Vùng lên đáp lời sông núi

QĐND – Ngày 19-12-1946, khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, họ là những người trẻ tuổi, nhiệt huyết đã đứng lên đáp lời sông núi, tham gia vào các hoạt động cách mạng ở địa phương. Giờ đây, khi đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, những nhân chứng sống ấy đã nhớ lại không khí sục sôi kháng chiến của các tầng lớp nhân dân vào ngày này, 65 năm trước…

* Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, Trưởng ban liên lạc Chiến sĩ quyết tử Liên khu I, Trung đoàn Thủ Đô:

Tôi là người sinh ra, lớn lên ở phố Hàng Thiếc (Hà Nội) và tham gia chống Nhật, Pháp từ những ngày tiền khởi nghĩa. Thời điểm Bác Hồ phát động Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, tôi đang là Đại đội trưởng Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc và trực tiếp chiến đấu cùng quân dân Thủ đô trong 60 ngày đêm quyết tử. Ngày ấy, Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc gồm hơn 120 chiến sĩ đã cùng nhân dân tổ chức đào giao thông hào, rải chướng ngại vật, đục thông từ nhà nọ sang nhà kia tạo thành “trận đồ bát quái” để cản bước và đánh trả quân Pháp.

Thật cảm phục ý chí chiến đấu của người dân Hà Nội khi có nhiều tài sản, vật dụng trong gia đình như bàn, ghế, tủ, giường và cả bàn thờ đã được họ vứt xuống đường để ngăn bước quân thù. Với những vũ khí thô sơ như: súng trường, súng ngắn, mã tấu, giáo mác… nhiều công nhân, thợ thủ công từ nơi khác tới làm thuê trong các lò thủ công cũng đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ chiến đấu cùng các hộ gia đình. Trong những trận đánh quyết tử ấy, chúng tôi đã phá hủy 2 xe tăng, diệt 20 tên địch, trận địa phố Hàng Thiếc cùng các tuyến phố: Bát Đàn, Hàng Bồ, Thuốc Bắc đã được giữ vững cho đến đêm 17-2-1947, khi chúng tôi nhận lệnh rút quân khỏi Thủ đô để bảo toàn lực lượng.

* Đại tá Kim Sơn (tức Nguyễn Hữu Văn), nguyên Đội viên Đội tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I-Liên khu 10:

Khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến nổ ra, tôi mới 16 tuổi và là đội viên Đội Tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I. Đội gồm 20 người, ngoài một số người lớn tuổi, còn lại đều trong độ tuổi thiếu niên từng tham gia làm liên lạc và tiếp tế cho cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa… Tôi còn nhớ khi Đội chuyển sang đóng quân ở Việt Trì, chúng tôi đã có các cuộc diễu hành trên đường phố, hô vang các khẩu hiệu động viên, cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Chúng tôi còn thâm nhập vào các gia đình thăm hỏi, nói chuyện, tổ chức mít tinh, diễn thuyết ở các phiên chợ, kẻ khẩu hiệu, vẽ chân dung Hồ Chủ tịch, vẽ tranh cổ động cỡ lớn trên các bức tường và biểu diễn văn nghệ… Trong lần hành quân lên Mường Khương, Lào Cai, chúng tôi đã đụng phải lực lượng phỉ do “lãnh chúa” Hoàng La Ú cầm đầu. Khi nhận được tin báo “có một đơn vị bộ đội Việt Minh đang tiến lên”, Hoàng La Ú đã bí mật điều hàng trăm quân xuống phục kích ở một đoạn đường hiểm trở, song khi nhìn thấy đội quân Việt Minh này phần lớn còn nhỏ tuổi, lại có rất nhiều kèn, trống, vừa đi vừa hò hát, không có vẻ gì là “hành quân chiến đấu”… nên họ đã không nổ súng. Qua nhiều cuộc đấu trí, thử thách căng thẳng, bằng thái độ khéo léo và hành động cụ thể, chúng tôi đã thuyết phục được Hoàng La Ú đoàn kết, hợp tác để cùng đánh Pháp và xây dựng chế độ mới.

* Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I (nay là Đại học Trần Quốc Tuấn):

Trước khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến một ngày, Liên khu I chỉ thị cho tỉnh Bắc Giang và huyện Yên Thế tổ chức ngay một Đội quyết tử quân. Huyện Yên Thế đã lấy Đội tự vệ chiến đấu ở xã Bố Hạ gồm 60 đồng chí do tôi phụ trách làm nhiệm vụ này. Đội đã tập trung lên Cao Thượng – nơi cơ quan Liên khu I đóng quân và chiều 19-12-1946 chúng tôi đã xuống thị xã Bắc Giang phối hợp cùng Tiểu đoàn 517 – Trung đoàn 36 tiến công vào khu vực sân vận động của tỉnh.

Đêm hôm sau, Đội quyết tử đã đột nhập vào dãy nhà câu lạc bộ của sân vận động do quân Pháp chiếm đóng. Đúng 0 giờ 21-12-1946, chúng tôi nổ súng tiến công địch. Trận đánh diễn ra đến rạng sáng thì ta chiếm được một số căn nhà và dồn quân địch về khu đông nam. Địch phản kích liên tục và cuộc chiến đấu giằng co đến hết ngày 21-12. Ngay đêm hôm ấy, chúng tôi bàn giao khu vực phía tây bắc cho Tiểu đoàn 517 rồi rút xuống phía nam cầu Bắc Giang và tổ chức phòng ngự ở phố Đò, chặn quân địch từ Bắc Ninh lên tiếp viện cho đồng bọn.

* Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 5:

Thời điểm phát Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 65 năm trước, tôi đang làm liên lạc cho xã đội Hành Minh (huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi). Vốn là những thiếu niên ở độ tuổi 12-13 từng phải đi ở cho phú nông nên chúng tôi đã sớm được giác ngộ cách mạng và tham gia vào các hoạt động như: làm liên lạc, chuyển thư tín, công văn, giấy tờ cho Việt Minh…

Hồi đó, nhà tôi chỉ có hai anh em, tôi là lao động chính trong gia đình, nhưng khí thế sục sôi của quần chúng nhân dân đã “cuốn” những cậu bé đang ở tuổi chăn trâu cắt cỏ vào tham gia phục vụ cách mạng. Không chỉ nhà tôi mà rất đông con em ở độ tuổi thiếu niên trong các gia đình cũng nhiệt tình tham gia xuống đường, giương cao biểu ngữ và hô to những khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp”, “Quyết hy sinh tới giọt máu cuối cùng”… Đáp Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, sau những tháng ngày hoạt động cách mạng ở quê hương Hành Minh, một ngày đầu năm 1951, tôi đã rủ người bạn cùng xóm tên là Nguyễn Văn Sĩ cùng ba thanh niên trong xã cuốc bộ cả ngày lẫn đêm từ Nghĩa Hành tới Đức Phổ để xin nhập ngũ vào Trung đoàn 40. Kể từ đây, cuộc đời cách mạng của tôi đã chuyển sang bước ngoặt mới và sau đó là quãng thời gian hơn 40 năm quân ngũ…

* Họa sĩ Phan Minh Thiên, phường An Bình, Biên Hòa, Đồng Nai:

Ngày Toàn quốc kháng chiến, tôi còn là một thiếu niên và vẫn nhớ cách nhà khoảng 5km có hai đồn lính Pháp ở các huyện: Hương Sơn và Đức Thọ (Hà Tĩnh). Chừng khoảng một tháng sau Ngày Toàn quốc kháng chiến, đàn ông, trai tráng trong xã tôi đã chuẩn bị cho cuộc tiến công đánh đồn địch, cướp kho thóc ở Nầm, thuộc huyện Hương Sơn. Mọi công việc được cha tôi và người làng triển khai hết sức khẩn trương, bí mật.

Một hôm, khoảng 2 giờ sáng, tôi tỉnh giấc thì thấy cha xách một cây mác và một cái câu liêm đi ra khỏi nhà. Tôi mặc vội áo rồi chạy theo cha, cha đưa cho tôi vác cây câu liêm. Mọi người tập trung ở xóm Hầu rồi kéo nhau theo con đường men theo chân núi Mồng Gà đi lên Nầm, được một quãng thì nhập vào đoàn người đã túc trực sẵn ở xóm Pheo, bí mật “hành quân” hướng đồn Pháp thẳng tiến. Cuộc “hùng binh” này do ông Sua (dân làng ngày đó gọi là cố Sua) chỉ huy. Đoàn quân nông dân kéo đến gần đồn địch thì bị giặc Pháp dùng súng bắn xối xả làm một số người trong đoàn bị trúng đạn. Đêm hôm sau, Pháp cho một nhóm lính cưỡi ngựa chạy thẳng xuống xóm Hầu tìm đến nhà cố Sua châm lửa đốt. Bà con vừa chạy đến dập lửa, vừa hét: “Pháp đốt nhà cố Sua! Bà con ơi!” rồi tổ chức vây bắt khiến bọn giặc phải phi ngựa chạy trốn. Từ đó, ngọn lửa thiêu rụi nhà cố Sua đã thổi bùng ý chí chống giặc Pháp của người dân quê tôi.

* Má Nguyễn Thị Mười (Mười Riều), thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Năm 1945, khi “ông xã” tôi tham gia cách mạng, tôi đã đòi tham gia cùng. Chồng tôi không chịu nên tôi làm bộ giận, bảo: “Đừng tưởng tôi đàn bà con gái mà coi thường nghen, để tôi đi đánh Pháp cho ông coi”. Vậy là ổng chịu để tôi tham gia làm giao liên, xây dựng cơ sở cho Việt Minh.

Má Mười Riều (thứ hai từ trái sang) tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1946, khi Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, chồng tôi được giao làm Xã đội trưởng xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, một thời gian sau thì kiêm thêm chức Bí thư chi bộ xã. Do bị Pháp đánh hơi, lùng sục nên Việt Minh ở Bà Rịa phải rút vào hoạt động bí mật, xây dựng căn cứ sâu trong rừng. Trong vai người đi buôn, tôi thường xuyên qua lại các căn cứ, vừa làm giao liên, vừa vận động bà con góp gạo nuôi bộ đội. Có giai đoạn mất mùa, tôi cùng nhiều người khác phải vào rừng đào củ mài lấy cái ăn và làm nguồn lương thực cho Việt Minh. Khi danh tính của chồng tôi bị lộ, Pháp truy lùng ông rất dữ. Ở nhà, tôi vừa nuôi con, vừa lo việc xây dựng cơ sở, lo hậu cần tiếp tế cho đơn vị của chồng rồi đào hầm trong nhà giấu vũ khí cho Việt Minh. Giờ tôi đã 92 tuổi rồi, nhưng những ngày đầu tham gia kháng chiến thì vẫn còn nhớ rõ vì đó là giai đoạn quyết định cuộc đời và gia đình tôi sau này.

Minh Tuệ – Tùng Sơn -Trung Nguyên (thực hiện)
qdnd.vn

Tình bạn giữa Bác Hồ và người bạn Pháp – Raymond Aubrac

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam

ban BH a1Ông Raymond Aubrac

Ông Aubrac sinh ngày 31/7/1914 trong một gia đình người Do Thái tại Vesoul, Pháp. Ông có tên thật là Raymond Samuel.

Ông Aubrac là người đồng sáng lập phong trào “Giải phóng miền Nam” của Pháp và là một trong những lãnh đạo cuối cùng của phong trào Kháng chiến thống nhất, đã sát cánh bên nhà đấu tranh nổi tiếng Jean Moulin.

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của Việt Nam.

Tình bạn lớn giữa nhà cách mạng Pháp và Hồ Chủ tịch.

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủcộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9 năm 1946.

ban BH a2Bác Hồ và gia đình ông Raymond Aubrac những ngày ở Pháp

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Phông-ten-nơ-blô giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pa-ri, nhưng không tham gia Đoàn Việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tàu ở cảng Tu-lu, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 năm 1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Pa-ri đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc.

ban BH a3Hồ Chủ tịch, bà Lucia Aubrac và người con gái Elisabeth Aubrac
của gia đình ông Aubrac đã nhận Bác làm cha đỡ đầu.

Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc.

Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier la-ting, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ.

Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac…

Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước.

Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà Hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu Babette, Bác cũng đều gửi quà mừng.

ban BH a4Ông Aubrac gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp
trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít.

Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý.

Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Li-ông. Ông góp phần thành lập Bộ Tham mưu quân đội bí mật.

Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gét-xta-po bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo Tướng Đờ-gôn sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ.

Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban Chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban Tư vấn bên cạnh Ban Chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ, Tết đều mời ông dự.

Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh, ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng Tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946, ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s’ attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Pa-ri, thọ 95 tuổi. Lễ Truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Theo giaoduc.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm Bác trong nhà lao Phú Quốc

Ở Trại giam đến ngày 5/9/1969, chúng tôi được tin Bác qua đời, do một sĩ quan quân cảnh Phú Quốc cho biết. Hôm ấy nó bảo chúng tôi:

– Này anh có gặp Cụ Hồ chưa?

– Chưa! Tôi trả lời nó vậy, vì tưởng nó giở trò.

– Cụ Hồ có còn đâu để mà gặp, Cụ chết rồi!

– Ông nói giỡn đấy chớ?

Thiệt chớ giỡn gì các anh. Thôi cứ đi làm đi rồi sau sẽ biết.

Hôm ấy chúng tôi cũng không tin, cho rằng bọn này hay xuyên tạc. Nhưng hôm sau, hình như bọn chúng cố ý đánh rơi một mẩu báo “Tiền tuyến” của Quân đội Sài Gòn. Trong bài báo đó có đưa tin Bác mất. Cả mấy chục nước trên thế giới trong đó có: Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Campuchia, Lào… đến dự Lễ tang. Tuy đã cụ thể như vậy, nhưng chúng tôi vẫn chưa tin. Mãi đến ngày 26/9/1969, anh em ở ngoài chẳng may bị bắt vào kể lại, chúng tôi mới tin là thật. Lâu nay, bọn giặc vẫn thường xuyên phao những tin thất thiệt để làm nao núng tinh thần tù nhân.

Lần này biết Bác “trǎm tuổi” rồi, chúng tôi báo cho nhau, bằng cách truyền đi các trại và chuẩn bị tư tưởng, xây dựng tinh thần. Vì nhiều anh em nghe Bác mất buồn lo, khóc cả ngày. Khóc thì tất cả anh em đều khóc Bác, thương Bác vô vàn. Nhưng chúng tôi phải nén lòng, giải thích cho anh em: Bác như cây đại thọ. Cây đá còn phải héo mòn, con người ở trên đời phải qua quy luật “sinh lão, bệnh tử”. Bác thân yêu của chúng ta đã già, đời Bác gian nan nhiều, vào tù ra tội, Bác sống đến 79 mùa xuân đã vĩ đại lắm rồi! Bác mất đi nhưng còn Đảng, còn những người bạn chiến đấu của Người như Bác Tôn, các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng.., do Bác đào tạo sẽ kế tục Bác… Chúng tôi phải làm một buổi học tập như vậy, rồi lo tổ chức tang lễ Bác… Nói là tang lễ, nhưng thật ra trong tù chỉ hai bàn tay trắng, có khi còn bị xích, bị gông làm gì có điều kiện, có phương tiện tổ chức.

Sáng hôm 30 tháng 9 không như thường lệ, bọn cai ngục gọi ra điểm danh. Mọi bận chúng tôi vẫn ǎn mặc tả tơi, rách nát nhưng hôm đó, chúng tôi cǎn dặn nhau tìm cách khâu vá quần áo lại cho tương đối lành lặn. Chúng tôi dậy sớm lắm, tập hợp đông đủ cả Đ6 có đến hơn 900 đồng chí, mà không thiếu một ai. Tất cả đều để đầu trần. Thường ngày anh em có khǎn thì bịt đầu, có cái nón rách thì đội. Một phần che nắng, nhưng cũng chính là để đỡ đòn. Có nhiều khi roi đòn chúng bổ từ đầu bổ xuống. Nǎm 1969 là nǎm Phú Quốc đổ máu nhiều nhất, cho nên chúng tôi phải tổ chức rất âm thầm, nhưng phải trang nghiêm chu đáo. Từng hàng, từng dãy ngồi im phǎng phắc. Chúng tôi đưa ám hiệu, lập tức 917 người trừ vài đồng chí ốm nặng không lê chân đi được, còn tất thảy đều có mặt ở sân, đều ngồi im. Mọi bận giờ điểm danh, chúng tôi phá bằng cách giả vờ cãi cọ ồn ào, chửi bới ồn ào, chửi mắng lung tung. Nhưng hôm nay im ắng lạ thường. Tên Trung sĩ quân cảnh thấy vậy, nó hí hửng cho là chúng tôi “tiến bộ” bị đòn roi nhiều không còn “bất trị” nữa, nên cũng chẳng để ý gì. Sau ba phút yên lặng mặc niệm Bác như vậy, chúng tôi lần lượt giải tán có trật tự và về trại. Chúng tôi có tổ chức treo cờ. Cờ làm bằng vải áo chắp lại. Màu đỏ bằng đá son mài ra, màu xanh bằng lá cây, còn sao vàng bằng thuốc ký ninh chữa sốt rét. Đồng chí K nói về tiểu sử Hồ Chủ tịch, về quê quán, về gia đình. Cụ Phó bảng Sắc, thân sinh ra Bác. Bác sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, một gia đình có truyền thống đấu tranh ở một địa phương mà nhân dân đã anh dũng chống ngoại xâm… Rồi những gian nan của người khi người rời bến cảng Sài Gòn đi tìm con đường cứu nước… Tiểu sử Bác thì ai ai cũng có biết ít nhiều. Nhưng hôm ấy, không khí thiêng liêng kính cẩn nên anh em đều rơm rớm nước mắt…

Nhiều anh em đọc thơ Bác, thơ trong “Ngục trung nhật ký”. Có đồng chí biết chữ Hán còn ngâm:

Thân thể tại ngục trung

Tinh thần tại ngục ngoại

Dục thành đại sự nghiệp

Tinh thần cánh yếu đại.

(Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần càng phải cao)

Những anh em nào biết chuyện gì về quá trình đấu tranh làm cách mạng của Bác thì cứ nǎm, ba người kể cho nhau nghe.

Có anh em đọc những bài thơ về Bác của nhà thơ Tố Hữu.

Bác Hồ, cha của chúng con

Hồn của muôn hồn

Cho con được ôm hôn má Bác

Hôn chòm râu mát rượi hòa bình!

Ôi cái tên kính yêu Hồ Chí Minh!

Trong sáng lòng anh xung kích…

Anh em trong Trại lại nhắc nhở nhau học tập và làm theo lời Bác. Dù cho bị tra tấn tàn nhẫn, dù cho thịt nát, xương mềm, lòng anh em chiến sĩ trong tù vẫn sắt son cùng Mặt trận, cùng Cách mạng. Chúng tôi nói chuyện về Bác, kể cuộc đời đấu tranh của Bác gần như công khai, bọn cảnh binh nghe cũng làm lơ đi. Có viên Trung sĩ P, có cảm tình với cách mạng, gặp chúng tôi, nó nói thiệt:

– Khi nào thống nhất, nhất định tôi sẽ về quê (quê anh ta đâu ở Hải Hưng thì phải). Và trước tiên, tôi sẽ xin đến thǎm Lǎng cụ Hồ, thắp hương dâng cụ.

Và từ sau khi “đánh hơi” biết chúng tôi có cuộc vận động làm theo “Di chúc của Bác” viênTrung sĩ P thường giúp đỡ anh em tù binh thực hiện chương trình. Cai ngục sắp lục soát anh ta tin cho biết trước để cất giấu tài liệu. Hoặc bọn quân cảnh đánh anh em tù binh, thì anh ta can ngǎn và dọa bọn nó:

– Này chúng mày phải nhìn hậu quả chứ! Nay mai Mỹ rút thì liệu thân đó?

Lòng yêu thương kính trọng Bác Hồ của anh em trong tù Phú Quốc cũng cảm hóa phần nào kẻ địch. Ngay những tên ác ôn, cũng ít thằng nào dám nói động đến Bác Hồ. Còn đối với những anh chị em tù chúng tôi, hình ảnh Bác Hồ là chỗ dựa tinh thần vững chãi cho mình, những lúc yếu mềm, đấu tranh gian nan. Vì như nhà thơ Tố Hữu viết:

Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn

Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

(Ghi theo lời Bác Tám Cẩn)
Theo bacho.camau.gov.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

“Tri nhân, tri kỷ” trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước, ông cha ta đã nhiều lần đánh bại quân xâm lược phong kiến phương Bắc, giành lại độc lập dân tộc, giữ yên bờ cõi. Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, của nền văn hoá nhân văn cao cả “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” mà tư tưởng xuyên suốt là “tri nhân, tri kỷ” – “biết người, biết ta trăm trận trăm thắng”. Cùng với chiến thắng ấy là sự ra đời của những áng “thiên cổ hùng văn” tuyên bố về nền độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền quốc gia. Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tiếp nối tinh thần cốt lõi của các bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc và phát huy truyền thống “tri nhân, tri kỷ” lên tầm cao thời đại Hồ Chí Minh, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Lich trinh Bac Ho ve HN

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của 15 năm chiến đấu kiên cường và bền bỉ của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Kết quả ấy được thể hiện bằng hình ảnh cả dân tộc Việt Nam muôn người như một dâng lên như nước thuỷ triều để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, đã làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả ba miền Tổ quốc. Sáng ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang trong gia đình ông Nguyễn Văn Bô, Người đã triệu tập và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng. Trong số các quyết định quan trọng, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh để Chính phủ Lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào và tuyên bố với thế giới về một nước Việt Nam chính thức ra đời.

Đây là thời điểm vô cùng khó khăn. Bọn đế quốc đã cấu kết với nhau, chuẩn bị chiếm lại nước ta. Quân đội quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tiến vào từ phía Bắc, đằng sau là đế quốc Mỹ. Quân đội Anh tiến vào từ phía Nam, đằng sau là lính viễn chinh Pháp. Lúc này thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, Đông Dương đương nhiên thuộc về người Pháp. Trước tình hình đó, hơn ai hết, người viết bản “Tuyên ngôn Độc lập” thừa hiểu rằng “mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương như nhận định của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 15-8-1945. Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào Việt Nam và thế giới về sự ra đời của một quốc gia dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện độc lập chủ quyền, cơ sở pháp lý của đất nước độc lập, tự do để “hiên ngang” đón quân Tưởng và quân Anh vào giải giáp quân Nhật.

Mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Bác Hồ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung. Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”.

Việc trích dẫn này của tác giả “Tuyên ngôn Độc lập” một mặt đề cao tư tưởng chính trị chứa đựng trong những lời trích dẫn “bất hủ” và “là những lẽ phải không ai chối cãi được” ấy đã phải đánh đổi bao xương máu, nước mắt của nhân dân Mỹ, nhân dân Pháp. Mặt khác, Người thừa nhận “chân lý cao cả” này không chỉ trường tồn trong lịch sử hai nước như những trang vàng mà còn được toàn nhân loại biết đến. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động xâm phạm, áp bức các dân tộc, chà đạp nhân quyền Việt Nam gần một thế kỷ là hành động phi pháp, phi đạo lý và phi văn hóa của “nước mẹ”. Cách sử dụng thủ thuật “gậy ông đập lưng ông” không chỉ thể hiện sự khéo léo, tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mỹ mà là còn kiên quyết, nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình, đừng “vấy bùn” lên lá cờ nhân đạo, tự do, bình đẳng, bác ái mà các cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mỹ phải đánh đổi biết bao hy sinh mới giành được! Đây cũng chính là luận cứ, lý lẽ quan trọng để Bác đi đến kết luận: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là “những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Cụm từ “suy rộng ra” của Bác được rút ra từ luận cứ và lí lẽ “bằng vàng” trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, nhưng đó lại là “sự bổ sung rất trí tuệ của Bác: Với cuộc đời của dân tộc mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đoạ đày khác, Bác đã đưa ra một sự bổ sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết nhơ nhục nhã trong lịch sử loài người”. Để từ đó, hồn thiêng sông núi Việt Nam một lần nữa “vút cao” vang dậy trong Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố đanh thép với thế giới về nền độc lập dân tộc, đồng thời tố cáo chủ nghĩa thực dân Pháp đã trắng trợn chà đạp lên những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc Việt Nam bằng khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”, với chiêu bài “khai hóa văn minh” để xâm lược Việt Nam, áp bức đồng bào ta, đầu độc nhân dân ta, kìm hãm dân tộc ta trong sự bần cùng, suy nhược, đẩy nòi giống ta vào thảm họa diệt vong. Đó là hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.

Bằng thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ vạch trần sự áp bức tàn bạo của bọn thực dân, phát xít về mọi mặt. “Về Chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta…”. Về văn hóa, chúng “thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…”. Về kinh tế, “chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy…”… mà còn ca ngợi sự gan góc, dũng cảm của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít, giành lại quyền độc lập dân tộc. Trong cuộc chiến đấu ấy, thực dân Pháp đã không những không cùng với Việt Minh đứng về phe Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, không những “không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Chính vì những lẽ đó, dân tộc Việt Nam “phải được tự do”, “phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời là hợp với công lý và lẽ phải!

Từ những chứng cứ về tội ác của kẻ thù, Tuyên ngôn độc lập ra đời giữa sự khao khát độc lập, tự do của 25 triệu đồng bào và lòng yêu nước cháy bỏng, lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Mặt khác, Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vang lên trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 đã đánh một đòn phủ đầu mạnh mẽ vào âm mưu trắng trợn của các kẻ thù đang có mặt trên đất nước ta, hòng cướp chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong số đó, đặc biệt phải kể đến âm mưu của thực dân Pháp, chúng đã chuẩn bị mọi mặt để quay lại xâm lược nước ta lần nữa. Tuyên ngôn còn thể hiện tầm nhìn xa, sự nhạy cảm về chính trị và thông hiểu về thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn ai hết, Người hiểu rằng giành được nền độc lập, quyền tự do, tự quyết cho dân tộc đã khó, nhưng để nền độc lập đó được tất cả các nước thừa nhận, tôn trọng còn khó hơn. Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập một lần nữa khẳng định giá trị nhân quyền của người dân Việt Nam, đồng thời nêu lên giá trị nhân văn của Nhà nước đối với bè lũ cướp nước và bán nước, vạch trần tội ác của phát xít Nhật, tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp”, tố cáo ý định quay trở lại Việt Nam của chúng và những kẻ thù chưa lộ mặt. Điều này chứng tỏ, Hồ Chủ tịch là con người của lịch sử, của những quyết sách lịch sử, là người lãnh đạo luôn “biết người, biết mình” trong mọi quyết sách lịch sử của dân tộc.

Tuyên ngôn độc lập không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mà còn là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, ban hành Hiến pháp – đạo luật gốc, giữ vai trò như “thần linh pháp quyền” trong việc chi phối và điều hành mọi quan hệ xã hội. Vì vậy, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề nghị với Chính phủ 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó nhiệm vụ cấp bách thứ ba là soạn thảo và ban hành Hiến pháp. Hình ảnh lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử dân tộc “tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống” đều có quyền sử dụng lá phiếu của mình để bầu ra bộ máy nhà nước “của dân, do dân và vì dân” trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra vào ngày 6-1-1946, là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1946 trịnh trọng tuyên bố: “Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúccùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”. Hiếp pháp năm 1946 thể hiện đầy đủ tư cách Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, để tiếp tục đấu tranh giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Việc nhân dân bầu ra được bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật không chỉ là cơ sở quan trọng để Đảng ta vạch ra đường lối chiến lược, sách lược hoà hoãn với kẻ thù, từng bước chuẩn bị mọi mặt, đưa cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà dân tộc ta không thể tránh khỏi mà còn tạo ra một bộ máy nhà nước vững mạnh đủ sức tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, đưa đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, trước mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đã và đang ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới ở nước ta, chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng và đối tác trong quá trình hợp tác và phát triển; phải biết tận dụng triệt để đối tác để đấu tranh với đối tượng và có sách lược mềm dẻo để biến đối tượng thành đối tác. Đặc biệt, vấn đề tranh chấp trên biển Đông ngày càng nóng lên, trong đó có liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng “tri nhân, tri kỷ” trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tầm cao mới. Một mặt, Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc và các đối tác ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, mặt khác, kiên quyết phản đối các hoạt động sai trái của Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở hai quần đảo này, đi ngược lại tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc và Công ước Luật biển năm 1982, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp. Ngày 21-6-2012, trong kỳ họp thứ ba (khóa XIII), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Đây không chỉ thể hiện cách ứng xử khôn khéo của Đảng và Nhà nước ta mà còn là cơ sở pháp lý, chứng cứ xác thực để Việt Nam tuyên bố với thế giới về độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Các đảo này là một phần “máu thịt” không thể tách rời của dân tộc Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công ước Luật Biển năm 1982 thừa nhận./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Để tang Bác trong tù

de tang bacÔng Hoàng Thanh Thụy và tập hồi ký “Những ngày tù ngục”.

Chuyện đã xảy ra hơn bốn thập kỷ, nhưng cứ mỗi khi thu về, Hoàng Thanh Thụy, Phó chủ tịch Hội Tù yêu nước thành phố Đà Nẵng lại bần thần nhớ đến buổi sáng Truy điệu Bác trong Nhà tù Hố Nai (Biên Hòa, Đồng Nai).

Biên Hòa những ngày đầu thu năm 1969, mưa triền miên, rả rích. Bầu trời như ang nước khổng lồ, sẵn sàng chụp xuống “Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam” Hố Nai, nơi có phòng “Biệt giam số 7” nổi tiếng vào bậc nhất nhì về đối xử hà khắc, tàn bạo với người tù của chính quyền Sài Gòn. Màn đêm buông xuống căn phòng khi ngoài trời vừa mới nửa chiều. Ngọn đèn điện mắc ở giữa phòng bám đầy bụi và mạng nhện, ánh sáng tỏa ra le lói như đom đóm càng tăng thêm sự ướt át, nhớp nháp và lạnh lẽo.

Gần một tuần lễ trôi qua, vết thương ở chân sưng tấy, đau nhức tận óc, người ngây ngấy sốt, Hoàng Thanh Thụy không ăn uống gì được. Địch cũng không cho ra ngoài khám bệnh, xin thuốc. Tên Thượng sĩ Giám thị trưởng và lũ đàn em, mỗi lần bước vào Trại là mặt đằng đằng sát khí, mắt láo liên soi mói. Hôm ấy, Thụy đang ngồi bên cửa sổ, nép mình để tránh những luồng gió lâu lâu lại hắt vào, nhìn ra ngoài trời suy nghĩ mông lung. Bất chợt, tù nhân tên Thái từ đầu phòng kia tới, vừa đi vừa nói đủ cho anh nghe: “Ra phía sau nhà bếp, chú Hai gặp có việc gấp”. Thụy vội cắp đôi nạng gỗ đi ra. Tên Giám thị chặn lại trước cửa phòng hỏi: “Đi đâu?”. “Đi cầu”, anh trả lời điềm tĩnh. Hắn nói như ra lệnh: “Lẹ lên!”.

Anh bước ra khỏi phòng, mắt kín đáo quan sát xem có tên nào bám theo không và nhanh chóng nhảy lò cò đến điểm hẹn. Lúc ấy, ở nhà bếp rất đông người, kẻ lấy nước, người khiêng cơm. Anh Hai, tên thật là Lê Phước Hải – nguyên Bí thư Chi bộ thôn Châu Sơn, xã Điện Tiến (Điện Bàn, Quảng Nam), đang lui cui nướng cơm cháy trước cửa lò. Bấy giờ, anh em trong tù hay lấy cơm cháy đốt thành than để pha nước uống, chữa đau bụng. Biết ý, Thụy bước nhanh lại chỗ anh Hai và lắng nghe: “Bình tĩnh! Bác Hồ mất rồi”. Anh sững sờ, choáng váng, tay chân rã rời, tưởng như đang trong cơn ác mộng. Hiểu tâm trạng của người đồng chí, Lê Phước Hải nhắc lại: “Bình tĩnh” và dặn thêm: “Thông báo cho tất cả đảng viên được biết, còn đối với anh em quần chúng thì để chậm lại một vài hôm. Nhưng phải chủ động làm công tác tư tưởng, đừng để xảy ra hoang mang, địch lợi dụng. Có gì sẽ gặp lại”. Anh Hai kín đáo bắt tay Thụy. Anh hiểu ý nghĩa của cái bắt tay ấy. Sau đó, Lê Phước Hải cầm mấy miếng cơm cháy trở về phòng “biệt giam số 5”. Hoàng Thanh Thụy cắp đôi nạng gỗ nhảy lò cò trở về phòng, lòng nặng trĩu âu lo. Tuy nhiên, anh vẫn cố gắng giữ cho được nét mặt bình thường vì ý thức rõ trách nhiệm của mình lúc này.

Tin Bác mất đã làm cho không khí trong Nhà lao như chùng hẳn. Nhiều người đau đớn quá bỏ cả ăn. Đêm đêm, tiếng trở mình kèm theo hơi thở nặng nhọc gieo vào không gian tĩnh lặng càng làm cho không khí thêm não nề. Nếu kéo dài tình trạng này thì không ổn, dễ ảnh hưởng đến tinh thần đấu tranh chung, Hoàng Thanh Thụy nhanh chóng bàn bạc với các đảng viên khẩn trương vận động anh em sớm ổn định tư tưởng, đưa mọi hoạt động trở lại bình thường. Sáng 5-9-1969, Hoàng Thanh Thụy nhận được chỉ thị từ đồng chí Sáu – Bí thư chi đoàn, ra giếng nước có việc gấp. Anh xúc động khi nhìn thấy đồng chí Tứ – Bí thư chi bộ, quê ở Điện Nam (Điện Bàn, Quảng Nam) đang múc nước để rửa chân. Thụy hiểu ý, đến gần hỏi mượn cái gầu, Tứ tranh thủ nói luôn: “Sáng mai, khi nghe kẻng điểm danh, anh em ta nhanh chóng ra hết ngoài sân sớm hơn mọi hôm mươi phút. Khi có tiếng hô “Đứng”, anh em ta lập tức đứng dậy nghiêm trang cúi đầu quay mặt về hướng Bắc. Ta làm Lễ Truy điệu Bác trước khi chúng điểm danh. Nhớ thường xuyên củng cố tinh thần anh em”.

Hôm sau, tức ngày 6-9-1969, mọi việc đã diễn ra đúng như dự kiến của ta. Khi bọn Giám thị, quân cảnh còn đứng lố nhố ngoài cổng Trại giam thì hơn một nghìn người tù trong sân đã làm cái chuyện mà chúng không tài nào biết được, nghĩ tới được. Chúng trố mắt nhìn nhau ngơ ngác, bất lực. Tên H., Giám thị trưởng như đỉa phải vôi, cứ đi đi lại lại, miệng lẩm bẩm chửi thề, nhưng không dám bước vào sân. Tên Thiếu tá Chỉ huy trưởng Trại giam lúc đó cũng vừa tới, thấy hiện tượng lạ, y dừng lại hỏi. Không biết tên Trung sĩ Giám thị nói gì mà y lắc lắc cái đầu có vẻ thất vọng và bước thật nhanh về chỗ làm việc.

Câu chuyện để tang Bác trong tù đã khắc ghi trong tâm khảm những người tù yêu nước tại Nhà lao Biên Hòa năm ấy. Đối với ông Hoàng Thanh Thụy, đó là những trang viết ông dành nhiều tâm huyết nhất khi ông tham gia tuyển tập hồi ký “Những ngày tù ngục”.

Nguyễn Sỹ Long
Theo Qdnd.com.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Giải bóng đá mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh tại Chi-lê

Nhân dịp Quốc khánh 2/9, tại thành phố Cerro Navia, thuộc vùng Santiago, nước Cộng hòa Chi-lê đã diễn ra vòng Chung kết giải bóng đá Thanh thiếu niên mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đây là sáng kiến của nhân dân khu phố Hermida de la Victoria để tiếp tục truyền thống của thế hệ đi trước, những người đã dành nhiều tình cảm cho nhân dân Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Giải bóng đá Hồ Chí Minh lần thứ nhất được Đại sứ quán Việt Nam tại Chi-lê bảo trợ, với sự tham gia của 12 đội bóng và 140 cầu thủ trong độ tuổi từ 10-15.

chile a1
Quốc kỳ hai nước trong trận chung kết

Chiều 2/9/2012, Đại sứ Việt Nam tại Chi-lê đồng chí Hà Thị Ngọc Hà và ông Luis Plaza Sanchez, Thị trưởng thành phố Cerro Navia đã đến dự trận chung kết và trao Cúp cho đội vô địch Hermida de la Victoria.

Nhân dịp công tác tại Chi-lê, Đoàn đại biểu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam do ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm cũng tham dự và trao giải cho các đội tham gia vòng Chung kết. Đoàn đã nhận được nhiều tình cảm của nhân dân địa phương.

Thành phố Cerro Navia là nơi có công viên mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành từ những năm cuối thập kỷ 60 từ phong trào ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Với tấm lòng kính yêu Bác Hồ, các bà nội trợ, cư dân khu Hermida de la Victoria đã ghép những mảnh gốm thành bức phù điêu chân dung Hồ Chí Minh với những vần thơ trong cuốn Nhật ký trong tù của Người: “Thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao”.

Giải bóng đá Hồ Chí Minh sẽ được chính quyền địa phương và nhân dân Cerro Navia tổ chức thường niên để thế hệ trẻ hiểu thêm về truyền thống của cha ông và duy trì tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam – Chi-lê.

chile a2
Đại sứ Việt Nam tại Chilê đồng chí Hà Thị Ngọc Hà trao cúp cho đội vô địch

chile a3
Ông Luis Plaza Sanchez, Thị trưởng thành phố Cerro Navia cũng đến dự trận chung kết

chile a4
chile a5
chile a6
chile a7
chile a8
chile a9
chile a10

Phương Hòa/Từ Chile
Theo dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Mãi mãi bên người

Anh v 69 suaLễ kỷ niệm 40 năm thành lập Viện 69 và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh

Suốt 43 năm qua, kể từ ngày Bác đi xa (2/9/1969), thi hài của Người luôn được cán bộ của Đoàn 69 trước đây (nay là Viện 69), Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm sóc, bảo vệ, giữ gìn an toàn tuyệt đối.

Ngay trong những ngày Bác mất, nén chặt nỗi đau thương vô bờ bến của toàn dân tộc, cán bộ, nhân viên của Tổ Y tế đặc biệt (đơn vị tiền thân của Đoàn 69) đã sát cánh cùng với các chuyên gia y tế Liên Xô khẩn trương tiến hành từng thao tác kỹ thuật tỷ mỷ, chính xác, giữ gìn những nét đặc trưng như khi Người còn sống, để phục vụ kịp thời, chu đáo những ngày diễn ra Lễ viếng, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội trường Ba Đình.

Bác mất trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt. Đề phòng đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương đã chỉ đạo việc xây dựng những công trình K84, H21 ở xa Thủ đô Hà Nội để phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, an toàn thi hài Bác. Trong 6 năm chiến tranh và thiên tai đe doạ (1969 – 1975), thi hài Bác phải di chuyển tới 6 lần, vượt hàng trăm cây số, qua sông qua suối, ở những nơi rừng núi hiểm trở, khó khăn thiếu thốn trăm bề. Nhưng bên Bác luôn có những chuyên gia y tế Liên Xô thuỷ chung, son sắt và những cán bộ, nhân viên Đoàn 69“Trung hiếu vẹn toàn”, hết lòng chăm sóc, bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài của Người chờ mong ngày miền Nam được giải phóng, đất nước được độc lập, Nam – Bắc sum họp một nhà, để đón Bác về Thủ đô yêu dấu.

Sau gần 2 năm xây dựng (2/9/1973 – 29/8/1975), Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành. Bác về với Ba Đình lịch sử để ngày ngày đón con cháu và bạn bè quốc tế vào thăm. Trong giai đoạn này, tuy có sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với các hoạt động của Công trình Lăng, trong đó có nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác nhưng cán bộ, nhân viên y tế của Viện 69 đã thể hiện tinh thần: “Tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” vừa tích cực học tập, tiếp thu kinh nghiệm làm thuốc, giữ gìn thi hài của Bạn, vừa chủ động xây dựng lực lượng, đầu tư cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học, ứng dụng những kinh nghiệm bảo quản, giữ gìn thi hài của dân tộc và một số nước trên thế giới để phục vụ nhiệm vụ chính trị.

Khi Liên Xô tan rã (tháng 8 năm 1991), nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác gặp muôn vàn khó khăn. Đứng trước thời điểm đầy cam go, thử thách, cán bộ, nhân viên y tế Viện 69 đã tham mưu, đề xuất với Thường vụ, Bộ Tư lệnh báo cáo lên Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, giải pháp về công tác y tế giữ gìn thi hài Bác đúng đắn, phù hợp, hiệu quả. Vừa giải quyết kịp thời công việc làm thuốc giữ gìn thi hài Bác không bị gián đoạn, đồng thời mở ra thời kỳ mới: Giai đoạn hợp tác trực tiếp với Liên bang Nga để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong 20 năm qua (1992 – 2012), Viện 69 đã chủ động phối hợp, triển khai toàn diện, hiệu quả các nội dung hợp tác mà Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký kết với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva. Nổi bật là trong các lĩnh vực đào tạo lực lượng, nghiên cứu khoa học và đầu tư trang thiết bị. Trung tâm đã giúp đỡ Viện 69 đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao, nắm vững khoa học kỹ thuật, hoàn toàn tự chủ trong việc làm thuốc thường xuyên và làm thuốc lớn thi hài Bác. Giữ gìn thi hài Bác luôn ở trạng thái tốt nhất. Từ năm 2004, hàng năm đều phối hợp pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam và đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị của Viện ngày càng đồng bộ, hiện đại.

Cùng với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, lớp lớp cán bộ, nhân viên, chiến sỹ Viện 69 luôn chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao; đội ngũ cán bộ,  đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì luôn tiêu biểu phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, từng bước chính quy, hiện đại, chấp hành nghiêm kỷ luật, nội bộ đoàn kết thống nhất. Viện 69 được phong tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lao động” năm 1995, Huân chương Hồ Chí Minh năm 2009 và nhiều tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước, Quân đội trao tặng những phần thưởng cao quý khác.

Tự hào với truyền thống đơn vị Anh hùng qua 43 năm xây dựng, trưởng thành, cán bộ, nhân viên, chiến sỹ Viện 69 hôm nay nhận thức sâu sắc về niềm vinh dự tự hào, gắn liền với trách nhiệm đặc biệt, rất thiêng liêng và cao cả: “Ngày ngày được bên Bác”, được nâng niu, chăm sóc, bảo vệ và giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Đồng thời tích cực, chủ động học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, để vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới, mãi mãi xứng đáng với niềm tin mà Đảng, Nhà nước, Quân đội, mà trực tiếp là Bộ Tư lệnh tin tưởng giao phó./.

Thượng tá Nguyễn Cao Vũ
Chính trị viên Viện 69

bqllang.gov.vn

Dự thảo nghị quyết về chủ nghĩa cộng sản và các thuộc địa (12-1921)

Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 8-1920 đã tuyên bố trong những luận cương của Đại hội về những vấn đề thuộc địa rằng:

“Đại chiến ở châu Âu và những kết quả của nó đã chỉ rõ rằng quần chúng ở những nước phụ thuộc ngoài châu Âu gắn bó với phong trào vô sản châu Âu một cách tuyệt đối và đó là hậu quả không thể tránh được do sự tập trung của chủ nghĩa tư bản thế giới…

“Quốc tế Cộng sản phải mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Nhiệm vụ của nó là tổ chức giai cấp công nhân toàn thế giới để lật đổ nền thống trị tư bản chủ nghĩa và thiết lập chủ nghĩa cộng sản”.

Những chỉ thị đó là cần thiết hàng đầu đối với Đảng Cộng sản Pháp, bởi vì giai cấp tư sản nước này thống trị những thuộc địa mà dân số có tới 40 triệu người.

Những thuộc địa bị các giai cấp thống trị coi là kho chứa nguyên liệu cơ bản mà để làm ra chúng, dân bản xứ bị người ta coi là những con vật kéo xe, như là nơi tiêu thụ dành riêng cho thương nghiệp chính quốc; và cũng là nguồn cung cấp cho chủ nghĩa quân phiệt binh lính cho những cuộc chiến tranh sắp tới do sự đối kháng giữa chủ nghĩa đế quốc kình địch của những nước khác nhau đang chuẩn bị.

Hàng chục nghìn người dân thuộc địa đã chết trong cuộc chiến tranh châu Âu. Hàng chục nghìn người khác còn phải làm nô lệ cho chủ nghĩa quân phiệt Pháp; trong suốt thời kỳ “hoà bình ở tình trạng chiến tranh” nó phái họ sang Đức, Xilixi, Xyri, với khí hậu độc hại nhất đến chết người đối với những con người xứ nóng ấy. Người ta đưa người chính quốc vào quân đội với danh nghĩa quốc phòng: chiêu bài này chỉ có thể dùng ở những thuộc địa mới bị thôn tính; ở đấy, người ta tuyển những người châu Phi và những người châu á bằng những lời hứa dối trá cho tiền bạc hay cho chiến lợi phẩm, bằng rượu, bằng sự chuyên chế hành chính, hoặc là (khi những phương sách đó thất bại) bằng bạo lực, khủng bố và những sự hành quyết làm gương. Qua miệng Mǎnggianh, chủ nghĩa quân phiệt Pháp khoe khoang họ sử dụng 400.000 lính bản xứ; về thực tế và bằng những phương sách duyệt thêm, nó có thể đưa lên một hoặc hai triệu người châu Phi và người châu á. Như thế, nó hy vọng có được những vật hy sinh dễ bảo hơn là công nhân và nông dân Pháp, và cũng là sử dụng được những lứa quân dịch thuộc địa, những công cụ mù quáng để áp bức và đè bẹp giai cấp vô sản châu Âu.

Ngoài sự cần thiết chống lại nguy cơ đối với phong trào giải phóng vô sản là sự can thiệp tuyệt đối của chủ nghĩa tư sản chính quốc đối với dân cư bản xứ bị ép vào trại lính, cần phải thấy được rằng trong một thời kỳ cách mạng, giai cấp tư sản sử dụng những thuộc địa làm nơi trốn tránh của lực lượng phản cách mạng hay ít nhất cũng dựa vào đấy để tổ chức ra nó. Ngay từ bây giờ chúng ta phải dự phòng sách lược này và muốn vậy chúng ta phải cố gắng tranh thủ cảm tình của quần chúng bản xứ và giáo dục họ bằng cách chỉ ra rằng những nỗi đau khổ của họ cũng có cùng nguyên nhân với đau khổ của giai cấp công nhân ở chính quốc. Đề ra nhiệm vụ này chưa phải là tất cả mà còn phải dốc lòng làm những nhiệm vụ thực tiễn phát sinh từ đó. Điều đó không dễ, vì nhiều lẽ:

a/ Thứ nhất, ở trong Đảng Cộng sản còn chưa có truyền thống vững vàng về mặt hoạt động thuộc địa. Quốc tế thứ hai gần như hoàn toàn thờ ơ với việc tạo ra ở thuộc địa phong trào đối kháng chống lại chủ nghĩa tư bản mà bằng lòng với việc đưa ra những bản tuyên bố của chủ nghĩa cải lương lập lờ và vô hiệu quả. Vậy ngày nay Đảng cộng sản phải tổ chức tất cả.

b/ Điều làm cho phức tạp và khó khǎn của sự nghiệp này cũng chính là sự khác nhau của các loại thuộc địa hợp thành lãnh thổ thuộc địa Pháp. Vì thế, những phương sách hoạt động không giống nhau và phải thay đổi theo từng nhóm thuộc địa lớn. Về đại thể, người ta có thể chia các thuộc địa làm 5 loại như sau: Bắc Phi, Tây Phi và châu Phi xích đạo, Đông Dương, Mađagátxca, các thuộc địa cũ.

c/ Một khó khǎn khác là thiếu khả nǎng tự giải phóng ở hầu hết những người bản xứ. Họ không có quá khứ cách mạng; trong nhiều thuộc địa họ quen thói nô lệ và còn chưa nhận khả nǎng tự giải thoát khỏi cảnh đó. Nỗ lực của chúng ta nhằm giải phóng họ và dắt dẫn họ, và qua đó, hành động cách mạng của chúng ta sẽ không được họ ủng hộ nghiêm chỉnh, ít ra là lúc bắt đầu ở những nước có chế độ chuyên chế độc đoán.

Bằng bất cứ cách nào những khó khǎn đó cũng không thể biện minh cho việc Đảng cộng sản từ bỏ một chính sách thuộc địa thực tế và có kết quả. Nếu chúng ta nêu ra những điều đó cốt chỉ ra ích lợi của một tổ chức đặc biệt chuyên lo tuyên truyền cộng sản thành công.

Tổ chức đặc biệt này, Ban lãnh đạo đã chuẩn bị lập một Ban nghiên cứu thuộc địa trong trụ sở Đảng.

Ban này là một cơ quan tư vấn tuyển người trong số các chuyên gia, nghĩa là những đảng viên có hiểu biết về các thuộc địa để đến đó sinh sống.

Nó có nhiệm vụ thu thập tài liệu về thuộc địa, cung cấp cho các Đại hội đảng và trong thời gian giữa hai đại hội, cho Ban lãnh đạo những kết luận có thể cho phép ra những quyết định thích hợp về mặt học thuyết, tuyên truyền và sách lược.

Ban nghiên cứu thuộc địa đã thảo một bản tường trình về tình hình hiện nay của các nhóm thuộc địa khác nhau, xác định rõ ràng những yêu cầu chủ yếu về loại kinh tế, chính trị, và xã hội mà người bản xứ cũng như người lao động chính quốc sống ở thuộc địa cảm nhận thấy. Từ sự kiểm chứng những nhu cầu đó, Ban đã rút ra những kết luận, những quy tắc sách lược thích hợp qua việc vận dụng chúng, để gây nên ở thuộc địa một phong trào đối lập chống chủ nghĩa tư bản và phong trào gây cảm tình với cộng sản.

Vì chương trình nghị sự của Đại hội Mácxây quá nặng nên báo cáo này của Ban nghiên cứu thuộc địa, đáng tiếc là không thể được xem xét và thảo luận ở đó được. Nhưng điều mà người ta có thể trông đợi ở Đại hội Mácxây, trước hết là Đại hội tán thành nguyên tắc thành lập một cơ quan đặc biệt phụ trách chính sách về thuộc địa của Đảng, tiếp đó là uỷ quyền cho Ban lãnh đạo thấy rõ: 1/ Tiếp tục và mở rộng nhiệm vụ chuẩn bị đã được khởi đầu. 2/ Trình bày ở Đại hội sau của Đảng một luận cương về thuộc địa đã được nghiên cứu nghiêm túc để Đại hội thảo luận đến nơi đến chốn sao cho từ đó Đảng có một chính sách thuộc địa rõ ràng, có phương pháp và thiết thực.

Bởi vậy, chúng tôi đề nghị Đại hội thông qua nghị quyết dưới đây:

” Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, họp ở Mácxây sau khi nghe bản báo cáo do Ban lãnh đạo thay mặt Ban nghiên cứu thuộc địa trình bày, chỉ ra sự cần thiết trong thời gian ngắn nhất phải tạo ra một phong trào đối kháng mang tinh thần cộng sản, chống chủ nghĩa tư bản và hai hình thức đặc biệt của nó là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa pháo thuyền ở các thuộc địa.

“Xét tính phức tạp của vấn đề thuộc địa, vì có sự không thuần nhất của các thuộc địa và xét sự phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội thường chậm chạp của dân bản xứ, đồng thời xét đến sức mạnh của chế độ chuyên chế hành chính mà họ là nạn nhân.

“Chuẩn y nguyên tắc lập thành một cơ quan đặc biệt chuyên nghiên cứu và sưu tập tư liệu về thuộc địa là cơ quan tư vấn, đặt dưới quyền kiểm tra của Ban lãnh đạo.

“Giao cho Ban này bằng mọi phương sách cần thiết nhằm tích cực tuyên truyền ngay từ bây giờ về thuộc địa trong khi chờ đợi một dự án hoàn chỉnh và chi tiết về hoạt động thuộc địa được thảo luận ở Đại hội tới của Đảng.

“Đặc biệt Đại hội đề nghị Ban lãnh đạo dành một mục để nghiên cứu vấn đề này trên báo L’Humanité và trong các sách, báo và ấn phẩm của Đảng.

“Đại hội đề nghị các ban nói chung, đặc biệt là các ban tồn tại ở các thuộc địa hay ở những thành phố có quan hệ thường xuyên với các thuộc địa đó cũng như những người cộng sản biệt lập thuộc mọi chủng tộc, hợp tác ngay từ bây giờ với Ban nghiên cứu thuộc địa”.

Tháng 12 nǎm 1921
BAN NGHIÊN CỨU THUỘC ĐỊA

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Hội Liên hiệp thuộc địa (1921)

Đồng bào thân mến,

Nếu câu phương ngôn “Đoàn kết làm ra sức mạnh” không phải là một câu nói suông,

Nếu đồng bào muốn giúp đỡ lẫn nhau,

Nếu đồng bào muốn bênh vực cho quyền lợi của bản thân mình, cũng như quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ thuộc địa,

Hãy gia nhập Hội liên hiệp thuộc địa.

ĐIỀU LỆ TRÍCH YẾU

Điều 2 – Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để; soi sáng cho những người dân ở thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa.

Điều 4 – Tất cả hội viên phải đóng hội phí 3 tháng một kỳ là 9 phrǎng.

Điều 10 – Tất cả hội viên bất kỳ lúc nào, đều có thể gửi thư đến trụ sở của Hội để yêu cầu những điều lợi ích mà Hội dành riêng cho các hội viên của mình.

Điều 13 (1) – Hội sẵn sàng giúp đỡ và cứu trợ cho mọi hội viên của các nhóm đã gia nhập Hội.

Điều 14 (2) – Trong phạm vi tài chính sẵn có, Hội có thể cung cấp cho tất cả hội viên những báo chí và tài liệu có liên quan đến sinh hoạt của các thuộc địa, hoặc chuyên lo bênh vực cho các thuộc địa.

BAN CHẤP HÀNH:

Đại diện:

Đông Dương: Nguyễn ái Quốc (thợ sửa ảnh)

Đảo Rêuyniông: Báckítxô (trạng sư)

Đahômây: M.Blôngcua (trạng sư)

Goađơlúp: Giǎng Báptixtơ (nhà buôn)

Quần đảo Ǎngtiơ: Môranhđơ (nhà buôn)

Máctiních: Môngnécvin (đại diện thương mại)

Guyan: Ônôriǎng (Chủ nhiệm) , Giám đốc Hội chữ thập đỏ.

Đồng bào hãy gửi đơn xin vào hội cho Môngnécvin, 9, Phố Valéttơ, quận 5, Pari; hoặc cho Nguyễn ái Quốc, 9, Ngõ Côngpoanh, quận 17, Pari.

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

—————————–

1)Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

2)Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Lời kêu gọi của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp (1-1922)

Chúng tôi hiểu nỗi đau khổ của các bạn, nhưng các bạn chưa hiểu nỗi đau khổ của chúng tôi. Có lẽ các bạn cho rằng tất cả mọi người ở Pháp đều có quyền hành và ai cũng muốn giữ các bạn trong vòng nô lệ.

Thật ra những người gây ra sự lầm than cho các bạn và giữ các bạn trong cảnh khổ đó để lợi dụng chỉ là một số ít, chúng có quyền hành vì chúng giàu. Chúng tôi là số đông và đang đấu tranh chống lại chúng vì chúng tôi cũng như các bạn là nạn nhân sự tàn bạo của chúng. Các anh em người bản xứ thấy rõ chúng tôi cùng với anh em có chung một kẻ thù là bọn chủ của chúng tôi. Chúng tôi thành lập ở đây một chính đảng lớn đấu tranh để giải phóng những người không có quyền hành ở chính quốc và cũng muốn đấu tranh để giải phóng những người bản xứ ở thuộc địa bị bắt làm nô lệ.

Chúng tôi yêu cầu các bạn giúp đỡ chúng tôi trong nhiệm vụ đó, vì các bạn và chúng tôi, chúng ta cùng chung một lợi ích. Chúng tôi yêu cầu các bạn coi chúng tôi như bạn và anh em của các bạn. Chúng tôi sát cánh với các bạn trong cuộc kháng chiến và đấu tranh của các bạn chống sự tham tàn của bọn thực dân, sự hung bạo của bọn cai trị và binh lính, bọn này có những tên đồng loã là bọn quan lại bản xứ.

Ngày mà chúng ta sẽ được tự do nhờ ở thành công của sự thay đổi mà chúng ta đang chuẩn bị đây, sự lầm than khổ cực của các bạn sẽ chấm dứt. Lúc đó các bạn sẽ có thể tự điều khiển lấy công việc của mình và kết quả lao động của các bạn sẽ thuộc về các bạn. Mối quan hệ giữa chúng tôi với các bạn sẽ là những mối quan hệ đoàn kết và liên minh.

Viết vào tháng 1-1922. Đǎng báo
Nhân dân, số 7.691, ngày 26-5-1975.
cpv.org.vn

Bản truyền đơn bằng tiếng Việt của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp

Các bạn lao động bản xứ! Những người cộng sản ở chính quốc hiểu rõ nỗi đau khổ của các bạn… Các bạn bị hai lần bóc lột: là lao động và là dân bản xứ. Những người chủ các bạn từ chính quốc đến không hành động một mình. Những người quyền thế ở nước các bạn, bọn đại địa chủ và bọn cầm đầu muốn giữ của cải và quyền hành của chúng. Để bóc lột các bạn, chúng đã câu kết với chính quyền, bọn thực dân và các công ty châu Âu… Như ở khắp mọi nơi trên thế giới, chúng tôi đã lập ra một Đảng Cộng sản lớn đấu tranh để giải phóng mọi người lao động.

Đảng muốn hoạt động ủng hộ những người anh em của mình ở thuộc địa. Nó đề nghị các bạn cho biết những sự đàn áp mà các bạn là nạn nhân. Nó dành cho các bạn báo chí của nó và sự giúp đỡ của những nhà hoạt động chính trị của nó. Nó đề nghị các bạn giúp đỡ nó tích cực và ở nước thuộc địa nào có chi bộ Đảng, chúng tôi mong các bạn coi đó là những cơ quan bảo vệ các bạn. Nó đề nghị các bạn đoàn kết lại giữa những người lao động ở nhà máy và nông thôn, bến tàu và có những mối quan hệ hữu nghị với những người lao động từ chính quốc tới ngày càng nhiều, họ thuộc cùng giai cấp với các bạn.

Vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức.

Đǎng trên báo Nhân dân,
số 7.689, ngày 24-5-1975.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi tham gia Hội hợp tác xuất bản báo Le Paria (10-2-1922)

Pari, ngày 10 tháng 2 nǎm 1922

Các đồng chí thân mến,

Các đồng chí đã nhận hay sẽ nhận một bản điều lệ Hội hợp tác của báo Le Paria. Hội này đang thành lập sẽ xuất bản một tờ báo như tên đã nêu và đó sẽ là một xuất bản phẩm thật sự của thuộc địa.

Chẳng cần nhấn mạnh đến sự khẩn cấp phải cho ra tờ báo này. Các bạn ta ở chính quốc bắt đầu cảm thấy cần phải thay đổi tình hình hiện nay ở các thuộc địa. Nhưng do chỗ không có tư liệu, họ chờ mãi mãi hoặc hành động chẳng chắc chắn gì. Trong cả hai trường hợp, có nguy cơ họ làm hại phong trào chung để thiết lập lại công lý trong nhân dân các thuộc địa.

Về phía mình, các dân tộc ở thuộc địa tiếp tục tưởng rằng nhân dân Pháp luôn luôn là những viên chức hoạnh họe và chẳng có lòng xót thương này hay là những tên thực dân mà chương trình là bóc lột vật và người ở thuộc địa. Tiếng nói của những cựu chiến binh người bản xứ, đã từng đau khổ bên cạnh những “người lông lá xồm xoàm” ở Pháp, lại càng bất lực để ngǎn họ khỏi tin rằng mọi binh
sĩ cũ của “đại chiến”, – dưới con mắt các vị có chức quyền ở thuộc địa, – là một người đáng ngờ và là một đối tượng phải kiểm soát đặc biệt nghiêm ngặt.

Các bạn ở mẫu quốc, các đồng chí ở thuộc địa, vì lợi ích của công lý, chân lý và tiến bộ, cần phải xoá khoảng cách giả tạo dường như chia rẽ các đồng chí. Tờ Le Paria, là tờ báo đầu tiên nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ ấy.

Nhiệm vụ này chẳng dễ dàng gì; để đối phó, với hy vọng thắng lợi, chúng tôi kêu gọi sự tận tuỵ của các đồng chí mà tôi biết là vô biên.

Hãy tham gia hội hợp tác của chúng ta, Le Paria, hay đặt mua dài hạn ngay từ bây giờ tờ báo của chúng tôi cùng tên ấy; hoặc, nếu được, các đồng chí hãy làm cả hai điều trên. Sự thành công của chúng ta phụ thuộc vào sự tận tuỵ của đồng chí, và tương lai các thuộc địa lại phụ thuộc vào sự thành công trên; chúng ta dám khẳng định như vậy .

Cố gắng lên một chút, bằng cách giúp đỡ chúng tôi. Các bạn và các đồng chí, sẽ phục vụ sự nghiệp hoà bình và nhân loại.

Rất thân thiết.

Thay mặt Hội đồng quản trị
XTÊPHANY

Thủ quỹ chính
GUTƠNOA ĐƠ TURY

Thủ quỹ phụ
NGUYỄN ÁI QUỐC
cpv.org.vn