chúng tôi cũng huy động mọi nguồn lực có thể để giúp đỡ Việt Nam. Năm 1975, khi đất nước các bạn được giải phóng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ấn Độ đã đọc diễn văn chào mừng sự kiện này và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Việt Nam. Chúng tôi vô cùng phấn khởi và chung niềm vui chiến thắng với các bạn”.

Không khí của buổi gặp gỡ trở nên thân tình, ấm áp khi ông Rabin Dep đọc lại bài diễn văn năm trước với những lời lẽ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Ấn Độ dành tặng Việt Nam: “Các bạn thực sự là những người anh hùng, tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mở ra một thời kỳ mới không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà với cả nhân loại tiến bộ trên thế giới”.

Chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc của mình, ông Carlos Rey Gomez, du kích quân Caracas (Vê-nê-zu-ê-la), thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sĩ quan Mỹ Michael Smo-len để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi, xúc động: “Chúng tôi đã cố hết sức để có thể cứu được anh Trỗi bằng sự ngưỡng mộ nhưng chính quyền Ngụy Sài Gòn lật lọng nên cuộc trao đổi không thành. Đất nước Việt Nam có được những con người vĩ đại như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và cả Nguyễn Văn Trỗi… nên các bạn giành chiến thắng là điều tất yếu. Dân tộc Vê-nê-zu-ê-la chúng tôi học tập Việt Nam và luôn sát cánh cùng Việt Nam trong tiến trình phát triển, dựng xây đất nước”.

Phát biểu tại hội nghị, ông Vũ Xuân Hồng đã bày tỏ những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Việt Nam đối với bạn bè quốc tế và nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít, gắn bó, thủy chung, trước sau như một của Việt Nam với các nước anh em. Nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi những tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của các tổ chức hữu nghị quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam và mong muốn tăng cường hơn nữa mối quan hệ vô tư, trong sáng ấy vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển. Những kinh nghiệm, bài học và thắng lợi trong Hiệp định Paris còn nguyên giá trị và sẽ được phát huy trong thời đại mới.

Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu đã tới thăm các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin tại làng Hòa bình, Bệnh viện Từ Dũ, kết thúc chuỗi hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris trong tình cảm lưu luyến, thân tình, đầy xúc động.

Tin, ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Hội nghị Paris và những bài học quý giá cho ngoại giao Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh

Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi  qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị  được mở ra từ một quyết định chiến  lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc.

Cuộc đối đầu lịch sử giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Henry Kissinger – Ảnh tư liệu

Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Năm bài học quý giá

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá.

Nhân dân Liên Xô mít tinh ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước tại Thủ đô Moscow, ngày 8/2/1965 – Ảnh tư liệu

Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau.

Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính”, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (4).

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được kí kết – Ảnh tư liệu

Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.

(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.

(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

(4) Văn kiện  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011), trang 236.

* Tiêu đề bài do Cổng Thông tin điện tử đặt
chinhphu.vn

“Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”

(Chinhphu.vn) – Đó là lời căn dặn của Bác Hồ với cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trước khi ông sang Pháp để đàm phán với Mỹ về Hiệp định Paris.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với nụ cười thắng lợi tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Dù đã qua 40 năm sự kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết, ông Lưu Văn Lợi – nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ vẫn nhớ như in các cuộc trao đổi khôn khéo nhưng kiên quyết của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đại diện Chính phủ Mỹ.

… Từ năm 1965 Bộ Chính trị và Bác Hồ đã có chủ trương kết hợp “đánh với đàm” trong kháng chiến chống Mỹ.

Nghị quyết lần thứ 13 của BCH TW khoá III tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh. Trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” .

Thắng lợi to lớn của cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược nước ta của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Jonhson tuyên bố trên truyền hình ngày 31/3/1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp chuẩn bị nhân sự cho cuộc đàm phán. Để đương đầu với những chính khách chuyên nghiệp, lọc lõi, mưu mô của Mỹ, đại diện đàm phán của Việt Nam cần có không chỉ ý chí cách mạng tiến công và tính kỷ luật cao, mà còn phải có trí tuệ, bản lĩnh, tính quyết đoán trách nhiệm cao, cương nhu hài hoà, khôn khéo.

Bác Hồ và Đảng ta đã trực tiếp giao cho Bí thư TW Đảng, Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán, đồng thời Bác Hồ đã trực tiếp viết thư cho Bộ Chính trị đề nghị điện vào Trung ương Cục cho đồng chí Lê Đức Thọ khi đó đang là Phó Bí thư Trung ương Cục bàn giao công việc cho Bí thư Phạm Hùng rồi ra ngay Hà Nội để tham gia phái đoàn ta đi gặp đoàn đại biểu Mỹ.

Trước khi sang Paris, đồng chí Lê Đức Thọ đã gặp Bác Hồ. Người căn dặn đồng chí nhiều điều trong đó có lời nhắc nhở: “Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”. Để đàm phán với Mỹ, đánh giá Mỹ cho đúng đã rất khó, nhưng đâu chỉ có riêng Mỹ mà còn bao nhiêu nước khác nữa trong khu vực và quốc tế. Lợi ích các quốc gia đan xen, song trùng và đối kháng. Mỹ đã lợi dụng hoà hoãn Mỹ-Xô-Trung vào đầu những năm 1970 đã gây cho Việt Nam không ít trở ngại và khó khăn. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đặt ra nhiệm vụ cho mình trên bàn đàm phán là phải thật khôn khéo, để vừa giữ vững độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu, giữ vững đoàn kết quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

Bên cạnh cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ có Bộ trưởng Xuân Thủy tài ba và cả một tập thể đoàn kết keo sơn một lòng với sự nghiệp chung của dân tộc. “Hai đoàn nhưng là một, một nhưng lại là hai”, đó là một trong những sáng tạo riêng của ngoại giao Việt Nam. Những sáng kiến và giải pháp quan trọng nhất đưa ra diễn đàn công khai ở Paris đều dành cho đoàn miền Nam do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn để khẳng định địa vị quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ quốc tế.

Thực hiện chiến lược của Đảng, phá vỡ bế tắc đàm phán, đầu tháng 10/1972 cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đưa ra bản dự thảo: “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã hoan nghênh đề nghị của ta và đồng ý lấy dự thảo này để thảo luận và thoả thuận.

Khi cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris đang đi tới hồi kết thì H. Kissinger đã hỏi có tính khiêu khích cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ: “Vừa qua ngài đi qua Bắc Kinh và Mátxcơva, chắc các bạn của ngài đã nói về những yêu cầu của chúng tôi”. Đồng chí Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Kissinger : “Bạn chúng tôi hết lòng ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi”.

Tại phiên họp riêng từ 9h30 sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau 12/10/1972 (phiên họp kéo dài nhất trong số các phiên họp của cả gần 5 năm đàm phán), nội dung Hiệp định do ta đưa ra về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký vào ngày 31/10/1972 tại Paris.

Tình hình đàm phán dường như đang tiến triển thuận lợi nhưng đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ – nguỵ.Đúng là phía Mỹ đã lật lọng thô bạo, viện cớ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phản đối bản dự thảo Hiệp định nên Tổng thống Mỹ Nixon lại  trả lời chưa thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Ngày 23/11/1972, Kissinger đã đòi sửa 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận, trong đó có một số vấn đề thuộc về nguyên tắc. Mỹ lại đòi rút quân Bắc Việt Nam, một nguyên tắc ta không bao giờ nhượng bộ.

Trong cuộc họp hẹp ngày 4/12/1972 đồng chí Lê Đức Thọ đã nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể các ông sẽ đem B52 ném bom ồ ạt đất nước chúng tôi. Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe doạ của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Từ ngày 18 – 29/12/1972 Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Con át chủ bài B52 đã bị thất bại thảm hại nhờ quân và dân ta nhớ lời tiên đoán tài tình của Bác Hồ từ năm 1967 “Mỹ chỉ chịu thua dưới bầu trời Hà Nội” , đã giăng lưới lửa sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi 81 máy bay chiến đấu trong đó có 34 chiếc B52, khiến Mỹ phải ngừng ném bom để quay trở lại đàm phán.

Trong buổi họp đầu tiên của đợt đàm phán cuối cùng bắt đầu từ ngày 8/1/1973, đồng chí Lê Đức Thọ đã mở đầu bằng những lời chỉ trích lên án mạnh mẽ cuộc ném bom Hà Nội 12 ngày đêm của Mỹ.

Cuộc họp riêng cuối cùng diễn ra ngày 13/1/1973, hai bên đã thỏa thuận nội dung bản Hiệp định Paris không có thay đổi gì về cơ bản và nguyên tắc. Ngày 23/1/1973, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và H.Kissinger đã ký tắt bản Hiệp định, chính là bản dự thảo hồi tháng 10/1972.

Sau gần 5 năm đàm phán (1968-1973), Hiệp định chính thức được ký ngày 27/1/1973. Theo đó,  Mỹ phải rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam. Điều này đã đúng như lời mong ước của Bác Hồ trong lời chúc Tết năm 1969 trước lúc Bác đi xa là “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau quan và dân ta đã hoàn thành nốt nhiệm vụ “đánh cho Nguỵ nhào”, giang sơn thu về một mối thống nhất vào ngày lịch sử 30/4/1975.

Lưu Văn Lợi
Nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ
chinhphu.vn

Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao

(Chinhphu.vn) – Nói về sự thành công của Hiệp định Paris, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) khẳng định chúng ta đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, ngày 13/5/1968 (đoàn Việt Nam phía bên phải). Ảnh tư liệu

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, trong mối tương quan giữa Việt Nam và Mỹ vào năm 1973, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó.

Sáng tạo trong đường lối ngoại giao

Hiệp định Paris hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại miền Nam Việt Nam. Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

Đề cập những khó khăn và thuận lợi của chúng ta khi tiến hành các cuộc đàm phán, Đại sứ Dương Văn Quảng cho biết trong bối cảnh quốc tế phức tạp, quan hệ giữa các nước lớn cũng như nội bộ từng khối, đặc biệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước với trật tự thế giới chia làm hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh, nhưng Việt Nam đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là khi mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Ba thuận lợi khi hội đàm tại Paris

Paris là nơi hội tụ 3 điều kiện để trở thành nơi thích hợp tiến hành đàm phán. Đó là cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học. Tại Pháp, họ đã nhận thức rõ được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của những người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ về vật chất rất to lớn mà PCF dành cho đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF còn có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Một nguyên nhân nữa là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp được dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, địa điểm có thể ví như đầu não thông tin của thế giới lúc bấy giờ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần một nửa thời lượng thông tin thời sự quốc tế, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, từ đó tập hợp được lực lượng và dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam.

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn