Nói chuyện với nhà báo Oóclốp (Liên Xô) về kỳ công của khoa học Liên Xô (15-4-1961)

Cũng như những người cộng sản và tiến bộ khắp thế giới, tôi rất vui sướng về sự thành công rực rỡ của con tàu vũ trụ của Liên Xô do đồng chí Gagarin lái đã trở về Tổ quốc Xôviết một cách bình yên. Thành công khoa học của Liên Xô sẽ giúp tǎng thêm hạnh phúc cho loài người và củng cố hoà bình trên thế giới.

————————–

Báo Nhân dân, số 2584, ngày17-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (25-4-1961)

Thưa các vị đại biểu,

Tôi xin thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, thân ái chào mừng các vị.

Đại hội lần này họp đúng vào lúc Mặt trận chúng ta 20 tuổi. Tuy trẻ tuổi, Mặt trận đã có một quá khứ rất oanh liệt và đang có một tiền đồ rất vẻ vang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Mặt trận đã đoàn kết toàn dân trong cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và trong cuộc kháng chiến cứu nước thắng lợi.

Từ ngày hoà bình lập lại và từ Đại hội lần trước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (25) (1955) đến nay, ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhân dân ta đã giành được những thành tích rất to lớn về mọi mặt.

VỀ CÔNG NGHIỆP:

Nǎm 1955 – chúng ta chỉ có 45 xí nghiệp cũ kỹ, với một số máy móc xộc xệch, thiếu trước, hụt sau.

– Nǎm nay – chúng ta có 205 xí nghiệp quốc doanh với những máy móc mới nhất do các nước anh em ta giúp.

VỀ NÔNG NGHIỆP:

– Nǎm 1955 – hầu hết đồng bào nông dân ta còn làm ǎn riêng lẻ, phong trào hợp tác hoá mới bắt đầu với tám hợp tác xã gồm l06 hộ xã viên.

– Nǎm nay- hơn 86% đồng bào nông dân đã đoàn kết lại trong 41.400 hợp tác xã với 2.404.800 hộ xã viên.

VỀ VĂN HOÁ:

– Nǎm 1955 – số trường học cấp I đến cấp III là 4.495 trường với 716.000 học trò.

– Nǎm nay – tǎng đến 6.240 trường với 1.522.000 học trò.

– Nǎm 1955 – chỉ có hai trường đại học với 1.200 sinh viên.

– Nǎm nay – có tám trường với 8.100 sinh viên .

– Nǎm 1955 – chỉ có một trường bổ túc vǎn hoá.

– Nǎm nay có 32 trường bổ túc vǎn hoá và trong công cuộc xoá nạn mù chữ, chúng ta đã đại thắng, v.v..

Khác hẳn với trước kia, hiện nay đại đa số đồng bào thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ đều đã tổ chức làm ǎn tập thể. Những đồng bào công thương tư bản cũng tiếp thụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, tham gia lao động, cố gắng học tập và tiến bộ để góp phần xây dựng Tổ quốc, xây dựng một xã hội mới.

Hiện nay nền kinh tế của ta phần lớn đã xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chế độ bóc lột đã được xoá bỏ. Đó là sự chuyển biến sâu sắc nhất trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta.

Đó là những thành tích rất to. Nhưng thành tích to hơn nữa có lẽ là sự chuyển biến trong con người của nhân dân ta. Vài ví dụ:

– Công nhân ta chẳng những không còn là người “culi” như dưới chế độ thực dân phong kiến, mà cũng không phải là “vô sản” theo nghĩa đen chữ đó, tức là không có của cải gì. Ngày nay, công nhân ta là người chủ tập thể của các xí nghiệp, là giai cấp lãnh đạo nước nhà.

Nông dân ta không còn là nô lệ của địa chủ, không còn phải mơ ước có một “miếng đất cắm dùi” như thời xưa. Ngày nay nông dân ta là người chủ tập thể của hợp tác xã, của nông thôn. Hơn bao giờ hết, họ là người bạn trung thành nhất của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trí thức ta không còn là những người chỉ nằm trong cái tháp ngà và xa rời quần chúng. Ngày nay, trí thức ta là những người lao động trí óc, luôn luôn hoà mình với công nông và cùng công nông ra sức xây dựng xã hội mới.

Sự chuyển biến tốt đẹp đó làm cho lực lượng công nông ngày càng phát triển và liên minh công nông ngày càng mạnh mẽ. Do nền tảng công nông thêm vững mạnh mà Mặt trận của chúng ta càng củng cố và phát triển thêm.

Trên thế giới, thì phe xã hội chủ nghĩa, mặt trận xã hội chủ nghĩa ngày càng hùng mạnh. Một ví dụ rõ rệt: Liên Xô là nước đầu tiên đã thành công rực rỡ trong cuộc phóng tên lửa lên sao Kim và đã cho đồng chí Gagarin lái con tàu vũ trụ bay quanh quả đất rồi lại bay về bình an. Chỉ việc đó cũng đủ làm cho thiên hạ thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa hơn hẳn chế độ tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội chẳng những chinh phục vũ trụ mà sẽ cảm hoá tất cả loài người.

Cùng với phe xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và hoà bình dân chủ ngày càng lan rộng, lên cao. Điều đó càng tǎng thêm lực lượng cho Mặt trận của chúng ta. Và Mặt trận ta mạnh thì lại góp phần làm cho phong trào hoà bình thế giới thêm mạnh.

Bọn đế quốc Mỹ đang hung hǎng xâm phạm miền Nam Việt Nam, Nam Triều Tiên, Đài Loan, nước Lào, Cônggô, Cuba… Cái hung hǎng ấy chỉ là cái hung hǎng giẫy chết trước ngày chủ nghĩa đế quốc tắt thở. Từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, lịch sử thế giới đã chứng minh rằng chủ nghĩa đế quốc thực dân ngày càng suy sụp và sẽ đi đến bị tiêu diệt, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng lợi khắp nǎm châu.

Những thành tích to lớn trên đây đặt ra cho Mặt trận Tổ quốc những nhiệm vụ rất quan trọng: Đối nội, thì Mặt trận phải ra sức động viên các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tôn giáo, các dân tộc, các nhân sĩ tiến bộ – đã đoàn kết phải đoàn kết hơn nữa, cùng nhau đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, làm nền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Trong Đại hội lần trước, Mặt trận Tổ quốc đã nhất trí thông qua bản cương lĩnh đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà. Cương lĩnh ấy rất đầy đủ và rất hợp tình hợp lý. Đó là một cống hiến to lớn của Mặt trận chúng ta. Đối ngoại, thì tǎng cường đoàn kết với các nước trong phe ta và góp phần giữ gìn hoà bình ở Đông Dương, Đông – Nam á và thế giới.

Một mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có “Mặt trận dân tộc giải phóng” (26) với chương trình hoạt động thiết thực và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.

Thưa các vị,

Chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi. Nhưng chúng ta cũng đang có nhiều khó khǎn; chúng ta không chủ quan, tự mãn. Song, khó khǎn là tạm thời. Thuận lợi là cǎn bản. Nhân dân ta đoàn kết nhất trí, mọi người hiểu rõ mình là người chủ nước nhà và quyết tâm làm trọn nghĩa vụ người chủ, thì khó khǎn gì chúng ta cũng vượt qua được và chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi nhiều hơn nữa và to lớn hơn nữa.

Nǎm 1951, cuộc kháng chiến của chúng ta tuy gặp những điều kiện cực kỳ gay go, nhưng trong cuộc Đại hội hợp nhất Việt Minh- Liên Việt (27) tôi có nói:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công.

Những thắng lợi chúng ta giành được trong mấy nǎm qua đã chứng thực điều đó. Ngày nay, đồng bào miền Bắc thì hǎng hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào miền Nam ruột thịt thì anh dũng phấn đấu giành dân chủ tự do, vậy để kết luận, tôi xin phép nhắc lại:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công.

—————————————-

Nói ngày 25-4-1961. Báo Nhân dân, số 2593, ngày 26-4-1961.

(25) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thành lập tại Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, họp từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội. Đây là Mặt trận dân tộc thống nhất kế tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên – Việt.

Tham gia Mặt trận gồm đông đảo các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… nòng cốt là liên minh công nông và do Đảng ta lãnh đạo.

Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có cơ cấu tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương (Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương) đến địa phương (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện, xã).

Quan hệ giữa các tổ chức trong Mặt trận dựa trên nguyên tắc thảo luận dân chủ đi đến thống nhất hành động; thân ái hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tôn trọng tính độc lập của mỗi tổ chức.

Nǎm 1976, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã hợp nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh sứ mệnh đoàn kết toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tr. 346.

(26) Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: Tổ chức Mặt trận thống nhất của nhân dân miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Mặt trận thành lập ngày 20-12-1960 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) và do Đảng ta – trực tiếp là Đảng bộ miền Nam lãnh đạo.

Tham gia Mặt trận bao gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị và thống nhất ở mục tiêu đấu tranh đánh đổ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai; xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đó cũng là nội dung cơ bản trong Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm được công bố ngay trong những ngày đầu Mặt trận mới thành lập.

Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là tổ chức đoàn kết, thống nhất các lực lượng yêu nước miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước trong thời kỳ 1960-1975.

Nǎm 1976, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr. 349.

(27) Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt: Họp từ ngày 3 đến 7-3-1951 tại Việt Bắc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết thống nhất hai tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thành Mặt trận Liên – Việt nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt.

Thành viên của Mặt trận gồm có Đảng Lao động Việt Nam, các đoàn thể, tôn giáo và các đảng phái yêu nước, đoàn kết đấu tranh cho mục đích chung là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đến thắng lợi.

Đại hội đã thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Mặt trận dựa trên nguyên tắc bảo đảm đoàn kết rộng rãi, thực hiện dân chủ, tôn trọng tính độc lập của các đoàn thể, dùng phê bình và tự phê bình để giúp đỡ lẫn nhau. Đại hội nhất trí tán thành việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết 3 dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Đại hội đã bầu đồng chí Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên – Việt. Tr.349.

cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Tôgô (28-4-1961)

Kính gửi Ngài Xinvanuýt Ôlempiô,
Tổng thống nước Cộng hoà Tôgô,
Lômê

Nhân dịp chúc mừng Quốc khánh lần thứ nhất của nước Cộng hoà Tôgô, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi kính gửi Ngài lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Kính chúc nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Tôgô thu được nhiều thắng lợi trong công cuộc củng cố nền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh.

Chúc tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Tôgô ngày càng phát triển.

Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————

Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961
cpv.org.vn

Guồng máy nông nghiệp (28-4-1961)

Trong một công xưởng, có nhiều loại máy móc hình dạng khác nhau và công dụng khác nhau. Những máy móc khác nhau ấy phải bố trí và kết hợp thật ǎn khớp với nhau, thì sản xuất mới tốt.

Nông nghiệp cũng có “guồng máy” của nó. Từ lúc chọn giống đến ngày đưa thóc vào kho, mọi công việc phải ǎnkhớp, nhịp nhàng với nhau, thì kết quả thu hoạch mới tǎng. Sau đây xin tóm tắt nêu mấy điểm chính, để giúp bà con hợp tác xã nghiên cứu:

– Đủ nước. Nhiều phân. Giống tốt. Cày sâu bừa kỹ. Cấy dày đúng mức. Phòng chuột, trừ sâu. Chǎm nom ruộng đất. Cải tiến nông cụ. Đó là tám bộ phận chính trong guồng máy nông nghiệp, nó quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, cho nên thiếu một bộ phận nào cũng không được. Ví dụ:

Muốn tǎng thu hoạch thì nhất định phải tǎng vụ, tǎng diện tích. Muốn tǎng vụ, tǎng diện tích thì nhất định phải cải tiến nông cụ. Một máy cấy thô sơ (kiểu Nam Ninh) có thể cấy gần tám lần cấy bằng tay. Muốn dùng máy cấy thì nhất định phải cày sâu bừa kỹ.

Một ví dụ nữa: Muốn ruộng tốt thì phải bón nhiều phân. Muốn có nhiều phân thì phải đẩy mạnh chǎn nuôi.Muốn phát triển chǎn nuôi thì phải tǎng diện tích trồng thức ǎn cho trâu, bò, lợn…

– Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi để tǎng thu nhập. Phải sắp xếp thế nào để xã viên làm tốt công việc chung của hợp tác xã, đồng thời có thể sǎn sóc miếng vườn của họ. Phải bố trí thế nào vừa phát triển được nghề phụ, vừa không để nghề phụ lấn át nông nghiệp.

– Nông nghiệp phải rất coi trọng ba điều:

Thiên thời – Mùa nào thì cần phải làm việc gì, nhất là phải làm kịp thời vụ.

Địa lợi – Đất nào phải trồng thứ gì cho thích hợp.

Nhân hoà – Xã viên có người khoẻ, người yếu; có người thạo nghề, người chưa thạo. Công việc có việc khó việc dễ, việc nặng việc nhẹ. Phải phân phối thế nào cho người đúng với việc, việc đúng với người và ai cũng có công việc, cũng phấn khởi lao động.

– Hợp tác xã từ 100 hộ trở lên là một đại gia đình. Ngoài công việc chính là tǎng gia sản xuất, hợp tác xã phải tổ chức tốt những việc xã hội và vǎn hoá như: Giúp già, dạy trẻ, cưới hỏi, trông nom người ốm đau, giúp đỡ đàn bà khi thai nghén, v.v..

– Muốn cho guồng máy chạy thật đều, thật tốt, chúng ta phải thực hiện ba điều sau đây:

Cán bộ quản trị phải thật sự dân chủ và chí công vô tư.

Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu trong mọi công việc.

Tất cả xã viên phải đoàn kết nhất trí, phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ, làm đúng khẩu hiệu “Cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

*

* *

Hiện nay khắp nơi có phong trào sôi nổi thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Thế là rất tốt. Nhưng cán bộ ta phải nhớ:

1- Phải giữ vững nguyên tắc tự nguyện,

2- Trước khi mở rộng quy mô hợp tác xã phải chuẩn bị thật tốt tư tưởng và vật chất. Tuyệt đối không nên nóng vội.

T.L.

——————-

Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh) (9-5-1961)

Để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, cần làm tốt mấy việc sau đây:

– Về sản xuất nông nghiệp, cần làm công tác thuỷ lợi tốt, làm phân bón nhiều, chọn giống tốt, cày sâu bừa kỹ, cấy dày đúng mức, v.v..

– Phải ra sức chǎn nuôi, vì chǎn nuôi vừa là một nguồn lợi lớn, lại là một kho phân nhiều.

– Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v.. Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới, thuyền. Muốn có lưới tốt, thì phải có tơ, muốn có tơ, thì phải chú ý trồng dâu nuôi tằm.

– Cần trồng nhiều cây ǎn quả, cây lấy gỗ, cây ngǎn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp.

– Phải ra sức củng cố hợp tác xã, làm đúng khẩu hiệu: cần kiệm xây dựng hợp tác xã.

– Về vǎn hoá, cần cố gắng thanh toán nạn mù chữ và đẩy mạnh phong trào bổ túc vǎn hoá trong cán bộ và nhân dân. Việc vệ sinh phòng bệnh cũng cần tǎng cường. Có sức khoẻ đầy đủ thì sản xuất mới mạnh mẽ.

– Về trật tự, trị an, các đồng chí bộ đội, công an, dân quân cần tiếp tục cố gắng học tập chính trị, nghiệp vụ và vǎn hoá, cần đoàn kết chặt chẽ với nhân dân và giúp đỡ nhân dân. Đồng bào thì cần giúp đỡ các đồng chí ấy làm nhiệm vụ cho thật tốt.

Để làm tốt các việc trên đây, mỗi người phải nhận thật rõ và làm thật đúng nghĩa vụ người làm chủ nước nhà. Cán bộ phải chí công vô tư, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong mọi công việc. Hiện nay, trong số hơn 4.000 nhân dân, chỉ có 180 đảng viên và đoàn viên, như thế là quá ít. Cần phải phát triển thêm và phát triển tốt Đảng và Đoàn.

Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ.

Cán bộ tỉnh Hải Ninh cần phải hướng dẫn và giúp đỡ đồng bào các đảo, để đồng bào các đảo góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, phải hǎng hái thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, phải cố gắng hơn nữa để làm cho đời sống no ấm, vui tươi hơn nữa. Các cháu thiếu nhi phải học hành tốt, lao động tốt, kỷ luật tốt, giữ gìn vệ sinh tốt, đoàn kết tốt.

———————

Nói ngày 9-5-1961. Báo Nhân dân, số 2609, ngày 13-5-1961.
cpv.org.vn

Câu chuyện về tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ thuở còn ấu thơ tôi đã được nghe những lời ru ngọt ngào: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Vâng! Chủ tịch Hồ Chí Minh – một con người sinh ra từ chân lí – người Việt Nam đẹp nhất. Người đã đi xa “Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn” nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức đã trở thành bất tử. Người là kết tinh và toả sáng những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam. Phẩm chất và đạo đức của Người mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho dân tộc Việt Nam noi theo.

Trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Tư tưởng đạo đức của Người bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc đã được hình thành trong suốt chiều dài của lịch sử, kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại để lại. Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng Đảng ta dày công xây dựng bồi đắp đó chính là “Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. Người coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông núi. Bởi lẽ con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước không phải là một đại lộ thẳng tắp, nó đầy chông gai và gian khổ đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mọi người, mọi thế hệ. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng là công việc làm thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, và toàn xã hội.

Ngạn ngữ có câu. “Mọi việc bắt đầu từ lời nói”. Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thủy là hành động”. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh lời nói luôn đi đôi với hành động, điều đó đã trở thành một nguyên tắc sống. Người không chỉ là nhà giáo dục đạo đức mà còn là biểu tượng cao đẹp của đạo đức. Gần nửa cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước, chịu bao đắng cay gian khổ Người vẫn một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, sống giản dị, thanh bạch, gần gũi yêu thương con người. Cuộc đời của Người, tấm lòng của Người với quê hương đất nước là câu chuyện sinh động nhất về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong vô vàn những mẩu chuyện về Người, tôi thực sự tâm đắc và thấm thía trước bài học đạo đức lớn về tấm lòng trung hiếu, nhân nghĩa của Người qua câu chuyện: “Tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu chuyện được kể theo lời kể của các đồng chí cảnh vệ của Bác gồm Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam in trong cuốn: “Những mẫu chuyện đạo đức của Bác Hồ”

Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi (Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam) phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt để tôn trọng nội quy chung. Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, đã quyết định thì phải triệt để thi hành. Nếu đã tự đặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng được”.

Một hôm chúng tôi theo Bác đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân đi lễ, tham quan chùa rất đông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra đón Bác và khẩn khoản xin Người đừng cởi dép, nhưng Bác không đồng ý. Đến thềm chùa, Bác dừng lại để dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ.

Trên đường từ chùa về nhà, xe đang bon bon bỗng đèn đỏ ở một ngã tư bật lên. Đường phố đang lúc đông người. Xe của Bác như các xe khác đều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào được. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một đồng chí cảnh vệ chạy đến bục yêu cầu công an giao thông bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Nhưng Bác đã hiểu ý. Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

– Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc động, hồi hộp chờ người công an giao thông bật đèn xanh để xe qua.

(Lược trích theo tác phẩm những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí minh – Sưu tầm).

Một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một bài học đạo đức lớn đã để lại trong tôi biết bao suy nghĩ và cảm xúc. Tôi chợt nhớ tới câu nói nổi tiếng của một nhà hiền triết phương đông: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là Dân là qúy, Nhà nước là thứ yếu, Vua là không đáng kể. Tiếp thu tư tưởng dân là quý, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân”. Có thể nói đó chính là tư tưởng dân chủ của Người, nó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Dân chủ không chỉ là một phạm trù chính trị mà còn là một phạm trù đạo đức bởi nó gắn với lý tưởng nhân văn, tôn trọng con người, tất cả vì con người và do con người. Cả cuộc đời của Bác là một tấm gương mẫu mực về việc tôn trọng pháp luật. Từ công việc quốc gia đại sự đến những việc làm trong cuộc sống hàng ngày Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tôn trọng luật lệ, tuân thủ nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật. Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ cao nhất của Đảng ở cương vị đầy quyền lực nhưng Người không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực. Người luôn coi mình là nô bộc của dân và luôn tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền dân chủ chính trị được thể hiện rõ trong tổng tuyển cử. Không đặt mình ở cương vị là Chủ tịch nước mà hơn tất cả với tư cách là một công dân có quyền bầu cử, ứng cử. Người nói: “Tôi là công dân của một Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa” và Người yêu cầu nhân dân hãy thực hiện quyền công dân của mình để đảm bảo tự do dân chủ thực sự.

Trong tư tưởng dân chủ của mình Bác cho rằng dân chủ phải gắn với quyền hạn. Quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ cũng có nghĩa là dân chủ phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Sống trong một xã hội dân chủ ai cũng phải tuân theo những quy tắc chung. Xã hội dân chủ là một đất nước có trật tự kỷ cương đảm bảo cho mọi người cùng có quyền tự do dân chủ như nhau. Đứng đầu Nhà nước, Người rất nghiêm khắc đòi hỏi mọi tổ chức Đảng cùng tuân thủ pháp luật, không ai được đứng trên hay ngoài pháp luật. Đó chính là tư tưởng “phụng công thủ pháp”. Sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là tạo ra nó, chính vì thế là một lãnh tụ được dân qúy dân yêu nhưng không bao giờ Người cho phép mình đứng trên nhân dân, không bao giờ Người đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính chất đặc quyền đặc lợi. Bước chân vào ngôi chùa cổ Người đã tuân theo đúng quy định với khách thập phương: cởi dép vào lễ chùa. Đó là một cử chỉ giản dị mà vô cùng cao đẹp thể hiện cái tâm trong sáng thành kính của Người trước sự linh thiêng chốn chùa chiền. Đứng trước một ngã tư đèn đỏ, Người đã nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông như bao người dân khác. Chỉ vậy thôi cũng đủ cho ta thấy cái lớn lao vĩ đại của một con người luôn tôn trọng kỷ cương phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.

Không chỉ vậy Người còn luôn tôn trọng và đề cao quyền tự do dân chủ của con người. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã nhắc lại lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi” và Người khẳng định : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lẽ phải đó đã được Người thực hiện bằng chính cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không theo một tôn giáo nào, nhưng không vì thế mà Người không coi trọng vấn đề tôn giáo. Người chủ trương thực hiện dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo. Dù theo đạo Phật hay đạo Thiên chúa hay bất cứ một tôn giáo nào đều giáo dục con người ta hướng tới cái thiện cái đẹp. Chính vì thế khi bước chân vào ngôi chùa cổ Người thực sự như một phật tử thành tâm hướng thiện. Trước con mắt của du khách nước ngoài, của các vị tăng ni phật tử và bà con, một vị Chủ tịch nước gần gũi hoà mình với nhân dân, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đã khiến họ vô cùng cảm phục.

Đất nước ta đã hội nhập và đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại yếu kém cũng như những khó khăn thử thách ở phía trước. Vẫn còn đó một số ít cán bộ chưa thực sự gương mẫu, tham ô tham nhũng tài sản của nhà nước, quan liêu hách dịch, cậy thế ỷ quyền nhũng nhiễu nhân dân, coi thường pháp luật . Mặt khác các thế lực thù địch trong và ngoài nước với những âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, luôn đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta thực hiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo. Đứng trước các con số khổng lồ về số vụ tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay, tôi thiết nghĩ câu chuyện trên sẽ là bài học đạo đức lớn cho chúng ta noi theo. Vào những năm đầu khi đất nước ta mới giành được độc lập, tuy là một nhà nước còn non trẻ nhưng Bác đã rất chú trọng đến các vấn đề thiết thực trong đời sống như dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và an toàn giao thông.Việc Bác gương mẫu thực hiện đúng những quy định về bầu cử, về luật lệ giao thông đã thể hiện được cái tâm và cái tầm của một người lãnh đạo hết lòng lo cho dân cho nước.

Những mẩu chuyện không xa vời, huyễn hoặc mà rất gần gũi thiết thực đã trở thành một di sản tinh thần quý báu của dân tộc. Đó chính là nhân cách Hồ Chí Minh mà ngày nay đã trở thành nhân cách dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam trong thời đại mới. Vượt qua lửa đạn của chiến tranh, vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian, những bài học đạo đức của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mọi thế hệ người Việt Nam đã và đang nguyện suốt đời học tập rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có biết bao con người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nêu gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả chúng ta học tập. Trong vô vàn những con người ấy phải kể đến vị trí thức yêu nước ( luôn là thần tượng của Tôi trong những ngày còn ngồi ở giảng đường trường Đại học luật TP.HCM người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ .Con người ấy, cuộc đời ấy đã làm xúc động hàng triệu trái tim người Việt Nam nói chung và những người là luật gia, luật sư như chúng tôi nói chung bằng tấm gương đạo đức, bằng sự cống hiến cho sự nghiệp xây dựng nền pháp luật non trẻ của nước CHXHCN Việt Nam .

Tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- Người thầy vĩ đại của mọi thời đại – là một người cán bộ pháp chế của Tổng Công ty Điện lực TP.HCM, một luật gia của Chi hội luật gia EVNHCMC, luật sư của Đòan Luật sư TP.HCM tôi luôn tâm niệm và đang không ngừng rèn luyện để có được những phẩm chất đạo đức cách mạng không thể thiếu của một người cán bộ làm công tác pháp luật. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tôn chỉ sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật được xem là chủ trương quan trọng nhất trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, với vai trò vừa là cán bộ pháp chế, vừa là thành viên chi hội luật gia Tổng công ty Điện lực TP.HCM, tôi sẽ luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ CNV trong Tổng Công ty Điện lực TP.HCM nói chung và Công ty Điện lực Gia Định nói riêng và sẽ không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trở thành một tấm gương đạo đức và tự học. Là luật gia chúng tôi không chỉ phổ biến tuyên truyền pháp luật, chính sách của Đảng và nhà nước và người lao động mà còn phải đi đầu trong công tác chống lại mọi hành vi tham nhũng lãng phí, các lọai tội phạm đi ngược lại sự phát triển của đất nước, khai phá mọi rào cản sự phát triển của xã hội hướng tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một nhiệm vụ vô cùng cao cả và thiêng liêng, chính vì thế tôi luôn cố gắng rèn mình, sửa mình từ lời nói, cử chỉ, hành động của minh trong công việc hàng ngày, trong họat động của Hội luật gia và trong những vụ việc do Đòan luật sư TP.HCM phân công, tôi nguyện suốt đời sống, chiến đấu, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng dẫn cho đồng nghiệp, nhân viên dưới quyền có thể kế tục sự nghiệp quang vinh mà Người để lại.

Từ những bài học đạo đức của Người, đặc biệt qua câu chuyện tôi vừa kể trên đây, tôi thực sự xúc động và kính phục trước cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại, một tấm gương mẫu mực của mọi thời đại. Tôi luôn thầm hứa và nhắc nhở mình phải sống xứng đáng với nghề nghiệp chân chính của mình : Người luật sư của nhân dân.

Có thể nói cuộc đời và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử và đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đó chính là chất người cộng sản toả ánh hào quang soi đường chỉ lối cho mọi thế hệ người Việt, cho bạn, cho tôi và cho tất cả chúng ta. Qua những câu chuyện kể về Người có thể mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng bao trùm lên tất cả là tình cảm trân trọng biết ơn.

Luật gia Khương Kim Tuấn – PCGĐ
hcmpc.com.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với đồng bào công giáo

Bác Hồ luôn quan tâm đến mọi người và thường xuyên vun đắp cho khối đại đòan kết tòan dân tộc. Đồng bào công giáo là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã được Bác Hồ dành cho những tình cảm, sự quan tâm sâu sắc và sự động viên kịp thời, cụ thể.

Bác Hồ nói chuyện với đồng bào Công giáo Thạch Bích

Ngay từ những ngày sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong hòan cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, với bao công việc bộn bề phải giải quyết, nhưng mỗi dịp Nô-en, Bác đều dành thời gian viết thư gửi cho đồng bào công giáo cả nước.

Trong thư gửi các linh mục và đồng bào công giáo ngày Nô-en đầu tiên sau cách mạng thành công (1946) Bác Hồ viết: “Trong lịch sử Việt Nam lần này là lần đầu tiên đồng bào công giáo ta làm lễ Thiên chúa giáng sinh một cách hoàn toàn vui vẻ trong một nước Việt Nam độc lập.

Tôi chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giáo mục Việt Nam , đồng bào công giáo sẽ cùng tòan thể đồng bào trong nước cương quyết chiến đấu để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc”.

Niềm tin đó của Bác Hồ đã được các giáo dân, các vị linh mục, giám mục trên khắp mọi niềm từ Bắc đến Nam đáp lại với những việc làm cụ thể, thiết thực bằng tấm lòng “kính chúa, yêu nước” của mình. Nhiều linh mục đã hăng hái tham gia đóng góp sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi năm 1954. Trong đó, có những người đã được Bác Hồ nêu gương, khen thưởng. Chẳng hạn như anh Vũ Hạnh, một thanh niên công giáo ở Hải Phòng đã mưu trí, dũng cảm lập được thành tích trong kháng chiến và sau đó được cử làm tỉnh đội Hải Kiến (Hải Phòng – Kiến An). Hay như Linh mục Lê Văn Yên ở tỉnh Bắc Ninh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc đã được Bác viết thư khen ngợi. Trong thư có đoạn: “Tôi rất vui là được Ủy ban kháng chiến khu III báo cáo rằng ngòai sự làm tròn nhiệm vụ một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đòan kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm săn sóc anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp. Như thế là ngài đã nêu cao cái gương cần, kiệm, liêm, chính cho mọi người…

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Sau kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hòan toàn giải phóng, Bác Hồ và Trung ương Đảng, Chính phủ về làm việc ở Hà Nội. Mỗi lần có đòan đại biểu các đòan thể, tôn giáo, các địa phương về Hà Nội họp, Bác Hồ đều giành thời gian gặp gỡ, hỏi thăm tình hình mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo. Bác còn giành thời gian đến thăm hỏi các linh mục, giáo dân ở nhiều nơi như Ninh Bình , Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tây…

Bác rất vui khi thấy đồng bào lương giáo đoàn kết cùng nhau lao động, sản xuất chăm lo xây dựng cuộc sống mới, thấy con em giáo dân được cắp sách đến trường, bà con giáo dân được chính quyền tạo điều kiện để cải thiện đời sống và bảo đảm tự do tín ngưỡng. Năm 1964, Bác Hồ trong thư gửi hội nghị đại biểu công giáo yêu nước đã viết: “Tôi rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng Tổ quốc. Các cháu công giáo đi học ngày càng đông và tiến bộ. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hòan toàn đúng. Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục, các linh mục khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước lợi dân”.

Bác Hồ rất đau lòng khi được biết có những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta để chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, làm ảnh hưởng đến lòng yêu nước, kính chúa của giáo dân nước ta. Bác rất căm giận khi được tin kẻ thù xâm phạm tự do tín ngưỡng của đồng bào công giáo, bắn phá nhà thờ ở các nơi như: Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh , Nam Định… và giết hại bà con giáo dân.

Trong một bức thư gửi đồng bào công giáo dịp Nô-en Bác Hồ viết: “Chúng ta ăn tết Nô-en trong sự đau thương vì giặc Pháp tấn công Phát Diệm đã xâm phạm đến đất thánh ta, vì đồng bào công giáo Phát Diệm, Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man.

Vậy trong tết Nô-en này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi ấy. Chúng ta phải đòan kết hơn nữa, kiên quyết hơn nữa để giải phóng đất Thánh của chúng ta và giải phóng tất cả đất nước của chúng ta”.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam , được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta, đồng bào công giáo đã tích cực tham gia cùng đồng bào cả nước làm nên những thành tựu to lớn và những thắng lợi vẻ vang. Nhiều tấm gương của các cá nhân, tập thể địa phương, thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau trong đồng bào giáo dân đã xuất hiện và được giới thiệu tên các sách, báo. Bác Hồ luôn theo dõi sát sao những thành tích của mỗi người và Bác đã kịp thời biểu dương, khen thưởng tặng huy hiệu cho bà con. Chẳng hạn như cụ Nguyễn Hữu Tiến, 61 tuổi, giáo dân ở xã Ngọc Liễu, huyện Hiệp Hòa, Hà Bắc, hay như mẹ Hoạch – người công giáo ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chị Thường, giáo dân ở Hợp tác xã Minh Khai, tỉnh Thanh Hóa, ông Vinh – giáo dân ở xã Quảng Phú, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Kể cả tấm gương của cụ Hộ ở vùng họ đạo sông Cấm (Nghệ An) thay chồng chở bộ đội qua sông giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá; chị Vũ Thị Mến, 19 tuổi giáo dân ở Yên Văn, Ninh Bình cõng học sinh đến lớp học trong hòan cảnh chiến tranh ác liệt cũng đã được Bác Hồ quan tâm và gửi tặng huy hiệu của Người.

Những ngày tháng trước lúc “đi xa”, Bác Hồ vẫn dành thời gian đọc báo “Chính nghĩa” – một tờ báo của đồng bào công giáo để biết những việc làm và thành tích cũng như đời sống của giáo dân ở khắp mọi miền. Những bài viết về thành tích như chị Trần Thị Khoa ở Hưng Nhân (Thái Bình), gia đình cụ Vũ Thế Kỷ ở Hải Thịnh, Hà Nam, hay vợ chồng giáo dân Trần Văn Đức làm việc ở bệnh viện Phát Diệm (Ninh Bình)… đều đã được Bác Hồ đánh dấu đề nghị thưởng huy hiệu của Người.

Có thể nói tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đối với những người có đạo nói chung, đồng bào công giáo nói riêng rất to lớn. Đó cũng là sự thể hiện cụ thể, nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay./.

Quảng Thành Danh
danang.gov.vn

Những đoàn viên cộng sản đầu tiên

Tìm về nguồn cội

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Mát-xcơ-va (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”. Và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội…

Mùa hè năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Nga dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.

Những người lãnh đạo Quốc tế Thanh niên cộng sản (tổ chức này do V.I.Lênin trực tiếp sáng lập từ năm 1919) tha thiết mời Nguyễn Ái Quốc tham gia ban trù bị Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV. Giữa bộn bề công việc đang đến với mình nhưng Nguyễn không thể từ chối.

Người yêu cầu lập ngay một nhóm làm việc trong đó có các đồng chí như Đa Lin, Phó Trưởng Ban quốc tế của Quốc tế Thanh niên cộng sản; Trương Thái Lôi, người anh hùng của Công xã Quảng Châu (Trung Quốc) sau này v.v…

Điều làm cho Nguyễn Ái Quốc hết sức trăn trở nhiều năm nay là tình trạng “Thiếu tổ chức và người tổ chức” ở các thuộc địa tuy “luồng gió mới” của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã làm dấy lên tinh thần đấu tranh ở những nơi còn phải chìm đắm trong đêm đen nô lệ; nhưng chỉ với tinh thần thôi mà “thiếu tổ chức, thiếu người tổ chức” thì liệu những người đang bị đọa đày ấy sẽ làm được điều gì ?

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV diễn ra trọng thể tại hội trường Công đoàn ở Mát-xcơ-va.

Nguyễn Ái Quốc với tư cách là Ủy viên Đoàn Chủ tịch lãnh đạo Đại hội mang thẻ đại biểu số 94, đại biểu duy nhất của thanh niên Đông Dương và cũng là đại biểu duy nhất của toàn thể thanh niên các nước thuộc địa từ Á sang Phi đã phát biểu nhiều lần tại các phiên họp chung ở hội trường.

Song, giờ phút đáng nhớ và gây xúc động nhất chính là lúc Nguyễn Ái Quốc trình bày bản dự thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do chính Người chủ trì soạn thảo(1).

Chỉ một năm sau, tác giả chính của “Luận cương về thanh niên thuộc địa”(2) nổi tiếng ấy có mặt ở Quảng Châu. Tại “Thủ đô cách mạng của Châu Á” này, Nguyễn Ái Quốc đã mở trường, cho xuất bản báo để bồi dưỡng, đào tạo các lớp thanh niên yêu nước Việt Nam từ tổ quốc mình dũng cảm vượt qua vòng vây của kẻ thù đi tìm chân lý cứu nước.

Từ giờ phút này (giữa năm 1925), Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quá trình chuẩn bị sáng lập một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam cùng một tổ chức thanh niên cộng sản Việt Nam làm đội hậu bị cho Đảng, làm lực lượng nòng cột cho phong trào thanh niên yêu nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”(3) và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội.

—————————-

(1) (2) “Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính bản luận cương về thanh niên thuộc địa” – trích luận án phó tiến sĩ sử học mã số 50304 của Văn Tùng công bố trên báo Nhân dân số ra ngày 8/4/1990 nhân tiến tới kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1990.

(3)“Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”, NXBTN-2004-tr.5.


Từ 8 thiếu niên ngày ấy

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 4 hàng 2 từ phải sang) người thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Thái Lan (năm 1926) chọn một số thiếu niên sang Quảng Châu đào tạo. Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Từ những năm 1924 đến 1926, phong trào yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ có sự phát triển gây cho bọn thực dân và phong kiến không ít hoang mang, lo sợ. Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc Lanh (Merlin) của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành nhưng như Trần Dân Tiên nhận định: “Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Cách mạng thanh niên Việt Nam (trước đây gọi là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”), tổ chức tiền thân của Đảng ta. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng và dân tộc. Trường Huấn luyện chính trị do chính Người chủ trì cùng các đồng chí cộng sự Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn… ra đời thu hút nhiều lớp thanh niên yêu nước vượt biên giới đến học rồi trở về nước hoạt động, xây dựng tổ chức.

Với cương vị là người theo dõi phong trào cách mạng các nước châu Á, Nguyễn Ái Quốc biết được lúc này ở vùng Đông Bắc Thái Lan đang có nhiều đồng bào ta do bị thực dân Pháp khủng bố phải lánh sang nước bạn. Họ là những người yêu nước từng tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo. Họ luôn canh cánh trong lòng tinh thần phục quốc, họ mở trường học cho con em, mời các thanh niên từng “Đông Du” ở Nhật về dạy.

Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc, lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Thanh niên Cộng sản Đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong “Quang phục Hội” truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băn khoăn vì còn nhỏ tuổi quá (mới 12). Song cuối cùng, xét về cả tư chất và thân nhân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa vào danh sách. Đó chính là Lê Hữu Trọng.

Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy. Đúng hơn, đây có thể coi là một cuộc “đoàn tụ” giữa những người thân trong gia đình. Để bảo đảm tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý.

Đó là: Lê Hữu Trọng mang bí danh Lý Tự Trọng; Đinh Chương Long mang bí danh Lý Văn Minh; Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất; Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ); Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông; Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ); Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ); Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh./.


Kế hoạch đào tạo lâu dài

Ngôi nhà 13A đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên và 8 thiếu niên (từ năm 1925 - 1927). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại tầng hai ngôi nhà 13A phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đồng chí Lý Thụy yêu cầu Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên mà cụ thể là đồng chí Lê Hồng Sơn tổ chức một lớp học chính trị ngắn ngày…

Sau khi thành lập, hầu như tuần nào đồng chí Lý Thụy cũng đến thăm lớp. Người thường kể về các tấm gương anh hùng của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung và cả Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cho học sinh nghe. Người còn yêu cầu tổ chức cho học sinh tham quan cảnh đẹp, thăm mộ Phạm Hồng Thái… và sinh hoạt văn nghệ.

Những tháng hè và thời gian học chính trị qua nhanh. Thực hiện chủ trương đào tạo có hệ thống của đồng chí Lý Thụy, các đồng chí trong Tổng bộ đã liên hệ đưa 8 học sinh vào học tại trường Trung học Trung Sơn (Quảng Châu) trong lúc chờ đợi việc tiếp tục học tập tại Liên Xô.

Ngày 22/7/1926, đồng chí Lý Thụy gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam… các em còn nhỏ nhưng đã đau khổ nhiều, các em đã để cha mẹ ở nhà hàng ngàn cây số để bí mật đến Trung Quốc…”.

Thư đề nghị bạn nhận đào tạo những “Thiếu niên cộng sản đầu tiên của Việt Nam” này thành những “chiến sỹ Lêninnít trẻ tuổi” và đề xuất kế hoạch tiếp nhận rất cụ thể, chi tiết. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ của Người: “Nilốpxki – Hãng thông tấn Rôxta Quảng Châu, Trung Quốc”.

Cùng ngày, đồng chí Lý Thụy còn gửi cho đồng chí đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản về việc Người đã gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị tiếp nhận một số thiếu niên Việt Nam để đào tạo cùng lời yêu cầu đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp liên hệ với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin ủng hộ chủ trương của Người.

Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc, nhưng ghi địa chỉ với tên là Lưu (không phải là Nilốpxki) cùng cơ quan là Thông tấn xã Rôxta- Quảng Châu, Trung Quốc.
Qua hai bức thư này chúng ta càng thấy rõ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm và kiên trì chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, lớp thiếu niên học sinh Việt Nam đầu tiên nhằm chuẩn bị tiến tới xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta đến mức nào.

Lời đề nghị của Người đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đáp ứng thuận lợi. Tuy nhiên, khi kế hoạch đưa các học sinh Việt Nam sang Liên Xô đang được chuẩn bị triển khai thì ngày 15/4/1927, sau khi Tôn Trung Sơn mất, phái hữu (phản động) trong Quốc dân đảng Trung Quốc phá vỡ sự hợp tác Quốc – Cộng, làm đảo chính ở Quảng Châu.


Vượt qua thử thách trở thành đoàn viên

Lý Tự Trọng (dấu +) cùng các học viên Trường Võ bị Hoàng Phố viếng mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương (Trung Quốc)

Không chịu khuất phục trước sự phản bội hèn hạ của bọn phản động Quốc dân đảng, ngày 11/12/1927, một cuộc khởi nghĩa làm chấn động thế giới đã nổ ra ở Quảng Châu.

Theo lời kêu gọi của Ban Chấp hành Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và chủ trương của Tổng bộ Hội Cách mạng Thanh niên, 8 học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn cùng với hầu hết học viên Việt Nam Trường Võ bị Hoàng Phố đã sát cánh với các chiến sỹ cộng sản Trung Quốc cùng đội ngũ công nhân và quần chúng cách mạng chiến đấu quyết liệt với quân đội của bọn phản động.

8 học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn chia thành từng nhóm gia nhập các đội tuyên truyền, liên lạc, tiếp vận … phục vụ quân khởi nghĩa. Đây là cuộc thử thách quyết liệt đầu tiên đối với họ. Lúc đầu Lý Phương Đức và Lý Tự Trọng tham gia vào Đội Liên lạc, nhưng sau đó Trọng xin cấp vũ khí và tham gia Đội Tự vệ công nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến lũy dựng lên khắp các đường phố.

Song, khởi nghĩa Quảng Châu sớm bị dìm trong bể máu do lực lượng và trang bị chênh lệch. Quân khởi nghĩa rút ra khỏi thành phố. Rất nhiều chiến sỹ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam có mặt ở Quảng Châu, trong đó có các học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn bị bọn phản động bắt giam, tra tấn… Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức và các anh chị khác đều khảng khái hỏi lại chúng: “Chúng tôi chỉ là học sinh, các ông bắt chúng tôi về tội gì?”. Không một ai hé ra nửa lời, kiên cường chịu đựng đòn roi.

Các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bị lộ đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố đòi trả tự do cho những người bị bắt. Với tinh thần quốc tế, các đồng chí đã tìm các luật sư có tiếng lúc ấy bảo vệ cho các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam.

Không có bằng chứng nên cuối cùng bọn phản động phải trả tự do cho các đồng chí ta trong đó có hầu hết học viên Trường Võ bị Hoàng Phố và học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn do trong hồ sơ đều ghi rõ là quê ở Quảng Đông. Một bộ phận các đồng chí cách mạng Việt Nam đã học ở Hoàng Phố chuyển về căn cứ địa Đông Giang tham gia xây dựng Hồng quân công nông Trung Quốc như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn …

Bộ phận khác phân tán đi vào quần chúng làm công tác vận động cách mạng. 8 học sinh Trường Trung Sơn buộc phải thôi học và cũng thực hiện việc phân tán theo các chiến sỹ cách mạng Việt Nam.

Qua thử thách trong đấu tranh thực tiễn, 8 học sinh Việt Nam đều lần lượt được kết nạp vào Đoàn. Lý Tự Trọng là người đoàn viên thứ tám do đến năm 1929, Trọng mới đủ 15 tuổi.

Trước yêu cầu mới, Trọng rời Quảng Châu sang Hương Cảng làm công nhân ở bến tàu giúp các đồng chí ta nối đường dây liên lạc về trong nước và đi các nước. Một số đoàn viên khác trong lớp 8 đồng chí đầu tiên về sau tìm được cách sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trước đây.


Họ đã sống và chiến đấu như thế

Ban Bí thư Trung ương Đoàn gặp mặt thân mật 2 nữ đoàn viên trong số 8 đoàn viên thuộc lớp đầu tiên nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đoàn: Lý Phương Thuận (thứ 2 hàng 2 từ phải sang), Lý Phương Đức (thứ 2 hàng 3 từ phải sang). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”…

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Hương Cảng để chuẩn bị chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Lý Tự Trọng được đồng chí Ung Văn Khiêm đưa về Sài Gòn hoạt động. Số đoàn viên còn lại (trong 8 đồng chí nêu trên) tiếp tục công tác ở Quảng Châu và tại tỉnh Quảng Đông cùng các đồng chí cách mạng Việt Nam trong số đó có nữ đoàn viên Lý Phương Thuận lúc này lấy tên là Lý Tam hay còn gọi là cô Ba.

Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thành công tốt đẹp, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện với chính cương, sách lược, điều lệ … mở ra thời kỳ mới cho cách mạng nước ta.

Do một sơ suất từ bên ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này lấy tên là Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt giữ và đứng trước nguy cơ bị chúng trao cho mật thám Pháp theo sự dàn xếp, đeo bám của thực dân Pháp.

Cùng bị bắt với Tống Văn Sơ có đoàn viên Lý Phương Thuận (Lý Tam). Mặc dù bị tra hỏi và đe doạ gắt gao kể cả đòn roi, Lý Phương Thuận nhất mực không khai báo nửa lời, giữ tròn khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản.

Luật sư Lô-dơ-bai nổi tiếng đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù với lòng cảm phục nhà lãnh đạo cách mạng lớn của Việt Nam.

Ông bà Lô-dơ-bai đã hết lòng giúp Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ trở lại Liên Xô … Lý Tam vô tội trở lại với đội ngũ chiến đấu của mình và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về nước công tác.

Ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp kết án tử hình do trước đó (ngày 8/2/1931), anh đã bắn chết tên mật thám Pháp cáo già khét tiếng tàn bạo Lơ-gơ-răng trên đường phố Sài Gòn nơi có sân bóng đá La-ray-nie.

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”.

Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp bước theo anh và các đồng chí của anh coi đó là bản Tuyên ngôn bất diệt trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

10 năm sau, kể từ ngày 17/4/1931, quân đội của phát xít Đức tiến sát Thủ đô Mát-xcơ-va trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự (tức Tợ), ba trong số 8 đoàn viên đầu tiên cùng các đồng chí Việt Nam khác đang học tập và làm việc tại Liên Xô tình nguyện tham gia sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô.

Cả ba đồng chí đã hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam Mát-xcơ-va và đều được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Vệ quốc cao quý.

Trong các cuốn biên niên sử của Đoàn ta, Đội ta, 8 đoàn viên ấy – “tám cháu hiếm hoi từ bước đầu” do Bác Hồ kính yêu bồi dưỡng, đào tạo mãi mãi là 8 đoá hoa ngát hương trong rừng hoa rực rỡ của triệu, triệu chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng, của Bác. Hãy nhận lấy và nhân lên niềm tự hào và sự vinh quang không dễ gì có được này.


Đoàn ta ra đời

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Matxcơva (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Người và các đại biểu đặc biệt quan tâm đến công tác vận động thanh niên. Cùng với việc thông qua Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Hội nghị đã thông qua Điều lệ Thanh niên Cộng sản Đoàn.

Trong Điều lệ của Đảng ghi một điều quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Hội nghị còn nêu rõ trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với công tác xây dựng Đoàn.

Quán triệt tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, tháng 10/1930, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất đã thảo luận và thông qua một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử mở ra thời kỳ mới trong quá trình xây dựng tổ chức Đoàn.

Đó là “Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động”. “Án nghị quyết” đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của tất cả các đảng viên cộng sản bằng một câu khẳng định như sau: “… Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như việc Đảng vậy…”.

Ngày 20/4/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhận được một bức thư quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài gửi về trong đó Người nhắc nhở Trung ương về việc phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn.

Đặc biệt, trong thư Người đã thông báo cho Trung ương biết số lượng đoàn viên trong cả nước đến lúc ấy là 942 đồng chí (trừ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang bị địch khủng bố ác liệt sau khi bùng nổ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh – chú thích của người viết).

Cuối thư Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất Thanh niên Cộng sản Đoàn… làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ rất phù hợp và thống nhất với chủ trương của Trung ương về quá trình xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, làm tăng thêm tầm quan trọng, tính khẩn trương của vấn đề.

Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tiến hành Hội nghị lần thứ 2. Tại Hội nghị này Trung ương đã dành nhiều thời gian trong những ngày cuối để thảo luận và tiếp tục có những quyết định quan trọng về công tác thanh vận như chính thức chỉ định một đồng chí trong Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách công tác vận động thanh niên.

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai vạch rõ: “…lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn…”.

Trước đây, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) quyết định lấy ngày 20/4 hàng năm làm ngày kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn. Đó là ngày ra đời của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba (1961), Ban Bí thư Trung ương Đoàn (khóa II) quyết định thành lập Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn nhằm từng bước làm sáng rõ những vấn đề quan trọng trong lịch sử Đoàn và phong trào thanh niên nước ta trong đó có việc xác định một cách khách quan, khoa học thời điểm ra đời của Đoàn phù hợp với thực tiễn lịch sử.

Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 đã thảo luận và biểu quyết lấy ngày 26/3/1931, một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hàng năm đúng với thực tiễn lịch sử đã diễn ra.

Theo Văn Tùng (Nhà sử học)
Phương Thúy (st)

cpv.org.vn

Thư gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 nǎm ngày thành lập Đội thiếu niên tiền phong (14-5-1961)

Các cháu yêu quý,

15 tháng 5 nǎm 1961 là ngày kỷ niệm 20 tuổi của Đội thiếu niên tiền phong. Bác gửi các cháu lời chúc mừng thân ái nhất.

Trong thời kỳ qua, từ Bắc đến Nam, thiếu niên và nhi đồng đã hǎng hái tham gia cách mạng và kháng chiến, có những thiếu niên và nhi đồng đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc, như Kim Đồng, Lê Vǎn Tám và nhiều cháu khác.

Từ ngày hoà bình trở lại, ở miền Bắc có Đảng lãnh đạo, có Đoàn giúp đỡ, các cháu đều chǎm chỉ học hành, tham gia lao động, cháu nào cũng ngoan. Bác vui lòng khen ngợi các cháu.

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ đến thiếu niên và nhi đồng ở miền Nam ruột thịt, đang bị bọn Mỹ – Diệm áp bức đoạ đày.

Để ủng hộ đồng bào miền Nam (kể cả thiếu niên và nhi đồng) đấu tranh chống Mỹ – Diệm, đồng bào miền Bắc phải thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Các cháu cũng tham gia đấu tranh, bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

– Yêu Tổquốc, yêu đồng bào.

– Học tập tốt, lao động tốt.

– Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.

– Giữ gìn vệ sinh.

– Thật thà, dũng cảm.

Mai sau, các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn!

BÁC HỒ

———————-

Báo Nhân dân, số 2610, ngày 14-5-1961.
cpv.org.vn

Vài ý kiến về “phong trào Duyên Hải” (15-5-1961)

Phong trào học tập Duyên Hải và thi đua với Duyên Hải đang phát triển mạnh ở các xí nghiệp và công trường. Đó là một điều rất tốt.

Vì sao, cũng những máy móc ấy và những công nhân ấy, trước kia thì nǎng suất thấp kém, mà nay trong các cuộc biểu diễn kỹ thuật thì nhà máy nào cũng vượt mức gấp hai, gấp ba, có khi gấp mười lần.

Bởi vì trước kia những tư tưởng sai lầm như: bảo thủ, bị động, cục bộ, tự ti… là những cái xiềng xích nó trói buộc người công nhân không để cho họ tiến tới. Ngày nay tư tưởng đúng đắn, tức là tư tưởng làm chủ nước nhà, làm chủ xí nghiệp, đã đánh thắng tư tưởng sai lầm, cởi mở cho người công nhân trở nên mạnh dạn, dám nghĩ dám làm, phá tan những mức hạn lạc hậu, khắc phục được mọi khó khǎn, xung phong vào mặt trận kỹ thuật, sáng tạo ra những lề lối sản xuất mới hơn, tốt hơn.

Do tư tưởng thông suốt mà quần chúng gây nên phong trào Duyên Hải. Lại do phong trào Duyên Hải phát triển mà tư tưởng của quần chúng càng thông suốt thêm.

Muốn cho phong trào phát triển một cách vững chắc, công nhân và cán bộ cần chú ý:

– Phải bảo đảm chất lượng – Không nên chỉ dốc sức vào số lượng nhưng không bảo đảm chất lượng, không tiết kiệm được nguyên liệu, vật liệu, không hạ được giá thành (Nhà máy dệt đã mắc khuyết điểm này).

– Phải tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”, khi biểu diễn kỹ thuật thì rất khá, nhưng khi sản xuất thì lại không đạt kế hoạch (Như phân xưởng cao su).

– Lãnh đạo phải theo dõi thật sát, kịp thời tổng kết kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cả nhà máy và trao đổi kinh nghiệm với những xí nghiệp bạn.

– Phải nắm vững mục đích của phong trào là thực hiện khẩu hiệu: sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Phong trào Duyên Hải phát triển vững chắc và rộng khắp, thì chúng ta nhất định hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm nay và hoàn thành trước thời hạn kế hoạch 5 nǎm.

T.L.

In bài
Báo Nhân dân, số 2611, ngày 15-5-1961.
cpv.org.vn

Quế Lâm phong cảnh (5-1961)

QUẾ LÂM PHONG CẢNH (28)

Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ,
Như thi trung họa họa trung thi.
Sơn trung tiều phu xướng,
Giang thượng khách thuyền quy.
Kỳ !
Nhất cửu lục nhất niên ngũ nguyệt

Dịch nghĩa

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Phong cảnh Quế Lâm đẹp bậc nhất trong thiên hạ,
Khác nào tranh vẽ trong thơ, thơ trong tranh vẽ.
Trên núi, những người hái củi ca hát.
Dưới sông, thuyền khách trở về…
Thật kỳ lạ.

5-1961

Dịch thơ

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Quế Lâm phong cảnh tuyệt vời,
Thơ đan trong họa, họa cài trong thơ.
Tiều phu trên núi hát ca,
Dưới sông thuyền khách vào ra:
Diệu kỳ!

——————–

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr.201-202.

(28) Quế Lâm phong cảnh: Là bài thơ vịnh cảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nǎm 1961. Ngày 16-5 nǎm đó Người đi máy bay từ Hà Nội đến Quế Lâm. Quế Lâm là nơi sơn kỳ thuỷ tú, phong cảnh hữu tình nổi tiếng ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), từng có câu cổ ngữ “Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ” nghĩa là phong cảnh Quế Lâm đứng bậc nhất thế giới. Đây là nơi Người từng hoạt động trong thời kỳ kháng Nhật. Trên máy bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại với đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ cùng đi, về tình hình sinh hoạt của Người hồi 1940 ở Biện sự xứ của Bát lộ quân ở Quế Lâm. Người xúc động nói: “Thế mà đã hơn hai mươi nǎm rồi. Quế Lâm hẳn đã thay đổi tươi đẹp hơn trước nhiều!”

Người đề bài thơ Quế Lâm này bằng bút lông trên giấy Tuyên chỉ, ký tên và ghi ngày tháng (16-5-1961) rồi đưa tặng Dung Hồ phạn điếm (Khách sạn Hồ cây đa) là nơi Người nghỉ lại.

Đầu đề là của chúng tôi, lấy bốn chữ đầu. Tr. 360.

cpv.org.vn

Vịnh Thái Hồ (5-1961)

VỊNH THÁI HỒ(29)

Tây Hồ (30) bất tỷ Thái Hồ mỹ,
Thái Hồ cánh tỷ Tây Hồ khoan.
Ngư chu lai khứ triêu dương noãn,
Tang đạo mãn điền, hoa mãn san.

Dịch nghĩa

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ không đẹp bằng Thái Hồ,
Thái Hồ lại rộng hơn Tây Hồ.
Thuyền đánh cá đi lại trong nắng sớm ấm áp,
Ruộng thì đầy dâu, lúa, núi thì đầy hoa.

Dịch thơ

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ khôn sánh Thái Hồ đẹp,
Thái Hồ rộng vượt Tây Hồ xa.
Thuyền cá đi về trong nắng sớm,
Ruộng đầy dâu lúa, núi đầy hoa.

—————————-

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 203-204.

(29) Thái Hồ: Hồ nước lớn thuộc địa phận hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang của Trung Quốc, còn có các tên gọi khác là Chấn Trạch, Cụ Khu, Lạp Trạch, Ngũ Hồ, là ranh giới hai nước Ngô, Việt thời Xuân Thu. Diện tích mặt hồ rất rộng, có thuyết nói đến ba vạn sáu ngàn mẫu. Trong lòng hồ có hơn mười hòn đảo lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ba hòn: Động Đình Đông, Động Đình Tây và Mã Tích (dấu chân ngựa). Phong cảnh tươi đẹp, sơn kỳ thuỷ tú, tục gọi là “động thiên phúc địa”. Nước hồ dâng lên về phía đông thành các con sông Lưu Hà, Hoàng Phố, Ngô Tùng đổ vào Trường Giang. Quanh hồ đất đai màu mỡ, là khu vực giàu có của hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tô. Ngày 17-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi thuyền du ngoạn cảnh hồ và viết bài thơ này. Tr. 362.

(30) Tây Hồ: Trung Quốc có nhiều hồ mang tên này, như Tây Hồ ở huyện Mân Hầu tỉnh Phúc Kiến, Tây Hồ ở huyện Thiên Môn tỉnh Hồ Bắc, Tây Hồ ở huyện Huệ Dương tỉnh Quảng Đông, Tây Hồ ở phía tây nam thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam, Tây Hồ tức Côn Minh Hồ ở phía tây Bắc Kinh… đều là những thắng cảnh. Tây Hồ nhắc đến hai lần trong bài này là thắng cảnh nổi tiếng nhất trong số đó, ở phía tây thành phố Hàng Châu tỉnh Chiết Giang. Hồ này còn có nhiều tên khác: hồ Tiền Đường, hồ Minh Thánh, hồ Kim Ngưu. Nhà thơ lớn Tô Thức có câu thơ “Dục bả Tây Hồ tỷ Tây Tử” (Muốn ví Tây Hồ với nàng Tây Thi), nên cũng có tên gọi là Tây Tử Hồ. Ba phía có núi bao bọc, có hai đỉnh cao đối xứng sừng sững ở hai phương Bắc, Nam. Trong hồ có hai con đê, đê Tô và đê Bạch, chia mặt nước hồ thành hồ Trong, hồ Ngoài và hồ Sau. Bốn mùa hoa thắm cỏ tươi, nổi tiếng về mười cảnh đẹp trong hồ (Tây Hồ thập cảnh). Tr.362.

cpv.org.vn