Thư viện

Kể chuyện Hà Nội năm 1972 bằng phế liệu chiến tranh

(VOV) – Đó là kỷ vật trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” được trưng bày tại triển lãm “Tôi kể chuyện này” khai mạc sáng 03/12.

Nhân kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12) và 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân Thủ Đô, Báo Hà Nội Mới cùng nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến – nguyên là phóng viên Ban Phóng sự – Điều tra của báo này đã phối hợp tổ chức triển lãm mang tên “Tôi kể chuyện này”.

Triển lãm đã khai mạc vào sáng 3/12 với sự tham dự của đông đảo người cao tuổi từng là nhân chứng của một thời đạn bom cũng như của rất nhiều người quan tâm tới thông điệp được truyền tải.

Một góc trưng bày trong triển lãm

52 hiện vật được trưng bày trong triển lãm nhằm gợi nhớ lại những chiến thắng hào hùng của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của thế kỷ XX. Bên cạnh đó, đây còn là những vật chứng cho 12 ngày đêm cuối năm 1972, khi đế quốc Mỹ đánh phá Thủ Đô với siêu pháo đài bay B52, gây ra thiệt hại nặng nề cũng như bao mất mát đau thương cho những mạng người vô tội.

Những hiện vật đã được nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến tìm kiếm, sưu tầm suốt nhiều năm qua. Điều đặc biệt là tất cả các hiện vật đều được làm từ phế liệu chiến tranh, và tất cả cùng quân trang, quân dụng đều được “chế tác” lại thành đồ sinh hoạt hàng ngày.  Trong đó, có những đồ vật được làm bằng xác xe tăng của Pháp bị bắn cháy tại Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng nhiều nhất vẫn là những đồ được làm trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

“Tôi kể chuyện này” cũng là triển lãm đầu tiên về các đồ dùng hàng ngày được bộ đội, người dân Việt Nam chế tác từ vũ khí kẻ thù để phục vụ cho  đời sống thường nhật. Những đồ vật quen thuộc với sinh hoạt người dân Việt Nam như bàn ghế, chiếc điếu cày, gạt tàn, đèn dầu, đôi dép, cho đến những vật trang trí thông thường như lọ cắm hoa, hay thậm chí cả nhạc cụ như chiếc đàn nhị,…tất cả đều được “biến hóa” đầy khéo léo từ vũ khí như ống pháo sáng, lựu đạn, hay xác máy bay…

Vì thế, đây cũng là cách tôn vinh vẻ đẹp của sự sáng tạo của người Việt, hơn nữa, còn là niềm tin, niềm lạc quan vào chiến thắng và mong muốn hòa bình của một thế hệ sẵn sàng đứng lên đấu tranh trước bom đạn kẻ thù. Như cách mà nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến đã nói, đấy là sự “hóa kiếp” của một thời kỳ, khi khắc phục mọi khó khăn trong cuộc sống không yên bình ngày ấy bằng chính những vũ khí hủy diệt.

Triển lãm sẽ kéo dài đến ngày 8/12 tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài./.

Hình ảnh một số hiện vật được trưng bày trong triển lãm:

Bộ bàn ghế cùng chiếc điếu cày được làm từ vỏ máy bay B52 bị bắn rơi tại làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Hoàng Hoa Thám vào tháng 12 năm 1972

Chậu đồng được chế tác từ vỏ đạn pháo 130mm

Sáng tạo, biến mũ sắt thành cối giã vừng, giã cua, thậm chí là giã bánh dầy

Chiếc đèn ngủ với hoa văn đẹp mắt, làm bằng vỏ đạn pháo

Hòm đạn pháo được người dân và sinh viên đại học dùng làm hòm đựng quần áo

Dép cao su làm từ lốp xe ô tô vận tải quân sự

Chiếc kẻng báo giờ được làm bằng quả bom nặng 120kg

Biến tấu vỏ đạn, bom thành lọ cắm hoa

Lược làm từ xác máy bay B52

Vũ khí cũng có thể được dùng làm vật liệu để chế tạo nhạc cụ, như chiếc đàn nhị này

Thu Linh/VOV online
vov.vn

Hội thảo khoa học về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

(VOV) – Các tham luận khẳng định, Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sáng 28/11, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, Ủy ban nhân dân TP Hà Nội phối hợp tổ chức Hội thảo Khoa học “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”- Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam.

Tại hội thảo, các tham luận đều khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Đây là trận tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris.

Với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, góp phần thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho cuộc kháng chiến của ta.

Các tham luận tại hội thảo cũng nhấn mạnh: Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là đỉnh cao của cuộc đụng đầu lịch sử giữa lực lượng phòng không, không quân nhân dân Việt Nam với lực lượng Không quân chiến lược Mỹ.

Đây là chiến thắng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, của đường lối chiến tranh nhân dân và thế trận phòng không nhân dân.

Đại tá – PGS.TS Trần Ngọc Long – Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam khẳng định: “Nếu xét về phương tiện, trang bị vũ khí, không quân Mỹ hiện đại hơn rất nhiều, tính năng kĩ thuật của B52 tốt hơn rất nhiều. Nhưng rõ ràng chúng ta đã chiến thắng bằng ý chí, bản lĩnh và trí tuệ. Trước sức ép ghê gớm của không quân Mỹ nhưng chúng ta rất bình tĩnh, xây dựng phương án phòng tránh đánh trả rất hiệu quả. Bộ đội phòng không không quân, quân dân Hà Nội đã có sáng tạo tuyệt vời trong việc hoàn thiện cách đánh và trong vấn đề cải tiến vũ khí kĩ thuật để chống lại hệ sóng gây nhiễu điện tử của B52, đấy là một sáng tạo lớn”.

Cũng tại hội thảo, các đại biểu tập trung làm rõ nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm và vận dụng, phát huy hiệu quả những kinh nghiệm đó trong công cuộc đổi mới, phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Huyền Châm/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Hà Nội ngày ấy và bây giờ

Cách đây đúng 40 năm, vào những ngày cuối tháng 12 năm 1972, cả Hà Nội phải oằn mình chống đỡ những trận bom oanh tạc đáng sợ chủ yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B.52 mang mật danh Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (LinebackerII) của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta. Song bằng ý kiến kiên cường, lòng yêu nước sắt son và bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam, quân và dân Hà Nội đã làm nên chiến thắng lẫy lừng: Đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, góp phần tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hà Nội ngày ấy…

Ngay từ đầu Xuân 1968, Bác Hồ đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đúng như dự đoán của Bác, trước những thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường ở miền Nam Việt Nam, để cứu vãn tình thế cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ khỏi nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, ngày 17-12-1972, Tổng thống Ních-xơn chính thức ra lệnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc Việt Nam với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II)” bằng B.52 sẽ bắt đầu vào 7 giờ sáng ngày 18-12-1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18-12-1972).

B.52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Boeing sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16-4-1952 nên được gọi B.52. Sau 20 năm, năm 1972, B.52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B.52A đến B.52G, B.52H. Mỗi chiếc B.52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12 năm 1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Mỗi B.52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B.52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài từ 40km đến 70km, dày khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B.52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 với âm mưu nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của chúng; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế – quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới.

Nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Hà Nội đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về chiến dịch, chiến thuật, lực lượng và bước vào cuộc chiến đấu không khoan nhượng suốt 12 ngày đêm với lũ “giặc trời” – B.52 của đế quốc Mỹ.

Từ 19 giờ 20 phút đến 20 giờ 18 phút ngày 18-12-1972, nhiều tốp máy bay B.52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm… Cuộc chiến đấu ác liệt của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Hà Nội bắt đầu, mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không“. Đúng 20 giờ 18 phút, Tiểu đoàn 59 Trung đoàn Tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn từ cự ly thích hợp hạ ngay 1 máy bay B.52 (máy bay rơi xuống cánh đồng thuộc Phủ Lỗ và Đông Xuân, giữa tỉnh Vĩnh Phú và Hà Nội, cách trận địa gần 10 km). Đây là chiếc máy bay B.52-G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Hn a1Hàng ngàn lượt máy bay đã thay nhau trút bom xuống Hà Nội.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a2Những hố bom trên mặt đất. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trong 12 ngày đêm lịch sử cuối tháng chạp năm 1972 (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972), không quân Mỹ đã sử dụng tới hàng chục ngàn tấn bom rải thảm nhằm “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”. Đây là chiến dịch ném bom dữ dội nhất, man rợ nhất trong chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích đường không có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới. Những gì mà Hà Nội đã phải gánh chịu trong suốt 12 ngày đêm ấy đã tố cáo tội ác tày trời của đế quốc Mỹ. Tờ báo lớn nhất của Anh, The Daily Mirror, bình luận: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”. Thủ tướng Thụy Điển đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống lại loài người trên qui mô đạo đức của sự tàn bạo của phát xít tại Trại Tập trung Treblinka.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B.52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hơn 100 ngàn tấn bom đạn. Chúng đã huỷ diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Riêng Hà Nội phải hứng chịu 4 vạn tấn bom của địch, với 67 xã ngoại thành, 39 phố nội thành, 7 ga xe lửa, 4 cầu, 4 bến phà và Đài Tiếng nói Việt Nam bị oanh tạc. Trung bình mỗi đêm kẻ địch đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B.52, cao điểm lên đến 100 lượt B.52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội mỗi đêm có 200 – 300 máy bay. Phố Khâm Thiên, một khu vực có mật độ dân số đông nhất Hà Nội, đã bị bom B.52 tàn phá cả chiều dài trên 1 km, gần 2000 ngôi nhà, đền chùa, trường học, trạm xá bị phá sập, 287 người chết, 290 người bị thương, có gia đình 6 người ngồi trong hầm chết toàn bộ. Cùng với Khâm Thiên, máy bay B.52 của Mỹ còn rải bom xuống hơn 100 điểm dân cư trong thành phố (Bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ, An Dương…) làm hơn 1.000 người bị thương vong.

Hn a3Phố Khâm Thiên tan hoang sau khi bị máy bay B.52
ném bom huỷ diệt ngày 26-12-1972.
(Ảnh tư liệu – Internet)

12 ngày đêm kinh hoàng, biết bao người dân vô tội đã bị chết oan dưới bom đạn kẻ thù, biết bao chiến sĩ đã ngã xuống để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, biết bao nước mắt đã đổ vì đau thương mất mát. Song vượt lên tất cả, quân và dân Hà Nội đã chứng minh cho cả thế giới thấy bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh của người Hà thành nói riêng và những người con đất Việt đang mang trong mình dòng máu Lạc Hồng nói chung. B52 rải thảm Hà Nội, máu rơi, nhà đổ, “đất rung, ngói tan, gạch nát”… nhưng lòng người thì vẫn đứng vững, Thủ đô của chúng ta vẫn luôn toát lên tâm thế hào hùng. Giữa chiến tranh ác liệt, bom đạn đau thương, người ta vẫn bắt gặp một Hà Nội lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống qua những hình ảnh đời thường như một đám cưới giản dị chỉ ít ngày sau trận B52; hình ảnh các thanh niên đàn hát bên chút bánh kẹo thay cho cỗ cưới; hình ảnh người Hà Nội đi chợ Tết… Tất cả đều cho thấy tinh thần lạc quan phơi phới, tin tưởng vào tương lai của những người Hà Nội trong lửa đạn khốc liệt. Đó là một trong những sức mạnh tinh thần thôi thúc người Hà thành vững tay súng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược.

HN a4Dù ăn ngủ cùng những trận bom bất ngờ nhưng người Hà Nội vẫn rất lạc quan. Người dân chuẩn bị ăn Tết năm 1972 trước thời điểm sơ tán. (Ảnh tư liệu – Internet)

HN a5Ba tuần sau đợt 12 ngày đêm B52 trải thảm, đám cưới của phóng viên ảnh
Thông tấn xã Việt Nam chỉ có kẹo, hoa đồng tiền và bánh mừng
chiến thắng và chờ Hiệp định Paris. (Ảnh tư liệu – Internet)

HN a6Các lớp học ở ngoại thành năm 1972 vẫn diễn ra. Học sinh để sẵn mũ rơm trên bàn để sẵn sàng chạy mỗi khi máy bay Mỹ thả bom. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử “Siêu pháo đài Bay B.52” thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Cụ thể, có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, gồm: 34 chiếc B.52, 5 chiếc F.111A, 21 chiếc F4CE, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7, 1 chiếc F105D, 2 chiếc RA5C, 1 chiếc trực thăng HH53, 1 chiếc trinh sát không người lái 147SC. Phía Mỹ còn phải chịu tổn thất không bù đắp được là mất rất nhiều phi công. Chỉ hơn 10 ngày, không quân Hoa Kỳ đã mất hàng trăm phi công, hầu hết là những phi công kỳ cựu, đã bay hàng nghìn giờ, là nguồn nhân lực tác chiến bậc cao của quân đội Mỹ. Tướng Gioóc Ết-tơ, Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, đã từng thú nhận trên Tạp chí Không lực Hoa kỳ rằng, “Tổn thất về máy bay chiến lược B.52 cùng các nhân viên phi hành là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc”.

Hn a7Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a8Cô gái làng hoa Ngọc Hà và xác vụn B52 phía sau.

(Ảnh tư liệu – Internet)

Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7h sáng ngày 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Ngày 27-01-1973 Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

Quân dân Hà Nội đã thực hiện được lời kêu gọi đầy quyết tâm của Bác Hồ kính yêu: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

HN a9Thành ủy, Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội dự lễ mừng công, trao thưởng
cho các Sư đoàn và các Trung đoàn tên lửa lập công xuất sắc
trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. (Ảnh tư liệu – Internet)

… và Hà Nội bây giờ

Cuộc chiến đã lùi xa 4 thập kỷ, Hà Nội ngày nay đã thay áo mới và đang trên đà phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế. Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quân dân Hà Nội đang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, hào khí và tài hoa vươn lên vượt mọi khó khăn., thử thách giành được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Năm 1999, Hà Nội được UNESCO công nhận danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”; được bạn bè quốc tế khâm phục và đặt cho cái tên thân yêu “Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người”. Đồng thời, với những thành tích to lớn trong 2 cuộc kháng chiến và trong xây dựng hòa bình, đặc biệt là chiến công rực rỡ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhân dịp kỷ niệm 990 năm ngày Vua Lý Thái Tổ rời đô về đất Thăng Long, Hà Nội đã được Đảng và Chính phủ phong tặng danh hiệu “Thủ đô anh hùng”.

HN a10Những tuổi thơ không phải giật mình vì bom đạn.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a11Phố Khâm Thiên ngày nay trở thành một khu buôn bán sầm uất với nhiều cửa hàng phong phú.(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a12Vượt qua đau thương chiến tranh, Hà Nội đang từng bước phát triển vững mạnh. (Ảnh tư liệu – Internet)

Tiếng bom rơi chấm dứt đã bốn thập niên, song thắng lợi của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn vẹn nguyên giá trị lịch sử, mãi là niềm tự hào của các thế hệ hôm nay và cả mai sau. Hà Nội của hôm nay đang đầy ắp tiếng cười, trở thành thành phố Vì hòa bình trong lòng cộng đồng quốc tế. Hà Nội – Thủ đô yêu dấu ngày nay là một Hà Nội năng động, phát triển, một Hà Nội bình yên, tươi đẹp, hút hồn khách du lịch bởi vẻ đẹp nên thơ, một Hà Nội đang căng đầy sự sống. Dù trải qua và chứng kiến biết bao sự biến thiên của lịch sử, song Thăng Long – Hà Nội vẫn là “chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước”. Hà Nội luôn gương mẫu, làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta”, nên “Thủ đô ta” phải phấn đấu để: “Thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Thăng Long – Hà Nội, kinh đô của nước Đại Việt xưa, Thủ đô của nước Việt Nam ngày nay đang và sẽ phát triển thành một thành phố văn minh – thanh lịch – hiện đại, có khoa học và công nghệ tiên tiến, có nền kinh tế – văn hóa và xã hội phát triển.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Gần 500.000 bài dự thi “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) -Hầu hết bài thi thể hiện tâm huyết, tình cảm của người tham gia với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày 26/11, Thành Đoàn Hà Nội tổ chức Hội thu bài dự thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào”.

Theo Ban Tổ chức cuộc thi, tính đến ngày 26/11, Thành đoàn Hà Nội đã nhận được 489.926 bài tham gia dự thi, với thí sinh ở nhiều lứa tuổi, thành phần. Đặc biệt, thí sinh nhỏ tuổi nhất năm nay mới 7 tuổi là em Nguyễn Thị Minh Trang,  trường tiểu học Tân Mai, Hoàng Mai; thí sinh lớn tuổi nhất là bác Mai Văn Báu, 75 tuổi, hội viên Cựu chiến binh Việt Nam (quận Đống Đa).

Đại biểu tham quan các bài dự thi

Trong số các bài dự thi, Ban Tổ chức đã chọn được 1.268 bài thi có chất lượng, được trình bày công phu. Trong đó phải kể đến như: 5 mô hình của nhóm “Sáng tạo trẻ” của Học viện An ninh nhân dân; mô hình “Phòng tuyến đánh B52” của Đoàn Thanh niên khối công nghiệp Hà Nội; mô hình “Tháp tên lửa” của Bộ Tư lệnh thủ đô….

Ban Tổ chức cho biết, bài thi được thể hiện với nhiều hình thức phong phú, nội dung được chắt lọc, tìm tòi một cách công phu, thể hiện tâm huyết, tình cảm của những người tham gia với chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Cuộc thi là dịp ôn lại truyền thống vẻ vang của quân và dân ta trong chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Qua cuộc thi này, khơi dậy lòng tự hào không chỉ trong tuổi trẻ thủ đô và của tuổi trẻ cả nước. Từ đó, thế hệ trẻ thấy được trách nhiệm của mình, ra sức đóng góp công sức, trí tuệ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhiều bài thi được trình bày công phu, nội dung phong phú

Hội thu bài dự thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào” là hoạt động kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và hưởng ứng cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Cục Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân phối hợp tổ chức. Cuộc thi được phát động ngày 8/10; Dự kiến lễ trao giải sẽ được tổ chức vào dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (18-30/12)./.

Hà Hòa/VOV online
vov.vn

“Điện Biên Phủ trên không” – Biểu tượng bản lĩnh Việt Nam

(VOV) -Hội thảo về “Điện Biên Phủ trên không” sắp diễn ra sẽ cho chúng ta thấy được tầm cao, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam.

Hội thảo khoa học với chủ đề “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” sẽ diễn ra vào ngày 28/11 tại Hà Nội.

Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy và Ủy ban nhân dân TP Hà Nội phối hợp tổ chức. Đây thông tin được giới thiệu trong buổi họp báo chiều nay (20/11).

Hội thảo khoa học có sự tham gia của hơn 300 đại biểu là các vị lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, địa phương, các lão thành cách mạng và nhân chứng lịch sử từng trực tiếp chỉ huy, tham gia chiến đấu trong trận “Điện Biên phủ trên không” tháng 12/1972.

Gần 70 tham luận tại hội thảo làm sáng tỏ và sâu sắc hơn các vấn đề, đó là: Khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Hội thảo làm rõ và khẳng định chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là đỉnh cao của cuộc đối đầu lịch sử giữa lực lượng phòng không không quân nhân dân Việt Nam với lực lượng không quân chiến lược Mỹ.

Đại tá Trần Ngọc Long – Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Chiến thắng Hà Nội – “Điện Biên Phủ trên không” là biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh và tầm cao trí tuệ Việt Nam.

Để thấy rõ được bản lĩnh của Việt Nam, trong hội thảo này sẽ có nhiều tham luận đề cập đến những tính toán, mưu mô của Nhà Trắng lúc bấy giờ trong việc mở cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng nhằm đè bẹp ý chí của nhân dân miền Bắc, nhưng chúng ta không chỉ đối phó được mà còn chiến thắng oanh liệt.

Về tầm cao trí tuệ cũng thể hiện ở nhiều mặt, và hội thảo này sẽ tập trung phân tích sâu sự chủ động chúng ta về mặt chiến lược, chiến dịch và thủ đoạn chiến đấu để có những phương án đối phó tối ưu nhất./.

Huyền Trang/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Chuyên gia Liên Xô viết về “Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Những hình ảnh về dân tộc anh hùng được chuyên gia Liên Xô – Nga ghi lại trong cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là thế đó”.

“Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965 – 1973)” – cuốn sách ghi lại những hồi ức sống động của những chuyên gia Liên Xô – Nga về trận “Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam.

Lời đề tựa của cuốn sách thật giản dị: “Để tưởng nhớ các chuyên gia quân sự Xô Viết – các cựu chiến binh tại Việt Nam”, nhưng nó cũng hàm chứa ý nghĩa lớn “Có thể làm sách giáo khoa về chiến tranh yêu nước cho sinh viên”.

Cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973)” với bản tiếng Nga (xuất bản năm 2005) và bản tiếng Việt (XB năm 2008)

Nói về cuốn sách lịch sử này, Thượng tướng Anatoli Khiupenhen cho biết: “Chúng tôi quyết định ra cuốn sách để ghi lại hồi ức của những người từng có mặt tại Việt Nam, tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi không phải là nhà văn, nhà báo mà là những chiến sỹ, sỹ quan trong quân đội. Chúng tôi ghi lại những gì đã chứng kiến bằng ngôn ngữ của người lính”.

Trong cuốn sách này, Thượng tướng Khiupenhen giữ vai trò cố vấn các vấn đề quân sự trong Hội đồng biên tập, đồng thời trực tiếp tham gia với bài viết “Giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh trên không”.

Là người có mặt ở Việt Nam vào những ngày diễn ra trận “Điện Biên phủ trên không”, trong bài viết của mình, Thượng tướng Khiupenhen đã ghi lại chi tiết, tỉ mỉ những trận đánh, những chiến công của lực lượng phòng không – không quân Việt Nam trên bầu trời thủ đô Hà Nội những năm đó với sự hỗ trợ về kỹ thuật quân sự của các chuyên gia Liên Xô.

Thiếu tướng Pozedeev giới thiệu với phóng viên Đài TNVN về cuốn sách và bài viết của ông

Cuốn sách tập hợp 29 bài viết. Mỗi bài viết là những góc nhìn của mỗi sỹ quan, chuyên gia. Đấy là hồi ức, trải nghiệm sâu sắc, sống động.

Lời mở đầu của cuốn sách giới thiệu sơ lược cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, trong đó nhấn mạnh bối cảnh, tình thế của cuộc chiến đấu chống trả cuộc tấn công bằng đường không của Mỹ.

Những bài viết với những tựa đề khác nhau thể hiện rõ những khía cạnh đáng nhớ của cuộc chiến đầy gian khổ, khốc liệt nhưng cũng rất oai hùng, như: “Những hồi ức về cuộc chiến tranh Việt Nam” của Thiếu tướng Belov; “Khẩu đội chiến đấu của chúng tôi” của Thiếu tướng Canaev; “Cuộc chiến tranh Việt Nam qua sự đánh giá của người đã tham gia” của Đại tá Konacov; “Những năm tháng không thể nào quên” của nữ quân nhân Roxliacova…

Bài viết của Thiếu tướng Demsenko với tiêu đề “Đã có bao điều trải qua ở Việt Nam…” thể hiện sinh động những tình huống, những sự việc xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 3/1965 đến tháng 2/1966, khi ông cùng một số chuyên gia quân sự được cử sang Việt Nam. Đó là những buổi huấn luyện trước khi lên đường sang Việt Nam, những buổi gặp gỡ đầu tiên, trao đổi kinh nghiệm và huấn luyện sử dụng khí tài cho các chiến sỹ, sỹ quan quân đội Việt Nam…

Một số bức ảnh kỷ niệm của các chuyên gia Liên Xô được đăng trong cuốn sách

Rồi những câu chuyện khi giao lưu văn nghệ với đoàn văn công phòng không – không quân Việt Nam và người dân địa phương nơi đơn vị ông đóng quân… Tất cả vẫn đọng lại sâu sắc trong tâm trí viên sỹ quan chỉ huy khẩu đội bệ phóng, tiểu đoàn hỏa lực số 82 thuộc Trung đoàn Tên lửa Phòng không số 238 của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cũng như thế, bài viết “300 ngày trên đất nước Việt Nam anh hùng” của đại tá Sozranov là một câu chuyện về công tác huấn luyện các khẩu đội chiến đấu cho Việt Nam.

Bài viết của ông có đoạn: “Tôi muốn nhận xét rằng, các sỹ quan, hạ sỹ quan Việt Nam rất chăm chỉ, được đào tạo không tồi trong việc sử dụng thực tế các bộ khí tài tên lửa phòng không. Họ thành thạo trong thao tác các công việc được quy định… Trong đội ngũ các sỹ quan Việt Nam có nhiều chuyên gia giỏi và thành thạo. Đa số họ đã học tại các trường quân sự ở Liên Xô”.

Kết thúc bài viết của mình, ông Sozranov đã viết: “Tôi còn lưu giữ những hồi ức tốt đẹp về Việt Nam, về tất cả những người công dân nước chúng ta đã có mặt trong những ngày gian khổ ấy bên cạnh dân tộc anh hùng ấy. Tôi hy vọng rằng quan hệ hữu nghị truyền thống ấy sẽ được gìn giữ”.

Các chuyên gia Liên Xô chụp ảnh kỷ niệm với Thủ tướng Phạm Văn Đồng (ảnh chụp lại từ cuốn sách)

Sau nhiệm kỳ công tác 300 ngày ở Việt Nam giữa thời kỳ khói lửa, Đại tá Sozranov, khi trở về Nga cũng tham gia giảng dạy tại Học viện Kỹ thuật Quân sự Nga. Trong những bài giảng của mình, hẳn ông có nhiều dịp để kể cho các thế hệ học sinh về những gì ông từng chứng kiến trong cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Có mặt tại Việt Nam năm 1970 đến năm 1971 với nhiệm vụ phó trưởng đoàn chuyên gia phòng không phụ trách chính trị trong đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, trong bài viết “Thử lửa”, Thiếu tướng Anatoli Pozdeev đã ghi lại những ấn tượng sâu sắc về những buổi sinh hoạt chính trị để xây dựng và củng cố tinh thần sẵn sàng chiến đấu và quyết thắng trong toàn lực lượng phòng không không quân cả phía Việt Nam lẫn phía các chuyên gia quân sự Liên Xô. Ông cũng là ủy viên trong Hội đồng biên tập cuốn sách.

Nói về những người quan tâm và đón đọc cuốn sách này, Thiếu tướng Pozedeev cho biết: “Cuốn sách được các cựu chiến binh, giới trẻ quan tâm. Cuốn sách ra đời đáp ứng nhu cầu lớn của bạn đọc”.

Vào năm 2007, được sự đồng ý của các tác giả, cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt. Năm 2008, cuốn sách ra mắt bạn đọc Việt Nam với ấn phẩm của Nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia./.

Điệp Anh/VOV-Moscow
vov.vn

Những kỷ vật chiến thắng Hà Nội- Điện Biên phủ trên không

(VOV) – Những kỷ vật tại Bảo tàng giúp người xem hiểu được sự hy sinh của thế hệ trước để làm nên một Hà Nội hôm nay.

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (12/1972-12/2012), Bảo tàng Phòng không – không quân phối hợp với Bộ Quốc Phòng tổ chức cuộc triển lãm “Ngày hội phòng không toàn quân và phòng không nhân dân”. Triển lãm bắt đầu từ ngày 8/11 đến hết ngày 30/12/2012.

Một số hình ảnh, hiện vật của Bộ đội phòng không- không quân trong chiến thắng chống chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế quốc Mỹ

Triển lãm diễn ra ở 3 tầng của Bảo tàng, đem đến cho người xem một cái nhìn toàn diện về chặng đường trường chinh chống Pháp và chống Mỹ của toàn dân tộc. Nổi bật là những hiện vật tái hiện lại cuộc chiến đấu trong suốt 12 ngày đêm của các chiến sĩ Thủ đô, làm nên chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, góp phần thành công ký kết Hiệp định Paris- một trong những chiến thắng lớn nhất trên mặt trận ngoại giao Việt Nam.

Xem lại những kỷ vật, những hình ảnh, tư liệu tại Bảo tàng, người ta mới thấy được sự hy sinh to lớn của cha ông đi trước để làm nên một Hà Nội – thành phố vì hòa bình hôm nay. Bác Phạm Thế Luận – cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ, đến tham quan triển lãm, bày tỏ: “Đến xem triển lãm lần này, tôi được gặp lại những đồng đội của mình trong cuộc kháng chiến khói lửa. Những kỷ vật được trưng bày đã phần nào gợi lại một cách chân thực về sức mạnh của quân, dân Hà Nội với một tinh thần đoàn kết một lòng và ý chí quật cường để chiến thắng  những vũ khí, phương tiện chiến tranh  hiện đại của đế quốc Mỹ”.

Đến tham quan triển lãm, không chỉ có du khách nước ngoài, công chúng Thủ đô mà còn có người dân ở các tỉnh khác. Cô Nguyễn Thị Thiệp (Tân Hà – Tuyên Quang) chia sẻ: “Hôm nay, tôi có dẫn các con đến để xem những kỷ vật tại bảo tàng nhằm giúp các con nắm rõ hơn về lịch sử nước nhà, để thêm trân trọng và biết ơn những gì mà cha ông đã hy sinh trong cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập cho dân tộc”.

Khách tham quan tại Bảo Tàng

Bảo tàng Phòng không – Không quân là nơi lưu giữ các kỷ vật, hình ảnh, tư liệu  quá trình hình thành, phát triển của lực lượng Phòng không- không quân qua các giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là phòng sa bàn tái hiện sinh động chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Hiện Bảo tàng đang giữ Bộ sưu tập hiện vật  “Rada phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ” trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972. Tại đây, cũng trưng bày bảng vàng lập công của nhân dân Miền Bắc và những đơn vị tiêu biểu trong chiến dịch. Nhân dân Thủ đô đã bắn rơi được 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay chiến lược B – 52 và 5 máy bay F-11, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ, bắn cháy 9 tàu chiến.

Thời gian càng lùi xa, nhưng qua những hiện vật được trưng bày tại Bảo tàng, người xem có điều kiện nhận thức lại một cách đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về tầm vóc to lớn của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Chiến thắng đó mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Từ đây, nhiều bài học kinh nghiệm quí báu đã được đúc kết để vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hiện nay./.

CTV Nguyễn Thị Yến/VOV online
vov.vn

“Điện Biên Phủ trên không” qua ký ức nhà báo chiến trường

(VOV) -Những bức hình mà họ ghi trong 12 ngày đêm tại Hà Nội góp phần giúp chúng ta chiến thắng trên bàn hội nghị Paris năm 1972.

Trong căn nhà nhỏ trên phố Minh Khai (Hà Nội), nhà báo – nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành giở từng tấm ảnh ông đã chụp trong Chiến dịch Điện Biên phủ trên không. Mỗi bức ảnh là một câu chuyện, một mảng ký ức…

Trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, khi đang là phóng viên ảnh của Thông tấn xã, ông Chu Chí Thành từng có mặt ở nhiều vùng bị địch bắn phá ác liệt như: Quảng Bình, Nghệ An, Vĩnh Linh (Quảng Trị)…

Đặc biệt trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 năm 1972 của không lực Hoa Kỳ vào Hà Nội, suốt 12 ngày đêm, ông luôn có mặt từng góc phố, con đường để ghi lại cảnh đổ nát, đau thương mà người Hà Nội phải gánh chịu và hình ảnh chiến đấu chiến thắng oai hùng của quân, dân ta trước không quân Mỹ.

Nhà báo Chu Chí Thành

Khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong ông chính là lúc tác nghiệp tại Bệnh viện Bạch Mai và phố Khâm Thiên sau những trận oanh kích của quân thù.

Ông phải kìm nén những giọt nước mắt để chụp lại bằng chứng tố cáo tội ác của Mỹ. Ngay cả trong lúc bi thương, ông vẫn cố tìm cho được góc máy nhằm lột tả sự kiên cường của người dân Hà Nội.

Nhà báo Chu Chí Thành nhớ lại: “Khi đến Khâm Thiên, tôi thấy người dân đang đào bới trong đống đổ nát để cứu người. Và cảnh xúc động là một người phụ nữ băng qua đống đổ nát, hố bom để tìm người. Lúc đó, trên vai chị vẫn đeo súng và còn mang một chiếc khằn rằn của miền Nam. Khi thấy cảnh đó, tôi đã nhanh chóng ghi lại hình ảnh này và rất xúc động vì tinh thần chiến đấu và tình quân-dân của chúng ta”.

Có mặt ở hầu hết các trận địa tên lửa, pháo cao xạ trong chiến dịch 12 ngày đêm khói lửa, nhà báo Xuân Mai, nguyên Tổng Biên tập báo Phòng không – Không quân cho rằng: Trong thời chiến, mọi thứ đều có thể xảy ra nên mỗi khi đi tác nghiệp ông và đồng nghiệp đều phải chuẩn bị tinh thần hy sinh bất cứ lúc nào. Bằng sự dũng cảm, kiên trường và lòng nhiệt huyết, ông luôn theo sát các chiến sĩ bộ đội để có những bức ảnh, bài viết chân thực nhất ngay trong những lúc khói lửa ác liệt.

Sau 40 năm, ấn tượng sâu sắc với ông là đêm đầu tiên (18/12/1972) Mỹ ném bom. Cả Hà Nội rung chuyển, rực cháy bởi bom Mỹ và pháo phòng không, tên lửa đánh trả của Việt Nam.

Tới đợt ném bom thứ hai trong đêm, một tiểu đoàn đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B52 đầu tiên tại cánh đồng xã Phù Lỗ (huyện Đông Anh). Nhìn thấy bức ảnh B52 đầu tiên rơi tại chỗ do phóng viên của mình chụp, ông đã xúc động, sung sướng đến tột cùng.

Nhà báo Xuân Mai kể lại: “Lúc đó, tôi đang phụ trách tòa soạn báo Phòng không Không quân, thì được chỉ huy thông báo có máy bay rơi ở Phù Lỗ, có thể là B52 nên lập tức cử phóng viên đến đó. Phóng viên của chúng tôi chạy mô tô đi nhưng đến Đông Anh, gặp máy bay rải bom nên phải để xe ở nhà dân rồi chạy bộ lên và đã chụp được bức ảnh B52 rơi tại chỗ”.

Người ta gọi 12 ngày đêm của quân và dân Hà Nội là trận đánh huyền thoại, khi đã bắn hạ những pháo đài bay chiến lược được coi là “bất khả xâm phạm” của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Cùng với chiến thắng lẫy lững đó, những nhà báo chiến trường bằng các bức ảnh, bài viết ghi thực tế tại những khu phố đổ nát, tang thương… đã góp phần vạch trần tội ác của Mỹ, đóng góp vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực thông tin, báo chí và ngoại giao, để buộc chính quyền Mỹ phải đặt bút ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam vào ngày 27/1/1973.

Nhà báo nhiếp ảnh Chu Chí Thành cho biết: Thời kỳ đó chúng ta có những đấu tranh xen kẽ rất hay. Chúng ta đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là đang ở bàn hội nghị Paris nhưng cũng đấu tranh bằng công tác thông tin tuyên truyền.

Trong suốt 12 ngày đêm, cứ 1-2 ngày, chúng ta lại mở một cuộc họp báo quốc tế và đưa ra những hình ảnh đổ nát, hy sinh rồi đưa giặc lái bị bắt ra trước công luận trong nước và quốc tế. “Chúng tôi khi đó quay phim, chụp ảnh, viết bài và Thông tấn xã có máy tê-lê phô-tô để truyền tin ra nước ngoài để quốc tế thấy được hình ảnh phi công Mỹ bị bắt và tội ác của Mỹ. Đây chính là đòn đánh bằng công tác thông tin tuyên truyền, và bạn bè quốc tế ủng hộ chúng ta để gây sức ép, buộc chính quyền Mỹ phải vào đàm bàn phán”, ông Thành nói.

Ký ức về những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của quân và dân Hà Nội trong Chiến dịch Điện Biên phủ trên không sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí của những nhà báo, nhà nhiếp ảnh.

Những bài báo, bức ảnh mà họ đã không quản hiểm nguy để ghi lại, đã trở thành vô giá, lên án chiến tranh và thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc ta./.

Huyền Trang/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – bài ca chiến thắng

(VOV) – Bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của nhạc sỹ Phạm Tuyên đã có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ quân dân ta giành chiến thắng.

Có những bài hát được sáng tác trong lúc phấn khởi, hào hứng, hoặc lúc dạt dào xúc cảm, nhưng cũng có bài hát được viết ra như một sự động viên chính mình, lại có những bài hát được viết ra trong một bối cảnh quyết liệt, mà bản thân người nhạc sĩ không chắc mình có còn được nghe “đứa con tinh thần” vang lên thành thanh âm hay không.

Bài hát đầu tiên viết về Hà Nội 12 ngày đêm chiến đấu – “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết dưới hầm trú bom của Đài TNVN đêm 27/12/1972 giữa lòng Thủ đô rực lửa chiến đấu. Trong những ngày khói lửa đó, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ quân dân ta chiến đấu giành độc lập.

Tháng 12/1972, Đế quốc Mỹ chủ trương đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, khởi đầu bằng việc sử dụng một lực lượng không quân hùng mạnh ném bom dữ dội Miền Bắc, buộc Hà Nội đầu hàng.

Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không 1972 (ảnh tư liệu)

4h sáng 19/12, Đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì (Hà Nội) bị địch đánh sập. Ngày 20/12 địch tiếp tục ném bom Đài phát sóng ở Bạch Mai…, bộ đội phòng không ta đánh trả quyết liệt. Đêm 26/12, bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B52. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội”.

Lời nói của Đại tướng đã truyền cho nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc, những nốt nhạc đầu tiên của bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lần lượt vang lên trong trí óc ông.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên chia sẻ: “Khi nghe chữ Điện Biên Phủ tôi có cảm giác rất khác và ngay đêm hôm ấy, ngồi trong hầm tôi viết bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Âm điệu ở đây không du dương mà quyết liệt bởi tôi muốn tỏ cho đế quốc Mỹ biết Hà Nội quyết liệt như thế nào”.

Nhạc sỹ Phạm Tuyên kể lại hồi ức Hà Nội oanh liệt một thời (ảnh: Hồng Hà)

Dẫu bom địch đang ném vào khu nhà nhạc sĩ ở, chiếc dương cầm của ông bị hỏng, tủ sách ông yêu quý không còn, nhưng ngay trong sáng 28/12, trên ghế đá, dưới gốc cây đa phố Hàng Trống, nhạc sĩ Phạm Tuyên hát vang “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với công chúng Thủ đô.

Mặc cho tiếng còi báo động rền vang, tối 29/12, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng các nhạc sĩ Trần Thụ, Mạnh Hà thể hiện trên sóng Đài TNVN. Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ – đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa.

Nhà báo Nguyễn Lưu, thành viên đội tự vệ Hà Nội năm 1972 nhớ lại: “Sau khi ga Hàng Cỏ bị thả bom, An Dương, Khâm Thiên bị bom… chúng tôi vẫn chưa thấy sợ, nhưng đến khi Đài phát thanh bị bom lúc đó tâm lý run lắm rồi. Nhưng khi nghe bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thấy có gì khác lắm, có gì kéo mình ở lại…”.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với ca từ đĩnh đạc, khỏe khoắn, có đoạn rắn rỏi, kiên định: “B52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngợi…”. Có đoạn lại hào hùng như tha thiết: “Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta? Đâu chỉ vì non nước riêng này. Phất ngọn cờ sao chính nghĩa…”.

Tác phẩm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã khắc họa một Hà Nội gan góc, vững vàng. Trong gian khổ, hoạn nạn người Hà Nội thương yêu nhau hơn. Những cặp mắt thâm quầng sau nhiều đêm mất ngủ vẫn ánh lên một niền tin kiên định. Tác phẩm như lời động viên tiếp sức cho chiến sĩ, đồng bào cả nước đứng lên, như lời khẳng định cho chiến thắng.

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha – người lính Quảng Trị năm xưa không quên cảm xúc: “12 ngày đêm B52 oanh tạc bầu trời Thủ đô thì Quảng Trị máu lửa lại bình yên đến không ngờ. Khi chúng tôi ở Quảng Trị nghe bài hát của anh Phạm Tuyên vang trên Đài TNVN, anh em lính Quảng Trị đều chảy nước mắt. Đến bây giờ, tôi vẫn xúc động. Bài hát cho chúng tôi cảm giác được bù đắp bởi những gì mất mát ở mùa hè Quảng Trị năm 1972 đã được đền đáp. Đế quốc Mỹ đã cúi đầu trước Việt Nam!”.

Ngay sau đó, để chào mừng năm mới 1973, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã phát hành băng nhạc “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với hình thức hợp xướng, do nghệ sĩ Trần Khánh lĩnh xướng. Nhiều ca sĩ đã đem bài hát đi phục vụ các trận địa phòng không quanh Hà Nội thời điểm đó. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được ví có sức thúc đẩy như bản giao hưởng chống Phát xít số 7 của nhạc sĩ nổi tiếng Dmitri Shostakovich…

40 năm đã qua, những dấu vết của những ngày khỏi lửa trên bầu trời Thủ đô chỉ còn trong bảo tàng, tượng đài kỷ niệm hay trí óc những người cao tuổi. Nhưng mạch nguồn hào hùng, quyết liệt ở “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn vang mãi.

Để rồi, trong những ngày này, chúng ta lại nhớ về 12 ngày đêm lịch sử đó, để nhắc cho thế hệ trẻ hôm nay biết ông cha ta đã sống và chiến đấu như thế, để như lời ca ngợi của bạn bè Quốc tế: “Việt Nam đã làm nên một huyền thoại!”./.

NSND Trần Khánh và đồng ca Đài TNVN trình bày “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Ngọc Ngà/VOV – Trung tâm tin
vov.vn

Thăm ngôi nhà – nơi đàm phán hòa bình 40 năm trước tại Pháp

(VOV) – Đó là ngôi nhà số 106 Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, cách Paris – Pháp hơn 30 km về phía Tây Nam.

Ngày 22/11 của 40 năm về trước, thị trấn Gif-sur-Yvette yên bình nằm cách Paris – Pháp hơn 30 km về phía Tây Nam bỗng trở nên nhộn nhịp. Báo chí Pháp và nước ngoài khi đó đổ dồn về đây, vây quanh ngôi nhà diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ. Các cuộc gặp đã đưa ra một dự thảo 9 điểm, sau này được xem là mấu chốt dẫn đến sự thành công của Hiệp định Paris 1973.

Đi qua số 106 Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, bắt gặp một căn nhà bình thường như biết bao ngôi nhà khác ở vùng ngoại ô Paris, ít ai biết rằng nơi đây 40 năm trước đã diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Lê Đức Thọ làm trưởng đoàn, với phía Mỹ- do ông Henry Kissinger dẫn đầu.

Tấm biển bên ngoài ngôi nhà

Các tài liệu lịch sử ghi lại những cuộc trao đổi giữa hai ông tháng 10 và tháng 11/1972 tại ngôi nhà này đi vào giai đoạn quyết định, chốt lại ở một dự thảo hiệp định mà hai bên có thể chấp nhận được.

40 năm sau, ngôi nhà không có gì nổi bật, nhìn từ bên ngoài có phần cũ kỹ và bao phủ bởi cây cối um tùm. Một tấm biển khiêm tốn treo trên tường bên ngoài căn nhà với dòng chữ “Tại ngôi nhà này ngày 22/11/1972, đã mở ra các cuộc đàm phán hòa bình giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger”.

Tiếp chúng tôi – những nhà báo Việt Nam tò mò, chủ nhân hiện nay của ngôi nhà, vợ chồng nhiếp ảnh gia Bernard Mimier hồ hởi kể lại “cái duyên” của họ với nơi này.

Chủ nhân ngôi nhà trò chuyện với PV Đài TNVN

“Lúc đó tôi còn trẻ lắm, 17 tuổi, tôi có đi qua nơi này, thấy rất nhiều nhà báo vây quanh ngôi nhà và nghe nói có các cuộc đàm phán hòa bình bí mật diễn ra trong đó. Khi đó ngôi nhà thuộc về một họa sỹ tên Fernand Leger- một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là nơi đón nhiều khách của đảng sang Pháp làm việc. Bản thân tôi từ lúc trẻ luôn đứng về phía người dân Việt Nam, cho rằng sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam là không thể chấp nhận được. Sau này năm 1989, tôi cần tìm một ngôi nhà rộng để mở phòng chụp và làm ảnh; và duyên số đã dẫn tôi đến đây, mua lại căn nhà của con gái nhà Leger và ở đây cho đến nay” – nhiếp ảnh gia Bernard Mimier nói.

Ông Bernard dẫn chúng tôi đi thăm quan ngôi nhà, phòng đàm phán chính 40 năm trước giờ đây trở thành phòng chụp ảnh của ông với nhiều máy móc, đèn chiếu. Phòng khách hiện tại của ngôi nhà được trang trí theo phong cách cổ kính, trước đó từng là phòng chiêu đãi hai đoàn đàm phán, mà như chủ nhân Bernard Mimier nói đùa, là ở đây hai đoàn chắc từng ăn món “nem Việt nam”.

Ông Bernard cho biết: “Có rất nhiều người khách Việt nam đến đây thăm ngôi nhà của chúng tôi, có các nhà báo, có đại diện của phái đoàn Việt Nam tại UNESCO. Và có một lần một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã đến đây, xin chụp ảnh những phòng ngày xưa từng diễn ra đàm phán bí mật và tôi nghĩ rằng trong lòng anh ấy chắc chắn có nhiều cảm xúc. Chính gia đình chúng tôi cũng nói chuyện nhiều về ngôi nhà mà chúng tôi đang tự hào được sống ở đây, một ngôi nhà lịch sử đóng góp cho hòa bình. Vợ tôi cũng từng tham gia các hoạt động phản chiến và con gái tôi cũng có những cảm xúc đặc biệt khi nói về ý nghĩa của ngôi nhà”.

Các cuộc đàm phán diễn ra hết sức bí mật, đến các nhà hàng xóm cũng không hay biết gì, cho đến ngày 22/11/1972, khi báo chí Pháp và nước ngoài tìm đến xin giúp đỡ để chụp ảnh từ bên ngoài vào ngôi nhà.

GS Trần Thanh Vân và tư liệu viết về ngôi nhà

Và thật trùng hợp khi sát ngôi nhà lịch sử khi ấy đến giờ là nơi ở của một cặp vợ chồng nhà khoa học người Việt – ông bà Trần Thanh Vân, những người nhiều năm qua có nhiều hoạt động hướng về Việt nam.

Dù tuổi đã cao, nói chuyện khá khó khăn, Giáo sư Trần Thanh Vân vẫn rất nhiệt tình kể lại: “Một buổi sáng, chúng tôi thấy nhà có nhiều lính cảnh sát xung quanh và lấy làm lạ, không biết vì sao. Một tuần trước tôi nhớ có hội  nghị 4 bên, và chúng tôi biết đàm phán có nhiều khó khăn nên đoán ra đây có thể là đàm phán giữa miền Bắc Việt Nam với phía Mỹ. Vì biết nhà bên cạnh là thuộc Đảng Cộng sản Pháp, thường có khách đến trong thứ 7, chủ nhật, nên đoán Việt Nam đã mượn nhà của Đảng Cộng sản Pháp để đàm phán. Rất đông nhà báo đến, nhờ chúng tôi cho vào nhà để chụp hình về ngôi nhà bên cạnh”.

Giáo sư Trần Thanh Vân dẫn chúng tôi ra vườn sau nhà, chỉ vào rặng cây thông giờ cao ngút, cho biết 40 năm trước, rặng cây còn thấp và phóng viên đứng từ vườn nhà ông hoặc trèo lên mái nhà ông có thể chụp ảnh vào ngôi nhà đàm phán bí mật.

Toàn cảnh ngôi nhà

Ông cũng chia sẻ câu chuyện trùng hợp được báo chí Pháp và nước ngoài phát hiện và nói nhiều đến lúc bấy giờ, là trong khi cuộc đàm phán chính trị bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger đang diễn ra, thì tại ngôi nhà bên cạnh, giáo sư Trần Thanh Vân cùng các thành viên tổ chức giúp đỡ các trẻ em Việt Nam đang tích cực với các hoạt động bán thiệp Giáng sinh, để quyên tiền xây dựng một làng trẻ SOS tại Đà Lạt (sau này làng được khánh thành năm 1974).

Hai hoạt động cùng lúc, một bên là chính trị và bên kia là nhân đạo, vô tình lại cùng hướng về Việt Nam.

40 năm sau, ngôi nhà đàm phán bí mật năm xưa đã hoàn thành nhiệm vụ; còn ở bên cạnh, giáo sư Trần Thanh Vân và Tổ chức giúp đỡ trẻ em Việt Nam, Hội Gặp gỡ Việt Nam do ông sáng lập vẫn không ngừng tiếp tục công việc giúp đỡ trẻ em, hỗ trợ phát triển đất nước./.

Thùy Vân/VOV-Paris
vov.vn

Đài phát sóng Mễ Trì – Ký ức một thời đạn bom

(VOV) – Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đài Phát sóng Mễ Trì là một mục tiêu bị bắn phá dữ dội.

40 năm đã qua, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng trên bầu trời Hà Nội đó vẫn còn vẹn nguyên trong lòng những người lính tự vệ, kỹ thuật viên đài Phát sóng Mễ Trì.

Trong những ngày tháng cuối thu này, cả nước đang hướng về Hà Nội cùng kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, cùng tưởng nhớ về những năm tháng không thể nào quên của một thời lửa đạn. Giữa không khí hào hùng ấy, ký ức về một thời oanh liệt của các cựu cán bộ, kỹ thuật viên, lính tự vệ Đài Phát thanh Mễ Trì như sống lại.

Hệ anten Đài phát sóng phát thanh Mễ Trì những năm chiến tranh. (Ảnh: internet).

Tiếp chúng tôi trong căn nhà tập thể của Đài phát thanh Mễ Trì, anh kỹ thuật viên Đài Phát thanh Mễ Trì kiêm lính tự vệ – Dương Xuân Trường năm nào giờ đây đã lên chức ông nội ở cái tuổi gần 70. Màu thời gian đã nhuốm trên gương mặt của người lính tự vệ ấy, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt ông vẫn sáng bừng lên khi nhắc lại những khoảnh khắc hào hùng của cả một thế hệ trong mưa bom bão đạn.

Ông Dương Xuân Trường.

Sáng 19/12/1972, Mỹ ném bom rải thảm xuống khu vực Đài Phát thanh Mễ Trì. Trước đó, Trung ương đã cho biết Mỹ sẽ ném bom khu vực Hà Nội, chúng sẽ đãnh Đài phát thanh với âm mưu nhằm phá làn sóng của ta, nên gần 60 cán bộ công nhân viên của Đài lúc bấy giờ đã chuẩn bị tinh thần sơ tán để đảm bảo an toàn về người, thiết bị, đặc biệt là những kho đèn điện tử rất quý lúc bấy giờ, được nhập từ nước ngoài.

Kho đèn được di chuyển vào làng Mễ Trì Thượng, một số anh chị em cán bộ, dân quân tự vệ phân công vào trông coi. Hết ca làm là phải vào làng sơ tán, đến ca thì từ làng trở lại làm nhiệm vụ.

Ở lại Đài lúc đó còn có 1 tiểu đội tự vệ gồm 9 người, do ông Dương Xuân Trường làm đội trưởng. Ông Trường lên quê ngoại tận Tuyên Quang sơ tán, cùng vợ là bà Trần Thị Xuân (sinh năm 1948 – kỹ thuật quản lý Đài phát thanh Mễ Trì) quyết ở lại trực chiến với kẻ thù.

“Ngay từ đầu anh em đã xác định được tinh thần. Cứ hai người một ca thay phiên nhau trực, lúc nào cũng hăng hái, đi đâu cũng đeo khẩu súng K44 bên người, chẳng biết sợ là gì. Thấy máy bay (F111) bay rất thấp trên đỉnh đầu liền giơ súng lên bắn, không cần biết chúng sẽ ném bom ở khu vực nào cả”, ông Trường hả hê kể lại. Ngoài việc trang bị mỗi lính tự vệ một khẩu K44, có một tổ trực trung liên K53 băng tròn. Tinh thần quyết chiến lúc nào cũng hừng hực trong huyết quản mỗi người. Lúc đó, một số anh em định bắc một ụ nổi trên nóc nhà Đài đã bắn thẳng lên máy bay, song Bộ Tư lệnh không cho phép vì quá nguy hiểm, sau đó lính tự vệ rút ra làm hầm ngoài mương.

Khoảng 20h ngày 18/12/1972, theo kế hoạch Mỹ rải thảm B52 vào khu vực Đài phát thanh Mễ Trì. Tuy nhiên hướng ném bom bị lệch, phần lớn loạt bom rơi xuống làng Mễ Trì khiến người dân trong làng thương vong rất nhiều, trong khi đó cán bộ công nhân viên của Đài sơ tán trong đó lại được an toàn.

Đài tưởng niệm Đài phát sóng Mễ Trì.

Loạt bom đó cũng khiến phần gia cố đi vào nhà A của Đài phát thanh bị sập. Rất may máy móc trong khu nhà vẫn còn nguyên vẹn, duy chỉ có ăngten bị ảnh hưởng. Máy phát ở khu nhà B và khu nhà hầm vẫn hoạt động bình thường.

4h30 phút rạng sáng 19/12/1972, Mỹ lại cho máy bay đến tập kích ném bom. Hôm đó, là ca trực của ông Trường và đồng chí Nhữ Quang Thành (lúc đó 22 tuổi, quê Hải Dương, công nhân máy nổ, đồng thời là tự vệ). Trước tình thế cấp bách này, lực lượng công an gác bảo vệ Đài được lệnh rút đi, giành chỗ cho tự vệ chiến đấu.

Loạt bom thứ 2, Mỹ ném trúng khu vực nhà B (dãy nhà cấp bốn) làm khu vực này bị sập. Rất may lúc đó, nghe tiếng báo động 3 cô công nhân đang trong ca trực khu nhà B đã nhảy xuống hầm cá nhân trú ẩn, nên không có thiệt hại về người.

Bên ngoài, lực lượng tự vệ cũng nhanh chóng chạy xuống các hầm cá nhân gần đó trú ẩn. Lúc bấy giờ, đồng chí Thành ra ngoài hầm cá nhân chỗ thường trực của Đài để trú, giương cao súng hướng về phía máy bay địch. Đúng lúc, quả bom đầu tiên ném gần khu vực hầm trú ẩn của đồng chí Thành. Do sức ép quá lớn của bom khiến 1 tảng đất to gần đó đập mạnh vào ngực, khiến anh ngã quỵ xuống.

Tiếp nối truyền thống cha anh, các cán bộ kỹ thuật của Đài Mễ Trì hôm nay luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trên mọi mặt trận công tác.

Đến 8h sáng, do vết thương quá nặng, đồng chí Thành đã trút hơi thở cuối cùng trong sự tiếc thương vô hạn của đồng đội. Sau này, để ghi nhớ công ơn của người lính tự vệ năm xưa, nhà nước đã phong tặng danh hiệu liệt sĩ.

“Nghe tiếng máy bay lượn rất gần trên đầu, súng cao xạ bắn sáng rực cả bầu trời, xung quanh là bom nổ, nhưng điều đó không làm cho tinh thần của anh chị em công nhân viên nhà máy bị nhụt chí. Lúc đó, chúng tôi chỉ lo làm sao hoàn thành được nhiệm vụ, đảm bảo tác chiến trên làn sóng, ông Nguyễn Trọng Hưởng – Trưởng ban kỹ thuật Đài Phát thanh Mễ Trì lúc đó kể.

Khi tiếng súng, tiếng bom tạm ngừng, công nhân viên của Đài Phát thanh Mễ Trì lại tiếp tục công việc bất chấp những mất mát, đau thương hay những thiếu thốn về điều kiện làm việc. “Anh chị em vẫn hăng say làm việc, không kể ngày đêm, quyết tâm không sao nhãng nhiệm vụ, đảm bảo phát sóng 24/24 giờ để phục vụ tiền tuyến, phục vụ đất nước”, ông Hưởng tự hào nói./.

Lê Vũ-Kim Anh/VOV online
vov.vn

Chuyện chưa kể về những bức ảnh Hà Nội năm 1972

Kỷ niệm 40 năm trận “Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Để có những bức ảnh quý giá về trận “Điện Biên Phủ trên không”, các phóng viên ảnh không ngại hiểm nguy, đối đầu cùng cái chết.

Là người duy nhất trong nhóm phóng viên ảnh của báo Phòng không trở về từ Quảng Trị, ông Nguyễn Xuân Át tiếp tục được phân công chụp ảnh quân đội Mỹ ném bom Hà Nội trong chiến dịch “12 ngày đêm”. Bức ảnh máy bay B52 của quân đội Mỹ bốc cháy và rơi trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972 là của phóng viên ảnh Nguyễn Xuân Át.

Ông Át nhớ lại: Khoảng 22h15 phút, còi báo động vẫn như mọi ngày, máy bay địch đang đến gần, ông liền xách máy ảnh ra sân, đứng trực chiến ở đầu hồi, rồi thấy bừng sáng lên một góc trời. Ông chụp được hai kiểu ảnh B52 đang cháy. Đây là những tấm ảnh ghi lại hình ảnh của “Hà Nội 12 ngày đêm” mà ông ưng ý nhất và cũng là tài liệu chứng minh chiến thắng của quân ta trong nỗ lực bắn rơi “pháo đài bay” tại Thủ đô đêm 26/12/2012.

Phóng viên ảnh Nguyễn Xuân Át bên bức ảnh chụp máy bay B52 rơi của mình

Nhà báo Nguyễn Xuân Át ví chiếc máy ảnh đối với ông và các đồng nghiệp giống như những cây súng đối với người chiến sỹ. Khi báo động, những người làm tuyên truyền báo chí phải sẵn sàng ống kính của mình để ghi nhận cuộc chiến diễn ra, nhất là làm sao chụp lại những hình ảnh chiến thắng của mình do quân và dân giành được. Nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng, sẵn sàng thì các sự kiện qua đi không thể nào ghi lại được.

Hình ảnh bệnh viện Bạch Mai bị ném bom, người dân đi sơ tán, hầm trú ẩn mọc lên khắp đường phố, thanh niên Hà Nội lên đường nhập ngũ, người dân Hà Nội đi sơ tán… được nhiếp ảnh gia Chu Chí Thành ghi vào ống kính trong những thời khắc quyết định nhất của đợt đối mặt với B52. Nhà báo Chu Chí Thành là phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam, cũng là tác giả cuốn sách ảnh: “Ký ức chiến tranh” (xuất bản năm 2010).

Trong những bức ảnh mà ông chụp tháng 12/1972, có một bức ảnh phi công Mỹ chết bên cạnh xác chiếc máy bay của anh ta bị bắn rơi, ngay trên cánh đồng rau Định Công, Hoàng Mai. Khi chứng kiến và ghi lại hình ảnh ấy, trong đầu ông băn khoăn câu hỏi: “Tại sao từ bên Mỹ xa xôi, anh ta lại chết ở đây? Người vợ và đứa con trong tấm ảnh trên người anh ta cũng là nạn nhân của cuộc chiến này”. Người lính Mỹ ấy nằm cách máy bay B52 của mình không xa. Đây là những hình ảnh rất ấn tượng với ông, và ông nghĩ rằng anh ta đã chết một cách oan uổng, là nạn nhân của cuộc chiến tranh này.

Xác máy bay rơi trên cánh đồng Định Công-Hoàng Mai – ảnh: Chu Chí Thành

Không chỉ ghi lại những hình ảnh tố cáo chiến tranh, tố cáo tội ác của quân đội Mỹ khi máy bay B52 liên tục dội bom xuống Hà Nội, những phóng viên ảnh cũng chứng minh cho quân đội Mỹ thấy: tội ác của họ cũng phải trả giá bằng tính mạng, bằng sự mất mát của chính những người lính Mỹ. Hình ảnh mà phóng viên Việt Nam ghi lại có giá trị tố cáo trên mặt trận truyền thông, mặt trận ngoại giao, là bằng chứng để nhân dân trên thế giới hiểu tội ác của quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Phóng viên Chu Trí Thành trong những ngày Mỹ ném bom Hà Nội

Bất chấp những đợt ném bom dữ dội của quân đội Mỹ, bất chấp sự mất mát, hi sinh, những phóng viên ảnh thời chiến đã góp phần không nhỏ trong việc thông tin, chuyển tải những hình ảnh về một Việt Nam “toàn cảnh” trong trận chiến với vũ khí hủy diệt có sức tàn phá mạnh mẽ nhất.

Những bức ảnh mà những người như nhà báo Chu Chí Thành, Nguyễn Xuân Át cùng nhiều đồng nghiệp của mình ghi lại trong “Hà Nội 12 ngày đêm” là hàng loạt câu chuyện kể cho thấy một Hà Nội anh hùng, một Hà Nội kiên cường trong trận chiến./.

Phương Thúy/VOV – Trung tâm Tin
vov.vn