Con trai “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ “Nhớ Bắc”

QĐND – Bài thơ “Nhớ Bắc” của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam. Sức sống của bài thơ, nhất là hai câu “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” được coi là “thần thi”, một lần nữa được thổi bùng lên như một hào khí nhân dịp thủ đô Hà Nội nghìn năm tuổi. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của bài thơ cùng những dị bản của hai câu “thần thi” trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Chúng tôi đã gặp ông Huỳnh Văn Nam, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng nam của gia đình “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Ông Nam đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu có giá trị to lớn về thân thế, sự nghiệp của cụ Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có tài liệu về bài thơ “Nhớ Bắc”.

PV: Theo tìm hiểu của chúng tôi về xuất xứ của bài thơ, thì hiện nay đang có hai cách lý giải. Những tài liệu nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết… cùng nhiều tài liệu trích dẫn khác thì cho rằng, bài thơ được Huỳnh Văn Nghệ sáng tác tại Chiến khu Đ năm 1946 trong thời kỳ ông chỉ huy lực lượng kháng Pháp ở đó. Trong cuốn sách “Huỳnh Văn Nghệ-tác giả và tác phẩm” do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2008, tác giả Bùi Quang Huy lại cho rằng, bài thơ này ra đời từ năm 1940 ở Sài Gòn. Vậy tài liệu nào là chính xác?

Ông Huỳnh Văn Nam: Tôi là trưởng nam nên hầu hết các tài liệu lịch sử của gia đình do ba tôi để lại, trong đó có bài thơ “Nhớ Bắc” tôi vẫn lưu giữ cẩn thận, trong đó có một bản chép tay do chính ba tôi viết. Ở bản chép tay này, bài thơ có tên là “Tiễn bạn về Bắc”, đề năm sáng tác là 1940, tại ga Sài Gòn. Như vậy bài thơ “Nhớ Bắc” ra đời từ năm 1940 tại Sài Gòn là hoàn toàn chính xác.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và con trai Huỳnh Văn Nam thời nhỏ. Ảnh chụp lại.

Kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác cùng lời kể của ba tôi thì hoàn cảnh ra đời bài thơ là thế này: Vào năm 1940, thực dân Pháp khánh thành tuyến xe lửa từ Nam ra Bắc đầu tiên. Nhân sự kiện quan trọng này, Sở Hỏa xa Sài Gòn có chủ trương ưu tiên vé cho nhân viên đang công tác tại sở được đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa. Do lượng người đăng ký quá đông, trong lúc vé ưu tiên có hạn nên Sở Hỏa xa Sài Gòn phải tổ chức bốc thăm. Ba tôi (thời kỳ này đang công tác tại Sở Hỏa xa) may mắn bốc trúng thăm được đi. Tuy nhiên, đến phút chót thì ông quyết định nhường vé cho một người bạn cùng phòng vì thương bạn. Khi tiễn bạn ra ga lên tàu, từ tâm trạng bồi hồi, xúc động, ông đã sáng tác bài thơ này. Những chất liệu tạo nên cảm xúc cho bài thơ xuất phát từ những câu chuyện kể của người bạn về Hà Nội chứ thực ra trước khi bài thơ ra đời, ba tôi chưa một lần đặt chân đến Hà Nội.

PV: Trong bản chép tay này, không chỉ có đầu đề bài thơ mà một số câu, từ trong đó cũng khác so với một số dị bản đang phổ biến hiện nay. Đặc biệt, hai câu “thần thi” được chép là “Từ độ mang gươm đi giữ nước/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Như vậy là nguyên tác của bài thơ là “giữ nước” chứ không phải “mở cõi”?

Ông Huỳnh Văn Nam: Từ nguyên tác đến các văn bản phổ biến sau này đã có sự chỉnh sửa. Hai câu thơ này có rất nhiều dị bản, nhất là các từ đầu và cuối. Nguyên tác của nó là “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Nhưng bản in đầu tiên khi bài thơ đến với công chúng thì hai câu thơ này được sửa là: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Người sửa là nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ sau đó đã nhanh chóng khẳng định vị trí của nó, trở thành vật “gối đầu giường” của thanh niên, thôi thúc ý chí Nam tiến bảo vệ Tổ quốc. Sau này ba tôi có kể lại, nhiều chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam đã mang cho ông xem bản in bài thơ đã được chỉnh sửa. Ông đã nói với mọi người về văn bản nguyên tác.

Cuối những năm 50 của thế kỷ hai mươi, ba tôi ra Bắc nhận công tác ở Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu. Gia đình tôi ở tại ngôi nhà số 10, phố Lý Nam Đế. Nhiều người hay quen gọi đây là “Phố nhà binh”. Tôi còn nhớ có lần một nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến nhà gặp ba tôi xin được đăng bài thơ này trên tạp chí theo bản thảo nhà thơ Xuân Diệu đã sửa. Ba tôi đã đồng ý với đề nghị này. Cũng bởi thế nên bài thơ theo văn bản đã chỉnh sửa được lưu truyền sâu rộng trong các tầng lớp bạn đọc từ đó về sau.

Cũng cần nói thêm là trong từng giai đoạn, do hoàn cảnh xã hội, lịch sử, hai câu thơ được lưu truyền trong dân gian với nhiều dị bản khác nữa. Chẳng hạn trong giai đoạn kháng chiến, nhiều cán bộ, bạn bè, đồng đội đã đề nghị ông thay hai chữ “mở cõi” bằng “giữ nước” để phù hợp với tinh thần hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Bản chép tay này (in kèm bài viết) được chép trong hoàn cảnh như vậy. Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam. Đến nay, hai câu thơ đã được phổ biến theo đúng nguyên tác: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” và đã được khắc bia.

PV: Bài thơ “Nhớ Bắc” đã trở thành thi phẩm kinh điển trong đời sống tinh thần hàng triệu người dân Việt. Là con trai của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, cảm nhận riêng của ông về bài thơ “Nhớ Bắc” như thế nào?

Ông Huỳnh Văn Nam: Cảm nhận  chung đó là chất hào khí của bài thơ, đặc biệt ở hai câu “thần thi”. Hào khí Nam Bộ xuất phát từ hào khí Thăng Long. Hào khí ấy được đúc kết từ tư tưởng, tâm hồn dân tộc từ ngàn đời nay. Dù có đi bốn phương trời, người dân Việt luôn luôn hướng về trái tim đất nước. Với riêng tôi, tôi tự hào khi được là người tiếp nối truyền thống ông cha. Tôi đã viết một bài thơ ngắn, họa lại bài thơ của ba tôi:

Ông tôi xưa mang gươm đi mở cõi

Cha tôi làm thơ thương nhớ đất Thăng Long

Còn tôi suốt hai mùa mưa nắng

Hát mãi về em Hà Nội trái tim hồng!

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thanh Kim Tùng (thực hiện)
qdnd.vn

Có hay không nghĩa trang đầu tiên của Liên khu 5?

QĐND – Tháng 5-2010, Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Tư lệnh Quân khu (nay là Phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) nhận được thư của một cựu chiến binh thông báo về nghĩa trang QĐNDVN do Liên khu 5 xây dựng tại sân vận động Quy Nhơn năm 1955 đã bị trôi vào lãng quên. Cũng thời gian này, Đại tướng Nguyễn Quyết, Trung tướng Nguyễn Đôn, đã gửi thư đề nghị Chính phủ, Bộ Quốc phòng xây dựng tượng đài chiến thắng của quân dân Liên khu 5 tại Quy Nhơn. Trung tướng Nguyễn Trung Thu đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc.

Dấu ấn giữa lòng dân

Trò chuyện với chúng tôi tại nhà riêng số 6 Đội Cấn, thành phố Quy Nhơn, Đại tá CCB Hoàng Liên sôi nổi: “Ngày đó, mặc dù bận rộn trăm công nghìn việc trước khi thực hiện chuyển quân ra miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, cùng với làm các công trình dân sinh khác, Bộ tư lệnh Liên khu 5 đã chủ trương xây dựng một nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Liên khu ở thị xã Quy Nhơn, còn gọi là Nghĩa địa QĐNDVN, tập trung một số hài cốt cán bộ, chiến sĩ hy sinh ở các chiến trường về nhằm mục đích ghi nhớ công lao của các liệt sĩ và để lại dấu ấn lịch sử trong lòng đồng bào”. Trải lên bàn 4 bức ảnh mà ông còn giữ được về nghĩa trang, ông Liên không dứt mạch ký ức: “Những ngày chuẩn bị tập kết sôi động lắm. Tôi cùng các anh trong Ban 300 thuộc Phòng Chính trị Liên khu rong ruổi đến các nơi tuyên truyền chủ trương của Đảng về Hiệp định Giơ-ne-vơ, khi trở về lại Quy Nhơn thì việc xây dựng nghĩa trang đã xong. Tôi may mắn được chọn kéo cờ trong buổi khánh thành. Sau lời diễn văn của đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Liên khu, tôi bước vào vị trí. Các anh trong tổ chụp ảnh của phòng đã kịp bấm máy và tặng cho tôi những tấm ảnh này. Tập kết ra Bắc, tôi gói những tấm ảnh vào giấy bóng, cất sâu trong rương. Khi quay vào Nam chiến đấu thì gửi đồ đạc ở nhà hàng xóm. Sau ngày giải phóng tất cả đều bị thất lạc và hư hỏng vậy mà những tấm ảnh vẫn còn nguyên”.

Lễ khánh thành Nghĩa địa QĐND Việt Nam (năm 1955).

Khi được hỏi, sao có trong tay nhân chứng rõ ràng thế mà không báo cho các cơ quan chức năng sớm hơn, nguyên Phó hiệu trưởng chính trị Trường Văn hóa Quân khu 5 trả lời rằng, mới đây gặp lại những người có mặt tại nghĩa địa năm xưa, các ông mới quyết định lên tiếng với nguyện vọng mong được xây dựng một tượng đài nơi đây để nhắc nhở, giáo dục con cháu mai sau.

Theo ông Hoàng Minh Tùng, nguyên chiến sĩ Đại đội 305, Tiểu đoàn 71 (công pháo) trực thuộc Phòng Tham mưu Liên khu, người trực tiếp xây dựng nghĩa trang hiện ở 94 Nguyễn Thái Học thì việc xây dựng công trình này kéo dài trong khoảng 100 ngày, tức là cuối năm 1954 đến tháng 4-1955 thì xong. Vị trí được chọn là khu đất rộng chừng 300m2 một phần sân vận động (nay là khu vực sân ten-nít), tiếp giáp chùa Long Khánh và các con đường lớn của thành phố, đặc biệt không xa chợ Quy Nhơn và trường Quốc học. Chính nhờ vị trí trung tâm này mà từ khi xây dựng đến sau khi khánh thành, nghĩa trang lúc nào cũng có người đến thăm viếng, thắp hương. Có chuyên môn về ngành công binh, ông Tùng trực tiếp chỉ đạo lực lượng lên thành Bình Định tháo gỡ đá ong về làm khoảng 120 mộ, rất kỹ lưỡng với những tấm đá được kê kích vuông vắn, sâu xuống mặt đất, đồng thời lại dựng những tấm khác kê nhô lên trên gần cả mét. Trước khi đưa ra nghĩa trang, hài cốt liệt sĩ từ các nơi chuyển về đựng trong các tiểu bằng sành hoặc gỗ có tên và không có tên, tập trung ở hội quán chùa Long Khánh, có lập bàn thờ, phủ cờ Tổ quốc, hương khói nghi ngút. Hội quán lúc đó chỉ là căn nhà nhỏ sơ sài (nay đã sửa sang xây dựng lại bề thế). Ngoài hơn 100 chiến sĩ của Đại đội 305 trực tiếp xây dựng, còn có các cháu học sinh đến khắc bia và sơn màu, các mẹ, các chị nấu nước. Nhà chùa do Hòa thượng Thích Tam Hoàng trụ trì đã tổ chức cầu siêu vong linh các liệt sĩ nhiều ngày liền.

Có còn hài cốt liệt sĩ ở sân vận động?

Theo lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Nguyên Phước, trụ trì chùa Long Khánh, chúng tôi tìm đến khuôn viên nhà chùa gặp Hòa thượng Thích Nguyên Trạch, hiệu Giác Lâm, người đã sống ở đây thời Pháp thuộc. Hòa thượng Thích Nguyên Trạch nói: “Thời điểm làm nghĩa địa tôi có biết, bởi tấp nập lắm. Vả lại ranh giới giữa nhà chùa và sân vận động chỉ là những bụi cây lúp xúp, thấy rõ mồn một. Qua năm 1956 thì chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu cho di dời. Họ mời tôi ra cầu siêu. Sau lễ là cất bốc, họ làm vội vàng nhưng trật tự, không thấy dùng xe xúc ủi. Mấy ngày sau thì đã trao sân cho bên sở thể thao. Đa số người vùng này là Phật tử, coi trọng tâm linh, việc vùi lấp hài cốt dù là bên nào cũng khó có thể xảy ra…”.

Khiêng bia vào nghĩa địa (năm 1955). Ảnh tư liệu

Chắc chắn không còn hài cốt nào ở sân vận động hiện nay cũng là ý kiến của ông Nguyễn Hậu, hiện ở thôn Vĩnh Hy, Phước Lộc, Tuy Phước (Bình Định). Ông Hậu là y tá của Thị đội Quy Nhơn, đáng lẽ đã tập kết ra Bắc chuyến cuối cùng nhưng do bị sốt cao nên ở lại. Ông nhớ chính xác rằng, ngày chế độ Ngô Đình Diệm dời hài cốt liệt sĩ đi nơi khác là đúng dịp thanh minh (tiết tháng Ba). Chúng dùng xe GMC, có lẽ đến 5, 6 chiếc cất bốc đưa vào các thùng đạn. Ban đầu chúng làm có vẻ thận trọng, mỗi hài cốt kể cả bia mộ bỏ vào một thùng đạn bằng gỗ, nhưng ngày hôm sau trước sự đấu tranh của quần chúng nhân dân không cho di dời, chúng làm hối hả, dùng đèn pha rọi làm luôn đêm của ngày hôm sau để đưa bằng hết các liệt sĩ ra khỏi nghĩa địa. Ông Hậu khẳng định, chắc chắn số hài cốt bị thất lạc, hoặc không có tên là do chúng bỏ lẫn lộn vào thùng đạn, hoặc bị thất lạc tại nghĩa địa Ghềnh Ráng bởi thời gian và cát bụi phủ lấp.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, qua 3 lần di dời từ các nơi về nghĩa trang; chính quyền ngụy di chuyển ra khu vực Trại gà (nay là phường Ghềnh Ráng) và Ty thương binh xã hội đưa hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang Quy Nhơn nên số liệt sĩ có tên bị thất lạc nhiều. Hiện nay ở Nghĩa trang Quy Nhơn chỉ còn 41 mộ có tên (Trung đoàn 108: 32 mộ; Trung đoàn 803: 9 mộ) và 58 mộ không có tên. Các Trung đoàn 120, 95 từng có liệt sĩ quy tập thời chống Pháp nhưng không thấy tên. Tiếc là bản danh sách các liệt sĩ được chôn cất lần đầu hiện nay không còn ai lưu giữ nên việc xác minh danh tính là điều rất khó khăn.

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Hữu Chỉnh, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5 cho biết: Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã có công văn gửi UBND tỉnh Bình Định nhằm kết luận cuối cùng có nghĩa địa QĐNDVN tại Quy Nhơn vào thời điểm 1954-1955 để UBND tỉnh chỉ đạo các ban ngành chức năng thực hiện theo Nghị định 16/CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 26-1-2007 về việc ” Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, quản lý mộ nghĩa trang, đài tưởng niệm…”. Việc xây dựng tượng đài quy mô cấp tỉnh hay cấp Nhà nước sẽ do các cấp có thẩm quyền quyết định.

Ở sân vận động Quy Nhơn, cuộc sống vẫn tiếp diễn và sôi động hằng ngày. Tôi thầm nghĩ vong linh các liệt sĩ từng nằm đây 55 năm trước ắt hẳn đã có thể mỉm cười nơi chín suối vì đồng đội và nhân dân đã luôn nhớ về họ như nhớ về một giai đoạn lịch sử bi tráng của quân và dân Liên khu 5 anh dũng.

Hồng Vân
qdnd.vn

Chuyện về tên tướng phản bội Vla-xốp

Trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), rất nhiều sĩ quan và binh sĩ Quân đội Xô Viết được phong danh hiệu cao quý Anh hùng Liên Xô vì những chiến công kiệt xuất và sự hy sinh dũng cảm của họ. Tuy nhiên, cũng đã có một số người bị quân thù bắt làm tù binh rồi trở thành tay sai đắc lực phục vụ kẻ thù, phản bội Tổ quốc và nhân dân mình. Trong số đó có Trung tướng An-đrây An-đrê-ê-vích Vla-xốp.

Vợ chồng Vla-xốp trước chiến tranh.

“Tôi không có sự dao động nào”

Trong bản lý lịch tự thuật, vị Trung tướng này ghi: “Vla-xốp An-đrây An-đrê-ê-vích, sinh ngày 19-8-1901. Tự nguyện gia nhập Hồng quân Công nông Xô viết… Không tham gia các nhóm đối lập và chống Đảng. Không có sự dao động nào. Luôn luôn đứng vững trên đường lối chung của Đảng…”. Nhiều vị tướng và sĩ quan cao cấp của Hồng quân xuất thân từ quân đội Nga hoàng không thể có được những lời khai về mình như Vla-xốp đã viết. Đây là điều giúp Vla-xốp thăng tiến trên đường công danh của mình. Khi bắt đầu chiến dịch loại trừ toàn bộ “những kẻ thù của nhân dân” ra khỏi quân đội, thật khó tìm được một đề cử để bầu vào các ủy viên của tòa án quân sự ở các quân khu. Thế mà Vla-xốp đã làm được điều đó.

Trước khi đầu hàng Đức và sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp chưa hiện rõ thì ở y đã lộ rõ bản chất phiêu lưu tình ái và phản bội vợ và những người tình khác của y. Có nhiều người nói rằng trong thời gian Vla-xốp được phái đi làm cố vấn quân sự cho Tưởng Giới Thạch (1938-1939), y đã có ý định “chơi trò chăn gối” với vợ của vị thủ lĩnh này. Rồi sau đó để “giải quyết sự buồn tẻ” của chuyến công cán dài ngày này, Vla-xốp đã “mua dùng” trong ba tháng một cô gái vị thành niên người bản địa.

Sự việc trên cũng có thể chỉ là sự tung tin thất thiệt của một số cơ quan tình báo có chủ ý. Tuy nhiên chuyện phiêu lưu tình ái và phản bội người tình ở Liên Xô và Đức của Vla-xốp thì không ai chối cãi được: về vụ việc này đã được lưu giữ hàng tập tài liệu nhân chứng vật chứng trong các cục lưu trữ.

Những bức thư có câu kết mùi mẫn

Mùa hè 1936, vị trung đoàn trưởng 35 tuổi A.A.Vla-xốp say mê cô tình nhân U-li-a-na Ô-xa-tra. Sau khi cô này sinh một đứa con gái với y thì bị y bỏ rơi. Rồi y có người vợ chính thức là An-na. Khi chiến tranh xảy ra, An-na đi sơ tán thì Vla-xốp có ngay người tình trên chiến trường là nữ y tá A-gnê-xa Pốt-ma-den-cô 25 tuổi. Tới tháng 2-1942 A-gnê-xa buộc phải rời quân ngũ theo lệnh. Cô gái này chưa kịp chuyển đi thì vị tướng đó lại “vời” người tình mới để “sưởi ấm cho mình nơi trận mạc” là Ma-sa Vô-rô-mi-na. Khi cả hai đã bị quân Đức bắt thì “mối tình dã chiến” này cũng chấm dứt.

Khi vừa trở thành tù binh của Đức, Vla-xốp cũng đã kịp tìm cho mình mối tình mới nơi đây. Để mua chuộc, dụ dỗ vị tướng này, Bộ chỉ huy Đức đã đưa đến các cô gái “hấp dẫn”. Tuy nhiên, Vla-xốp sau đó đã xin được cưới làm vợ người quả phụ của một sĩ quan S.S là Hây-đi Bi-len-bớc (Heidy Bilenberg).

Trong quan hệ với người vợ và những người tình, Vla-xốp đã chứng tỏ mình là một “người tình đa diện”, “người lá mặt lá trái” trong quan hệ với phụ nữ. Sau đây là một số đoạn trong các bức thư gửi cho vợ – cô An-na và gửi cho người tình A-gnê-xa ông ta viết cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.

Vla-xốp “hùng hồn kêu gọi” các tù binh Liên Xô tham gia “Quân đội giải phóng nước Nga” khi đã bị phát xít Đức bắt.

Một đoạn viết cho vợ là An-na Mi-khai-lốp-na: “…A-ni-a dễ thương và thân yêu! Ngoài thư em gửi cho anh thì anh không nhận một thư nào của ai cả, do vậy mà anh không viết cho ai… Trong thời gian gần đây, anh không giấu em là anh bắt đầu rất buồn nhớ em… Khi xa cách em, anh yêu em nhiều hơn trước… Anh An-đriu-xca2 mọi lúc và mọi nơi đều yêu quý em. Ngày 02-02-1942”.

“… Sao em lại không tin, A-ni-a yêu quý!… Anh đã được trò chuyện với Ông Chủ lớn nhất của chúng ta… Em không thể hình dung nổi rằng anh rất hồi hộp và đã ra khỏi phòng ông ta với niềm phấn chấn. Em, rõ là khó tin được rằng ở con người vĩ đại như thế lại có thì giờ ngay cả cho việc riêng tư của chúng ta. Em hãy tin là ông đã hỏi anh rằng vợ anh nay ở đâu và sống như thế nào… Anh An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-ních yêu quý! Đã 11 tháng chúng ta xa cách nhau, nhưng trong tâm thức anh vẫn luôn luôn bên em… Em biết không, A-ni-a thân thương và yêu quý của anh, rằng Đảng và Chính phủ có phái An-đriu-xca của em đi bất cứ đâu thì anh ta vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự. An-đriu-xca rất yêu quý của em. Ngày 26-04-1942”.

Còn sau đây là những đoạn thư của Vla-xốp viết cho “người tình dã chiến” A-gnê-xa cũng vào đúng những thời điểm đó. “A-li-trơ-ca5 dễ thương và yêu quý!… Anh đã hiến cả đời mình cho em…, là người yêu em… – An-đriu-xca của em. Ngày 02-02-1942”

“A-li-trơ-ca yêu quý và dễ thương!… Anh được gọi tới Ông Chủ3 lớn nhất và quan trọng nhất của chúng ta. Em hãy tưởng tượng xem, ông đã trò chuyện với anh suốt tiếng rưỡi đồng hồ… Anh xin em, em bé yêu của anh, đừng buồn, đừng lo lắng vì nó có hại cho em. An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-li-a yêu quý và dễ thương của anh… Em biết rõ rằng Chính phủ và Đảng có phái anh đi bất cứ đâu thì anh vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự (y như lời thư viết cho vợ An-na trong ngày đó!)… Anh chỉ nghĩ và nghĩ về em yêu quý (và cả con em nữa)-ngoài ra anh không có ai là người gần gũi với tâm hồn và trái tim anh… An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em… Ngày 26-04-1942).

“A-li-xíc yêu quý và dễ thương! Anh rất buồn là em đã viết cho anh những bức thư không tốt như thế. Những lời bóng gió về “sự phục vụ”, v.v… Điều đó hoàn toàn làm anh giận. Bởi có lẽ chính em biết rõ rằng, ngoài em ra thì trong đời anh không có ai khác… Ngày 10-05-1942”.

Có thể trích dẫn ra nhiều bức thư như thế cùng đồng thời gửi cho vợ An-na và cả “người tình dã chiến” A-gnê-xa – là những “người thân yêu nhất và duy nhất” của y.

Kết cục tất yếu

Phản bội Tổ quốc và nhân dân, phản bội vợ và những người tình là bản chất thật sự của Vla-xốp. Thế nhưng, có một số sử gia xu thời đã tìm mọi cách biện bạch cho sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp rằng hắn đầu hàng Đức là chỉ để kêu gọi “thành lập một nước Nga mới không có người Bôn-sê-vích trong cộng đồng hợp tác với nước Đức”. Tuy nhiên, bằng những lời phát biểu của mình, vị tướng này đã trơ tráo đánh lừa nhân dân Nga mà ai cũng thấy rõ. Ví như ngày 27-12-1942, hắn nói trên đài phát thanh của Đức có đoạn: “Nước Đức đang tiến hành chiến tranh không phải chống lại nhân dân Nga và Tổ quốc của họ, mà chỉ chống lại chủ nghĩa Bôn-sê-vích…”. Hắn đã nói dối vì hắn biết chính xác mục đích của Hít-le là muốn biến người Nga “hạ đẳng” thành “loài gia súc làm việc”, bởi vì trong lợi ích của nước Đại Đức không muốn có “sự sinh sôi giống người Xla-vơ”.

Bộ Chỉ huy phát xít Đức đã lập ra cái gọi là “Quân đội giải phóng nước Nga” và “đặt” Vla-xốp vào vị trí Tư lệnh. Tuy nhiên Bộ chỉ huy Đức vẫn chưa đưa cả đội quân này ra trận đánh trực diện với Hồng quân với nhiều lý do về chiến thuật – chiến lược và lòng tin, mà chỉ phân ra từng đội nhỏ lẻ tẻ dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của các sĩ quan phát xít trong việc phục vụ các chiến dịch, hoặc các cuộc hành quân nhỏ lẻ. Trong đội quân phản bội này còn có các tên tướng bạch vệ cũ Kra-xnốp và Scu-rô (cư trú tỵ nạn ở Nam Tư), Xê-mi-ô-nốp (cư trú tị nạn ở Mãn Châu Lý). Còn “binh sĩ” của chúng là một số kiều dân Nga mà chủ yếu là một số sĩ quan Bạch vệ đã chạy trốn sau Cách mạng Tháng Mười để chống đối Liên Xô, một số binh lính Nga bị Đức bắt làm tù binh đã bị mua chuộc, bị đánh lừa…

Tuy nhiên cái tổ chức phản bội này cuối cùng cũng chẳng làm nên trò trống gì đáng kể theo yêu cầu của bọn phát xít xâm lược. Và kết cục tất yếu cuối cùng đã đến với chúng. Vla-xốp cùng bọn chỉ huy đầu sỏ như Kra-xnốp, Scu-rô, Xê-mi-ô-nốp, v.v… đã bị Tòa án tối cao Liên Xô tuyên án treo cổ. Một số khác đã tẩu thoát được và chạy trốn tránh tới Mỹ, Anh, Ca-na-đa và một số quốc gia khác.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Ghi chú: Trong tiếng Nga, tên người được gọi (hay viết) biến đổi một ít ở đuôi từ cho nhẹ nhàng, thân mật và âu yếm.

1. A-ni-a gọi âu yếm từ An-na.

2. An-đriu-xca – từ tên An-đrây.

3. Ông Chủ (tức Xta-lin)

4. A-ních – từ tên An-na.

5. A-li-trơ-ca – từ tên A-gnê-xa

6. A-li-a – từ tên A-gnê-xa

7. A-li-xic – từ tên A-gnê-xa

Xây dựng “vốn quân sự” đầu tiên

QĐND – Tháng 3-1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước, phong trào cách mạng của nhân dân ta ở Lạng Sơn, Cao Bằng và rút ra một nhận định quan trọng: “Điều rất đặc sắc là cuộc đấu tranh của công nông người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn có tính chất tổ chức chu đáo và theo những khẩu hiệu cộng sản rõ rệt. Công nông các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ của Đảng và các đoàn thể do Đảng chỉ đạo mà họ giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉ đạo từ hạ cấp tới thượng cấp” (Văn kiện Đảng 1929-1935, NXB ST, H.1977, Tr.480). Trên cơ sở nhận định ấy, Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ lần lượt cử cán bộ vào châu Bắc Sơn gây dựng cơ sở, kết nạp quần chúng trung kiên vào Đảng. Trong lớp cán bộ đầu tiên ấy là đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh. Nhờ đó, quần chúng cách mạng và các cơ sở của Đảng ngày càng tổ chức chặt chẽ, hoạt động sôi nổi và hiệu quả hơn. Với lòng yêu nước, căm thù giặc cháy bỏng, các chiến sĩ cách mạng kiên cường được tập hợp lại, và Đội du kích Bắc Sơn chính thức thành lập tại làng Đon Úy, xã Vũ Lăng. Đây là đội du kích đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo. Ông Lương Văn Tri, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ được cử làm Đội trưởng (trước đấy là ông Trần Đăng Ninh). Với nhận định: Phải duy trì và phát triển Đội du kích Bắc Sơn để làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, tiến tới xây dựng trung tâm căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Phương hướng hoạt động của đội là “vũ trang công tác”. Khi cần thiết thì chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân, phát triển cơ sở, mở rộng căn cứ.

Ống bương đựng gạo của Đội du kích Bắc Sơn. Ảnh tư liệu

Chiếc nồi dựng để nấu cơm cho Đội du kích Bắc Sơn thập niên 1940.

Được cử lãnh trách nhiệm nặng nề, ông Lương Văn Tri một mặt khẩn trương chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn. Mặt khác, phát triển lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nguồn bổ sung nhanh chóng cho đội du kích. Chủ trương của ông và toàn đội là sống tập trung, thoát ly gia đình để có thể cơ động nhanh trên địa bàn rộng. Vừa đánh địch bảo vệ lực lượng, vừa tuyên truyền tổ chức quần chúng. Đội du kích Bắc Sơn sau khi được ông chấn chỉnh và củng cố lại đã có hơn 20 đội viên, được trang bị các loại súng trường cướp được của địch. Ban ngày toàn đội rút vào rừng sâu, các hang động kín đáo để học tập. Ban đêm chia thành các tổ, phân công len lỏi về các bản làng hướng dẫn quần chúng đấu tranh; tiếp tế cho du kích; tổ chức diệt ác trừ gian. Điển hình là trận ra quân phục kích ở Tam Hoa, xã Hưng Vũ (năm 1941) bắn chết tên phó Thưởng và bắn bị thương tên Lý Tốn đang đi dò la tin tức.

Trong gian lao, nguy hiểm, Đội du kích Bắc Sơn do ông Tri làm đội trưởng vẫn tăng cường huấn luyện chính trị, quân sự, học tập chủ trương đường lối cách mạng của Đảng. Đặc biệt, ông hướng dẫn mọi người đi sâu và khéo vận dụng nghệ thuật vận động quần chúng trong đấu tranh từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị chuyển thành đấu tranh vũ trang. Trong đó ông rất chú ý tới việc xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa. Đồng thời với việc chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn, ông đã cùng ban chỉ huy đội dành nhiều thời gian, công sức cho công tác phát triển lực lượng tự vệ địa phương, tạo nguồn bổ sung cho đội.

Ngày 1-5-1941, là thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với Đội du kích Bắc Sơn, tại khu rừng Khuổi Nọi, được Trung ương nâng cấp phát triển Đội du kích Bắc Sơn thành Đội Việt Nam Cứu quốc quân, làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng, làm nòng cốt xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Hướng về lá cờ đỏ sao vàng (do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng, đồng chí Hoàng Văn Thụ trao cho đội tháng 2-1941), ông Lương Văn Tri đã thay mặt toàn đội hứa với Trung ương sẽ chăm lo phát triển tốt các tổ chức quần chúng, mở rộng phong trào, nối với các cơ sở cách mạng ở Võ Nhai tạo thành khu căn cứ liên hoàn, làm tròn mọi nhiệm vụ Đảng giao. Trước mắt, bảo vệ tuyệt đối an toàn đoàn cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương 8. Và dõng dạc đọc lời thề danh dự của đội: “Không phản Đảng. Không hại dân. Không hàng giặc. Tuyệt đối trung thành với Đảng. Kiên quyết phấn đấu để trả thù cho những đồng chí, đồng bào đã hy sinh”. Sau đó ông Lương Văn Tri chỉ huy toàn đội vượt qua muôn trùng nguy hiểm, đưa đường và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đoàn cán bộ của Đảng đi họp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pác Bó (Cao Bằng). Sau khi hội nghị kết thúc, lại tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa đoàn trở về xuôi. Cái vốn quân sự đầu tiên quý giá ấy, đã trở thành một bộ phận cấu thành Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.

Phạm Xưởng

Dám nghĩ, dám nói, dám làm

QĐND – Chiều 29-12-1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, 70% đại biểu bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, trong đó có lá phiếu của Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên tha hương yêu nước vừa tròn 30 tuổi. Sau này trong đoạn hồi ký “Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lê-nin”, chính Người kể lại rằng, hồi đó đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa cộng sản là gì, Người đều chưa hiểu. Trước Đại hội, nghe người ta bàn Quốc tế thứ hai, hai rưỡi, hay Quốc tế thứ ba (tức Quốc tế Cộng sản), Người cũng chưa hiểu. Dù vậy, Người vẫn “xông vào” các cuộc tranh luận sôi nổi và “đập mạnh” những lời lẽ chống lại sự nghiệp giải phóng thuộc địa. Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ mình, Người còn đến các chi bộ khác để thảo luận và để nhận thức rõ hơn vấn đề mình đang quan tâm. Chính nhờ tích cực thảo luận, hỏi các đảng viên khác, Người đã được giải thích, được tiếp cận Luận cương của Lê-nin và tìm ra chân lý, tìm ra con đường cứu nước.

Người thanh niên trẻ Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội Tua. Ảnh: Internet

Một thế kỷ đã trôi qua, nhìn lại câu chuyện Bác Hồ đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin trên hành trình tìm đường cứu nước, có rất nhiều điều để chúng ta học tập. Trong đó, phải kể đến đức tính dám nghĩ và dám nói của Bác, dù ở vị trí một đảng viên trẻ ở xứ thuộc địa, vốn tiếng Pháp còn hạn chế vậy mà Người vẫn không chút tự ti, dám “đập mạnh” những quan điểm trái chiều. Các chữ “xông vào”, “đập mạnh” trong hồi ký cho thấy thái độ rất cách mạng của một người cách mạng đang khát khao tìm đường đưa dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân.

Cùng với tư duy dám nghĩ, dám nói thì câu chuyện trên còn bộc lộ một phẩm chất đáng quý: Tư duy độc lập, sáng tạo. Tuổi trẻ khát khao sáng tạo và cống hiến. Lúc đó, với Người “điều mà tôi muốn biết hơn cả – và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?”. Từ suy nghĩ ấy, chính Người đã mạnh dạn nêu câu hỏi ấy lên, một “câu hỏi quan trọng nhất”, đã góp phần khơi nguồn hình thành một dòng chảy chủ lưu trong nhận thức và hành động của Đảng Xã hội Pháp trước khi tán thành Quốc tế Cộng sản.

Bài học từ sự mạnh dạn của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc thời trai trẻ gợi cho chúng ta hôm nay, nhất là lớp trẻ cần có tư duy dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thực tiễn đất nước trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đang rất cần tư duy dám nghĩ, dám nói, dám làm và “nghĩ, nói, làm” những điều mới mẻ, thiết thực, giải đáp được những câu hỏi hóc búa nảy sinh từ thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mà toàn dân ta đang phấn đấu.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Muốn ăn quả thì phải trồng cây

QĐND – Dịp kỷ niệm 15 năm Ngày Bác Hồ đi xa, tôi đã gặp lại những cán bộ và chiến sĩ bảo vệ Bác và Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tá Trần Văn Nhỏ bồi hồi kể lại một kỷ niệm sâu sắc và đầy ý nghĩa: “Mấy chiến sĩ trẻ chúng tôi làm nhiệm vụ bảo vệ nhà sàn và khu vườn sau Phủ Chủ tịch. Trong vườn Bác trồng một khóm ớt, quả rất sai và chín đỏ tươi. Chúng tôi lại rất thích ăn ớt. Thế là cứ đến bữa đi ăn cơm, chúng tôi lẻn vào vườn hái ớt. Chắc là Bác cũng biết nhưng không nói gì. Nhưng một hôm Bác đi bộ từ Phủ Chủ tịch về, bắt quả tang mấy anh em chúng tôi đang hái ớt. Ai cũng ngượng và sợ. Nhưng Bác đã vẫy cả nhóm lại rồi nói: “Các cháu thích ăn ớt thì chọn một quả thật chín, lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi gieo xuống vườn. Khi ớt mọc cây, mỗi cháu trồng lấy một khóm như của Bác. Như vậy sẽ có đủ ớt cho Bác cháu ta ăn thường xuyên được. Muốn ăn quả thì phải trồng cây chứ!”.

Ảnh minh họa/ Internet

Chúng tôi đã làm theo lời Bác dạy, mỗi người trồng được một khóm ớt và mỗi lần ăn quả, chúng tôi lại thấy thấm thía câu chuyện rất nhỏ mà ý nghĩa rất lớn ấy. Bác là Chủ tịch nước, bận rộn với bao công việc lớn mà vẫn quan tâm tới cả việc nhỏ trong đời sống sinh hoạt của anh em chúng tôi”.

Đúng như lời tâm sự của Thiếu tá Trần Văn Nhỏ, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu cách mạng, Bác đã chú ý tới việc tăng gia sản xuất, tự cung, tự cấp. Sau giờ làm việc, Người cũng tham gia cuốc đất trồng rau và thường xuyên nhắc nhở các cơ quan, đơn vị chăm lo công việc tăng gia, chăn nuôi, bảo đảm đời sống trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.

Hiện nay, phong trào tăng gia chăn nuôi ở các đơn vị bộ đội vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ. Nơi biên giới, hải đảo xa xôi như các đồn biên phòng và quần đảo Trường Sa, bộ đội vẫn có những vườn rau xanh tốt quanh năm. Nhiều đơn vị đóng quân ở đồng bằng đã có cả một hệ thống vườn, ao, chuồng quy mô lớn; không chỉ bảo đảm đủ rau, thịt, cá cho bộ đội mà còn bán ra thị trường, thu về khoản kinh phí đáng kể. Đó là việc làm thiết thực của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân ta thực hiện và làm theo lời Bác dạy “muốn ăn quả thì phải trồng cây”.

Nhớ lại những năm Bác mới đi xa, cả nước rộ lên phong trào xây dựng “Ao cá, vườn quả Bác Hồ”. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì phong trào lắng xuống rồi ở nhiều địa phương, phong trào này đã đi vào quên lãng. Thiết nghĩ, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, để thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các cấp, các ngành và các địa phương nên quan tâm “xốc lại” những phong trào thi đua đã từng được phát động để khắc phục tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”, “Đánh trống bỏ dùi”.

Đức Toàn
qdnd.vn

Bài báo và bức thư của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị

Hồi âm bài báo “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ”

QĐND – Những ngày này, ngôi nhà nhỏ bên bến đò Đống Cao (xã Yên Lộc, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) của CCB Bùi Công Chiến tấp nập người vào ra. Bà con, đồng đội tìm đến chúc mừng anh vừa có được niềm vui bất ngờ sau hơn 38 năm chờ đợi: Anh đã được công nhận là thương binh sau 3 tháng kể từ ngày Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần số 845 (11-3-2012) đăng bài về anh…

Việc khó

Bùi Công Chiến nguyên là chiến sĩ Đại đội 5, Binh trạm 41, Sư đoàn 473, Đoàn 559. Khi giữ chốt ở Điểm cao 619 Khe Sanh (Quảng Trị) vào năm 1971, cả tiểu đội hy sinh gần hết nhưng anh cùng 3 đồng chí còn sống vẫn bám chốt đến cùng. Riêng anh dù bị thương vẫn mưu trí, dũng cảm, lao xuống chiến hào bắt sống 12 tên địch. Anh được tặng Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ hạng nhì, được nhà báo Duy Khán, phóng viên chương trình Phát thanh Quân đội nhân dân đến tìm hiểu, viết bài, làm thơ tặng anh. Năm 1974, anh Chiến phục viên về quê thì vết thương cũ trên mặt tái phát, con mắt phải bỗng dưng bị “nổ”. Hòa bình, anh lấy vợ, sinh con, phải ở tạm túp lều cạnh vó bè ven sông, bão lụt làm mất hết giấy tờ, chỉ còn duy nhất mảnh giấy xuất ngũ… Bẵng đi nhiều năm, Ban liên lạc Hội đồng ngũ tháng 8-1970 mới tìm lại được anh, thấy hoàn cảnh anh rất cơ cực, bèn quyên góp dựng giúp anh ngôi nhà nhỏ. Trong số đồng đội cùng nhập ngũ chiến đấu bị thương, chỉ duy nhất còn Chiến chưa được hưởng chế độ gì. Trong số đồng đội của anh, có một người làm ở Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện, nhiều lần được Ban liên lạc Hội đồng ngũ “giao nhiệm vụ” phải lo chuyện làm chế độ chính sách cho anh. Nhưng rồi, người đồng đội ấy cũng đành “bó tay” vì ngoài giấy chứng nhận xuất ngũ, anh Chiến không còn giấy tờ gì khác.

Dũng sĩ Bùi Công Chiến với cuộc sống khá khó khăn, chật vật hiện nay.

Chúng tôi đã về xã Yên Lộc gặp anh và viết bài “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ”. Trước khi đăng Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, tôi nói với anh Chiến cùng đồng đội của anh: “Tôi còn nhớ trường hợp anh Trần Quyết Định trong bút ký nổi tiếng mang tên “Thủ tục làm người còn sống” của nhà văn Minh Chuyên. Bài viết từ năm 1987 mà tròn 20 năm, cơ quan chức năng mới hoàn tất thủ tục để anh được công nhận là thương binh. Trường hợp của anh có lẽ còn khó hơn Trần Quyết Định”…

 “Người thật mà không lo được thì… buồn quỏ!”

Nhưng anh Chiến đã không phải chờ đợi lâu như anh Trần Quyết Định. Báo đề ngày 11-3-2012, nhưng vì là báo cuối tuần nên phát hành từ ngày 7-3 và ngay trong ngày hôm ấy, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã đọc bài báo và viết ngay bức thư gửi Đại tá Trần Văn Minh, Cục trưởng Cục Chính sách, chỉ đạo xử lý vụ việc. Đại tá Trần Văn Minh kể lại: “Hôm đó, tôi đang cùng đoàn công tác làm việc tại Cam Ranh thì bất ngờ nhận được điện thoại của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, hỏi về bài báo. Phải đến ngày hôm sau ở Vùng 4 Hải quân mới có báo, chúng tôi lập tức đọc và triển khai xử lý. ít ngày sau trở về Hà Nội, tôi rất bất ngờ và xúc động khi nhận được bức thư viết tay của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, ghi: “Hà Nội, ngày 7-3-2012. Kính chuyển: Đồng chí Trần Văn Minh, Cục trưởng Cục Chính sách. Đề nghị Cục nghiên cứu số báo Quân đội nhân dân Cuối tuần số 845 (11-3-2012) “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ” phản ánh trường hợp cựu chiến binh Bùi Công Chiến. Tổ chức kiểm tra, xác minh, đề xuất với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong thời gian sớm nhất”.

Thực hiện chỉ đạo của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Cục Chính sách đã làm việc với Quân khu 3. Đúng một tuần sau, Cục Chính trị Quân khu 3 đã có Công văn số 1081/CCT-CT ghi nhận nội dung báo nêu là đúng và đề xuất việc giải quyết chế độ chính sách đối với anh Chiến. Tuy nhiên, theo Đại tá Trần Văn Minh, mọi chuyện cũng không dễ dàng vì nếu “chiểu theo” đúng những văn bản hiện hành, trường hợp anh Chiến là “rất khó”. Nghe Đại tá Trần Văn Minh báo cáo, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch lặng đi hồi lâu rồi dặn dò: “Các đồng chí và Quân khu 3 đã xác minh, chuyện anh Chiến bị thương là có thật, được tuyên dương dũng sĩ là có thật. Người thật việc thật, một tấm gương chiến đấu anh dũng nay đời thường khó khăn thế mà không lo được chế độ thương binh cho anh em thì… buồn quá. Tôi giao cho các đồng chí phải làm việc với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tìm mọi cách giúp anh em, đó là trách nhiệm của chúng ta đối với đồng đội!”.

Một thời gian ngắn sau đó, Cục Chính sách đã trao đổi, thống nhất với Cục Người có công (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và nhận được sự đồng tình. Ngày 25-6-2012, Cục Người có công đã có Công văn số 614/CS-HP đồng ý vận dụng xác lập hồ sơ thương binh đối với anh Bùi Công Chiến. Nghe báo cáo lại sự việc, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch rất mừng. Thượng tướng đã chỉ đạo phải làm ngay việc vận dụng xác lập hồ sơ, giải quyết giám định thương tật đối với Bùi Công Chiến, hoàn thành các thủ tục giám định, cấp giấy chứng nhận thương binh trước ngày 27-7-2012, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh -Liệt sĩ. Thượng tướng cũng chỉ đạo nên xây tặng gia đình ông Bùi Công Chiến một ngôi nhà tình nghĩa.

Chiều 20-7, Đại tá Trần Văn Minh báo tin vui cho chúng tôi: “Quân khu 3 đã hoàn tất thủ tục giám định thương tật và ra quyết định công nhận anh Chiến là thương binh, tỷ lệ thương tật 51%, đã chuyển hồ sơ cho địa phương làm chế độ từ tháng 7-2012. Bộ tư lệnh Quân khu 3 cũng đã quyết định tặng anh Chiến một ngôi nhà tình nghĩa trị giá 60 triệu đồng, khởi công vào ngày 22-7”. Nghe tôi gọi điện báo tin, anh Chiến đã bật khóc, chỉ nói được câu: “Các anh cho tôi gửi lời cảm ơn Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, cảm ơn Báo Quân đội nhân dân!”.

Bài và ảnh: Nguyên Minh
qdnd.vn

Sống trong tình cảm của đồng bào, đồng chí

QĐND – Tháng tư năm 2012, trong chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Cảnh từ Cà Mau về xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, ngoài những người ruột thịt còn có một số anh em cùng đơn vị của liệt sĩ, trong đó có vợ chồng chị Nga, anh Phóng. Chuyến ra Bắc lần này, sau khi đưa hài cốt của đồng đội mình về Hưng Yên, vợ chồng chị sẽ ngược lên Bắc Ninh thăm mộ liệt sĩ Nguyễn Công Đãn – Đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 10, Quân khu 9 những năm đánh Mỹ. Anh hy sinh tháng 5-1973 tại Long Mỹ, Cần Thơ. Chị Nga nguyên là văn thư của Trung đoàn 10 và anh Phóng -chồng chị, nguyên là Trợ lý chính trị trung đoàn.

Sau khi dự lễ truy điệu và đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Cảnh ra nghĩa trang, chị Nga cùng chồng về xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Nhờ được báo trước nên khi vợ chồng chị về đến xã Mộ Đạo, mọi người trong gia đình liệt sĩ Đãn ùa ra tay bắt mặt mừng như đón người thân đi công tác xa trở về. Cô em gái và mấy người em dâu của liệt sĩ ôm chầm lấy chị Nga, mắt ngấn lệ. Sau một hồi trò chuyện, anh Kiên – em trai thứ tư của liệt sĩ, giờ là Chủ tịch UBND xã Mộ Đạo, đưa cho chị Nga cuốn sổ nhật ký của anh mình. Anh Kiên nói: “Gia đình em giữ gìn cuốn sổ này rất cẩn thận, coi đó như là báu vật mà anh Đãn để lại”. Cuốn sổ có bìa màu nâu nhạt, bên trong là những trang giấy đã úa vàng. Chị Nga chậm rãi lật từng trang và thực sự xúc động khi thấy ở trang thứ 8 của cuốn nhật ký, lá thư chị viết gửi cho anh Đãn ghi ngày 17-10-1972 được anh chép lại nguyên văn, rất trang trọng. Xin trích một đoạn trong lá thư đó: “Anh em ta quen biết đã lâu nhưng chưa có dịp tâm sự với nhau nhiều. Em chưa hiểu rõ về gia đình của anh. Em học tập ở các anh nhiều lắm. Các anh đã vì miền Nam ruột thịt vào quê hương em chiến đấu, không ngại gian khổ, hy sinh. Các anh luôn lạc quan yêu đời… Còn chuyện… chúng ta sẽ tạm gác lại chờ khi nào nước nhà thống nhất, Nam Bắc sum họp một nhà, không còn cảnh đầu rơi máu chảy, anh em ta sẽ nói chuyện sau. Khi nào lên trung đoàn họp, nhớ ghé thăm em nghe”.

Đọc xong lá thư, chị gục đầu vào vai chồng, kín đáo lấy khăn lau nước mắt. Ra nghĩa trang thắp hương cho người đồng đội, người anh -liệt sỹ Nguyễn Công Đãn, bằng giọng trầm hẳn xuống, chị Nga nói với mọi người: “Ra Bắc lần này đến thắp hương cho anh Đãn và đồng chí, đồng đội, vợ chồng tôi cảm thấy yên lòng. Anh Đãn hy sinh nhưng còn may mắn hơn nhiều liệt sĩ khác vì hài cốt được đưa về quê hương. ở Tây Nam Bộ, tôi biết, nhiều anh quê miền Bắc vào trong đó chiến đấu và hy sinh, nhưng đến nay không biết nằm ở đâu để quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ. Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm rồi, xót xa lắm chứ!”.

Lần đầu tiên trong đời được ra miền Bắc, đến thắp hương cho anh em, đồng đội; trước sự đón tiếp đầm ấm, thân tình của người thân các liệt sĩ, chị Nga rất xúc động. Chị đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình gửi cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Công Đãn. Chị viết:

Cô gái Cà Mau lần đầu tiên ra Bắc

Nhớ lời của chàng trai Kinh Bắc

Quế Võ đây rồi

Mộ Đạo quê anh

Em đứng đây bên dòng sông Đuống

Trên con đê dài hun hút giữa hoàng hôn

Về quê anh, dù anh không còn nữa

Nhưng em ấm lòng với hai tiếng quê hương.

Anh nằm đây giữa làng quê Mộ Đạo

Trong vòng tay của bố mẹ yêu thương

Anh nằm đây giữa làng quê yên ả

Trong tiếng ru hời của mẹ ngày xưa

Hãy yên nghỉ và ngủ ngon anh nhé

Trong nắng chiều có hương lúa đồng quê

Em như nghe thấy khúc dân ca quan họ

Rằng người ơi, người ở đừng về

Bên mộ anh, nghe tim mình thắt lại

Anh nằm đây, em ngồi kế bên anh

Mà âm dương hai nẻo đường ngăn cách

Để em gọi hoài, gọi mãi tên anh

Em cố nén không để dòng lệ chảy

Nuốt vào trong những giọt mặn nồng cay

Vĩnh biệt nhé! Người anh, người đồng chí!

Em về đây, về lại đất phương Nam

Nếu có nhớ em, hãy nhìn về phương ấy.

Nơi cuối trời đất mũi gọi Cà Mau.

30-4-2012

Từ lá thư viết cho anh Đãn cách đây 40 năm đến những dòng cảm xúc viết bên mộ liệt sĩ Đãn đề ngày 30-4-2012, có thể thấy đây là một ví dụ sinh động về tình đồng chí, đồng đội, tình cảm lứa đôi của những cô gái Nam Bộ đối với những chàng trai miền Bắc vào Nam chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Vào những năm tháng đó, hàng triệu người con ưu tú ở miền Bắc đã lên dường vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Và hàng vạn người trong số đó đã vĩnh viễn nằm xuống ở tuổi đôi mươi vì độc lập tự do của dân tộc.

Năm tháng sẽ qua đi, thời gian sẽ xóa đi tất cả, nhưng không ai được phép lãng quên sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ sống mãi trong tình thương yêu, kính trọng, trong tâm tưởng của đồng bào đồng chí. Vì thế họ trở nên bất tử!

Minh Đức
qdnd.vn

Khám phá căn cứ bí mật của tình báo Mỹ

QĐND – LTS: Cuối năm 2008, đạo diễn người Đức Mác E-bớc-lơ (Marc Eberle) từng theo đuổi đề tài các chiến dịch ngầm của CIA từ những năm 1960 – đầu 1970, đã khởi chiếu thành công bộ phim tài liệu của mình về cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ ở Lào. Báo In-nơ Pơ-rét Sơ-vít-xơ (Inner Press Service) đã đăng bài phỏng vấn đạo diễn E-bớc-lơ về bộ phim này(1).

Căn cứ bí mật nhất của những người lính kín của CIA là sân bay Long Chẹng thời chiến tranh. Long Chẹng là một địa phương ở Trung Lào cho tới nay vẫn hạn chế người ngoài lui tới. Một bộ phim mới, gọi là “Căn cứ bí mật nhất quả đất: Cuộc chiến tranh bí mật của CIA ở Lào” đã được trình chiếu trên các rạp khắp châu Âu năm 2008, khảo sát cuộc xung đột ít được biết đến này. Bộ phim này được công chiếu lần đầu ở Phnôm Pênh tháng 8-2008, bao gồm những thước phim được quay ở Long Chẹng bởi đoàn làm phim phương Tây đầu tiên đến căn cứ này kể từ khi Đảng nhân dân cách mạng Lào lên nắm quyền ở Lào năm 1975.

Áp phích phim “Căn cứ bí mật nhất quả đất: Cuộc chiến tranh bí mật của CIA ở Lào”.

“Tôi có ý tưởng làm bộ phim khi tới thăm cánh đồng Chum năm 2002”, đạo diễn phim người Đức, Mác E-bớc-lơ, cho hay. “Sau đó tôi được nghe về Long Chẹng, và sự kiện chưa ai từng tới đó kể từ sau chiến tranh làm tôi nghĩ là làm sao làm được một bộ phim về nó”.

Rất ít điều được biết về cuộc xung đột ở Lào, bất chấp thực tế đây là chiến dịch bán quân sự lớn nhất, đắt giá nhất từng được Mỹ tiến hành. Chiến dịch này hoàn toàn do CIA đảm trách, sử dụng các phi công dân sự của một Hãng hàng không riêng của cơ quan tình báo này, tên gọi là Hàng không Hoa Kỳ (Air America), cùng các lính đánh thuê người Mông (Mẹo) và người thuộc một số bộ tộc thiểu số khác, sống trên vùng núi cao ở Thượng Lào và Trung Lào. Bất chấp thực tế rằng nó là trung tâm của cuộc chiến tranh ngầm, rằng từng là sân bay có tần suất cất hạ cánh của máy bay cao nhất thế giới, và từng chứa 40 nghìn dân, Long Chẹng cũng là địa danh chưa từng xuất hiện trên bất kỳ bản đồ nào của phương Tây. “Tôi thấy thật quái lạ là Long Chẹng từng là điểm dân cư đông thứ nhì nước Lào (trong chiến tranh), đồng thời lại hoàn toàn bí mật”, E-bớc-lơ nói. Long Chẹng là nơi hiện không chỉ người nước ngoài mà cả dân thường Lào không được lui tới, vì còn lẩn quất tàn quân người Mông của CIA. Gần đây thôi, nó vẫn thuộc về một đặc khu do quân đội CHDCND Lào trực tiếp kiểm soát. Sự quan tâm về cuộc chiến tranh bí mật ở Lào đã sôi động trở lại vào năm 2003, khi hai phóng viên phương Tây tiếp xúc được với các nhóm phiến quân người Mông. Đây là những người da trắng đầu tiên mà những người Mông này nhìn thấy kể từ khi CIA bỏ rơi họ 27 năm về trước. Cho dù các bức ảnh của cuộc gặp mặt này được in trên Thời báo châu Á, và được giải thưởng quốc tế, truyền thông Mỹ đã không bắt kịp với sự kiện này và nó bị lu mờ đi. Cuộc xung đột Lào cách đây mấy thập kỷ lại trở thành tiêu điểm, khi nhà chức trách Hoa Kỳ bắt Vàng Pao, người cầm đầu các lực lượng CIA người Mông của những năm 1960. Vàng Pao bị buộc tội khủng bố, do sự dính líu của ông ta vào một mưu đồ lật đổ chính phủ Lào hiện nay. E-bớc-lơ nghĩ rằng những gì xảy ra ở Lào thập kỷ 60 của thế kỷ 20 đang có những ánh xạ mạnh, chẳng hạn như cuộc xung đột hiện nay ở I-rắc. “Lào thời ấy chính là nơi thử nghiệm cho cách Mỹ làm chiến tranh trong thế kỷ 21”, E-bớc-lơ khẳng định. “Dùng các công ty tư nhân vào các hoạt động chiến tranh, giành sự ủng hộ của xã hội bằng cách ngụy tạo các tin tức và tài liệu, thao túng truyền thông và sử dụng chiến tranh tự động hóa, bao gồm cả các vũ khí “thông thái” – tất cả các phương thức này từng được thử nghiệm ở Lào”.

Cuộc xung đột bắt đầu vào cuối những năm 1950, khi Oa-sinh-tơn (Washington) tìm cách đánh chặn các lực lượng Pa-thét Lào và đồng minh Bắc Việt của họ, đang xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh qua các rừng rậm dọc theo biên giới phía đông của Lào. Chiến dịch này được giao cho CIA điều hành, nhằm đưa Lào ra ngoài quỹ đạo của khái niệm trung lập về chính trị, ra ngoài khuôn khổ quy định bởi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào.

Vàng Pao, một sĩ quan người Mông của quân đội Hoàng gia Lào lúc đó đã được CIA tuyển mộ để chỉ huy lính người Mông đánh quân cộng sản. Ở đỉnh cao cuộc xung đột, đội quân của Vàng Pao lên tới 30 nghìn người.

Sân bay dã chiến Long Chẹng được xây dựng ngay sau đó, trở thành lớn nhất trong số hàng trăm đường băng được CIA xây dựng trên khắp đất Lào. Bộ phim “Căn cứ bí mật nhất” khảo sát cuộc xung đột qua hồi ức của các nhân chứng, từng thủ các vai chính của “cuộc chơi” này, dưới các vỏ bọc, hay đảm nhiệm các chức trách về ngoại giao hay quân sự của Mỹ ở Lào. Họ gồm các nhà ngoại giao về hưu, cựu các sĩ quan CIA và các cựu phi công của Hàng không Hoa Kỳ Air America nói trên.

Phim cũng phỏng vấn các bình luận viên quốc tế, như An-phrét Mắc-coi (Alfred McCoy) – tác giả cuốn “Nền chính trị hê-rô-in: Sự đồng lõa của CIA trong buôn bán thuốc phiện toàn cầu”; Phrét Bran-man (Fred Branfman), cựu nhân viên một chương trình cứu trợ quốc tế, đã trở thành thành viên phong trào phản chiến, tích cực phanh phui các góc khuất của cuộc xung đột. Những thường dân Lào, từng là nạn nhân của guồng máy chiến tranh tinh vi nhất về công nghệ, cũng có cơ hội chia sẻ ký ức của mình trong phim. Có một đoạn phim ngắn phỏng vấn Vàng Pao, trong một khung cảnh ở Hoa Kỳ, không hề tương xứng với sự cùng khốn của những người Mông (ở Lào), từng phải chịu gánh nặng của một cuộc chiến khốc liệt. Khác với số phận của gia đình Vàng Pao và những kẻ cầm đầu, các phiến quân người Mông đã bị bỏ rơi khi người Mỹ rút khỏi Lào.

Các sĩ quan CIA, Vàng Pao và quân lính giữa những năm 1960. Nguồn: http://americal4ofthe3.com/declassifiedlbjtapes.html

Một trong những cảnh đạt nhất trong phim “Căn cứ bí mật nhất” là những đoạn phim tư liệu mà E-bớc-lơ thu thập được nhưng chưa từng trình chiếu, gồm các thước phim về hoạt động tác chiến và cuộc sống hằng ngày tại căn cứ của Mỹ ở Long Chẹng. Chúng được cóp nhặt từ vô số nguồn, từ Lưu trữ phim quốc gia Hoa Kỳ đến các tư liệu phim được bảo quản tại các hãng truyền hình trên khắp châu Âu. “Vừa hay, CIA cũng giải mật nhiều tài liệu, thật hữu ích cho quá trình làm phim – Đạo diễn chia sẻ – Nguồn quan trọng nhất là các cá nhân (người phương Tây), những người đã quay trộm là chính, bằng các máy quay mini như Super 8”.

Các lời bình trong phim đã đặt phim này sang một phía khác trái hẳn với nhiều sách và phim tài liệu ở phương Tây trước đây chuyên bào chữa cho cuộc xung đột và tôn vinh các trùm mật vụ của CIA và các phi công hãng Air America (của CIA) như các anh hùng. Thực tại, được cựu phóng viên thời chiến tranh An-phrét Mắc-coi, nay là sử gia nổi tiếng của Mỹ, khái quát ở phần cuối bộ phim, là khác hẳn với các sản phẩm truyền thông trước đó: “Chúng ta đã hủy hoại cả một nền văn minh, đã xóa bỏ nó khỏi bản đồ. Chúng ta đã đốt ra tro, đã thiêu hủy cả những tàn tích của con người trong cuộc chiến tranh đường không này. Và điều gì đã xảy ra sau cùng? Chúng ta đã thua!”.

Cuộc xung đột chỉ ra rằng trong thời kỳ chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, quân Mỹ đã có khả năng không đếm xỉa đến các luật quốc tế trong hoạt động quân sự. Mỗi căn nhà đều có thể là một mục tiêu để phá hủy và tổn thất của dân thường là vô cùng to lớn.

Năm 1970, tình hình trở nên nghiêm trọng hơn khi tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh dùng B52 ném bom hủy diệt ở Lào, điều đã không được giải mật trong rất nhiều năm về sau này. Trong suốt các ngày đêm của 9 năm chiến tranh, cứ 8 phút một, một lượng bom đạn mà mỗi máy bay ném bom của Mỹ có thể chở được đã được ném xuống các mục tiêu ở Lào, làm cho Lào trở thành đất nước với số lượng bom ném xuống trên đầu người cao nhất trong lịch sử mọi cuộc chiến tranh. Hiện ở Long Chẹng, các công trình do Mỹ xây, gồm cả các nhà gỗ một tầng kiểu Ca-li-phoóc-ni-a và theo nhiều phong cách kiến trúc khác của những năm 60, đang nằm đó, trống huếch, vô chủ. “Thời “hoàng kim” của Long Chẹng đã qua đi. Nó từng là ốc đảo công nghệ cao dành cho quỷ quái (spooks – ý nói những lính kín thuộc các nghiệp vụ khác nhau của Mỹ). Ở đây từng có nhiều ăng-ten hơn cả cây rừng”, đạo diễn E-bớc-lơ cho hay. E-bớc-lơ chia sẻ ý kiến của nhiều nhà quan sát khác, rằng các phiến quân trong rừng ở Lào đã kiệt quệ. “Hiện vẫn còn một số nhóm như thế nhưng họ không được tổ chức gì về chính trị hay quân sự. Đó là tàn quân, là con cháu của những người đã tham chiến (cùng quân Mỹ), nay họ sợ ra khỏi rừng vì họ không biết gì hơn ngoài lẩn lút trong rừng”.

“Bất luận tội trạng của Vàng Pao đến mức nào trong vụ án chống chính phủ CHDCND Lào vừa qua, có một sự thật là ông ta và những người Mông ở nước ngoài từng sử dụng những phiến quân ở Lào hôm nay như những con tốt”, E-bớc-lơ nói.

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

[1] http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/JH26Ae01.html

Hai sai lầm tình báo chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc “Hoàn Cầu” (www.huanqiu.com), ngày 15-10-2010 đăng bài “Hai sai lầm tình báo chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên” của Nhà báo Diễm Duy, phóng viên Tạp chí Hoàn Cầu thường trú tại Oa-sinh-tơn, Mỹ, tổng hợp qua hồ sơ của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) công bố công khai năm 2010, sau 60 năm phát động cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Năm 1950, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra, những nhà lãnh đạo quân đội Mỹ và nước Mỹ đã trở tay không kịp. Chỉ có lực lượng cảnh vệ Mỹ được điều động từ Nhật Bản đến, huấn luyện không đầy đủ mà trang bị thô sơ, phải trả giá thương vong cao mới ngăn chặn được cuộc tiến công của quân đội Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên).

Sau 4 tháng, những nhà lãnh đạo nước Mỹ lại một lần nữa không dự liệu được quân đội Trung Quốc thâm nhập vào Triều Tiên tham gia chiến đấu.

Những thông tin trên được tiết lộ xuất xứ từ văn kiện “Hai sai lầm tình báo chiến lược trên bán đảo Triều Tiên năm 1950” của CIA.

Tướng Mỹ Mác Ác-tơ.

Tháng 6 năm nay (2010), nhân kỷ niệm lần thứ 60 mở đầu chiến tranh Triều Tiên, CIA đã công bố 1.300 văn kiện, trong đó có 900 trang trước đây chưa từng công khai. Những văn kiện này bao gồm báo cáo, tin tức tình báo và ấn phẩm định kỳ “Đánh giá tình báo quốc gia”, cùng những tin bài của báo chí nước ngoài phản ánh tình thế của khu vực này.

Những văn kiện tình báo này khẳng định: 60 năm trước, CIA vừa mới thành lập, tổ chức còn hỗn loạn, quân Mỹ chuẩn bị chưa đầy đủ khi đối diện với thế tiến công của quân đội Bắc Triều Tiên trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Mỹ cũng không dự liệu được quân đội Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38 và cũng không dự liệu được quân đội Trung Quốc vượt qua sông Áp Lục, tác chiến với quân Mỹ. Đây là hai sai lầm tình báo chiến lược mà Mỹ phạm phải trong thời gian chiến tranh Triều Tiên.

Pi-tơ Cli-men (Peter Clemens), Phó giám đốc CIA phụ trách phân tích tình báo, nói: “Những văn kiện này chứng minh CIA khi ấy “tổ chức không tốt”. Họ không dự liệu được Bắc Triều Tiên sẽ mở cuộc tiến công. Điều này chứng minh rõ ràng chúng ta (Mỹ) chưa kết hợp tất cả những hiện tượng lại. Những văn kiện này chứng tỏ, CIA khi ấy chỉ dựa vào một số ít người để xử lý tin tức tình báo thế giới, hoàn toàn khác với hiện tại”.

Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, có phải là khúc nhạc dạo đầu của chiến tranh thế giới?

Văn kiện này còn cho biết: Trong báo cáo tóm tắt hằng tuần ngày 20-2-1948, CIA cho rằng, Liên Xô là người thao túng phía sau tất cả kế hoạch chính trị và quân sự, khống chế mọi quyết sách của Bắc Triều Tiên.

Báo cáo của CIA ngày 19-6-1950 về năng lực quân sự của Triều Tiên nói rõ điểm này. Báo cáo này viết: “Bắc Triều Tiên là nước vệ tinh của Liên Xô, bị khống chế cẩn mật. Nước này không có chính sách độc lập, sự tồn tại của nó hoàn toàn dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô”. Báo cáo này chỉ ra, tuy Triều Tiên có thể tiến công một số khu vực ở miền Nam, nhưng nếu như không có sự ủng hộ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, rất có khả năng sẽ không tiêu diệt được Chính phủ ở miền Nam.

Chiến đấu trên đồi Thượng Cam Lĩnh.

Đến mùa xuân năm 1950, sự chuẩn bị tiến công của Bắc Triều Tiên vào Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đã vô cùng rõ ràng. Báo cáo hằng tháng của CIA đều đề cập đến sự chuẩn bị của quân đội Bắc Triều Tiên, nhưng không nhấn mạnh đến khả năng quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tiến công. Giới chóp bu ở Oa-sinh-tơn ngoan cố cho rằng, chỉ có Liên Xô mới có thể ra quyết định tiến công, mà nếu vậy thì sẽ trở thành khúc nhạc dạo đầu của đại chiến thế giới. Nhà Trắng khẳng định, Mát-xcơ-va không dám đi nước cờ này, vì thế Bắc Triều Tiên không thể đánh vào miền Nam!

Kỳ thực, có một nguồn tin tình báo của CIA cho biết, Triều Tiên đang tích cực chuẩn bị khai chiến. Ngày 20-6-1950, một bản tin tình báo của CIA, căn cứ vào tình báo do nội tuyến cài cắm vào nội bộ Bắc Triều Tiên cung cấp, khẳng định Bắc Triều Tiên có khả năng mở cuộc tiến công miền Nam bất cứ lúc nào. Tru-man, Tổng thống Mỹ khi ấy, các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng đều nhận được tin tình báo này nhưng đã bỏ qua. Năm ngày sau, Triều Tiên mở cuộc tiến công miền Nam. Từ Tru-man đến Mác Ác-tơ (Mac Arthur), Tư lệnh quân Đồng minh ở Viễn Đông đều bị bất ngờ do không hề chuẩn bị.

Trung Quốc can thiệp, Mỹ “phát điên”

Tháng 8-1950, các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc và Triều Tiên ý thức rằng, quân Mỹ nhảy vào tất sẽ đánh bại quân đội Bắc Triều Tiên.

Ngày 4-8, trong một cuộc hội nghị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông nói: Nếu như nước Mỹ giành được thắng lợi trên bán đảo Triều Tiên, điều này sẽ uy hiếp đến Trung Quốc.

Cuối tháng 8, về các phương diện, Trung Quốc đều tỏ ra lo lắng trước việc quân đội Bắc Triều Tiên bị đánh bại và quân Mỹ chiếm lĩnh toàn bộ Triều Tiên. Cùng thời kỳ, tình báo của Bộ tư lệnh Viễn Đông của nước Mỹ đánh giá, có khoảng trên 20 vạn quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc và trên 30 vạn dân binh bố trí gần sát biên giới Trung – Triều.

Cuối tháng 9, Trung Quốc đã thông qua con đường ngoại giao biểu thị lo lắng trước việc nước Mỹ tiến công Bắc Triều Tiên và chiếm lĩnh Triều Tiên.

Tại Bắc Kinh, Thủ trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc khi ấy đã thông báo với Đại sứ Ấn Độ: Trung Quốc không thể cho phép quân Mỹ tiếp cận lãnh thổ Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ sẽ chuyển đạt thông tin này cho Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ.

Cũng như vậy, tại Oa-sinh-tơn, Đại sứ Anh cũng chuyển đạt cảnh báo như vậy tới Chính phủ Mỹ.

Đại sứ Mỹ tại Liên Xô báo cáo: Các cơ quan hữu quan của Liên Xô và Trung Quốc đã thông báo cho Đại sứ Anh và Hà Lan rằng: Nếu như quân đội nước ngoài vượt qua vĩ tuyến 38, Trung Quốc sẽ xuất binh!

Mặc dầu Trung Quốc đã phát những lời cảnh cáo như vậy, nhưng Mác Ác-tơ vẫn tiếp tục tiến công Bắc Triều Tiên, nhắm ý đồ tiêu diệt quân đội của Kim Nhật Thành.

Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng coi thường cảnh cáo của người Trung Quốc. Ông ta tuyên bố với báo chí: Trung Quốc can thiệp vào là “hoàn toàn phát điên”!

Ngày 12-10, trong báo cáo đánh giá của CIA có nhan đề “Tình thế nghiêm trọng ở Viễn Đông – Trung Quốc tiến hành can thiệp toàn diện tại bán đảo Triều Tiên”, viết: “Mặc dầu Trung Quốc có khả năng can thiệp toàn diện tại bán đảo Triều Tiên, nhưng suy xét đến nguyên nhân mà mọi người đều biết, khiến chúng ta rút ra được kết luận: Trừ phi Liên Xô quyết định phát động đại chiến toàn cầu, thì khả năng Trung Quốc can thiệp vào Triều Tiên vào năm 1950 này là không lớn”.

Trung tuần tháng 10, nhiều tin tức tình báo cho biết, Trung Quốc chuẩn bị tiến hành can thiệp vũ trang. CIA báo cáo: Trung Quốc bắt đầu mua từ nước ngoài khối lượng lớn vật tư y tế. Đặc vụ của Quốc Dân đảng tại Đông Bắc Trung Quốc cung cấp tình báo cho CIA rằng: Quân Giải phóng nhân dân có 30 vạn quân tại khu vực biên giới. Ngày 20-10, CIA giải thích về hàng loạt tin tình báo này: Quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên là nhằm bảo vệ Nhà máy Thủy điện trên sông Áp Lục! Ngày 25-10, Trung Quốc phát động đợt tiến công thứ nhất. Nhưng, người Mỹ nghi ngờ các báo cáo của quân đội Nam Triều Tiên trên chiến trường truyền đến. Họ kiên trì cho rằng quân đội Trung Quốc không có năng lực!

Đầu tháng 11, báo cáo trên chiến trường không làm cho Oa-sinh-tơn yên tâm. Một trung đoàn của Sư đoàn kỵ binh số 1 quân Mỹ lần đầu gặp quân đội Trung Quốc, quân Mỹ thương vong thảm hại. Ngày 4-11, Sư đoàn Kỵ binh số 1 phát hiện họ đang đối diện với 5 sư đoàn quân đội Trung Quốc, đồng thời Sư đoàn 1 Hải quân lục chiến phát hiện đang tác chiến với 3 sư đoàn quân đội Trung Quốc. Lúc này, Mác Ác-tơ vẫn không muốn tin rằng quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên tham chiến với quy mô lớn.

Trung tuần tháng 11, Bộ tư lệnh Viễn Đông quân Mỹ báo cáo rằng: Tại Triều Tiên đã phát hiện 12 sư đoàn quân Trung Quốc. Ngày 24-11, “Đánh giá tình báo quốc gia” cho biết: Trung Quốc có năng lực tiến hành hành động quân sự với quy mô lớn, nhưng chưa có hiện tượng chứng tỏ cuộc tiến công quy mô lớn đang tiến hành!

Nhưng, chính vào ngày hôm ấy, quân đội Trung Quốc phát động đợt tiến công thứ hai, buộc Quân đoàn 8 của Lục quân Mỹ phải hoảng loạn tháo chạy. Sư đoàn 1 Hải quân lục chiến Mỹ bị bao vây và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Mấy ngày sau, Mác Ác-tơ đối diện với hiện thực: Thế tiến công “kết thúc chiến tranh” tại hướng sông Áp Lục của quân Mỹ đã hoàn toàn chấm hết, thắng lợi là quá ư xa vời.

Ngày 28-11, Mác Ác-tơ báo cáo rằng: Y đối mặt với 20 vạn quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc và đây là một cuộc chiến tranh hoàn toàn mới. Một lần nữa, viên Tư lệnh quân Đồng minh ở Viễn Đông đánh giá sai về số lượng của quân đội Trung Quốc tham chiến, nhưng đây đích xác là một cuộc “chiến tranh hoàn toàn mới”.

Diễm Duy

(Phóng viên Tạp chí Hoàn Cầu thường trú tại Oa-sinh-tơn)

Vũ Phong Tạo dịch
qdnd.vn

“Dự luật nhân quyền Việt Nam là bước đi lạc hướng”

Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega. (Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)

Hạ nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên cấp cao Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương của Hạ viện Mỹ, vừa ra thông cáo báo chí cho rằng cái gọi là dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2011 mang mã số H.R.1410 mà Hạ viện Mỹ vội vã biểu quyết thông qua tối 11/9 vừa qua là một bước đi lạc hướng.

Thông cáo báo chí ngày 12/9 của Hạ nghị sỹ Faleomavaega bày tỏ lấy làm tiếc về việc dự luật trên lại do Tiểu ban châu Phi, Y tế toàn cầu và Quyền con người đưa ra chứ không phải Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương, nơi chịu trách nhiệm mọi phán quyết về chính sách của Mỹ liên quan tới Việt Nam.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega cho rằng, bằng cách làm không theo con đường chính danh này, Tiểu ban về châu Phi đã không thu thập thêm những thông tin chính xác trước khi đưa một dự luật méo mó như vậy.

Theo nhận định của Hạ nghị sỹ Faleomavaega, dự luật H.R.1410 dựa trên những thông tin lạc hậu không phản ánh được sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Dự luật H.R.1410 cũng thiển cận trong cách đặt vấn đề và đi ngược lại các nỗ lực của các chính quyền Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega khẳng định dự luật này sẽ không thể trở thành luật vì H.R.1410 thất bại ngay từ mục tiêu của nó.

Ông đồng thời cho biết Bộ Ngoại giao Mỹ cũng bày tỏ lo ngại dự luật H.R.1410 có thể tác động tới mối quan hệ an ninh của Mỹ với Việt Nam, làm giảm các cơ hội đối thoại về nhân quyền giữa hai nước và cũng không phục vụ tốt nhất cho lợi ích của Mỹ cũng như cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) cũng cho rằng dự luật này có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày càng nồng ấm về chính trị và an ninh giữa Mỹ và Việt Nam.

Sau khi trích dẫn những tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam từ trang mạng của Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ để bác bỏ những thông tin sai lệch trong dự luật H.R.1410, Hạ nghị sỹ Faleomavaega khuyến cáo những nghị sỹ đưa ra dự luật H.R.1410 rằng nếu họ thật lòng quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy giúp Việt Nam làm sạch hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 đến 1971. Bởi lẽ, theo Hạ nghị sỹ Faleomavaega, việc để lại khối hóa chất độc hại này ở Việt Nam là một sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người./.

(Theo TTXVN)
cpv.org.vn

CNXH và con đường đi lên CNXH – Nhìn từ thực tiễn Việt Nam

QĐND – Đó là chủ đề bài nói chuyện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trường Đảng cao cấp Ni -cô Lô -pết nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Cu -ba. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài nói chuyện này.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Nhân dịp sang thăm Cu -ba, hôm nay Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức vui mừng đến thăm Trường Đảng Cao cấp Ni -cô Lô -pết – một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cu -ba. Thay mặt các đồng chí trong Đoàn và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chào đoàn kết và hữu nghị. Chúc mối quan hệ tốt đẹp của chúng ta ngày càng phát triển, mãi mãi gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, cùng vững bước trên con đường đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Trong không khí tin cậy, thắm tình đồng chí anh em, tôi xin trao đổi với các đồng chí một số ý kiến chung quanh vấn đề CNXH và con đường đi lên CNXH. Đây là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam để các đồng chí tham khảo, cùng trao đổi. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN)? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam trong 25 năm qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Như chúng ta biết, CNXH thường được hiểu với ba tư cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là một phong trào; CNXH là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. CNXH đề cập ở đây là CNXH khoa học dựa trên học thuyết Mác – Lê -nin trong thời đại ngày nay.

Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam chúng tôi dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN sụp đổ ở nhiều nước, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác -Lê-nin, CNXH. Từ đó, họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác -Lê-nin và con đường XHCN! Có phải như vậy không? Có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không?

Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản (CNTB) chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học – công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, nó không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, CNTB thế giới đã một lần nữa bộc lộ rõ bản chất của mình bằng việc thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu. Và hôm nay chúng ta đang chứng kiến những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, bắt đầu từ năm 2008 ở nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm TBCN khác và tác động đến hầu hết các nước ở các châu lục. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng chưa thành công. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội TBCN: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế – tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật đơn giản là bản thân thị trường tự do của CNTB không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình “đồng thuận Oa -sinh-tơn” vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.

Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững cả về kinh tế, xã hội và sinh thái của nó; như Mác đã từng nói, CNTB đang hủy hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ TBCN.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị TBCN. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề đảm bảo để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát phần lớn nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng đó chính là những giá trị đích thực của CNXH. Đó cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Hồ Chí Minh, Phi-đen Ca -xtrô và nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì, kiên định theo đuổi.

Thưa các đồng chí,

Như các đồng chí và các bạn đã biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN”. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước XHCN không còn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Mới đây, tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tuy nhiên, CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: Đồng nhất mục tiêu cuối cùng của CNXH với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản…

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng tôi đã nhận thức rằng: Xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng tôi phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột TBCN; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển CNTB. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc.

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng chúng tôi, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng tôi, kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị trường TBCN và cũng chưa phải là kinh tế thị trường XHCN (vì chúng tôi còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN.

Đảng chúng tôi coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng tôi xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng tôi chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng tôi nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ TBCN về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng tôi xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng tôi đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng chúng tôi kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v…, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa v.v.. trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Thưa các đồng chí,

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thực sự đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước chúng tôi trong hơn 25 năm qua. Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam /đi-ô-xin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; riêng tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà đồng chí Phi -đen đến thăm năm 1973, vẫn có đến 45% diện tích đất nông nghiệp còn có bom mìn sót lại. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng tôi. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. Đó là một thực tế ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 25 năm qua với mức tăng trưởng trung bình đạt 7 – 8% mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp gần 11 lần; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không chỉ đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 80% GDP. Xuất khẩu cũng tăng mạnh, đạt xấp xỉ 100 tỷ USD năm 2011. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 200 tỷ USD vào cuối năm 2011. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 34% từ kinh tế nhà nước, 5% từ kinh tế tập thể, 31% từ kinh tế hộ, 11% từ kinh tế tư nhân trong nước và 19% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 86 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 70% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ người nghèo trung bình mỗi năm giảm từ 2 – 3% và cứ 10 năm giảm còn một nửa; giảm từ 75% năm 1986 xuống còn 9,5% năm 2010. Đến nay, hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 9 lần trong 25 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm gần 3 lần; tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm khoảng 6 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73 tuổi năm 2010. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng tôi đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 25 triệu người sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ.

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến hết sức tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, an ninh được đảm bảo; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X của chúng tôi đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”. Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước TBCN có cùng mức phát triển kinh tế.

Thưa các đồng chí,

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng tôi cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng còn thấp, thiếu bền vững; hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn nhiều hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, hiện tượng tham nhũng, lãng phí, sa sút về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống có xu hướng lan rộng trong không ít cán bộ, đảng viên. Điều không thể không nhắc đến là các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam.

Chúng tôi nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên CNXH, hướng tới CNXH. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố TBCN trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và tiến tới không thể đảo ngược được. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Hiện nay, chúng tôi đang đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Về xã hội, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vừa qua, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài. Vì vậy, bên cạnh việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy nó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình mà còn phải từ thực tiễn thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, phát triển của mỗi quốc gia – dân tộc không thể biệt lập, ở bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng tôi chủ trương phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và đứng vững trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin – học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Trên đây tôi đã giới thiệu vắn tắt với các đồng chí và các bạn một số vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH từ thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam để các đồng chí tham khảo. Chúng tôi ý thức được rằng, đây là công việc vô cùng phức tạp đối với chúng tôi, là công việc chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa mò mẫm, rút kinh nghiệm; vừa qua mới chỉ là những bước đi ban đầu, còn rất hạn chế. Rất mong được các đồng chí góp ý. Vả lại, chúng ta đều biết, mục tiêu của CNXH có thể giống nhau nhưng biện pháp, cách đi đến các mục tiêu đó có thể rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đó là cả một không gian sáng tạo to lớn, đầy sức sống.

Sau khi CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông âu, một số nhà tư tưởng phương Tây đã tuyên bố về “sự cáo chung của lịch sử”. Nhiều chính khách và phần tử cơ hội đã dự báo về sự sụp đổ tiếp theo của các nước XHCN còn lại trên thế giới. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như họ nghĩ. Trung Quốc, Việt Nam, Lào, …đang đổi mới thành công, giành được nhiều thành tựu và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Cu -ba vẫn hiên ngang đứng vững, vẫn là tấm gương sáng về tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết quốc tế, về tinh thần bất khuất vì tự do cho các dân tộc và phẩm giá con người. Và những bước tiến cách mạng đang diễn ra ở Vê -nê-xu-ê-la, Bô-li-vi-a, ê-cu-a-đo… cùng sự lớn mạnh của các phong trào cánh tả tại nhiều nước Mỹ La -tinh khác thể hiện trào lưu hướng tới CNXH đang nổi lên mạnh mẽ tại Tây Bán cầu này. Các nước XHCN khác tại châu á vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước. Nhiều đảng cánh tả, các phong trào nhân dân tiến bộ các nước tại các châu lục ngày càng giương cao khẩu hiệu đấu tranh vì CNXH và xác định ngày càng rõ rằng đây là sự lựa chọn duy nhất đúng để vượt qua những bế tắc của mô hình phát triển đang khủng hoảng hiện nay. Đó là những bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của CNXH.

Thưa các đồng chí,

Chúng tôi rất vui mừng được biết, Đảng Cộng sản Cu -ba tại Đại hội VI (tháng 4-2011) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 01-2012) vừa qua, đã có những quyết sách chiến lược quan trọng để tạo động lực mới phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nhân dân Cu -ba dũng cảm, anh hùng trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo và năng động trong xây dựng đất nước nhất định sẽ đạt được những thành tựu to lớn, đưa Cu -ba vượt qua những khó khăn trên con đường phát triển, xây dựng thành công CNXH ở Cu -ba. Chúng tôi mong muốn, hai Đảng và hai nước chúng ta sẽ tiếp tục cùng sát cánh bên nhau vững bước trên con đường vì độc lập dân tộc và CNXH.

Đó cũng là niềm tin và tình cảm của chúng tôi gửi tới các đồng chí.

QĐND
qdnd.vn