Thư viện

Lời tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ năm 1967, ta chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

E.Tinpho, trong “Gió ngang: Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không” (Tạp chí Quốc phòng toàn dân) nhận định: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao cũng như quân sự… đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh lớn nhất của Mỹ.

Bắc Việt huy động toàn bộ nguồn tài lực phòng không, tên lửa phòng không buộc các máy bay tiến công của Mỹ phải bay thấp để súng trường cùng các vũ khí tự tạo của dân quân phát huy được hiệu quả; máy bay MIG nhỏ bé ngăn trở Mỹ giành và khai thác quyền khống chế trên không. Không quân cùng với không quân hải quân Mỹ không giành được ưu thế trên không theo ý nghĩa cổ điển”.

Để có được những đòn tên lửa bất ngờ giáng vào sức mạnh không lực vốn là niềm tự hào của quân đội Mỹ năm 1972, từ năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Thượng tướng Phùng Thế Tài: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đưa “rồng lửa” vào tuyến lửa

Vĩnh Linh, Quảng Trị, 1967. Mảnh đất này vốn hẹp, với dòng Bến Hải chạy cắt ngang dẫn nguồn nước từ đại ngàn Trường Sơn đổ ra biển Đông tại cửa Tùng, ngắm ra xa là đảo Cồn Cỏ như một con tàu chiến neo cố định án ngữ tiền tiêu. Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, ở giữa có một vạch trắng, cũng là vạch cắt đôi dải đất hình chữ S theo hiệp định Gieneva từ năm 1954.

Phía bờ Nam Bến Hải là địa danh Gio Linh, với những điểm cao Cồn Tiên – Dốc Miếu đặt trận địa pháo liên hoàn án ngữ con đường vào Nam. Phía bờ Bắc Bến Hải là Vĩnh Linh, mảnh đất thành đồng với hệ thống địa đạo liên hoàn chui sâu vào lòng đất, vươn lên núi và ngược ra phía biển. Quân và dân Vĩnh Linh phải đào địa đạo, đến nay dấu tích vẫn còn, để tìm kiếm sự sinh tồn trong lòng đất mẹ, khi mà hằng ngày mảnh đất này bị cày qua xới lại bởi bom và pháo bắn từ bờ Nam qua, hay từ ngoài biển dội vào.

Chạy dọc sông Bến Hải, từ giữa sông tính sâu vào cả 2 bờ là vùng đất rộng 5km mỗi bên, cấm mọi hoạt động quân sự trên diện tích này, vì theo hiệp địnhGieneva là khu DMZ (khu vực phi quân sự – Demilitarized Zone), nhưng máu chưa bao giờ ngừng đổ xuống ở đây suốt những năm chiến tranh phá hoại.

Ảnh Corbis

Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238, dẫu hơn 45 năm đã trôi qua, vẫn còn ghi nhớ: “Vào giữa năm 1966, Mỹ đã dùng B.52 ném bom quanh khu vực Quảng Bình. Bác Hồ chỉ thị cho Lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ): “B.52 đã đánh ra miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Hiểu ý Bác, ta thực hiện chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM 2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh nhất. Để tránh tai mắt cú vọ của đối phương, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị ông Hội hành quân qua dải đất hẹp Quân khu 4: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) trong sự hy sinh chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân miền Trung ruột thịt.

Trên địa bàn Quân khu 4, trong thời điểm đó, có 12 “cửa tử”: Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – cầu Cấm (Nghệ An) – Nam Đàn (Nghệ An) — Truông Bồn (Nghệ An) – Quán Hàu (Nghệ An) – Bến Thủy (Nghệ An) – Chu Lễ (Hà Tĩnh) – Đồng Lộc (Hà Tĩnh) – Thác Cóc (Quảng Bình) – Long Đại (Quảng Bình)… Nếu chẹt (chặn đứng) được 12 “cửa tử” này thì tuyến đường chi viện cho miền Nam sẽ hoàn toàn bị cắt đứt. Hiểu rõ tuyến đường huyết mạch này, nên máy bay Mỹ tập trung đánh phá. Có những nơi vào lúc cao điểm, bom Mỹ đánh xuống 24/24 giờ mỗi ngày.

Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “Rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường bom Mỹ đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người ngã xuống hoặc mất một phần xương máu mới đưa Trung đoàn 238 và 9 Tiểu đoàn cao xạ đến đích.

Vào tới đất lửa Vĩnh Linh, khi triển khai trận địa, khó khăn gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng thiêu da đốt thịt của dải đất hẹp miền Trung mùa hè, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa.

Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức và chiến đấu quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, đối phương lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho trung đoàn 238 nhiều khó khăn. Có trận, đối phương dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu laze vào mục tiêu, để nhiều chiếc tiêm kích khác tiếp cận phóng tên lửa tấn công. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ giữa mục tiêu khiến đơn vị thương vong rất lớn.

Cả 4 tiểu đoàn hỏa lực là 81, 82, 83… đều bị thiệt hại. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị oanh kích. Chính ông Hội cũng bị thương trong trận này. Tuy vậy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được B.52, Trung đoàn 238 quyết định dồn sức cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

“Sách đỏ” viết ở tuyến lửa

Khi trận địa hoàn thành, đích thân Đại tá Đặng Tính (Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ) vào tận Vĩnh Linh thị sát chiến trường của Trung đoàn 238. Đại tá Hội xúc động: “Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được lời của Đại tá Đặng Tính khi ông vào thăm trận địa:

“Đưa được cả trung đoàn cùng khối binh khí, kỹ thuật khổng lồ này vào tới chiến trường “lửa” an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B.52 trên đất lửa”.

Ảnh Corbis

Ngày 15/9/1967, vì trời mưa quá lớn, trận địa bị ngập nước nên đã thấy B.52 mà không thể đánh được. Hôm sau, B.52 lại xuất hiện nhưng ra-đa không bắt được mục tiêu. Đến cuối buổi chiều ngày 17/9/1967, khi đối phương ngỡ rằng bom, pháo đã đè bẹp được lực lượng của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện.

Kíp chiến đấu gồm có sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Ngoạn, Thính, Ngận, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và phóng hai quả đạn tên lửa. Chiếc máy bay B.52 đầu tiên bị hạ gục. 30 phút sau, chỉ còn một quả đạn, đơn vị quyết đánh và bắn rơi thêm một B.52 nữa.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng sau trung đoàn 238 mới bắn rơi được chiếc B.52 đầu tiên. Cũng do đã tìm được cách đánh B.52 nên sau đó Trung đoàn 238 tiếp tục bắn rơi thêm 4 chiếc nữa, nâng tổng số 6 chiếc pháo đài bay bị hạ gục tại đất Vĩnh Linh.

Đại tá Hội cười tươi: “Hạ gục được B.52, chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang cọp”. Nhưng, hiệu quả và ý nghĩa hơn chính là từ kinh nghiệm bắn B.52 ở tuyến lửa Vĩnh Linh năm 1967 mà bộ đội tên lửa sau này đã xây dựng và hoàn thiện được cẩm nang chiến đấu vô cùng giá trị. Đó là “Phương án đánh máy bay B52” hay còn gọi là “Sách đỏ”.

Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

Cho đến khi đó, hệ thống ra-đa của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B.52 phóng vào các trạm ra-đa cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục.

Sách đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

Những kinh nghiệm ấy đã góp phần quan trọng để “rồng lửa Thăng Long” tả xung, hữu đột cùng quân dân Miền Bắc hạ gục 34 chiếc B.52, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu tháng 12/1972.

Ngày nay, trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng), nơi trung đoàn 238 bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ở Việt Nam là một trong những địa chỉ di tích lịch sử-văn hóa của tỉnh Quảng Trị.

Nội dung Sách đỏ:

* Tuy không quân địch gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu chính xác và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được “cẩm nang” gọi là “phương án P”.

* Đồng thời “cẩm nang” cũng chỉ ra khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên nhưng tín hiệu mục tiêu sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo “phương án T” khi đó chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.

* Trong “cẩm nang” đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

  • Trường Minh

Còn tiếp
vietnamnet.vn

Điện Biên Phủ trên không: Một dự báo tài tình của Bác

Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”.

Trước khi Mỹ mở chiến dịch Linebacker II tấn công ra miền Bắc năm 1972, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó đã sớm dự đoán được âm mưu này của địch nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng các giải pháp cả trên chiến trường và “mặt trận” ngoại giao đang diễn ra ở Paris.

Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”, lấy thắng lợi trên chiến trường để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán ở Paris.

“Lời tiên đoán” kẻ địch sẽ thua

Vào buổi chiều 18/12 cách đây 40 năm, khi máy bay chở đoàn đồng chí Lê Đức Thọ từ Paris qua Moscow và Bắc Kinh về gần tới không phận Việt Nam, đồng chí Lê Đức Thọ đã bước tới buồng lái, thoáng lặng nhìn rồi thân mật hỏi: “Gia đình các cháu sơ tán ở đâu? Nếu sơ tán thì sơ tán càng xa càng tốt. Chưa yên đâu, còn căng thẳng đấy các cháu ạ”.

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Khi về tới nhà số 6 Nguyễn Cảnh Chân, chúng tôi đang chuyển hồ sơ, tài liệu vào tủ bảo mật và chuẩn bị về thăm gia đình như mọi khi, thì đồng chí Lê Đức Thọ tới dặn chúng tôi: “Tình hình như các cậu đã biết, nên bây giờ phải ở lại đây đã”. Khoảng 2 tiếng sau, B52 Mỹ đã rải bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.

Lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân đã giăng kín trời Hà Nội và các nơi khác. Quân và dân ta đã sẵn sàng đối mặt với B52 Mỹ. Một kế hoạch khả thi với những phương án độc đáo và sáng tạo đánh trả máy bay B52 ném bom Hà Nội đã được Đảng và Bác Hồ chỉ đạo chuẩn bị chu đáo từ trước.

Năm 1947, trong lời giới thiệu 13 chương Binh pháp Tôn Tử, Bác Hồ nhấn mạnh: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”. Cuối năm 1967, Bác Hồ đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng, lời dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Chớp thời cơ có một không hai

Chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TW khóa III, tháng 1/1967 khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”.

Ngày 28/12/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định kế hoạch Tổng tấn công mùa Xuân 1968. Lời chúc Tết của Bác đêm Giao thừa mùa Xuân 1968: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” – vừa là hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công này, vừa là tư tưởng chiến lược chỉ đạo kết hợp giữa đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố trên truyền hình ngày 31/3/1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở Thủ đô Paris của Cộng hòa Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Mục tiêu trước mắt của ta là, tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 13/10/1968, Đoàn ta ở Paris nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị mà nếu thực hiện theo thì có thể bỏ lỡ thời cơ buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và họp 4 bên.

Thấy tình thế rất phức tạp, có thể không kịp thời gian nếu trao đổi qua mật điện, nên sáng hôm sau, sau khi trao đổi kỹ trong Đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ đã quyết định về ngay Hà Nội.

Ngày 16/10/1968, đồng chí về tới Hà Nội. Bộ Chính trị đã họp liên tục trong 3 ngày từ 17 đến 19/10 để nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đàm phán ở Paris, cuối cùng đã thống nhất với nhận định của Đoàn ta ở Paris trước đó. Kết quả là Mỹ đã chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện vào ngày 31/10/1968 và sau đó tiến hành họp 4 bên. Đây là một thắng lợi bước đầu quan trọng của sự kết hợp đánh với đàm, có tác động hỗ trợ lớn cho chiến trường miền Nam.

Tấn công trên ba mặt trận

Từ tháng 3/1970, Bộ Chính trị đã quyết định đẩy mạnh tấn công trên 3 mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao theo chỉ đạo của Bác Hồ: “Thực lực là cái chiêng – ngoại giao là cái tiếng. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”. Thất bại trong cuộc tấn công của địch sang vùng Mỏ Vẹt ở Campuchia hòng “cất vó” Trung ương Cục miền Nam và phá hủy hậu cứ của ta (tháng 4/1970) và sự phá sản của cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đường 9 Nam Lào (tháng 2/1971) nhằm triệt phá đường chi viện huyết mạch của ta, đã làm tan vỡ một mảng lớn kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, buộc Mỹ phải xuống thang, không đòi cả hai bên cùng rút quân nữa.

Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ R.Nixon vào tháng 2/1972, ngày 22/3/1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô điều kiện. Ngày 30/3/1972, quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công địch từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Ngày 6/4/1972, Tổng thống Mỹ R.Nixon ra lệnh ném bom lại miền bắc Việt Nam. Sau chuyến thăm Moscow vào tháng 5/1972 của Tổng thống Mỹ Nixon, ngày 11/6/1972, đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28/6/1972.

Ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, so sánh thế và lực giữa ta với địch trên chiến trường, quan hệ Mỹ – Xô – Trung và tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã tới lúc có thể đi vào giải pháp ở đàm phán Paris. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng tiến sĩ Kít-xinh-giơ chậm nhất là ngày 15/7/1972.

Những cuộc gặp riêng căng thẳng

Từ ngày 19/7 tới đầu tháng 10/1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9h30’ ngày 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận.

Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ R.Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31/10/1972 tại Paris. Kít-xinh-giơ thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”!

Tuy nhiên, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ-ngụy. Đúng là phía Mỹ đã lật lọng, không thực hiện điều đã cam kết.

Ngày 22/10, Tổng thống R.Nixon lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu nên chưa có thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Sau khi Tổng thống Nixon được tái cử ngày 7/11, trong cuộc họp ngày 23/10/1972, Kít-xinh-giơ đòi sửa lại 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận.

Trong cuộc họp hẹp với Kít-xinh-giơ sáng 4/12/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B-52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông “không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh””.

Tới cuộc gặp riêng ngày 6/12/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đề nghị: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không thể chỉ một bên sửa, một bên không sửa. Cứ như thế sửa đi, sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định”. Đến phiên gặp riêng ngày 12/12/1972, chỉ còn hai vấn đề sẽ giải quyết bằng trao đổi công hàm: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự. Nhưng tới cuộc gặp riêng sáng hôm sau, ngoài hai vấn đề trong văn bản, quan điểm của hai bên trong các nghị định thư cũng xa nhau. Ngày 14/12/1972, Kít-xinh-giơ về Mỹ. Ngày hôm sau, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rời Paris về Hà Nội.

Từ chiến thắng trên bầu trời Hà Nội đến thắng lợi ở Pa-ri

Đúng như dự báo của Bác Hồ, tối 18/12/1972, Mỹ đã dùng B52 không kích Hà Nội. Đồng thời cũng trong ngày hôm đó, Mỹ lại gửi công hàm tới Đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại đàm phán sau ngày 26/12/1972.

Dùng B52 tấn công là “canh bạc” cuối cùng của Nixon. Hình ảnh “con bồ câu” của Nixon trong khi vận động tái tranh cử đã lộ nguyên hình “con diều hâu” hiếu chiến điên rồ sau khi vừa tái cử. R.Nixon và giới quân sự chóp bu Lầu Năm góc đã quá ảo tưởng về sức mạnh của pháo đài bay B52 “bất khả chiến bại”.

Đây là một chiến dịch đã được chuẩn bị sẵn từ trước với cái tên “Linebacker II”. Nhưng có một điều mà ông ta và các chiến lược gia Hoa Kỳ chưa biết rõ. Đó là Thăng Long địa linh, Thăng Long bất khuất và kiên cường đã chôn vùi nhiều mộng tưởng ngoại xâm.

Trong 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B52 và 5 chiếc F111, hàng chục giặc lái đã bị bắt.

Mưu đồ của R.Nixon nhằm khuất phục ý chí sắt đá của Hà Nội bằng tham vọng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” đã thất bại hoàn toàn. Mơ mộng của Kít-xinh-giơ về “Không lực của nước Mỹ… mạnh tới mức trong vấn đề Việt Nam từ “thất bại” không bao giờ thuộc về chúng ta” đã tan thành mây khói. R.Nixon cũng không còn gì để trấn an chính quyền Thiệu được nữa và nội bộ càng mâu thuẫn, rối ren. Dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom để quay lại bàn đàm phán.

Bộ Chính trị đã thảo luận suốt 3 ngày trong hầm nhà Rồng ở trong thành, nhiều ý kiến lật đi, lật lại, nhưng cuối cùng đã nhất trí cao với ý kiến do các đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đề xuất là phía ta nên gặp lại phía Mỹ để giải quyết vấn đề. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tắt ngày 23/1/1973 và được ký chính thức ngày 27/1/1973 với nội dung cơ bản như dự thảo của ta chủ động đưa ra hồi tháng 10/1972.

Trong cuộc gặp mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77 Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Đồng chí Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không dám, không dám! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng B52 của các đồng chí trên bầu trời Hà Nội, làm gì có thắng lợi ở Hội nghị Paris. Chính chiến thắng đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973”…/.

Lưu Văn Lợi
Nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris.

Theo Quân đội nhân dân
vov.vn

“Không đánh giỏi là… chết!”

(Dân trí) – “Trước hết phải có lòng yêu nước, nhưng ở chiến trường, đánh giỏi là điều kiện tiên quyết để sống. Bộ đội ta đã làm được”, PGS. TS Nguyễn Đình Lê nhấn mạnh khi nói về điều “chỉ Việt Nam làm được” qua chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê hiện là Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Cận – hiện đại, trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội.

Sau những thất bại trên chiến trường miền Nam, Hoa Kỳ đã quyết định dùng đến quân bài chiến lược là B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Ông có thể nói gì về tham vọng của đế quốc Hoa Kỳ trong trận chiến quyết định này?

Theo tôi, đánh phá Hà Nội bằng B52 với Hoa Kỳ là cuộc thử lớn, với mục tiêu đánh cho chúng ta kiệt quệ đi chứ không hẳn đánh để tạo điều kiện cho việc ký hiệp định, bởi lẽ nếu không đánh, ta vẫn tiến lên giành thắng lợi cuối cùng… Và trước sau Hoa Kỳ cũng vẫn ký hiệp định Paris. Hoa Kỳ đánh để “Hà Nội không còn 2 viên gạch dính vào nhau”, để 2 thập kỷ sau cũng chưa khôi phục lại được. Sau nữa, đánh để lên dây cót cho chính quyền Sài Gòn, để bảo lãnh cho Thiệu với nghĩa “cứ ký hiệp định đi, có gì còn Hoa Kỳ đằng sau” nữa.

Có thể có 1 khả năng nữa là Hoa Kỳ đánh trận này như một trận phục thù. Tôi mới đi Hawai để xem xét lại trận Trân Châu Cảng thì trong chừng mực nào đó thấy có điểm tương tự. Nhật đánh Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ mang bom nguyên tử trả thù.

Không kể Tổng thống Gerald Ford, đã có 4 đời Tổng thống Hoa Kỳ sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam và Hoa Kỳ gần như đã huy động hết tiềm lực của mình. Một nước Hoa Kỳ lớn như thế, chưa từng thua ai trong 200 năm lịch sử, một đất nước cao ngạo, ngay cả khi thương lượng với Liên Xô, với Trung Quốc bao giờ cũng muốn ở thế thượng phong, vậy mà 20 năm sa lầy ở Việt Nam, không thể thắng được. Vì thế, Hoa Kỳ muốn rửa nhục, phục thù.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Nếu chỉ bắn rơi 10 chiếc B52 thì cũng đã là chuyện động trời.PGS.TS Nguyễn Đình Lê: “Nếu chỉ bắn rơi 10 chiếc B52 thì cũng đã là chuyện động trời”.

Đối diện với âm mưu đánh phá Hà Nội bằng B52, phía ta có hoàn toàn chủ động không, thưa ông?

Khi Hoa Kỳ bắt đầu đánh phá lại miền Bắc là ta có phần bị động – có lý do chắc chắn để nói vậy. Ta đánh 3 chiến dịch lớn ở miền Nam vào cuối tháng 3/1972 thì chỉ mấy ngày sau Hoa Kỳ đánh phá miền Bắc. Thực sự là ta bất ngờ. Tất cả hệ thống phòng thủ lớn nhất của Bắc Bộ rút hết vào khu 4. Tháng 6 ta mới bắt đầu bố trí lại lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội

Có điều chắc chắn là Hoa Kỳ tin Việt Nam không bắn được B52. Có 2 sự kiện để Hoa Kỳ tin điều này: Năm 1970, khi lính biệt kích Hoa Kỳ nhảy dù xuống thị xã Sơn Tây – trung tâm “thủ đô bộ đội” ở đó – hòng cứu phi công, thì lực lượng ra đa cảnh vệ quốc gia của ta không phát hiện kịp; Vụ Hoa Kỳ dùng B52 rải thảm Hải Phòng (16/4/1972) ta không đối phó được, không bắn rơi máy bay nào dù đã sử dụng rất nhiều SAM 2.

Từ ngày 18/12/1972, khi ta chủ động thực sự nhiều thứ thì mọi chuyện đã khác. Khi đó, Bộ Chính trị đặt quyết tâm cần ít nhất bắn rơi tại chỗ một máy bay B52. Nhưng trong chiến dịch Line Backer II, cục diện đã khác. Ta đã bắn rơi hàng chục máy bay B52. Hoa Kỳ nói không phải 34 chiếc đâu, mà 15 chiếc. Nhưng nếu rơi 15 máy bay chiến lược của Hoa Kỳ như họ nói thì lực lượng phòng không của miền Bắc đã quá giỏi rồi. Thế giới khi đó chưa ai bắn được B52. Chỉ ở Việt Nam mới làm được điều đó – khủng khiếp đấy chứ.

Sau những “lỗ hổng chết người” ở các trận Sơn Tây, Hải Phòng như ông nói ở trên, tại sao ta có sự thay đổi nhanh đến như vậy trong trận Điện Biên Phủ trên không?

Đó là cái giỏi vượt bậc của lực lượng vũ trang của ta. Trận ở Hải Phòng, có thể nói chiến tranh từ xa của ta không tốt, biển ta không giữ được. Nhưng khi Hoa Kỳ đưa máy bay vào Hà Nội, đi sâu vào đất liền hàng trăm cây số, ra đa hoàn toàn có thể biết được. Sau này có thể nói đơn giản, ta kết hợp giữa phương tiện hiện đại và thô sơ để có thể phát hiện máy bay địch.

Và một sự thật, 4 ngày sau khi B52 ném bom, ta phát hiện ra 1 quy luật, máy bay Hoa Kỳ xuất phát từ 2 nơi, từ Udon và Guam, tập kết ở một số địa bàn cố định sau đó sử dụng chế độ lái tự động để thả bom. Bộ tội ta phát hiện ra những điểm đường chéo giao nhau và dồn hỏa lực phòng không vào “tọa độ chết”. Ngày lực lượng phòng không của ta bắn rơi nhiều B52 nhất là nhờ có “bí quyết” này. Đó là chuyện rất mẹo mà chỉ Việt Nam mới làm được.

Với sức hủy diệt của B52 cùng lực lượng hùng hậu mà Hoa Kỳ huy động, hẳn người dân miền Bắc ở thời điểm đó cũng “tâm trạng”, thưa ông?

Lo thì ai… chẳng lo. Trước đó địch còn rải truyền đơn nói rằng máy bay này ở tít trời cao, trên 11 km vẫn không ai thấy được, không ai nghe tiếng động cơ mà chỉ biết B52 đến bởi khói và bom dày đặc. Sau này ở chiến trường, chứng kiến B52 đánh thực sự thì kinh khủng vì khoảng 30 tấn bom cùng nổ trong khoảng 3-10 giây, trong khi phải 7-8 chiếc tiêm kích muốn ném 30 tấn bom phải cần khoảng 1 giờ. Tôi chứng kiến một đợt ném ở khoảng cách 3km mà thấy vô cùng khủng khiếp.

Nhưng với thắng lợi đầu tiên, khi chiếc máy bay rơi ở Bắc Hà Nội thì dân rất tin vì một loại mà chưa ai bắn được, chưa từng chiếc nào rơi trên thế giới mà ta đã bắn được.

Phi công Hoa Kỳ thừa nhận, sau một vài ngày đánh phá Hà Nội, khi xuất phát tại sân bay để tham chiến, họ rất hoang mang vì những máy bay xuất phát trước đó đã không trở về nữa?

Mới đầu thì họ không tin việc B52 bị bắn hạ, nhưng sau đó thì phải tin. Lúc ấy, chính những người lính này trở thành những người lính phản chiến cuối cùng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Trong các hội thảo vừa qua ông có đề cập việc con số B52 rơi ta công bố có khác với Hoa Kỳ, nhưng không kể đến sự khác nhau về con số thì các học giả Hoa Kỳ và quốc tế đánh giá thế nào về trận chiến này?

“Chỉ có Việt Nam làm được như vậy” là nhận định của nhiều người. Cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” chính là do một nhà báo nói ra và đó là một khái quát rất đúng. Báo chí Hoa Kỳ thừa biết B52 hiện đại đến mức nào và khi Tổng thống Hoa Kỳ hay Bộ Tư lệnh không quân Hoa Kỳ nói đây chỉ là cuộc “dạo chơi” thì không phải không có lý. Nếu ta bắn rơi chỉ 10 chiếc thì cũng đã là chuyện động trời. Máy bay do thám U2 mà mãi Liên Xô mới bắn hạ được 1 chiếc, vậy mà không ngờ B52 lại bị bắn nhiều như thế. Họ phải thừa nhận điều đó, nhưng số liệu họ công nhận ít hơn.

Điều cốt lõi nào làm nên chiến thắng của Điện Biên Phủ trên không và có phải Hoa Kỳ đã không đánh giá hết khả năng của bộ đội ta?

Suy đến cùng, trụ cột trong trận này là của lực lượng phòng không – không quân, đây là lực lượng sống còn thực sự. Không thể nói Hoa Kỳ không tài, nhưng đối phương của họ vẫn tài hơn. Bộ đội ta không phải chỉ dũng cảm mà muốn sống nhất định phải giỏi. Trước hết phải có lòng yêu nước nhưng ở chiến trường, đánh giỏi là điều kiện tiên quyết để sống. Bộ đội ta đã làm được. Mà dường như đó là văn hóa của ta, bị chèn ép đến cùng đường thì làm được những việc phi thường. Trong hoàn cảnh cuối cùng nhất định phải nghĩ ra cách đánh không thì chết.

Chuyên gia Liên Xô xem xét xác máy bay B52 bị bắn rơi tại Hà Nội.
Chuyên gia Liên Xô xem xét xác máy bay B52 bị bắn rơi tại Hà Nội.

Có khi nào ông chia sẻ, cắt nghĩa với học giả Hoa Kỳ về thất bại của Hoa Kỳ trong trận Điện Biên Phủ trên không?

Có đồng nghiệp Hoa Kỳ yêu cầu tôi trả lời thẳng thật câu hỏi vì sao họ thua. Tôi nói, Hoa Kỳ quá kiêu ngạo, nghĩ mình quá văn minh. Máu kiêu ngạo của Hoa Kỳ làm cả Sài Gòn tin. Tận mùa xuân 1975, khi ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mà họ vẫn tin, bảo ta không đánh nổi Đà Nẵng, không đánh nổi Sài Gòn đâu. Như vậy là rất không hiểu đối phương. Nixon, Hoa Kỳ đã phải trả giá rất đau vì 4 đời tổng thống sa lầy và thất bại ở Việt Nam, cho cả danh dự của nước Hoa Kỳ.

Nếu không có chiến thắng này, diễn biến bàn đàm phán ở Hội nghị Paris sẽ thế nào, thưa ông?

Hoa Kỳ vẫn sẽ ký thôi. Nixon định làm cú lừa cả 2 bên sau hiệp định, Sài Gòn bị lừa, Hà Nội bị lừa. Hoa Kỳ lấy được tù binh ra rồi đánh tiếp. Đến khi đón được hơn 400 phi công trong đợt 2 ở Gia Lâm, Hoa Kỳ làm chiến dịch Duck Hook (Vịt đá). Hoa Kỳ ký Hiệp định nhưng với Tổng thống R.Nixon thì chưa chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đâu.

Tư liệu mới tiết lộ gần đây cho thấy Tổng thống R.Nixon muốn thực hiện chiến dịch Duck Hook ngay sau khi Hoa Kỳ nhận hết số tù binh ta trao trả ở Gia Lâm (29/3/1972). H.Kissinger muốn phát động chiến dịch đó muộn hơn vào dịp ông ta nhận xong giải thưởng Nô-ben hòa bình! Đấy, ý đồ của người đứng vị trí cao nhất trong hệ thống quyền lực của Hoa Kỳ lúc đó tính toán như vậy đấy.

Còn nếu Hoa Kỳ muốn gây sự đánh miền Bắc thì dễ lắm, không thiếu gì lý do! Có điều tại sao Hoa Kỳ không thực hiện được là vì vụ Watergate đã nhấn chìm R. Nixon. Và vụ đó cũng nhấn chìm luôn một tham vọng muốn đánh lại miền Bắc.

Xin cảm ơn ông!

Cấn Cường – Phương Thảo (thực hiện)
dantri.com.vn

Người lính già với vở rối nước “đánh B52”

Đào Thục – một làng quê ở ngoại ô Hà Nội thuộc huyện Đông Anh – có phường rối nước trên 300 năm tuổi. Bên cạnh các vở diễn truyền thống của làng như “Ba khí giáo trò”, “Lên võng xuống nước”, “Trâu chui ống”… từng mê hoặc bao lớp người, nay có thêm vở mới: “Đánh B52”.

Người lính già với vở rối nước “đánh B52”Tiểu Đoàn trưởng Đinh Thế Văn (đội mũ) đang thuyết minh cách đánh B.52 với Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngoài cùng bên trái) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Tư liệu gia đình ông Đinh Thế Văn.

Tác giả của vở rối mới toanh này là ông Đinh Thế Văn – vị Tiểu Đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 bộ đội tên lửa từng hạ B52 trong chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội bằng cách đánh độc đáo của mình.

Hai lần đánh “Điện Biên Phủ”

Nhà có hai anh đầu tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng năm 16 tuổi (1953), Đinh Thế Văn cũng xung phong vào bộ đội. Chàng trai “chưa đủ tuổi” ấy theo đoàn quân lên Tây Bắc để tham gia trận đánh cuối cùng với quân viễn chinh Pháp ngay tại lòng chảo Điện Biên. Kết thúc trận đánh lịch sử ấy, Văn cũng vừa tròn 17 tuổi đời với 2 tuổi lính, huân chương chưa “đầy ngực” nhưng hai năm “cơm vắt ngủ hầm” cũng đủ để  cho chàng trai trẻ nếm trải mùi chiến trận. Đó là trận đánh Điện Biên Phủ lần đầu của Văn.

Những tưởng được trở về làng và tiếp tục với nghề nông của gia đình, để mỗi tháng một lần, Văn sẽ theo cha ra đình làng tham gia diễn rối nước như bao bậc tiền bối của Đào Thục đã từng diễn rối từ thời Vua Lê Ý Tông (1735), nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khép lại nhiều dự định của Văn. Ông tiếp tục đời quân ngũ rồi trở thành vị Tiểu Đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 bộ đội tên lửa khi vừa mới ngoài ba mươi.

Nếu như bắn máy bay các loại F của Mỹ là điều còn khá mới mẻ của lính phòng không ngày ấy thì việc đánh B52 còn lạ lẫm hơn. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến trên bầu trời Hà Nội này, toàn binh chủng đã phải luyện tập không ngừng nghỉ suốt ngày đêm với bao gian khổ, nhưng tất cả đều hướng về mục tiêu là phải “hạ gục” cho bằng được pháo đài bay của không lực Mỹ ngay trên bầu trời thủ đô.

Đã 40 năm rồi mà ông Văn vẫn không quên cái đêm 18/12/1972 trước khi bước vào trận đánh để đời ấy: “Chúng tôi hồi hộp vô cùng. Tim như muốn vỡ ra khi nghe còi báo động vang lên và tiếng của những chàng trắc thủ báo cáo về tọa độ của từng tốp B52 lừ lừ tiến vào Hà Nội. Chúng tôi như những cậu học trò bước vào phòng thi, dù “ôn tập” đã khá nhuần nhuyễn và tự tin, song thật khó để biết rằng “đề thi” ấy liệu chúng tôi có giải được không? Và rồi, từng “bài toán” một, chúng tôi lần lượt tìm ra đáp số”.

Ông Đinh Thế Văn trước thủy đình. Ảnh: Trà BanÔng Đinh Thế Văn trước thủy đình. Ảnh: Trà Ban

“Đáp số” mà ông Văn nói ấy chính là một trong hai chiếc máy bay B52 đầu tiên rơi ngay trong đêm 18/12/1972 mà Tiểu đoàn 77 của ông bắn rơi một chiếc. Ông Văn nhớ lại: “Lúc ấy là 23h9, một tốp B52 hiện lên màn hình ngày càng rõ. Bộ phận giải nhiễu cho hay, đích thị là con “ngáo ộp” ấy rồi. Đến cự ly 32km, tôi cho phát lệnh, 2 quả tên lửa lao vào trời đêm, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 23km, nổ tung. Trắc thủ báo cáo “mục tiêu cháy rất to. Cả tiểu đoàn vỡ òa! Đó chính là chiếc B52  rơi ở xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây – một trong hai pháo đài bay đã bị bắn hạ ngay trong đêm đầu tiên “khai hỏa” chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội”.

Cũng cần nhắc lại rằng, trước khi Mỹ mở chiến dịch “đưa Hà Nội trở về thời đồ đá”, bộ đội tên lửa của ta cũng đã từng bắn B52 nhưng chỉ nghe nói “lúc thì chúng rơi bên rừng Lào, khi thì chúng lê lết về sân bay Đà Nẵng”, riêng lần này thì có thể sờ tận tay, nhìn tận mắt “niềm kiêu hãnh” của không lực Mỹ rơi rụng xuống các cánh đồng miền Bắc Việt Nam. Đấy là lần thứ hai, ông Văn tham gia đánh Điện Biên Phủ, nhưng lần này là “Điện Biên Phủ trên không”.

Đánh theo cách của Văn

Trong Bảo tàng Binh chủng Phòng không-Không quân hiện còn lưu giữ cuốn “sổ đỏ” nói về cách đánh B.52. Tiểu đoàn 77 của ông Đinh Thế Văn đã góp vào đấy những trang rất độc đáo mà không một giáo án nào trước đó đề cập đến. Đó là “đánh theo cách của Văn”.

Ông Văn nói với tôi rằng, cuốn “sổ đỏ” ấy, khách tham quan chỉ nhìn thấy cái bìa, còn ruột của nó thì vẫn còn là điều “bí mật”. Ông chỉ diễn nôm để cho người ngoại đạo chuyện súng ống là tôi hiểu thế này: “Bám theo B52 là hàng loạt các loại máy bay khác, lại còn nhiễu giả chúng giăng mắc dày đặc vây quanh nhằm đánh lạc hướng rađa của ta. Đã vậy, các loại máy bay tiêm kích của chúng có thể bắn trả vào bộ phận phát sóng dưới đất của ta một cách chính xác nhất nếu như mình không khôn ngoan “lúc ẩn lúc hiện”. Vì việc phát sóng ấy của rađa vô tình trở thành mục tiêu cho địch.

Khi chúng bay vào tầm 32km, xác định được hướng bay của chúng, ta tắt rađa và phát lệnh cho tên lửa lao lên. Bắn như thế, thuật ngữ quân sự gọi là “vượt trước nửa góc”, giống như bắn đón đầu. Nói thì có vẻ dông dài nhưng tất tật các thao tác ấy chỉ diễn ra chưa đến 10 giây vì vận tốc B52 là 1.000km/h nên chỉ trong tích tắc, hoặc là tên lửa trúng mục tiêu, hoặc là chỉ “vuốt đuôi” chúng mà thôi”.

Cách đánh “vượt trước nửa góc” của Tiểu đoàn 77 đã thành một trong những cách đánh ưu việt của bộ đội tên lửa trong chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội. Không phải ngẫu nhiên mà cả Chủ tịch Nước Tôn Đức Thắng lẫn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có mặt tại trận địa Chèm của Đinh Thế Văn ngay khi khói bom vừa dứt để nghe vị tiểu đoàn trưởng này báo cáo cách đánh B.52 khá kỳ lạ ấy.

Rối nước cũng “đánh” B52

Làng rối nước Đào Thục xuất hiện cách nay trên 300 năm và con cháu của làng vẫn giữ “nghề” truyền thống này từ bấy đến giờ. Cha ông Đinh Thế Văn là cụ Đinh Văn Viết, một “ông bầu” của làng múa rối nước Đào Thục, sinh thời có dặn con trai, lúc ông Văn còn tại ngũ: “Nếu sau này con về hưu mà còn mạnh khỏe, con nên tiếp tục truyền thống rối nước của làng, đừng bỏ mai một mà có lỗi với ông bà”.

Năm 53 tuổi (1990), ông Văn “trả súng cho quân đội” về hưu với quân hàm đại tá. Cuộc chiến với ruộng vườn cũng không kém phần gian nan nhưng lời dặn của bố cứ ám ảnh lấy ông. Làng Đào Thục chỉ cách trung tâm Hà Nội 30 cây số nhưng thuộc “vùng sâu vùng xa”, bởi bùn lầy đã vây lấy làng mỗi mùa mưa đến.

Ông Văn kể, có những năm, dân Đào Thục không bán được con lợn, con gà nào vì không một bà buôn nào có thể đưa được heo gà ra khỏi làng do đường quá lầy lội. Khó khăn là vậy nhưng ánh đèn để diễn rối nước nơi thủy đình của làng Đào Thục thì chưa có năm nào tắt.

Ông Văn nghĩ, rối nước với các vở cũ ngày một “mòn”, ông cùng một số nghệ nhân của làng bèn sáng tác ra vở mới: “Đánh B52”. Có lẽ, trận đánh B.52 năm nào vẫn còn cựa quậy trong người lính già này. Nhưng mỗi lần diễn rối nước, ban tổ chức lại phải chạy vạy gõ cửa khắp làng để xin “tài trợ”, nuôi diễn viên. Làm như thế sẽ không bền chặt.

Nghĩ vậy, ông Văn lại xuống Hà Nội gõ cửa Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, gặp ngay Giáo sư Hoàng Chương – Giám đốc Trung tâm – một người rất “máu” với vốn văn hóa cổ truyền. Giáo sư Chương về Đào Thục cùng ông Văn để xem “Đánh B.52” và ông rất tâm đắc.

Sau chuyến đi đó, hễ có đoàn khách nước ngoài nào mà “mê” văn hóa truyền thống của Việt Nam, GS Chương lại dẫn về Đào Thục để thưởng lãm. Dần dà, các tour du lịch cũng đưa rối nước Đào Thục vào chương trình của họ.

Thế rồi, con đường làng lầy thụt năm nào đã thành “bon bon đường nhựa” cùng với hệ thống điện chiếu sáng kéo về đến tận thủy đình vừa mới tân trang, tất cả đều được Nhà nước đầu tư xây dựng. Các diễn viên của làng cũng không còn cảnh “chạy gạo” gõ cửa dân làng vào mỗi đêm diễn nữa mà đã tự nuôi thân bằng vé tham quan của du khách.

“Nếu không có cái cú “đánh B52 bằng rối nước”, chắc không biết đến bao giờ Đào Thục mới thoát được cảnh bùn lầy” – ông Văn kết luận. Hình như những trận đánh B52 từ 40 năm trước vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của người lính già 75 tuổi ấy.

Theo Trà Ban
 Lao Động
dantri.com.vn

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn

(Dân trí) – Tung “con át chủ bài” (máy bay B52) cuối cùng ra Bắc, Mỹ toan tính tham vọng lớn. Thế nhưng chỉ sau 12 ngày đêm (18/12 – 29/12/1972), bầu trời Hà Nội đã biến thành tử địa chôn vùi B52.

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn
Những ngày này, Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ trên không nằm trên đường Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) thu hút rất đông học sinh đến tham quan.
Các em học sinh đư
Các em học sinh được hướng dẫn tỉ mỉ các khí tài quân sự của ta đã hạ gục B52

Đ
Đối đầu với máy bay, tên lửa của Việt Nam, máy bay B52 chỉ còn là đống sắt vụn.

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52
Gắn động cơ “khủng” nhưng “pháo đài bay” – B52 không thoát được tên lửa của Việt Nam

Phần đầu của pháo đài bay
Phần đầu của “pháo đài bay”

Bên trong máy bay B52 - nơi có thể chứa hàng chục tấn bom
Bên trong máy bay B52 – nơi có thể chứa hàng chục tấn bom

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)
Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 – 12/2012)

Một số loại bom B52 mang theo khi đánh phá Hà Nội
Một số loại bom B52 mang theo khi đánh phá Hà Nội

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời
Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời
Những khí tài quân sự của Việt Nam hạ gục 34 máy bay B52 và hàng loạt máy bay chiến lược đi theo bảo vệ B52 trong 12 ngày đêm

Trúc Linh
dantri.com.vn

Nhớ một thời cả nước hướng về Thủ đô yêu dấu

(Dân trí) – Tháng 12/2012, ký ức về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn hào hùng, oanh liệt như cách đây 40 năm tròn.

Ký ức còn mãi

Với mưu đồ biến miền Bắc trở về với thời kỳ đồ đá, Ních-Xơn đã dốc toàn bộ lực lượng, tiềm lực quân sự để xây dựng những “pháo đài bay” trên không nhằm đánh phá Thủ đô và các tỉnh miền Bắc nước ta. Hơn nữa, để gây sức ép trên bàn đàm phán Paris, không lực Hoà Kỳ đã sử dụng toàn bộ B52 (pháo đài bay chiến lược) hiện đại nhất thời bấy giờ để rải bom nhằm giành thế áp đảo trên mặt trận ngoại giao.

Và, một chiến dịch mà tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Ních-Xơn đưa ra với tên gọi “Linebacker II” nhằm huy động toàn bộ lực lượng đánh trả lại các trung tâm đầu não của Việt Nam như: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên…đã được thực hiện. Tối 18/12/1972, không lực Hoà Kỳ đã dùng máy bay B52 ném bom vào Hà Nội và Hải Phòng.

Đây là loại máy bay tải trọng 30 tấn bom, có sức công phá khủng khiếp nhất thời đó. Trong 12 ngày đêm (18/12 – 29/12/1972), Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta hơn 100 ngàn tấn bom đạn.

Trong đó, tại Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 441 lần B52, hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật, ném hơn 1 vạn tấn bom đạn, giết hại 2.368 người và làm bị thương 1.355 người. Thậm chí có những gia đình không một ai sống sót. Những con đường, góc phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Đông Anh… còn đó bao dấu tích của 12 ngày đêm rực trời Hà Nội năm xưa.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng đến bây giờ, ký ức của trận chiến kinh hoàng ấy vẫn vẹn nguyên. “Ngày ấy, B52 thả nhiều lắm, dữ dội lắm. Nhà tôi gần bệnh viện Bạch Mai nên cũng bị máy bay B52 rải bom tàn phá. Ngày đó không đi sơ tán kịp thì cũng bị bom Mỹ sát hại. Sau này, về lại Hà Nội thấy cảnh tan hoang, hàng xóm có người thân mất mát sau 12 ngày đêm ấy mới thấy tội ác của Mỹ không thể tha thứ được. Bây giờ, sống trong cảnh thanh bình nhưng mỗi khi đài báo đưa tin nói về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tôi vẫn không thể quên được ký ức về hình ảnh của Hà Nội bi thương nhưng oai hùng ngày ấy” – bà Nguyễn Thị Nụ (80 tuổi) hiện nay sống ở phố Phương Mai, quận Đống Đa (Hà Nội) nhớ lại.

Bảng ghi hoạt động của máy bay B52.Bảng ghi hoạt động của máy bay B52.

Cũng như bà Nụ, hàng triệu người dân Thủ đô ngày ấy đã trải qua ký ức 12 ngày đêm khói lửa, từng chứng kiến cảnh đổ nát, điêu tàn trong bom đạn B52 mà giặc Mỹ gây ra. Họ có thể là những cựu quân nhân, là những người phụ nữ ở lại cùng với bộ đội bám trụ để “sống chết với Thủ đô”, là những em bé ra đời đúng vào thời khắc của những ngày tháng mười 12 để rồi phải sống trong mùi bom do Mỹ ném xuống, là những cặp vợ chồng trẻ vừa mới cưới nhau đành phải tạm chia tay để chồng ra mâm pháo canh giữ bầu trời Hà Nội…

Bảo tàng chiến thắng B52 – chứng tích của 12 ngày đêm khói lửa

Ngày chiến thắng, có những người vợ mất chồng, con mất cha rồi côi cút tất cả. Có lẽ, không chỉ thế hệ sau này không được sinh ra trong thời khắc 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 mà còn cả những người từng sống, chiến đấu vào thời kỳ ấy vẫn không quên ký ức tàn khốc mà B52 trải thảm ném bom miền Bắc. Và, hôm nay, những gì còn sót lại sau chiến tranh, những gì được coi là minh chứng tội ác của giặc Mỹ vẫn còn đây giữa lòng Hà Nội.

Một ngày đầu tháng 12, giữa bảo tàng chiến thắng B52, những hiện vật hiện lên trong mắt khách tham quan từ mọi miền Tổ quốc với bao nỗi căm hờn lẫn với khâm phục ý chí của quân và dân Thủ đô một thời. Với bao hiện vật được lưu giữ đầy đủ tại đây là niềm tự hào chiến thắng và cũng là một chút ký ức để lại trong lòng người dân Hà Nội một thời đau thương.

40 năm trước, cả nước thắt lòng hướng về Hà Nội. Mỗi chiếc B52 của không quân Hoa Kỳ rơi là hàng triệu trái tim đồng bào cả nước rung lên hồi chuông hạnh phúc.

Chiếc B52 cuối cùng bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội được lưu giữ tại Bảo tàng chiến thắng B52.Chiếc B52 cuối cùng bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội được lưu giữ tại Bảo tàng chiến thắng B52.

Dịp này, vào thăm bảo tàng chiến thắng B52 trên phố Đội Cấn, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến một Hà Nội 40 năm về trước trong 12 ngày đêm với đầy đủ sa bàn điện tử hiện đại tái hiện lại không gian chiến đấu quyết liệt của quân và dân bảo vệ bầu trời Hà Nội bằng gần 9.000 hiện vật được lưu giữ. Mỗi hiện vật, mỗi bức ảnh là một lời nói cho chứng tích những gì đế quốc Mỹ đã gây ra tội ác vào 12 ngày đêm năm 1972, là tiếng cười chiến thắng của quân và dân Thủ đô năm nào giờ vẫn còn nguyên giá trị.

“Mỗi lần vào bảo tàng là thấy thêm yêu Hà Nội, thêm yêu Thủ đô! Dù mình không phải là người con sinh ra ở Hà Nội nhưng vào đây với bảo tàng, tôi như được sống trong không khí cả nước hướng về Thủ đô năm nào. Giờ mình là thế hệ sinh sau nhưng khi được sống và làm việc ở Thủ đô mới thấy quý trọng những gì mình đã gắn bó với Hà Nội gần 10 năm qua, thấy cảm phục tinh thần 12 ngày đêm của thế hệ đi trước đã bám trụ để bảo vệ trái tim của Tổ quốc” – anh Dương Văn Hậu, một người con xứ Nghệ nay sống và làm việc tại Hà Nội tâm sự.

Ngọc Thái – Nguyễn Duy
dantri.com.vn

“Điện Biên Phủ trên không”: Con người đã thắng vũ khí!

(Dân trí) – Nhắc lại những ngày tháng oanh liệt trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ năm 1972 để ghi nhớ từng thời khắc mất mát đau thương, mà khi đó dân tộc đã mạnh mẽ vượt qua bằng bản lĩnh Việt Nam.

>> “Điện Biên Phủ trên không”: Có người con gái bên mâm pháo
>> Người từng bị bom B52 vùi lấp kể lại ký ức “Điện Biên Phủ trên không”

Chiến dịch Linebacker II cuối năm 1972 của đế quốc Mỹ đã để lại cho Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên những vết thương lớn. Cả phố Khâm Thiên dài 1.170 m gần như bị san phẳng. Ngôi nhà số 51 có gia đình 7 người không còn ai sống sót trong đợt ném bom rải thảm tàn khốc đêm 26/12/1972 trong chiến dịch kéo dài 12 ngày đêm.

Nhưng, cả Hà Nội trở thành pháo đài, quân và dân đã chiến đấu anh dũng, đế quốc Mỹ phải lùi bước. Chiến thắng này một lần nữa thể hiện khí phách quật cường dân tộc, trở thành một “Điện Biên Phủ trên không” vang dội thế giới. Điều đó khẳng định, dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước kẻ thù, và “con người đã thắng vũ khí; chí nhân đã thắng tàn bạo; chính nghĩa đã thắng phi nghĩa” như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Những người từng một thời trải qua trận bom khốc liệt năm 1972 đang xem lại các hiện vật của trận chiến tại Bảo tàng chiến thắng B-52.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!
Xác một chiếc máy bay ném bom chiến lược B 52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Trong đợt ném bom mang tính hủy diệt kéo dài 12 ngày đêm, từ 18 đến 30/12/1972 đã có 34 chiếc B-52 bị bắn hạ.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Thương binh Nguyễn Hoàng Giác loại 1/4 đang hồi tưởng lại những chiến công của đồng đội qua những hiện vật tại Bảo tàng chiến thắng B 52.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Hình ảnh mô tả sở chỉ huy phòng không nhân dân thành phố Hà Nội trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Xác 1 trong 5 chiếc máy bay cường kích F111 “cánh cụp cánh xòe” mà không quân Mỹ cho là không thể bị bắn hạ. Tổng số các loại máy bay bị bắn rơi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm năm 1972 là 81 chiếc.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Khẩu súng máy phòng không 14,5mm của liên đội tự vệ Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng sử dụng tham gia chiến đấu bắn hạ 1 máy bay F111 đêm 22/12/1972.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Gia đình bà Đoàn Thị Mão ở ngõ Khâm Đức, ngõ Chợ Khâm Thiên bị trúng bom B-52 vào đêm 26/12/1972, khi đó cả gia đình bà gồm 9 người đang nằm trong hầm trú ẩn ở trong nhà nhưng may mắn thoát nạn, vì nắp hầm được gia cố bằng các tấm phản gỗ, chăn bông và bao trấu.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Di ảnh những liệt sĩ đã hi sinh tại phố Khâm Thiên đêm 26/12/1972. Trong trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, Hà Nội đêm 26/12/1972 đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em; làm cho 178 cháu mồ côi trong đó có 66 cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà bị san phẳng.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Xác những quả bom Mỹ tại Bảo tàng chiến thắng B 52. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném trong toàn bộ thời kì từ năm 1969 đến năm 1971, và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.

Điện Biên Phủ trên không: Con người đã thắng vũ khí!Tượng đài Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ được dựng lên sau trận bom rải thảm đêm 26/12/1972 tại phố Khâm Thiên. Nơi đây đã chứng kiến một gia đình 7 người không còn ai sống sót.

Bà con dân phố thắp nhang tưởng nhớ đến những nạn nhân trong đêm 26/12/1972 trong tượng đài.Bà con dân phố thắp nhang tưởng nhớ đến những nạn nhân trong đêm 26/12/1972 trong tượng đài.

Bà con dân phố thắp nhang tưởng nhớ đến những nạn nhân trong đêm 26/12/1972 trong tượng đài.Nhà 201 phố Trương Định (quận Hoàng Mai – Hà Nội) là nơi 1 chiếc B 52 bị bắn rơi lúc 22h32’ ngày 26/12/1972 bởi Tiểu đoàn 76, Trung đoàn tên lửa 257 (Đoàn Cờ Đỏ), Sư đoàn phòng không 361, Quân chủng phòng không – Không quân ở trận địa Dưỡng Tế (Lĩnh Nam – Hà Nội).

Bà con dân phố thắp nhang tưởng nhớ đến những nạn nhân trong đêm 26/12/1972 trong tượng đài.Còn đây là xác máy bay B-52 bị bắn rơi trên hồ Hữu Tiệp làng Ngọc Hà – Hà Nội đã trở thành di tích lịch sử.

Bà con dân phố thắp nhang tưởng nhớ đến những nạn nhân trong đêm 26/12/1972 trong tượng đài.Làng Ngọc Hà tuy không phải trọng tâm của đợt ném bom rải thảm khốc liệt, nhưng đã chứng kiến một trong những “pháo đài bay” tối tân của không quân Mỹ phải trả giá.

Hữu Nghị
dantri.com.vn

“Điện Biên Phủ trên không”: Có người con gái bên mâm pháo

(Dân trí) – 12 ngày, đêm lịch sử cuối năm 1972, họ là những cô gái bên mâm pháo cao xạ, góp phần làm nên huyền thoại “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”. 40 năm sau, họ đã thành bà nội, bà ngoại, nhưng ký ức một thời bi thương, hào hùng vẫn như ngày hôm qua.

Nằm sâu trong ngõ 281, ngách 751, hẻm 151, phố Trương Định, Hà Nội, là ngôi nhà của bà Phạm Thị Viễn, công nhân Nhà máy Cơ khí Mai Động. Nhìn người phụ nữ tóc đã pha sương đang chăm chút bón cho đứa cháu nội chưa tròn tuổi từng thìa ăn dặm, không quá khó để nhận những đường nét của cô gái trắng khăn tang trên mâm pháo cao xạ năm nào. Cô gái đó cũng là người đã lập chiến công bắn hạ máy bay siêu thanh F111 A của không quân Hoa Kỳ hồi 40 năm về trước.

Bà Phạm Thị Viễn - cô gái trắng khăn tang bên mâm pháo cao xạ năm xưa (Ảnh: Thể thao & Văn hóa)Bà Phạm Thị Viễn – cô gái trắng khăn tang bên mâm pháo cao xạ năm xưa (Ảnh: Thể thao & Văn hóa)

Nghe nhắc đến những ngày cuối tháng chạp năm 1972, giọng bà chùng xuống, ký ức dội về những năm tháng đau thương nhất trong cuộc đời bà. Sinh năm 1951 trong một gia đình đã nghèo lại khá đông con, năm 1966, bà phải khai tăng tuổi để vào học nghề tại Nhà máy cơ khí Mai Ðộng. Sau đó, bà chính thức làm công nhân thợ nguội.

Đất nước đang chiến tranh, bà vừa phải tăng ca sản xuất vừa tham gia chiến đấu. Năm 1967, giặc Mỹ điên cuồng leo thang bắn phá miền Bắc. Trong một lần máy bay địch đánh phá, rải bom bi xuống khu vực Hoàng Mai, mẹ bà Viễn trúng bom. Bản thân bà Viễn cũng bị thương bởi vệt bom này. Biết tin mẹ mất, nhìn cảnh hoang tàn đổ nát của ngôi nhà, bà ôm cậu em trai 4 tuổi khóc. Đầu hai chị em trắng vành khăn tang. Năm đó, bà Phạm Thị Viễn 17 tuổi. “Ngay ngày hôm sau, nghe tin tự vệ Nhà máy được tập trung cao độ để tăng cường sức chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tôi lập tức nộp đơn và được Ban chỉ huy chấp thuận, kết nạp vào đội tự vệ”- giọng bà Viễn thoáng nghẹn ngào.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, khi đế quốc Mỹ đem B52 rải thảm bom xuống Thủ đô với âm mưu tàn độc “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”, bà Phạm Thị Viễn tham gia trực chiến trên trận địa cả ngày lẫn đêm. Hỏa lực của Trung đội súng máy cao xạ của Nhà máy Cơ khí Mai Động là hai khẩu 14,5mm với nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu phía Nam thành phố trước các máy bay chiến thuật của địch như: Nhà máy dệt 8/3, nhà máy Cơ khí Mai Động; nhà máy dệt Minh Khai, nhà máy bánh kẹo Hải Châu và các trận địa pháo 37mm, 100mm của bộ đội khu vực Vĩnh Tuy, Mai Động, Vân Đồn… “Trong những ngày đó, tôi thường từ trận địa về nhà lấy gạo mang đi. Bố tôi thường cẩn thận dặn dò con, nào là việc ăn ở nơi tập thể khi xa gia đình đến việc qua lại trông nom nhà cửa mỗi lúc ông đi thăm các em…”- Bà Viễn nhớ lại.

Nói tới chiến công vào chiều 22/12, giọng bà Viễn trở nên sôi nổi hẳn, bà bảo: Đó là chiến công của cả tập thể. Ðêm hôm trước, khu tập thể Tổ rập của Nhà máy bị bom đánh trúng. Anh em trong đơn vị vừa khẩn trương cứu người bị thương, vừa đưa người chết đi mai táng gần trận địa. Ai cũng căm hờn lũ “giặc trời”. Ý chí quyết tâm chiến đấu đánh trả lũ “con ma”, “thần sấm”, “cánh cụp cánh xòe”, đánh trả B52 sôi sục trong con tim, khối óc những nữ tự vệ tuổi mới trên dưới đôi mươi.

Khoảng 14h ngày 22/12, đất trời Hà Nội chìm trong khói lửa. Bom đạn nổ inh tai nhức óc. Trận địa pháo ở Vân Đồn gồm hai khẩu pháo cao xạ của Nhà máy cơ khí Lương Yên, một khẩu của Nhà máy Gỗ và hai khẩu của Nhà máy cơ khí Mai Ðộng, vẫn trụ vững vàng. Chỉ huy liên đội tự vệ này là trung úy Hoàng Minh Giám, một sĩ quan trẻ vừa được Quân khu Thủ đô điều ra hỗ trợ.

Những người con gái làm nên bản anh hùng ca Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không (Ảnh tư liệu)Những người con gái làm nên bản anh hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh tư liệu)

“Khoảng 20 giờ 30 phút, mặc bom đạn gào rít chung quanh, anh chị em chúng tôi căng mắt đón chờ máy bay tầm thấp. Trong những luồng chớp lửa, chúng tôi nhìn nhau, gương mặt ai cũng hốc hác, đôi mắt rực lửa. Lúc này, một tốp F111 A xuất hiện. Chúng bay thấp, dọc sông Hồng. Anh Hoàng Minh Giám kiên nhẫn đợi rồi hạ lệnh: ‘Một điểm xạ ngắn, bắn!’. Năm khẩu pháo đồng loạt khạc lửa. Tôi ở vị trí pháo thủ số 1 nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay trúng đạn, phần đuôi của nó lóe sáng. Chừng 30 phút sau, một chiếc xe quân sự của quận Hai Bà Trưng chạy vào báo tin: Các chị vừa bắn phải không. Một máy bay F111A trúng đạn rơi rồi nhé. Nghe thế, tôi cùng các anh chị em trong khẩu đội ôm nhau hò reo, vui mừng khôn xiết”- bà Viễn bồi hồi nhớ lại.

Mấy ngày sau, bom Mỹ tiếp tục dội xuống. Trận địa pháo cao xạ của bà Viễn không một phút thảnh thơi. Các nữ pháo thủ thay phiên nhau trên mâm pháo. Ngày 26 tháng 12, Hà Nội bị đánh phá ác liệt. Còi báo động chốc chốc lại rú lên từng hồi. Khói lửa loang trời. Bom B52 rải thảm xuống các khu dân cư như phố Khâm Thiên, Yên Viên, Gia Lâm… Rạng sáng hôm sau, bà Viễn đang trực chiến thì hai người em gái bà chạy đến trận địa mang theo một tin dữ: “Bố bị bom thả chết rồi!”. Bà Viễn như ngất đi. Ba chị em ôm nhau khóc.

“Chúng tôi không sao tìm được thi thể bố. Căn hầm nơi ông thường ẩn nấp, lúc đó chỉ là một hố bom sâu hoắm. Mãi ba ngày sau, mới tìm thấy bố nhưng chỉ còn một phần thân thể rách nát. Tôi chỉ nhận ra ông qua vạt áo bông đẫm máu. Đó là lần thứ hai trong vòng năm năm tôi phải để tang cả cha lẫn mẹ vì bom đạn quân thù”- bà Viễn nghẹn ngào kể lại.

Sau đó mấy ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhà thơ Tố Hữu đến thăm trận địa pháo của Nhà máy Cơ khí Mai Động. Nhìn thấy cô pháo thủ trẻ đầu trắng khăn tang đang ngồi bên mâm pháo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Tố Hữu liền hỏi thăm hoàn cảnh. Câu chuyện của bà Viễn khiến nhà thơ Tố Hữu hết sức xúc động. Ông ân cần thăm hỏi, động viên bà hồi lâu. Một thời gian ngắn sau đó, có người mang tặng bà bài thơ “Việt Nam máu và hoa” của nhà thơ Tố Hữu. Bài thơ ấy có bốn câu mà bà nhớ mãi:

“…Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu
Hỡi em gái mất cha mất mẹ
Nước mắt em làm nhòa mặt quân thù
Em phải bắn trúng đầu giặc Mỹ…”

Sau chiến dịch “Ðiện Biên Phủ trên không”, bà Phạm Thị Viễn vẫn cùng trung đội tự vệ vừa sản xuất, vừa trực chiến. Năm 1979, Nhà máy được trang bị thêm một đại đội pháo 37mm, với cương vị đại đội phó, bà gắn bó với trận địa mãi đến năm 1989 mới trở lại nhà máy làm việc. “Năm 1991, do hoàn cảnh gia đình, tôi xin về hưu với mức lương khiêm tốn. Cũng vất vả bươn chải đủ nghề để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Còn bản thân tôi, được tín nhiệm bầu làm tổ phó tổ dân phố 49 – khu dân cư 10 (phường Tương Mai)”- bà Viễn nói.

Anh Tùng
dantri.com.vn

Xác B52 “vương vãi” trên đường phố Hà Nội năm 1972

(Dân trí) – Qua gần 80 tài liệu, hình ảnh, video… được trưng bày tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, người xem được sống lại thời khắc lịch sử hào hùng, thiêng liêng của dân tộc khi đối đầu với “pháo đài bay” – B52 trên bầu trời Hà Nội cách đây 40 năm (12/1972-12/2012).

Xác B52 vương vãi trên đường phố Hà Nội năm 1972
Đầu xuân năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô ở trận địa trực chiến

Xác máy bay B52 bị bắn rơi ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) ngày 27/12/1972
Xác máy bay B52 bị bắn rơi ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) ngày 27/12/1972

Bộ đội và dân quân tự vệ đứng trên xác máy bay B52 bị bắn rơi ở Hà Tây
Bộ đội và dân quân tự vệ đứng trên xác máy bay B52 bị bắn rơi ở Hà Tây

Dân quân tự vệ kéo xác máy bay B52 bị bắn rơi ở phố Trần Phú
Dân quân tự vệ kéo xác máy bay B52 bị bắn rơi ở phố Trần Phú

Bệnh viện Bạch Mai bị B52 bắn phá

Bệnh viện Bạch Mai bị B52 bắn phá
Bệnh viện Bạch Mai bị B52 bắn phá

Bộ đội đang chuyển máy móc, sẵn sàng chiến đấu ở Hà Tây năm 1972
Bộ đội đang chuyển máy móc, sẵn sàng chiến đấu ở Hà Tây năm 1972

Bom B52 của Mỹ phá hủy ga Yên Viên (Gia Lâm)
Bom B52 của Mỹ phá hủy ga Yên Viên (Gia Lâm)

Các nữ dân quân sẵn sàng chiến đấu ở Uy Nỗ (Đông Anh, Hà Nội)
Các nữ dân quân sẵn sàng chiến đấu ở Uy Nỗ (Đông Anh, Hà Nội)

Diễn viên của đoàn văn công quân đội biểu diễn tại nơi chiến đấu ở Hà Tây năm 1972
Diễn viên của đoàn văn công quân đội biểu diễn tại nơi chiến đấu ở Hà Tây năm 1972

Diễn viên của đoàn văn công quân đội biểu diễn tại nơi chiến đấu ở Hà Tây năm 1972
Khẩu hiệu “hãy trả thù cho đồng bào khối 51 bị giặc Mỹ giết hại” dự bên bối cảnh đổ nát ở khu Lương Yên, Hà Nội sau ngày 19/12/1972

Quang cảnh một khu phố Hà Nội khi chưa bị ném bom năm 1972
Quang cảnh một khu phố Hà Nội khi chưa bị ném bom năm 1972

Hình ảnh phòng không không quân của ta bảo vệ bầu trời
Hình ảnh phòng không không quân của ta bảo vệ bầu trời Hà Nội

Triển lãm thu hút đông người đến xem.
Triển lãm thu hút khán giả trong những ngày tháng 12 lịch sử.

Trúc Linh
dantri.com.vn

Đánh thắng B52 – một chiến công có sức cuốn hút

(Dân trí) – Sĩ quan không quân Hung-ga-ri Istvan Toperczer, viết trong mấy cuốn sách của ông đang được trưng bầy tại Viện Bảo tàng bay Hoa Kỳ: “Cuộc chiến tranh trên không phận Bắc Việt Nam đã cuốn hút tôi…”.

Và rồi những cuốn sách này cũng đã cuốn hút nhiều người trên khắp thế giới quan tâm đến những sự kiện anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Từ câu chuyện ở Viện Bảo tàng bay Hoa Kỳ

Trong chuyến công tác sang Mỹ mua máy bay Bô-inh tháng 10 năm 2002, một số chuyên viên hàng không Việt Nam đến Viện Bảo tàng Bay Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn (Woa-sinh-tơn). Các anh, chị thấy một nhóm thanh niên Mỹ cùng một số khách quốc tế đang xem mấy cuốn sách tiếng Mỹ nói về không quân Việt Nam. Họ vui vẻ giới thiệu với nhau: Đây bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh đang bắt tay nói chuyện với phi công Nguyễn Văn Cốc (1) sau chiến công đầu tiên của anh vừa bắn rơi tại chỗ chiếc F – 105D của phi công Mỹ J.Abbet trên bầu trời Vĩnh Phú. Đây ảnh Bác Hồ thân mật nghe phi công Phạm Thanh Ngân (2) nói chuyện bên chiếc Mig – 21 mang số hiệu 4520 của anh. Đây ảnh phi công Nguyễn Đức Soát (3) với chiếc Mig – 21 của trung đoàn 927 đã bắn rơi chiếc F – 4E của phi công Mỹ Cerak và Dingee. Đây bài viết về phi công Nguyễn Tiến Sâm trên chiếc Mig – 21 số 5020 đã bắn rơi chiếc F – 4E của phi công Spencer và Seck trên không phận Hà Bắc. Đây chuyện kể về trận đánh đêm 27/12/1972 trên không phận Hoà Bình, phi công Phạm Tuân đã bắn rơi chiếc B – 52D, loại pháo đài bay khổng lồ mà trước đây người Mỹ vẫn khoe là vô địch, bất khả xâm phạm. Đây bức ảnh những cô dân quân xinh đẹp đang dẫn giặc lái Mỹ bị bắt làm tù binh hoặc đang đi trên bãi biển mang mảnh chiếc máy bay Mỹ vừa bị bắn rơi trên bờ biển… Và đây nữa, hồi ức của sĩ quan không quân Hoa kỳ James B Souder nhớ lại chuyện khi đang bay trên chiếc F4 số 153025 bị Mig Việt Nam bắn rơi tại một địa bàn gần Hà Nội rồi bị bắt đưa về một trại giam tù binh Mỹ được gọi là Khách sạn Hin-tơn giữa trung tâm Thủ đô Hà Nội.

Theo đề nghị của mấy vị khách Hàng không Việt Nam, nhân viên Viện Bảo tang bay Hoa Kỳ đã cho mượn xem rồi biếu các anh chị khách quí mấy cuốn sách nói trên. Đó là cuốn “Không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam” do nhà xuất bản Hoa Kỳ Ospray xuất bản mang số hiệu 104344 và cuốn “Những chiếc Mig 21 trong cuộc chiến tranh Việt Nam” do nhà xuất bản Anh Squadron xuất bản mang số hiệu 104647.

Tác giả 2 cuốn sách đều là sĩ quan không quân Istvan Toperczer người Hung-ga-ri. Một cuốn có ảnh những phi công được gọi là những con “át chủ bài” của Không quân Việt Nam. Trong cuốn khác, nhiều trang phụ lục còn thống kế chi tiết đến tên từng phi công Việt Nam ở từng đơn vị với từng loại máy bay đã bắn rơi chiếc máy bay nào của không quân Mỹ với tên từng phi công lái cùng tên địa điểm và thời gian bị bắn rơi.

Những chuyện chiến đấu của phi công Việt Nam đã được giới thiệu nhiều trong 2 tập sách có độ dầy gần 200 trang nói trên.

Trong bài viết này chỉ xin tạm trích dịch và giới thiệu ít chuyện điển hình.

Bìa ngoài 2 tập sách của tác giả Istvan Toperczer.

Bìa ngoài 2 tập sách của tác giả Istvan Toperczer.Bìa ngoài 2 tập sách của tác giả Istvan Toperczer.

Từ trận đầu đánh B-52 Mỹ

Đây là những trang viết của tác giả trong hai tập sách:

“Mùa khô năm 1971 những hoạt động vận tải của binh đoàn 559 chi viện chiến đấu cho miền Nam Việt Nam thường bị máy bay B – 52 và AC – 130 đánh phá ngăn chặn. Không quân nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ đánh trả máy bay Mỹ trên đường Trường Sơn.

Thật là khó vì phi công Việt Nam lúc này chưa quen hoạt động ở địa bàn này. Một số sĩ quan không quân được cử đến Mụ Giạ nghiên cứu hoạt động chiến đấu của B -52. Tháng 9 năm 1971 một số đơn vị Ra-đa cũng được điều đến Ba Đồn (Quảng Bình) và Vĩnh Linh với mục đích tìm cách “bắt” những hình ảnh hoạt động của mục tiêu B-52.

Ngày 04/10/1971 trung đoàn 921 cử phi công Đinh Tôn vào Đồng Hới. 19 giờ 13 phút ngày 20/11/1972, anh nhận lệnh xuất kích đánh một tốp B-52 địch. Phát hiện B-52 trước mặt nhưng vì phán đoán điều kiện không thuận lợi cho chiến đấu, anh được lệnh trở về Bắc. Phát hiện Mig, tốp B-52 quay sang phía Thái Lan.Thấy Mig đã bay ra Bắc, B-52 tiếp tục trở lại hoạt động. Hồi 20 giờ 00 hôm đó có thông báo “Một tốp B-52 xuất hiện cách bắc Sầm Nưa 60km”, phi công Vũ Đình Rạng xuất kích từ sân bay Anh Sơn lúc 20 giờ 46 phút và anh đã trở thành người phi công Việt Nam đầu tiên đánh B-52 Mỹ.

Sở chỉ huy mặt đất thông báo có 3 mục tiêu cách anh 100km. Rạng vứt thùng dầu phụ bay lên cao độ cao 10km và khi chỉ còn cách địch 15km, anh mở ra-đa, bật công tắc, tăng tốc. Thấy một B-52 vào tầm bắn anh phóng tên lửa. Phát hiện tiếp một B-52 trước mặt, Rạng phóng tên lửa thứ hai rồi hạ cánh xuống sân bay Anh Sơn lúc 21 giờ 15phút. Sau này, anh được biết chiếc B-52 đầu tiên bị anh bắn trúng đã buộc phải hạ cánh xuống sân bay Nakhon Phanomb ở Thái Lan rồi bị tháo rời rồi đưa về Utapao.

Chính phi công Kalp Wetter Haln trên chiếc B-52 bị Vũ Đình Rạng bắn hạ đã lại bay trên một B-52 khác sang đánh Hà Nội cuối tháng 12 năm 1972, bị tên lửa ta bắn rơi, bị bắt làm tù binh đã kể lại chuyện bị Mig Việt Nam bắn trúng đêm 20/11/1972.

Sau trận đánh đêm 20/11/1971, máy bay B-52 Mỹ đã phải tạm ngừng hoạt động trên đường dây 559 một thời gian”.

Đỉnh cao

Đó là tiêu đề một chương trong tập sách “Những đơn vị Mig 21 trong cuộc chiến tranh Việt Nam”. Tác giả phân tích:

“Cuộc chiến tranh trên không phận Bắc Việt Nam lúc này đã lên đến đỉnh cao của giai đoạn khốc liệt. Năm 1972 có thể coi là thời kỳ chiến đấu sung sức của không quân nhân dân Việt Nam. Đây cũng là lúc không quân và hải quân Mỹ nỗ lực giành ưu thế trên chiến trường Việt Nam khi thực hiện chiến dịch Line Backer… cùng với việc dùng B-52 tiếp tục đánh phá mạnh những đường vận tải ở quân khu 4.

Về phía không quân Việt Nam các sĩ quan cao cấp đã có những nghiên cứu giá trị về chiến thuật của đối phương, thực nghiệm những sáng kiến, những biện pháp hữu hiệu chống lại không quân Mỹ. Tuy nhiên dường như những cố gắng của Việt Nam chưa đạt hiệu quả. Ví dụ đêm 13/04/1972 khi B-52 đánh vào Thọ Xuân, Mig Việt Nam xuất kích nhưng không thành công vì thời tiết xấu. Mấy tuần sau một tốp F4 giả làm B-52 đã đánh lừa được ra-đa của không quân Việt Nam. Mig-21 bay lên với ý định đánh B-52 nhưng một chiếc đã bị F-4 Mỹ bắn rơi.

Sau nhiều tháng xây dựng kế hoạch, không quân Việt Nam tin chắc rằng kế hoạch đánh B-52 của mình sẽ thành công với mục tiêu chủ yếu là: Bắn rơi B-52 và bắt sống giặc lái Mỹ.

Ngày 14/12/1972 tổng thống Nixon thông qua kế hoạch dùng B-52 đánh Hà Nội và Hải Phòng. Ba ngày sau, chiến dịch Line Backer II được triển khai. 19 giờ 40 (giờ Hà Nội) ngày 18/12/1972, B-52 đánh sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc và Yên Bái cùng lúc với Đông Anh, Yên Viên, Đức Giang và Đài phát thanh Mễ Trì. Thời gian này Hải Phòng cũng bị đánh phá. Ngày 27/12/1972 một số máy bay Mig – 21 xuất kích với quyết tâm bắn hạ B-52.

Trong số những phi công chiến đấu này có Phạm Tuân. Lúc 22 giờ 30 phút anh nhận lệnh cất cánh từ sân bay Yên Bái vượt qua 200m – 300m mây mù dầy đặc, Tuân phát hiện một máy bay F4 bay gần. Đồng thời anh được thông báo có B52 từ Mộc Châu đến. Sở chỉ huy mặt đất ở Mộc Châu, Sơn La báo cho Tuân biết khoảng cách giữa máy bay anh với B-52 địch: 60km, 50km, 40km… Anh vứt thùng dầu phụ bay lên độ cao 7000m. Ra-đa mặt đất nhắc Tuân chú ý những chiếc F-4 đi hộ tống B-52.

Thấy một ánh sáng vàng trước mặt, Tuân tăng tốc độ bay lên 1200km/giờ và bay lên độ cao 10.000m ngang với tầm hoạt động của B-52. Anh báo cáo về Sở chỉ huy: “Phát hiện mục tiêu. Xin công kích”. Mệnh lệnh mặt đất: “Phóng hai tên lửa rồi nhanh chóng thoát ly”.

Đội hình B-52 Mỹ ở khoảng cách 2 – 3km, Tuân kiểm tra tên lửa. Khi đã bay cao ngang chiếc B-52 số 3, Tuân ấn nút phóng hai tên lửa ở cự ly 2000m. Một vùng cháy lớn bao chùm chiếc B-52, Tuân vòng gấp sang trái, hạ độ cao xuống 2000m rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái.

Tiếp đó ngày hôm sau 28/12/1972, hồi 20giờ 41phút phi công Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ theo chỉ huy của Sở chỉ huy mặt đất đuổi đánh một tốp B-52. Phát hiện mục tiêu trên bầu trời Sơn La đã sát gần mình, Thiều phóng một tên lửa. B-52 địch bị trúng đạn. Chiếc Mig-21 của Thiều đã bay sát gần B-52, anh lao thẳng vào máy bay Mỹ rồi bị vỡ tan cùng chiếc B-52 Mỹ”.

Một lần, đến gặp Trung tướng Phạm Tuân, tôi hỏi:

– Trung tướng còn nhớ lần tác giả Istvan Toperczer đến phỏng vấn Trung tướng?

– Tôi nhớ không kỹ lắm vì đã có rất nhiều nhà báo và khách quốc tế đến gặp, lúc ở cơ quan làm việc của tôi, lúc ở Bảo tàng Không quân, bên chiếc Mig -21 MF mang số hiệu 5121 mà tôi đã bay, hạ chiếc B-52 D Hoa Kỳ đêm 27/12/1972 rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái, được trực thăng đưa về sân bay Nội Bài và ngay hôm đó đã nhận nhiệm vụ trực chiến. Tuy bị máy bay B-52 oanh tạc, nhiều nơi trên sân bay bị thiệt hại nhưng đã được sửa gấp ngay. Vì thế thế trong suốt thời gian 12 ngày đêm chiến đấu chống B-52 Mỹ, Mig -21 của chúng tôi vẫn cất cánh hoạt động tốt.

* * *

Trong mấy trang đầu cuốn sách của mình, tác giả Istvan Toperczer giới thiệu với độc giả nhiều khó khăn ông đã phải vượt qua để thuyết phục các nhà xuất bản cho xuất bản 2 tập sách của ông vì phía Hoa Kỳ cho rằng trong cả hai tập sách của ông, ông đã tuyên truyền nhiều điều có lợi cho chiến thắng của Việt Nam tuy ông cũng có đề cập đến một số điểm yếu của Không quân Việt Nam thời gian đầu chiến đấu chống B-52 Mỹ.

Năm 2012, trong cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B-52 Mỹ của Quân chủng Phòng không – Không quân, nhiều nhân chứng lịch sử đã cùng nhau ôn lại những câu chuyện của 40 năm trước trong thời gian chiến đấu ác liệt chống lại và đánh thắng một đối thủ hùng mạnh vào loại nhất thế giới. Khi biết về những hình ảnh, những chuyện chiến đấu hào hùng của không quân Việt Nam trong những tập sách của tác giả Istvan Toperzer hiện đang trưng bầy trong Viện Bảo tàng Bay Hoa Kỳ, được biết nhiều người trên khắp toàn cầu đang ca tụng, khen ngợi chúng ta, mỗi người đều thấy tự hào, vinh dự đã chiến đấu xứng đáng với truyền thống quyết chiến quyết thắng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Hà Nội tháng 12 năm 2012
Đại tá Đỗ Sâm
dantri.com.vn

(1) Phi công Việt Nam đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất (9 máy bay)
(2) Sau này là Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị
(3) Sau này là Tư lệnh Không quân.

Vinh quang những người lính Bộ đội Cụ Hồ hạ gục pháo đài bay B52

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – điện biên phủ trên không”:

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

>> Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn ta, cho nên vấn đề xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng có vị trí đặc biệt quan trọng. Chỉ có quyết đánh, quyết thắng mới tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 cũng là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972.

Ngày 12/4/1966, lần đầu tiên Mỹ cho B-52 đánh đèo Mụ Giạ – Quảng Bình rồi thường xuyên đánh phá Vĩnh Linh và chiến trường miền Nam. Bác Hồ đã trực tiếp giao cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh B-52 và quyết tâm bắn rơi B-52 được đề ra từ đó.

Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu đánh B-52, tại đây, ngày 17/9/1967, đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên. Và từ tháng 2/1968, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) dự đoán Mỹ có thể dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được đưa vào nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời Khu 4.

Đặc biệt tháng 4/1972, khi Mỹ cho B-52 đánh phá TP Vinh, TP Hải Phòng, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng B-52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội được thể hiện bằng một loạt việc triển khai công tác chuẩn bị. Đầu tiên phải nói đến Hội nghị chuyên đề đánh B-52 do Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức ngày 6/7/1972 với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị.

Phải đánh trúng B-52, lời nói “chắc như đinh đóng cột” không chỉ của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ mà là ý chí quyết tâm của cả Hội nghị. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu đánh B-52 bằng lực lượng, vũ khí hiện có của Quân chủng PK-KQ; đánh trúng, bắn rơi B-52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị, ngoại giao; Quân chủng PK-KQ phải được chuẩn bị cho chiến thắng B-52.

Sau hội nghị, BTTM chỉ thị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; Viện Kỹ thuật quân sự cử người tham gia; đồng thời Quân chủng PK-KQ nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp

Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng Bộ Tư lệnh các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được quân chủng gấp rút thành lập, làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trình bày kế hoạch chống địch tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội năm 1972.

Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch. Các đơn vị tên lửa, rađa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, BTTM giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ; Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của phòng không, không quân.

Đồng thời Quân chủng PK-KQ xúc tiến khẩn trương việc nghiên cứu cải tiến và sử dụng trang bị vũ khí, sử dụng rađa cũ kết hợp khí tài quang học với điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc cùng quân chủng giải quyết các vấn đề bảo đảm…

Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Quân chủng, Tư lệnh các binh chủng Rađa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B-52 bảo vệ Thủ đô.

Tháng 9/1972, BTTM chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không, phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 10/1972, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra nghị quyết tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả B-52. Các binh chủng trong quân chủng mở hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu 6 tháng đầu năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; hội nghị chuyên đề bàn cách đánh B-52. Một số kinh nghiệm về chống nhiễu, phân biệt B-52 thật và giả trong tầm đánh, kết hợp đánh địch của lực lượng cơ động và tại chỗ được đúc kết làm cơ sở cho các binh chủng biên soạn tài liệu huấn luyện bộ đội.

Ngày 27/10/1972, Đảng ủy Quân chủng họp phiên bất thường, quán triệt tinh thần chỉ đạo của QUTƯ về tình hình nhiệm vụ mới và ra nghị quyết: “…kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống…”.

Đầu tháng 11, Quân chủng PK-KQ cử cán bộ và một số kíp chiến đấu vào Nghệ An cùng Trung đoàn tên lửa 263 đánh B-52 và đêm 22/11 đã diệt được B-52 Mỹ; kinh nghiệm của trung đoàn được phổ biến đến các đơn vị. Tài liệu “Cách đánh B-52″ được bổ sung những chi tiết quan trọng.

Tiếp đó, BTTM và Quân chủng PK-KQ thống nhất phán đoán đường bay, hướng tập kích của địch; cho Binh chủng Rađa bố trí ưu tiên hướng chủ yếu… Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Ngày 27/11/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang miền Bắc tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu; Quân chủng PK-KQ tập trung mọi khả năng tiêu diệt bằng được B-52 Mỹ. Ngày 3/12/1972, Quân chủng PK-KQ báo cáo “Mọi mặt công tác chuẩn bị đánh B-52 xong, quyết tâm của quân chủng kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả B-52”.

Cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 15/12 tại Hà Nội, Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 đã tổ chức họp mặt. Sư đoàn 361 thành lập ngày 19/5/1965 với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Trong chiến dịch 12 ngày đêm (tháng 12/1972), sư đoàn là lực lượng phòng không chủ lực bảo vệ Hà Nội, bắn rơi nhiều máy bay của Mỹ (trong đó có máy bay B-52), góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15/1/1976, sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các đại biểu dự gặp mặt dâng hương tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ.

Cuộc gặp mặt có sự tham dự của những nhân chứng lịch sử, như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, là đơn vị lập thành tích xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không”. Ông Phiệt từng là vị tướng nổi tiếng, khi trực tiếp bắn và chỉ huy bắn được 19 máy bay địch, trong đó có 4 máy bay B-52, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Một nhân chứng khác là Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Lan, người phi công đầu tiên tiêu diệt máy bay Mỹ trong một trận không chiến đầy kịch tính ngày 3/4/1965, cùng sự hiện diện của những nhân chứng lịch sử, những người đã góp mặt vào bảng vàng thành tích của Quân chủng Phòng không – Không quân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Tại buổi gặp mặt, các cựu binh đã dâng hương tưởng nhớ 1.756 liệt sĩ của sư đoàn đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng đất nước và ôn lại truyền thống hào hùng của bộ đội phòng không không quân.

Duy Hiển
N.T.H. (Cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu)
cand.com.vn

Bài thơ “tay trái”…

QĐND – Giữa năm 1972, chúng tôi đang luyện quân ở Thạch Bình, Nho Quan (Ninh Bình). Đến tháng 10, nghe tin Ních -xơn ra lệnh ngừng ném bom ngoài vĩ tuyến 20, ai cũng hiểu đó chỉ là khoảng lặng trong “mắt bão”. Trên phổ biến: Địch sẽ tập trung đánh mạnh từ vĩ tuyến 20 trở vào, rồi bất ngờ mở cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B -52 vào Hà Nội, Hải Phòng…

Tập rèn vừa xong, đang học chính trị và bổ sung quân tư trang đi B, thì cuối năm ấy “cơn bão” ập đến. Đêm đêm nhìn về bầu trời Hà Nội rực sáng, chớp lóe liên tục từ các cuộc đánh trả máy bay Mỹ. Đài báo đưa tin chiến thắng dồn dập. Anh em trong tiểu đội mỗi người mỗi quê, đều hồi hộp khi nhận thư nhà. Ngay đợt oanh kích đầu tiên của B -52, quê ngoại tôi xã Trung Thành (Vụ Bản -Nam Định) đã bị thiệt hại. Tôi không khỏi lo lắng cho những người thân. Đúng lúc được nghỉ phép một tuần trước khi lên đường bổ sung cho chiến trường Quảng Trị, tôi vội về thăm quê ngoại. Xã tôi dính mấy quả bom, may mà rơi cả ngoài đồng. Nhưng xã kế bên là Quang Trung bị thiệt hại nặng. Nhà sập, có người chết, bị thương. Người bị thương là cô giáo làng Trần Thị Tho. Quả bom nổ ngoài ao, sức ép giội vào, gian nhà gỗ lớp học rung chuyển răng rắc và cô trúng một mảnh bom, ngã ngay trên bục giảng. Lúc tôi đến thăm, cô vừa được cứu chữa ở bệnh viện ra. Cô trạc tuổi tôi, đang nuôi con mọn. Cô bị mất cánh tay phải. Rồi cô sẽ làm gì đây mà không có tay phải cầm bút, cầm phấn? “Nhất định ít bữa nữa tôi sẽ lên lớp trở lại!”, cô điềm tĩnh nói với tôi như vậy.

Tôi trở về đơn vị, vẫn nghe tin tức của cô. Em con bà dì ruột viết thư cho tôi, có đoạn: “…cô giáo Tho ở xã bên, nách nuôi con nhỏ, lại ngày đêm tập viết bằng tay trái anh ạ. Em đã thấy cô trở lại lớp 42 ngày sau khi bị thương, chữ trên bảng đẹp không kém gì trước viết bằng tay phải”.

Mới chỉ bắt đầu chiến dịch không kích bằng B -52 man rợ của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận thuộc đồng bằng Bắc Bộ, chúng đã bị giáng trả nhiều máy bay rơi, phi công chết hoặc nhảy dù bị bắt làm tù binh. Tôi hiểu, chính lòng căm thù của những người dân hiền lành như cô giáo Tho đã bắt quân xâm lược phải trả giá.

Đêm trước ngày lên đường nhập ngũ ở Hà Nội, tôi đã thức suốt đêm viết xong một bài thơ, tựa là “Chúng tôi lên đường”, sau đó được đăng trên Báo Nhân Dân, tôi trở thành “nhà thơ tiểu đội” từ đó. Ngày ở quê ngoại về, tôi suy nghĩ nhiều về hình ảnh cô giáo Tho lên lớp bằng tay trái, cô sẽ tiếp tục truyền dạy kiến thức, cùng lòng căm thù quân xâm lược đã tàn phá quê hương, đất nước. Đó chính là bài học đầu tiên cho các em nhỏ khi bước vào đời. Thế là tôi viết một mạch bài thơ “Bài học đầu tiên”, dưới tựa có dòng “Tặng cô giáo Trần Thị Tho”. Đoạn mở đầu:

Cô viết bằng tay trái
Nét chữ mạnh hơn trước kia viết bằng tay phải.
Không có gì quý hơn độc lập tự do
Bài học đầu tiên là lời dạy của Bác Hồ.
Xa lớp bốn hai ngày
Gặp lại hôm nay
Các cặp mắt đen nhìn cô rưng rưng lệ
Mắt cô cũng nhòa đi
Mấy lần gãy phấn…

Rồi chúng tôi vào chiến trường, trong ba lô con cóc của tôi có bài thơ về cô giáo đồng hương viết bằng tay trái. Một hôm, cậu bạn cùng đơn vị vô tình đọc được bài thơ trong cuốn sổ tay của tôi, bảo được đấy, sao không gửi đăng báo? Tôi cười, cỡ nhà thơ tiểu đội như tớ ai để ý. Thế rồi cậu bạn cứ nhất quyết bắt tôi gửi đi, còn khuyên “nên gửi báo Đảng cho oách, vì trước cậu đã có bài đăng ở đấy rồi”. Không ngờ, khoảng một tháng sau bài thơ được Báo Nhân Dân đăng thật. Chính cậu bạn nọ “phát hiện” ra đầu tiên, vì cả tháng cứ lẳng lặng lẻn ra bưu điện huyện xem ké báo Đảng chuyển về, đã có “dấu tích” gì chưa. Cả tiểu đội mừng rơn. Tôi quyết định tắp lự, dành cả tháng “lương” phụ cấp 5 đồng binh nhì khao anh em bữa ốc nhồi luộc, vừa rẻ lại đậm đà hương vị đồng quê.

Mới đây, tôi về thăm quê ngoại, không quên đến thăm cô giáo đồng hương xã bên. Nay cô giáo đã thành bà nội, bà ngoại cháu chắt đầy nhà. Bà Tho vào buồng đưa ra tờ báo Đảng đã ngả màu thời gian được giữ gìn suốt bốn mươi năm có bài thơ tôi viết tặng bà…

PHẠM QUANG ĐẨU
qdnd.vn