Thư viện

S-75 trên bầu trời Việt Nam

QĐND – S-75 (SAM-2) là vũ khí chủ lực của lực lượng PK -KQ trong kháng chiến chống Mỹ. S -75 (Systema 75 – hệ thống 75) là tổ hợp tên lửa phòng không thứ 2 được Liên Xô chế tạo sau tổ hợp S -25. Các nước phương Tây gọi tổ hợp là SA -2 hoặc SAM -2 (viết tắt của Surface to Air Missile – tên lửa đất đối không). Chiến trường Việt Nam cũng đã khiến S -75 trở thành hệ thống tên lửa được đưa vào sử dụng với quy mô lớn nhất và hiệu quả nhất trên thế giới. Không chỉ tiêu diệt máy bay, tên lửa S -75 còn tạo ra khủng hoảng về tâm lý trong đội ngũ phi công Mỹ. Trong chiến tranh thế giới thứ 2 và chiến tranh Triều Tiên, người Mỹ chưa bao giờ đối mặt với thứ vũ khí chính xác đến thế. Khi đã lọt vào vùng hỏa lực của tên lửa phòng không này thì việc bị bắn hạ là gần như không thể tránh khỏi. Sự vận dụng sáng tạo chiến thuật tên lửa phòng không đóng vai trò rất lớn trong thắng lợi của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sự giúp đỡ từ những người bạn Xô -viết

Tháng 8-1964, Mỹ dựng lên “sự kiện vịnh Bắc Bộ” kiếm cớ cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi trên miền Bắc. Từ tháng 3-1965, Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, bắt đầu chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, song song với đó là việc tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam.

Các chiến sĩ Tiểu đoàn Tên lửa 77, Sư đoàn Phòng không 361 (Quân chủng PK -KQ) chuẩn bị chiến đấu trong những ngày cuối tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Trong thời gian này, các đơn vị phòng không của Việt Nam đã được tăng cường, củng cố nhanh chóng. Những tổ hợp tên lửa phòng không S -75 Dvina đầu tiên đã được triển khai ở Việt Nam vào giữa năm 1965 với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô. S -75 là tổ hợp tên lửa được thiết kế để tiêu diệt những mục tiêu ở tầm cao, có tầm hoạt động từ độ cao 0, 5km đến 30km (máy bay B -52 tấn công Hà Nội, Hải Phòng chỉ bay ở độ cao 10km, các máy bay chiến đấu có trần bay khoảng 15-17km), Việt Nam đã được Liên Xô viện trợ phiên bản đầu tiên S -75 Dvina. Hệ thống tên lửa S -75 ở Việt Nam lúc bấy giờ dùng quả đạn tên lửa V -750V, có 2 tầng, tầng 1 là tầng gia tốc, dùng nhiên liệu rắn, tự tách khỏi tên lửa 5 giây sau khi phóng, tầng 2 là tầng hành trình, dùng nhiên liệu lỏng. Tầng thứ nhất bay trong quỹ đạo không điều khiển, tầng thứ hai bay có điều khiển. ở Việt Nam đã sử dụng phiên bản đầu tiên S -75 Dvina.

Tháng 4-1965, nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên đến Hà Nội với nhiệm vụ trong thời gian ngắn nhất giúp Việt Nam xây dựng, huấn luyện những đơn vị tên lửa phòng không đầu tiên. Những chuyên gia này được lựa chọn từ những kỹ thuật viên, kíp chiến đấu, sĩ quan chỉ huy ưu tú và kinh nghiệm nhất theo tinh thần: Tự nguyện. Việc huấn luyện các tiểu đoàn tên lửa đầu tiên được tiến hành theo nguyên tắc “làm theo những gì tôi làm”.

Chỉ sau hai tháng, 2 trung đoàn tên lửa đầu tiên đã SSCĐ. Ngày 24-7-1965, tốp 4 chiếc máy bay F -4 Phantom đã chạm trán loạt hỏa lực tên lửa phòng không đầu tiên của Việt Nam. Phi công Mỹ đã không hề đề phòng hỏa lực tên lửa và chủ quan bay theo đội hình “duyệt binh” sát nhau, 3 chiếc F -4 bị bắn rơi tại chỗ, 1 chiếc quay đầu chạy thoát. Sau thắng lợi đầu tiên, trong vòng một tháng, tên lửa phòng không của ta đã tham gia 5 trận đánh, tiêu diệt 14 máy bay địch. Trong những trận đánh đầu tiên, các chuyên gia Liên Xô trực tiếp vận hành cùng với các kíp chiến đấu của bộ đội tên lửa Việt Nam. Sau khi bộ đội tên lửa Việt Nam tự vận hành được S -75, đoàn chuyên gia chỉ để lại 10-15 người trong mỗi trung đoàn với nhiệm vụ cố vấn và phụ trách sửa chữa kỹ thuật, bộ phận còn lại chuyển sang thực hiện nhiệm vụ huấn luyện. Trong hồi ký, Đại tá Vla -đi-mia-phi-àö-rốp – một trong những chuyên gia quân sự Liên Xô có mặt tại Việt Nam từ đầu năm 1965, đã kể lại một câu chuyện khá thú vị: Đầu tháng 12-1965, một đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam tự lực hạ một máy bay Mỹ mà không cần sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô. Viên phi công bị bắt làm tù binh và được dẫn đến đơn vị tên lửa đã bắn hạ máy bay của anh ta. Viên phi công yêu cầu cho gặp những người Liên Xô đã bắn hạ máy bay của mình. Chúng tôi giải thích: “Chính người Việt Nam đã lập nên chiến công ấy” nhưng viên phi công nọ vẫn không tin và khăng khăng nói rằng: “Tôi không tin đâu. Dù sao tôi cũng cảm thấy có bàn tay người Nga ở đây”. Cùng lúc đó, tại Liên bang Xô -viết, những trung tâm huấn luyện đặc biệt cũng được thành lập. Trong thời kỳ 1966-1967, những trung tâm này đã đào tạo cho Việt Nam 5 trung đoàn tên lửa (gần 3 nghìn người).

Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, đoàn chuyên gia Liên Xô đã đóng góp đáng kể trong hoàn thiện kỹ thuật, chiến thuật phòng không, bảo đảm kỹ thuật, cải tiến và hoàn thiện những tổ hợp tên lửa nhằm đối phó với nhiễu điện tử. Hàng nghìn sĩ quan, chiến sĩ, bác sĩ và kỹ thuật viên đã tình nguyện rời xa đất nước hòa bình, no đủ, đến giúp đỡ Việt Nam trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm của thời chiến, nhiều người đã đổ máu và hy sinh trên trận địa, họ vẫn cố gắng hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế, đóng góp lớn vào chiến thắng chống chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam.

“Điệu nhảy với tử thần”

Tháng 4-1966, sau 3 tháng tạm ngừng ném bom, không quân Mỹ đã trở lại miền Bắc. Sau khi nghiên cứu kỹ hoạt động của tên lửa phòng không ta, Mỹ đã có nhiều thay đổi đáng kể. Điểm yếu của hệ thống S -75 trong tiêu diệt mục tiêu ở tầm thấp đã bị khai thác triệt để. Địch chuyển sang hoạt động ở tầm thấp để tránh bị ra -đa phát hiện, chấp nhận mạo hiểm nằm trong tầm hỏa lực của pháo cao xạ và súng máy phòng không. Không quân Mỹ đã trang bị rộng rãi tên lửa tự dẫn chống ra -đa Shrike, và huấn luyện thuần thục những kỹ thuật tránh tên lửa như: Bổ nhào thoát xuống tầm thấp, đột ngột chuyển hướng 90 hoặc 180 độ. Các phi công Mỹ gọi những kỹ thuật này là “điệu nhảy với tử thần”.

Các chuyên gia quân sự Liên Xô giúp đỡ Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chụp ảnh lưu niệm với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh do nhóm chuyên gia quân sự cung cấp

Sự đối đầu giữa tên lửa S -75 và tên lửa Shrike là những cuộc chiến quyết liệt mà chiến thắng được quyết định trong từng giây. Việc đối phó với tên lửa tự dẫn Shrike đòi hỏi phải có sự bình tĩnh, kinh nghiệm và kỹ thuật nhuần nhuyễn. Tên lửa Shrike tự dẫn lần theo tín hiệu ra -đa của đài điều khiển tên lửa. Sau khi phát hiện tên lửa Shrike tách khỏi máy bay trên màn hình ra -đa, các trắc thủ đài điều khiển chỉ có chưa đầy 1 phút để xoay chùm tia ra -đa sang hướng khác, tên lửa Shrike sẽ theo chùm tia bay lệch đi, sau đó tắt tín hiệu ra -đa, tên lửa Shrike mất mục tiêu và bay theo hướng lệch. Việc xoay chùm tia ra -đa đồng thời cũng khiến tên lửa đã phóng của ta bị mất điều khiển. Về sau tổ hợp S -75 đã được cải tiến, bổ sung khả năng bám mục tiêu ở chế độ thụ động, không bị máy bay địch phát hiện, tránh được tên lửa Shrike, giảm đáng kể thương vong và thiệt hại về khí tài.

Phục kích

Sử dụng các tổ hợp tên lửa gồm biên chế thu gọn phục kích máy bay địch là chiến thuật được bộ đội tên lửa sử dụng rất rộng rãi. Các tổ hợp thu gọn này chỉ có khoảng 2-3 bệ phóng (biên chế đầy đủ là 6 bệ phóng), rút bớt xe trinh sát, chỉ thị mục tiêu và các bộ phận phụ khác nhằm đạt độ cơ động cao và tốc độ triển khai – thu hồi nhanh, kín đáo, bí mật. Những trận địa phục kích được bố trí tại những vị trí mà không quân địch không ngờ tới, đánh máy bay địch bất ngờ và hiệu quả.

Sau mỗi trận đánh, các tổ hợp tên lửa được bộ đội ta nhanh chóng thu hồi và rút khỏi trận địa, thay vào đó là trận địa giả gồm những quả tên lửa bằng tre và cót ép được sơn và ngụy trang như tên lửa thật. Thông thường, ngay ngày hôm sau địch sẽ triển khai đánh phá trận địa mà chúng phát hiện. Tuy nhiên, chúng không ngờ đã lọt vào cái bẫy chết người của bộ đội ta. Việc hạ thấp độ cao để đánh phá tổ hợp tên lửa khiến máy bay địch lọt vào giữa vùng hỏa lực của pháo phòng không đã được bố trí xung quanh trận địa tên lửa giả. Các chuyên gia Liên Xô từng tham chiến tại Việt Nam đã rất ấn tượng với cách nghi binh sáng tạo này khi mà chính họ, nhìn từ xa cũng không thể phát hiện đâu là trận địa tên lửa giả, đâu là trận địa tên lửa thật.

PHÙNG KIM PHƯƠNG
qdnd.vn

(Còn nữa)

* Trong bài có sử dụng một số tài liệu của nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô.

Tập trung cho trận then chốt quyết định

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Sau khoảng thời gian nghỉ Nô-en, nhưng thực chất là để chuẩn bị lực lượng đánh phá ác liệt hơn, đêm 26-12, Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược đợt 2 vào Hà Nội, Hải Phòng. Sau khi sử dụng máy bay chiến thuật hoạt động trinh sát, săn tìm đánh phá các trận địa tên lửa, sân bay của ta, Mỹ huy động 105 lần chiếc máy bay B-52 cùng 90 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ, cùng lúc đánh phá ba khu vực: Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Ngày 27-12, chúng sử dụng không quân chiến thuật tiếp tục đánh phá khu vực nam Hà Nội, ngoại vi Hải Phòng.

Đây là ngày huy động cao nhất của lực lượng không quân chiến lược Mỹ trong 12 ngày đêm tập kích Hà Nội, Hải Phòng. Mỹ đã huy động tối đa lực lượng không quân chiến lược tiến hành trận đánh quyết định, đánh dồn dập tới mức bão hòa, hòng làm vô hiệu hóa khả năng đánh trả của ta. Chúng còn thay đổi thủ đoạn, thay đổi hướng đánh, đường bay vào, bay ra, tập trung đánh dồn dập vào nhiều mục tiêu cùng một lúc trong thời gian ngắn, đồng thời tăng cường gây nhiễu, tăng cường máy bay F-111 đánh phá các sân bay, trận địa tên lửa trước khi B-52 vào đánh.

Tại Hà Nội, lúc gần 22 giờ, hai tốp B-52 mở màn đánh vào Hà Nội từ hướng Tây Nam. Tiếp đó, các tốp B-52 gần như đồng thời đánh ập vào Hà Nội. Tổng cộng, trong đêm 26-12, Mỹ đã huy động 66 lần chiếc B-52 đánh Hà Nội từ bốn hướng: Tây Nam, Tây Bắc, Đông Nam và Đông Bắc. Bom đạn địch rải thảm dã man vào các khu vực đông dân như: Văn Điển, Giáp Bát, Thượng Đình, Bệnh viện Bạch Mai, Khâm Thiên…

Được chuẩn bị tốt về mọi mặt, lực lượng phòng không chiến dịch đã bước vào trận đánh với tư thế chủ động. Bộ đội ra-đa phát hiện sớm B-52, kịp thời thông báo cho các lực lượng sẵn sàng đánh địch. Mặc dù địch thay đổi nhiều thủ đoạn, tăng cường phát nhiễu cả trong và ngoài đội hình, gây nhiễu bằng các đám mây sợi kim loại rộng hàng chục ki-lô-mét vuông, nhưng ra-đa nhìn vòng của tên lửa và ra-đa ngắm bắn của pháo phòng không ta đã phát hiện B-52 ở cự ly ngoài 50km. Trong tình huống ban đầu nhiễu nặng, nhiều tốp B-52 giả đi vào từ các hướng, máy bay chiến thuật phóng tên lửa tự dẫn…, bộ đội tên lửa đã bình tĩnh, tập trung cao độ, kiên trì dò tìm, linh hoạt sử dụng biện pháp phóng giả để “kiểm tra” B-52 thật hay giả, phân biệt chính xác sự khác nhau giữa dải nhiễu B-52 với nhiễu của các tốp cường kích, để đánh trúng B-52.

Với thế trận tập trung và cách đánh chính xác, lực lượng phòng không chiến dịch đã kiên cường đánh trả sự điên cuồng của không quân Mỹ, bắn rơi nhiều B-52. Tại Hà Nội, Sư đoàn 361 đã bắn rơi 5 máy bay B-52; tại Hải Phòng, Tiểu đoàn 81 phối hợp với Trung đoàn 252 bắn rơi 2 máy bay B-52; tại Thái Nguyên, Trung đoàn cao xạ 256 bắn rơi 1 máy bay B-52. Kết quả, trận đánh đêm 26 và ngày 27-12, ta đã diệt 18 máy bay, trong đó có 8 chiếc B-52. Đây là trận đánh quyết liệt nhất và là trận then chốt quyết định của chiến dịch, ta đã đánh thắng đợt huy động B-52 cao nhất của địch, đẩy chúng vào thế suy sụp.

Trận then chốt quyết định đêm 26 và ngày 27-12 giành thắng lợi lớn trước hết do Bộ tư lệnh chiến dịch đã nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, xác định chính xác khu vực tác chiến chủ yếu để tập trung lực lượng, tập trung các mặt đảm bảo mà chủ yếu là đảm bảo vũ khí để đánh địch. Ngay từ đầu chiến dịch, ta đã xác định mục tiêu đánh phá chủ yếu của địch là khu vực Hà Nội, từ đó bố trí ở đây Sư đoàn Phòng không 361 (gồm 3 trung đoàn tên lửa có 12 tiểu đoàn, 5 trung đoàn pháo cao xạ) cùng lực lượng phòng không DQTV. Khi địch tuyên bố ngừng ném bom vào ngày Nô-en sau nhiều đêm đánh giãn ra ngoài khu vực Hà Nội, Bộ tư lệnh chiến dịch sáng suốt nhận định địch sẽ huy động tối đa khả năng để tập trung đánh trở lại Hà Nội với quy mô lớn hơn, cách đánh phức tạp hơn, từ đó tăng cường thêm 2 tiểu đoàn tên lửa cho khu vực tác chiến chủ yếu ở Hà Nội, điều chỉnh lại đội hình cho phù hợp hơn, tăng cường công tác bảo đảm đạn tên lửa đảm bảo đánh thắng trận then chốt.

Bộ tư lệnh cũng xác định cách đánh và tổ chức thế trận phù hợp để đánh đúng mục tiêu chủ yếu là B-52. Địch lấy B-52 là lực lượng tác chiến chủ yếu có sự hộ tống, phối hợp chặt chẽ của các loại máy bay chiến thuật và các thủ đoạn gây nhiễu. Ta xác định mục tiêu của phòng không chiến dịch là B-52 và lực lượng chủ yếu để đánh B-52 là bộ đội tên lửa, từ đó ta xây dựng cách đánh phá bằng được mối liên kết của địch, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân, trong đó lực lượng PK-KQ là nòng cốt.

Trong trận đánh đêm 26 ngày 27, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định rất cụ thể: Lực lượng tên lửa kiên quyết tập trung đạn đánh B-52; pháo 100mm tích cực phối hợp với tên lửa đánh B-52; pháo 57mm, 37mm đánh các loại máy bay chiến thuật và máy bay trinh sát các loại bảo vệ cho các trận địa tên lửa. Tại Hà Nội, trong trận này ta chỉ để 2 trung đoàn pháo phòng không trực tiếp bảo vệ các mục tiêu trọng điểm chính trị, kinh tế. Toàn bộ lực lượng phòng không còn lại tập trung bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa. Mỗi trận địa tên lửa có ít nhất một đại đội pháo bảo vệ. Ta đã xây dựng thế trận thực hiện được cách đánh tập trung hỏa lực vào hướng đột nhập chủ yếu, đường bay chủ yếu của B-52; có lực lượng đánh địch từ xa đến gần và cùng một lúc trên tất cả các hướng địch có thể đột nhập; kết hợp và phát huy hiệu quả của mọi lực lượng đánh địch bay vào từ các hướng, ở mọi độ cao.

Một yếu tố hết sức quan trọng khác là ta đã tận dụng triệt để thời gian ngừng bắn để khôi phục sức chiến đấu, tập trung bảo đảm tốt nhất cho trận đánh. Ngay từ sáng ngày 25, từ Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đến các đơn vị khẩn trương tổ chức rút kinh nghiệm, triển khai mọi mặt bảo đảm. Những kinh nghiệm trong tổ chức lực lượng, vận dụng cách đánh, phương pháp điều khiển tên lửa, chế độ bám sát của các đơn vị chiến đấu hiệu quả trong đợt một đã được phổ biến trong toàn lực lượng. Đội hình chiến đấu được điều chỉnh cho phù hợp hơn. Các tiểu đoàn kỹ thuật tên lửa hối hả lắp ráp đạn và tiếp nhận hàng trăm quả đạn mới. Các cán bộ kỹ thuật xuống các đơn vị nhanh chóng khôi phục các khí tài bị đánh hỏng. Các đơn vị tăng cường bồi dưỡng sức khỏe, động viên tinh thần, nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội… Có thể nói, trong thời gian ngừng bắn, các lực lượng phòng không chiến dịch đã được chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, bình tĩnh bước vào trận chiến đấu mới với một niềm tin chiến thắng.

Đại tá Phạm Hữu Thắng –Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Vạch nhiễu tìm thù

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 / 12-2012)

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh không quân ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, Mỹ có dịp phô trương và thi thố các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân, hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới tính đến lúc bấy giờ. Cùng với các loại máy bay, tên lửa, súng pháo, đạn bom…, các phương tiện điện tử tân kỳ đã được đưa ra nhiều đến mức bản thân sự hoạt động của nó được coi như một cuộc chiến tranh riêng biệt, chiến tranh điện tử.

Lúc đầu Mỹ chủ yếu áp dụng biện pháp gây nhiễu ngoài đội hình. Tức là dùng các loại máy bay chuyên dụng như EB-66, EC-121 được trang bị các loại máy móc điện tử bay ngoài đội hình máy bay đi trinh sát, oanh tạc gây nhiễu để các loại trinh sát, tiêm kích, cường kích lẻn vào trinh sát, đánh phá. Chúng ta đã nhanh chóng tìm cách đánh bại thủ đoạn này bằng cách nâng cao trình độ bám sát mục tiêu của các trắc thủ, đồng thời tận dụng triệt để thời cơ khi địch bị các lực lượng Phòng không – Không quân đánh trả mãnh liệt các loại trinh sát, tiêm kích, cường kích bị bật ra khỏi cái “áo giáp điện tử” để phát hiện và tiêu diệt.

Bị thất bại, địch càng tăng cường các thủ đoạn gây nhiễu. Nhiệm vụ gây nhiễu không chỉ do các máy bay chuyên dụng thực hiện như thời gian đầu chiến tranh mà chính bản thân các máy bay đi ném bom đã được trang bị các thiết bị gây nhiễu để cùng với việc gây nhiễu ngoài đội hình tạo thành bức màn vô hình che mắt các loại ra-đa, làm nhiễu loạn hệ thống thông tin vô tuyến của ta. Chính vì thế ở một số trận, tên lửa cứ bắn lên đạn lại tự hủy hoặc rơi xuống đất, không quân xuất kích nhưng không phát hiện được địch, dẫn đường mặt đất cũng bị nhiễu nên không hỗ trợ được phi công. Xót xa hơn, một số trận địch phóng tên lửa tự dẫn thụ động Sơ-rai, Xten-đơ làm hỏng khí tài, gây thương vong cho các trắc thủ ra-đa. Thậm chí có đơn vị tên lửa đánh tới gần 10 trận mà không tiêu diệt được máy bay địch do chưa hóa giải được các thủ đoạn nhiễu của địch, trong khi đó phương pháp đánh trong nhiễu của ta hiệu quả còn thấp. Tuy nhiên sau đó không lâu Tiểu đoàn tên lửa 62 đã phát hiện ra thủ đoạn nhiễu mới của địch ảnh hưởng tới sự điều khiển của đạn tên lửa. Đây chính là thủ đoạn địch đã dùng máy gây nhiễu phát vào tần số rãnh đạn của ta một công suất lớn hơn công suất của đạn làm cho đạn tên lửa mất điều khiển.

Bộ đội ra-đa trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Trong cuộc đấu trí cân não với tác chiến điện tử của địch, bộ đội Phòng không – Không quân với chủ trương “đưa máy lên cao vươn xa cánh sóng”, “vươn cánh sóng theo hướng chiến dịch”, “tiến sâu, ở lâu, trụ vững” để “vạch nhiễu tìm thù”, “tìm thù trong nhiễu”. Quân chủng đã đưa các đơn vị ra-đa vào sâu chiến trường phía Nam, lên đỉnh Trường Sơn, bố trí đội hình tạo thành trường ra-đa khép kín, kết hợp giữa ra-đa truyền thống và thiết bị quang điện tử quan sát đêm, ngày và đo xa; huấn luyện cho trắc thủ thành thục các thao tác trong thực hiện các biện pháp kỹ thuật, chiến thuật đồng thời không ngừng nghiên cứu các thủ đoạn, trang thiết bị mới của địch để có biện pháp đối phó. Mặt khác, ta đã nghiên cứu và phát hiện những sơ hở của địch để khai thác triệt để. Trong khi gây nhiễu chủ động, địch chỉ tập trung trấn áp các tần số sóng ra-đa của tên lửa và không quân mà bỏ qua không trấn áp các ra-đa điều khiển cao xạ của ta, có thể chúng cho rằng các loại súng pháo phòng không không có khả năng đe dọa máy bay chiến lược B-52 nên ta đã sử dụng các loại ra-đa này cung cấp số liệu để khẳng định mục tiêu B-52, nhất là trong phân biệt tín hiệu B-52 thật với tín hiệu B-52 giả và chống tên lửa Sơ-rai của địch. Chỉ bằng một biện pháp đơn giản ta đã giải quyết được một vấn đề nan giải mà kẻ địch đã phải dày công nghiên cứu để áp dụng. Chúng đã phải trả giá đắt về “điểm yếu chết người” trước trí tuệ của các chiến sĩ Phòng không – Không quân.

Đặc biệt, ta đã sớm thành lập Đội nhiễu, sau phát triển thành Tiểu đoàn nhiễu làm nhiệm vụ trinh sát điện tử, nghiên cứu, phân tích nhiễu và chống nhiễu. Trên bầu trời miền Bắc xuất hiện một loại hình trinh sát mới: Trinh sát nhiễu. Các đơn vị Trinh sát nhiễu đã thu thập các tần số gây nhiễu của địch, đo đạc các tham số của nhiễu rãnh đạn tên lửa để tìm ra nguyên nhân làm cơ sở cải tiến trang bị khí tài chống nhiễu rãnh đạn thành công.

Chuẩn bị đối phó với âm mưu đánh lớn của địch vào miền Bắc, các đơn vị trinh sát nhiễu đã được đưa về phối thuộc với các đơn vị ra-đa góp phần bổ trợ cho việc phát hiện sớm và chính xác các loại máy bay địch.

Các thủ đoạn gây nhiễu và khả năng gây nhiễu của địch tiếp tục đặt ra những thách thức mới đối với chúng ta khi chúng mở chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ I từ tháng 4-1972. Ngay ngày đầu chúng sử dụng không quân đánh dữ dội vào Hà Nội, Hải Phòng. Ở Hải Phòng, địch dùng ba tốp B-52 với 9 chiếc, ở Hà Nội địch chưa dùng B-52 nhưng với thủ đoạn gây nhiễu nặng và sử dụng máy bay chiến thuật làm giả B-52 làm ta không phân biệt được đâu là B-52 thật, đâu là giả nên tên lửa, không quân của ta đã đánh phần lớn vào các tốp B-52 giả.

Mạng ra-đa trên toàn miền Bắc được điều chỉnh, bố trí theo cụm, kết hợp giữa máy cũ và máy mới, giữa các đài ra-đa sóng mét, đề-xi-mét và xăng-ti-mét; kết hợp giữa các đài ra-đa và các trạm quan sát mắt, tạo thành trường ra-đa khép kín, có khả năng chống nhiễu cao, có thể phát hiện tốt máy bay bay thấp, bay ở tầng trung và tầng cao, tạo thành thế trận vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, có chiều sâu. Chiến thuật bố trí thế trận ra-đa của ta được khái quát cụ thể: Xa bù gần, sau bù trước, hai bên sườn bổ trợ chính diện. Một số đơn vị ra-đa được đưa vào Quân khu 4 vừa làm nhiệm vụ bảo đảm phục vụ các đơn vị bảo vệ giao thông vận chuyển, phục vụ tác chiến phòng không trong chiến dịch binh chủng hợp thành ở tuyến trước, đồng thời làm nhiệm vụ cảnh giới xa cho Hà Nội, kịp thời phát hiện B-52 từ hướng tây nam và đông nam vào đánh phá Thủ đô. Các đơn vị ra-đa có kinh nghiệm phát hiện B-52 như Đại đội 45, Đại đội 16 được bố trí để thực hiện nhiệm vụ phát hiện B-52 từ bên sườn cánh sóng nhiễu của đội hình B-52. Đây cũng là một sơ hở, một “điểm yếu chết người” tiếp theo của địch mà chúng không hề hay biết. Khi B-52 bay từ U-ta-pao qua Lào theo hướng tây nam xuống và từ Gu-am qua biển Đông theo hướng đông nam vào, thì khu vực bên sườn cánh sóng nhiễu của chúng có cường độ nhiễu rất nhẹ. Đại đội 45 và Đại đội 16 với giàn trắc thủ lão luyện đã điểm huyệt chúng bằng việc phát hiện sớm, chính xác để thông báo cho các lực lượng sẵn sàng tiêu diệt.

Dân quân Hà Nội thu gom xác máy bay Mỹ. Ảnh tư liệu.

Ngoài ra bộ đội ra-đa đã tổ chức tốt việc rút kinh nghiệm chống nhiễu trong phát hiện B-52 của các đơn vị trên các chiến trường và tích cực tổ chức huấn luyện, giúp bộ đội thao tác, vận dụng quy trình xử lý tình huống thành thục trên máy; kết hợp nhuần nhuyễn giữa các biện pháp chiến thuật với các biện pháp kỹ thuật.

Đối với tên lửa, trước khi bước vào chiến dịch ta đã chủ động bố trí đội hình thành ba vòng. Vòng ngoài, vòng giữa và vòng trong nhằm tác chiến điện tử có hiệu quả khi địch gây nhiễu tổng hợp với cường độ lớn đồng thời sẵn sàng đánh bọc lót cho nhau, sử dụng linh hoạt phương pháp bắn ba điểm và phương pháp vượt nửa góc. Đặc biệt, việc tổ chức huấn luyện bộ đội theo tài liệu “Cách đánh B-52” đã nâng cao trình độ toàn diện cho các kíp chiến đấu trong đó vấn đề tác chiến điện tử có rất nhiều nội dung, biện pháp mới được nghiên cứu, thường xuyên bổ sung vào phương án và cách đánh. Quá trình nghiên cứu ta đã biết rõ thủ đoạn gây nhiễu tổng hợp để bảo vệ B-52 vào đánh Hà Nội lần này không còn là yếu tố bất ngờ, đồng thời cường độ gây nhiễu của B-52 đã bị phân tán. Tuy địch gây nhiễu trên diện rộng, có chiều sâu nhưng ở hướng này bị nhiễu nặng, nhưng ở hướng khác, hai bên sườn, phía trước, phía sau các đơn vị tên lửa theo thế trận của mình có thể “nhận mặt” được B-52. Sau nhiều trận đánh thắng bằng phương pháp đánh ba điểm đã thấy rõ bàn tay khéo léo và trí thông minh của đội ngũ trắc thủ không ngừng được nâng cao. Lần này, các đơn vị nếu bị nhiễu nặng không phát hiện được tín hiệu B-52 sẽ tự tin hơn khi đánh bằng phương pháp ba điểm, các đơn vị phát hiện được tín hiệu B-52 sẽ đánh bằng phương pháp có hiệu quả nhất là phương pháp vượt nửa góc. Trước khi bước vào chiến dịch 12 ngày đêm Trung đoàn 263 đã bắn rơi một B-52 trên đất liền đã khẳng định “Cách đánh B-52” có cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc, các thủ đoạn gây nhiễu của địch không còn là vấn đề quá nan giải đối với ta. Trận đánh đã góp phần củng cố niềm tin bắn rơi tại chỗ B-52 bằng tên lửa SAM-2 của bộ đội tên lửa.

Để dẫn đường cho không quân chiến đấu trong điều kiện địch gây nhiễu cường độ mạnh, trên diện rộng, ta đã tổ chức cho ra-đa vòng ngoài bảo đảm dẫn đường. Với mỗi Sở chỉ huy của không quân tiêm kích, ta bố trí hai trạm ra-đa dẫn đường trên hai hướng khác nhau nhằm khắc phục những hạn chế về góc che khuất của từng trận địa và hỗ trợ cho nhau khi dẫn máy bay ta. Việc bố trí hai đài dẫn đường ở hai hướng khác nhau chính là biện pháp chống nhiễu xuyên tâm có hiệu quả nhất. Khi máy bay địch bay vào đánh phá thì đối với một đường bay có thể đài này bị nhiễu xuyên tâm nhưng đài kia không bị hoặc ngược lại. Như vậy, hai đài sẽ hỗ trợ đắc lực cho nhau, quá trình dẫn đường cho máy bay ta và theo dõi địch không bị gián đoạn. Các đài ra-đa dẫn đường cho không quân còn áp dụng các biện pháp chiến thuật như tắt, mở máy để lừa lại địch…

Cuối cùng thì cái điều không một người dân Việt Nam nào muốn xảy ra đã đến vào cái buổi tối mùa đông lạnh giá năm ấy. Suốt trong mấy ngày từ giữa tháng 12, cả Hà Nội căng ra như sợi dây đàn trước khi bão táp ập đến. Căng thẳng, biết trước nhưng không ai lại tin nó đến vào cái thời điểm trời đất đang chuẩn bị sang xuân. Hơn 18 giờ ngày 18-12-1972, Đại đội 37 thuộc Trung đoàn ra-đa 292 phát hiện hai tốp F-111 xuất hiện bên kia biên giới Việt – Lào, ít phút sau tiếp tục phát hiện một tốp F-111 khác trên hướng tây nam. Sở chỉ huy Quân chủng lập tức phát lệnh báo động chiến đấu. Một số đài ra-đa được lệnh mở máy tăng cường để phát hiện F-111 bay vào nội địa nhưng vài phút sau máy bay EB-66 đã gây nhiễu nặng, Binh chủng Ra-đa chỉ thị cho các đơn vị tập trung chống nhiễu phát hiện mục tiêu. Cuộc đấu tranh điện tử giữa ta và địch bắt đầu với độ phức tạp rất cao và vô cùng quyết liệt. Cùng lúc đó Đại đội ra-đa 12 thuộc Trung đoàn ra-đa 290 và Đại đội ra-đa 16 thuộc Trung đoàn ra-đa 291 ở Diễn Châu cũng phát hiện được một số dải nhiễu mới, Đại đội 16 làm động tác chống nhiễu phát hiện B-52 và đã nhanh chóng khẳng định đó là nhiễu B-52. Nhận được thông tin, Đại đội trưởng Đại đội 45 Đinh Hữu Thuần căn cứ vào phương án chiến đấu đã quyết định mở ra-đa P.35 để tăng cường phát hiện B-52. Quyết định của Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần phát ra đúng lúc lệnh của Trung đoàn trưởng yêu cầu mở máy P.35 của Đại đội 45 Đô Lương, Nghệ An cũng vừa tới. Với kinh nghiệm phát hiện B-52 trước đó mấy năm, Đài trưởng Nghiêm Xuân Tích và các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã nhanh chóng xác định được dải nhiễu của B-52. Đường bay của chúng được đánh dấu trên bảng tiêu đồ, đoạn đầu trùng khít với đường bay những lần trước chúng đánh vào Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng nhưng đến phương vị 290 độ chúng không vòng lại mà tiếp tục bay tới phương vị 300 độ hướng về phía tây bắc nước ta. Sau khi kiểm tra, Sở chỉ huy Trung đoàn 291 khẳng định B-52 đang trên đường vào đánh Hà Nội, lập tức thông tin này được báo cáo về Tổng trạm ra-đa Quân chủng. Hơn 19 giờ lệnh báo động được phát ra. Không khí ở Thủ đô Hà Nội như sôi lên khi còi báo động hú vang và trên các loại loa truyền thanh, phóng thanh vang lên giọng nói hết sức khẩn trương của nữ phát thanh viên với một thông điệp nghiêm trọng: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Hiện nay máy bay địch cách Hà Nội hơn 100 ki-lô-mét. Theo nhận định của Trung ương, đêm nay đế quốc Mỹ có thể sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh hủy diệt Hà Nội để gây áp lực trên bàn đàm phán Hội nghị Pa-ri… Máy bay địch cách Hà Nội 80 ki-lô-mét. Tất cả nhân dân khẩn trương về nơi trú ẩn, lực lượng dân quân tự vệ về vị trí sẵn sàng làm nhiệm vụ cùng bộ đội Phòng không – Không quân đánh trả không quân địch…”.

Đèn điện phụt tắt. Khắp trên các ngả đường tiếng bước chân chạy rầm rập rồi tiếng nổ ầm ầm của đạn bom. Không khí như bị xé nát, tất cả rung chuyển tưởng chừng như sắp nổ tung. Các lực lượng Phòng không – Không quân có 35 phút chuẩn bị trước khi cuộc tập kích của địch vào Hà Nội bắt đầu. Đúng 19 giờ 44 phút, những vệt sáng như những dải sao băng lao vút lên bầu trời trong cái mớ âm thanh hỗn tạp của những loạt bom rền vang và các loại súng pháo phòng không bắn trả mãnh liệt. Những vệt sáng bùng lên, rơi xuống lả tả. Tên lửa của ta đã lên tiếng. Nhưng máy bay địch chưa rơi. Kíp chiến đấu nhìn nhau lo lắng. Các Sở chỉ huy lặng đi. Chả lẽ kẻ địch đã vô hiệu hóa được bộ đội Phòng không – Không quân. Những loạt đạn tên lửa tiếp tục phóng lên nhưng vẫn chưa có kết quả do trên các hướng các tốp B-52 đang bay vào đánh Hà Nội, địch gây nhiễu rất nặng.

Sau chín trận tên lửa đánh không hiệu quả và mấy lần không quân xuất kích trong đêm đầu tiên không phát hiện được mục tiêu, tư tưởng một số cán bộ, chiến sĩ tỏ ra lo lắng, hoài nghi về khả năng đánh B-52 trong nhiễu của tên lửa SAM-2 và MiG-21. Các cấp đã tổ chức rút kinh nghiệm chớp nhoáng giữa hai đợt chiến đấu và xác định nguyên nhân hai lực lượng chủ yếu chưa đánh được là do địch sử dụng đội hình lớn, đánh ồ ạt, cường độ nhiễu quá mạnh, một số đơn vị tên lửa lại chưa hề chạm trán với B-52, các trắc thủ chưa chọn và phân biệt được dải nhiễu B-52 với các loại máy bay khác. Khi xác định được chính xác thì đánh không kịp. Ra-đa dẫn đường của không quân cũng bị nhiễu nặng, khi phi công bật ra-đa trên máy bay thì bị địch phát hiện nên không sục sạo và tiếp cận được B-52. Tuy chưa bắn rơi máy bay địch trong loạt trận đầu tiên, song tinh thần chiến đấu của bộ đội rất ngoan cường, dũng cảm, có ý chí, quyết tâm cao. Đúng 20 giờ 13 phút ngày 18-12-1972, Trung đoàn Tên lửa 261 được lệnh đánh tốp máy bay đang từ hướng Tam Đảo lao xuống đánh Đông Anh. Tiểu đoàn 59 nằm ngay trọng điểm đánh phá của địch đã chớp cơ hội phát hiện chính xác dải nhiễu của tốp B-52. Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng, kíp chiến đấu đã phóng đạn đánh theo phương pháp ba điểm tiêu diệt chiếc B-52 đầu tiên trong chiến dịch. Bị trúng đạn, chiếc B-52 bốc cháy lao xuống cánh đồng Chuôm thuộc xã Phù Lỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội, cách trận địa chưa đầy 10 ki-lô-mét. Tin Tiểu đoàn 59 bắn rơi tại chỗ B-52 đã nhanh chóng được báo cáo lên cấp trên và thông báo trong toàn quân chủng đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt đã củng cố lòng tin cho bộ đội về cách đánh B-52 trong điều kiện nhiễu phức tạp, đồng thời khẳng định khả năng chống nhiễu của bộ đội Tên lửa đã thành công. Ngay trong đêm đó quân và dân ta lại tiếp tục đánh trả quyết liệt đợt tập kích lần thứ hai của địch. Rạng sáng ngày 19 tại trận địa Chèm, Tiểu đoàn 77 thuộc Trung đoàn Tên lửa 257 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn cùng kíp chiến đấu đã phát hiện tốp máy bay địch từ hướng tây bắc bay vào, đã nghiên cứu dải nhiễu xác định chính xác là B-52. Tiểu đoàn trưởng chớp thời cơ hạ quyết tâm đánh bằng phương pháp vượt nửa góc đã bắn rơi tại chỗ một chiếc B-52D. Như vậy, ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch, các tiểu đoàn tên lửa đã đánh bằng cả hai phương pháp: Phương pháp ba điểm và vượt nửa góc đều bắn rơi tại chỗ B-52, càng khẳng định “Cách đánh B-52” của bộ đội tên lửa là hiệu quả; địch được che giấu trong tầng tầng lớp lớp các loại nhiễu nhưng chúng không thoát khỏi đôi mắt tinh tường của những đôi “mắt thần” và “mắt trần” của bộ đội Phòng không – Không quân.

Liên tục trong các đêm tiếp theo, bộ đội tên lửa rồi cao xạ 100mm, MiG-21 đã vít cổ hàng loạt “pháo đài bay” B-52 cùng các loại máy bay trinh sát, tiêm kích, cường kích của địch. Một trong những thành công của quân và dân ta là đã vô hiệu hóa toàn bộ các loại nhiễu của địch, trong màn nhiễu dày đặc các chiến sĩ Phòng không – Không quân bằng ý chí và trí tuệ của mình đã “vạch nhiễu tìm thù”, “tìm thù trong nhiễu”, nhận rõ mặt kẻ thù để tiêu diệt.

NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN
qdnd.vn

Đồng bào Thủ đô kiên cường, anh dũng trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, nhân dân Thủ đô đã sát cánh cùng bộ đội phòng không-không quân và các đơn vị quân đội, kiên cường chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ…Đó là điều được khẳng định trong tham luận của Tiến sĩ Trương Minh Tuấn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương được trình bày tại Hội thảo “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”…

Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, thế trận phòng không nhân dân được xây dựng nhiều tầng và rộng khắp, có phương án hiệp đồng và bảo đảm chu đáo; chuẩn bị kỹ lưỡng cả thế trận phòng tránh và thế trận đánh trả; kết hợp với vừa chiến đấu vừa duy trì sản xuất, vừa bảo đảm chi viện cho chiến trường…

Trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, tham gia chiến đấu chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 gồm lực lượng toàn dân và lực lượng phòng không nhân dân ba thứ quân. Các đơn vị chiến đấu, phục vụ chiến đấu của dân quân, tự vệ có thời điểm lên tới 54.000 người, sử dụng 500 súng trung liên, đại liên và súng máy phòng không, triển khai 295 trận địa trực chiến.

Các nữ tự vệ Thủ đô bên chiếc B-52 bị bắn rơi tại đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội, tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Sự kết hợp giữa hỏa lực phòng không chủ lực, địa phương và dân quân tự vệ đã tạo ra thế trận bắn máy bay lợi hại. Cách đánh của nhân dân Thủ đô rất đa dạng và sáng tạo: Đánh chặn bảo vệ từ xa, đánh tiêu diệt lớn, đánh tập trung vào hướng chủ yếu, tầm bay chủ yếu của địch, đánh đồng loạt nhiều tầng, đánh tập kích, cơ động phục kích, ngụy trang nghi binh lừa địch…

Trong suốt chiến dịch phòng không ác liệt cuối năm 1972, các tầng lớp nhân dân Thủ đô đã biểu lộ cao ý chí và tinh thần kiên cường khắc phục mọi khó khăn gian khổ; phát huy những kinh nghiệm của chiến tranh nhân dân ở đô thị, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực để thực hiện các phương án tác chiến. Cuộc sống đô thị được tổ chức theo kiểu thời chiến. Các cụ già, em nhỏ, học sinh, sinh viên về nơi an toàn. Công tác phòng không tại chỗ được triển khai tích cực. Mọi người, mọi nhà, mọi cơ quan, trường học, xí nghiệp đều xây dựng hầm hào trú ẩn. Trong thành phố có 230.000 hố cá nhân, 1.130km hào giao thông, hàng nghìn hầm tập thể.

Sự bạo tàn của kẻ thù càng tăng thêm quyết tâm đánh Mỹ cho quân và dân Hà Nội. Trong tổn thất, đau thương càng sâu nặng nghĩa đồng bào. Hà Nội chiến đấu vì cả nước; cả nước hướng về Hà Nội sẻ chia, cổ vũ. Hàng trăm tấm gương sáng ngời của Thủ đô xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực: Trong bảo vệ sản xuất, bảo vệ trật tự, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; trong cứu thương, cứu hỏa; trong đùm bọc cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau.

Trong Chiến dịch, sáng ngời hình ảnh của các chiến sĩ công nhân anh hùng “bến phà kiên cường chống Mỹ” Bác Cổ, lặn lội bám trụ ngày đêm để bảo đảm giao thông thông suốt, bất chấp bom đạn của kẻ thù. Đó còn là hình ảnh về tấm gương hy sinh của hai đồng chí Đặng Đức Thọ và Vũ Xuân Hòa bám máy đến cùng để bảo đảm dòng điện cho Thủ đô. Đó là hình ảnh các chiến sĩ công an đường phố sâu sát, nắm dân, quên mình cứu chữa, bảo vệ tính mạng nhân dân. Đó là lực lượng cứu sập, cứu hỏa quên mình dưới bom đạn địch làm nhiệm vụ. Đó là hàng trăm ngàn các chiến sĩ tự vệ, các hội viên chữ thập đỏ và cả những người dân bình thường vì nghĩa lớn đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm tận tình cưu mang bà con, xóm ngõ của mình trong cơn hoạn nạn. Cùng với đó, đội ngũ các thầy thuốc, từ giáo sư, bác sĩ đến y tá, hộ lý đã lăn lộn, bất chấp mọi nguy hiểm để làm nhiệm vụ cao cả, vì sự sống còn của hàng ngàn nạn nhân…

Nhờ sự chuẩn bị tốt cả về tư tưởng và tổ chức, lực lượng và phương tiện, quân và dân miền Bắc nói chung, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng…đã đánh trả địch những đòn đích đáng ngay từ những trận đầu và đã đánh bại cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B-52 của Mỹ. Trong toàn bộ Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ (trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F-111), bắt sống 44 giặc lái, bắn chìm và bắn hỏng 9 tàu chiến. Riêng Hà Nội đã bắn rơi 30 máy bay (trong đó có 23 máy bay B-52 và 2 máy bay F-111).

PHẠM HOÀNG HÀ (ghi)
qdnd.vn

Chiến thắng vang dội nhờ yếu tố con người

Dư luận quốc tế về trận “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Sau 12 ngày đêm bắn phá bằng B-52, Mỹ chịu sự tổn thất rất lớn về quân sự, hàng loạt máy bay các loại, kể cả những máy bay hiện đại đã bị bắn rơi, cùng với sức ép của dư luận tiến bộ trên khắp thế giới, buộc Ních-xơn phải ngừng cuộc ném bom, nối lại bàn đàm phán.

Lực lượng phòng không dày kinh nghiệm

Một nhân vật có thế lực ở Mỹ là Nê-grô-pôn thú nhận sự thật: “Chúng ta ném bom Bắc Việt để rồi chính chúng ta chấp nhận nhượng bộ” và ‘Những điều khoản trong Hiệp định về thực chất vẫn giống như những điều cộng sản đề nghị vào tháng 5-1969”. Còn với H. Kít-xinh-gơ, trong cuốn hồi ký của mình luôn lảng tránh và thanh minh rằng, ông ta không đóng vai trò gì trong những chuyện “tồi tệ” như vậy. Ông tỏ ra bất bình trước thái độ, hành động của Ních-xơn và các tay chân thân cận của Ních-xơn, cho đó là: “Một sự can thiệp bẩn thỉu và bất hợp pháp”.

Xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên đường phố Hà Nội tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Các cơ quan truyền thông, báo chí, các hãng thông tấn trên khắp thế giới đã dồn dập đưa tin về chiến thắng vang dội của ta và phơi bày sự thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ. Hãng UPI ngày 31-12-1972 đưa ra bình luận: “12 ngày trở lại ném bom vùng Hà Nội, Hải Phòng được coi là cuộc ném bom dữ dội nhất trong chiến tranh đã làm cho Mỹ bị thiệt hại nặng nề nhất về người và trang bị”.
Hãng tin Pháp AFP cùng ngày cũng đưa tin: “Chưa bao giờ lực lượng B-52 của Mỹ lại vấp phải một hệ thống phòng không có hiệu lực đến như thế và bị thiệt hại nhiều máy bay đến như thế trong một khoảng thời gian ngắn như thế”.

Trong những trang Hồi ký kể về trận “Điện Biên Phủ trên không”, một số phi công tham gia chiến đấu như: Trung tướng Giêm R.Me Ca-thi (James R.Me Cathy), Đại tá Rô-bớt E.Ray Phi-đơ (Robert E.Ray Field) và Trung tá Gioóc-giơ A-li-xơn (George B.Allison) luôn ca ngợi sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội Việt Nam: “Tổ hợp mục tiêu Hà Nội – Hải Phòng là một trong số các khu vực có lưới lửa phòng không khủng khiếp nhất thế giới. Tổng số các tên lửa đất đối không, máy bay chiến đấu và súng cao xạ bao quanh khu vực mục tiêu đã vượt quá mọi cái mà người ta đã từng trải qua”.

Còn theo Đại tá, cựu chiến binh Liên Xô N. Sơ-hơ-nép (N.Sherhnev), Giáo sư Đại học Không quân Kharkov, U-crai-na, bài đăng trên Báo Cựu chiến binh Hoa Kỳ, tham chiến ở Việt Nam, số ra ngày 7-8-2006 thì khẳng định: “Trong cuộc chiến tranh công nghệ cao đầu tiên của thế giới, sự trưởng thành rất nhanh chóng của bộ đội phòng không – không quân đã giúp Việt Nam chiến thắng”.

Khi thất bại, người Mỹ thường hay đổ lỗi cho nhau. Báo cáo lưu tại Trung tâm quân sự Hoa Kỳ về trận ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam tháng 12-1972, đã chỉ ra nguyên nhân chính là phía Mỹ không lập ra được bộ máy các quan chức quân sự ở cấp cao có khả năng điều hành công việc. Bởi vậy, Bộ Quốc phòng, Cố vấn An ninh quốc gia và Chủ tịch Hội đồng liên quân, Giám đốc CIA không có sự theo dõi sát sao và chỉ đạo kịp thời dẫn đến thất bại.

Cũng nói về nguyên nhân thất bại của cuộc tập kích, tướng E-đơ, Tham mưu phó Không quân Mỹ ở châu Âu đã nói: “Chúng tôi cho rằng, Bắc Việt Nam đã phát triển được các lực lượng phòng không dày kinh nghiệm hơn bất kỳ nước nào”. Cuối cùng, đế quốc Mỹ cũng phải thừa nhận những điểm yếu của mình và “sửng sốt vì thất bại tại Hà Nội, Hải Phòng nhưng lại rất khó tiên đoán và kiểm soát được kết quả của các cuộc tham chiến bằng quân sự với quy mô lớn”.

Con người – yếu tố quyết định

Về phía ta, để chiến thắng pháo đài bay B-52 của Mỹ, trước hết, ta có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và công phu, không lúng túng mà bình tĩnh đánh trả quyết liệt. Ngược lại, chính chiến thắng B-52 của ta trên bầu trời Hà Nội là một bất ngờ đối với Mỹ, bởi trong những “bộ óc điện tử” của người Mỹ thì việc sử dụng loại vũ khí chiến lược B-52 có thể đè bẹp được ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Điều này hoàn toàn trái ngược với nhận định của một học giả Nhật Bản, khi họ đi sâu nghiên cứu về chiến thắng của người Việt Nam trong 12 ngày đêm: “Không phải vũ khí mà là con người quyết định kết quả chiến đấu. Như thế, không có nghĩa xem nhẹ vũ khí. Người Việt Nam rất coi trọng vũ khí; họ đã độc lập sử dụng những vũ khí mới nhất. Kết quả cố gắng của họ thấy rõ trong việc bắn rơi máy bay hiện đại nhất, trong đó có máy bay B-52”.

Nguyên nhân thứ hai trực tiếp lý giải vì sao Việt Nam lại chiến thắng Mỹ trong cuộc đọ sức này, đó là chiến thắng B-52 không chỉ khẳng định sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân trong việc đối đầu với một loại vũ khí hiện đại nhất của Mỹ mà còn chứng tỏ tài nghệ, sức sáng tạo của con người Việt Nam trong việc khai thác, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại; tinh thần đoàn kết chiến đấu chống lại kẻ thù, bên cạnh đó có sự ủng hộ rất to lớn của anh em, bè bạn quốc tế.

Sau này, nhiều chuyên gia quân sự Mỹ còn phân tích, mổ xẻ để tìm ra rất nhiều sai lầm của Mỹ trong chiến dịch Linebacker II tháng 12-1972. Tuy nhiên, có một điều mà ít người thừa nhận, đó là tinh thần phi công Mỹ khủng hoảng đến mức suy sụp. Hiện tượng phản chiến đã xuất hiện bằng các hình thức cáo ốm, từ chối không nhận nhiệm vụ. Hành động viết đơn phản kháng của phi công xuất hiện ở nhiều nơi. Bức thư của phi công Mỹ Mai-cơn Hếch được gửi đến một số nghị sĩ Quốc hội. Các câu lạc bộ sĩ quan ở Gu-am và U-ta-pao trở thành những nơi thổ lộ và trút tâm trạng thất vọng, sợ hãi của các phi công Mỹ.

Chiến thắng B-52 tháng 12-1972 đã kết thúc cách đây 40 năm, song hậu quả của cuộc chiến tàn khốc do Mỹ gây ra còn ảnh hưởng lâu dài. Quá khứ đau thương chưa thể “khép lại”, nó tác động đến các thế hệ người Mỹ và người Việt Nam. Tác giả A-đri-an Át-uốt, người đã từng đến Việt Nam, có bài viết đăng trên Tạp chí Far Easten Economic Review nhấn mạnh: “Cho đến nay, dư luận ngày càng nhiều đã đánh giá cuộc chiến ấy – cuộc chiến của Mỹ – là một lỗi lầm bi thảm, là điều xấu xa nhất, và đó là một tội ác chống nhân loại”.

Đối với ta, chiến thắng cuộc tập kích chiến lược đường không tháng 12-1972 của đế quốc Mỹ đã đập tan âm mưu “đàm phán trên thế mạnh” của Ních-xơn, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang và trở lại Hội nghị Pa-ri, ký vào hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân trong chiến tranh hiện đại; thắng lợi của ý chí và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trung tá, TS Trương Mai Hương
qdnd.vn

(Tiếp theo và hết)
Phơi bày tội ác của đế quốc Mỹ

Phơi bày tội ác của đế quốc Mỹ

Dư luận quốc tế về trận “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Bước sang năm 1972, tình hình nước Mỹ “rối như tơ vò”, chiến tranh Việt Nam đã “dìm” xã hội Mỹ vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng, nạn thất nghiệp tăng, nội bộ mâu thuẫn sâu sắc. Tiếp đó, những cuộc đấu tranh công khai và bí mật giữa Chính phủ Việt Nam và Mỹ vẫn diễn ra quyết liệt trong các tháng 8, 9 và 10-1972. Ngày 8-10-1972, ta đưa ra bản dự thảo Hiệp định mà mỗi bên đều chấp nhận được và thống nhất ký tắt tại Hà Nội vào ngày 22-10-1972 và ngày 31-10-1972.

Bệnh viện Bạch Mai sau một đợt ném bom của máy bay Mỹ. Ảnh tư liệu

Kế hoạch ném bom hủy diệt lớn

Thế nhưng, tháng 12-1972, cuộc đàm phán hòa bình lại bế tắc. Để bảo đảm đi tới một hiệp định cho phép Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến tranh “trong danh dự”, Tổng thống Ních-xơn đe dọa sẽ tiến hành một cuộc ném bom hủy diệt lớn. Sau khi đơn phương hoãn ngày ký Hiệp định, sức ép của Quốc hội và nhân dân Mỹ càng tăng đối với Ních-xơn và Chính phủ của ông ta, dẫn đến sự chia rẽ ngày càng sâu sắc giữa các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp nước Mỹ.

Nội tình trong nước như vậy, còn trên bàn đàm phán, Mỹ bị ta phản ứng quyết liệt, nên “Tổng thống Ních-xơn đã ra lệnh tiến hành chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972, dưới tên gọi Lenebacker II với mục đích là đưa cuộc đàm phán hòa bình ở Pa-ri đi đến kết thúc”.

Vì sao Ních-xơn lại hành động điên cuồng như vậy, dù biết chắc chắn rằng sẽ vấp phải sự phản đối dữ dội cả trong nước và quốc tế? Tính toán của Ních-xơn đã lộ rõ: Sử dụng B-52 với quy mô, cường độ cao, đánh phá ác liệt vào Thủ đô và hải cảng quan trọng nhất của đối phương nhằm thay đổi một số điều trong dự thảo Hiệp định tháng 10-1972, có lợi cho Mỹ, ngụy; đồng thời nhằm biểu dương sức mạnh bằng không quân trong việc hủy diệt các mục tiêu của đối phương bằng vũ khí thông thường; đe dọa sử dụng con bài này trong tương lai nếu chế độ ngụy gặp nguy kịch. Nhưng bao trùm lên tất cả là thông điệp của Ních-xơn: “Mỹ đã nói là làm”!.

Trong thời gian 12 ngày đêm đó, hơn 20.000 tấn bom – cả bom điều khiển và bom thường – được thả chủ yếu xuống Hà Nội, Hải Phòng và lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh, B-52 được phép góp phần không hạn chế. Trước sức công phá ấy, giới quân sự Mỹ cho rằng các trung tâm dân cư cũng như các mục tiêu quân sự sẽ bị quét sạch và trong phần lớn các trường hợp, khu vực mục tiêu chỉ còn là những đống gạch vụn. Giô-dép A. Am-tơ, tác giả cuốn “Lời phán quyết về Việt Nam” cho biết: “Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã ném bom Hà Nội, Hải Phòng với sự tàn bạo hơn bao giờ hết trong lịch sử chiến tranh Việt Nam” .

Khi chiến sự xảy ra, giới báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà nhiếp ảnh, và nhất là các phóng viên truyền hình đã đổ xô đến Hà Nội. Một số tác giả thu lượm rất nhanh những thông tin cần thiết qua các buổi thông báo hằng ngày được gửi tới SAC (Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ) và Lầu Năm Góc. Tin tức được chuyển tải rất nhanh về tòa soạn hoặc đài truyền hình trong khi chiến sự còn đang tiếp diễn, điều đó đã kịp thời cung cấp cho công chúng Mỹ và nhân dân thế giới những hình ảnh ghê tởm nhất mà đế quốc Mỹ sử dụng bom B-52 rải thảm tại Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam.

Sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Việt Nam

Hành động chiến tranh tàn bạo của Mỹ đã gây xúc động sâu sắc lương tri của nhân dân tiến bộ. Dư luận thế giới phản ứng mạnh mẽ, từ người đứng đầu các Chính phủ, tổ chức xã hội, chính khách, văn nghệ sĩ, nhà khoa học, đến người lao động bình thường, kể cả nước đồng minh với Mỹ và ở ngay nước Mỹ. Chỉ một ngày sau khi đế quốc Mỹ sử dụng bom B-52 bắn phá miền Bắc Việt Nam (19-12-1972), hãng Thông tấn xã Liên Xô đã lên tiếng mạnh mẽ: “Nhân dân Liên Xô căm phẫn tố cáo các hành động kẻ cướp mới đó của giới quân phiệt Mỹ, đòi chúng phải ngừng ngay hành động này và đòi Mỹ phải nhanh chóng ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Cùng ngày, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố, nếu Chính phủ Mỹ bất chấp nguyện vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới, một mực theo đuổi chiến tranh xâm lược, thì nhân dân Trung Quốc sẽ trước sau như một “kiên quyết thi hành nghĩa vụ quốc tế của mình, dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cho tới thắng lợi hoàn toàn”.

Chính phủ các nước biểu thị sự phản đối mạnh mẽ, sự lên án nghiêm khắc nhất đối với chính sách tàn phá và hủy diệt trên quy mô lớn mà Ních-xơn mưu toan dùng để ép Việt Nam phải chấp nhận tối hậu thư của chúng, hòng chia cắt lâu dài đất nước và duy trì chính quyền bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ G. Hôn khẳng định rõ ràng: “Kết quả việc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam làm uy tín của Mỹ trên thế giới tụt xuống mức thấp chưa từng có. Phản ứng trên khắp thế giới sẽ càng thêm gay gắt”.

Tại Pháp, phong trào đấu tranh ủng hộ Việt Nam rầm rộ. Đảng Cộng sản Pháp liên tiếp có những bài phát biểu đanh thép trên truyền hình vạch rõ cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Xã luận Báo Nhân đạo không chỉ kiên quyết ủng hộ Việt Nam dưới mọi hình thức mà còn vạch trần sự trở mặt của Mỹ, sự dối trá của Ních-xơn và khẳng định: “Mỹ có biện bạch như thế nào đi nữa, cũng không gì có thể bào chữa được cho việc tiếp tục và tăng cường sự tàn sát. Và kẻ nào muốn làm nhẹ tội cho Ních-xơn đều là đồng lõa”.

Trước những hành động tội ác của đế quốc Mỹ gây ra cho miền Bắc Việt Nam, Đảng xã hội Áo nghiêm khắc yêu cầu: “Chính phủ Mỹ hãy chấm dứt lập tức những cuộc ném bom giết người này đối với một nước nhỏ đã được thử thách bằng một cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm, hãy ký Hiệp định ngừng bắn”.

Bức thư đầy tâm huyết của Đan-tơ Cruých, một thành viên trong chính quyền địa phương Bô-lô-nhơ ở I-ta-li-a đã gửi đến Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri và bày tỏ: “Chúng tôi luôn ở bên cạnh các đồng chí trong những giờ phút khủng khiếp này… Cách đây 3 ngày, hàng chục nghìn người đã biểu tình tuần hành dưới trời mưa như trút nước… Dân tộc Việt Nam tuyệt vời mãi mãi ở trong trái tim chúng tôi”.

Sự thật về tội ác và sự lật lọng của đế quốc Mỹ được phơi bày, càng làm cho dư luận thế giới đứng về phía Việt Nam.

Trung tá, TS Trương Mai Hương
qdnd.vn

(Còn nữa)

Tạo thế và giữ vững quyền chủ động chiến dịch

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” (12-1972/12-2012)

QĐND – Chiến dịch phòng không năm 1972 (từ 18 đến 30-12-1972), đánh thắng cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ, là chiến dịch phòng không quy mô lớn nhất trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo bước ngoặt chiến lược cho cách mạng nước ta. Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tạo lập thế trận, bố trí, sử dụng lực lượng linh hoạt; mưu trí sáng tạo trong cách đánh, nổi bật là việc tạo thế và giữ vững quyền chủ động chiến dịch.

Bằng các biện pháp trinh sát tổng hợp, ta chủ động tổ chức nắm được âm mưu, ý đồ của địch, dự kiến tương đối sát căn cứ chủ yếu, lực lượng, thời gian, hướng tiến công chiến lược của địch, để chủ động chuẩn bị trước cả về quyết tâm, kế hoạch, thế trận, lực lượng, cách đánh cũng như bảo đảm về vũ khí trang bị, kỹ thuật công binh, công trình, sơ tán, phòng tránh và tổ chức diễn tập thực binh kiểm tra khả năng chiến đấu của bộ đội… Quá trình chiến dịch, có nhiều tình huống phức tạp, song ta đã xử lý tốt, dựa trên nền tảng thế trận đã chuẩn bị sẵn.

Bộ đội Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn tên lửa 257) phổ biến kinh nghiệm đánh máy bay B-52. Ảnh tư liệu

Trong quyết tâm, kế hoạch tác chiến, Hà Nội được lựa chọn là khu vực tác chiến chủ yếu, vì ta nắm tương đối sát âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ sử dụng đòn cuối cùng, dùng máy bay B-52 đánh tê liệt trung tâm đầu não của ta. Dự kiến sát các tình huống làm cơ sở để Bộ tư lệnh chiến dịch kiên quyết tập trung lực lượng tên lửa phòng không (lực lượng tác chiến chủ yếu) bảo vệ Hà Nội và chủ động xử trí tốt các tình huống chiến dịch. Trên hình thái chung của chiến dịch, ta không phân tán hỏa lực rộng để bảo vệ tất cả các mục tiêu trên vòng cung khu vực tác chiến chủ yếu vì lực lượng của ta có hạn, trong điều kiện địch đánh phá rộng khắp, ác liệt, tác chiến điện tử tinh vi, có những thủ đoạn ta chưa dự kiến hết…

Bộ tư lệnh chiến dịch đã dự đoán khá chính xác cả 4 hướng tiến công cơ bản (tây bắc, tây nam, nam, đông bắc) và xu thế phát triển của nó. Hướng tiến công chủ yếu của địch từ tây bắc xuống, lấy ngã ba sông Hồng (Việt Trì) làm điểm kiểm tra cuối cùng trước khi vào đánh Hà Nội, nên đã chủ động bố trí, sử dụng tập trung được lực lượng, tạo thế trận chiến dịch có lợi, đưa địch vào mưu kế, thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta. Đây là hướng tiến công mà ta có thể lợi dụng địa hình, địa vật để xây dựng trận địa, bố trí lực lượng đón đánh địch vừa đạt mục đích bảo vệ được các mục tiêu chiến dịch trọng yếu, vừa tiêu diệt lớn máy bay địch.

Với thế trận ra-đa cảnh giới bố trí liên hoàn, từ xa kết hợp các loại máy, mạng trên các dải tần khác nhau, nên bộ đội ta đã phát hiện được B-52 rất sớm. Đây cũng là cơ sở để Bộ tư lệnh chiến dịch hoàn toàn giành thế chủ động hạ quyết tâm chiến đấu cho các đơn vị. Bộ đội không quân tích cực cất cánh cản phá các tốp B-52 ngoài tầm hỏa lực của tên lửa, buộc các tốp máy bay hộ tống B-52 phải cơ động đối phó, làm bộc lộ đội hình. Bộ đội tên lửa phòng không chủ động phát sóng, tìm mục tiêu trong nền nhiễu hỗn tạp, không đánh chặn từ xa, để cho chúng vào sâu vùng trời nội địa, phát huy hiệu quả đánh nhanh, đánh gần của tên lửa, kiên quyết đánh những trận then chốt tiêu diệt lớn B-52 trên bầu trời Hà Nội, làm suy giảm sức tiến công của địch, đẩy địch từ thế chủ động ban đầu thành thế bị động, lúng túng, xuống thang đánh phá. Lưới lửa phòng không tầm thấp của lục quân, dân quân, tự vệ, tàu chiến đấu của hải quân tập trung đánh máy bay chiến thuật bay thấp, luồn tránh ra-đa phòng không của địch lên cao, không cho chúng đánh bồi, đánh lén, bảo vệ trận địa tên lửa, sân bay và các mục tiêu trọng yếu…

Thực tế chiến dịch đã có sự vận dụng sáng tạo, độc đáo về kỹ thuật, chiến thuật, phương pháp điều khiển tên lửa phòng không và dẫn đường cho không quân tiêm kích chiến đấu với hiệu suất cao, liên tiếp giáng cho địch những đòn bất ngờ cả về chiến dịch và chiến thuật, buộc địch phải điều chỉnh kế hoạch trong thế bị động, tinh thần phi công hoang mang, ném bom bừa bãi ngoài mục tiêu. Những giá trị lịch sử của nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972 cần được nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện tác chiến mới.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Chiến dịch phòng không đạt mức tiêu diệt địch cao nhất

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Chiến dịch tập kích đường không chiến lược mang tên Lai-nơ-bếch-cơ II của không quân Mỹ vào thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương lân cận tháng 12-1972, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế, quân sự; ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam; thực hiện ý đồ thương lượng trên thế mạnh theo các điều kiện chúng đặt ra trên bàn hội nghị Pa-ri và “răn đe” những ai có tư tưởng chống Mỹ…

Giới quân sự Mỹ cho rằng, tên lửa SAM-2 của phòng không Việt Nam không thể nào “với tới” B-52 và động viên các phi công: “Cứ bám đuôi nhau mà vào, rồi sẽ đi đông, về đủ”. Theo lệnh của Ních-xơn, lực lượng không quân chiến lược Mỹ đã sử dụng 48,25% máy bay chiến lược B-52 của toàn n­ước Mỹ (193/400 chiếc), đã xuất kích 663 lần chiếc; 35,41% số máy bay chiến thuật của toàn n­ước Mỹ (1.077/3.041 chiếc), đã xuất kích 3.920 lần chiếc. Đó là chư­a kể 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số lượng lớn máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, máy bay trinh sát có ng­ười lái và không ngư­ời lái, máy bay chỉ huy, dẫn đường, liên lạc, cấp cứu…; 25% số tàu sân bay của toàn nư­ớc Mỹ được huy động cho chiến dịch này, cùng nhiều tàu chỉ huy, dẫn đường, tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu ra-đa, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu, sửa chữa… Cường độ và thủ đoạn đánh phá của chúng hết sức ác liệt, tập trung, ồ ạt. Trong 12 ngày đêm, chúng đã sử dụng hơn 20.000 tấn bom đạn, tập trung đánh vào các mục tiêu kinh tế, quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng; sử dụng máy bay B-52 ném bom rải thảm mang tính hủy diệt vào các khu đông dân cư ở thủ đô Hà Nội…

Học sinh Hà Nội bên xác máy bay B-52 trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân.
Ảnh: Anh Quân

Trong đau th­ương mất mát, quân và dân Thủ đô hừng hực ý chí căm thù, quyết bắt lũ “giặc trời” phải đền tội. Bộ đội phòng không thông minh, quả cảm, sáng suốt lựa chọn các biện pháp thích hợp nhất để đưa quả đạn đến mục tiêu, tiêu diệt hiệu quả B-52 trong không gian nhiễu dày đặc. Phi công Phạm Tuân mưu trí, dũng cảm lái máy bay MiG-21 vượt qua đội hình dày đặc máy bay hộ tống F-4 của địch, bắn rơi một chiếc B-52 trên bầu trời phía Tây Hà Nội và trở về an toàn…

Với thế trận đã được chuẩn bị từ trước, bằng trí tuệ, bản lĩnh phi thường, quân dân ta đã chiến thắng vang dội cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ, đạt hiệu suất chiến đấu cao, tiêu diệt tới hơn 17% máy bay B-52 tham chiến. Để đánh được B-52, ngay từ tháng 5-1966, ta đã tổ chức lực lượng trực tiếp đối đầu với B-52, vừa đánh trả, vừa nghiên cứu cách đánh B-52. Cuốn cẩm nang “Cách đánh B-52″ là kết quả dày công của gần 7 năm đúc kết kinh nghiệm đối đầu với B-52 và các thủ đoạn của không quân Mỹ. Quân và dân ta đã nghiên cứu, tìm ra điểm mạnh, yếu của địch, bảo đảm vũ khí nào cũng phát huy tác dụng, lực lượng nào cũng có thể bắn hạ máy bay địch, kết hợp tiêu diệt, khống chế máy bay chiến thuật hộ tống, tạo điều kiện cho Bộ đội Tên lửa và Không quân bắn hạ B-52.

40 năm đã qua, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài báo, nhiều cuộc hội thảo, nhiều công trình khoa học quân sự ở nư­ớc ta và nhiều nước trên thế giới, cùng với ca ngợi ý nghĩa Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đã tập trung luận bàn, tìm hiểu bằng sức mạnh nào mà quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lư­ợc bằng B-52 của đế quốc Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, Ních-xơn, cựu Tổng thống Mỹ phải cay đắng thừa nhận: “Nỗi lo của tôi trong những ngày đó không phải là những làn sóng phản đối và phê phán nghiêm khắc ở trong nư­ớc và thế giới, mà là ở mức độ tổn thất về máy bay quá nặng nề”. Kít-xinh-giơ, cựu cố vấn an ninh quốc gia số 1 của Mỹ (1968-1973) thừa nhận: “Không lực Hoa Kỳ đã vấp phải một hệ thống phòng không có hiệu lực nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới”.

Giá trị lịch sử và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là tài sản vô giá tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn của dân tộc ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.

ĐẠI TÁ DƯƠNG VĂN THỰC(*)
qdnd.vn

(*) Viện Chiến lược Quốc phòng

“Mắt thần” bắt B-52 sớm, tạo điều kiện để tên lửa lập công đầu

QĐND Online – Đêm 18-12-1972, đêm đầu đế quốc Mỹ thực hiện đòn tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) đã lập công xuất sắc, hạ gục siêu pháo đài bay B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội.

Để Bộ đội Tên lửa chủ động bắt, bám sát, tiêu diệt B-52, phải kể đến thành tích phát hiện, thông báo sớm B-52 của Bộ đội ra-đa, trước khi “con ngáo ộp” xâm phạm vùng trời miền Bắc. Ngay trong những phút đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Bộ đội Ra-đa đã thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Không để Tổ quốc bị bất ngờ”. Đơn vị ra-đa đã phát hiện sớm mục tiêu B-52 là Đại đội 45, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa).

Đài ra đa P-35 đã phát hiện, thông báo sớm 25 phút, trước khi B-52 xâm phạm vùng trời Hà Nội

Hiện nay, đài ra-đa dẫn đường P-35 phát hiện sớm tốp B-52 chuẩn bị vào đánh phá Hà Nội, vẫn đang được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52 (số 157 Đội Cấn, Hà Nội).

Hơn 19 giờ ngày 18-12-1972, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích, thuộc Đại đội 45, Trung đoàn 291 phát hiện ba dải nhiễu B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đài trưởng Tích báo cáo lên cấp trên: “B-52 địch có khả năng vào miền Bắc”.

Từ sở chỉ huy Trung đoàn 291 ở Nghệ An, Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm ra-đa Quân chủng PK-KQ: “B-52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc.

Đúng 19 giờ 40 phút, 90 lần chiếc B-52 và 135 lần máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực của Hà Nội.

Do được thông báo B-52 trước 25 phút, quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là Bộ đội PK-KQ đã giành được thế chủ động, đánh địch quyết liệt ngay từ những phút giây đầu tiên khi máy bay địch xâm phạm bầu trời Hà Nội, hạ bệ B-52, đánh gục “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ”.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

“Điện Biên Phủ trên không” – Một dự báo tài tình của Bác Hồ

QĐND – Trước khi Mỹ mở chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II) tấn công ra miền Bắc năm 1972, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó đã sớm dự đoán được âm mưu này của địch nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng các giải pháp cả trên chiến trường và “mặt trận” ngoại giao đang diễn ra ở Pa-ri. Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”, lấy thắng lợi trên chiến trường để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

“Lời tiên đoán” kẻ địch sẽ thua

Vào buổi chiều 18-12 cách đây 40 năm, khi máy bay chở đoàn đồng chí Lê Đức Thọ từ Pa-ri qua Mát-xcơ-va và Bắc Kinh về gần tới không phận Việt Nam, đồng chí Lê Đức Thọ đã bước tới buồng lái, thoáng lặng nhìn rồi thân mật hỏi: “Gia đình các cháu sơ tán ở đâu? Nếu sơ tán thì sơ tán càng xa càng tốt. Chưa yên đâu, còn căng thẳng đấy các cháu ạ”. Khi về tới nhà số 6 Nguyễn Cảnh Chân, chúng tôi đang chuyển hồ sơ, tài liệu vào tủ bảo mật và chuẩn bị về thăm gia đình như mọi khi, thì đồng chí Lê Đức Thọ tới dặn chúng tôi: “Tình hình như các cậu đã biết, nên bây giờ phải ở lại đây đã”. Khoảng 2 tiếng sau, B-52 Mỹ đã rải bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.

Lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân đã giăng kín trời Hà Nội và các nơi khác. Quân và dân ta đã sẵn sàng đối mặt với B-52 Mỹ. Một kế hoạch khả thi với những phương án độc đáo và sáng tạo đánh trả máy bay B-52 ném bom Hà Nội đã được Đảng và Bác Hồ chỉ đạo chuẩn bị chu đáo từ trước. Năm 1947, trong lời giới thiệu 13 chương Binh pháp Tôn Tử, Bác Hồ nhấn mạnh: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”. Cuối năm 1967, Bác Hồ đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng, lời dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Chớp thời cơ có một không hai

Chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TW khóa III, tháng 1-1967 khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”.

Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định kế hoạch Tổng tấn công mùa Xuân 1968. Lời chúc Tết của Bác đêm Giao thừa mùa Xuân 1968: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” – vừa là hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công này, vừa là tư tưởng chiến lược chỉ đạo kết hợp giữa đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố trên truyền hình ngày 31-3-1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13-5-1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở Thủ đô Pa-ri của Cộng hòa Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Mục tiêu trước mắt của ta là, tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 13-10-1968, Đoàn ta ở Pa-ri nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị mà nếu thực hiện theo thì có thể bỏ lỡ thời cơ buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và họp 4 bên. Thấy tình thế rất phức tạp, có thể không kịp thời gian nếu trao đổi qua mật điện, nên sáng hôm sau, sau khi trao đổi kỹ trong Đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ đã quyết định về ngay Hà Nội. Ngày 16-10-1968, đồng chí về tới Hà Nội. Bộ Chính trị đã họp liên tục trong 3 ngày từ 17 đến 19-10 để nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đàm phán ở Pa-ri, cuối cùng đã thống nhất với nhận định của Đoàn ta ở Pa-ri trước đó. Kết quả là Mỹ đã chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện vào ngày 31-10-1968 và sau đó tiến hành họp 4 bên. Đây là một thắng lợi bước đầu quan trọng của sự kết hợp đánh với đàm, có tác động hỗ trợ lớn cho chiến trường miền Nam.

Tấn công trên ba mặt trận

Từ tháng 3-1970, Bộ Chính trị đã quyết định đẩy mạnh tấn công trên 3 mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao theo chỉ đạo của Bác Hồ: “Thực lực là cái chiêng – ngoại giao là cái tiếng. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”. Thất bại trong cuộc tấn công của địch sang vùng Mỏ Vẹt ở Cam-pu-chia hòng “cất vó” Trung ương Cục miền Nam và phá hủy hậu cứ của ta (tháng 4-1970) và sự phá sản của cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đường 9 Nam Lào (tháng 2-1971) nhằm triệt phá đường chi viện huyết mạch của ta, đã làm tan vỡ một mảng lớn kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, buộc Mỹ phải xuống thang, không đòi cả hai bên cùng rút quân nữa.

Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn vào tháng 2-1972, ngày 22-3-1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Hội nghị Pa-ri vô điều kiện. Ngày 30-3-1972, quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công địch từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngày 6-4-1972, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn ra lệnh ném bom lại miền Bắc Việt Nam. Sau chuyến thăm Mát-xcơ-va vào tháng 5-1972 của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, ngày 11-6-1972, đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Pa-ri đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28-6-1972. Ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, so sánh thế và lực giữa ta với địch trên chiến trường, quan hệ Mỹ – Xô – Trung và tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã tới lúc có thể đi vào giải pháp ở đàm phán Pa-ri. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng tiến sĩ Kít-xinh-giơ chậm nhất là ngày 15-7-1972.

Những cuộc gặp riêng căng thẳng

Từ ngày 19-7 tới đầu tháng 10-1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9 giờ 30 phút sáng 11-10-1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20-10-1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31-10-1972 tại Pa-ri. Kít-xinh-giơ thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”!

Tuy nhiên, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ-ngụy. Đúng là phía Mỹ đã lật lọng, không thực hiện điều đã cam kết. Ngày 22-10, Tổng thống R.Ních-xơn lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu nên chưa có thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Sau khi Tổng thống R.Ních-xơn được tái cử ngày 7-11, trong cuộc họp ngày 23-10-1972, Kít-xinh-giơ đòi sửa lại 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận.

Trong cuộc họp hẹp với Kít-xinh-giơ sáng 4-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B-52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông “không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh””.

Tới cuộc gặp riêng ngày 6-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đề nghị: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không thể chỉ một bên sửa, một bên không sửa. Cứ như thế sửa đi, sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định”. Đến phiên gặp riêng ngày 12-12-1972, chỉ còn hai vấn đề sẽ giải quyết bằng trao đổi công hàm: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự. Nhưng tới cuộc gặp riêng sáng hôm sau, ngoài hai vấn đề trong văn bản, quan điểm của hai bên trong các nghị định thư cũng xa nhau. Ngày 14-12-1972, Kít-xinh-giơ về Mỹ. Ngày hôm sau, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rời Pa-ri về Hà Nội.

Từ chiến thắng trên bầu trời Hà Nội đến thắng lợi ở Pa-ri

Đúng như dự báo của Bác Hồ, tối 18-12-1972, Mỹ đã dùng B-52 không kích Hà Nội. Đồng thời cũng trong ngày hôm đó, Mỹ lại gửi công hàm tới Đoàn ta ở Pa-ri đề nghị nối lại đàm phán sau ngày 26-12-1972. Dùng B-52 tấn công là “canh bạc” cuối cùng của R.Ních-xơn. Hình ảnh “con bồ câu” của R.Ních-xơn trong khi vận động tái tranh cử đã lộ nguyên hình “con diều hâu” hiếu chiến điên rồ sau khi vừa tái cử. R.Ních-xơn và giới quân sự chóp bu Lầu Năm góc đã quá ảo tưởng về sức mạnh của pháo đài bay B-52 “bất khả chiến bại”. Đây là một chiến dịch đã được chuẩn bị sẵn từ trước với cái tên “Linebacker II”. Nhưng có một điều mà ông ta và các chiến lược gia Hoa Kỳ chưa biết rõ. Đó là Thăng Long địa linh, Thăng Long bất khuất và kiên cường đã chôn vùi nhiều mộng tưởng ngoại xâm. Trong 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52 và 5 chiếc F-111, hàng chục giặc lái đã bị bắt. Mưu đồ của R.Ních-xơn nhằm khuất phục ý chí sắt đá của Hà Nội bằng tham vọng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” đã thất bại hoàn toàn. Mơ mộng của Kít-xinh-giơ về “Không lực của nước Mỹ… mạnh tới mức trong vấn đề Việt Nam từ “thất bại” không bao giờ thuộc về chúng ta” đã tan thành mây khói. R.Ních-xơn cũng không còn gì để trấn an chính quyền Thiệu được nữa và nội bộ càng mâu thuẫn, rối ren. Dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom để quay lại bàn đàm phán.

Bộ Chính trị đã thảo luận suốt 3 ngày trong hầm nhà Rồng ở trong thành, nhiều ý kiến lật đi, lật lại, nhưng cuối cùng đã nhất trí cao với ý kiến do các đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đề xuất là phía ta nên gặp lại phía Mỹ để giải quyết vấn đề. Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tắt ngày 23-1-1973 và được ký chính thức ngày 27-1-1973 với nội dung cơ bản như dự thảo của ta chủ động đưa ra hồi tháng 10-1972.

Trong cuộc gặp mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77 Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Đồng chí Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không dám, không dám! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng B-52 của các đồng chí trên bầu trời Hà Nội, làm gì có thắng lợi ở Hội nghị Pa-ri. Chính chiến thắng đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973”…

LƯU VĂN LỢI (*)
qdnd.vn

(*) Nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri.

Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – LTS: Cách đây vừa tròn 40 năm, ngày 18-12-1972, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không chiến lược 12 ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên Bắc nước ta. Bắt đầu từ hôm nay (18-12-2012), Báo QĐND Online giới thiệu với bạn đọc “Nhật ký Chiến thắng B-52”, với nội dung khái quát lại diễn biến, kết quả từng ngày của Chiến dịch, trên cơ sở tổng hợp từ các tài liệu tin cậy và qua lời kể của các nhân chứng trực tiếp tham gia Chiến dịch…

Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Sáng 18-12-1972, từ chỗ không quân địch đang đánh phá quyết liệt ở chiến trường Quân khu 4 bỗng giảm đột ngột. 10 giờ 15 phút, một máy bay không người lái vào trinh sát Hà Nội. Đến 10 giờ 46 phút, lại có một máy bay không người lái vào trinh sát Hải Phòng.

16 giờ, Bộ Tổng tham mưu thông báo có 32 máy bay B-52 đã cất cánh từ Gu-am. Lệnh từ Quân chủng PK-KQ xuống các đơn vị: “Mọi công tác chuẩn bị đánh B-52 phải xong trước 17 giờ”. Đến 18 giờ 50 phút, toàn Quân chủng PK-KQ chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu vào cấp 1.

19 giờ 10 phút, Đại đội ra-đa 16, Trung đoàn 291 (Binh chủng Ra-đa) phát hiện được nhiễu B-52; tiếp đó, 19 giờ 15 phút, Đại đội ra-đa 45 (Trung đoàn 291) phát hiện và kịp thời báo cáo về sở chỉ huy: “B-52 đang vào miền Bắc”.

Bộ đội Tên lửa đã hạ gục B-52 ngay trong đêm đầu của Chiến dịch. Ảnh Tư liệu

19 giờ 25 phút, không quân ta được lệnh cất cánh đón đánh các tốp máy bay chiến thuật Mỹ (F-4, F-8, F-111, A-7…). Cùng lúc đó, ở Tam Đảo, Việt Trì, các đài quan sát dồn dập báo về sở chỉ huy trung tâm: Máy bay F-111 ném bom các sân bay Nội Bài, Kép…Toàn thành phố Hà Nội đã được báo động.

Từ 19 giờ 40 phút, nhiều tốp máy bay B-52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Kép, Yên Bái và khu vực Yên Viên, Đông Anh.

19 giờ 44 phút, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) được phóng lên.

20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn (quả thứ nhất ở cự ly 36km, quả thứ hai giãn cách 6 giây, ở cự ly 34km), chế độ bám sát bằng tay và phương pháp điều khiển 3 điểm, hạ ngay một máy bay B-52, rơi xuống cánh đồng Chuôm, Phù Lỗ (Đông Anh, Hà Nội), cách trận địa gần 10km. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Mảnh xác chiếc B-52 bị bắn rơi đầu tiên trong đêm 18-12-1972 hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà

4 giờ 39 phút sáng 19-12, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) phát hiện được B-52 trên nền dải nhiễu. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn hạ quyết tâm đánh với 2 quả đạn. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức ấn nút phóng đạn; kíp trắc thủ Hà, Mộc, Tân bình tĩnh, tự tin chuyển sang chế độ bám sát cả 3 màn. Hai quả đạn gặp mục tiêu và nổ tốt. Chiếc B-52 bị tiêu diệt, bốc cháy rơi xuống cánh đồng Tân Hưng, Thanh Oai, Hà Nội.

Đêm 18 rạng sáng 19-12, Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B-52 ném 3 đợt bom xuống Thủ đô Hà Nội. Xen kẽ giữa các đợt đánh phá của B-52 có 8 lần chiếc F-111 và 127 lần chiếc máy bay cường kích bắn phá các khu vực nội, ngoại thành.

Trong đêm đầu tiên, Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 điểm thuộc Thủ đô Hà Nội, 85 khu vực dân cư bị trúng bom, làm 300 người chết.

Trong đêm 18-12, quân và dân ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52 (có 2 chiếc rơi tại chỗ), 3 máy bay chiến thuật (2 chiếc F-4 và một chiếc A-7).

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Bản hùng ca viết từ ý chí và sức mạnh Việt Nam

QĐND Online – Ngày 16-12-1972, Hà Nội đang sục sôi khí thế chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lịch sử với không quân chiến lược Mỹ. Đúng 40 năm sau, Hà Nội lại lung linh ánh điện ở nhiều địa điểm mang đậm dấu tích Chiến thắng B-52. Đó là những điểm cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”, do Đài PT-TH Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân và Đoàn phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) phối hợp tổ chức…

“Bê” gì cũng đánh

Cầu truyền hình trực tiếp “Bản hùng ca Hà Nội” diễn ra tại 5 điểm cầu: Đoàn phòng không Hà Nội, đơn vị chủ công đánh B-52 của Quân chủng PK-KQ; Trận địa tên lửa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội), nơi “rồng lửa” vút lên bầu trời Thủ đô, hạ gục siêu pháo đài bay B-52; Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ; Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Chiến thắng B-52, những nơi đang lưu giữ các hiện vật của Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Các đại biểu tham dự điểm cầu truyền hình tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Tham dự tại các điểm cầu truyền hình có các đồng chí: Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân; lãnh đạo TP Hà Nội; lãnh đạo Quân chủng PK-KQ và nhiều tướng lĩnh, sĩ quan quân đội.

Sân khấu cột cờ Hà Nội tại điểm cầu Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam tỏa ánh sáng rực rỡ trong đêm truyền hình trực tiếp. Cách đó không xa là bảo vật quốc gia- chiếc Mig-21 mang số hiệu 5121 đã cùng phi công Phạm Tuân quật cổ siêu pháo đài bay B-52 trên bầu trời Sơn La. Phía dưới chân cột cờ là đống xác máy bay Mỹ với đủ kiểu loại, trong đó có những mảnh xác của “con ngáo ộp” B-52 bị quân, dân Thủ đô tiêu diệt trong những đêm cuối tháng Chạp năm 1972. Hoạt cảnh “Hà Nội những đêm không ngủ” công phu, hoành tráng đã mở đầu chương trình truyền hình, với việc khắc họa cuộc sống và chiến đấu của quân, dân Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vọng vang dưới lá cờ lớn đang cuộn trong gió lộng: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, không có gì quý hơn độc lập tự do”. Lời dạy ấy đã hun đúc thành quyết tâm sắt đá của cả một dân tộc, tất cả cho “độc lập, tự do”.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ tại điểm cầu Đoàn phòng không Hà Nội bồi hồi xúc động khi người dẫn chương trình giới thiệu về một kỷ vật đặc biệt-tờ giấy chứng nhận số tiền nhuận bút trị giá 25 đồng, được trích ra từ sổ tiết kiệm mà Bác Hồ dành tặng cán bộ, chiến sĩ đơn vị pháo cao xạ thuộc Đoàn phòng không Hà Nội, làm nhiệm vụ trực chiến trên nóc Hội trường Ba Đình năm 1966. Ra đời đúng vào ngày 19-5-1965, Đoàn phòng không Hà Nội vinh dự được đón Bác về thăm nhiều nhất (8 lần). Quyết tâm đánh B-52 đã được cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn khắc cốt, ghi tâm từ lời Bác dạy: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “Bê” gì đi chăng nữa thì ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

Hoạt cảnh “Hà Nội những đêm không ngủ”

Với nhận định của Người, rằng sớm muộn B-52 cũng đánh ra Hà Nội; rằng đế quốc Mỹ chỉ chịu thua khi thua đau trên bầu trời Hà Nội…và với sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ đội PK-KQ và quân, dân Thủ đô đã sớm chuẩn bị phương án đánh máy bay B-52, quyết giữ trọn lời thề bảo vệ bầu trời Hà Nội, bảo vệ Trung ương và Thủ đô yêu dấu…

Chủ động, quyết chiến và sáng tạo

Tham gia điểm cầu tại Đoàn phòng không Hà Nội có Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng đài ra-đa P-35, thuộc Đại đội ra-đa 45 (Trung đoàn 291, Binh chủng Ra-đa). Trong những ngày lịch sử cuối tháng Chạp năm 1972, “mắt thần” P-35 “mai phục” tại một địa danh hẻo lánh gần đồi Si (thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, Nghệ An). Ngày 18-12-1972, Nghiêm Đình Tích và kíp trắc thủ phát hiện có nhiễu lạ. Bằng tất cả kinh nghiệm có được sau 7 năm quần thảo với không quân Mỹ, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích báo cáo dứt khoát và đầy trách nhiệm: “B-52 đang bay vào Hà Nội”! Thời khắc quyết định đã điểm, Hà Nội hoàn toàn chủ động, không bị bất ngờ.

Đại tá Nghiêm Đình Tích nhớ lại: “Tối 18-12-1972, khi mở máy, chúng tôi phát hiện nhiễu B-52 dày đặc. Cả phiên ban tập trung chống nhiễu, dựa trên kinh nghiệm chống nhiễu khi máy bay Mỹ vào phá hoại Hà Nội trước đó và kinh nghiệm tập đánh B-52 ở Quân khu 4. Những lần vào đánh Cánh Đồng Chum (Lào), B-52 thường bay đến phương vị 290º thì vòng lại, còn lần này chúng bay tới phương vị 300º và vẫn bay thẳng về phía Tây Bắc nước ta. Trước đó, máy bay trinh sát của địch cũng đã bay vào Hà Nội. Vậy nên chúng tôi khẳng định B-52 đang vào đánh Hà Nội”.

Nhờ sự cảnh giác cao độ của Bộ đội ra-đa, “con ngáo ộp” B-52 đã bị “bắt bài” trước khi mò vào Hà Nội. Miền Bắc đã được báo động sớm, chủ động và điềm tĩnh bước vào cuộc chiến sinh tử. Đúng 19 giờ 44 phút ngày 18-12-1972, quả tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) rời bệ phóng, mở đầu cho cuộc “nghênh tiếp dữ dội”-như người Mỹ đã ví von sau này.

20 giờ 13 phút, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận của Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) ấn nút phóng đưa quả tên lửa mang số hiệu C202A xé toạc trời đêm, lao trúng đích, biến “siêu pháo đài bay” B-52 thành bó đuốc khổng lồ, rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội).

Đại tá Nguyễn Đình Kiên tại điểm cầu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Người sĩ quan tên lửa lập chiến công hạ gục chiếc siêu pháo đài bay đầu tiên, nay cũng có mặt tại điểm cầu trận địa tên lửa Chèm. Trong chiếc xe điều khiển tên lửa C-125M, Trung tá Dương Văn Thuận bồi hồi tâm sự: “Tôi như đang được sống lại không khí của 40 năm về trước, khi chiếc B-52 đầu tiên bị hạ trên bầu trời Hà Nội. Trong những ngày tháng hào hùng đó, lịch sử lại được tái hiện. Xưa nỏ thần của An Dương Vương từ thành Cổ Loa vút đi tiêu diệt quân xâm lược; nay đánh đế quốc Mỹ, những người lính tên lửa lại điều khiển rồng lửa vút lên từ chân thành Cổ Loa, hạ gục siêu pháo đài bay B-52 ngay trên bầu trời Hà Nội”

Điểm cầu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ngập tràn xúc động sau những thước phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, với hình ảnh “vầng sáng” Vũ Xuân Thiều. Quyết tâm tiêu diệt B-52 vốn đã găm sâu trong trái tim và suy nghĩ của các phi công đánh đêm. Vậy nên, khi thời cơ đến, với tinh thần quyết chiến, phi công Vũ Xuân Thiều đã diệt tan xác một B-52 và anh cũng anh dũng hy sinh ngay trong trận quyết chiến đó.

Với vũ khí không phải là hiện đại trong thời điểm lúc bấy giờ, phải tác chiến trong điều kiện địch gây nhiễu nặng và đánh phá ác liệt, song Bộ đội Tên lửa vẫn “vít cổ” siêu pháo đài bay trên bầu trời Hà Nội. Kỳ tích đó được làm nên từ những khối óc, bàn tay không ngừng sáng tạo. Khẳng định đó được thể hiện qua chia sẻ của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia Chiến dịch của 40 năm về trước, tại điểm cầu Đoàn phòng không Hà Nội.

Rạng sáng ngày 21-12-1972, với phương pháp đánh 3 điểm, trong vòng 9 phút, với 2 quả đạn tên lửa, Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261) đã diệt gọn 2 chiếc B-52. Cho đến nay, đây vẫn là một kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao và thời gian di chuyển hỏa lực nhanh. Trong cả Chiến dịch, Tiểu đoàn 57 đã tiêu diệt 4 máy bay B-52. Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đình Kiên, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), nguyên sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 57 những ngày tháng Chạp năm 1972 lại chia sẻ nhiều về sự giúp đỡ của Liên Xô trong việc trang bị và cải tiến để tên lửa SAM-2 có thể đánh được B-52; sự dày công huấn luyện cách đánh B-52 của Bộ đội PK-KQ và sự sáng tạo của bộ đội tên lửa khi đối đầu với B-52 Mỹ.

Cựu chiến binh Đinh Trọng Đức, nguyên trắc thủ cự ly Tiểu đoàn 78, nói về cách đánh “chỉ bộ đội tên lửa Việt Nam mới có”, đó là phương pháp đánh 3 điểm. Còn Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) lại chia sẻ về cách đánh sở trường – bắn “vượt nửa góc” của đơn vị ông. Cách đánh không chỉ đòi hỏi sự tính toán chuẩn xác của các sĩ quan tên lửa, mà còn đòi hỏi ở họ lòng gan dạ, sẵn sàng vô hiệu hóa tên lửa sơ-rai của đối phương. Còn Trung tá Nguyễn Văn Đức, nguyên là sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 77 thì chia sẻ về sự khổ luyện của ông trên con đường từ trắc thủ thành anh nuôi rồi lại lên làm sĩ quan điều khiển. Nhờ nỗ lực không ngừng để vượt lên khó khăn gian khổ, nhờ những cách đánh sáng tạo, Bộ đội Tên lửa đã đánh thắng giòn giã trong cả 12 ngày đêm của Chiến dịch.

“Đạp quân thù xuống đất đen/Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Rời quân ngũ, Đại tá Đinh Thế Văn lại trở về làng rối Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội), khôi phục lại nghề rối truyền thống mà cha ông để lại. Trong đêm kỷ niệm đặc biệt này, ông đã mang đến một tiết mục rối cũng rất đặc biệt, có tên “Hà Nội, Chiến thắng B-52”…

“Nước mắt rơi làm nhòa mặt quân thù”

Những ngọn nến được thắp lên tại Đài tưởng niệm Khâm Thiên, như lời cầu nguyện cho 287 người dân vô tội đã thiệt mạng khi bom từ B-52 trút xuống con phố này. Người Hà Nội vẫn quen gọi Khâm Thiên là “phố vắng 3 số nhà”. Trên con phố san sát cửa hàng cửa hiệu, khoảng không gian giữa 3 số nhà 47, 49 và 51 là sự hao khuyết đặc biệt và chính là địa điểm không thể quên trong ký ức người Hà Nội. 40 năm trước, vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 26-12, B-52 Mỹ đã rải thảm xuống Khâm Thiên, biến nơi đây trở nên tan hoang và tang tóc.

Các nghệ sĩ nước ngoài với bài hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng”

Nhà văn Giang Quân, người được chứng kiến Khâm Thiên oằn mình sau làn mưa bom rưng rưng hồi tưởng . Khi B-52 vào rải thảm ở Khâm Thiên, ông xuống hố trú ẩn cá nhân trong nhà sách nhân dân Đống Đa. Dưới hầm, ông nghe thấy tiếng ầm ì, rồi tiếng lụp bụp trên mặt đất. Nhìn qua lỗ thông hơi, ông thấy ngôi nhà đã bay mất mái. Khi có lệnh báo yên, lên khỏi hầm, ông chứng kiến cảnh tan hoang của con phố Khâm Thiên. Nhà cửa đổ nát, người chết là vậy, nhưng bà con Khâm Thiên vẫn không nao núng, sợ hãi mà chỉ còn lòng căm thù giặc ngút trời. Lòng căm thù ấy đã biến thành sức mạnh, thôi thúc họ lao vào cứu sập, cứu thương.

Người mẹ trong tư thế giữ chặt đứa con đã mềm oặt trên tay, chân đạp lên bom thù, là bức tượng được đặt trang trọng tại Đài tưởng niệm Khâm Thiên, do nhà điêu khắc Nguyễn Văn Tự sáng tác. Ông chia sẻ: “Chính cái chết oan uổng của hơn 200 người dân Khâm Thiên đã thôi thúc tôi cho ra đời bức tượng này. Người mẹ ôm đứa con đã chết. Chị đau khổ vì mất mát, nhưng không khóc lóc. Dáng chị bế đứa con nhoài ra phía trước vừa để phơi bày tội ác của đế quốc Mỹ, vừa như tạo điểm tựa vững vàng cho người chiến sĩ quyết tâm tiêu diệt lũ giặc trời”.

Sau những phút giây nghẹn ngào không nói lên lời, Nhạc sĩ Phú Quang, từng ở số nhà 49 phố Khâm Thiên chia sẻ cảm xúc khi trở lại nhà sau trận bom thù dội xuống Khâm Thiên. Rồi ông cất cao lời bài hát “Em ơi Hà Nội phố”, trong rưng xúc động của nhiều người tham dự tại các điểm cầu truyền hình.

“Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu/Hỡi em gái mất cha mất mẹ/Nước mắt rơi làm nhòa mặt quân thù/Em phải bắn, trúng đầu giặc Mỹ”. Đó là 4 câu thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài “Việt Nam máu và hoa”, dành cho nữ tự vệ Phạm Thị Viễn.

Người nữ tự vệ ấy cũng có mặt tại điểm cầu Bảo tàng Chiến thắng B-52. Những ngày máu lửa cuối tháng 12-1972 như thước phim quay chậm trong ký ức người nữ tự vệ can trường. Cha, mẹ bị bom Mỹ giết hại, song vượt lên nỗi đau, Phạm Thị Viễn vẫn kiên cường bám trận địa. Và ngày 22-12-1972, chị cùng đồng đội tiêu diệt một chiếc F-111 của Mỹ, khi nó đang bay vào Hà Nội gây tội ác.

Hà Nội những ngày cuối tháng Chạp năm 1972 chìm trong khói lửa, trắng những vành khăn tang. Nhưng, vượt lên mất mát, hy sinh, quân và dân Hà Nội với ngùn ngụt lòng hờn căm và ý chí ngoan cường, anh dũng, đã quyết chiến và tạo nên lưới lửa phòng không dày đặc, đỏ trời, tầm thấp, tầm cao. Để rồi: “Dưới gươm thiêng hùng khí Thủ đô/Cả bốn biển hoan hô Hà Nội/Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ/Ngọc Hà em! Lộng lẫy hoa tươi” (Thơ: Việt Nam máu và hoa, tác giả: Tố Hữu).

Sau 12 ngày đêm Hà Nội và cả nước không ngủ, 81 máy bay Mỹ đã phải đền nợ máu, trong đó có 34 siêu pháo đài bay B-52. Hà Nội đã đứng vững và chiến thắng. Chiến thắng ấy thể hiện sức mạnh của dân tộc Việt Nam, của Thủ đô anh hùng. Chiến thắng ấy đã viết lên “Bản hùng ca Hà Nội”, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Bản hùng ca đang vọng vang từ quá khứ, đến hôm nay và cho cả mai sau…

Bài, ảnh: HOÀNG HÀ-VIỆT CƯỜNG
qdnd.vn