Thư viện

Hồ Chí Minh Một số vấn đề đoàn kết dân tộc trên bình diện quốc tế và kiều bào

Bác Hồ ra tận cảng Hải Phòng đón kiều bào từ Thái Lan về nước - Ảnh quehuongonline.vn

Nói tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc sẽ khiếm khuyết nếu chỉ đề cập đến đoàn kết trong khái niệm dân tộc – tộc người (ethnic) trong phạm vi nội bộ quốc gia mà không đề cập đến tư tưởng của người là đoàn kết dân tộc – quốc gia (nation) với các quốc gia khác trên thế giới và với các Việt kiều, những người có dòng máu Việt Nam nhưng do hoàn cảnh cụ thể nên sinh sống ở nước ngoài, mang quốc tịch của một nước cụ thể trên thế giới.

Nội dung dân tộc, tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh trên bình diện quốc gia trong mối quan hệ với quốc tế không có gì khác và mâu thuẫn với tư tưởng đoàn kết các dân tộc trong nước vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh thể hiện tính nhất quán, biện chứng trong “tư duy chiến lược đại đoàn kết” của Người và cũng từ đó đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chính từ lòng yêu nước, thương dân; từ truyền thống văn hoá dân tộc; từ sự “hoà đồng” với bạn bè quốc tế trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài.., đã tạo nên chủ nghĩa nhân văn cao cả đó, yếu tố làm nên cái nền vững chắc của đoàn kết dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

Đoàn kết dân tộc trên tầm quốc tế của Hồ Chí Minh xuất phát từ luận điểm coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người ý thức sâu sắc rằng, cách mạng trong nước sẽ khó thành công nếu không có sự đồng tình, ủng hộ của cách mạng và nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đó cũng chính là điểm mạnh và khác biệt giữa Hồ Chí Minh với các chí sĩ yêu nước tiền bối. Người đã khẳng định: “Chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn đưa giai cấp công nhân và nhân dân nước ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(1).

Shingo Shibata, nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận xét: “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã phát hiện quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình và tất cả mọi dân tộc đều có thể và cần phải thực hiện nền độc lập tự chủ”(2).

Khi nghiên cứu về tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Suy đến cùng, có đại đoàn kết được hay không, đại đoàn kết đến mức nào tuỳ thuộc vào việc nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích phức tạp, chằng chéo giữa: cá nhân – tập thể; gia đình – xã hội; bộ phận – toàn thể; giai cấp – dân tộc; quốc gia – quốc tế”(3). Trong các “cặp quan hệ” trên của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chúng ta thấy không thể thiếu cặp “quốc gia – quốc tế”. Đó không chỉ là nội hàm trong tư tưởng đại đoàn kết nói chung của Hồ Chí Minh mà còn là trong tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc trên phạm vi quốc tế thể hiện rất rõ phạm vi mức độ, quy mô. Với từng đối tượng quốc tế, Hồ Chí Minh vừa có thái độ chung, vừa có thái độ phân biệt riêng theo “cấp độ ngoại giao”, theo giá trị thiết thực vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam và quyền lợi của các dân tộc trên thế giới vì hoà bình, hữu nghị và phát triển của các dân tộc; vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và của các quốc gia. Từ giác độ đó, chúng ta thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc trên phạm vi quốc tế có những biểu hiện trên những khía cạnh sau:

– Đoàn kết với các quốc gia, dân tộc láng giềng.

– Đoàn kết với các quốc gia Đông Nam Á, châu Á.

– Đoàn kết với các tổ chức, quốc gia trên thế giới.

– Đoàn kết với kiều bào.

Với các nội dung đó, chúng ta có thể nhận thấy tư tưởng của Người với các biểu hiện, nhận thức và họat động trong các mối quan hệ quốc tế vừa phong phú đa dạng, vừa cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đoàn kết vì độc lập tự do của đất nước, hạnh phúc của đồng bào.

1. Đoàn kết với các quốc gia, dân tộc láng giềng

Người Việt Nam ta có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”, đó là một thái độ sống, một triết lý nhân văn trong văn hoá ứng xử có truyền thống lâu đời của dân tộc. Hồ Chí Minh trên bình diện văn hoá và tầm nhìn chính trị đã ý thức sâu sắc và thực hiện có hiệu quả tốt truyền thống đó trong đặt nền móng và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với nhân dân Lào, Campuchia, Trung Quốc, tạo nên thế trận đặc biệt và làm nên hiệu quả cao trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta.

Ngày 3-3-1951, trong Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không giấu nổi sự sự sung sướng trước sự đoàn kết của các tổ chức và nhân dân Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao. Có lẽ, ít khi ta bắt gặp một thái độ sung sướng của Hồ Chí Minh đến vậy. Cái căn nguyên dẫn đến sự sung sướng của Hồ Chí Minh chính là sự phát triển của tinh thần và xu thế đoàn kết của các dân tộc ở Đông Dương. Hồ Chí Minh đã dùng các cụm từ biểu hiện những cấp độ phấn khởi, sung sướng mà ít khi ta bắt gặp trong các bài nói, bài viết khác, như: “Tôi rất sung sướng” ở mở đầu bài nói, rồi “sung sướng không thể tả”, “lòng tôi sung sướng vô cùng” và “tôi sung sướng hơn nữa” ở các đoạn tiếp sau.
Vì sao Hồ Chí Minh có những sự sung sướng mà ít khi bộc lộ đó? Phải chăng vì Người đánh giá rất cao kết quả và ý nghĩa của Đại hội Thống nhất Việt Minh – Liên Việt; là vì “trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Phải chăng sự sung sướng của Hồ Chí Minh trước sự kiện trên đây còn là biểu hiện của một dự cảm, của một “mầm mống” quan trọng cho một dự báo thắng lợi tất yếu của cách mạng Việt Nam trong tương lai không xa.

Điều đó còn là biểu hiện của tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, sự quan tâm đặc biệt của Người đối với các nước láng giềng gần gũi. Người nói: “Tôi sung sướng hơn nữa vì từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn kết. Tin mừng đại đoàn kết của hai dân tộc anh em ấy do các vị đại biểu Miên – Lào thân hành mang đến cho chúng ta.

Thế là dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây, chúng ta nhất định đi đến Việt – Miên – Lào đại đoàn kết.

Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự”(4).

Người còn nói: “Lào – Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết. Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống ở đất nước Lào thì Lào lại như một Tổ quốc thứ hai. Tục ngữ có câu: “Bán bà con xa, mua láng giềng gần” ý nghĩa là như thế”(5).

Đối với nước láng giềng Campuchia, Hồ Chí Minh trân trọng và thành tâm xây dựng, bồi đắp tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong điện mừng gửi Vua Nôrôđôm Xuramarít và Hoàng hậu nước Khơme nhân ngày độc lập của Vương quốc Khơme (tháng 11-1956), với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh viết: “Kính chúc nhân dân Khơme, dưới sự lãnh đạo của Quốc vương và Hoàng hậu, thu được nhiều thắng lơi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme và trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập; chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme càng phát triển”(6).

Đối với tình đoàn kết với nhân dân Trung quốc láng giềng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Hai dân tộc Trung – Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em; hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi với răng che chở cho nhau”.

Sau khi đất nước hoà bình, khi đi thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tỉnh Cao Bằng (tháng 2-1961), Người nói: “Tỉnh Cao Bằng ở sát Trung Quốc nên cần phát huy tốt hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc”(7).

2. Đoàn kết với các dân tộc, quốc gia khu vực Đông Nam Á, châu Á

Sau khi ngừng bắn ở Đông Dương, Uỷ ban Quốc tế vào giám sát hai bên Việt – Pháp trong việc thi hành hiệp định Giơnevơ. Hồ Chí Minh hoan nghênh các đại biểu là người Ấn Độ, Ba Lan, Canađa đã đến thi hành nhiệm vụ. Tháng 8-1954, trong buổi tiếp đoàn của Uỷ ban Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định thái độ của Chính phủ Việt Nam đối với nhân dân Pháp, với nhân dân các nước Đông Dương và Đông Nam Á vì hoà bình. Người phát biểu: “Hoà bình trở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ thắt chặt tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Pháp, chúng tôi sẽ đoàn kết chặt chẽ với hai nước Khơme, Lào và các nước Đông – Nam Á để góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình châu Á và hoà bình thế giới”(8).

Đối với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh luôn luôn quý trọng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhân dân ta trong kháng chiến chống ngoại xâm, bày tỏ tình hữu nghị và biết ơn sâu sắc, chân thành. Chính vì lẽ đó mà các nước Đông Nam Á luôn bên cạnh nhân dân và chính phủ Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, tạo nên hậu thuẫn, sức mạnh tinh thần và vật chất quan trọng góp phần làm nên thắng lợi chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong Điện mừng kỷ niệm lần thứ 10 Hội nghị Băng Đung, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Inđônêxia rất gần gũi với chúng tôi, đã đứng hẳn về phía chúng tôi và ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt và thắm tình anh em nhất. Tôi xin phép được nói lên ở đây sự biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với tình đoàn kết anh em của những người bạn chiến đấu Inđônêxia, của tất cả các chính phủ, các tổ chức và nhân sĩ các nước ở Á, Phi, Mỹ latinh và trên thế giới”(9).

Đối với quốc gia Miến Điện trong khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã đại diện cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam khẳng định sự gần gũi, tương đồng trên nhiều phương diện tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tình đoàn kết lâu đời và bền vững. Trong Bài nói tại cuộc họp báo ở Rănggun (Miến Điện) ngày 16-2-1958, nhân chuyến thăm hữu nghị Miến Điện, Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai nước Việt Nam và Miến Điện đều là những nước ở châu Á có nhiều điểm giống nhau, gần nhau về văn hoá, phong tục tập quán, cũng như về địa lý khí hậu, tài nguyên. Hai nước chúng ta đã trải qua những cuộc đấu tranh gian khổ chống thực dân, giành lấy độc lập dân tộc. Chính phủ và nhân dân Miến Điện đã ủng hộ tích cực nhân dân nước chúng tôi trong lúc kháng chiến và đã cùng với Ấn Độ và nhiều nước Á – Phi khác đóng góp một phần quan trọng vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam. Ngày nay hai nước chúng ta đã độc lập, gắn bó bằng tinh thần Băng Đung, bằng mối tình đoàn kết giữa các dân tộc Á – Phi, hai dân tộc Việt Nam và Miến Điện mong muốn có một nền hoà bình lâu dài để xây dựng một cuộc đời tự do, no ấm, để kiến thiết xứ sở giàu mạnh”(10).

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh kêu gọi “anh em dân tộc châu Á” thấu rõ sự hy sinh của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh, để ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến. Trong Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, Hồ Chí Minh viết: “Hỡi anh em dân tộc châu Á!

Gần hai mươi năm trường, thực dân Pháp đang dày xéo nhân dân Việt Nam, gần hai mươi năm trường nhân dân Việt Nam đang hy sinh tranh đấu.

Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do độc lập của đại gia đình châu Á. Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi. Từ đây mong anh em càng ủng hộ nữa. Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi”(11).

Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ “anh em dân tộc châu Á”, “đại gia đình châu Á” và kêu gọi “sự đồng tình” nhằm thực hiên mục tiêu đoàn kết với các nước gần gũi địa lý và văn hoá tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Và cuối Lời kêu gọi trên, Người viết: “Các dân tộc châu Á đoàn kết muôn năm!”…

3. Đoàn kết với các quốc gia, tổ chức trên thế giới

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh với các quốc gia trên thế giới trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội là tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước Pháp, Mỹ – những nước đem quân đến xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến nửa cuối thế kỷ XX; đoàn kết với các tổ chức yêu chuộng hoà bình và các quốc gia chống chiến tranh xâm lược vì hoà bình, tiến bộ và phát triển.

– Với nhân dân chính quốc:

Hồ Chí Minh là lãnh tụ đã tìm ra con đường cứu nước khác các bậc tiền nhân là đến “chính quốc” để tìm hiểu rồi tự tìm cho mình một con đường riêng phù hợp với thực tại và quy luật khách quan. Với tâm hồn và nhân cách lớn, không như một số người, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân chính quốc với tầng lớp thống trị, đại diện cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nhân dân chính quốc là những người chân chính, chỉ có giai cấp tư sản với bản chất giai cấp của nó là xâm lược, gây nhiều tội ác đối với nhân dân các thuộc địa.

Trong kháng chiến chống Pháp, Người ý thức sâu sắc giá trị và vai trò to lớn của sức mạnh đoàn kết không chỉ của nhân dân các nước thuộc địa mà còn của nhân dân và các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa, giành độc lập tự do cho các dân tộc bị nô dịch. Từng là một chiến sĩ hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sau khi về và trở thành Chủ tịch nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, độc lập có chủ quyền trên trường quốc tế, để tiếp tục sự nghiệp vĩ đại lãnh đạo nhân dân kháng chiến, Người đã nhiều lần kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến, giành độc lập. Trong “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới” ngày 20-6-1947, Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân ở chính quốc Pháp:

“Hỡi nhân dân Pháp!

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau. Thế mà bọn thực dân phản động đang hết sức chia rẽ hai dân tộc ta. Chúng quyết tâm hy sinh tiền bạc của nhân dân Pháp và tính mạng thanh niên Pháp để kéo dài cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung, và tình nghĩa của hai dân tộc ta”(1).

Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta và trên thế giới ít có người phân biệt “nhân dân Pháp” và “bọn thực dân phản động Pháp”. Đó là thái độ khoa học phân loại một cách khách quan các đối tượng phi nghĩa và chính nghĩa, một nước đi xâm lược và một quốc gia khác bị xâm lược. Đó còn là thái độ chính trị “tỉnh táo” của một nhà chiến lược cách mạng, tầm nhìn của một lãnh tụ trong việc chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượt qua bao ghềnh thác, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Trong cuối lời kêu gọi trên, Hồ Chí Minh viết: “Hai dân tộc Việt- Pháp cộng tác thân thiện trong khối Liên hiệp Pháp!”

Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh “ủng hộ cuộc đấu tranh của người Mỹ da đen” chống lại chính quyền Mỹ đối với chính sách phân biệt chủng tộc, sát hại người Mỹ da đen ở bang Mixixipi, ở Nữu Ước. Người vạch trần tội ác và âm mưu của “Tổng Giôn” và chính quyền Mỹ trước thế giới và nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình, công lý… đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Không phải chính quyền Mỹ muốn “giúp nhân dân miền Nam giữ quyền tự do” mà “Sự thật là chúng hòng biến đồng bào miền Nam ta thành người “Mỹ da vàng” đi làm nô lệ cho chúng” như chúng thường “múa mồm”. Thái độ của Hồ Chí Minh rất rõ trong việc đoàn kết với người Mỹ da đen ở chính quốc trong khi chính quyền Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam trong những năm sáu mươi của thế kỷ XX. Người viết: “Đoàn thể người Mỹ da đen đã từng tham gia phong trào chống Mỹ xâm lược miền Nam nước ta. Cố nhiên nhân dân Việt Nam ta đồng tình và ủng hộ người Mỹ da đen đòi tự do, bình đẳng. Tuy màu da khác nhau, người Việt Nam da vàng và người Mỹ da đen đều chống lại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ hung ác và chắc chắn rằng, chính nghĩa nhất định sẽ thắng, nhân dân miền Nam nhất định sẽ thắng, anh em người Mỹ da đen nhất định sẽ thắng!”(2).

– Với các tổ chức, các quốc gia, phong trào thế giới:

Tư tưởng đoàn kết với các dân tộc trên thế giới của Hồ Chí Minh biểu hiện sinh động trên nhiều phương diện, rộng lớn và bao dung vì chính nghĩa, vì sự hoà bình và phát triển của các dân tộc. Tư tưởng đó thể hiện sự nhận thức, tính biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết, không tách rời của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Đoàn kết là yếu tố luôn được Người coi trọng như một điều kiện bắt buộc để bảo đảm cho các mục tiêu vì hoà bình của các dân tộc. Trong Bài nói tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ và bảo vệ hoà bình cuối năm 1964, Hồ Chí Minh bày tỏ thái độ đối với phong trào đấu tranh của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: “Hội nghị lịch sử này là kết tinh của mặt trận nhân dân toàn thế giới đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, nhất là đế quốc Mỹ.

Tôi tin chắc rằng: sau Hội nghị quốc tế này, tình đoàn kết vĩ đại và làn sóng đấu tranh của nhân dân toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thực dân sẽ dâng cao hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới”(3).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ của nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh. Nhiều hội nghị ba châu đã được tiến hành bàn bạc các nội dung đoàn kết, đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Thông qua diễn đàn này, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam bày tỏ sự cám ơn sâu sắc tới nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh và nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Trong Điện gửi Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh họp tại La Havan (Cu Ba) đầu năm 1966, Hồ Chí Minh đã khẳng định với sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới thì sự nghiệp chống Mỹ nhất định sẽ đi đến thắng lợi. Người viết: “Dựa vào sức đoàn kết chiến đấu của mình, đồng thời dựa vào sức ủng hộ của nhân dân thế giới, nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị nhân dân ba châu họp trên đất Cu Ba anh hùng lần này, có ý nghĩa chính trị cực kỳ quan trọng. Hội nghị sẽ góp phần tích cực vào sự tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, để bảo vệ độc lập dân tộc và hoà bình thế giới”(4).

4. Đoàn kết với kiều bào

Trong trái tim rộng lớn của Hồ Chí Minh, người Việt Nam ở nước ngoài, đều mang trong mình dòng máu Lạc Hồng. Người không chỉ kêu gọi tinh thần yêu nước, đoàn kết hướng về Tổ quốc của Việt kiều để làm cho “lực lượng to” mà “lực lượng to thì quyết thắng lợi” mà còn hơn một lần khuyên họ cần phải đoàn kết với đồng bào các nước.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh không quên chúc Tết một bộ phận người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Trong lúc công việc của Chính phủ mới còn rất nhiều bộn bề thì chỉ có trái tim rộng lớn “ôm mọi kiếp người” của Hồ Chí Minh mới có tình cảm và trách nhiệm như vậy. Trong Thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

Cùng đồng bào yêu quý ở Lào và ở Xiêm,

Các đồng bào tuy mình cư trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc.

Còn Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà như thế.

Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh, phấn đấu, mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn toàn. Muốn đạt mục đích đó, chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”(5).

Hồ Chí Minh thấu hiểu đời sống xã hội của kiều bào ta ở nước ngoài, thấu hiểu tinh thần dân tộc đối với Tổ quốc Việt Nam – quê hương yêu dấu của họ. Trong bài Kiều bào yêu nước năm 1955, với bút danh C.B, Hồ Chí Minh thấu hiểu và khẳng định: “Kiều bào ta ở trọ các nước tư bản, thường bị uy hiếp hoặc lợi dụng. Nhưng tối đại đa số kiều bào là những người yêu nước, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh cho Tổ quốc.

Vừa rồi, gần 2.000 kiều bào ở Pháp, đủ các tầng lớp, trai có gái có, già có trẻ có, đã ký tên đòi đương cục miền Nam hiệp thương với Chính phủ ta và đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ. Vậy có thơ rằng:

Gửi thân đất khách quê người,
Nhìn về cố quốc cách vời trùng dương,
Càng nhìn càng nhớ, càng thương
Càng mong Tổ quốc thịnh cường vẻ vang,
Càng căm những kẻ gian ngoan
Nghe lời bọn Mỹ phá ngang hoà bình.
Mọi người đoàn kết đấu tranh,
Đòi Ngô Đình Diệm tán thành hiệp thương.
Hoà bình, thống nhất, độc lập, tự cường,
Sao vàng cờ đỏ dẫn đường chúng ta.
Mấy câu thuận miệng nôm na:
“Một lòng yêu nước bài ca kiều bào”(6).

Thật là cảm động khi chúng ta biết rằng dù bận trăm công ngàn việc của người đứng đầu Chính phủ, lo lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo xã hội cũ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, trái tim Hồ Chí Minh vẫn giành một chỗ sâu sắc đối với kiều bào ta ở nước ngoài, thấu hiểu và tin tưởng ở lòng yêu nước của kiều bào.

Cũng với tấm lòng cao cả và sự quan tâm “như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng”, tết năm 1957, Hồ Chí Minh đã Điện chúc tết kiều bào nước ngoài. Nội dung điện thật ngắn gọn, chỉ hai câu nhưng thật đầy đủ, ý nghĩa và chứa đựng một trái tim nhân hậu của “vị cha già dân tộc” trong thời khắc thiêng liêng: “Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời thân ái chúc toàn thể kiều bào vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ. Đồng thời kiều bào nên tăng cường tình hữu nghị với nhân dân địa phương”(7).

Vấn đề đáng quan tâm trong bức điện trên ngoài câu thứ nhất ta thường bắt gặp thì vấn đề đặt ra tại sao trong thời điểm đó Người lại lưu ý kiều bào phải “tăng cường tình hữu nghị với nhân dân địa phương”. Phải chăng trong quan niệm của Người, kiều bào là đại diện cho hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam. Nếu tình hữu nghị giữa kiều bào và nhân dân các nước nơi họ đang sinh sống phát triển thì không chỉ tốt cho kiều bào mà còn tốt cho quan hệ với nhân dân và Chính phủ ta; sẽ tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ nhân dân ta chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay trong bối cảnh đổi mới, phát triển đất nước; tăng cường hợp tác quốc tế trong khu vực và các châu lục trên thế giới, kêu gọi tinh thần yêu nước của kiều bào, thu hút đầu tư phát triển… thì yêu cầu ngoại giao, đoàn kết quốc tế trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích của các quốc gia có ý nghĩa quyết định sự thành bại và tính bền vững trong phát triển. Tư tưởng đoàn kết trên bình diện quốc tế và với kiều bào của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chúng ta những bài học, tầm nhìn quan trọng trong hợp tác quốc tế, trong bối cảnh và xu thế hội nhập tất yếu đang diễn ra hiện nay. Tư tưởng của Người đã và sẽ để lại nhiều bài học quý giá để chúng ta cùng suy ngẫm vì tương lai, tiền đồ và sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam, nhất là khi chúng ta tham gia và ngày càng có vai trò quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế.

_______________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập: Nxb ST, H, 1989, t.8, tr. 106.
2. Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1976, tr.240.
3. Phùng Hữu Phú: Chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb CTQG, H, 1995, tr.138.
4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.181.
5. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.139.
6. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.267.
7. Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.286.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.330.
9. Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.421.
10. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.64-65
11. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.153

—————————————-

(1(. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002 , t.5, tr.153.
(2), (3). Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.299, 344.
(4). Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.6.
(5). Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.139.
(6), (7). Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.37, 304.

Theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng
Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc;
Tổng Thư ký Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam
(mattran.org.vn)

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ”

Sáu mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An), tỉnh Cao Bằng.

”Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách và tâm hồn Việt Nam, sống mãi trong trái tim khối óc mỗi con người Việt Nam, vĩnh hằng cùng lịch sử dân tộc. ”Bộ đội Cụ Hồ” trong phẩm chất nhân cách của mình, trong sâu thẳm tâm hồn mình, luôn luôn quán triệt và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong những ngày này, dân tộc ta, mỗi con người Việt Nam chúng ta rất tự hào và xúc động khi từ các diễn đàn trong cả nước đang vang lên những lời ngợi ca về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, những con người mang đậm cốt cách tư tưởng, tác phong, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

Càng tự hào và xúc động, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Bác Hồ, bởi chính Người đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện bộ đội ấy, để bộ đội ấy thực sự là bộ đội vì nhân dân, vì con người, bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu không ngừng, không mệt mỏi. Có thể nói, sự thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con ngưới trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh của ”Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc và phong phú trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến một số phương diện độc đáo và nổi bật.

Tư tưởng chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người, thể hiện sâu sắc trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Người trực tiếp khởi thảo. Ngay trong mục ”Tên và phương châm hoạt động” của Đội, Người đã nêu rõ: Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Đây là tư tưởng rất cơ bản về vận động, giác ngộ quần chúng, vận động nhân dân trong quá trình tiến hành cách mạng. Ngay từ tháng 12 năm 1944, Người đã xác định: Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên khi tập trung xây dựng đội chủ lực vẫn cần duy trì lực lượng vũ trang các địa phương, cùng phối hợp hành động và giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang địa phương, giúp đỡ về huấn luyện, vũ khí làm cho lực lượng địa phương không ngừng trưởng thành.

Về quan hệ giữa đội chủ lực với các đội vũ trang địa phương, Người chỉ rõ: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. Về chiến thuật, Người nhấn mạnh: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, ẩn hiện bất thường, làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ, khó truy tìm và chịu thất bại. Khi xác định vai trò của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ”là đội quân đàn anh”, là đội chủ lực, Người cũng đã chỉ ra tiền đồ phát triển của Đội: ”Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Để thực hiện được vai trò và tiền đồ đó, Người đã căn dặn cán bộ và chiến sĩ của Đội: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được, tổ chức của Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại buổi lễ thành lập Đội, trước đại diện của Liên tỉnh ủy Cao – Bắc Lạng, đại biểu nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… và 34 cán bộ, đội viên được chọn lọc từ các đội du kích địa phương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn từ nêu bật ý nghĩa thành lập Đội và khẳng định: ”Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời…, để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở cnính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Thế là từ giở phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Chúng ta… quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Chúng ta sẽ vạch rõ cho toàn dân rằng con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy, Quân giải phóng sẽ tỏ rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc… Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến tiến mãi cho đến ngày giải phóng của toàn dân”.

Hồi tưởng lại những ngày đầu quân đội ta mới ra đời cách đây tròn sáu mươi năm, chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Bác Hồ quan tâm chăm sóc quân đội với một trái tim thương yêu vô bờ bến ngay từ những ngày quân đội mới chập chững vào đời. Đấy chính là cội rễ kiến tạo nên một quân đội ngay từ khi ra đời đã là quân đội của nhân dân, một quân đội vì dân, vì con người trong cả tâm hồn, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, văn hóa và cả mọi mặt hoạt động chiến đấu, công tác và lao động sản xuất.

Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một danh nhân văn hóa thế giới. Ngôi sao văn hóa Hồ Chí Minh trong bầu trời văn hóa nhân loại toả chiếu khắp các châu lục và rọi chiếu cả đến nền văn hoá tương lai. Bởi văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa vì dân, vì con người. Vì văn hóa xét đến cùng là do con người và vì con người. Mà Hồ Chí Minh là một con người cả tâm hồn và cuộc sống vốn lúc nào và bao giờ cũng vì nhân dân, vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sáng ngời lòng nhân ái, sự quên mình, luôn luôn sống vì đồng loại, vì đồng bào và vì nhân dân. Được tắm mình trong ánh sáng văn hóa, đạo đức đó, được học tập, rèn luyện và noi theo tấm gương văn hóa, đạo đức đó, ”Bộ đội Cụ Hồ” trong sáu mươi năm qua đã mang đậm nét cốt cách, phong thái, tâm hồn Hồ Chí Minh. Đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh được kết tinh sâu đậm trong những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của «Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, trong khi nền văn hóa vật chất của thế giới đang đạt được những bước phát triển phi thường, thì loài người lại đang lo ngại cho nền văn hóa của mình, bởi nguy cơ suy thoái về tinh thần có chiều hướng phát triển gia tăng ở quy mô thế giới. Ở nước ta, trước tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, trước sự tấn công thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch trên mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nền văn hóa, đạo đức của chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Người ta hồ nghi một nền văn hóa lành mạnh, mang bản sắc dân tộc sâu sắc sẽ không có khả năng chiếm lĩnh trận địa tư tưởng – văn hóa, không thể mang tính trội trong đời sống xã hội trước sự xâm thực của các loại ấn phẩm văn hóa xấu độc. Bao nhiêu lo toan, trăn trở trước lối sống thực dụng chỉ biết bản thân mình, chỉ sống cho mình mà không mảy may chăm lo đến lợi ích của cộng đồng, của xã hội đang thường trực trong suy nghĩ của những người đã từng hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân.

Bao nhiêu hệ thống giá trị đang bị đảo lộn, lẫn lộn và mơ hồ. Bao nhiêu vấn đề trớ trêu về đạo đức, lối sống đang nảy nở tràn lan tha hóa về nhân phẩm, trống rỗng về tâm hồn, cạn kiệt về lý tưởng bởi sự tác động của xu hướng phi chính trị hóa, phi lý tưởng, sự quay trở về lợi ích cá nhân ích kỷ tầm thường nhỏ nhen.

Làm sống lại hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sẽ có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực! Ngày nay, trong bối cảnh mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ”Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ phát huy và phát triển bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội lên một trình độ mới, làm cho tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nở rộ trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, mà còn phải tuyên truyền, vận động mọi người quán triệt sâu sắc tư tưởng đó để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đẩy lùi những tác nhân làm vẩn đục hay hoen ố nền văn hóa, đạo đức dân tộc. Đó là một nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh thấm nhuần trong ”Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở phương diện ”Bộ đội Cụ Hồ” luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn được nhân dân nuôi nấng, chở che, đùm bọc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tách mình ra khỏi nhân dân. Người khiêm tốn, giản dị, gắn bó, hoà mình cùng mọi người, bất cứ lúc nào cũng đến với đồng bào, đồng chí, đến với nhân dân như một người bạn, người thân, người ruột thịt. Trong sự bình dị ấy, Người nâng mọi người lên ngang tầm cái thiện, cái cao cả: ”Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Với Hồ Chí Minh:

”Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
“Trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì nhân hoà là hơn tất cả”.
”Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”.

Đó là tư tưởng vì nhân dân nhất quán trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Qua sáu mươi năm lịch sử, tư tưởng đó thấm vào máu thịt ”Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nét đặc trưng tiêu biểu cho phẩm chất nhân cách ”Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chính vì vậy mà ”Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một bộ đội vì dân, thực sự của dân. Bởi “Bộ đội Cụ Hồ” là bộ đội được giáo dục, rèn luyện theo văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Phẩm chất hàng đầu của bộ đội ấy là tính nhân dân sâu sắc. Đó là cội nguồn làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho quân đội ta một sự ưu ái đặc biệt, nhất là đối với người chiến sĩ. Người chiến sĩ chính là hình ảnh nhân dân trong ”Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, kỷ niệm sáu mươi năm Ngày thành lập quân đội, chúng ta không thể không coi trọng xây dựng ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, nhất là ở các phân đội. Chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu thật sự sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về người chiến sĩ hiện đại, để đổi mới toàn diện công tác đối với chiến sĩ. Phải đến với chiến sĩ bằng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải nâng tầm người chiến sĩ hiện đại lên ngang tầm văn hoá, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải làm sao cho nhân dân nhìn vào chiến sĩ thấy mình, thấy dân tộc và thấy được cả tương lai của quân đội. Phát huy nhân tố con người – người chiến sĩ ”Bộ đội Cụ Hồ”, đang trở thành một vấn đề cấp bách, nóng hổi trong xây dựng quân đội hiện nay. Đó là nhiệm vụ nặng nề và hệ trọng của công tác đảng, công tác chính trị của quân đội trong những năm tới.

Theo Nguyễn Quang Hoài, Tạp chí Dân vận, tháng 12/2004

cpv.org.vn

Bác Hồ với những người làm phim

Tổ làm phim có ba người: Suduki biên tập, Têramôtô quay phim (hai người bạn này là người Nhật), còn tôi là người của xưởng phim Quân đội biệt phái đi giúp bạn. Cuối năm 1965, chúng tôi được phép quay hình ảnh Bác Hồ. Tin vui đó đến với Tổ làm phim. Chúng tôi ai ai cũng náo nức mong đợi giờ phút được gặp Bác.

Để bảo đảm chất lượng hình ảnh và âm thanh trong nhiệm vụ mà chúng tôi cho là rất trọng đại này, từ Nhật Bản, hãng NDN đã điều thêm sang anh Phudi và một máy quay phim có ghi âm đồng bộ.

Chúng tôi đến phòng khách Phủ Chủ tịch chuẩn bị đón chờ Bác. Bác đi vào, vẫn với bộ quần áo kaki quen thuộc. Chúng tôi kính cẩn chào Bác. Bác giơ tay đáp lại và cho phép làm việc. Trong khi Bác trả lời những câu phỏng vấn của hãng truyền hình NDN thì trong máy quay phát ra những tiếng không êm khiến tôi rất lo ngại, nếu không may có gì trục trặc về kỹ thuật thì thật là thiếu sót lớn. Anh Phudi, một phóng viên quay phim đứng tuổi đã từng đi nhiều nước, có nhiều tuổi nghề, nhưng hôm nay cũng có vẻ hồi hộp, thao tác có phần lúng túng

Bác đã trả lời xong những câu phỏng vấn. Cuối cùng, Bác dùng tiếng Nhật gửi lời chào và chúc nhân dân Nhật Bản hạnh phúc. Có lẽ quá lo lắng nên tôi nói với anh Phudi: “Tiếng máy không êm, liệu có trục trặc kỹ thuật gì không?”, Phudi vội kiểm tra lại máy móc. Không ngờ Bác đã nghe thấy những điều chúng tôi trao đổi nhau. Đột nhiên, Bác bảo: “Các chú cứ làm cho tốt. Nếu cần Bác trả lời lại cho mà quay”. Tất cả chúng tôi đều sững sờ, xúc động trước câu nói chứa đựng sự thấu hiểu và ân tình của Bác đối với nhóm làm phim. “Thưa Bác, tốt rồi ạ”, nước mắt Phudi bỗng trào ra… Bác bảo: Nếu tốt rồi thì sang phòng bên, Bác cháu ta uống nước.

Phudi tâm sự với tôi, hơn hai mươi năm làm phim, anh đi nhiều nước, đã quay nhiều vị Nguyên thủ quốc gia. Nhưng nhiều nơi anh chỉ làm việc như cái máy. Các vị Nguyên thủ cứ diễn thuyết, mình cứ quay, việc của ai người ấy làm, không có sự giao lưu nào khác. Lần này được gặp Hồ Chủ tịch, ngay từ phút đầu anh đã xúc động, hồi hộp quá nên có lúng túng trong thao tác. Tất cả tâm trí anh bị chi phối bởi được gặp Bác Hồ, vị lãnh tụ nổi tiếng của một dân tộc anh hùng. Đến khi được nghe Bác Hồ nói sẵn sàng tạo điều kiện cho nhóm làm phim hoàn thành tốt nhiệm vụ, anh càng thêm xúc động.

Trong phòng trà có cà phê, bánh, kẹo, trái cây. Bác ngồi cùng với những người làm phim, thân mật như người cha ngồi cùng các con. Bác hỏi:

– Các chú sang Việt Nam công tác lâu chưa ?

Suduki đáp:

– Thưa Bác, con sang Việt Nam hơn một năm rồi ạ.

Bác bảo:

– Thế thì các chú khuyết điểm, sang Việt Nam hơn một năm mà vẫn phải nhờ chú này (Bác chỉ người phiên dịch). Hồi còn trẻ, Bác ra nước ngoài, chỉ sau sáu tháng là nghe và nói được tiếng nước đó, không cần phiên dịch. Từ nay, các chú nên học tiếng Việt, nhờ chú này (Bác lại chỉ anh phiên dịch) giúp đỡ.

Giờ phút gần Bác, ai cũng muốn kéo dài. Chúng tôi muốn được ở bên Bác lâu hơn, nhưng Bác còn bận nhiều việc. Bác tạm biệt ra về. Các bạn Nhật cứ đi theo Bác, tay cầm máy quay phim, máy ảnh mà như quên mất công việc, nét mặt ai cũng thẫn thờ, luyến tiếc.

Ống kính máy quay trong tay tôi không lúc nào rời Bác. Từng cử chỉ, từng bước đi, từng giọng nói, tiếng cười của Bác đối với tôi đều vô cùng quý giá.

Bác đã bước xuống bậc thềm sau phòng khách, các bạn Nhật vẫn bước theo sau. Bác chợt ngừng lại ngắt một bông hồng tặng Suduki rồi đi về phía nhà sàn. Như đoán được mọi người vẫn dõi theo, Bác quay lại mỉm cười đôn hậu và giơ tay chào tạm biệt. Ống kính của tôi vẫn theo Bác cho đến khi bóng Người đã khuất sau những hàng cây bên nếp nhà sàn.

Từ đó đến nay đã nhiều năm, mỗi khi nhìn tấm ảnh Bác Hồ vai khoác áo kaki, một tay cầm quyển sổ, một tay giơ cao chào tạm biệt những người làm phim, tôi lại nhớ đến kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời của một phóng viên quay phim quân đội.

Theo Hoàng Văn Bổn, cuốn sách Bác Hồ với Đồng Nai – Đồng Nai với Bác Hồ

Phuly.edu.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm kè bảo vệ sông Đà ở Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (8-7-1958)

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Người cho rằng, nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu, muốn phát triển đất nước phải coi trọng cả nông nghiệp và công nghiệp.

Khi cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc diễn ra ác liệt, Bác dành thời gian xuống tận các Hợp tác xã (HTX) thăm hỏi, động viên nông dân. Hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống úng với bà con là những hình ảnh đẹp trong lòng người dân. Khi biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả. Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, dặn dò trước hết phải lo cái ăn để dân khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thăm. Giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống dự khánh thành đoạn đê vừa mới đắp. Bác đi kiểm tra, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Bác nhắc nhở phải tăng cường gia cố mới an toàn. Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tăng cường lực lượng đầm thật kỹ mới đảm bảo lâu dài.

Trong “Thư gửi nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2-1951, Bác viết: “Thực túc thì binh cường! Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất. Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”(1). Bức thư đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Khi đến thăm đồng bào, Bác không dùng những lời lẽ chung chung mà rất cụ thể, nói rõ từng việc, chỉ ra ưu điểm để phát huy, vạch rõ khuyết điểm để khắc phục. Đứng trước bà con, Bác không đọc diễn văn mà ân cần chuyện trò thăm hỏi. Một lần về xã Đại Nghĩa, Hà Đông nói chuyện với cán bộ xã viên HTX nông nghiệp, Bác đưa ra những con số cụ thể làm bà con ngỡ ngàng. Bác nói: Xã có 600 hộ mà chỉ mới nuôi được có 500 con lợn như vậy là ít, mỗi hộ chưa được một con, còn gà vịt bình quân mỗi hộ cũng chỉ có 10 con, vì vậy xã phải đẩy mạnh chăn nuôi. Từ những việc cụ thể, Bác khái quát: Phát triển kinh tế tập thể nhưng phải phát triển thích đáng kinh tế của gia đình xã viên. Bác chỉ ra nguyên nhân: Coi trọng sản xuất lúa là tốt, nhưng bà con nông dân còn xem nhẹ hoa màu và cây công nghiệp. Do xem nhẹ hoa màu nên chăn nuôi không phát triển được

Những năm tháng cuối đời, tuy sức khỏe yếu nhưng Bác vẫn dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị hay các buổi làm việc về nông nghiệp, Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm, nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn, viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc Bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, đối với xã viên thì viết phải gọn hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, chỗ nào chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Thứ tự các chương đánh số La Mã, Bác sửa lại thành “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu”. Chữ “để lại” vừa có tình vừa có nghĩa giữa xã viên và HTX.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích lũy để khoảng 7-10% thu nhập HTX là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5-10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển đổi nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh để dân dễ thuộc, dễ nhớ, dễ làm theo. Trong Di chúc, Bác đề nghị Chính phủ khi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ toàn thắng thì “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bảo hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(2).

Những việc làm của Bác đối với nông nghiệp, sự quan tâm chia sẻ vất vả với nông dân của Bác đến nay còn nguyên giá trị cả về tình cảm, đạo đức và trí tuệ.

Đất nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng. Đảng ta luôn xác định giải quyết vấn đề “tam nông” là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đại hội khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp… đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”(3). Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đặt chỉ tiêu trong 5 năm (2011 – 2015): “Phấn đấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/năm. Tỉ trọng lao động nông nghiệp năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội. Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8-2 lần so với năm 2010”(4).

Quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn này cũng được Đảng xác định rõ: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”(5). Nghị quyết còn xác định: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”(6)…

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tam nông, từng bước nâng cao mức sống nông dân, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn./.

————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG-ST, H.2002, tập 6, tr.178. (2) Sách đã dẫn, tập 12, tr.504. (3), (4), (5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG-ST, H.2011, tr. 151-152, 198, 241, 39.

Nguyễn Thị Thọ, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế
Theo Tạp chí Xây dựng ĐảngTâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân và công đoàn

Bác Hồ nói chuyện với công nhân Ngành Đường sắt Việt Nam

Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam, đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức công đoàn nước ta.

Cuối tháng 12-1920, anh Nguyễn cùng 160 đại biểu của Đảng Xã hội trong Đại hội Tua đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tuyên bố thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Trước đó, ngay từ năm 1914, Người đã tham gia tổ chức “Lao động hải ngoại”, tổ chức nghiệp đoàn của những người thợ thuyền thuộc địa sống trên đất Anh. Năm 1919, Người gia nhập “công đoàn kim khí” quận 17 Paris. Cùng lúc đó, phong trào yêu nước và thợ thuyền Việt Nam ở Pháp bừng tỉnh. Cùng với luật sư yêu nước Phan Văn Tường và nhà chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh, Người tham gia lập “Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Đây là cầu nối đầu tiên giữa Người với công nhân, lính thợ, thủy thủ người Việt ở Pháp. Sau khi Người tham gia sáng lập “Hội Liên hiệp thuộc địa” (10-1921) và nhất là khi tờ “Người cùng khổ” ra mắt vào tháng 4-1922 thì những tổ chức công đoàn đầu tiên của người Việt Nam trên đất Pháp càng phát triển mạnh mẽ. Đồng chí Tôn Đức Thắng, một trong những người sáng lập phong trào công đoàn Việt Nam, đã 2 lần đến Paris để tìm Nguyễn Ái Quốc. Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy phản chiến nổi tiếng ở Biển Đen và sau khi bị trục xuất về Sài Gòn (1922-1923), đã gieo những hạt giống đầu tiên của Công hội đỏ Việt Nam tại xưởng đóng tàu Ba Son.

Tháng 7-1924, Người tham gia Đại hội III “Quốc tế công hội đỏ” tại Mát-xcơ-va, là đại biểu duy nhất cho giai cấp công nhân thuộc địa và đọc bản tham luận chính thức trong phiên họp thứ 15 ngày 21-7-1924. Đây là tiếng nói chính thức đầu tiên của một đại biểu của phong trào công nhân và Công đoàn nước ta trên diễn đàn quốc tế. Người kêu gọi: “… tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi”(1). Năm 1925, Bản án chế độ thực dân Pháp được “Thư quán lao động” xuất bản tại Paris. Trong Chương XII mang tên “Nô lệ thức tỉnh”, tác giả cổ vũ cuộc bãi công của 600 công nhân nhuộm vừa nổ ra ở Chợ Lớn, “đây là lần đầu tiên một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa”(2). Năm 1926, ngoài tờ báo “Thanh niên” có đăng một số bài của Người về tổ chức công đoàn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc sáng lập thêm báo “Công Nông”, tờ báo đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Năm 1927, tác phẩm “Đường kách mệnh” được xuất bản. Đây là tác phẩm quan trọng nhất của Người về cách mạng Việt Nam nói chung và về phong trào công đoàn nói riêng. Người xác định: “Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang lại cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân…”(3). Như vậy là vào thời kỳ này, Người đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi của người lao động. Quả thực, cho đến nay, chức năng cơ bản của công đoàn vẫn là bảo vệ lợi ích của người lao động. Khi xa rời chức năng đó thì người công nhân tự nhiên sẽ xa lánh hoặc thờ ơ với sự tồn tại của tổ chức công đoàn và công đoàn đến lượt nó mất đi tính đại diện của người lao động. Đề cập đến vấn đề này, trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nói: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc… Mục đích công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung”(4). Hồ Chủ tịch cũng đã không ít lần bàn về đồng lương thực tế cho người thợ: “Bây giờ anh em mong được lên lương có chính đáng không? Có. Nhưng lương tăng gấp đôi mà hàng đắt thì vẫn không ăn thua gì”(5). Tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, tháng 2-1961, Người nhấn mạnh: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”(6). Người còn dạy: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”(7). Cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung là khát vọng luôn canh cánh bên Người.

Hiện nay Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(8). Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH và hội nhập quốc tế”(9). Quan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; bảo đảm hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, từng bước trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược.

Bước vào thời kỳ đất nước hội nhập, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn lớn mạnh càng phải được quan tâm sâu sắc, toàn diện, thiết thực và cụ thể hơn theo tinh thần Nghị quyết 20/NQTW và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Đây là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị cùng sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, là yếu tố quan trọng thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 1, tr.293. (2), (3) Sách đã dẫn, tập 2, tr.114, 302. (4), (5) Sách đã dẫn, tập 8, tr.295,297. (6), (7) Sách đã dẫn, tập 10, tr.291. (8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, H.2011, tr.80, 49.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cố vấn Vĩnh Thụy

Chính phủ VNDCCH ra mắt Quốc Hội khóa 1 ngày 2/3/1946. Từ trái sang phải: Ông Trương Đình Tri, ông Đặng Thai Mai, ông Chu Bá Phượng, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, ông Lê Văn Hiến, luật sư

Tóm tắt: Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946).

Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946). Là một người nghiên cứu Huế, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thừa Thiên Huế, tôi đã sưu tầm được khá nhiều tư liệu lịch sử có liên quan đến mối quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cố vấn Vĩnh Thụy. Tôi xin trích 4 tư liệu sau đây để độc giả thưởng lãm và nhớ đến Bác.

1 . Hồi ức của sĩ quan hầu cận

Qua gia đình của cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris, tôi được biết ông Hoàng Xuân Bình, học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến đã được cử làm sĩ quan hầu cận cho Cố vấn Vĩnh Thụy hồi đầu tháng 9/1945. Một buổi sáng tháng 8 năm 1999, tôi tìm đến nhà ông Bình ở cuối đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q.3, TP.HCM) đối diện với chùa Vĩnh Nghiêm. Tôi xin phép được hỏi về những kỷ niệm của ông trong thời gian ông làm sĩ quan cận vệ cho Cố vấn Vĩnh Thụy.

Ông Bình nặng tai và người không được khỏe nên ông từ chối trả lời những câu hỏi của tôi. Thay vào đó ông đưa cho tôi một trang báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam có đăng bài Cố vấn Vĩnh Thụy và tờ tạp chí Văn nghệ Nghệ Tĩnh, số 45, tháng 5/1991 với bài Hồ Chủ tịch và Cố vấn Vĩnh Thụy. Cả hai bài đều do ông Hoàng Xuân Bình kể, và thầy giáo Lê Trần Sửu ghi. Ông Bình bảo tôi:

– “Lúc kể cho Lê Trần Sửu ghi, trí nhớ của tôi còn rất tốt. Bây giờ quên đi nhiều rồi. Anh xem khai thác được điều gì bổ ích… cứ việc!”.

Đó là lần đầu tiên tôi được gặp ông Bình và không ngờ cũng là lần cuối cùng. Ông Bình đã mất vào tháng 4 năm 2000. Xin phép người quá cố tôi trích một đoạn trong Văn nghệ Nghệ Tĩnh để độc giả cả nước thưởng lãm:

“Bắt đầu 5/9, tôi một mình làm nhiệm vụ “sĩ quan hầu cận” của tối cao Cố vấn, vì anh Nguyễn Thế Lương nhận lệnh về Huế công tác.

Sáng 5/9, quân phục chỉnh tề, tôi theo ông Vĩnh Thụy đi ra mắt Hồ Chủ tịch. Bác ra đón tại cửa phòng làm việc trong bộ đồ ka-ki kiểu cổ đứng, hai tay mở rộng – một cử chỉ đầy ý nghĩa – vừa thân tình vừa trọng thị, làm ông vua cũ hình như cũng bất ngờ một cách thích thú.

Độ hơn một tiếng đồng hồ sau, Bác Hồ lại tiễn ông Cố vấn ra tận cửa chính của Bắc bộ phủ, nơi xe đã tiến lên đón ông Vĩnh Thụy trở về. Ông lộ hẳn ra mặt sự mừng rỡ, mãn nguyện về cuộc tiếp kiến và cho biết buổi chiều Cụ Chủ tịch sẽ tới thăm tại nhà ở 51 đường Gambetta.

Ba giờ chiều, tất cả nhà, từ ông Cố vấn cho tới người cần vụ, người nấu bếp, lái xe, các anh em trong tiểu đội canh gác đều sẵn sàng và bị thu hút chờ đón vị Chủ tịch ở sân trước biệt thự.

Xe Bác vào. Bác tới cùng mấy người nữa. Ông Vĩnh Thụy chờ đón Bác dưới chân tam cấp lớn, và hướng dẫn Bác lên phòng khách đón. Tất cả chúng tôi đều kéo theo lên và quên hết phép tắc, cũng vào cả trong phòng khách mà chẳng ai nhắc nhở can ngăn kể cả anh sĩ quan bảo vệ Bác.

Sau ít phút trò chuyện trong phòng, Bác đề nghị đi dạo ngoài vườn để nói chuyện. Thế là hai người khoác tay nhau – đúng hơn là Bác khoác tay ông Cố vấn – xuống sân và dạo theo các lối đi rải sạn, chuyện trò thân mật như những người cố tri. Thật là một cảnh tượng có lẽ là có một không hai trong lịch sử mà mỗi một chúng tôi được chứng kiến hôm đó đều xúc động. Một cựu hoàng đế, mập mạp, phương phi, quần áo đúng mốt sang trọng của Paris hoa lệ cắt bằng vải đắt tiền, giày da hai màu, bóng loáng cùng khoác tay đi dạo rất “tâm đắc” với một nhà cách mạng lão thành đã mang án tử hình của nhà nước thực dân, phong kiến mà người kia là một kẻ tiêu biểu, một con người giản dị vô song, quần áo ka-ki thường cắt theo kiểu cổ lỗ, chân xỏ đôi giày “tàu” vải đen, hồn nhiên như thanh sắc của cây cỏ tỏa quanh bước chân dạo đi của Người.

Sau đó, khi mở đầu “Tuần lễ vàng” Hồ Chủ tịch cử Cố vấn thay mặt Chủ tịch nước khai mạc. Diễn văn khai mạc do ông Phạm Khắc Hòe soạn, và trước khi đi dự lễ, ông Vĩnh Thụy đọc thử cho tôi nghe. Ông đọc giọng Huế, không trôi chảy mấy và ngắt câu nhiều chỗ không đúng. Khi được nhận xét như vậy, ông đã nhờ tôi dùng viết chì màu đánh dấu các chỗ ngắt giọng. Buổi lễ khai mạc diễn ra ở thềm trước Nhà hát thành phố. Sau khi đọc diễn văn một cách trôi chảy, ông Cố vấn trở lại chỗ ngồi, đi qua chỗ tôi không quên cảm ơn bằng một nụ cười kèm theo một cái lè lưỡi kín đáo như mừng rỡ đã “tai qua nạn khỏi”.

Hồi đó, Hội đồng lập hiến được thành lập để làm dự thảo Hiến pháp. Ông Cố vấn là thành viên của Hội đồng, thành phần rộng rãi, trong Việt Minh, ngoài Việt Minh, nhân sĩ, trí thức có tiếng tăm.

Một hôm, gặp thầy cũ là ông Đặng Thai Mai, ông cho tôi biết nhận xét của ông (cũng là một thành viên của Hội đồng):

– “Ông Vĩnh Thụy tưởng là người ăn chơi nhưng không ngờ lại có những hiểu biết khá rộng về pháp lý và có nhiều ý kiến hay”.

… Sau đó không lâu, một hôm đi làm việc về, ông qua buồng tôi, bảo nhỏ cho tôi biết rằng Cụ Hồ đề nghị ông thay mặt Chính phủ đi một chuyến qua Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ để giới thiệu chế độ mới, vận động họ công nhận nước Việt Nam độc lập. Tôi thầm nghĩ trong bụng, khâm phục tài sử dụng người của Cụ Hồ, đưa một cựu hoàng vừa thoái vị nhường quyền cho chế độ Cộng hòa đi tuyên truyền cho chế độ đó!”

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói gì với Cố vấn Vĩnh Thụy đang đi công cán ở nước ngoài?

Cố vấn Vĩnh Thụy ra nước ngoài vào ngày 16/3/1946. Mấy tháng sau, Bác Hồ đã gởi một lá thư trao đổi công việc với ông. Trong lá thư ấy Bác đã nhắc nhở ông phải luôn luôn nhớ đến vai trò quan trọng mà đất nước đang giao phó cho ông. Ông phải sống xứng đáng với vai trò đó. Nhà sử học Pháp Jean Lacouture đã được đọc lá thư ấy và đã trích dẫn vào sách HO CHI MINH, (Le Seuil, 1967), một đoạn sau:

Ngài chớ quên rằng Ngài là đại diện cho nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Ngài phải làm thế nào để đời sống cửa Ngài xứng đáng với cái tên mà Ngài đang mang, xứng đáng với Tổ quốc chung, với nền độc lập của chúng ta đến nay mới giành lại được” (tr.114).

Trước ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) – theo bà Mộng Điệp (vợ thứ của Vĩnh Thụy) – Bác Hồ đã cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng qua Hồng Kông cho Cố vấn Vĩnh Thụy tiêu. Đến trước tháng 8/1947, trả lời phỏng vấn của báo chí về Cố vấn Vĩnh Thụy, Bác Hồ không ngần ngại đáp rằng:

Nhiều thành viên trong Chính phủ và bản thân tôi, tất cả đều là bạn của ông Cố vấn Vĩnh Thụy, chúng tôi rất mong muốn gặp lại ông Cố vấn và cầu mong ông Cố vấn sớm trở về để cùng nhau lo việc nước. Nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy hiện nay (7/1947 NĐX) không thể rời Hồng Kông được. Chúng tôi xa mặt chứ không cách lòng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy hiện đang ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn là thành viên”. (trích lại của Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940-1952, Eïdition du Seuil, 1952, p.402).

Bác Hồ rất tin tưởng Cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy vốn rất nhu nhược, không vượt qua được sự túng thiếu về tài chính và các cạm bẫy của mật thám Pháp và các thành phần thân Pháp nên ông đã bị đẩy vào cái thế phải trở lại làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phản bội lại chính nghĩa của quốc gia, chống lại kháng chiến giải phóng dân tộc, đối đầu với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã cưu mang và tin tưởng ông. Nhưng, tuy nhu nhược, Vĩnh Thụy là người có lương tri tho nên khi gặp cơ hội thuận tiện ông vẫn không giấu được những tình cảm tốt đẹp về Bác Hồ, về kháng chiến đã ẩn sâu dưới đáy tim ông.

3. Bảo Đại qua điệp viên A.13

Người điệp viên đầu tiên của cách mạng (A.13) được “Quốc trưởng” Bảo Đại tin dùng là ông Nguyễn Văn Hoàng. Khai thác tư liệu của ngành an ninh và lời tự thuật của ông Hoàng, nhà văn đại tá Công an Lê Tri Kỷ (1924-1993) đã viết cuốn Câu lạc bộ chính khách (Nxb Công an nhân dân, H.1986). Ông Hoàng nguyên là công nhân nhà máy Dĩ An, hoạt động cách mạng từ sau năm 1930. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ông làm Trưởng ty Công an Thanh Hoá, sau đó ông được tướng Nguyễn Sơn và ông Đặng Thai Mai đưa vào thành hoạt động giả danh lãnh tụ đảng Phục Việt (không có thật) – “một đảng chính trị tham gia kháng chiến ngoài cộng sản”.

Ông Hoàng cùng với “người bảo vệ” Trúc Lâm (Điệp viên A.14) vào Đà Lạt tiếp kiến “Quốc trưởng” Bảo Đại tìm cách thúc đẩy Bảo Đại can thiệp với quân đội Pháp làm sao tránh được những cuộc càn quét bắn phá tỉnh Thanh Hoá – cửa ngõ vào Nam, nơi cung cấp người và lương thực cho kháng chiến và cũng là nơi có lăng Triệu Tường tổ tiên của dòng họ nhà Nguyễn của Bảo Đại. Lần đầu gặp Bảo Đại, Văn Hoàng có cảm tưởng như sau:

“Đã quen với hình ảnh Bảo Đại in trên bìa vở học sinh và truyền đơn quảng cáo Hiệp ước Hạ Long rồi, thế mà khi trông thấy ông ta đứng dậy dạng chân khoanh tay giữa phòng đợi, Văn Hoàng không khỏi bỡ ngỡ pha lẫn buồn cười. Ông ta to quá, khoẻ quá kềnh càng quá, ngước trông lên cứ tưởng như ông bị sưng cằm. Trong lòng bàn tay to rộng ông ta đưa ra bắt, bàn tay Văn Hoàng chỉ như tay con nít.

Sau giây phút ngỡ ngàng, Văn Hoàng nhanh chóng trấn tĩnh nhếch một nụ cười thân thiện thay một lời chào chưa nghĩ kịp. Nhưng rất chủ động và lịch thiệp, Bảo Đại không để anh lúng túng chờ đợi:

– Ông ở ngoài nớ vô, thế có được tin tức gì về Cụ Hồ Chí Minh không? Ngài có được mạnh khỏe không? Các ông bộ trưởng trong Chánh phủ kháng chiến có được mạnh khỏe không?

Mở đầu thật bất ngờ. Không phải đối thoại căng thẳng mà là thăm hỏi thân tình. May sao sức khỏe Bác Hồ thì có người dân nào là không theo dõi? Văn Hoàng trả lời lưu loát:

– Tôi không được nghe gì về các ông bộ trưởng nhưng về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn được nghe nói tới. Cụ vẫn rất khỏe, đi bộ mỗi ngày 40 cây số, nhiều thanh niên theo được còn là mệt.

Bảo Đại nuốt tiếng thở dài. Giọng ông ta đã trầm, mồm như dầy lưỡi, lại nói thứ tiếng Huế khê đặc nên rất khó nghe:

– Tôi đã từng sống cạnh Cụ Hồ, nghe Cụ nói chuyện, cùng Cụ đi công cán hay chủ tọa nhiều phiên họp nội các, từng chứng kiến đức độ của Cụ, coi Cụ như cha và cũng được Cụ thương yêu như con. Những điều đó đã để lại trong lòng tôi không ít kỷ niệm đẹp, và có thể nói nó chi phối không ít những việc làm của tôi kể từ ngày tôi xa Cụ tới nay (1950)…”

Đọc đoạn trao đổi này tôi hơi nghi ngờ. Do đó nhờ nhà văn Vũ Hạnh giới thiệu, tôi đã được gặp ông Nguyễn Văn Hoàng (điệp viên A.13 năm xưa). Năm nay ông Hoàng vừa tròn tuổi 93 tuổi, nhà ở tại đường Lê Văn Sỹ, Q.3 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng đã xác nhận những gì Lê Tri Kỷ đã viết và được tôi vừa trích dẫn trên là đúng sự thật. Từ đó tôi mới tin.

Trong buổi lễ vận động cứu đói tổ chức trước Nhá hát lớn Hà Nội. Ngồi hàng trước, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, tướng Mỹ Gallagher (Đại diện LL Đồng Minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ. Ảnh: TL.

4. Vào cuối đời Cựu hoàng Bảo Đại nói gì về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Việc thoái vị của Bảo Đại là một sự kiện lịch sử lớn. Nếu người dân Việt Nam còn muốn nhắc đến Bảo Đại chính vì hành động thoái vị của ông vào ngày 30 tháng 8 năm 1945. Bảo Đại cũng biết thế. Trước khi vĩnh biệt cuộc đời (31/7/1997), Bảo Đại đã nhờ người viết hồi ký Con rồng An Nam (Le Dragon d’Annam), trả lời phỏng vấn trên đài Phát thanh Pháp, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp về sự kiện ông thoái vị. Trong chuyến đi Pháp (1999) tìm tài liệu nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa, tôi đã có dịp tiếp xúc với những gì ông Bảo Đại còn để lại có liên quan đến sự kiện này. Theo tôi, cuốn phim ông trả lời phỏng vấn nhà sử học nổi tiếng của Pháp Fédéric Mittérand của đài truyền tình Pháp là đầy đủ và trung thực với ông nhất.

Tôi xin trích một số câu hỏi của nhà báo sử gia Fédéric Mittérand và câu trả lời của Bảo Đại (do kỹ sư Bùi Hữu Lân dịch qua Việt ngữ):

F.M: Và Ngài đã đi Hà Nội để gặp ông Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là ông Hồ Chí Minh đối xử với Ngài với một sự cung kính đặc biệt?

Bảo Đại: Vâng, xin đừng quên rằng ông Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình Nho giáo… Ông cấm những người xung quanh ông gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, ông luôn luôn gọi tôi là Ngài.

F.M: Ông Hồ Chí Minh mời Ngài làm Cố Vấn Tối Cao của chính phủ?

Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo ông Hồ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thực sự.

F.M: Ngài đã ở gần ông Hồ Chí Minh, ông ấy đã cho Ngài cảm tưởng thế nào về ông ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét ông Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy.

F.M: Nhưng đối với Ngài, ông Hồ cũng là một nhà ái quốc?

Bảo Đại: Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Ông là một người yêu nước (Cest pour moi en plus, cest un nationaliste. Il aimait son pays)

F.M: Trong cuốn sách của Ngài (cuốn Le Dragon d’Annam) không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với ông Hồ. Ngài quý trọng ông Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy ông Hồ không bao giờ công kích Ngài?

Bảo Đại: Không, không có lý do gì để tôi công kích ông ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ ông ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng ta đã khổ vì chiến tranh.

F.M: Lúc ấy Ngài đã biết gì về chủ nghĩa Cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa Cộng sản?

Bảo Đại: Không, tôi biết rất ít.

F.M: Trong khoảng thời gian hai năm ấy (1945-1946), Ngài đã ở bên cạnh ông Hồ, và Ngài đã giúp cho ông ta nhiều việc quan trọng. Nếu phải lập lại việc này hôm nay, Ngài cũng sẽ lập lại chăng? Ngày nay Ngài đánh giá việc này thế nào?

Bảo Đại: Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của nhân dân tôi, tôi cũng sẽ làm vậy (Cà dépend. Si cest pour le bien de mon peuple, je le ferais).

Điểm lại bốn đoạn trích trên của người trong cuộc, của các nhân chứng lịch sử, của ngành an ninh chúng ta thấy dù ở trong hoàn cảnh nào vua Bảo Đại – Cố vấn Vĩnh Thụy – “Quốc trưởng” Bảo Đại – ông vua lưu vong sắp từ giã cuộc đời vẫn trước sau một lòng yêu kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một người như ông Vĩnh Thụy – Bảo Đại mà còn yêu kính Bác đến thế, tôi nghĩ rằng còn biết bao tấm lòng yêu kính Bác của các nhân vật chính trị, trí thức, nhà văn hóa khác mà vì chiến tranh chúng ta chưa khám phá hết. Càng nghiên cứu về Bác càng thấy sự vĩ đại của Bác. “Mai sau dù có bao giờ” việc nghiên cứu về Bác Hồ vẫn luôn luôn còn có nhiều thông tin mới.

Gác Thọ Lộc, một ngày cuối thu 2003
Tổng thuật của Nguyễn Đắc Xuân – Nhà nghiên cứu Huế
Theo Lichsu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnQĐND Online – Vào năm 1947, ngay buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và chọn ngày 27-7 hằng năm là ngày “Thương binh toàn quốc”. Ý nghĩa của ngày này được Hồ Chủ Tịch nêu rõ trong Thư gửi Ban thường trực tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” đầu tiên: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc và đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu… Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27-7 là dịp để đồng bào tỏ rõ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.

Bao năm qua, lời căn dặn của Bác Hồ đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ghi nhớ và thực hiện. Ý nghĩa của ngày 27-7 cũng đã được nâng cao thành ngày “Thương binh – liệt sĩ” – ngày thu hút sự quan tâm của hàng triệu tấm lòng, ngày thể hiện tình cảm tốt đẹp của hàng triệu con tim. Đặc biệt là tình cảm trân trọng, biết ơn các liệt sĩ, mà Bác Hồ là người khởi nguồn và bồi đắp bằng những lời dạy thật sâu sắc: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Ngay buổi đầu chống Pháp, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL, đặt “Chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, mở đầu cho sự phát triển của một hệ thống chính sách thương binh – liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, sau khi chế độ bảo hiểm xã hội ra đời, ngày 30 tháng 10 năm 1969, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/CP về “Điều lệ ưu đãi quân nhân, quân dân dự bị, dân quân tự vệ bị thương, bị chết”. Sau này đối tượng được xác nhận là thương binh, liệt sĩ được mở rộng thêm và bao gồm cả thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã.

Kỷ niệm ngày thương binh 27-7-1948, Người lại gửi bức thư đầy tâm huyết tới đồng bào. Không chỉ những lời động viên, chia sẻ qua thư, mà Người đã gương mẫu thực hiện lời kêu gọi đó thông qua những việc làm thiết thực: gửi quà tặng thương binh, gia đình liệt sỹ vào dịp kỷ niệm 27-7 hằng năm, đến thăm các trại điều dưỡng thương binh. Câu nói bất hủ của Người: “Thương binh tàn nhưng không phế” có sức động viên mạnh mẽ hàng vạn thương binh cố gắng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống với niềm tin mãnh liệt.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) giáp tết Bính Ngọ (1966), trong bài nói của Bác, Người yêu cầu các địa phương, đoàn thể phải coi trọng giúp đỡ gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có con là chiến sỹ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đất nước ta đã thật sự “nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Song sự hy sinh, mất mát cũng thật lớn lao. Không gì có thể bù đắp được những hy sinh vô giá đó. Duy chỉ có lòng biết ơn thật sự mới có thể làm vơi đi những nỗi đau. Lòng biết ơn thương binh – liệt sĩ đã làm sáng lên truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khẳng định bản chất xã hội ta là một xã hội dân chủ, công bằng.

Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với việc đưa ra các giải pháp tình thế khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống thương binh – gia đình liệt sĩ, xử lý những bất hợp lý do lịch sử để lại, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh Phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Việc ra đời 2 Pháp lệnh này đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình “luật hoá” hệ thống chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, được nhân dân cả nước đồng tình và tích cực thực hiện.

Những năm qua, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã ủng hộ gần 5.000 tỷ đồng, xây mới 243.412 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 104.125 căn nhà, với tổng số tiền là 2.389 tỷ đồng, giúp đỡ trên 300.000 gia đình chính sách có nhà ở ổn định, tặng trên 604.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa, 15.000 vườn cây tình nghĩa. Sau 10 năm phát động phong trào, cả nước đã có 9.636 xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, 22 tỉnh, thành phố có 100% xã, phường hoàn thành tốt công tác này.

Hiện nay, cả nước có 85% gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương nơi cư trú. Phong trào toàn dân “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống của toàn dân, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Công tác đền ơn đáp nghĩa với hàng triệu đối tượng chính sách là công việc thường nhật của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong cả nước, đã và đang làm vơi đi nỗi đau, sự mất mát do kẻ thù gây nên, góp phần giúp các đối tượng ngày càng ổn định cuộc sống, giúp họ yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần, động viên họ đóng góp vào sự phát triển của dân tộc, phấn đấu trở thành “Người thương binh gương mẫu, gia đình liệt sỹ kiểu mẫu”, đại bộ phận thương binh “tàn nhưng không phế” đúng như lời dạy của Bác Hồ kính yêu.

Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng lịch sử chói sáng của dân tộc vẫn khắc đậm chiến công của các vị anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Trong mỗi trái tim Việt Nam vẫn sẽ mãi khắc ghi sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với các Anh hùng – Liệt sĩ – chiến sĩ đã sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Mong rằng sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn ấy mãi là ngọn lửa ấm tiếp thêm nguồn năng lượng mới để mỗi thương binh, thân nhân liệt sĩ có thêm nghị lực, niềm tin trong cuộc sống.

Thái Sơn (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến người cao tuổi. Trong suốt cuộc đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng của mình, dù bận nhiều việc nhưng Người vẫn luôn dành cho người cao tuổi Việt Nam những tình cảm ân cần và sự quan tâm sâu sắc. Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại. Đặc biệt, những tình cảm dành cho người cao tuổi biểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam – văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của người cao tuổi trong xã hội ta. Người luôn coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6-1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc. Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác. Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm. Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây. Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, người cao tuổi Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã góp phần trực tiếp làm nên lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, người cao tuổi đã đem bầu nhiệt huyết đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, là lớp người từng đứng trong đạo quân hùng mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Già – trẻ cùng gắng sức vì một mục đích chung, đó là lời nhắn gửi của Người trong bài thơ “Tặng cụ Đinh Chương Dương: “Quan san muôn dặm gặp nhau đây/ Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây/ Dân bị hai tròng vào một cổ/ Ta liều trăm đắng với ngàn cay/ Già dù sức yếu mang mang nhẹ/ Trẻ cố ra công gánh gánh đầy/ Non nước của ta ta lấy lại/ Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của người cao tuổi là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ. Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Không những thế, Người còn cho rằng, người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi “Công việc ngày càng nhiều, càng mới nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”. Người cao tuổi Việt Nam sống, cống hiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là sự nêu gương sáng cho con cháu về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên). Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó người cao tuổi có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc. “Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”. Người là tấm gương tuổi già mà “không chịu ngồi không”, “càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng”. Người luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Một con người mà “dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với người cao tuổi. Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây (trước đây), Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc. Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”. Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu – Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình. Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác. Cụ già ấy được biết tên ngay trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn”… Có thể nói, đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc – một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả từ xưa đến nay.

Hiện nay, gần 10 triệu người cao tuổi trong cả nước ta đã và đang ra sức thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng những phong trào thi đua thiết thực “Tuổi cao – gương sáng”. Đó cũng chính là một trong nhiều hình thức để phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Tuổi cao chí khí càng cao”.

______________

Tài liệu tham khảo:
1. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.
2. Thông tin Tư liệu TTXVN, số 65.

Theo xaydungdang.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh: Dân là tối thượng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là tối thượng. Người thường nhắc cán bộ, đảng viên phải “dĩ dân vi thượng”. Nhân dân trước hết là những người lao động, là nông dân, công nhân, trí thức và tất cả những người Việt Nam yêu nước, bị áp bức, bóc lột, “bị đoạ đày đau khổ”…

……………………………

Năm 1947, trước khi viết “Sửa đổi lối làm việc” – một tác phẩm có giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thực to lớn đối với Đảng ta, nhân dân ta – Hồ Chí Minh đã viết cuốn “Đời sống mới”, cuốn sách mà Người mong rằng “đồng bào ta mỗi người có một cuốn”, “để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới”.

Cuốn sách do Uỷ ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản năm 1947, nhân một năm phát động xây dựng đời sống mới. Mặc dù dung lượng cuốn sách chỉ có 17 trang, với 19 câu hỏi và trả lời, được Người viết đơn giản, dễ hiểu, nhưng đó là cả một vấn đề lớn, có giá trị cho đến tận hôm nay và mai này.

Trong cuốn sách, Hồ Chí Minh khẳng định, “đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính” ; “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới” .

Giải thích cho câu hỏi: “Sao gọi là đời sống mới”, Người cho rằng “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới.

Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ…

Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…

Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…

Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm” .

Mấy lời giải thích trên đây của Người, dường như không phải chỉ nói về đời sống mới theo một nghĩa hẹp. Đó là tư duy của Người về cách mạng, về đổi mới. Cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại là nhờ đi theo con đường cách mạng của Người. Rất tiếc, về sau này, nhiều khi chúng ta không nhớ lời Người dạy, dẫn đến bảo thủ, trì trệ. Và nhiều khi có nhớ cũng làm chưa thật đúng, chưa triệt để và sáng tạo. Cho đến Đại hội VI, Đảng ta mới đưa ra quan niệm đúng về đổi mới, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra trước đó. Một lần nữa, tư duy đổi mới của Đảng đã vận dụng và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, và nhờ đó đưa đất nước vượt qua được khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Nhắc lại mấy điều trên đây, chúng tôi muốn khẳng định, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đời sống mới vừa là cái đích mà chúng ta cần vươn tới, vừa là những điều cần và có thể thực hiện ngay. Trong sự nghiệp đó, Đảng và cán bộ của Đảng phải là người đi đầu. Hồ Chí Minh yêu cầu như vậy và Người đã đi đầu trong thực hành đời sống mới ở Việt Nam.

Cũng phải nói rằng, Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên đưa ra những từ “cần, kiệm, liêm, chính”. Nhưng đến Hồ Chí Minh, những từ “cần, kiệm, liêm, chính” mới được Người thổi vào luồng sinh khí mới, tạo nên một chất mới, có ý nghĩa cách mạng. Người nói rằng, “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới” . Cội nguồn mọi suy nghĩ và hành động của Người là luôn luôn vì dân.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên đứng lên chống Pháp, cũng không phải là người Việt Nam đầu tiên ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng Hồ Chí Minh là người đầu tiên, bằng lòng yêu nước, thương dân và trí tuệ mẫn tiệp của mình đã đến với tư tưởng tiên tiến của thời đại, tư tưởng giải phóng triệt để nhân dân lao động. Và cũng từ đó, những từ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” đã được Người nâng lên một tầm cao mới, với một nội hàm căn bản: vì Dân, vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, mà trong đó Dân có vị trí quan trọng bậc nhất.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là tối thượng. Người thường nhắc cán bộ, đảng viên phải “dĩ dân vi thượng”, điều mà trước đó các bậc tiền bối đã nhắc đến, nhưng đến Người, thì đã có sự khác biệt căn bản: Nhân dân trước hết là những người lao động, là nông dân, công nhân, trí thức và tất cả những người Việt Nam yêu nước, bị áp bức, bóc lột, “bị đoạ đày đau khổ”. Trong hành động, Người thật sự là một tấm gương mẫu mực, đầy sức thuyết phục về “dĩ dân vi thượng”, không màng danh lợi cho riêng mình. Nếu nói tiêu chí hàng đầu của đời sống mới là hết lòng vì dân, thì Hồ Chí Minh là Người tiêu biểu nhất của đời sống mới.

Hồ Chí Minh từng nói rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” . Cũng vì “ham muốn tột bậc” đó, Người đã dâng cả cuộc đời cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho nhân dân.

Người nói “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, trong công việc, trong sinh hoạt, Người luôn làm kiểu mẫu về những đức tính ấy. Không những thế, Người còn đi đầu trong chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ giặc nội xâm, đối lập với đạo đức cách mạng, đối lập với “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Để xây dựng đời sống mới mà không chống chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đạt được mục đích. Để có đời sống mới, theo Người “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước” . Cuộc đời Người là mẫu mực về sự làm gương cho người khác.

Tác phẩm “Đời sống mới” Hồ Chí Minh viết vào đầu năm 1947. Trước đó một năm, Người và Chính phủ đã phát động xây dựng đời sống mới. Theo Hồ Chí Minh, đời sống mới là lo cho dân có ăn, có mặc, được học hành trong tư thế một người dân độc lập. Và để lo được việc đó, không phải đến 1947, mà ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã thực hành công việc lo đời sống mới cho dân. Đó cũng là quá trình Người đấu tranh chống lại thực dân, phong kiến – những kẻ muốn dìm dân ta trong sự nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu và những hủ tục.

Đời sống mới là văn hoá, là một biểu hiện và là nét bản chất của văn hoá. Dân tộc ta đã đứng vững trước những thách thức của thiên nhiên khắc nghiệt, những cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại xâm hùng mạnh là nhờ chúng ta khẳng định và không ngừng làm giàu thêm bản sắc văn hoá của mình. Lịch sử dân tộc ta là lịch sử luôn luôn đổi mới và phát triển. Hồ Chí Minh đã góp phần quyết định làm cho văn hoá Việt Nam có sự phát triển về chất trong thời đại mới.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đảng ta cũng khẳng định văn hoá là mục tiêu và là động lực của sự phát triển. Lịch sử của dân tộc chứng minh rằng, văn hoá là một yếu tố bền vững, một sức mạnh không gì cản nổi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thiết nghĩ, trong thời điểm hiện nay cũng như mai sau, cùng đọc, cùng suy ngẫm về tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết của chúng ta.

PGS, TS Vũ Quang Đạo – Website Đảng cộng sản Việt Nam

Tuổi trẻ Online

Tột bậc là tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước…

……………………………………..

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc năm 1918. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, các nước thắng trận và bại trận đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp, để ký kết các hòa ước chính thức, cũng như phân chia các quyền lợi cho các nước thắng trận.

Các nước thắng trận bao gồm Anh, Pháp, Nga, Ytalia, Mỹ. Các nước bại trận bao gồm Đức, Áo – Hungary, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Hội nghị Versailles này, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức, còn có đại diện các dân tộc bị áp bức, đến dự Hội nghị để yêu cầu độc lập và tự do cho dân tộc mình, như đại diện cho người Aixơlen, người Ấn Độ, người Triều Tiên, người Arập… Khi đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tự tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pa-ri, và tại các tỉnh ở Pháp. Ông Nguyễn Ái Quốc đã đến Hội nghị Versailles với danh nghĩa đại diện cho tổ chức này.

Tại Hội nghị Versailles, ông Nguyễn Ái Quốc đã phát cho các đại biểu dự Hội nghị “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Versailles”. “Bản yêu sách” này bao gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

“Bản yêu sách” nổi tiếng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc  gửi Hội nghị Versaillé năm 1919 đó, bao gồm 8 điểm là:

1 – Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2 – Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3 – Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4 – Tự do lập hội và tự do hội họp.

5 – Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.

6 – Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7 – Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.

8 – Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.

Sau “Bản yêu sách 8 điểm” gửi Hội nghị Versailles, lần đầu tiên dư luận ở Pháp, và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Và cũng từ đó, mật thám Pháp bắt đầu để ý, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của ông Nguyễn Ái Quốc. Bởi vì, với Nhà nước thực dân độc tài, phản dân chủ, thì mọi tiếng nói đòi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam đều bị coi là nguy hiểm cho Nhà nước thực dân.

Nhưng tất cả những yêu sách ôn hòa đó của Nhóm người Việt Nam yêu nước của ông Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý. Từ đó, ông Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng rằng không thể trông cậy vào các nước khác, “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Versailles năm 1919, chúng ta thấy rằng tư tưởng của Bác Hồ về một thể chế tôn trọng những quyền tự do, dân chủ cho người dân được hình thành từ rất sớm. Khi đó Bác Hồ mới 29 tuổi, và mới sang Pháp được 8 năm. Trong số các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, thì Bác Hồ là người duy nhất sống ở nước ngoài tới 30 năm.

Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, và chỉ đến năm 1941 mới trở về nước, để lãnh đạo Đảng, nhân dân đấu tranh giành chính quyền. Bởi vậy Bác là người hiểu rất rõ những hạn chế, xấu xa của chế độ tư bản, thực dân, nhưng đồng thời Bác cũng hiểu được rất rõ các giá trị của nền văn minh phương Tây, của chế độ tự do, dân chủ phương Tây.

Chính bởi vậy, vào năm 1946, khi Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 đó chứa đựng rất nhiều giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương Tây. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng và nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, nhưng những giá trị của nền văn minh phương Tây, thì cần phải khiêm tốn học hỏi. Đó chính là tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều 10 của Hiến pháp 1946 qui định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận. – Tự do xuất bản. – Tự do tổ chức và hội họp. – Tự do tín ngưỡng. – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Nội dung của điều 10 này rất giống một phần nội dung 8 điểm mà Bác Hồ đã gửi Hội nghị Versailles cách năm 1946 đó 27 năm.

Hiện nay trong cả nước đang dấy lên phong trào “lao động, học tập gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là phong trào rất hay, rất cần thiết, nhưng theo tôi thiển nghĩ thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một diểm nhất quán và hết sức quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là về xây dựng một Nhà nước công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Như vậy, Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Chừng nào còn có kẻ đánh bạc cả triệu đôla, nhưng cả triệu người dân còn thiếu thốn nhiều bề, chừng nào còn có cán bộ hách dịch, xếch mé với dân, không làm tròn trách nhiệm là công bộc của dân, chừng nào người dân còn chịu oan khuất, phải đi khiếu kiện kêu cầu công lý, chừng nào bộ máy hành chính còn hành dân, thì chừng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chưa được quán triệt trở thành hành động trong thực tế.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Bác Hồ cách đây gần 100 năm, và bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Bác Hồ về xây dựng một thể chế tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân.

Từ đó chúng ta thấy rõ rằng cần phải từ phong trào lao động, học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, nâng cao lên thành phong trào học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước công bộc của dân.

Theo Minh Tuấn (Tokyo, Nhật Bản) – Dân trí

Tuổi trẻ Online

“Hình ảnh miền Nam yêu quý trong trái tim tôi”

– “1) Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch.

2) Phải biết chịu kham khổ.

3) Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần…Về đức tính này phải học theo người truyền giáo.

4) Chớ có lên mặt “quan cách mạng”. Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dậy người ta chứ không cần học lại người ta; lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình.

5) Chú ý đến cách phô diễn ý tưởng. Hết sức phổ thông. Cố vào sâu trong dân chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm sao cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đội tuyên truyền xung phong trong lễ xuất phát 500 đội viên của Hà Nội, tổ chức tại Nhà hát Lớn thành phố ngày 22/10/1945.

d  20/10/1945 Bác dự lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn HN.

d

Ngày 20/10/1962, Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư ký UB Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN ra thăm miền Bắc.

Ngày 20/10/1946, Chiến hạm Dumont D’Urville cập bến cảng Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Tổ quốc sau hành trình hơn 4 tháng sang thăm và tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao vì nền độc lập của dân tộc ta và sự hợp tác thân thiện giữa 2 nước Việt – Pháp. Chính quyền và các tầng lớp nhân dân Hải Phòng cũng đại diện Chính phủ ta cũng như lực lượng quân Pháp đã đón tiếp theo những nghi thức trọng thể. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức nhắc lại tiếng còi chào mừng của Thành phố Cảng viết: “Chưa bao giờ bến cảng này lại có một hồi còi làm rung động trái tim của hàng chục vạn con người như chiều hôm nay”. 

Có một câu chuyện về cuộc gặp của Bác với một người bạn cũ. Trong lúc đang gặp gỡ các đại biểu tại Uỷ ban Hành chính Hải Phòng, Bác được báo là có một ông già mù muốn được gặp cụ Chủ tịch. Vừa nhìn thấy vị khách, Bác vội đứng dậy dắt ngồi xuống ghế. Đó là một người bạn cũ, 35 năm trước đã từng làm việc cùng Bác dưới một tàu biển. Vị khách vừa nói “Thưa Hồ Chủ tịch…” thì Bác ngắt lời: “Cứ gọi tôi là Ba như trước…”.

Bác đã nghỉ lại Hải Phòng một đêm tại Trường nữ học Minh Khai dự tiệc và thăm hỏi các tầng lớp nhân dân.

Ngày 20/10/1962, Bác thân mật và nồng nhiệt tiếp Đoàn Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm trưởng đoàn ra thăm miền Bắc. Chính trong buổi găp gỡ này, Bác đã nói một câu làm rung động lòng người: “Hình ảnh của miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi”.

X&N
bee.net.vn

Thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình

– Ngày 13/1/1960, cách đây tròn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân và Gia đình. Luật đã được kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá II thông qua.

Trong bài nói tại Đại hội Đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý: “Thưa đồng bào yêu quý. Chúng ta đều nhất trí xác nhận rằng kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội đã đạt được kết quả rất to lớn và ảnh hưởng sâu xa. Như Luật Hôn nhân và Gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Tháng 1/1959, Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt NamTháng 1/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Kỳ họp thứ 11của Quốc hội khoá I diễn ra tại Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội từ ngày 18 đến 31/12/1959 có nhiều nội dung quan trọng trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình.

Liên quan đến bộ Luật này, bà Lê Thị Xuyến thay mặt Tiểu ban soạn thảo trình bày văn bản dự thảo, tiếp đó các đại biểu sôi nổi thảo luận về căn bản tán thành bộ luật quan trọng này. Bác Hồ góp ý rằng dự thảo dùng nhiều chữ Hán – Việt, cần sửa để dân dễ hiểu và làm theo; đại biểu Công giáo của tỉnh Hà Tĩnh là ông Vương Đình Long không tán thành “ly hôn” vì nó trái với giáo lý của Đạo…

Sau cùng Bác phát biểu: “Quốc hội đã phát biểu sôi nổi, thế là tốt. Tuyệt đại đa số các đại biểu tán thành Luật Hôn nhân và Gia đình, có một đại biểu không tán thành. Đó là vấn đề tôn giáo. Chúng ta tôn trọng tự do tín ngưỡng. Xã hội luôn luôn biến đổi, tiến lên mãi không bao giờ thụt lùi. Đó là quy luật. Chúng ta ra Luật Hôn nhân tức là luật lấy vợ lấy chồng, xây dựng gia đình.

Vì sao trong luật đó lại có điều khoản nói đến ly hôn, tức là bỏ vợ, bỏ chồng? Chính vì chúng ta còn ảnh hưởng của chế độ phong kiến cũ, còn có những đôi vợ chồng bị ép buộc lấy nhau không chung sống với nhau được nữa. Luật phải cho phép họ bỏ nhau để giải phóng cho họ.

Nhưng sau này, nếu ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, tình trạng ép buộc không còn nữa, gia đình chúng ta xây dựng sẽ hoà thuận, hạnh phúc, thì những điều khoản về ly hôn mà đại biểu Vương Đình Long lo lắng sẽ không cần nữa. Tức là nếu chúng ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, thì sau này, trong một thời gian ngắn, xã hội tiến lên, con người tiến lến, ly hôn sẽ không còn nữa”.

Sáng 29/12/1959, Quốc hội biểu quyết với 193 phiếu thuận và 1 phiếu không biểu quyết. Bác phát biểu:“Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình là nhiệm vụ của toàn dân…”.

X&N

bee.net.vn