Thư viện

Thế trận phòng không rộng khắp, đánh địch hiệu quả

QĐND – Để cứu vãn tình thế và buộc ta chấp nhận những điều khoản có lợi cho Mỹ ở Hội nghị Pa-ri, tháng 12-1972, Mỹ mở chiến dịch tiến công bằng không quân, mang tên Linebacker II, dùng sức mạnh không quân với máy bay chiến lược B-52 đánh phá thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và một số trung tâm công nghiệp của miền Bắc nước ta. Qua 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường (từ 18 đến 30-12-1972), quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược, đòn quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi của chiến dịch để lại nhiều bài học về nghệ thuật tác chiến phòng không, nổi bật là nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không hợp lý, khoa học.

Để xây dựng thế trận đánh địch hiệu quả, ta đã chủ động nghiên cứu tìm ra quy luật đánh phá của không quân chiến lược Mỹ. Với phương châm kiên quyết bắn rơi máy bay B-52 tại chỗ, ta xác định lực lượng tên lửa làm chủ công đánh B-52, từ đó chủ động triển khai thế trận trước khi mở màn chiến dịch, tuyệt đối giữ bí mật thế trận và sử dụng lực lượng pháo phòng không đánh trinh sát chiến thuật. Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân quyết định đưa toàn bộ tên lửa vào vòng trong để tập trung hỏa lực tiêu diệt máy bay B-52. Cụm phòng không Hà Nội có Sư đoàn 361, gồm 3 trung đoàn tên lửa, 5 trung đoàn pháo phòng không. Cụm phòng không Hải Phòng có Sư đoàn 363, gồm hai trung đoàn tên lửa, hai trung đoàn pháo phòng không. Cụm phòng không phía Bắc Đường số 1 có Sư đoàn 375, gồm 5 trung đoàn pháo phòng không và hai tiểu đoàn pháo phòng không của Hà Bắc. Cụm phòng không Thái Nguyên có Trung đoàn pháo phòng không 256 của Quân khu Việt Bắc. Cụm phòng không Yên Bái có Trung đoàn pháo phòng không 254 của Quân khu Việt Bắc.

Hỏa lực phòng không trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không” tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Ngoài ra, còn có 3 trung đoàn pháo phòng không độc lập của quân chủng bảo vệ mục tiêu vòng ngoài làm nhiệm vụ dự bị. Bằng thế trận trên, 3 ngày đầu chiến dịch, tên lửa đã bắn rơi máy bay B-52 tại chỗ, bắt sống giặc lái. Song do toàn bộ bố trí ở vòng trong, nên tên lửa chỉ bắn rơi B-52 sau khi đã cắt bom. Để đánh địch từ xa, Quân chủng PK-KQ điều hai tiểu đoàn tên lửa từ Hải Phòng lên bố trí vòng ngoài trên hướng Bắc và sử dụng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 274 bố trí vòng ngoài phía Tây Nam. Sau trận đánh then chốt đêm 20-12, ta thấy để máy báy MiG-21 cất cánh từ sân bay tuyến trong rất bất lợi, vừa khó dẫn đường, vừa hạn chế lớn đến khả năng đánh của tên lửa, do vậy quân chủng quyết định đưa MiG-21 ra tuyến ngoài (Yên Bái và Cẩm Thủy) để tạo điều kiện đánh B-52.

Trên cơ sở thế trận đã xây dựng, ta tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý, hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng trong Quân chủng PK-KQ, giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân để đánh các loại máy bay chiến lược, chiến thuật của địch; huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. Đến trước ngày 18-12-1972, riêng ở Hà Nội ta đã xây dựng được 30 trận địa tên lửa, hơn 100 trận địa cao xạ các loại, mỗi tiểu đoàn tên lửa đều có hơn hai cơ số đạn, hệ số kỹ thuật của tên lửa bảo đảm 100%, pháo phòng không là 95% và của ra-đa là 96,5%. Các lực lượng khác tổ chức 92 trận địa pháo phòng không tầm thấp, 4 đại đội cao xạ tầm trung (loại 100mm), nhiều trận địa bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần các mục tiêu trọng điểm, đón lõng trên các đường bay của địch. Ngoài ra, ta còn có 1.122 tổ đội dân quân, tự vệ phối hợp đánh trả máy bay địch. Để chiến dịch giành thắng lợi, ta tập trung một lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất cho chiến dịch gồm 3 sư đoàn phòng không (361, 363, 375), 23 tiểu đoàn tên lửa, 13 trung đoàn cao xạ, 4 trung đoàn không quân, 4 trung đoàn ra-đa, 3 trung đoàn và hai tiểu đoàn phòng không của các quân khu Việt Bắc, Hữu Ngạn, Tả Ngạn, ngoài ra còn có 346 đội phòng không của dân quân, tự vệ bố trí thành thế trận phòng không vững chắc, hiểm hóc tại các địa bàn trọng yếu ở trong và các vùng lân cận Hà Nội, Hải Phòng. Đồng thời, để đánh bại cuộc tiến công của địch, ta xác định chính xác 3 khu vực tác chiến lớn: Hà Nội, Hải Phòng và phía Bắc Đường số 1, trong đó khu vực chủ yếu là Hà Nội, khu vực quan trọng là Hải Phòng, khu vực hỗ trợ là phía Bắc Đường số 1, lấy Hà Nội làm hướng chủ yếu để tập trung đánh, lấy máy bay B-52 làm mục tiêu chủ yếu để tiêu diệt trong một thời gian ngắn, đến mức tổn thất mà địch không thể chịu nổi, chấp nhận thua, chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược.

Cùng với chủ động tiêu diệt lực lượng tiến công chiến lược B-52, ta đã làm tốt công tác phòng tránh, vận động nhân dân sơ tán ra khỏi các trọng điểm đánh phá, chỉ đạo củng cố và xây dựng hầm trú ẩn, tổ chức tốt hệ thống thông tin-thông báo, quan sát báo động, triển khai các phương án làm giảm hiệu quả đánh phá của địch xuống mức thấp nhất. Cùng với mạng lưới tình báo quốc gia, ra-đa cảnh giới, Hà Nội và các địa phương còn lập các đài quan sát, trạm quan sát hình thành mạng lưới quan sát rộng khắp từ xa đến gần phục vụ chiến dịch.

Thắng lợi của chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12-1972 là thắng lợi của tư tưởng tích cực chủ động, mưu trí sáng tạo của quân và dân ta. Nghệ thuật chỉ đạo tác chiến vẫn còn nguyên giá trị, để lại những kinh nghiệm quý trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển lên một tầm cao mới, trong điều kiện mới.

Đại tá ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Kiên quyết “bám”, diệt B52

QĐND – Bước vào đợt hai của chiến dịch phòng không tháng 12-1972, ngày 26-12, phi công Phạm Tuân nhận nhiệm vụ đưa máy bay từ sân bay Nội Bài lên sân bay Yên Bái đợi lệnh. Lúc này, sân bay Yên Bái bị đánh phá và hư hỏng nặng. Phán đoán Mỹ sẽ chủ quan cho rằng, máy bay Mig-21 của ta không thể hoạt động ở một sân bay vừa bị hủy diệt, nên Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân một mặt vừa cho sửa chữa gấp sân bay, mặt khác bí mật đưa Phạm Tuân lên ém sẵn để tạo thế bất ngờ.

Chiều 27-12-1972, máy bay Mig-21 do Phạm Tuân điều khiển nhận lệnh vào cấp 1. Đến 22 giờ 16 phút cất cánh phục kích máy bay B52. Khi thấy hai dãy đèn của máy bay B52, Phạm Tuân đề nghị sở chỉ huy theo dõi và thông báo thường xuyên các tốp máy bay F4 đang bay phía dưới. Khi máy bay B52 vào gần, sở chỉ huy cho phép Phạm Tuân tăng tốc độ, tiếp cận mục tiêu.

Đến cự ly khoảng 5km, Phạm Tuân điều khiển chiếc Mig-21 bay thấp hơn B52 khoảng 500m và nhìn rõ hai chiếc B52 đang bay theo đội hình phía trước. Sở chỉ huy thông báo: Có hai máy bay F4 đang tăng tốc bám theo. Phạm Tuân phát hiện địch ở phía sau, nhưng máy bay của anh đang bay ở tốc độ lớn, cự ly so với máy bay F4 chưa đến mức nguy hiểm, nên anh quyết định vẫn bám theo tốp B52. Đến cự ly cho phép, anh nâng máy bay bay lên, chỉnh đường ngắm, nhằm chiếc máy bay B52 phía bên trái rồi bấm nút phóng tên lửa. Hai quả tên lửa lao đi như hai vệt sao băng, chiếc máy bay B52 phía trước bốc cháy sáng lòa.

TRẦN CÔNG HUYỀN
qdnd.vn

10 phút, diệt 2 pháo đài bay B-52

QĐND Online-Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, bộ đội tên lửa Việt Nam đã lập nên những chiến công hiển hách. Trong đó, Tiểu đoàn 57, thuộc Trung đoàn tên lửa 261, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân (hiện nay Trung đoàn tên lửa 261 thuộc Sư đoàn 367) đã lập nên kỳ tích, một bệ phóng bắn 2 quả tên lửa tiêu diệt 2 máy bay B-52 trong thời gian 10 phút.

… Đêm thứ 4 trong chiến dịch oanh tạc Hà Nội, sau 2 đợt ném bom một số khu vực trên địa bàn Thủ đô, rạng sáng ngày 21-12-1972, một tốp máy bay B-52 tiếp tục xuất kích “rải thảm” khu vực Yên Viên. Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn Tên lửa 261 được lệnh tiếp tục bám sát mục tiêu nhưng số lượng đạn quá ít, chỉ còn lại 3 quả. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt trực tiếp chỉ huy kíp chiến đấu gồm một sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ xác định quyết tâm không để đạn phóng đi uổng phí.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt (bên phải) bên bệ phóng tên lửa. Ảnh: Văn Phong

Tốp B-52 đầu tiên vào đến cự ly 35 km trong tầm sát thương, Tiểu đoàn trưởng Phiệt hạ lệnh phóng quả đạn thứ nhất nhưng đèn tín hiệu báo trục trặc kỹ thuật bật sáng, đạn không thể rời bệ phóng. Lập tức anh hạ lệnh nhấn nút hoàn lại quả thứ nhất rồi hạ lệnh tiếp tục phóng quả thứ 2. Kíp trắc thủ gấp rút thao tác, căng mắt bám sát dải nhiễu, khéo léo điều chỉnh tên lửa bắn chính xác mục tiêu. Một cột khói bốc cao, ánh lửa bùng lên dữ dội. Chiến sĩ quan sát báo cáo, chiếc B-52 cháy ở cự ly 25 km, vào lúc 5 giờ 9 phút.

Thừa thắng xông lên, kíp trắc thủ tiếp tục nhận lệnh tiêu diệt chiếc B-52 trong tốp thứ 2. Chỉ còn quả đạn duy nhất, không thể phóng trượt, cả kíp trắc thủ hết sức thận trọng, mọi thao tác diễn ra nhanh chóng, chuẩn xác; công tác hiệp đồng ăn khớp, bám đúng dải nhiễu B-52. Đợi cho chúng bay vào cự ly sát thương hiệu quả, Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh phóng nốt quả đạn còn lại. Mặc dù trên màn hiện sóng, các dải nhiễu liên tục biến đổi nhưng kíp trắc thủ vẫn bình tĩnh vận dụng mọi kiến thức, kinh nghiệm, phân tích dải nhiễu, bám tín hiệu mục tiêu máy bay B-52, điều khiển đạn đi trúng đích. Đạn nổ ở cự ly 24 km làm tan xác thêm một chiếc B-52, rơi xuống địa phận núi Đôi (Sóc Sơn ngày nay). Thời gian lúc đó là 5 giờ 19 phút.

Như vậy, chỉ trong vòng 10 phút, bằng 2 quả đạn, kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ 2 pháo đài bay B-52, đạt hiệu suất chiến đấu 300%, lập kỷ lục cho bộ đội tên lửa.

Hiện nay, bệ phóng và chiếc xe chở đầu đạn lập nên kỳ tích ấy được lưu giữ bên cạnh phòng truyền thống của Trung đoàn 261 nhằm giáo dục tinh thần đoàn kết, hiệp đồng, mưu trí, sáng tạo của bộ đội tên lửa cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay.

HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Khoét sâu điểm yếu của B52

QĐND – Trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, bộ đội ta đã chủ động, sáng tạo nghiên cứu, nắm vững quy luật, thủ đoạn chiến thuật của máy bay B52 để bắn hạ.

Theo lý thuyết máy bay B52 được bảo vệ kỹ lưỡng bằng hệ thống nhiễu rất mạnh và hàng rào máy bay bảo vệ nhiều tầng, nhiều lớp. Tuy nhiên, qua trực tiếp chiến đấu, bộ đội ta đã khẳng định: Máy bay B52 có nhiều điểm yếu, ta hoàn toàn có thể tiêu diệt bằng vũ khí trang bị hiện có. Nghiên cứu tính năng kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B52, bộ đội ta nhận thấy, loại máy bay này, bên cạnh những điểm mạnh, còn có những điểm yếu có thể khoét sâu như trọng lượng nặng, khả năng cơ động kém, đường bay, tốc độ và tọa độ theo quy luật ổn định và luôn có “dải nhiễu đặc biệt” đi cùng; luôn bật đèn tín hiệu khi bay đêm. Để tập kích Hà Nội, máy bay B52 bắt buộc phải bay ổn định qua vùng hỏa lực của ta, độ cao ném bom nằm trong tầm bắn hiệu quả của tên lửa phòng không SAM-2 (SA-75) và tầm hoạt động của máy bay Mig 21.

Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn tên lửa 257) cơ động chiếm lĩnh trận địa. Ảnh tư liệu.

Đối với nhiễu điện tử của không quân Mỹ, mặc dù có cường độ rất mạnh, hỗn tạp, nhưng cũng có quy luật về thông số kỹ thuật, hoạt động trên các dải tần nhất định. Mặt khác, địch chỉ chú trọng phát nhiễu che chắn phía trước đội hình tiến công, rất sơ hở bên sườn, phía sau và phía dưới bụng máy bay khi ở trạng thái bay chếch, bay ngang, bay ra, hoặc lúc vào gần…

Trên cơ sở đó, các đơn vị phòng không-không quân từng bước điều chỉnh cách đánh và đội hình chiến dịch, chú trọng bố trí ở hướng địch có sơ hở, tận dụng khả năng mọi loại khí tài, tạo thế trận liên hoàn đánh cả phía trước, bên sườn, phía sau, đánh trúng các điểm yếu của địch. Nhờ nắm chắc quy luật của “dải nhiễu đặc biệt” và đặc điểm đường bay tiến công của máy bay B52 kết hợp với các hình thức chiến thuật “kiểm tra” độc đáo, các trắc thủ ra-đa nhiều lần phân biệt các tốp nghi binh giả B52 của địch. Trận đánh ngày 20-12, ta cơ động Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) chốt tại trận địa Chèm (Từ Liêm, Hà Nội), phục kích bên sườn đường bay tiến công trên hướng chủ yếu của B52 từ phía tây bắc vào Hà Nội. Lúc 4 giờ 39 phút, ra-đa phát sóng và bắt tín hiệu B52 gọn và rõ, chớp thời cơ, đơn vị tổ chức đánh ở cự ly 36km, bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay B-52D. Đối với không quân, khi ra-đa chỉ thị mục tiêu trên máy bay Mig-21 bị nhiễu nặng, lợi dụng việc B52 bật đèn, đêm 26 và 27-12-1972, các phi công Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều nhanh chóng xác định và tiếp cận mục tiêu, phóng tên lửa, bắn rơi 2 máy bay B52.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Gửi…xác B-52 cho bố ở chiến trường

QĐND Online – Ngày 19-12-1972, ngày thứ hai của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, đúng 4 giờ 32 phút, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân) đã phóng 2 quả đạn tên lửa, biến một chiếc B-52 thành bó đuốc rừng rực cháy giữa trời rồi rơi xuống cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

Hoàng Hà, một cậu bé khi đó 13 tuổi, sơ tán về xã Tân Hưng, đã chạy ra cánh đồng để tận mắt chứng kiến “con ngáo ộp” B-52 bị đền tội.

Mảnh xác chiếc B-52 được anh Hà gửi cho bố ở chiến trường.

Bố Hà là Hoàng Bình, khi đó đang chiến đấu tại Quảng Nam. Một ngày đầu năm 1973, ông Hoàng Bình nhận được thư và quà của gia đình. Mở gói quà, ông vô cùng bất ngờ khi thấy trong đó có một mảnh kim loại, vài tờ tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài, mấy bài báo được cắt từ các báo đăng về “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tháng 12 năm 1972”. Đọc thư của con trai, ông Hoàng Bình mới biết, mảnh xác B-52 và những tờ tài liệu được in bằng tiếng nước ngoài kia là do con trai ông nhặt được tại điểm chiếc B-52 rơi.

Món quà nhỏ, nhưng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với những người lính đang đứng nơi hòn tên, mũi đạn. Món quà ấy như lời khẳng định, quân và dân Thủ đô Hà Nội nói riêng, miền Bắc nói chung, đã kiên cường chống trả và đánh bại cuộc tấn công đường không bằng B-52 của đế quốc Mỹ, với tham vọng đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”; quân và dân Hà Nội đang sát cánh cùng các mũi tiến công của ta trên chiến trường, quyết tâm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc sớm đi đến ngày toàn thắng.

Món quà của cậu con trai gửi mình năm xưa đã được Đại tá Hoàng Bình trao tặng Bảo tàng Phòng không-Không quân, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Bộ đội Tên lửa đánh thắng trận đầu (24-7-1995).

Món quà của anh Hà cùng bức thư của Đại tá Hoàng Bình, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân.

Trong một chiếc tủ kính của Bảo tàng Phòng không-Không quân, bên cạnh “món quà độc đáo” của anh Hà, còn có lá thư Đại tá Hoàng Bình gửi Bảo tàng, trong đó có đoạn: “Món quà trên đã khẳng định sức mạnh và sự hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ của Hậu phương lớn, góp phần cổ vũ chúng tôi đi đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975…Riêng tôi có niềm tự hào là có đứa con tuy nhỏ tuổi, nhưng đã biết động viên cha anh chiến đấu”.

Sau này, anh Hà trở thành sĩ quan Tên lửa của Quân chủng Phòng không-Không quân.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Lực lượng vượt trội vẫn thất bại

QĐND – Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ 2, mà không quân Mỹ tiến hành tháng 12-1972 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng của Việt Nam là một hình mẫu về việc tập trung lực lượng lớn, tạo ưu thế chiến dịch hơn hẳn đối phương trước khi tiến công. Chiến dịch thể hiện cách đánh rất phổ biến của không quân Mỹ, được vận dụng trong nhiều cuộc chiến tranh.

Học thuyết tác chiến không quân Mỹ đối với chiến dịch tiến công đường không là coi trọng tập trung lực lượng lớn, tạo ưu thế hơn hẳn đối phương trước khi tiến công, coi đây là “điểm tựa” của chiến thắng chiến dịch. Những yếu tố để tạo nên ưu thế quân sự của không quân Mỹ là có học thuyết quân sự tiên tiến, quy mô lực lượng lớn, sử dụng hệ thống vũ khí công nghệ cao

Để tạo ưu thế chiến dịch tiến công đường không tháng 12-1972 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng trên miền Bắc Việt Nam, không quân Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn chưa từng có, gồm hàng trăm máy bay B-52, một liên đội máy bay F-11A với 48 chiếc, 5 liên đội máy bay F-4H, F-105 với tổng số 400 chiếc, 5 liên đội máy bay A-6 và máy bay A-7 lên tới 360 chiếc. Mỹ còn điều thêm 50 chiếc máy bay tiếp dầu KC-135 đến Phi-líp-pin; thành lập Bộ chỉ huy Sư đoàn Không quân chiến lược; đưa thêm 2 tàu sân bay, nâng tổng số lên 5 tàu sân bay phục vụ cuộc chiến ở Việt Nam.

Với lực lượng áp đảo như trên, không quân Mỹ dự tính sẽ dễ dàng vượt qua hệ thống phòng không của Việt Nam để “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”- như Tổng thống Mỹ khi đó từng tuyên bố. Song ưu thế về lực lượng tác chiến trên không, trên biển và ưu thế về vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại không giúp cho Mỹ giành chiến thắng, bởi nghệ thuật quân sự tài tình và tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, ngoan cường của quân và dân ta.

Tân Vũ
qdnd.vn

“Trồng rừng” che trận địa

QĐND – Bước vào giai đoạn căng thẳng nhất của chiến dịch phòng không tháng 12-1972, Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định điều động Tiểu đoàn Tên lửa 72, thuộc Trung đoàn 285 (Sư đoàn 363) từ Hải Phòng về tăng cường cho Sư đoàn 361 bảo vệ Thủ đô Hà Nội.

Nhận lệnh, Tiểu đoàn 72 thu hồi khí tài, xác định đường hành quân theo hai tuyến. Tuyến 1 theo đường số 5, tuyến 2 theo đường 18 hướng Phả Lại-Bắc Ninh. Ngày 25-12-1972, Tiểu đoàn 72 đã đến vị trí tập kết, triển khai trận địa tại thôn Đại Chu, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đến vị trí mới, tiểu đoàn được nhân dân địa phương nhường đất, di dời mồ mả, phục vụ xây dựng trận địa, triển khai khí tài nhanh chóng.

Thấy trận địa tên lửa của Tiểu đoàn 72 nằm giữa cánh đồng trống trải, dễ bị máy bay, nhất là các loại máy bay trinh sát, máy bay ném bom chiến thuật của địch bắn phá, nhân dân thôn Đại Chu và các xóm xung quanh đã khẩn trương cùng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn ngụy trang trận địa. Người dân trong các thôn, xóm đào cây trong vườn ra trồng xung quanh trận địa. Chỉ trong đêm, một “cánh rừng” rộng hàng nghìn mét vuông đã mọc lên, che chắn kín đáo toàn bộ trận địa tên lửa.

Không phụ lòng dân thức đêm “trồng rừng”, ngụy trang trận địa, cán bộ, trắc thủ Tiểu đoàn 72 ngày 26-12-1972 đã bắn rơi một chiếc máy bay F4. Đặc biệt, ngày 27-12-1972, tiểu đoàn bắn rơi chiếc máy bay B-52 khi chưa kịp cắt bom gây tội ác. Xác chiếc máy bay này rơi trên hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà và trên đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Đây cũng là một trong những trận đánh đặc biệt nhất của bộ đội tên lửa phòng không.

Xuân Giang
qdnd.vn

Phân tuyến, dự trữ, bảo đảm tốt hậu cần cho chiến dịch

QĐND – Một trong những yếu tố góp phần làm nên chiến thắng trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là nghệ thuật tổ chức bảo đảm hậu cần cho các lực lượng của quân chủng chiến đấu.

Nắm vững phương án tác chiến của Tư lệnh Quân chủng, sự chỉ đạo của Tổng cục Hậu cần, ngành hậu cần Quân chủng Phòng không- Không quân đã chủ động, tích cực tiến hành công tác chuẩn bị hậu cần. Do không gian tác chiến diễn ra trên địa bàn rộng, có những trung đoàn cách nhau hàng chục cây số, địa bàn bị chia cắt bởi sông Hồng, sông Đuống, nên ngành hậu cần quân chủng xác định tổ chức thành 3 cụm kho hậu cần bố trí ở Bắc sông Đuống, Nam sông Đuống và Nam sông Hồng để bảo đảm trực tiếp cho các lực lượng của quân chủng chiến đấu.

Ngành hậu cần quân chủng đã dự trữ vật chất bảo đảm cho sinh hoạt của các trung đoàn từ 7 đến 10 ngày, sư đoàn dự trữ từ 3 đến 5 ngày; tổ chức dự trữ đạn pháo cao xạ trên nhiều khu vực, theo từng cấp, đủ từ 2 đến 3 cơ số bảo đảm cho từ 2 đến 3 đợt chiến đấu trong khoảng từ 5 đến 7 ngày; trong ngày tiêu thụ đến đâu thì bổ sung thêm đến đó. Về đạn tên lửa, các trung đoàn chuẩn bị sẵn sàng từ 1,8 đến 2,1 cơ số. Các sân bay dự trữ xăng dầu cho máy bay đủ theo sức chứa của từng sân bay, riêng sân bay Nội Bài có lượng dự trữ cao hơn. Ngành hậu cần quân chủng còn tổ chức hệ thống kho dự trữ dầu bay ở các kho khu vực. Cùng với kho dự trữ của quân chủng, kho dự trữ chiến lược của Tổng cục Hậu cần trên địa bàn tác chiến cũng chuẩn bị sẵn sàng chi viện bảo đảm cho Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội, Sư đoàn 363 bảo vệ Hải Phòng, Sư đoàn 365 bảo vệ tuyến Hà Nội – Lạng Sơn, Sư đoàn 375 bảo vệ tuyến Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh.

Phương tiện của cơ quan ngoại giao cũng được huy động tham gia phục vụ cứu thương trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Phương thức bảo đảm rất linh hoạt: Một số loại vật chất bảo đảm cho sinh hoạt, một phần xăng dầu và đạn pháo cao xạ được Tổng cục Hậu cần chuyển thẳng tới các sư đoàn phòng không trên các hướng theo hiệp đồng của hậu cần quân chủng; lượng còn lại, hậu cần quân chủng chuyển thẳng từ kho quân chủng xuống sư đoàn, trung đoàn, thậm chí xuống tận các tiểu đoàn chiến đấu theo hiệp đồng, kết hợp tiếp nhận vận chuyển thương binh về tuyến sau. Về bảo đảm lương thực, thực phẩm, hậu cần quân chủng phân cấp cho các trung đoàn hiệp đồng khai thác tại địa phương khu vực tác chiến. Đạn pháo cao xạ tổ chức dự trữ trên từng khu vực gần trận địa, dựa vào lực lượng dân quân địa phương tổ chức vận tải tới trận địa sau từng đợt hoặc từng ngày chiến đấu.

Về bảo đảm quân y, hậu cần quân chủng chỉ đạo các đơn vị tổ chức kết hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế địa phương trên các địa bàn để kịp thời cứu chữa, vận chuyển cả quân và dân bị thương. Các cơ sở quân y và y tế địa phương được kết hợp với nhau hình thành 4 tuyến, gồm: Tuyến tại chỗ, tuyến kết hợp giữa quân y đơn vị với trạm y tế địa phương, tuyến kết hợp giữa quân y đơn vị với các bệnh viện huyện, cuối cùng là tuyến các bệnh viện quân y kết hợp với bệnh viện tỉnh, thành phố. Các thành phố Hà Nội, Hải Phòng tổ chức các đội, tổ cấp cứu lưu động kết hợp với lực lượng tại chỗ để cứu người bị thương, vận chuyển tới các cơ sở cứu chữa. Hà Nội tổ chức được 105 tổ, đội cấp cứu dân y và 30 tổ đội cấp cứu quân y; TP Hải Phòng tổ chức 53 tổ, đội cấp cứu dân y và 15 tổ đội cấp cứu quân y.

Trong 12 ngày đêm thực hành bảo đảm cho chiến đấu, nhờ tổ chức hệ thống kho trạm dự trữ trên từng khu vực, vừa phân cấp bảo đảm, đồng thời dựa vào lực lượng địa phương trong tổ chức vận tải tiếp tế đạn tới các trận địa, nên đạn được bổ sung đầy đủ, kịp thời sau từng ngày, từng đợt chiến đấu. Việc tổ chức cấp cứu vận chuyển thương binh được tiến hành nhanh chóng, kịp thời do tổ chức các tuyến hợp lý. Lực lượng quân dân y kết hợp chặt chẽ với lực lượng chống sập, cứu sập, đã cấp cứu, cứu chữa hàng nghìn người bị thương, trong đó 85% là nhân dân, 15% là bộ đội. Các kho tàng, cơ sở hậu cần được bố trí phân tán, bảo vệ chặt chẽ, nên khi địch đánh phá, tổn thất không đáng kể.

Với phương châm chủ động tích cực chuẩn bị, cùng với việc xác định đúng phương án tổ chức bố trí, phương thức bảo đảm, tổ chức dự trữ và hiệp đồng phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, nhân dân địa phương trong khu vực chiến đấu, nên trong suốt 12 ngày đêm chiến đấu liên tục, quyết liệt, ngành hậu cần Quân chủng Phòng không- Không quân đã bảo đảm cao nhất đáp ứng nhu cầu tiêu thụ vật chất, đạn dược cho chiến dịch, góp phần làm nên thắng lợi “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 lịch sử.

Đại tá Đỗ Khắc Yên
qdnd.vn

Thế trận phòng không nhiều tầng, nhiều lớp

QĐND – Tỉnh Bắc Ninh nằm trên hướng đông bắc Hà Nội, có nhiều mục tiêu, chân hàng và đầu mối giao thông quan trọng. Đây cũng là hướng mà Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân dự kiến là đường bay bất ngờ đột nhập, đánh phá ác liệt bằng máy bay B-52 của địch vào Hà Nội. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã chủ động lãnh đạo các lực lượng xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, phối hợp với Hà Nội và các tỉnh lân cận, kiên quyết đập tan cuộc tập kích chiến lược của địch.

Khẩu đội súng máy dân quân tự vệ bắn máy bay chiến thuật của Mỹ trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển kinh nghiệm phòng không nhân dân đánh máy bay trong chiến tranh phá hoại, Tỉnh ủy Bắc Ninh xây dựng nghị quyết chuyên đề về tổ chức xây dựng lực lượng và thế trận phòng không dày đặc, nhiều tầng nhiều lớp, bảo đảm đánh địch ở nhiều hướng. Tỉnh dự kiến hướng chính đánh phá của không quân địch, chú trọng bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa phòng không đứng chân trên địa bàn để thiết lập thế trận phòng không. Cấp ủy Đảng các cấp chú trọng lãnh đạo việc tổ chức nghiên cứu quy luật đường bay của máy bay địch, củng cố về tổ chức và lực lượng, bổ sung vũ khí trang bị kỹ thuật, huấn luyện thành thạo cách bắn máy bay cho dân quân, tự vệ.

Tỉnh ủy phân công các đồng chí tỉnh ủy viên bám sát việc tổ chức bảo đảm giao thông thông suốt trên Quốc lộ 1A, kế hoạch, địa điểm sơ tán nhân dân, chuyển tải, giải phóng hàng hóa. Lực lượng công an tăng cường bảo đảm an ninh, phá các chuyên án, bóc gỡ các tổ chức gián điệp, phá hoại, chỉ điểm mục tiêu, phối hợp đào đắp công sự cho khí tài tên lửa, đường cơ động, vận tải đạn. Tỉnh đội cơ động một số đơn vị pháo cao xạ 37mm và các trận địa của dân quân tự bảo vệ vòng ngoài cho trận địa tên lửa của Tiểu đoàn 94 (Trung đoàn 261) tại xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, đến ngày 20-12-1972, Tiểu đoàn 94 bắn rơi một máy bay B-52. Phát hiện tên lửa của ta, máy bay Mỹ nhiều lần đánh phá trận địa tên lửa Tiểu đoàn 94, nhưng đều bị bộ đội pháo cao xạ 37mm và súng bộ binh của dân quân Phù Chẩn đánh hất lên cao, bảo vệ an toàn trận địa. Đặc biệt, qua quan sát, chiến đấu dân quân phát hiện máy bay trinh sát không người lái của địch nhiều lần bay thấp dọc sông Thái Bình. Ngày 21-12-1972, trung đội nữ dân quân thôn Guột (xã Việt Hùng, huyện Quế Võ) tổ chức trận địa phục kích và bắn hạ máy bay trinh sát bằng súng bộ binh.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Những khoảnh khắc không thể nào quên

“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972”

QĐND – Cách đây 40 năm (ngày 11-10-1972), trụ sở Cơ quan đại diện của Pháp tại Hà Nội đã trở thành mục tiêu ném bom của Không quân Mỹ. Sự kiện này không chỉ gây bất ngờ cho chính người Pháp mà cả cộng đồng thế giới. 40 năm sau, sự kiện này đã được tái hiện trong một phần của triển lãm mang tên “Hà Nội, những ngày đêm năm 1972”. Triển lãm, xuất phát từ ý tưởng của Viện Viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, đã chính thức khai trương tối 11-10 tại Trung tâm Văn hóa Pháp-L’Espace, 24-Tràng Tiền-Hà Nội.

Triển lãm thu hút sự quan tâm của nhiều bạn trẻ Việt Nam

Vụ ném bom và sự ngạc nhiên của Pháp

Đối với ông Giăng Mác Gra-vi-ê (Jean Marc Gravier), nhân viên mật mã Phái đoàn của Chính phủ Pháp tại Hà Nội năm 1972, ngày 11-10-1972 là một ngày không thể nào quên. “Vụ nổ diễn ra vài giây sau khi có còi báo động. Tôi nhớ có tiếng nổ trầm đục giữa tiếng ồn ào của lực lượng phòng không bắt đầu bắn ít lâu sau khi có còi báo động. Tôi thấy sức ép rất mạnh từ bên tai. Tôi vừa kết thúc việc xem xét tin tức phát thanh từ Phnôm Pênh và đang xếp hồ sơ vào tủ đặt trong căn phòng nhìn ra vườn hoa của tòa nhà Phái bộ Pháp. Khi ra tới cửa gian phòng chính trong văn phòng của mình nhìn ra khu nhà ở, tôi chỉ trông thấy một đám khói dày màu cam. Cửa sổ không đóng, kính cửa bật ra và vỡ tan. Một trong các máy điện báo bị hất xuống đất còn cái đài của tôi thì bị đẩy ra… Khi chúng tôi tới trước khu nhà ở, nhiều người đã hối hả tìm cách cứu Pi-e Xu-xi-ni (Pierre Susini). Đầu ông ấy lộ ra bên ngoài đống đổ nát của hàng cột quanh nhà”.

Ông Pi-e Xu-xi-ni chính là Tổng đại diện Pháp tại Việt Nam lúc đó. Vào thời điểm 11 giờ 30 phút ngày 11-10-1972, ông Pi-e Xu-xi-ni đang tiếp Đại biện lâm thời An-ba-ni ngay lối vào của tư dinh thì bất ngờ một quả bom phát nổ ở ngay khu vực cầu thang. “Bị thương nặng, ông qua đời 9 ngày sau đó tại Pa-ri. Vợ ông, người Ai Cập, và 4 người Việt Nam (trong tổng số 16 nhân viên) ở Cơ quan đại diện Pháp, chết ngay tại chỗ. Nhà ngoại giao người An-ba-ni bị thương nhẹ. Các Đại sứ quán Ấn Độ và An-giê-ri cũng bị trúng bom nhưng chỉ bị thiệt hại về vật chất”, Tiến sĩ sử học Pi-e Giuốc-nu (Pierre Journoud), phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường Quân sự (IRSEM-Bộ Quốc phòng Pháp), cho hay.

Quang cảnh Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội sau vụ ném bom ngày 11-10-1972 (ảnh chụp lại tại triển lãm)

Vụ ném bom Cơ quan đại diện ngoại giao Pháp gây chấn động ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Tổng thống Mỹ Ních-xơn ngay trong ngày hôm đó đã gửi “những lời thương tiếc sâu sắc của mình” tới Tổng thống Pháp Pôm-pi-đu. Tuy nhiên, trong một cuộc họp báo, đại diện của Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không loại trừ khả năng vụ ném bom là do tên lửa đất đối không SAM của Bắc Việt gây ra! Nhưng ngày 20-10, tức chỉ 9 ngày sau vụ ném bom, bản báo cáo của Lầu Năm góc hé lộ một phần bức màn bí ẩn: Vụ nổ đúng là do bom Mỹ có định vị laser đã kích hoạt ngẫu nhiên do trục trặc từ hệ thống thả bom.

Sau khi vụ việc xảy ra, người Pháp rất ngạc nhiên và không hiểu vì sao Cơ quan đại diện của mình bị đánh bom. Các nhà ngoại giao Pháp đã bày tỏ sự bất bình với chính quyền Mỹ. “Mặc dù bày tỏ sự hối tiếc, song Chính quyền Mỹ chưa bao giờ họ xin lỗi Pháp về điều này”, Tiến sĩ Pi-e nói.

Tái hiện lịch sử bằng ảnh

Để triển lãm “Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” ra mắt công chúng đúng kỷ niệm 40 năm sự kiện Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội bị đánh bom, Viện Viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam cùng các nhà tổ chức đã sử dụng nhiều phim, ảnh tư liệu và tài liệu từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam (Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương…) và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục thông tin và sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (như ông Giăng Mác Gra-vi-ê, ông A-lanh Oa-smết, ông Ni-cô-la Coóc-nê, ông Chu Chí Thành và nhiều nhân chứng người Việt khác).

Theo ông Ô-li-vi-ê Tê-xi-ê (Olivier Tessier) thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, triển lãm nhằm tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của năm 1972, năm mấu chốt cho việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam-Mỹ với kết cục là việc ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, một kết cục không thể che khuất số phận bi thương của hàng nghìn thường dân bị chết hoặc bị thương trong những đợt ném bom vào Hà Nội. Bên cạnh sự kiện Cơ quan đại diện Pháp tại Hà Nội bị đánh bom, triển lãm còn tái hiện cuộc sống của người dân Hà Nội và số phận bi thương của hàng nghìn thường dân bị chết hoặc bị thương trong chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ thông qua những tư liệu và nhân chứng lịch sử.

“Mục tiêu tổ chức triển lãm không nhằm tiết lộ một cái gì mới với công chúng Việt Nam, nhưng chỉ mong muốn truyền tải tới người xem cách nhìn cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong năm 1972 từ hai phía Pháp và Việt Nam”, ông Ô-li-vi-ê nói.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

Triển lãm ảnh “Hà Nội- những ngày đêm năm 1972”

QĐND Online– Những bức ảnh trong triển lãm ảnh “Hà Nội- những ngày đêm năm 1972” tổ chức tối 11-10 tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội đã làm sống lại không khí của những ngày đêm hào hùng, oanh liệt của quân dân Thủ đô năm 1972.

Một bức ảnh trưng bày tại triển lãm.

Triển lãm được tổ chức từ ý tưởng của Viện Viễn đông bác cổ Pháp và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam.

Các phim, ảnh tư liệu và các tài liệu được cung cấp từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam như: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương… và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục Thông tin và Sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm Lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (ông Jean-Marc Gravier, ông Alain Wasmes, ông Nicolas Cornet, ông Chu Chí Thành).

Bên cạnh các bức ảnh là những chú thích được viết ngắn gọn, mô tả lại những cuộc sống thực của nhân dân Hà Nội trong những ngày Mỹ ném bom.

Bạn Hoàng Lan, sinh viên năm thứ 4, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn chia sẻ cảm xúc khi xem triển lãm: “Là thế hệ trẻ của đất nước, khi được xem lại những bức ảnh quý giá này mình càng thấy thêm khâm phục những lớp người đi trước”.

Nhiều bạn trẻ đến xem triển lãm để hiểu thêm lịch sử hào hùng của dân tộc.

Song song với triển lãm, cuộc tọa đàm với chủ đề: Năm 1972-năm mấu chốt tháo gỡ cuộc xung đột giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã được tổ chức với sự tham gia của hai diễn giả: T.S Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ; T.S sử học Pierre Journoud, phụ trách nghiên cứu tại Viện nghiên cứu chiến lược của Trường quân sự (IRSEM – Bộ Quốc phòng), nghiên cứu viên tại UMR-CNRS IRICE (Bản sắc, quan hệ quốc tế và văn minh châu Âu), tại Trường Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne.

Tin, ảnh: Phong Thủy
qdnd.vn

Kịp thời phát hiện máy bay B-52

QĐND – Sáng 18-12-1972, cường độ đánh phá của Không quân Mỹ ở Khu 4 giảm hẳn. Một hiện tượng bất thường là tất cả các đài ra-đa mở máy trực đều không phát hiện thấy nhiễu tích cực và không có một dấu hiệu máy bay B-52 xuất hiện trên bầu trời. Sự yên tĩnh lạ thường ấy khiến bộ đội ra-đa nghi ngờ, cần cảnh giác với âm mưu mới của Không quân Mỹ.

Đến 16 giờ 40 phút, trên bản đồ thu mạng tình báo quốc gia xuất hiện hai tốp máy bay tiêm kích F-111 từ Sầm Tớ (Lào) bay về phía Yên Bái. Tình huống đó khiến trắc thủ ra-đa Đại đội 16, đơn vị đang mở máy trực, tập trung quan sát phát hiện mục tiêu, đặc biệt là máy bay B-52.

Bộ đội ra-đa chuẩn bị ăng-ten phục vụ chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Đại đội 16 ở Nghệ An thấy trên màn hình xuất hiện một số dải nhiễu mới. Từ kinh nghiệm chiến đấu, Đại đội trưởng Trần An và Chính trị viên Trịnh Đình Nham đã thống nhất ra lệnh các đài ra-đa chống nhiễu, phát hiện máy bay B-52. Chỉ giây lát, các trắc thủ đã khẳng định trong nhiễu có B-52 và báo cáo với đại đội trưởng: “Khả năng B-52 đánh miền Bắc”. Báo cáo đó liền được truyền tới tổng trạm ra-đa ở Hà Nội. Lúc đó là 19 giờ 10 phút.

Tham mưu phó Binh chủng báo cáo với Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri: Máy bay B-52 đã vượt qua vĩ tuyến 20. Khả năng B-52 đánh Hà Nội. Lập tức Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho các lực lượng phòng không – không quân chuẩn bị đánh B-52. Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trên miền Bắc được lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp thời xuống hầm trú ẩn.

Do cảnh giác cao, Trung đoàn Ra-đa 291 đã phát hiện được máy bay B-52 từ xa, bảo đảm cho Tổ quốc không bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Nên các lực lượng phòng không ở khu vực Hà Nội đã chuyển cấp chiến đấu sớm, bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ngay từ trận đầu, đêm đầu của chiến dịch.

Trần Công
qdnd.vn