Thư viện

Hiệp định Pa-ri: Ký ức của người trong cuộc

QĐND – Trong gần 5 năm tiến hành đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, có rất nhiều sự kiện đã đi vào lịch sử ngoại giao Việt Nam. Từ thỏa hiệp nhỏ nhất như chọn bàn đàm phán (tròn hay vuông) cho đến thỏa hiệp lớn nhất về chấm dứt chiến tranh, tất cả vẫn còn in đậm trong tâm trí những người tham gia buổi tọa đàm trong khuôn khổ Hội thảo khoa học quốc tế “Hiệp định Pa-ri 1973: 40 năm nhìn lại” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tại Hà Nội, hôm 17-1.

“Điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán

Từng là sinh viên Việt Nam theo học tại Pháp trong những năm 60 của thế kỷ trước, bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội là người có nhiều cơ hội tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và giúp đỡ bà Bình một số việc trong quá trình đàm phán.

Quang cảnh buổi tọa đàm

Hồi tưởng lại quá khứ hào hùng 40 năm về trước, với chất giọng Huế nhẹ nhàng, bà Ninh cho biết, không khí ở Pa-ri những năm 60 của thế kỷ trước thật đặc biệt. “Khi đó, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang ở đỉnh cao. Chúng tôi, những sinh viên, sau đó là những giảng viên tại Pa-ri, cũng hồ hởi tham gia vào phong trào này. Có những người hy sinh việc học tập để tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc như in và rải truyền đơn, tổ chức mít tinh, hậu thuẫn cho phái đoàn của ta ở Pa-ri. Có người đến 4, 5 năm vẫn chưa tốt nghiệp được. Đối với chúng tôi khi đó, bằng cấp là thứ yếu. Công việc chủ yếu của chúng tôi là kiếm sống để tham gia phong trào giải phóng dân tộc”, bà Ninh cho hay.

Nhắc đến Hiệp định Pa-ri, không thể không nói đến vai trò đặc biệt của nữ Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình. Bà Ninh cho biết, việc cử bà Bình là phụ nữ duy nhất làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia đàm phán khiến những người không hiểu về Việt Nam cho rằng, người phụ nữ đó chắc chỉ biết ngồi đọc tuyên bố chứ làm gì có tài đàm phán và biết tranh thủ dư luận.

Thế nhưng, suy nghĩ ấy đã nhầm. Sự xuất hiện của bà Bình ở Pa-ri đã là “điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán của ta, tạo lợi thế trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận thế giới, đặc biệt là đối với báo chí. Bà đã tạo ấn tượng khi thể hiện là người có thể kết hợp “cương-nhu” mà chúng ta áp dụng trên bàn đàm phán. Bà có phong cách đi đứng nhanh nhẹn, nói năng, đối đáp, xử trí linh hoạt. Thêm vào đó, bà sử dụng tiếng Pháp lưu loát, hiểu biết sâu rộng về tiếng Anh. Có thể nói, bà Nguyễn Thị Bình là một trong những “át chủ bài” của đoàn đàm phán Việt Nam. Bà đã hoàn thành tốt nhiệm vụ “kép” của một trưởng đoàn là đàm phán, đồng thời tranh thủ dư luận. Nói theo cách nhận xét của bà Ninh, bà Nguyễn Thị Bình đã góp phần quan trọng tạo ra “phong thái ngoại giao Việt Nam”, đàng hoàng, tự tin, cần thì rất cương quyết, nhưng đồng thời cũng mềm mỏng và uyển chuyển.

Vì sao chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán?

Để Mỹ và Việt Nam đi đến giai đoạn cuối cùng là ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, hai bên đã phải trải qua những cuộc đấu trí vô cùng căng thẳng. Theo ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hội nghị ở Pa-ri có những đặc điểm mà các hội nghị quốc tế khác không có. “Chúng tôi mất hơn một tháng để lựa chọn địa điểm, mất hơn hai tháng để giải quyết vấn đề bàn vuông hay bàn tròn”.

Giáo sư Giăng Crít-tốp-phơ Nô-en (Bộ Ngoại giao Pháp) phát biểu tại Hội thảo.

Giải thích vì sao lựa chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán, ông Huỳnh cho biết, ban đầu Mỹ yêu cầu Việt Nam mở hội nghị tại Viêng Chăn vì lúc đó chính quyền Viêng Chăn thân Mỹ. Chúng ta đề nghị tổ chức ở Phnôm Pênh bởi khi đó Quốc vương Xi-ha-núc ủng hộ cách mạng Việt Nam. Mỹ tiếp đó đề nghị một loạt nước ở Đông Nam Á có quan hệ với Mỹ. Việt Nam phản đối và đề nghị tổ chức ở Ba Lan, Liên Xô và Trung Quốc. Việt Nam đề nghị Ba Lan có nhiều ý nghĩa, đó là đối chọi với Mỹ, đồng thời cũng tranh thủ các nước XHCN đã giúp đỡ Việt Nam. Mỹ phản đối Ba Lan và sau đó đưa ra 11 nước ở khắp các châu lục trên thế giới… “Trong tổng số 20 nước mà Mỹ đề nghị lại không có Pháp. Chúng ta đã nghiên cứu hiện tượng này và tiến hành thăm dò quan điểm của Pháp. Pa-ri cho biết, họ ủng hộ ý kiến của ta. Vì vậy, sau một tháng cân nhắc, chúng ta thông báo cho Mỹ đề nghị chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán và cử Bộ trưởng Xuân Thủy sang đàm phán. Đề xuất này cuối cùng được Mỹ chấp thuận. Chọn được Pa-ri là rất thuận lợi cho Việt Nam về mặt vị trí và phối hợp để tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế”, ông Huỳnh nhớ lại.

Câu chuyện “nhỏ”, ý nghĩa “lớn”

Những câu chuyện kể về nghệ thuật “đánh-đàm” của những người từng có mặt ở Pa-ri những năm 1960-1970 khiến các học giả quốc tế đến từ Pháp, Mỹ tham dự hội thảo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Quả thực, đối với họ, Hiệp định Pa-ri mà họ biết đến hầu hết là qua những trang tài liệu, sách báo ở các thư viện nước ngoài. Nhưng những câu chuyện “nhỏ” có ý nghĩa “lớn” này thì không phải lúc nào họ cũng có dịp được nghe.

Giáo sư Pi-e Giuốc-nu (Pierre Jourrnoud), thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Pháp, Học viện Quốc phòng Pháp, cho biết khi các cuộc đàm phán được diễn ra tại Pa-ri, giới ngoại giao Pháp đã gợi ý về các giải pháp mang tính nhân nhượng và thỏa hiệp để tìm lối thoát cho cuộc chiến và kết tội tất cả những ai nuôi tham vọng leo thang chiến tranh, đặc biệt là chính sách “Việt Nam hóa” chiến tranh của Ních-xơn và các trận ném bom xuống Hà Nội-Hải Phòng vào tháng 12-1972. “Hiệp định Pa-ri đã thể hiện một trong những nguyên tắc mà chính quyền Pháp bảo vệ và một số thỏa hiệp theo gợi ý của giới ngoại giao Pháp”, Giáo sư Giuốc-nô cho hay.

Giáo sư Pi-e A-xơ-lanh (Pierre Asselin), tác giả cuốn sách “Nền hòa bình mong manh”, cho biết, ông thật sự ngưỡng mộ về tài trí của Việt Nam trong quá trình đàm phán ở Pa-ri. Nó góp phần giúp ông hiểu được vì sao người Việt Nam luôn tự hào về chiến thắng này. Mặc dù ông A-xơ-lanh còn có một số nhận xét trái chiều về Hiệp định Pa-ri, song ông A-xơ-lanh khẳng định rằng, nhờ có Hiệp định Pa-ri, hòa bình đã lập lại trên đất nước Việt Nam là điều không thể bàn cãi.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

Kỳ 2: Dự án “Hòa bình trong danh dự”

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Giá trị và ý nghĩa của Hiệp định Pa-ri đã được cả thế giới công nhận, trong đó bao gồm đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc. Vậy nhưng, phía Mỹ vẫn tìm cách vớt vát danh dự bằng nhiều cách. Trả lời phỏng vấn các báo vào những ngày sau khi Hiệp định được ký kết, Cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ vẫn cố tình bào chữa cho lỗi lầm của người Mỹ và vờ tỏ ra thông cảm đối với nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Đông Dương nói riêng. Kít-xinh-giơ cho rằng: “Đến giờ phút này, một thế hệ người dân ở Đông Dương và đặc biệt là nhân dân Việt Nam đã phải hứng chịu cảnh chiến tranh. Nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là chấm dứt nỗi đau của họ và khôi phục hòa bình”. Nhưng trước đó, ngay trong buổi tối ngày 23-1-1973, ngày Hiệp định Pa-ri được ký tắt, chính Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã phát biểu trên truyền hình nhấn mạnh: “Tôi muốn thông báo rằng, chúng ta đã ký kết được một thỏa thuận để chấm dứt chiến tranh và mang lại “Hòa bình trong danh dự” ở Việt Nam và Đông Nam Á”.

Thực hiện Hiệp định Hòa bình Pa-ri, trong hai ngày 28 và 29-3-1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: TTXVN

Và chính quyền Ních-xơn cũng từng thừa nhận: “Hiệp định Pa-ri là một thành công của Dự án “Hòa bình trong danh dự”. Bởi chính Ních-xơn tuyên bố muốn ký kết một Hiệp định hòa bình, trong đó Mỹ sẽ chấp nhận rút hết quân, lấy được hết tù binh Mỹ mà không thừa nhận thất bại, mặt khác vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên. Sau này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tuyên bố một cách bao biện rằng: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành công trong quá trình thương lượng chủ yếu vì Mỹ đã cơ bản thay đổi các mục tiêu của mình và rất muốn thoát ra khỏi Việt Nam nếu tù binh Mỹ được trao trả về, và Nam Việt Nam có cơ hội đứng vững trong một thời gian đáng kể”.

Thực tế trong những năm tháng diễn ra đàm phán, Mỹ càng chịu thêm những thất bại nặng nề về cả quân sự và chính trị tại chính quốc cũng như Việt Nam. Từ đó, buộc Mỹ và chính quyền Ních-xơn nhanh chóng tìm giải pháp đi đến ký kết một Hiệp định hòa bình, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định: “Tổng thống Ních-xơn và ông Kít-xinh-giơ thừa nhận là không thể có một giải pháp quân sự cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, họ cố gắng đạt tới một trạng thái không phân thắng bại trên chiến trường, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước Cộng sản vẫn viện trợ cho họ; và đi đến một giải pháp chính trị qua thương lượng”.

Sau này, trong cuốn hồi ký của mình, Kít-xinh-giơ đã viết: “Hầu hết các đồng sự của tôi và tôi hiểu ngay tầm cỡ của những điều mà chúng tôi vừa nghe. Tôi yêu cầu ngừng phiên họp ngay. Lót (C. Lord) – Trưởng đoàn đàm phán Mỹ, và tôi nắm tay nhau tuyên bố: Chúng ta đã thành công! Tướng Hai-gơ (Haig), người đã từng chỉ huy ở miền Nam Việt Nam xúc động tuyên bố: “Chúng ta đã cứu vớt danh dự cho bao người đã chiến đấu, đau khổ, bỏ mạng ở đó… Chúng ta sẽ đạt được điều mà chúng ta tìm kiếm: “Một nền hòa bình phù hợp với danh dự và trách nhiệm quốc tế của chúng ta”.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử của Mỹ và phương Tây lại tỏ ra nghi ngờ về cái gọi là “Hòa bình trong danh dự” mà chính quyền Mỹ rêu rao. Họ cho rằng, nước Mỹ đưa một đội quân thiện chiến hơn nửa triệu người được trang bị đến tận răng sang trực tiếp tham gia cuộc chiến vốn được điều hành bởi những chiến lược gia quân sự, “bộ óc điện tử” có hàng chục năm kinh nghiệm ở nhiều chiến trường nóng bỏng trên thế giới. Chi phí trực tiếp cho cuộc chiến tranh hơn 150 tỷ đô-la, có gần 60.000 lính chết, hàng trăm nghìn người bị thương… nhưng việc Mỹ buộc phải ký vào Hiệp định để kết thúc một cuộc chiến tranh với mục tiêu hạn chế, mà không giành được thắng lợi, là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nước Mỹ. Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko), trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” bình luận thêm: “Việc Mỹ rút quân mà không phải thừa nhận thất bại quân sự sau gần hai thập kỷ nỗ lực bất thành là một thắng lợi cay đắng của một siêu cường quốc tế”. Còn nhà sử học Mỹ Gioóc-giơ C. Hơ-rinh (George C. Herring), trong cuốn “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ” đánh giá, kết quả đạt được của Hiệp định Pa-ri đó quả thực là một sự trả giá quá đắt đối với Mỹ, ảnh hưởng to lớn đến uy tín, sức mạnh của siêu cường này, và “Ních-xơn đã kiên quyết tìm đến một nền “Hòa bình trong danh dự” để duy trì địa vị của Mỹ trên thế giới. Nhưng Mỹ đã ra khỏi cuộc chiến tranh với hình ảnh rất nhem nhuốc trong con mắt của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ vốn đã chán ngấy việc dính líu vào chiến tranh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhiều nhà phân tích chính trị, quân sự phương Tây đã có những đánh giá và nhận định rất chính xác về khả năng Mỹ sẽ tìm cách phá hoại việc thực thi Hiệp định. Giáo sư lịch sử Oét-đơn Ây Brao (Weddon A Brown) thuộc Viện Bách khoa Virginia (Mỹ), trong cuốn sách “Chiếc trực thăng cuối cùng kết thúc vai trò của Mỹ ở Việt Nam”, viết rằng: “Bất cứ một đánh giá nào về bản Hiệp định này cũng chỉ nhận xét rằng bản Hiệp định đã chỉ làm người ta lo sợ nhiều hơn là hy vọng”. Những người theo quan điểm này cho rằng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, chính quyền Ních-xơn sẽ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh. Do đó, “những thỏa thuận hòa bình tháng 1-1973 chỉ tạo dựng một khuôn khổ để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có Mỹ trực tiếp tham gia”.

Nhà sử học Mỹ Giô-dép Am-tơ (Joseph A. Amter) cũng cho rằng, việc ký Hiệp định thực chất chỉ là sản phẩm của luận điệu giả dối, những trò lừa bịp dư luận của chính quyền Ních-xơn… Và với khát vọng độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bền bỉ của người Việt Nam, chắc cuộc chiến sẽ còn tiếp diễn.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Hết)

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Sự kiện Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết giữa Việt Nam và Mỹ được nhắc tới khá nhiều trong hồi ký của các tướng lĩnh Mỹ, những người trực tiếp tham chiến. Đây cũng là sự kiện làm tốn khá nhiều giấy mực của các học giả nước ngoài trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt là có nhiều bài báo, dư luận tại Mỹ và các nước phương Tây với những cách nhìn đa dạng về bản Hiệp định lịch sử này.

Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng, Hiệp định Pa-ri là một thất bại của Mỹ tại Việt Nam, thì Bộ Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) và Lầu Năm Góc vẫn cố tình bào chữa và lảng tránh thất bại này. Nhưng các tài liệu được giải mật tại Trung tâm lưu trữ của Mỹ đã phơi bày sự thật. Dù Mỹ có bao biện thế nào đi nữa cũng không lừa bịp được sự thật và dư luận quốc tế.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pa-ri, ngày 2-3-1973. Ảnh tư liệu

Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam, gồm đại biểu các nước Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia ký Hiệp định Pa-ri cùng bốn nước trong Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Ca-na-đa, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a) được triệu tập tại Pa-ri. Đặc biệt, Hội nghị còn có sự tham gia của Tổng thư ký LHQ. Hội nghị đã thông qua Định ước quốc tế trong đó ghi nhận tính pháp lý của Hiệp định và khẳng định đây là “cống hiến to lớn đối với hòa bình, quyền tự quyết, độc lập dân tộc và việc cải thiện quan hệ giữa các nước. Hiệp định và các Nghị định thư phải được tôn trọng triệt để và phải thi hành nghiêm chỉnh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Pa-ri cũng như trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp liên tục có những bài phát biểu trên truyền hình lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ chiến thắng của Việt Nam. Xã luận báo Nhân đạo (Pháp) đăng tải trên trang nhất số ra ngày 5-2-1973 không chỉ ca ngợi cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam mà còn tập trung vạch trần sự cản trở của Mỹ đối với Hiệp định. Tổng thống Pháp G.Pông-pi-đu đã gửi điện mừng Việt Nam, trong đó khẳng định rằng: “Hiệp định Pa-ri có nghĩa là chấm dứt cảnh đau khổ, tàn phá, tang tóc ngày càng chồng chất”.

Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Brê-giơ-nhép (Brejnev) khẳng định: “Thắng lợi quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc là bằng chứng hùng hồn cho thấy trong thời đại chúng ta không lực lượng nào có thể bẻ gãy được ý chí của một dân tộc đấu tranh cho những quyền không thể tước đoạt được của mình và được tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ”. Tại Mát-xcơ-va, nhà văn Liên Xô Gam-da-tốp (Gamzatov) đã bày tỏ niềm xúc động mạnh mẽ: “Sau khi nghe tin vui này, tôi muốn ôm hôn tất cả mọi người Việt Nam. Đó là những con người tuyệt vời. Họ đã tiến hành chiến tranh không chỉ vì độc lập và tự do của Tổ quốc mình, mà còn bảo vệ chân lý, vẻ đẹp của hành tinh chúng ta”.

Không chỉ ở Liên Xô, nhiều báo chí tiến bộ phương Tây cũng liên tục đưa ra bình luận về thắng lợi này. Báo Người công nhân (Anh) ca ngợi: “Nhân dân Việt Nam là vô địch, vì sự nghiệp của họ là chính nghĩa, vì cuộc chiến đấu tuyệt vời của họ đã được tiến hành dưới sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và vì họ có lòng dũng cảm, sự hiểu biết và quyết tâm giành thắng lợi”.

Đảng Cộng sản Ca-na-đa ra tuyên bố: “Sau cuộc chiến tranh tàn bạo và lâu dài chống nhân dân Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã buộc phải chấm dứt xâm lược, chấp nhận rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là thắng lợi của Việt Nam dân chủ cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc giải phóng và của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Có thể thấy, thắng lợi của Hiệp định Pa-ri đã làm nức lòng bạn bè khắp năm châu, đặc biệt là những người yêu chuộng tự do, hòa bình. Báo Thế giới công nhân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, trong những năm Việt Nam kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã hết lòng ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam, con người Việt Nam. Khi nhận được tin Hiệp định Pa-ri được ký kết, tờ báo đã có bài viết chia vui cùng Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi vui mừng nhận tin thắng lợi của các bạn. Không chỉ nhân dân Tây Ban Nha mà tất cả những người lao động trên thế giới đều muốn ca ngợi các bạn”.

Ở phía bên kia cuộc chiến, phản ánh tâm lý của người dân Mỹ khi Tổng thống Ních-xơn tuyên bố Hiệp định hòa bình được ký kết ngày 27-1-1973, Uy-li-am Côn-bai (William Colby) – nhân viên cao cấp của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) hoạt động ở Việt Nam lúc đó đã đưa ra nhận xét: “Người dân Hoa Kỳ cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng và đối với họ, vấn đề Việt Nam chìm vào quên lãng”. Đối với Đảng Cộng sản Mỹ, trước ngày chính thức ký kết Hiệp định, đã ra tuyên bố khẳng định rõ ràng: “Thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài và tàn bạo của đế quốc Mỹ trước hết là do kết quả đấu tranh giành tự do của nhân dân Việt Nam, được sự ủng hộ của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình”.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Còn nữa)

Ân tình hội ngộ

Giao lưu Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn Ân tình hội ngộ

QĐND – Ngày 26-1, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn” giữa những cựu thành viên đoàn đàm phán Việt Nam tại Pa-ri và những người bạn quốc tế từng ủng hộ hết lòng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tại cuộc hội ngộ hiếm có sau 40 năm, những người đồng chí năm xưa đã xúc động cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ và hào hùng của một thời sôi nổi chung tay đấu tranh vì hòa bình và chính nghĩa.

Những chiến sĩ trên mặt trận “Thế giới vì Việt Nam”

40 năm trước, tại Pa-ri, Việt Nam đã giành được thắng lợi vang dội khi buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi này không chỉ là thắng lợi của Việt Nam mà còn là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Sẽ không bao giờ có thể quên sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa, sự giúp đỡ to lớn của nhân dân khắp nơi trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Quang cảnh cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn”. Ảnh: Ngọc Thư

30 vị khách quốc tế có mặt tại buổi giao lưu chỉ là một số rất ít trong số hàng triệu con tim luôn hướng về Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh gian khổ giành độc lập dân tộc. Họ chính là những “chiến sĩ” trên mặt trận nhân dân thế giới sát cánh cùng Việt Nam trong thời kỳ đó. Họ cũng chính là những người đã góp phần hình thành nên phong trào phản chiến và tổ chức đoàn kết với Việt Nam, từ đó từng bước hình thành “mặt trận” rộng lớn ủng hộ Việt Nam, lan rộng khắp Âu, Á, Phi, Mỹ La-tinh.

Đặc biệt, có cả những người bạn đến từ phía bên kia của cuộc chiến, những người bạn Mỹ chấp nhận mang tội phản bội Tổ quốc để ủng hộ Việt Nam. Đó là cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Rem-xi Cờ-lác (Ramsey Clark), người từng trừng phạt những người Mỹ vì tội hoạt động chống chiến tranh, để rồi cuối cùng, khi biết những sự thật kinh hoàng mà Mỹ đã gây ra cho Việt Nam trong cuộc chiến, bất bình vì sự lừa dối của chính phủ đối với nhân dân Mỹ, ông lại tham gia vào những hoạt động phản đối chiến tranh. Đó là bà Mơn Rát-nơ (Merle E. Ratner), người phụ nữ bé nhỏ từng tham gia phong trào phản chiến ở Mỹ khi mới 13 tuổi. Bà nổi tiếng với hành động dũng cảm dám leo lên tượng Nữ thần Tự do để phất lá cờ của Việt Nam… Tại cuộc giao lưu, bà Mơn Rát-nơ đã hát lại bài hát quen thuộc năm nào, bài hát cổ vũ Việt Nam mà bà và những người bạn từng hát vang khi sát cánh với nhau tham gia phong trào phản chiến.

Trong số những người bạn quốc tế tới thăm Việt Nam vào dịp này, có 11 người từng bị bắt giam vì các hành động phản chiến hoặc ủng hộ Việt Nam ở nước mình. Ông Rê-na-tô Đa-xi (Renato Darsie), thủ lĩnh của phong trào ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ và đàm phán ở Pa-ri tại I-ta-li-a, là một trong số đó. Năm lần bị bắt vì tham gia biểu tình chống chiến tranh, vì hiến máu gửi tới Việt Nam… ông không hề nhụt chí. Ông kể, ở I-ta-li-a từng có phong trào hiến máu gửi tặng Việt Nam. Nhiều người cộng sản I-ta-li-a đã sang Nam Tư để hiến máu, rồi từ đó gửi sang Việt Nam, vì một số nơi ở I-ta-li-a không cho phép hành động này. Những người ủng hộ Việt Nam ở I-ta-li-a như ông Đa-xi còn tham gia hoạt động chặn không cho Mỹ chất hàng lên tàu trong những lần tàu Mỹ cập cảng ở I-ta-li-a để tiếp tế cho hành động chiến tranh ở Việt Nam… Khi nghe tin chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II của Mỹ tàn phá các bệnh viện ở Hà Nội, ông đã cùng những người I-ta-li-a phản chiến đã phát động phong trào quyên góp gửi quà sang ủng hộ Việt Nam.

“Phản ứng từ trái tim”

Tại buổi giao lưu, các đại biểu đã kể về những tấm gương xả thân, quên mình, thậm chí hy sinh tính mạng vì phong trào phản chiến, vì Việt Nam. Đó là 11 người Mỹ đã tự thiêu để buộc chính phủ Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam. Trong số họ có cậu thanh niên mới chỉ 20 tuổi, cũng có cụ già đã 80 tuổi. Đó là những người phụ nữ Mỹ đã tự xích tay mình vào hàng rào ở Nhà Trắng cho tới khi nào chính quyền thôi đàn áp những người phản đối chiến tranh…

Các hành động phản chiến mạnh mẽ theo nhiều cách khác nhau của những “chiến sĩ”, của các phong trào và tổ chức trên mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đã tạo nên sức ép dư luận to lớn, buộc chính quyền Mỹ phải có những nhượng bộ ở bàn đàm phán Pa-ri, chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam. Phong trào lan rộng khắp thế giới cũng góp phần buộc các chính phủ phải thay đổi thái độ và có cánh nhìn đúng đắn hơn đối với cuộc chiến ở Việt Nam.

Những người bạn Việt Nam có chung cách giải thích cho các hành động phản chiến quyết liệt của mình. Đó là lòng yêu chuộng hòa bình. Nhưng trên hết, đó là sự bất bình trước cuộc chiến phi nghĩa và đẫm máu cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người. Như lý giải của ông An-đrê Men-rát (Andre Menras) người Pháp thì đó chính là “phản ứng từ trái tim”. “Tôi cũng tự hỏi vì sao mình không thể tự kiềm chế. Hằng ngày chứng kiến cảnh tượng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, lại là một thầy giáo giảng dạy về tự do, bình đẳng, bác ái… làm sao chúng tôi chịu được. Điều đó thôi thúc chúng tôi phải chống lại chiến tranh. Đó là phản ứng từ trái tim vì lúc đó tôi chưa hiểu nhiều về chính trị”, ông Men-rát chia sẻ. Ông Men-rát từng là thầy giáo người Pháp ở miền Nam Việt Nam thời ngụy quyền. Ông chính là người đã “liều lĩnh” leo lên đầu tượng đài hai tên lính thủy đánh bộ trước trụ sở quốc hội chính quyền ngụy Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Câu chuyện của cựu du kích quân Ca-ra-cát Các-lốt Rây Gô-mết (Carlos Rey Gomez), thành viên nhóm du kích Vê-nê-xu-ê-la tham gia vụ bắt cóc sĩ quan Mỹ Mai-cơn Xmo-len (Michael Smolen) để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi bị chính quyền ngụy bắt giữ, đã gây nhiều thu hút. Ông kể thời đó, những du kích quân Ca-ra-cát hành động táo bạo như vậy nhằm để bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam, với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Những tấm gương điển hình trong phong trào phản chiến ấy, những hành động ủng hộ hết mình vì Việt Nam ấy càng chứng tỏ “cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là lương tri của loài người, là trái tim của nhân loại” như bà Xa-ra Lít-man, một nữ văn sĩ người Thụy Điển đã đúc kết. Điều đó cũng lý giải cho lời đánh giá của ai đó rằng, “cuộc chiến ở Việt Nam đã làm thức tỉnh lương tri thế giới”.

Tại buổi giao lưu, các cựu thành viên đoàn đàm phán của ta ở Pa-ri có dịp gặp lại những người bạn Pháp đã trực tiếp giúp đỡ phái đoàn tận tình trong những năm tháng đấu tranh trên mặt trận cam go ở Pa-ri. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời không giấu được xúc động khi gặp lại người lái xe cho mình năm xưa – một đồng chí Pháp đã tận tình phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT ở Verriere-le-Buisson. Cả những người bạn Pháp từ Choisy-le-Roi, thị trấn nơi đoàn đàm phán VNDCCH từng ở và đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của họ cũng có mặt. Chính sự giúp đỡ về hậu cần của những người bạn Pháp cho hai đoàn ta cùng với phong trào Việt kiều yêu nước, phong trào phản chiến, ủng hộ trên khắp nước Pháp, đã tạo thành “hậu phương” vững chắc cho hai đoàn đàm phán ta đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Pa-ri.

Mãi mãi khắc ghi tấm lòng bè bạn

Tấm lòng của bè bạn năm châu chính là nguồn cổ vũ, tạo sức mạnh tinh thần to lớn đối với Việt Nam đang trong cuộc đấu tranh chống xâm lược để đi tới thắng lợi cuối cùng. Nhiều người trong số họ từng ủng hộ Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, nay lại tiếp tục tích cực hoạt động ủng hộ Việt Nam trong thời bình và tham gia các hoạt động thúc đẩy tình hữu nghị, phát triển mối quan hệ, khắc phục hậu quả chiến tranh… Tại buổi giao lưu, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri đã bày tỏ xúc động khi được nghe những câu chuyện từ chính những người bạn của Việt Nam trực tiếp kể lại, dù trước đó bà đã nghe đâu đó nhiều lần. Bà khẳng định, Việt Nam luôn đánh giá phong trào đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng góp phần vào thắng lợi của Việt Nam. Bà thay mặt nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn các bạn bè quốc tế, nhấn mạnh Việt Nam mãi mãi khắc ghi những gì mà họ đã dành cho Việt Nam.

Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng khẳng định, cuộc giao lưu hôm nay chỉ là một hoạt động tri ân rất nhỏ so với những gì mà Việt Nam muốn nói với hàng triệu nhân dân trên thế giới – những người đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn lao. Sẽ còn ngàn vạn lời tri ân từ hàng triệu trái tim của người dân Việt Nam gửi tới những bạn bè quốc tế. Phần ân tình đã nhận được trong những năm tháng đấu tranh vì độc lập dân tộc, Việt Nam luôn sẽ mãi khắc ghi trong những năm xây dựng và phát triển đất nước sau này.

Ông I-ra-cơ-li-xơ Xáp-đa-ri-đi-xơ (Iraklis Tsavdaridis), Thư ký thường trực Hội đồng Hòa bình Thế giới:

Nguồn cổ vũ cho phong trào đấu tranh thế giới

Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam được nhân dân thế giới ủng hộ vì đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa vì công lý. Cuộc đấu tranh của các bạn đã trở thành điểm hội tụ của tình đoàn kết quốc tế và hữu nghị giữa các dân tộc. Chiến thắng của Việt Nam cũng trở thành chiến thắng của nhân dân các nước, là nguồn cổ vũ động viên lớn lao với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân nhiều nước tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh.

Ông Ép-ghê-ni Pa-vơ-lô-vích Gla-du-nốp, nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt (Evgheni Pavlovich Glaxunov):

Thắng lợi của loài người tiến bộ

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi của toàn thể loài người tiến bộ. Nhiều hoạt động kỷ niệm nhân ngày ký Hiệp định Pa-ri sẽ góp phần giáo dục và tuyên truyền rộng rãi cho các thế hệ trẻ ngày nay hiểu biết về cuộc chiến đấu của cha ông bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc.

Bà Gien-ni Mi-rơ (Jeanne Mirer), Chủ tịch Hiệp hội Luật sư dân chủ quốc tế:

Luôn sát cánh cùng Việt Nam!

Nhiều luật sư của chúng tôi đã trực tiếp biểu tình chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam và nhiều người cũng đã bị bắt giam. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi từ bỏ mà ngược lại, chúng tôi vẫn luôn sát cánh ủng hộ nhân dân và chính phủ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và ngày nay, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục sát cánh với các bạn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

HẠNH – TOÀN – THƯ
qdnd.vn

Người lái xe tận tụy của “Nữ hoàng Việt cộng”

QĐND – Ông là Mi-sen Xtra-si-ne-xquy (Michel Strachinescu), người lái xe cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời (CPCMLT) tại Hội nghị Pa-ri. Chúng tôi đã tìm gặp Mi-sen khi ông vừa tới Hà Nội, với tư cách là khách mời quốc tế nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri.

Công việc ủng hộ chính nghĩa

Ông hồ hởi kể về những người đồng chí Việt Nam, về công việc ông đã làm trong suốt 3 năm phục vụ đoàn CPCMLT. Câu chuyện diễn ra nhiều chục năm về trước mà cách kể nhiệt tình, sôi nổi của ông như thể mới chỉ vừa diễn ra. Bởi đó là những ký ức ông không thể nào quên. Ông vui vẻ nói: “Bà Bình đúng là một “nữ hoàng”, một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi rất kính trọng!”.

Mi-sen mô tả lại cuộc đối đáp giữa người phát ngôn Lý Văn Sáu và tay nhà báo Mỹ. Ảnh: Mai Nguyên

Hồi đó, báo chí tại Pa-ri đã phong tặng bà danh hiệu “Nữ hoàng Việt cộng” với hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam, mang bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quật khởi của người miền Nam. Sự xuất hiện của bà đã đập tan những luận điệu xuyên tạc của đối phương về những người chiến sĩ cộng sản Việt Nam thời ấy. Bà Bình thường hỏi chuyện ông bằng tiếng Pháp với âm điệu rất chuẩn xác, chủ yếu hỏi thăm gia đình và con cái ông ở nhà ra sao. Trong suốt 3 năm (từ năm 1970 đến 1973), vì nhà xa không thể đi về thường xuyên, ông đã để lại gia đình, vợ con để tới Verriere-le-Buisson phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT.

Tuy được giao nhiệm vụ trực tiếp lái xe phục vụ bà Nguyễn Thị Bình, nhưng nhiều lúc ông cũng lái xe cho các đồng chí khác, trong đó có đồng chí Lý Văn Sáu, người phát ngôn của đoàn CPCMLT. Đang nói chuyện, bỗng Mi-sen đứng bật dậy, làm điệu bộ chỉ tay và quay người. Thì ra ông đang mô tả cuộc đối đáp của ông Lý Văn Sáu với một tay nhà báo Mỹ, người đã giơ tấm bản đồ và hỏi vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam ở đâu tại một cuộc họp báo. Mi-sen còn nhớ khi đó, ông Lý Văn Sáu đã đáp rằng, “máy bay Mỹ ném bom nơi nào ở miền Nam Việt Nam thì những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi”. Mi-sen kể ông đã được người phát ngôn Lý Văn Sáu giải thích cho rất nhiều về ý nghĩa cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, từ lúc ban đầu chỉ biết qua báo chí, dần dần ông đã hiểu hơn về cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam.

Khi mới được bộ phận chuyên trách của Đảng Cộng sản Pháp đề xuất giao nhiệm vụ lái xe phục vụ đoàn CPCMLT, ông thực sự vẫn còn mơ hồ về công việc mình sẽ làm. Khi ấy, Mi-sen là một đảng viên trẻ, mới 24 tuổi của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng càng tiếp xúc lâu và gần gũi với những đồng chí Việt Nam, với công việc của đoàn đàm phán, ông Mi-sen càng hiểu hơn những gì mình đang làm là một nhiệm vụ chính trị, chứ không chỉ là công việc đơn thuần. Ông hiểu đó là công việc vì chính nghĩa, giúp đỡ một đất nước chống lại chiến tranh xâm lược.

Bức ảnh chụp bà Nguyễn Thị Bình mà ông Mi-sen lưu giữ. Ảnh tư liệu

“Nếu là công việc thì sẽ bắt đầu lúc 8 giờ và kết thúc vào 17 giờ. Còn chúng tôi làm việc bất kể giờ giấc, có lúc chờ đoàn họp xong đến 2, 3 giờ đêm là chuyện bình thường”, ông kể lại. Nhiệm vụ cũng khá căng thẳng vì ngoài việc lái xe, ông còn kiêm luôn nhiệm vụ bảo vệ cho bà Bình khi di chuyển trên đường. Ông luôn phải cảnh giác quan sát vì đề phòng phía đối phương sẽ có những hành động bất lợi, gây nguy hiểm cho các thành viên trong đoàn.

Một lần Mi-sen đang lái xe trên đường cao tốc chở đồng chí Lý Văn Sáu và một số thành viên khác trong đoàn thì phát hiện lá cờ nhỏ của CPCMLT cắm trên ô tô gãy và rơi xuống đất. Dường như có ai đó đã cố tình bẻ gãy chiếc đế cắm cờ. Khi đó, xe đã chạy được khoảng 200m rồi. Lúc ấy trong đầu Mi-sen chỉ kịp nghĩ rằng không thể để lá cờ nằm đó mà phải nhặt bằng được mang về. Vậy là bất chấp nguy hiểm, ông ra các dấu hiệu khẩn cấp, rồi dừng xe, bước xuống quay lại nhặt lá cờ trong tiếng hò hét, quát tháo của những người lái xe khác. Lúc đó họ tưởng ông bị điên vì có hành động quá nguy hiểm có thể tai nạn chết người.

Mi-sen cũng chia sẻ thật, công việc bận rộn, lại kéo dài nhiều năm nên thật sự cũng không phải dễ dàng gì cho vợ ông. “Nhưng các đồng chí Việt Nam đã tới tận nhà gặp Giắc-cơ-lin (Jacquelines) và giải thích nên cô ấy cũng rất thông cảm với công việc của chồng”, Mi-sen nhớ lại.

Bánh ga-tô chúc mừng Việt Nam

Ba năm phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT, trong ký ức Mi-sen đầy ắp những kỷ niệm đẹp với những người mà ông vẫn gọi là các “đồng chí Việt Nam”. Ông vui với niềm vui của các “đồng chí Việt Nam” mỗi lần đón đoàn đi họp về có kết quả tích cực. Và cũng buồn lây sau mỗi cuộc họp căng thẳng, mệt mỏi và kéo dài của họ. Tự tay Mi-sen đã làm một chiếc bánh ga-tô nhiều tầng kiểu Pháp để chúc mừng các đồng chí Việt Nam sau khi Hiệp định Pa-ri được ký tắt. Trên tầng cao nhất của chiếc bánh còn có hình một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Ông cũng nhớ cả người đầu bếp Việt Nam mà các ông vẫn gọi là “papa” (nghĩa là “bố”) đã nhiệt tình nấu cho các đồng chí người Pháp phục vụ đoàn thưởng thức các món ăn Việt Nam.

“Trong ngày Hiệp định Pa-ri chính thức được ký, 27-1-1973, niềm vui vỡ òa của các đồng chí Việt Nam cũng chính là niềm hạnh phúc của chúng tôi”, Mi-sen còn nhớ. Nhưng chính lúc đó, Mi-sen cũng hiểu rằng cuộc chiến ở Việt Nam còn chưa kết thúc. Vì sau khi Mỹ rút quân về nước theo Hiệp định Pa-ri thì vẫn còn lại chính quyền ngụy tay sai.

Cầm xấp ảnh tư liệu trên tay, ông đọc vanh vách tên những đồng chí Việt Nam trong đoàn mà ông có dịp chụp ảnh kỷ niệm cùng. Ông cũng trân trọng lưu giữ bức ảnh chân dung của “Nữ hoàng Việt cộng” ở Pa-ri với chữ ký tặng của bà. Sau giải phóng, năm 1976, bà Bình đã mời Mi-sen sang thăm Việt Nam để tỏ lòng cảm ơn. Đó là lần đặt chân đầu tiên của Mi-sen tới đất nước của những người “đồng chí Việt Nam” mà ông từng một thời gắn bó.

MỸ HẠNH
qdnd.vn

Những người lính thầm lặng

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Đóng góp vào thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam là những người chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho thành viên các đoàn cũng như tài liệu, địa điểm Hội nghị.

Dù hơn 40 năm đã đi qua, nhưng với ông Lê Việt Hưng, những ngày bảo vệ các đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris vẫn chưa phai mờ. Cuối tháng 4.1968, ông Lê Việt Hưng là một trong 5 đồng chí (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất) được Cục Cảnh vệ, nay là Bộ Tư lệnh cảnh vệ, Bộ Công an, giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris. Ông Lê Việt Hưng được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9.5.1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn đến Paris. Những ngày mới sang, đoàn ở khách sạn Lutestia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16, Paris, về sau để bảo đảm an toàn tuyệt đối, đoàn chuyển đến Trường Đảng Choisy Le Roi, ngoại ô Paris. Nhằm tránh sự nhòm ngó của các thế lực phản động, trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán, trường vẫn tổ chức chiêu sinh bình thường. Ông Lê Việt Hưng nhớ lại: “suốt gần 5 năm trên đất Paris, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ khi không để xảy ra sơ suất nào dù nhỏ nhất về người, về tài liệu, về địa điểm. Căn phòng của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy ở luôn được canh gác suốt ngày đêm, cùng với sự giúp sức của Đảng Cộng sản Pháp và cảnh sát Chính phủ Pháp gác vòng ngoài. Khi Trưởng đoàn Xuân Thủy và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ cần ra ngoài, lại có một lượng cảnh sát hộ tống. Tất cả chuyến đi, từ công khai đến bí mật của đoàn đàm phán đều tuyệt đối an toàn. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ không ai biết đó là nơi ở và làm việc của phái đoàn Việt Nam”.

Trong số 42 cán bộ cảnh vệ được lựa chọn đi bảo vệ tại Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã mất. Mỗi cán bộ, chiến sỹ khi đó đều nhận thức đây là một nhiệm vụ nặng nề, nhưng cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và nhân dân tin cậy giao phó, ai nấy đều quyết tâm với hết khả năng của mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông Trần Hữu Diệt, nguyên Trưởng phòng Hậu cần, Bộ Công an, thành viên Đội bảo vệ Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, kể: “Công việc của tôi lúc bấy giờ là bảo đảm an toàn cho lãnh đạo khi tiếp xúc các đoàn, trước khi ra hội trường, kiểm tra bảo quản an toàn thực phẩm… Hiểu rõ công việc của mình, chúng tôi luôn nỗ lực và cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, chủ động thực hiện tốt các phương án đấu tranh với địch trong cũng như ngoài hội nghị. Ngoài bảo đảm an toàn chính trị của 2 đoàn, các tài liệu quan trọng cũng được bảo vệ tuyệt đối. Suốt thời gian tôi và đồng đội làm nhiệm vụ, hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn diễn ra nhưng không một thông tin, một địa điểm bí mật nào bị tiết lộ”.

Cùng nhận nhiệm vụ bảo vệ đoàn tại Paris, ông Tăng Văn Soát, chia sẻ thêm: để hoàn thành nhiệm vụ, tôi luôn khắc sâu lời Bác Hồ căn dặn và xác định rõ phương châm hành động: “Khi không có địch phải coi như có địch, khi có địch phải bình tĩnh như không có địch”.

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, được xem lại các hình ảnh cũ, nhớ lại những câu chuyện năm xưa, những người từng làm công tác bảo vệ 2 đoàn đàm phán của Việt Nam như được sống lại một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Mặc dù đã cao tuổi nhưng ai cũng tâm niệm sẽ tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hương Sen
daibieunhandan.vn

Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ thực hiện chương trình phát thanh đặc biệt Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam từ 7h – 13h ngày 27.1 trên hệ VOV1. Chương trình chia làm ba phần: từ 7h-9h với chủ đề Con đường dẫn tới hòa đàm; từ 9h-11h là Đấu trí trên bàn đàm phán và từ 11h – 13h là Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp.

Chương trình nhằm giúp khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt Nam. Khách mời trong phần 1 là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng. Họ sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa, hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; Hội nghị Đà Lạt… cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris

Trong phần II, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên Đoàn; nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên Đoàn kể lại những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris; phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang…

Phần III Bài học đối thoại, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris…

VOV
daibieunhandan.vn

Sự tiếc nuối của một người Mỹ

QĐND – Có mặt trong đoàn đại biểu quốc tế được mời tới Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn (Thomas J. Gumbleton) đã chia sẻ những tâm sự với tư cách một người Mỹ từng tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở chính nước Mỹ.

Linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn. Ảnh: Mạnh Lâm

Ông Thô-mát Găm-bơ-tơn, 83 tuổi, đã tham gia phong trào chống chiến tranh tại Việt Nam từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước khi Hội đồng Giám mục Mỹ chính thức công khai đặt vấn đề nghi vấn về cuộc chiến tranh này. Ông cũng chính là người có công lớn trong việc thúc đẩy Hội đồng Giám mục Mỹ thông qua một nghị quyết lên án cuộc chiến tranh tại Việt Nam vào năm 1971. “Theo tôi, các quyền cơ bản của con người cần phải được bảo vệ. Người dân Việt Nam có khát vọng được độc lập, tự do và họ có quyền được như vậy”, ông lý giải cho hành động phản chiến của mình.

Muốn buộc chính quyền Mỹ phải dập “ngọn lửa” chiến tranh do chính mình “châm ngòi”, đòi hỏi phải có sức ép từ chính người dân Mỹ. Nhận thức điều đó, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn đã lăn lộn nhiều nơi trên khắp đất Mỹ, trình bày những bài thuyết giảng nhằm nâng cao nhận thức, thức tỉnh lương tri, kêu gọi người dân lên tiếng phản đối hành động phi nghĩa của chính quyền. Mọi chuyện hóa ra lại không hề đơn giản bởi khi ấy không phải người Mỹ nào cũng hiểu rõ vấn đề. “Có người còn la ó, phản đối, chỉ thẳng vào mặt tôi mà gọi là “đồ Cộng sản”, ông bộc bạch. Tuy nhiên, không vì thế mà ông nản lòng, bỏ cuộc bởi vì ông không hề đơn độc, sát cánh cùng ông còn có nhiều vị giám mục khác.

Việc chính quyền Ních-xơn không muốn “mất mặt” vì thua Việt Nam nên đã lật lọng, tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam vào thời điểm Giáng sinh-cái dịp đáng lẽ nhiều người dân được sum họp, vui vầy bên gia đình và người thân, đã thôi thúc ông phải tìm mọi cách đến Việt Nam càng sớm càng tốt. “Tôi muốn tìm hiểu chính quyền Mỹ thực sự đã và đang làm gì trên mảnh đất này?”, ông chia sẻ. Tuy nhiên, vào thời điểm ông có thể đến được Việt Nam thì đã là tháng 4-1973, lúc đó Hiệp định Hòa bình Pa-ri đã được ký kết. Dù vậy, ông vẫn muốn đến, bởi trên thực tế, chiến tranh chưa thực sự chấm dứt.

Trong chuyến đi 10 ngày tại Sài Gòn năm ấy, ông đã có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với một số tù nhân được chính quyền Sài Gòn phóng thích. Họ bị bắt vì phản đối chiến tranh, chống chính quyền. Họ kể cho ông về những chuồng cọp, nơi mà chính quyền ngụy Sài Gòn đã giam giữ họ. Ông cũng được gặp gỡ nhiều người dân Việt Nam khác, những con người mà theo ông là “bình dị nhưng dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh vì tự do, độc lập”. Sau khi trở về Mỹ, ông viết báo kể về những gì mắt thấy tai nghe, sự tàn khốc mà chiến tranh đã gây ra với người dân Việt Nam nhằm thúc đẩy phong trào phản chiến.

Nói về cuộc chiến tranh Việt Nam, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn thẳng thắn thừa nhận, trên thực tế, Mỹ không có quyền can thiệp quân sự vì Việt Nam đã là một quốc gia độc lập từ năm 1945. “Chính quyền miền Bắc Việt Nam muốn một Việt Nam độc lập, thống nhất nhưng chúng tôi, nước Mỹ lại hỗ trợ đào tạo, thành lập chính quyền Sài Gòn, rồi dùng bom na-pan, chất độc da cam để gây chiến ở Việt Nam”, giọng ông run lên, như tự trách mình.“Chúng tôi đã sai lầm”, ông nhấn mạnh, “và kết quả là phải nếm mùi thất bại nặng nề”.

Vị linh mục Mỹ vẫn còn nhớ như in một thước phim tài liệu ông đã xem, trong đó Cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara), tại một cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam hồi những năm 80 của thế kỷ trước, thừa nhận cuộc chiến tranh tại Việt Nam là một sai lầm khủng khiếp của Mỹ. “Tiếc là ông ấy nhận ra điều đó quá muộn bởi hơn hai triệu người đã thiệt mạng và hàng triệu người khác mất nhà cửa vì cái sai lầm khủng khiếp ấy”, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn tiếc nuối.

LÂM TOÀN
qdnd.vn

Nỗ lực tạo bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ *

Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Pa-ri về Việt Nam

QĐND – Ngày 27N-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Pa -ri) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Pa -ri – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa -ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa -ri là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27-1-1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Giơ -ne-vơ 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Hiệp định Pa -ri có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Pa -ri còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Những bài học quý giá

Hội nghị Pa -ri để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Pa -ri một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pa -ri, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Pa -ri, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Pa -ri thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa -ri, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Pa -ri là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa-ri, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“,không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trịk, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Pa -ri, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Pa -ri được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sĩ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pa -ri, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Pa -ri, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Pa -ri, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

PHẠM BÌNH MINH
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
qdnd.vn

* Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

Cuộc đấu trí hơn 1.700 ngày

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris:

(Chinhphu.vn) – Bà Nguyễn Thị Bình, người 40 năm về trước giữ trọng trách Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán Hiệp định Paris cho biết đó là vinh dự lớn với bà vì được tham gia “cuộc đấu tranh đặt biệt vì độc lập dân tộc ở xứ người”, cuộc đấu trí hơn 1.700 ngày.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (người đứng giữa) tại Triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris khai mạc ngày 23/1/2013 tại Hà Nội. Ảnh: VGP/Bảo Minh

Dành cho phóng viên Báo điện tử Chính phủ những chia sẻ về các sự kiện liên quan đến Hiệp định Paris, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước nói ngoại giao có những kiến thức ngoại giao và nghệ thuật ngoại giao, nhưng vận dụng lập trường như thế nào trong đấu tranh ngoại giao mới là điều căn bản, là cái gốc.

Hội nghị Paris diễn ra trong 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, tức khoảng 1.718 ngày, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973.

Thực tế cho thấy trong cuộc đàm phán ở Paris, chúng ta đã tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao rất bài bản.

Bà Nguyễn Thị Bình kể lại, lúc đầu nhiều người nghĩ rằng cuộc đàm phán chỉ kéo dài độ một hai năm, nhưng thực tế lại tới gần 5 năm. Trong đàm phán cũng có lúc lập trường hai bên không gặp nhau. Đoàn ta luôn giữ vững quan điểm Mỹ xâm lược Việt Nam nên Mỹ phải chấm dứt xâm lược và rút quân.

Ngoài việc tham gia 174 phiên họp công khai, 50 phiên họp kín và khoảng 1.000 cuộc họp báo, đoàn Việt Nam còn đi nhiều nơi để tuyên truyền về cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình.

Đề cập đến thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề lập trường của ta vừa “hết sức là kiên định nhưng đồng thời cũng có lúc mềm dẻo”. Bây giờ 40 năm nhìn lại, bạn bè của chúng ta cũng rất khâm phục nhân dân Việt Nam, một nước nhỏ, yếu đã chiến thắng đế quốc sừng sỏ.

Một trong những nguyên nhân của thắng lợi là chúng ta có đường lối đúng đắn và đã tiến hành đấu tranh hết sức tài tình. Trong đàm phán, bất ngờ cũng là một yếu tố rất quan trọng. Chúng ta có nhiều cuộc “tấn công” ngoại giao lớn như Giải pháp toàn bộ 10 điểmSáng kiến hòa bình 9 điểm, Đề nghị 8 điểm, Sáng kiến mới gồm 7 điểm… Tất cả những đòn tấn công ấy đều khiến đối phương bị bất ngờ khi ta đưa ra các giải pháp, sáng kiến tại các cuộc họp.

Có lẽ phía Mỹ cũng không tính được hết những thuận lợi của ta khi chọn Paris là địa điểm đàm phán. Paris không chỉ là trung tâm thông tin quốc tế lớn để từ đó chúng ta có thể khiến thế giới chú ý và hiểu được cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta mà ở Paris, các tầng lớp nhân dân Pháp, đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp đã tích cực ủng hộ chúng ta. Hơn nữa, ở Paris còn có phong trào kiều bào rất mạnh. Kiều bào ta đã ủng hộ các hoạt động của đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris cả về tinh thần và vật chất. Những yếu tố này cũng góp phần vào thắng lợi trên bàm đàm phán.

Bà Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh thắng lợi của chúng ta trước hết là tinh thần đoàn kết. Chúng ta đã phát huy được thắng lợi của chiến trường trên mặt trận ngoại giao, từ đó đi đến việc ký kết hiệp định kết thúc sự can thiệp của Mỹ, kết thúc chiến tranh.

Phía sau bàn đàm phán

Các bạn nước ngoài khi ấy không thể biết rõ về điều kiện làm việc của đoàn Việt Nam và rất muốn chụp ảnh nơi ăn chốn ở của đoàn ta. Bà Nguyễn Thị Bình cho biết “về sinh hoạt, nhìn bề ngoài ai cũng đi đứng oai phong, đĩnh đạc nhưng thực ra chúng tôi rất tiết kiệm. Lúc bấy giờ mỗi thành viên của đoàn được 1 franc/ngày tiền ăn, mức ăn như vậy là rất khá. Ai cũng thấy rằng mình còn sung sướng hơn các đồng chí ở nhà. Điều đó khiến ai trong đoàn cũng luôn tâm niệm phải làm hết sức mình, phải đóng góp cho công việc chung nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Về nơi ở, mỗi phòng gác mái (mansarde, giống nhà kho) kê 2 giường đơn (giống giường trong bệnh viện). Khi trời rét, bên ngoài tuyết rơi dày nhưng trong phòng thì quá nóng vì hơi nóng trong nhà đều đi lên chỗ nhà kho đó”.

Bà từng phải từ chối khéo phóng viên nước ngoài khi họ muốn quay phim nơi Trưởng đoàn làm việc và nghỉ ngơi (ở nhà riêng) với lý do “ở Việt Nam có tục lệ không cho phép người nước ngoài vào phòng của phụ nữ”…

Nghĩ về hòa bình và sự phát triển của đất nước hôm nay, nghĩ về những ngày tháng không thể nào quên 40 năm về trước, bà Nguyễn Thị Bình muốn gửi đến thế hệ mai sau lời nhắn nhủ mỗi người hãy góp công gìn giữ những trang sử anh hùng của dân tộc./.

Hải Minh
chinhphu.vn

Báo chí phương Tây với Madam Bình

(Chinhphu.vn) – 40 năm trước, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết sau 4 năm đàm phán. Trong khoảng thời gian đó, một nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ là bà Nguyễn Thị Bình, được gọi thân mật là Madam Bình.

2 giờ chiều ngày 2/11/1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Nguyễn Thị Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Máy ảnh chớp lia lịa.

Ấn tượng đầu tiên

Bước vào phòng khách danh dự, bà cố gắng nói to, dõng dạc 5 điểm giải pháp của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân, chị gái bà Bình), dịch rõ ràng mạch lạc.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trả lời báo chí tại Paris – Ảnh tư liệu

Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi xung quanh vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng, phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp Madam Bình ở Paris”; “Madam Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Madam Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”.

Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở, có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của “đoàn Việt cộng”, nhất là ảnh Madam Bình ở biệt thự Thévent.

Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 ở tỉnh Sa Đéc, Nam Bộ, là cháu ngoại chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1948, hoạt động chống Pháp ở Sài Gòn, lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1961, làm công tác đối ngoại của Ủy ban thống nhất tại Hà Nội, đổi tên là Nguyễn Thị Bình để bảo đảm bí mật.

Thân sinh làm trắc địa ở Campuchia, đưa cả gia đình sang sống ở Phnompenh. Vì vậy, Nguyễn Châu Sa học trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia nên rất thông thạo tiếng Pháp, lại có khuôn mặt xinh tươi, vóc dáng thon thả, hợp với nghề ngoại giao. Suốt 14 năm làm công tác ngoại giao, Bà đã tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng ở các nước châu Âu, trong đó có 5 năm là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Ba ngày sau (5/11/1968), đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo đầu tiên được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý nhiều đến Đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn 1 tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, Madam Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu trực diện.

Ngày 25/1/1969, cuộc đàm phán về Hiệp định Paris chính thức bắt đầu. Lúc đó, trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm, bà Bình và ông Trần Hoài Nam là phó đoàn. Từ phiên họp thứ 21, bà Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, làm trưởng đoàn (thay ông Trần Bửu Kiếm).

Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4/1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”.

Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…”.

Cuối tháng 4/1969, bà Bình về Hà Nội nhận chỉ thị mới và thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần bà gặp cha và Bác cuối cùng.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường

Ngoài việc chuẩn bị cho các phiên họp chính vào thứ Năm hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Lễ ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973 – Ảnh tư liệu

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30/12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26/12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21/1/1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Ngày 27/1/1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận. Họ tung hô Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ! Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn Ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29/1/1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó.

Phan Thu Hương
chinhphu.vn

Tình báo tồi và ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

QĐND – Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng một nụ cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn