Thuế khoá

Chính sách thực dân ǎn cướp, chẳng những đã tước đoạt mất ruộng đất, của cải, đã xoá bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do – kể cả quyền tự do thân thể của người dân bản xứ, mà còn bắt họ phải nộp thuế về những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp thuế về nghề nghiệp sinh sống của họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa.

Đột nhiên người ta tǎng thuế thân từ một hào lên hai đồng rưỡi. Những người chưa đến tuổi nộp sưu, nghĩa là dưới 18 tuổi, trước kia không phải đóng góp gì, thì nay phải nộp một thứ thuế nặng gấp mấy lần thuế thân của suất đinh trước kia.

Người ta không những tǎng thuế lên gấp bội và bắt những người chưa hề phải đóng góp nay phải đóng góp, mà điều tai hại nhất đối với dân đinh là thuế suất thay đổi luôn và người dân bị bắt buộc phải mang nhiều loại thẻ tuỳ thân, thẻ thông hành, do đó mà phải đóng góp hết sức vô lý và có tính chất cưỡng bức.

Người An Nam bắt buộc lúc nào cũng phải mang thẻ thuế thân trong người, ai hỏi đến đều phải xuất trình. Thẻ dễ bị nhàu nát và bẩn thỉu, nhưng người nào quên hoặc đánh mất thẻ thì bị bắt và bị tù.

Nǎm 1919, người ta đã bỏ việc phân hạng đóng thuế thân ở Bắc Kỳ, chỉ bằng một nghị định của thống sứ. Mọi người dân từ 18 đến 60 tuổi, đều phải nhất luật đóng 5 đồng thuế thân.

Theo một nghị định khác thì bất cứ người An Nam nào không mang thẻ đều có thể bị tù và buộc phải đóng thuế một lần nữa dù trước kia người đó đã nộp rồi.

Để bù vào chỗ hao hụt do đồng bạc bị sụt giá, một viên toàn quyền đã có sáng kiến tǎng gấp bội số người phải chịu thuế lên để bắt các xã phải đóng góp thêm.

*

*     *

Người An Nam phải đóng thuế nặng hơn người ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương và Nhật Bản nhiều. Nhưng đời sống kinh tế ở Nam Dương, ấn Độ và Nhật Bản lại cao hơn ở Đông Dương nhiều lắm, dân những nước này có thể đóng góp dễ dàng số thuế quá nặng đối với người An Nam.

*

*     *

Trước thời Pháp thuộc, bộ thuế điền thổ ghi đầy đủ ruộng đất công và ruộng đất tư có phân hạng theo loại sản vật trồng trọt. Thuế suất chỉ đánh từ một đến nǎm hào một mẫu đối với ruộng cấy lúa. Đối với các loại ruộng đất khác, thuế suất đánh từ hai hào đến một đồng tư. Đơn vị diện tích là mẫu tức là một diện tích vuông mỗi cạnh độ 150 thước. Chiều dài của một thước An Nam thay đổi tuỳ từng tỉnh từ 42, 47 đến 64 xǎngtimét, do đó diện tích một mẫu tuỳ nơi có thể là 3.970, 4.900 hoặc 6.200 mét vuông.

Để tǎng thêm thu nhập cho Nhà nước, người ta dùng một đơn vị đo đạc, dài 40 xǎngtimét, ngắn hơn tất cả các đơn vị thường dùng, vì vậy diện tích một mẫu chỉ còn 3.600 mét vuông. Bằng cách đó thuế điền thổ đã tǎng lên nhiều hay ít khác nhau tuỳ từng tỉnh: nơi thì tǎng một phần mười, nơi thì tǎng một phần ba, nơi bị thiệt thòi nhất thì tǎng đến hai phần ba.

Từ 1890, thuế trực thu tǎng lên gấp đôi; từ 1896 đến 1898 tǎng lên một nửa và cứ như thế tǎng lên mãi. Các xã thì cứ nai lưng ra đóng góp; còn biết kêu ai bây giờ? Bóp nặn được thì bọn công sứ lại càng ra tay bóp nặn. Bọn Pháp này cho rằng các xã vẫn ngoan ngoãn nộp đủ thuế thì tức là thuế má chưa đến nỗi quá nặng nề!

*

*     *

Hằng nǎm người ta phân bổ cho mỗi làng phải nộp thuế cho một số đinh và một số ruộng đất các hạng. Cần có thêm tiền để chi tiêu chǎng? Người ta cứ sửa lại con số, mặc dầu đang giữa nǎm, rồi người ta bắt các làng phải đóng đủ thuế cho số đinh, điền cao hơn số quy định đầu nǎm. Vì thế mà ở một tỉnh Bắc Kỳ, toàn bộ diện tích chưa tới 120.000 hécta mà bản thống kê lại ghi những 122.000 hécta ruộng và cứ như thế, người An Nam vẫn phải cúi đầu đóng thuế khống cho những ruộng đất không có thực. Có kêu ca cũng chẳng ai thèm nghe!

Không những thuế đã nặng nề mà lại còn thay đổi luôn.

Việc Chính phủ có nhân nhượng phần nào trong việc thu một số khoản thuế lưu thông hàng hoá đã làm cho dân làng bị phiền nhiễu hơn và đã mở đường cho tệ nhũng lạm. Có hôm người ta tha không đánh thuế cho một người gánh một gánh cau, nhưng hôm sau người ta lại bắt người đó đóng thuế tuy gánh một gánh nhẹ hơn. Đánh thuế như vậy thì khó mà công bằng được. Người ta cấp một giấy phép lưu thông cho 150 kilôgam thuốc lào. Sắp xếp làm sao để khỏi phải đánh thuế nhiều lần vào cùng một số thuốc đó khi số hàng này đã chuyển sang tay một chủ khác, hay khi 150 kilôgam thuốc đó đã đem chia cho ba, bốn người mua? Chỉ có tuỳ ở các ông nhà đoan, muốn làm gì thì làm chứ không có luật pháp nào cả. Cho nên người An Nam rất sợ nhà đoan, thoáng thấy nhân viên nhà đoan là họ đã vứt ngay giữa đường thúng muối, thúng thuốc lá hay thúng cau mà họ đang gánh trên vai; thà mất của còn hơn là đóng thuế quá nặng. Có vùng, người An Nam buộc phải nhổ thuốc lào, chặt cau đi, để tránh khỏi bị phiền nhiễu vì các thứ thuế mới.

Nǎm ngoái, miền trung Trung Kỳ bị điêu đứng vì nạn đói. Không cứu giúp thì chớ, Chính phủ còn tǎng thuế lên 30%.

Nhiều tỉnh ở Nam Kỳ bị nạn lụt phá hoại. Người ta cấm người An Nam bàn đến việc đó và cấm tổ chức lạc quyên giúp đồng bào của họ bị nạn. Hơn nữa, trong lúc dân chúng đói khổ vì thiên tai như vậy người ta vẫn bắt dân đóng thuế như thường lệ. Để thu cho được thuế, đã xảy ra bao nhiêu vụ lạm quyền, bao nhiêu cuộc truy bức thậm tệ đối với dân bị nạn.

Ở Cao Miên, có nhiều phụ nữ khốn khổ, chân mang xiềng sắt, phải đi quét đường. Họ chỉ có một tội là không nộp được thuế.

cpv.org.vn

Cuộc kháng chiến

Mặc dầu bọn vua chúa ươn hèn, mặc dầu địch đang chiếm ưu thế và mặc dầu chế độ quân chủ đã làm cho dân chúng quen lạnh nhạt, bàng quan, dân chúng cũng không thể chịu ách ngoại bang mà không bền bỉ chống lại. Lúc mới thấy các tàu chiến lớn và súng ống tinh xảo thì ngạc nhiên, nhưng khi cảm giác đầu tiên ấy đã qua thì những người yêu nước An Nam liền tổ chức đấu tranh. Cuộc xâm chiếm Đông Dương bắt đầu từ nǎm 1858 mãi đến 1909 mới kết thúc. Chính trong thời kỳ này, khi nhà ái quốc Đề Thám chết thì công cuộc chống Pháp có tổ chức và có vũ trang chấm dứt. Người anh hùng dân tộc ấy cùng với một ít nghĩa quân kiên quyết của ông đã chiếm lĩnh cả một tỉnh nhỏ và đương đầu với thực dân Pháp trong nhiều nǎm. Trong thời kỳ chiến tranh ở châu Âu, nhiều cuộc bạo động đã nổ ra nhưng lại bị dẹp tắt ngay trong biển máu. Trong số các cuộc khởi nghĩa đó, cần chú ý đến cuộc nổi dậy của binh lính An Nam – binh lính sắp được đem sang Pháp – do ông vua trẻ Duy Tân tổ chức. Sau khi âm mưu bại lộ, vua Duy Tân bị phế và đày sang châu Phi.

Trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng của một dân tộc bị áp bức có nhiều hành động oanh liệt và nhiều sự hy sinh lớn, giá kể được ở đây để các bạn biết thì hay lắm, nhưng không thể nói hết được trong phạm vi nhỏ hẹp của buổi nói chuyện này của chúng ta. Vậy nên tôi chỉ có thể nhắc lại đây một đoạn hồi ký của phó đô đốc Rêvâye như sau:

“Nếu chúng ta đánh giá một người qua phẩm chất đạo đức chứ không phải qua những tri thức của người đó, thì chúng ta sẽ bớt kiêu cǎng về tính chất cao đẳng của chúng ta đối với người Viễn Đông, những người biết hy sinh một cách có ý nghĩa.

Nǎm 1862, chúng tôi được phái đi đàn áp một cuộc khởi nghĩa. Viên tư lệnh V. sai một trung uý đem quân chặn đường rút lui của nghĩa quân sau khi họ bại trận.

Mặt trời vừa lặn thì viên trung uý đem lính trở về, rất mệt mỏi, người đẫm bùn. Không thấy tù nhân, thấy nét mặt ai cũng có vẻ bối rối, chúng tôi biết ngay là cuộc chinh phạt này không kết quả. Những người An Nam dẫn đường, đầu cúi xuống, tay bị trói, đang đi giữa bốn người lính mang súng. Thân thể họ, gần như trần truồng, mang đầy vết thương. Viên trung uý bước tới trước viên tư lệnh và lúng túng nói:

– Thưa quan tư lệnh, từ sớm những người đưa đường đã dẫn chúng tôi khắp nơi, lội bùn ngập đến bụng, nhưng chúng tôi không tìm thấy một người chạy trốn nào cả.

Viên tư lệnh cho gọi hai người An Nam đến hỏi.

Hai người này là hai anh em vì họ giống nhau lắm. Chỉ có người anh trả lời những câu hỏi của viên tư lệnh:

– Chúng mày biết chỗ, chúng mày đã thú nhận rồi kia mà.

– Có, chúng tôi có biết chỗ.

– Tao đã giải thích cho chúng mày rất kỹ việc hướng dẫn lính đi tìm ở đâu và bằng cách nào rồi. Chúng mày đã khai hiểu rõ hết.

– Chúng tôi hiểu.

– Tao có nói: “Nếu chúng mày dẫn quân lính đi đúng đường thì chúng mày sẽ thoát chết; nếu đem họ đi lạc thì chúng mày sẽ bị xử bắn”, có đúng tao đã nói như thế không?

– Ông chỉ huy có nói như vậy.

– Chúng mày đã cố tâm làm lạc hướng cả đội quân trong đồng lầy.

Hai chàng thanh niên đứng im lặng.

– Lúc ra đi, tao đã nói trước rằng chúng mày sẽ bị bắn, nếu chúng mày không đưa đúng đường… Có phải như thế không? Trả lời đi.

– Ông chỉ huy có bảo như vậy, người anh cả trả lời.

– Vậy chúng mày biết trước chúng mày sẽ bị xử bắn chứ ?

– Chúng tôi đang chờ đây.

Người Nam Kỳ ấy trả lời với một thái độ chịu đựng rất thản nhiên của người á Đông. Thấy tra vấn đã xong, hai người An Nam chào đi ra.

Viên tư lệnh gọi một tên cai người Thổ Nhĩ Kỳ và bảo: “Lấy bốn lính và đem bắn hai tên tù này sau trại”.

Tên cai Thổ Nhĩ Kỳ vẫy hai người An Nam hai người này đi theo không hề ngập ngừng và cũng chẳng kêu ca gì. Một lát sau, tiếng súng nổ.

Viên tư lệnh mặt bừng đỏ, quay về phía chúng tôi nói: “Thật là anh hùng… ở Hy Lạp có lẽ người ta phải dựng tượng họ đấy, còn tôi, tôi phải bắn họ”.

Đến sáng, nhìn ra ngoài pháo thuyền, chúng tôi thấy bên bờ một tấm biển lớn đóng vào thân cây. Người thông ngôn dịch lại cho chúng tôi nghe một đoạn như sau:

“Các ông đã chiếm mất nhiều tỉnh của chúng tôi để làm giàu thêm cho đế quốc các ông, để cho thanh danh các ông càng thêm rạng rỡ. Các ông có đòi chúng tôi chuộc lại đất đai không ? Chúng tôi sẵn sàng trả, miễn là các ông đừng đánh nhau với chúng tôi nữa và đem quân trở về nước.

“Nhưng nếu các ông từ chối, chúng tôi sẽ không ngừng chiến đấu để tuân theo ý trời. Chúng tôi cũng có chút e ngại trước thế lực của các ông, nhưng chúng tôi sợ trời hơn sức mạnh của các ông. Chúng tôi nguyện sẽ chiến đấu mãi mãi không nghỉ. Khi không còn gì nữa, chúng tôi sẽ lấy cành cây làm cờ, làm gậy để vũ trang cho quân đội chúng tôi. Lúc đó các ông làm thế nào mà có thể sống được với chúng tôi?”.

Đây không phải là những lời nói suông: chưa có một dân tộc nào dám tổ chức kháng chiến trong một tình trạng nguy nan như thế.

Lúc phái quốc gia hấp hối, tôi bắt được một tù nhân có mang theo một khẩu súng lục. Tôi tiếc không giữ lại khẩu súng ấy. Súng làm bằng một cái ô! Tay cầm cán ô dùng làm báng súng; cán ô cắt ngắn còn chừng hai mươi xǎngtimét làm nòng súng; trên nòng có đục một lỗ nhỏ để cắm ngòi thuốc nổ.

Với những khí cụ như vậy, và sau những tai biến khủng khiếp, những người chủ trì còn lại của một dân tộc đã bị dồn đến bước đường cùng – vẫn chiến đấu chống lại quân đội phương Tây. Đôi khi họ giết một vài người chúng tôi bằng cạm bẫy, nhất là họ đã làm cho chúng tôi chết vì bệnh tật, vì phải đuổi theo họ trên những cánh đồng lầy uế khí, dưới ánh nắng gay gắt.

Có nhiều lần đuổi theo bắt những người yêu nước đó mà chúng ta thường gọi là kẻ phiến loạn, tôi cảm thấy vô cùng thương xót cho cả dân tộc ấy và cảm phục những người chỉ huy của họ, những người vững lòng tin ở công lý và có một nghị lực bất khuất.

Cuộc đại chiến kết thúc, dân tộc An Nam cũng như các dân tộc khác đã bị mê hoặc theo những lời tuyên bố rộng rãi của Uynxơn về quyền dân tộc tự quyết. Một nhóm người An Nam trong đó có tôi, đã gửi cho nghị viện Pháp và tất cả những đoàn đại biểu ở Hội nghị Vécxây một bản yêu sách sau đây:

YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Vǎn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình bày với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và tự do hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ;

Cuối bản yêu sách, chúng tôi có viết thêm rất nhiều câu ca tụng nhân dân và nhân đạo.

Nhưng sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn” (59) chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới.

cpv.org.vn

—————————-

59. Chủ nghĩa Uynxơn: Uynxơn là Tổng thống Mỹ từ năm 1913 đến 1921. Năm 1917, Uynxơn tuyên bố nước Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, đứng về phía Anh, Pháp để chống Đức. Khi chiến tranh sắp kết thúc, Uynxơn đưa ra “Chương trình 14 điểm” làm cơ sở cho Hội nghị Vécxây (1919). Nói chủ nghĩa Uynxơn là nói “Chương trình 14 điểm” đó. Thực chất của nó là chính sách đối ngoại ăn cướp của đế quốc Mỹ chống lại nước Nga Xôviết mới ra đời, lợi dụng sự suy yếu của các nước tư bản châu Âu để nâng cao địa vị quốc tế của Mỹ và tăng cường nô dịch các dân tộc bị áp bức. Nhưng nó lại được che giấu bằng những lời lẽ mị dân về “dân chủ” và “quyền dân tộc tự quyết”.

Tháng 9 về quê Bác

Vẫn còn đây hương sen thoang thoảng hai bên đường dẫn chúng tôi về ngôi làng đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong những ngày tháng 9 lịch sử, làng Sen tấp nập những người con dân đất Việt tìm về với tất cả tấm lòng biết ơn Bác kính yêu.

thang 9 ve que bac
Ngôi nhà tại làng Hoàng Trù nơi Bác ra đời.

“Đi khắp phương trời vẫn nhớ tới quê hương/Người về đây thăm làng Trù quê mẹ và làng Sen quê cha/Xúc động bồi hồi Người rơi giọt lệ/Thương mái nhà tranh thương đất mẹ nghèo…”. Theo câu hát, tôi tìm về miền quê nghèo ấy, nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng một tâm hồn vĩ đại. Trong khi những ngôi làng khác đang ngày càng thay da đổi thịt theo xu hướng hiện đại hóa, thì làng Sen vẫn còn giữ được nét cổ xưa, yên bình gần gũi như chính con người nơi đây. Con đường dẫn về làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác) và làng Sen (quê nội Bác) uốn lượn giữa cánh đồng lúa xanh mượt.

Một miền quê quanh năm hứng chịu bao khắc nghiệt của thời tiết nhưng lại mang một vẻ trù phú đầy nhựa sống. Vẫn đó những đầm sen ngát hương, bên cạnh những đồng lúa xanh mượt tạo thành ấn tượng riêng mỗi khi về với quê Bác. Người dân ở đây kể lại rằng, ngày cụ Hoàng Thị Loan trở dạ, đầm sen trong làng bỗng nở rộ và sau cơn mưa to gió lớn, hương sen đưa vào làng bỗng thơm ngát lạ thường. Họ bảo đó là điềm trời báo sinh ra một người con cũng thanh cao, giản dị và đáng tôn quý như bông hoa sen trong lòng người dân Việt Nam.

Vào thăm ngôi nhà tại làng Hoàng Trù, nơi Bác Hồ được sinh ra, hàng râm bụt xanh mướt được cắt tỉa gọn gàng dẫn lối cho du khách vào ngôi nhà lá đơn sơ, nơi đã ra đời một người con vĩ đại. Hàng cau vẫn rì rào trong gió như lời ru gần gũi và thân thuộc. Vào thăm nhà Bác, ai cũng nghẹn ngào xúc động khi được hiểu thêm về một phần cuộc đời Bác, dù có người đã tới đây rất nhiều lần.

Qua giọng kể ngọt ngào đậm chất xứ Nghệ của cô hướng dẫn viên duyên dáng, những kỷ niệm về gia đình Bác hiện lên sinh động cùng với những kỷ vật trong ngôi nhà lá đơn sơ: “Một sáng tháng 5 đầu hè, đúng vào mùa sen nở, khi hương sen ngào ngạt, Bác cất tiếng khóc chào đời trong vòng tay yêu thương của ngoại, và ngoại đã đặt tên cho Bác là Nguyễn Sinh Cung… Năm năm đầu đời Bác đã ở đây và được đón nhận tình thương yêu của ông bà ngoại. Quê mẹ Hoàng Trù là cái nôi đã góp phần hình thành, bồi đắp tuổi thơ và nhân cách cao thượng của Bác…”. Ngôi nhà tại quê nội làng Sen cũng gắn với bao nhiêu kỷ niệm thuở thiếu thời, đã nuôi dưỡng Bác trưởng thành, vun đắp những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước mà mãi 50 năm sau ngày ra đi tìm đường cứu nước, Bác mới có dịp về thăm. Các kỷ vật vẫn còn đó, án thư nơi cụ thân sinh Bác vẫn thường ngồi dạy học, khung cửi – nơi người mẹ chịu thương, chịu khó tảo tần cả đời vì chồng vì con vẫn ngồi dệt vải, phản gỗ nơi các nhà nho yêu nước thường đến bàn chuyện thời cuộc nước nhà với cụ Nguyễn Sinh Sắc… tất cả còn nguyên vẹn với thời gian.

Về quê Bác, mỗi người như tìm về nguồn cội của tâm hồn, bởi Người luôn có một vị trí đặc biệt trong lòng người dân Việt Nam, đúng như câu hát: “Nghĩ về Bác lòng con trong sáng hơn…”. Nơi làng quê yên bình này lúc nào cũng tấp nập đón những người con trên khắp mọi miền đất nước và bạn bè quốc tế đến thăm. Có cụ già đã hơn 80 tuổi, dù đã về quê Bác rất nhiều lần nhưng vẫn dẫn đầu đoàn con cháu trong gia đình về thăm lại làng Sen với tâm niệm dành tất cả tình cảm để tưởng nhớ ngày Bác mất. Tôi bỗng nhớ đến câu chuyện bà tôi kể lại rằng, ngày nghe tin Bác mất qua chiếc loa phóng thanh của làng, cả làng tôi đã bỏ hết công việc, ra ngồi cả ở chân cột điện, nơi treo chiếc loa phát tin buồn và ai cũng khóc nức nở như thể vừa mất đi người thân yêu nhất của mình.

Dù Bác đã đi xa hơn 40 năm nhưng dường như ấn tượng về Người trong lòng người dân Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn. Không chỉ những người đã từng đi qua chiến tranh, đã từng được gặp Bác, trong lòng thế hệ trẻ ngày nay, hai từ Bác Hồ vẫn có một vị trí đặc biệt.

Tạ Nguyên

Theo http://baotintuc.vn
bqllang.gov.vn

Sống mãi tinh thần Ngày Quốc khánh 2/9

Khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới.

Cách đây 67 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã sang trang mới, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đó là thành quả cách mạng vĩ đại của tinh thần đoàn kết triệu người như một của dân tộc Việt Nam.

Với những người dân Thủ đô có mặt tại Quảng trường Ba Đình trong Ngày Quốc khánh 2/9/1945, niềm vui ngày đầu được làm người dân tự do không thể nào quên.

song mai tinh thanBác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)

Ông Lê Đức Vân, ở phố Hồng Mai, quận Hai Bà Trưng người được chứng kiến giây phút lịch sử ngày ấy xúc động nhớ lại: “Không khí 2/9 đón mừng độc lập, mọi người hân hoan, đón mừng Chính phủ và tuyên bố độc lập. Đó là lần đầu tiên người dân được nhìn thấy Cụ Hồ. Ngày 2/9, cả Hà Nội tưng bừng, mọi người làm cổng chào, may cờ, có nhà may 3 cái cờ, rồi học hát Tiến quân ca, học hát Diệt phát xít, toàn dân phấn khởi vì đất nước được giải phóng”.

Bà Ngô Thị Kim Hảo (xã Chí Linh, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) giờ tuổi đã 90. Nhưng cứ đến dịp 2/9, bà lại kể cho con cháu nghe về những ngày tham gia cách đây 67 năm về trước: “Không thể tưởng tượng được, khí thế hừng hực khi đó. Suốt ngày chúng tôi ở đình làng, tập hát, tập bắn súng. Thanh niên tập trung múa hát những bài cách mạng mới, tập quân sự”.

Ngày 2/9/1945 trở thành mốc son trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc. Đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây, một kỷ nguyên mới đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

67 năm qua, ý Đảng, lòng dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, con tàu cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn để vượt trùng khơi. 67 năm ấy, tình đoàn kết muôn người như một đã giúp Việt Nam làm nên chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh và đang khẳng định vị thế Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế. Bài học đoàn kết ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng đất nước hôm nay. Đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân đang quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Sự kiện 2/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, xác lập nền Dân chủ cộng hòa, không chỉ chấm dứt chế độ đô hộ của phát xít, thực dân pháp mà còn chấm dứt chế độ phong kiến, đưa đất nước Việt Nam sang thời kỳ lịch sử mới – đó là nền Dân chủ cộng hòa – để từ sức mạnh của một quốc gia độc lập ấy mà chúng ta tiếp tục cuộc kháng chiến giữ nước để bảo vệ thành quả cách mạng”.

Cũng theo nhà sử học Dương Trung Quốc, với bài học to lớn về ý chí của toàn dân, tầm sáng suốt của người lãnh đạo cũng nhắc nhở tới sự kiện mà chúng ta tiến hành đó triển khai Nghị quyết Trung ương 4, trong đó, lấy con người là yếu tố quan trọng nhất.

Tổ quốc Việt Nam đã độc lập, tự do. Khát vọng hòa bình và tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi con người Việt Nam và đây là nguồn động viên lớn để khơi dậy lòng nhiệt huyết của thế hệ hôm nay quyết giữ vững nền độc lập tự do./.

Theo Thu Hằng/VOV
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Chữ Liêm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết…

liem
Chủ tịch Hồ Chí Minh cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”. Để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết. Chính vì lẽ đó, trong những phẩm chất cần có của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chữ LIÊM.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, LIÊM tức là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước và của nhân dân: “Phải trong sạch, không tham lam. Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người chỉ rõ, do bất liêm mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất Liêm tức là trộm cắp. Người đã dẫn câu nói của Khổng Tử để răn dạy những kẻ bất Liêm rằng: Người mà không liêm không bằng súc vật. Và trong thực thi quyền lực, ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy (Mạnh Tử).

Để thực hiện chữ LIÊM, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Bởi lẽ, theo Người, cán bộ các cơ quan, đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân. Người nói: “Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Vì lẽ đó, hơn ai hết, cán bộ phải thi đua thực hành liêm khiết để làm tấm gương cho quần chúng noi theo. Theo Người, một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách to lớn để từng bước cập bến bờ thắng lợi. Ngày nay, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã gặt hái được nhiều thắng lợi to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Từ kinh tế đến văn hoá… Đặc biệt, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được Đảng ta nhận thức rõ hơn. Song, để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chúng ta còn phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách. Trong đó, một trong những thử thách lớn nhất đối với chúng ta hiện nay là tình trạng thoái hoá, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có quyền, mà biểu hiện của nó là bất LIÊM. Vì bất LIÊM mà tham ô, tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”, “quốc sỉ” đang làm lệch chuẩn những mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, làm băng hoại đạo đức – phong hoá, làm cho lòng dân không yên, đe doạ đến sự an nguy của chế độ… Vì vậy, hơn lúc nào hết, hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải ra sức thực hành chữ LIÊM.

Trước hết, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết. Đảng lãnh đạo và những cán bộ, đảng viên của Đảng phải là hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại. Vì vậy, chúng ta phải quán triệt trong thực tế tư tưởng và cách làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc Người đã dặn lại: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ở thời điểm hiện nay, cần phải thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp… sao cho chặt chẽ, đồng bộ, không còn kẽ hở cho tham nhũng lợi dụng luồn lách. Mặt khác, để phòng, chống tham nhũng lâu dài, đi đôi với siết chặt cơ chế, luật pháp còn phải thường xuyên tăng cường công tác giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành yêu cầu thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân – một kẻ thù nguy hiểm, một thứ “giặc nội xâm”, là nguồn cội của bất LIÊM.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, một trong những nguồn gốc của “quan tham” là do “dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù  “không Liêm” cũng phải hoá ra “Liêm”. Vì vậy, cần phải nâng cao dân trí để dân biết quyền hạn của mình, biết kiểm soát cán bộ, để “giúp” cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Đồng thời, pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ  bất LIÊM, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đang được các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở triển khai thực hiện nghiêm túc, tin tưởng Nghị quyết sẽ tạo sự chuyển biến tích cực trong cán bộ, đảng viên về thực hành chữ LIÊM để xây dựng một Chính phủ liêm khiết và một Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân như mong đợi của nhân dân và như ý nguyện của Bác Hồ./.

Theo NGUYỄN THỊ CHIÊN
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Đôi hài vạn dặm

doi dep cao su
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập

Dân tộc ta thật may mắn khi có một vị lãnh tụ vĩ đại, một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tấm gương sáng ngời đức hy sinh cho Tổ quốc, cho dân tộc. Bác dành cho dân tộc Việt Nam một tình thương bao la, tình thương của một người cha, một người ông cho con cho cháu muôn đời… Những gì Bác hy sinh cho đất nước, cho nhân dân thật cao hơn núi, rộng hơn biển, không có gì có thể sánh nổi. Cả đời Người không có một ham muốn gì cho riêng mình mà chỉ có một ham muốn tột bậc là: “…làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai ai cũng được học hành… ”. Cả đời Người không phải sống trong khuôn khổ của bốn chữ “cần, kiệm, liêm, chính” mà chính Người chứ không phải một ai khác đã làm nên bốn chữ ấy, bốn đức tính của riêng dân tộc Việt Nam chúng ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Một con Người vĩ đại, vĩ đại ngay cả trong những việc bình thường”. Câu chuyện về đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” của Người thi rất nhiều nhưng có lẽ để lại ấn tượng cho mọi người nhiều nhất có lẽ là câu chuyện về “Đôi dép cao su của Bác” – Đôi dép ấy rất đỗi bình dị, mộc mạc đơn sơ, nhưng thật nhiều ý nghĩa như chính cuộc đời Bác kính yêu.  Bởi đôi dép cao su đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác. Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta.

doi dep cao su

Đôi dép cao su đó được cắt từ chiếc lốp ô tô quân sự của thực dân Pháp bị quân và dân ta phục kích, tiêu diệt tại một vùng căn cứ địa Việt Bắc năm xưa. Đôi dép cắt đo không dày lắm, quai trước to, quai sau nhỏ, rất vừa với chân Bác.

Bác hay nói vui với các anh em chiến sỹ rằng: – Đó là đôi hài vạn dặm trong chuyện cổ tích ngày xưa, đôi hài thần đất đi đến đâu mà chẳng được!

Tuy chỉ được làm từ chiếc lốp ô tô quân sự nhưng suốt mười một năm ròng, đôi dép ấy đã theo Bác đi khắp mọi miền Tổ quốc.

Còn nhớ năm 1960, Bác đến thăm một đơn vị hải quân nhân dân Việt Nam. Vẫn đôi dép “thâm niên cao tuổi” ấy, Bác đã đi khắp nơi, thăm nơi ăn, chốn ở, trại chăn nuôi của các đơn vị. Bác đi đến đâu, cán bộ và chiến sĩ rồng rắn kéo theo đến đó, ai cũng muốn chen chân, vượt lên để được gần Bác. Bác vui vẻ nắm tay chiến sĩ này, vỗ vai chiến sĩ khác. Đang đi bỗng dưng Bác dừng lại:

– Các cháu đùa làm tụt quai dép của Bác rồi!

Nghe Bác nói, cả đám im lặng, cúi xuống nhìn đôi dép rồi ồn ào cả lên:

– Thưa Bác, để cháu sửa ạ, cháu mà ra tay thì thế nào cũng xong!

Một anh khác lại thưa:

– Thưa Bác, để cháu, vừa hay cháu có mang theo rút dép đây ạ!

Nhao nhao ầm ĩ lên như thế nhưng đồng chí cảnh vệ chỉ đứng cười vì biết dép của Bác đã phải đóng đinh rồi, có rút cũng vô ích.

Bác nhìn mọi người rồi cười bảo:

– Các cháu từ từ đã nào, cũng phải để Bác đến chỗ gốc cây kia có chỗ dựa mà đứng chứ!

Nói xong, Bác “lẹp xẹp” lết dép đến chỗ gốc cây, rồi một tay Bác vịn vào thân cây, một chân co lên tháo dép ra và bảo:

– Đây dép của Bác đây, cháu nào giỏi thì chữa hộ dùm cho Bác.

Một anh nhanh tay giành lấy chiếc dép, giơ cao lên nhưng lại ngớ ra lúng túng. Anh bên cạnh liếc thấy, phá vòng vây chạy biến. Bác phải giục:

– Các cháu nhanh nhanh lên nhé! Để cho Bác còn đi nữa chứ!

Anh chiến sĩ lúc nãy chạy đi, giờ đã quay trở lại, trên tay còn cầm theo một chiếc búa con và vài cái đinh. Anh nhanh nhảu thưa:

– Bác ơi, để cháu sửa ạ!

Mọi người dãn ra, phút chốc chiếc dép đã được chữa xong. Các chiến sĩ không được may mắn chữa dép cho Bác thì phàn nàn:

– Ưmh…tại dép của Bác cũ quá. Bác ơi, hay là Bác thay dép khác đi ạ!

Bác nhìn mọi người trìu mến rồi bảo:

– Các cháu nói đúng, nhưng chỉ đúng có một phần. Dép của Bác tuy cũ nhưng nó chỉ mới tụt quai, các cháu vừa chữa lại cho Bác thế này thì nó vẫn còn tốt lắm! Bác biết mua đôi dép khác chẳng đáng là bao, thế nhưng khi chưa cần thiết thì cũng chưa nên. Chúng ta cần phải tiết kiệm vì đất nước ta còn nghèo!

Chẳng những khi hành quân mà những ngày đông Bác cũng đi đôi dép ấy. Có hôm trời rét quá, Bác chỉ đi thêm đôi tất cho ấm chân. Tiếp khách trong nước hay khách quốc tế vẫn thường thấy Bác đi đôi dép ấy. Gặp suối trơn hoặc trời mưa, Bác cởi dép ra xách tay. Đi thăm bà con nông dân, sải chân trên những cánh đồng đang vụ cấy hay vụ gặt, Bác xắn quần cao lội ruộng cùng mọi người, tay vẫn không quên xách hoặc nách kẹp đôi dép. Các anh em cảnh vệ đã nhiều lần xin Bác đổi dép nhưng Bác bảo vẫn còn đi được.

Đôi dép đó đã song hành cũng Bác đi mọi miền Tổ quốc, đi khắp năm châu bốn bể, đến thăm những nước bạn gần xa. Không chỉ người Việt Nam, dân tộc Việt Nam biết về đôi dép của Bác, mà bạn bè khắp nơi trên thế giới đều có ấn tượng tốt về đôi dép của Bác.

Đầu năm 1958, đi thăm Ấn Độ, Bác vẫn đi đôi dép thường ngày. Mọi người trong đoàn thấy thế rất ái ngại nên bàn nhau mang theo một đôi giày. Lên máy bay nhân lúc Bác ngủ, anh em đã thay đôi dép bằng đôi giày. Khi thức giấc, Bác hỏi dép, anh em trả lời Bác là đôi dép đã để quên dưới khoang máy bay. Khi xuống sân bay, Bác yêu cầu lấy dép để Bác đi. Bác bảo đừng lo gì cả, đất nước Ấn Độ cũng nghèo như mình, mới có độc lập nên còn nhiều vất vả. Bác đi dép có bít tất thế là rất tốt, họ không chê mình đâu. Nhân dịp này, Bác muốn gần gũi với nhân dân lao động Ấn Độ. Hôm sau trên các trang báo lớn của Ấn Độ đều hết lời ca ngợi Bác là vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới, ca ngợi đôi dép Bác Hồ là một huyền thoại. Trong thời gian Bác ở Ấn Độ đôi dép của Bác đã trở thành tâm điểm chú ý của mọi người, nhất là các chính khách, nhà báo, nhà quay phim, chụp ảnh. Đặc biệt khi Bác vào thăm ngôi đền Taj Mahal (ngôi đền nổi tiếng là Viên ngọc châu của đền đài Ấn Độ), Người để dép ở ngoài  thì những phóng viên thi nhau cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, rồi lại còn ghi ghi chép chép… Rồi tiếp theo đó là đám đông dân chúng ùa vào từ các ngả để được ngắm đôi dép.

anh BH di Ấn Độ
Bác Hồ thăm Ấn Độ (ảnh chụp tại Thành phố Bombay tháng 2 năm 1958)

Đôi dép cao su của Bác rất giản dị, nhưng lại vô cùng đặc biệt, nó đã cùng Bác đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt – cùng bao nhiêu thế hệ Việt Nam đi suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, cùng những Bộ đội Cụ Hồ anh dũng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… hay đến tận hôm nay nó vẫn đồng hành cùng những người Việt trẻ, những thế hệ khi sinh ra thì Người đã đi xa, nhưng phong cách sống, tư tưởng tình cảm của Người mãi mãi dẫn đường chỉ nối cho các thế hệ Việt Nam.

Kim Yến(Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Giáo hội

Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những cǎn cứ xâm lược của Pháp.

Chính những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho đội quân xâm lược. Chính bọn họ đã đưa tin cho gián điệp, dẫn đường cho đội quân viễn chinh và tố giác những người yêu nước. Trong thời chinh chiến ở Bắc Kỳ, nhiều tên giám mục cha cố giả danh đi làm việc thiện, đã len lỏi trong dân chúng An Nam do thám phong trào, đánh cắp kế hoạch phòng thủ thành phố và chuyển cho người Pháp. Biết rõ những vùng giàu có nhưng lại phản đối truyền đạo, đôi khi giáo hội cố ý đưa cha cố về chịu bị ức hiếp để lấy cớ can thiệp và cướp bóc nhân dân.

ở đâu có cuộc nổi dậy, có khởi nghĩa thì nơi đó cha cố biến thành mật thám, nhà thờ Chúa biến thành nơi tra khảo. Trong những buổi xưng tội, bọn cha cố chất vấn người dân quê, doạ nạt họ hoặc hứa hẹn khôn khéo với họ để lấy tin tức về phong trào và các lãnh tụ. Lễ xưng tội xong, các cha chúng ta bèn chạy đi tố cáo với nhà chức trách Pháp.

Về mặt kinh tế cũng như về mặt tinh thần, giáo hội đều tỏ ra rất xứng đáng với Chúa. Lấy danh nghĩa làm việc thiện, người ta tập trung trẻ mồ côi về Nhà chung, thí cho một bát cơm rồi bắt các em làm việc như tù khổ sai. Có những cha cố đã bán những em gái mồ côi do họ trông nom, cho những tên thích đùi non để lấy tiền tiêu. Có cha cố tuyển mộ những người thất nghiệp, đem đi khai hoang và hứa chia lợi cho họ; nhưng khi ruộng đất đã có thu hoạch thì bọn cha cố lại thẳng tay đuổi họ đi.

Để bóc lột người bản xứ, giáo hội đã dùng nhiều mánh khóe mà những thủ đoạn chính như sau:

Trong các cuộc xung đột An – Pháp, người An Nam đi lánh nạn phải tản cư sang các tỉnh lân cận. Khi họ trở về làng thì đất đai của họ đã bị chiếm đoạt. Nhân cơ hội loạn lạc, vắng chủ, Nhà chung đã cướp cả vǎn tự lẫn ruộng đất của họ.

Những nǎm mất mùa, Nhà chung cho nông dân vay tiền nhưng bắt họ phải đưa ruộng đất bảo đảm. Vì lấy lãi cắt cổ nên đến kỳ hạn người nông dân không trả được nợ, thế là tất cả ruộng nương đều rơi vào tay Nhà chung.

Những tên quan cai trị, thống đốc, toàn quyền cũng ít liêm khiết lắm. Chỉ cần nắm được ít giấy tờ bí mật về đời tư và có thể chạm đến thanh danh của họ, thì Nhà chung bèn dùng để làm tiền và đòi hỏi tất cả những điều họ muốn. Vì vậy mà một viên toàn quyền đã phải nhượng lại cho Nhà chung đến 7.000 hécta đất màu mỡ của dân bản xứ. Dân mất quyền sở hữu, bị đuổi đi và buộc phải đi ǎn xin.

Nhà chung còn mở những công ty có những số vốn khổng lồ để khai thác sinh lợi những đồn điền do Chính phủ thuộc địa cho không họ và do “con chiên” cày cấy không công cho họ. Những đồn điền của toà thánh có lúc dùng tới sáu bảy nghìn nô lệ bản xứ. Riêng ở Đông Dương, giáo hội đã chiếm mất 1 phần 5 ruộng đất, và ở Cao Miên đến 1 phần 3.

Đại tá Bécna viết: “Những điều mà người thực dân phải dựa vào Nhà nước mới làm được thì người giáo sĩ vẫn làm được cả, bất chấp Nhà nước. Bên cạnh lãnh địa của người chủ đồn điền, xuất hiện lãnh địa của Nhà chung. Rồi đây không còn rẻo đất nào cho người An Nam cư trú, trồng trọt và sinh sống nữa, nếu họ không cam chịu sống kiếp nông nô”.

cpv.org.vn

Nước An Nam dưới con mắt người Pháp

Nói về nền công lý Pháp ở Angiêri, một nghị sĩ Pháp đã viết một cách châm biếm rằng: “Pháp luật, công lý với người bản xứ ư? Thôi đi! Chỉ có ba toong, súng lục, súng trường, đó mới là những thứ xứng đáng với lũ sâu bọ ấy!”.

Một người Pháp khác, cũng kêu lên như thế này: “ở Đông Dương cũng đúng như vậy đấy, ở đây “công lý” nằm trong tay những tên quan lại thiếu trách nhiệm, hoặc khi chúng ta phải thực hành công lý, thì bằng súng!”. Một người Pháp khác viết: “Nếu viên chủ sự viện kiểm sát xét kỹ theo đúng tinh thần pháp lý thì trong số hai nghìn đến hai nghìn rưởi biên bản lập hằng nǎm ở Bắc Kỳ, không có biên bản nào là có giá trị đối với Pari cả”.

Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam. Thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt người bị cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ǎn cướp hay giết người. Sau đây là vài ví dụ:

Quan cai trị Bôđoanh – bị một viên chức Pháp tố cáo làm giả mạo giấy tờ – được phong chức quyền toàn quyền và được thưởng bắc đẩu bội tinh.

Quan cai trị Đáclơ – bị tố cáo ǎn hối lộ; vì sự nhũng lạm tàn bạo của ông ta mà xảy ra cuộc khởi nghĩa ở một tỉnh làm cho nhiều người Pháp và An Nam chết – lại được cử làm uỷ viên hội đồng thành phố.

Quan cai trị Buđinô – can tội tham ô, thụt tiền công quỹ và nhũng lạm – lại được tha bổng.

Kỹ sư Têa – giám đốc một hãng lớn, bị tố cáo tham ô – cũng được vô sự.

Một tên quan cai trị ở Quảng Châu Loan bị tố cáo là đã dùng nhục hình giết chết hơn hai mươi người bản xứ, lại được tha bổng.

Một tên quản ngục Côn Lôn, bị tố cáo là đã giết một cách thản nhiên một lúc hơn 40 phạm nhân, được trắng án và khen thưởng.

Ông Puốcxinhông thấy một người An Nam dám nhìn vào nhà một người Âu vài giây, đã hùng hổ nhảy ra đánh người An Nam ấy và kết liễu đời anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên hoả xa dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Bếch đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét đã trói tay một người An Nam cho chó cắn rồi dùng chân đá người ấy đến chết.

Ông Đépphi, chủ sự thuế quan, đá một cái ghê gớm vào mạng mỡ người đày tớ làm anh này chết tươi.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe có tiếng ồn ào ở ngoài phố; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, đằng sau là một người đàn ông đang đuổi theo. Hǎngri vớ lấy khẩu súng và bắn một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay; đó là một người Âu. Hỏi đến thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng nó là người bản xứ”.

Một người Pháp đem ngựa của hắn buộc vào một cái chuồng trong đó có nhốt con ngựa cái của một người dân bản xứ. Con ngựa đực lồng lên, làm cho người Pháp tức điên lên. Hắn liền đánh người bản xứ hộc máu mồm, máu mũi. Rồi hắn còn trói người ấy lại đem treo lên cầu thang.
Một giáo sĩ (vâng, một môn đồ nhân từ của Chúa) nghi cho một học sinh trường dòng người bản xứ lấy cắp của mình một nghìn đồng, bèn trói anh lại, treo lên xà nhà mà đánh. Người học sinh đáng thương ấy chết ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh người ta lại treo anh lên tra khảo. Anh ấy đã chết.

Vân vân, v.v..

Bản kê này còn có thể kéo dài không cùng.

Tất cả những tên giết người ấy đều được trắng án. Vì uy tín của người Pháp nên phải như thế đấy!

Phải nhất thiết kết án những người dân bản xứ vô tội cũng như tha bổng những người Pháp có tội.

Khi một người An Nam bị buộc tội là chống Pháp thì người ấy bị đem xử trước một toà án gọi là toà án đặc biệt. Toà án gồm mấy tên quan binh và quan cai trị đều là người Pháp cả. Toà án xử kín và có thể tuyên án tử hình. Không được chống án.

Nǎm 1908, một âm mưu ở Bắc Kỳ bị khám phá. Trong số người bị kết án, có cả đàn bà, trẻ con và cả một thanh niên mà ai cũng biết là ngớ ngẩn.
Đôi khi họ tuyên án vắng mặt người bị cáo, những án khổ sai có khi cả những án tử hình nữa; bị cáo không hề được bào chữa.

Những người bản xứ bị buộc tội về chính trị nặng hay nhẹ, nói chung đều bị bắt, kết án và đem đi đày – chung thân hay 10 nǎm tuỳ đấy. Không cần điều tra xét xử gì cả.
Sau đây là một bản trích lục án để giúp các bạn hình dung được thế nào là công lý đối với những người dân bản xứ.

Trích lục án:

Xét rằng: Những tên A, B, C, D và F đều là những nhà vǎn thân An Nam nổi tiếng, họ biết ai là kẻ phiến loạn chống Pháp nhưng họ lại cho rằng không cần phải theo dõi người ấy (không thấy nói tên kẻ phiến loạn, cũng không nói phải theo dõi người đó đến đâu?).

Xét rằng: Khi đã thấy người đó về nhà, C bèn đi mời B và A về họp bàn (bàn việc gì?).

Xét rằng: C và B và D còn tổ chức cả những hội buôn, những hội diễn thuyết và hội mặc Âu phục, cắt tóc ngắn (khủng khiếp chưa!).

Xét rằng: Tất cả những việc đó, họ đã cùng làm với nhau một lần.

Xét rằng: Trong những bài thơ của họ, có một câu có thể dịch là: “Chịu cảnh ô nhục, chịu thân cá chậu chim lồng”. (Sai. Câu thơ trào phúng chế giễu những cuộc thi cử phải dịch như sau: Nếu các ông còn đeo đuổi mãi những cuộc thi cử lỗi thời ấy, thì trong khoảng trǎm nǎm nữa các ông sẽ được nghe người ta chửi vào mặt. Khi nào thì các ông sẽ thoát khỏi cảnh cá chậu chim lồng ấy?).
Xét rằng: D đã cho phép học trò của anh ta hội họp (!) và những học trò ấy đã đọc câu phương ngôn: “Người trong một nước phải thương nhau cùng” (tội nặng chưa!).

Lại xét rằng: Trong các buổi diễn thuyết họ đã nói đến vấn đề mở mang trí tuệ, họ đã bàn đến những nhu cầu đời sống vǎn minh, đến việc giảm bớt những hội hè đình đám vô ích, đến lợi ích học hành, họ lại còn khêu gợi cho người nghe ý thức về chủ quyền của nhân dân và trình bày điều đó như là một nguyên lý cơ bản (của cái gì?) và gây cho mọi người ý nghĩ khinh bỉ (khinh bỉ ai?).
Xét rằng: Nếu không trừng phạt nghiêm khắc những hoạt động ấy theo đúng pháp luật, thì nhân dân không khỏi bị lôi cuốn theo những gương xấu như vậy.

Chiếu chỉ, xử tên A, B và C tử hình án treo cổ, xử đánh D và F 100 trượng (chỉ có thế thôi à!) và đày chúng biệt xứ đi xa 1.500 kilômét khỏi nước An Nam (chúng ta cần chú ý là những bị cáo không được phép tự bào chữa và họ hoàn toàn không hề biết gì cả về những lời buộc tội lẫn bản án).

Như vậy chỉ vì họ là những nhà vǎn thân danh tiếng, họ đã lập hội và diễn thuyết, họ đã ǎn mặc Âu phục và cắt tóc ngắn, họ đã công kích những việc phù phiếm, hô hào đồng bào của họ thương yêu nhau, và họ đã nói đến dân quyền mà những người An Nam ấy đã bị xử tử hình và bị đày đi biệt xứ.

Công lý nước Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

cpv.org.vn

Thư gửi Tổng thống Mỹ (18-6-1919)

Pari, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hoà Hợp chủng quốc,

Đại biểu ở Hội nghị Hoà bình.

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam.

Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC
56, phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ, Pari

————————-

Thư đánh máy, tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Việt Nam yêu cầu ca

“Rằng nay gặp hội Giao hoà,
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình.
Cậy rằng các nước Đồng minh,
Đem gương công lý giết hình dã man.
Mấy phen công bố rõ ràng,
Dân nào rồi cũng được trang bình quyền.
Việt Nam xưa cũng oai thiêng,
Mà nay đứng dưới thuộc quyền Lang Sa.
Lòng thành tỏ nỗi sút sa,
Giám xin đại quốc soi qua chút nào.
Một xin tha kẻ đồng bào,
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.
Hai xin phép luật sửa sang,
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.
Những toà đặc biệt bất công,
Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.
Ba xin rộng phép học hành,
Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương.
Bốn xin được phép hội hàng,
Nǎm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.
Sáu xin được phép lịch du,
Bốn phương mặc sức, nǎm châu mặc tình
Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trǎm đều phải có thần linh pháp quyền
Tám xin được cử nghị viên,
Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.
Tám điều cạn tỏ xa gần,
Chứng nhờ vạn quốc công dân xét tình.
Riêng nhờ dân Pháp công bình,
Đem lòng đoái lại của mình trong tay.
Pháp dân nức tiếng xưa nay,
Đồng bào, bác ái sánh tầy không ai!
Nỡ nào ngảnh mặt ngơ tai,
Để cho mấy ức triệu người bơ vơ.
Dân Nam một dạ ước mơ,
Lâu nay từng núp bóng cờ tự do.
Rộng xin dân Pháp xét cho,
Trong phò tiếng nước, sau phò lẽ công.
Dịch mấy chữ quốc âm bày tỏ.
Để đồng bào lớn nhỏ được hay.
Hoà bình may gặp hội này,
Tôn sùng công lý, đoạ đày dã man.
Nay gặp hội khải hoàn hỉ hả,
Tiếng vui mừng khắp cả đồng – dân.
Tây vui chắc đã mười phần,
Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi.
Hẵng mở mắt mà soi cho rõ.
Nào Ai Lan, ấn Độ, Cao Ly,
Xưa, hèn phải bước suy vi,
Nay, gần độc lập cũng vì dân khôn
Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt
Thế cuộc này phải biết mà lo.
Đồng bào, bình đẳng, tự do,
Xét mình rồi lại đem so mấy người.
Ngổn ngang lời vắn ý dài,
Anh em đã thấu lòng này cho chưa.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu viết tay, tiếng Việt,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo – dự thảo(20-11-1921)

Pari, ngày 20-11-1921

Tiểu ban Đông Dương thuộc Pháp trong Ban nghiên cứu thuộc địa (60) của Đảng Cộng sản được giao trách nhiệm phát biểu ý kiến về hoạt động cần tiến hành ở Viễn Đông nhằm tạo ra và phát triển một phong trào cộng sản cách mạng, xin trình bày:

1. Tiểu ban bác bỏ mọi kiến nghị về kinh tế hoặc chính trị nhằm cải thiện, cải cách hoặc đạt một tiến bộ nào đó, điều này, trong chế độ tư bản, chỉ phục vụ chính quyền hiện nay và giúp vào sự củng cố nó.

2. Nhận thấy rằng các giai cấp thống trị coi các thuộc địa Pháp không chỉ là một kho vô tận nguyên liệu, người bản xứ thuần tuý là những con vật kéo nặng sản xuất ra những thứ đó, mà bọn kẻ thù giai cấp của chúng ta còn coi những nước hải ngoại đó là nguồn cung cấp những đội quân phản cách mạng.

Do đó, công tác tuyên truyền cách mạng và chống quân phiệt cần được tiến hành dưới sự lãnh đạo và đôn đốc của Đảng, trong tất cả các thuộc địa của Pháp và xứ gọi là bảo hộ.

Công tác tuyên truyền này thực hiện:

a) Bằng các báo chí xuất bản ở Pháp.

b) Bằng diễn đàn của các Đại hội của chúng ta và khi cần, bằng diễn đàn của nghị viện.

c) Bằng các hội nghị.

d) Bằng mọi phương thức thích hợp với đối tượng, với trình độ giáo dục và vǎn minh của quần chúng bản xứ ở các thuộc địa.

Bản trình bày sơ lược trên đây chỉ là một thông báo bước đầu. Ban nghiên cứu thuộc địa của phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản cho rằng việc nghiên cứu các vấn đề thuộc địa từ nay về sau phải là bộ phận không tách rời các đề cương đưa lên Quốc tế Cộng sản, vì cách mạng cộng sản chủ nghĩa không chỉ có mục đích ở châu Âu mà còn ở toàn thế giới. Vì vậy, không được để một nơi nào trên thế giới, do cẩu thả hoặc không am hiểu vấn đề, lọt ra ngoài những hoạt động có ích cho mục đích cách mạng cộng sản chủ nghĩa.

In trong sách: Hồ Chí Minh,
Những bài viết 1914 – 1969,
do Alain Ruscio biên soạn, Pari, 1990, tr.40 – 41.

cpv.org.vn

Đoàn đại biểu Tạp chí Xây dựng Đảng thuộc Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

doan Lào a1
Thiếu tướng Đặng Nam Điền,Bí thư Đảng ủy
Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
tiếp chuyện thân mật với Đoàn đại biểu Tạp chí Kosang phak

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập Quan hệ ngoại giao (5/9/1962 – 5/9/2012) và 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào, sáng ngày 05/9/2012, Đoàn đại biểu Tạp chí Kosang phak (Tạp chí xây dựng Đảng thuộc Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) do đồng chí Litthy Sisouvong, Tổng Biên tập làm Trưởng đoàn đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng đi với Đoàn có đồng chí Nguyễn Quốc Khánh, Phó Tổng biên tập Tạp chí Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước khi Đoàn vào Lăng viếng Bác, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp đón và nói chuyện thân mật với Đoàn. Hai bên cùng nhau ôn lại truyền thống tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt, thủy chung giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và Đảng, Nhà nước, nhân dân các bộ tộc Lào anh em trong suốt 50 năm qua. Đồng chí Đặng Nam Điền cũng trao đổi với Đoàn một số nét cơ bản về nhiệm vụ chính trị đặc biệt và truyền thống của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, đơn vị trực tiếp giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã cùng với Chủ tịch Cayxỏn Phônvihẳn đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.

Đồng chí Litthy Sisouvong cám ơn đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền và lãnh đạo Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho đoàn những tình cảm tốt đẹp, đồng thời nhấn mạnh: Được sang thăm Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất – người Bạn, người đồng chí của Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thiết  lập Quan hệ ngoại giao đặc biệt Lào – Việt Nam là một vinh dự lớn đối với Đoàn. Thời gian tới, cá nhân đồng chí và Tạp chí Kosang phak sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Tạp chí Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và nhân dân các bộ tộc Lào về mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt Nam cũng như thân thế sự nghiệp cách mạng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, góp phần giữ gìn, vun đắp cho tình đoàn kết, hữu nghị giữa Đảng, nhà nước, nhân dân các bộ tộc Lào và Đảng, nhà nước, nhân dân Việt Nam anh em mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Trong không khí của tình đoàn kết hữu nghị, Thiếu tướng Đặng Nam Điền đã trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các thành viên và chụp ảnh lưu niệm cùng với Đoàn.

doan lao 2
Thiếu tướng Đặng Nam Điền chụp ảnh lưu niệm cùng Đoàn đại biểu của Tạp chí Kosang phak

Phạm Văn Hiếu
bqllang.gov.vn