Bác Hồ với vị tướng Trần Canh, tại chiến dịch Biên giới năm 1950

Đúng dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 1950, Bác Hồ thực hiện một chuyến đi bí mật sang Trung Quốc, Liên Xô. Ngày 2-1-1950, Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh, từ Tuyên Quang đi bộ tới Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, rồi đi tiếp đến Long Châu, Quảng Tây. Đến đây, Bác bắt được liên lạc với Bạn. Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bố trí xe đón Đoàn đi Nam Ninh, từ đó Đoàn đi xe lửa đến Bắc Kinh. Bác làm việc ở Bắc Kinh một tuần, sau đó Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh đi xe lửa liên vận đến Liên Xô

Ngày 16-2-1950, Nguyên soái Xtalin mở tiệc chiêu đãi đại biểu sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa tại Mát-xcơ-va nhân dịp Liên Xô và Trung Quốc ký “Hiệp ước Tương trợ Đồng minh hữu hảo Xô-Trung” ngày 14-2-1950. Xtalin tự xếp chỗ ngồi gần Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Sau buổi tiệc, Xtalin mời Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang phòng riêng để trao đổi về việc Liên Xô, Trung Quốc giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp.

Chuyến đi bí mật này, Bác đã thành công ở cả hai phương diện chính trị và ngoại giao, đó là chuyến đi lịch sử làm tiền đề cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Liên Xô, giữa Việt Nam – Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Ngày 11-3-1950, Bác và đồng chí Trần Đăng Ninh về đến Bắc Kinh, giữa tháng 4 năm 1950, Bác mới về đến Tuyên Quang.

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới. Ngày 7 tháng 7, Bộ Tổng Tư lệnh ra Mệnh lệnh về chiến dịch Biên giới. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới Việt – Trung, mở đường nối liền Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch, Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách hậu cần cho chiến dịch. Trung tuần tháng 9 năm 1950, Hồ Chủ tịch lên đường đi chiến dịch.

Đầu năm 1950, Trung tướng Trần Canh đang chỉ huy quân đội trên chiến trường Vân Nam (khi đó Vân Nam chưa giải phóng). Thực hiện cam kết không thành văn giữa Nguyên soái Xtalin, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Trung Quốc giúp Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân điều động Trung tướng Trần Canh về Bắc Kinh nhận nhiệm vụ dẫn đầu Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc gồm 14 đồng chí sang Việt Nam. Ngày 7 tháng 7, Đoàn Cố vấn Trung Quốc xuất phát từ Côn Minh đi đến Thái Nguyên. Tại một nhà sàn đơn sơ trên chiến khu, Bác Hồ cảm kích gặp lại người bạn. Bác Hồ và Trần Canh là bạn cũ của nhau. Tháng 5 năm 1924, Trần Canh học khóa 1 Trường Quân sự Hoàng Phố – Quảng Châu, còn Bác Hồ khi đó là Thư ký của Phái bộ Brôđin – Cố vấn Chính trị của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Tôn Trung Sơn, khi đó hai người thường xuyên gặp nhau trao đổi công tác.

Ngày 16-9-1950, chiến dịch Biên giới mở màn bằng trận đánh Đông Khê tỉnh Cao Bằng, đến trưa 18 tháng 9 kết thúc thắng lợi. Trong niềm vui lớn, Bác Hồ viết tặng Trần Canh một bài thơ bằng chữ Hán. Theo nguyên bản tài liệu trong “Nhà kỷ niệm Trần Canh” bài thơ này có nội dung như sau:

Huề trượng đăng cao quan trận địa

Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân

Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu

Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

Dịch:

Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

Đọc xong bài thơ, Trần Canh rất cảm kích, vui vẻ nói với Bác Hồ: “Hồ Chủ tịch đã hạ quyết tâm như thế, thì một mống quân Pháp cũng chạy không thoát!”.

Ngày 8-10-1950, Bác viết thư biểu dương các chiến sĩ ngoài mặt trận và gửi tặng Trần Canh bài thơ thứ hai:

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm, tỳ bà  mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch:

Rượu ngọt sâm banh lấp lánh ly

Muốn uống, tì bà thúc ngựa phi

Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc

Không tha quân địch một tên về.

Từ 10 tháng 9 đến 23 tháng 10 năm 1950, quân Pháp tháo chạy khỏi Thất Khê Cao Bằng, Na Sầm, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu. Ta hoàn toàn phá vỡ hệ thống phòng ngự đường số 4 của địch, giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân, nhiều vùng quan trọng của biên giới Việt – Trung được củng cố và mở rộng, chiến khu Việt Bắc được nối liền với các tỉnh và với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây là chiến dịch tiến công trên qui mô lớn đầu tiên của quân đội ta, tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của quân đội ta. Trong bữa tiệc mừng thắng lợi, Hồ Chủ tịch tặng tướng Trần Canh hai câu thơ :

Loạn thạch sơn trung cao sỹ ngọa

Mậu mật lâm lí anh hùng lai.

(Tạm dịch: Ẩn sĩ nơi núi đá. Anh hùng chốn rừng xanh. TG).

Qua những bài, câu thơ Bác tặng Trần Canh trên đây, đủ thấy tình cảm của Bác Hồ quí trọng vị tướng Trần Canh đến mức nào! Ngày 11-11-1950, tướng Trần Canh tạm biệt Hồ Chủ tịch và Việt Nam về nước nhận nhiệm vụ mới.

Theo Nguyễn Ngọc Điệp
Thu Hiền (st) / theo http://khcncaobang.gov.vn
bqllang.gov.vn

Khúc bi tráng của nhà báo Lê Viết Vượng

1. Vai không sờn, chân không mỏi

Chiến tranh phá hoại miền Bắc xảy ra. Từ trận thắng đầu 5-8-1964, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam Lê Viết Vượng đã có mặt tại trận địa phòng không Quảng Ninh. Trong đội hình phóng viên quân sự, Lê Viết Vượng xông xáo tại các trọng điểm đảm bảo giao thông ác liệt Hàm Rồng, Phà Ghép, Bến Thủy, Vĩnh Linh, Đường 20 Quảng Bình…

Cuối năm 1967 Lê Viết Vượng được tăng cường cho đội ngũ báo chí chiến trường Khu 5. Vừa chân ướt, chân ráo đến cơ quan Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung bộ, anh được gọi lên gặp đồng chí Hồ Dưỡng, Phó ban Tuyên huấn Khu 5. Nhìn vóc dáng cao to, săn chắc của Lê Viết Vượng, Phó ban tuyên huấn thả giọng đặc sệt Quảng Nam: “Trong này đang đói lắm mày ơi. Khoan đi viết. Mày với thằng Hồ Ca giúp cơ quan đi gùi hàng ít lâu. Chúng nó đói ăn ốm o ráo trọi cả. Chịu khó nghe em”.

Đến nước này làm sao chối bỏ. Anh tự an ủi việc nào cũng là việc Cách mạng, rồi thanh thản khoác ba lô tìm về hậu cứ ở tây nam Trà My.

Chân dung Nhà báo – Liệt sĩ Lê Viết Vượng. (Ảnh do gia đình cung cấp).

Chuyến đầu tiên tưởng gần, nào ngờ phải cắt rừng vượt dốc, mất 3 ngày bở hơi tai mới tới Binh trạm 35. Đây là trạm đón hàng chuyển từ đường 128 Tây Trường Sơn vào trạm Tam Noong, Bến Giàng, Tây Nam (Quảng Nam). Những chuyến hàng vượt qua chi chít trọng điểm khốc liệt Mường Noòng, La Hạp, Sông Bạc, Chà Vằn (thuộc tỉnh Xê Ca Mát của nước Lào). Mỗi cân gạo, viên đạn, cơ thuốc chữa bệnh vào đến bến Giàng, cửa ngõ Khu 5 đã thấm biết bao máu xương đồng đội. Thế nhưng gùi được ba, bốn mươi cân gạo, nhu yếu phẩm về tới hậu cứ trót lọt cũng không kể hết gian nan. Dọc tuyến giao liên, gặp vô vàn hiểm nguy, nào rắn độc, sên vắt, mưa rừng ào ạt, lũ dâng trắng khe và vũ khí giết người từ máy bay Mỹ thả xuống.

Còn mối họa chết người nữa, đó là bọn thám báo, biệt kích rằn ri mai phục khắp nẻo đường giao liên. Cách đối phó tốt nhất mà Lê Viết Vượng nhắc nhở đồng đội là không để lại dấu vết, thường xuyên thay đổi tuyến hành quân, chủ động tránh đối đầu với chúng. Nhiều lần với linh cảm người lính chiến trường, ngửi thấy mùi thuốc lá, biết gặp tụi phục kích, các anh lặng lẽ vòng sang hướng khác.

Suốt từ đầu năm 1968 đến cuối năm 1969 hàng hóa cả chục tấn: nào gạo, nào thực phẩm, thuốc chữa bệnh, giấy viết, phim chụp ảnh, hóa chất in tráng phim, thư từ, sách báo hậu phương gửi vào mặt trận lần lượt vào hậu cứ trên tấm lưng chai sạn, đầm đìa mồ hôi của các anh. Đây là hàng chiều về, còn chiều đi có khi còn cáng cả thương binh, người mắc bệnh, ốm yếu không thể chữa trị tại hậu cứ. Sau này nhà báo Vũ Đảo kể lại: Năm 1969 từ phân xã Phú Yên ra Quảng Nam dự hội nghị thi đua, anh bắt gặp một Lê Viết Vượng da đen cháy, tóc tai cứng đơ, tiếng cười rổn rảng. Lê Viết Vượng san sẻ cho Vũ Đảo chừng hai chục lon gạo nếp rồi cùng Hồ Ca, Minh Châu tất bật chuyển thương binh về tuyến sau. Biết đồng nghiệp chưa được đi viết, chưa được chuyển Đảng viên chính thức vẫn vui cười chấp nhận làm tròn công việc chẳng dính dáng gì đến nghề nghiệp, Vũ Đảo thầm khâm phục nhân cách chàng trai xứ Nghệ bộc trực, kiên gan.

2. Tay súng, tay bút, bám dân đánh giặc

Sau Tết Canh Tuất (1970), chiến trường Khu 5 nóng bỏng bởi Mỹ, ngụy thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chọn đồng bằng làm trọng điểm “Bình định cấp tốc”. Âm mưu và thủ đoạn chiến tranh “Thay màu da trên xác chết” của Mỹ là bình định nông thôn, tăng lực lượng quân ngụy, triệt phá kinh tế, cơ sở Cách mạng vùng giải phóng, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược.

Năm 1970-1971, Mỹ, ngụy cắm chốt ở Khu 5 tới 3 vạn 7000 binh lính, chưa kể bọn bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến. Ta mở rộng vùng giải phóng giành được 19 vạn dân nhưng bị chúng chiếm lại 4 vạn dân. Năm nghìn dân, hơn 4 nghìn cán bộ, đảng viên hy sinh, trong đó Quảng Ngãi, Quảng Nam tổn thất nặng nề nhất.

Không thể để địch lấn đất, dồn dân, Khu ủy Khu 5 chủ trương rút cán bộ, đảng viên từ tỉnh, huyện lập các đội công tác vũ trang bám địa bàn xây dựng cơ sở đấu tranh chính trị, vũ trang, đẩy mạnh tiến công nổi dậy, giành thế làm chủ nông thôn, đồng bằng. Cùng với đồng nghiệp các báo “Cờ giải phóng Trung Trung bộ”, “Quân giải phóng Khu 5” tỏa đi các mặt trận, Lê Viết Vượng xin được xuống chiến trường Quảng Ngãi. Ngược rừng tới Đỗ Xá, căn cứ Khu ủy Khu 5 nhận quyết định, không kịp quay về hậu cứ chia tay đồng đội. Đêm ấy (15-2-1970) Lê Viết Vượng theo giao liên tìm tới xã miền núi Trà Trung, huyện Trà Bồng, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Chỉ ít ngày sau, anh có mặt tại Huyện ủy Đức Phổ với chức danh phóng viên kiêm cán bộ đội công tác chính trị, vũ trang.

Đội du kích “Lê Thị Hồng Gấm” huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. (Ảnh do Lê Viết Vượng chụp)

Bề dày truyền thống Cách mạng và nguồn cội văn hóa cổ Sa Huỳnh ở huyện cuối tỉnh Quảng Ngãi đã gợi mở cho Lê Viết Vượng dự định viết nhiều bài cổ vũ quân dân Đức Phổ kiên trung suốt hai mươi năm bám đất, đánh giặc, giải phóng quê hương.

Nhiều đêm dưới căn hầm tránh pháo, sau lúc căng thẳng bàn cách diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, Bí thư Huyện ủy Đinh Trọng Tân trở thành “Nhân vật trả lời phỏng vấn” nhà báo Lê Viết Vượng về trầm tích địa chí, văn hóa, lịch sử, con người Đức Phổ.

Những địa danh núi Xương Rồng năm 1927 ra đời “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội” nam Trung bộ; sông Trà Cau năm 1935 thành lập phân bộ xứ ủy Trung kỳ, cửa biển Sa Huỳnh phát lộ dấu tích người Việt cổ sinh sống hàng vạn năm… như mạch nguồn tạo nên khí chất kiên cường người dân Quảng Ngãi, mà Đức Phổ là hiện thân mạnh mẽ, quyết liệt nhất. Lê Viết Vượng chợt nhận ra mối quan hệ máu thịt, sống chết cùng mảnh đất Đức Phổ như với Hương Sơn, Hà Tĩnh nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Từ bấy giờ, được gia đình ông Trần Giỏi ở xã Phổ Vinh nuôi giấu dưới căn hầm, Lê Viết Vượng mê mải trả nghĩa người dân Đức Phổ bằng những bài báo có sức cuốn hút hậu phương lớn miền Bắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Đêm đêm với khẩu súng AK báng gấp, anh cùng tổ công tác vượt tọa độ vành đai “pháo bầy, pháo chụp” len lỏi trong khu dồn dân, ấp chiến lược, thầm thào bày cách đấu tranh hợp pháp, đòi trở về làng cũ làm ăn sinh sống. Vùng đất Phổ Cường, Phổ Văn, Phổ Minh, Phổ Khánh, chi khu quân sự Đức Phổ, căn cứ của Mỹ ở Hoài Đức dày đặc lính Mỹ và Sư đoàn 2 ngụy cũng không làm chùn bước Lê Viết Vượng.

Sổ tay của anh ghi nhiều tư liệu người dân Đức Phổ tìm cách giấu lúa ngoài đồng, dưới hầm tiếp lương thực cho cách mạng. Những du kích gan góc, sáng tạo vũ khí đánh giặc bằng quả bom câm, pháo lép. Những nông dân tự nguyện dỡ nhà chặt cây trái trong vườn rào làng chiến đấu, tiếp sức cùng Đại đội 219 đánh cháy trụi kho hậu cần Thành Hiệu. Hàng nghìn tấn đạn kho hậu cần Mỹ nổ dậy đất vùng hạ lưu sông Trà Cau suốt hai ngày đêm. Rồi hình ảnh cô du kích 16 tuổi Trần Thị Trung ngoan cường khi hết đạn, bị giặc bao vây gọi hàng, cô đập gãy khẩu súng trước khi ngã xuống.

Bấy nhiêu sự kiện, nhân chứng sống ấy được Lê Viết Vượng tái hiện, khắc họa sống động bức tranh “Giữ đất, giành dân, đánh giặc tới cùng” của Đức Phổ trong loạt bài gửi ra miền Bắc năm 1970 và đầu năm 1971.

3. Tiếng thơm để lại

Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước liền một dải, mỗi lần gặp nhau ôn lại truyền thống đánh giặc, lớp cán bộ chủ chốt, trung kiên của Đức Phổ thuở ấy đều bùi ngùi, thương tiếc nhà báo Lê Viết Vượng. Họ nhắc nhau tìm về nghĩa trang Phổ Vinh, dâng hoa trái, đốt nén tâm hương nhắc một thời kề vai, sát cánh, nằm hầm, đói ăn đánh giặc. Trong những ngày thiêng liêng, đẫm tình tri ân ấy, không bao giờ vắng mặt ông Trần Giỏi, gia đình anh Nguyễn Văn Phi và cháu Nguyễn Thị Hải con gái anh Phi. Họ là nhân chứng khoảnh khắc hy sinh bi tráng của nhà báo Lê Viết Vượng sáng 3-7-1971.

Rạng sáng hôm ấy, Sư đoàn 2 ngụy mở trận càn lớn vào Phổ Vinh. Pháo 150mm của chúng từ căn cứ Gò Quánh, Hoài Đức bắn như vãi đạn, dọn đường cho hai tiểu đoàn lính dù đổ quân vây hãm. Lê Viết Vượng xách khẩu AK cùng ba du kích thôn Đồng Thuận chia nhau chặn địch. Chợt phát hiện vợ anh Phi bế đứa con mới 5 tháng tuổi quýnh quáng trong vườn, anh vọt lên công sự bế cháu bé, đẩy người mẹ xuống căn hầm của mình. Trao cháu cho người mẹ, vừa lên khỏi miệng hầm, chưa kịp tới vị trí chiến đấu, bất thần một loạt đạn pháo chùm nổ váng óc trùm kín Lê Viết Vượng, mảnh gang sắc nhọn găm nát thân thể anh.

Tính đến thời khắc hy sinh, Lê Viết Vượng mới ngoài 30 tuổi, độ tuổi chín chắn sung sức nhất của đời người. Anh sinh ngày 20-1-1938, quê Sơn Trà, Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Ông Trần Giỏi xót xa, lau nước mắt cùng anh Nguyễn Văn Phi, Nguyễn Hoàng lau rửa, mặc cho Lê Viết Vượng bộ quần áo mới. Giặc vây kín, không thể mang anh đi xa, ông Trần Giỏi mai táng anh trong khu vườn nhà mình. Từ năm 1971 cho đến năm 1994, gia đình ông Trần Giỏi, bà con cô bác thôn Đông Thuận quanh năm hương khói cho hương hồn nhà báo Lê Viết Vượng, nhận anh như đứa con thân thuộc của mình. Với cháu Nguyễn Thị Hải, đứa bé được “tái sinh” từ vòng tay Lê Viết Vượng, khi lớn lên qua lời mẹ kể, cô bé hằng ngày lặng lẽ thắp hương lên phần mộ ân nhân.

Năm 1994, cơ quan Thông tấn xã Việt Nam và gia đình vào Phổ Vinh đưa anh về Hương Sơn. Mong muốn lưu giữ mãi hình ảnh nhà báo Lê Viết Vượng, Đảng bộ và nhân dân Đức Phổ khắc tên anh lên tấm bia đá tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ, cho muôn đời các thế hệ con cháu ghi công.

Văn Hiền
qdnd.vn

Thiêng liêng tình đồng đội

QĐND – Có những quãng thời gian tưởng như quên bẵng đi, bỗng một ngày tất cả bật sáng trong sâu thẳm ký ức. Đồng đội gọi đồng đội trở về nơi chiến trường xưa một thời sống chết bên nhau…

Ba năm nay, CCB Nguyễn Xuân Hưng, người đồng đội của cha tôi, hiện đang sống tại quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, trở nên thân thiết với gia đình tôi.

Gặp nhau tại cầu Hội, Phước Lâm trong hành trình đi tìm đồng đội (ông Nguyễn Xuân Hưng bên trái, ngoài cùng).

Tết Kỷ Sửu 2009, mẹ tôi bất ngờ nghe ông thông báo qua điện thoại, rằng ông là người chứng kiến cha tôi hy sinh và muốn gặp mẹ. Vậy là tin bay đến, thư bay ra kèm với tấm hình của người cựu chiến binh. Mẹ bảo: “Lạ thật, sao mấy chục năm, ra Quảng Ninh sinh sống, mãi đến năm 2001 mới vào Thành phố Hồ Chí Minh mà đến năm 2007 ông ấy mới nhớ ra để gửi thư báo tin?”. Tôi đưa ảnh và bài báo viết về ông trong mục Người tốt việc tốt, ông gửi ra cho tôi xem để làm tin: “Thôi mà mẹ, sau chiến tranh, người nhớ thì báo, người quên thì do mưu sinh, do vô tình… một lúc nào đó, ông chợt tỉnh ra, báo tin để khỏi áy náy trong tâm, mẹ cứ nghĩ thế cho nhẹ lòng”. Rồi từ đó, vài tháng ông lại gọi ra hỏi thăm mẹ. Có lần tôi băn khoăn hỏi ông: “Người ta bảo cha cháu lên cả Châu Thành (Long An) nữa”. “Nhất định cha cháu không hy sinh ở vùng giáp với Châu Thành đâu. Chú là người hành quân cùng cha cháu đêm đó trên cánh đồng Phước Lâm (Cần Giuộc, Long An), cầu Hội, cháu cố gắng thu xếp vào đi, sẽ rõ thôi”. Ông giục tôi hệt như chuyện của gia đình ông vậy… Ông xa quê ở tuổi lá rụng về cội, cũng buồn thấu tim gan mỗi độ lễ Tết nên ông trò chuyện qua điện thoại cho dịu đi, cho nghe được tiếng ngoài mình đó chứ.

Hè 2011 này, tôi mới thu xếp được để vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông. Bà vợ ông ra đón tôi, đon đả, xởi lởi như đã quen thân từ lâu rồi: “Mong cháu hoài, lúc nào ổng nhà tôi cũng nhắc tới ba cháu, cứ như ba cháu ở cạnh ổng vậy”. Tôi nhìn ông, không khác trong ảnh ông gửi ra và trẻ hơn so với trí tưởng tượng của tôi, nhanh nhẹn và chân phương. “Hồi đó chú mới 17-18 tuổi, còn cha cháu đã ngoài 30 rồi. Chốn tử địa, ở với nhau một đêm mà nhớ nhau cả đời”. Tôi giật mình, tưởng nghe nhầm: “Tất cả mọi thông tin chú nói, hóa ra chỉ biết cha cháu trong đêm bị địch phục kích thôi ạ”. “Chiến tranh mà. Đêm đó, nghe cha cháu kể, hóa ra ở cùng D294 từ hồi huấn luyện ở Chi Nê – Hòa Bình năm 1967, nhưng mỗi người một đại đội, chú ở đại đội của than Quảng Ninh nhập ngũ, còn cha cháu ở đại đội của Nhà máy dệt 8-3, rồi cùng xuất quân vào Nam ngày 15-1-1968”.

Ba tháng trèo đèo vượt dốc ở Trường Sơn, “đá mòn mà đôi gót không mòn”, men theo Tây Trường Sơn đến ngã ba biên giới tháng 4-1968 rồi về bổ sung cho tỉnh đội Long An, biên chế vào Tiểu đoàn 2 của ông Út Thôi, quần nhau với địch hết vùng hạ lên vùng thượng của Cần Đước, Cần Giuộc. Thời điểm khốc liệt ấy còn đọng lại trong ký ức của bà má Long Sơn – Cần Đước kể lại cho tôi nghe từ 13 năm trước, trong căn nhà thưng bằng lá dừa nhìn ra con đường đất đỏ quạch: “Đây là vùng ven Sài Gòn nên nó chà xát rất dữ, quyết tìm diệt bằng được cơ quan đầu não của Sài Gòn – Gia Định đang ém ở đây. Anh em ở Bắc vô, má nuôi hết đợt này đến đợt khác, không sao nhớ hết tên các ảnh; nhưng khổ nhất là các ảnh không thuộc địa hình, đánh trận nào cũng phải du kích dẫn đường, sau mỗi trận, vẫn du kích đi chôn cất anh em, tải thương về tuyến sau”. Ông nghe tôi nhắc lại lần đi tìm cha năm 1998, chợt nhớ lại: “Khi tập kết ở ngã ba Thu, quân số của D294 đã vơi đi nhiều so với khi xuất quân ở Chi Nê, nhưng vẫn không thấm tháp gì so với quãng thời gian ở Long An. Chú bị thương trước khi gặp cha cháu ở cầu Hội. Sức khỏe hồi phục, lại di chuyển từ Cần Đước lên Cần Giuộc. Tuổi trẻ đang hăng say, nói không sợ bom đạn thì không đúng, nhưng mình xác định lý tưởng thanh niên theo tiếng gọi của Bác, giải phóng miền Nam rồi thì cứ thế mà chiến đấu. Đêm ấy đi tải trái bị nó phục kích, chú nằm ép xuống bờ ruộng may mà thoát; còn cha cháu vọt lên gò cao có lùm cây che thì bị bọn nó xối đạn dữ quá. Nghe nó chạy qua lưng mình tìm diệt Việt Cộng mà đứng tim. Khi nó rút rồi, chú chạy lên tìm cha cháu, vẫn thấy người ông còn ấm, giở ba lô ra, đắp cho ông chiếc màn, rồi ngậm ngùi đi, làm sao chôn cha cháu ngay được”. Ông ngừng lời, tôi nghe buốt lòng, mãi rồi ông mới kể tiếp: “Vào ấp, gõ cửa nhà dân, họ cho mượn bộ quần áo là quý; lại ra đồng, mò mẫm tìm đường trong đêm tối hun hút. Sau trận đó, chú bị lạc đơn vị, phải lên vùng thượng Cần Giuộc hoạt động miết, khi xuống vùng hạ mới gặp cô ấy cùng công tác ở huyện”.

Ngày đưa vợ về quê ở Thái Bình (năm 1977), mẹ ông đã thắp hương cho ông mấy năm. Cạn nước mắt, mẹ ông ra ở với con gái ở Quảng Ninh. Vợ chồng ông dắt díu nhau ra Quảng Ninh với mẹ, phụng dưỡng bà cho trọn đạo làm con. Tưởng yên ổn ở đất mỏ lầm lụi, bụi than đen nhẻm mặt người, vậy mà hơn chục năm sau, khi mẹ đã mất, ông lại trở vào Nam theo nguyện vọng của vợ. Tôi nhìn khuôn mặt ông trong ảnh, đôi mắt to sáng trên khuôn mặt gầy guộc, không có vẻ thư nhàn. Ông mang ảnh cha tôi ra: “Cháu giống cha cái miệng cười quá. Ông ấy cao cao, trắng trẻo, vui chuyện khoe với chú có vợ và hai con ở Nhà máy dệt 8-3, Hà Nội. Thư nào gửi cho vợ cũng có thơ, rồi ông còn cao hứng đọc thơ cho chú nghe nữa. Ngày mai ta đi Cần Giuộc, tìm mấy ông du kích địa phương, cần thì ăn ở dưới đó luôn”. Ông nhất định không chịu đi ô tô, vừa tốn kém vừa không cơ động.

Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Hưng.

30 ki-lô-mét từ quận 12 xuống Cần Giuộc không phải là quá xa, nhưng cứ nhìn lưng ông còng còng sau xe anh tôi, lại thấy áy náy. Từ huyện xuống Phước Lâm, theo chân cán bộ xã, len lỏi tìm cầu Hội, nơi cha tôi và ông vượt cầu. Trên chiến trường xưa, hăng hái quên cả tuổi ngoài lục tuần, ông cùng cán bộ xã Phước Lâm là ông Võ Văn Bảy, đi vào các ngõ chữ chi tìm các nhân chứng, chắp nối mảnh hồi ức để tìm ra đáp số cha tôi đang nằm đâu trên những trảng ruộng mênh mông xưa, nay đã bị biến dạng, hàng quán hai bên đường mọc san sát. Chỉ có con sông nhỏ như dải lụa mềm tưới mát đồng ruộng xóm ấp Phước Lâm là vẫn thế. Sau một ngày đo đạc, kiếm tìm nhân chứng, dưới ánh đèn khuya ở nhà ông Bảy, sơ đồ địa hình trận địa hiện lên. Trong mỗi nếp nhà, mỗi xóm ấp, tình đồng đội nặng nghĩa, keo sơn vẫn mộc mạc, đằm sâu như thế. Tôi rưng rưng trong lòng khi nhìn hai mái đầu bạc vừa kẻ vẽ, vừa tranh cãi những điểm lấn cấn, để rồi ông Hưng dứt khoát: Trận đụng giặc phục kích nhất định phải là ở cầu Hội, Phước Lâm, Cần Giuộc năm 1968. Các điểm trên sơ đồ phải tính từ cầu Hội – ấp Phước Kế, xã Phước Lâm, xã Trường Bình – đường đất đỏ chạy dọc Mỹ Lộc – Phước Lâm – gò Mả, ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc… Chiều hôm sau, ông cùng anh em tôi đi tìm mộ cha tôi ở nghĩa trang liệt sĩ Cần Giuộc, mênh mông trắng và trắng hàng mộ liệt sĩ có danh và vô danh.

Tôi ôm cả xếp sơ đồ đó ra thuyết minh lại với gia đình để mẹ tôi an lòng. Mẹ thắp hương khấn cha tôi và tin như một điều xác tín: “Lần này, chắc cha con phù hộ, hôm nào mẹ cũng thấy cha con hiện về”.

Mẹ cảm ơn ông nhưng cũng không ngờ ông thu xếp ra Bắc, về quê hương Quỳnh Phụ rồi đến thăm mẹ tôi sớm thế. Trong khói hương trầm trước ban thờ gia đình tôi, ông trò chuyện với cha tôi như ngày xưa hai ông kề bên nhau nghe cha tôi đọc thơ viết tặng mẹ. Ông xúc động: “Thôi, thế là chú cũng thỏa tâm nguyện rồi”. Mẹ con tôi đáp lễ ông… Những điều ông ấp ủ bao năm, hôm nay ông mới thực hiện được trước di ảnh cha tôi và ông run run đọc những vần thơ tự tâm “Bao năm trải mấy mùa thu/ Tin đi thư lại mịt mù xa xôi/Ba lăm năm đã vèo trôi/ Chưa tìm anh được về nơi quê nhà/ Người còn người mất anh ơi…”.

Hôm nay, cha đã trở về với mẹ con tôi, với ông, người đồng đội năm xưa trên đường hành quân…

Bài và ảnh: Kim Thanh
qdnd.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Bác

Cũng như những năm trước đây, cứ vào dịp Tết Độc lập, người dân trên mọi miền đất nước lại về với “Làng Trù quê mẹ và Làng Sen quê cha”. Trong những ngày tháng thiêng liêng này, chúng tôi tìm gặp người nghệ sĩ đã quay những thước phim cuối cùng về Bác. Đó Thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân (ảnh), 82 tuổi, ở xóm Liên Sơn 1, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong căn phòng nhỏ, ông Xuân gợi nhớ lại những tháng năm không thể nào quên…

Năm 1952, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên  21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân xếp bút nghiên rời Làng Sen lên đường vào quân ngũ. Xuất thân trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, ông đã góp phần trong thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sau kháng chiến chống Pháp, ông được lệnh cùng đơn vị tiếp quản Thủ đô.

gap nguoi quay thuoc phim cuoi cung

Năm 1961, ông Xuân được chuyển về công tác tại Xưởng phim Quân đội. Với niềm say mê ham học hỏi cộng thêm lòng kiên trì chịu khó, ông tiếp cận nhanh với máy quay phim. Hơn 37 năm trong quân ngũ và 30 năm cầm máy quay lưu lại hơn 7000 thước phim tư liệu nhưng có lẽ khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong cuộc đời bấm máy của ông là 10 ngày túc trực bên cạnh Bác Hồ, ghi những thước phim quý giá lưu lại cho mai sau. Ông Xuân bồi hồi nhớ lại: “Được gặp Bác là niềm vui sướng tự hào của cuộc đời tôi, nhưng được giao trọng trách quay lại những thước phim trước khi Bác mất đó là lòng thành kính mà tôi dâng lên Người”.

Ngày 29-8-1969, nhận được lệnh đặc biệt của Tổng cục Chính trị, ông Xuân và một đồng chí (người miền Nam) vào Phủ Chủ tịch. Không được thông báo trước, ông Xuân cùng đồng đội cấp tốc mang theo hành trang gồm máy quay và một số trang thiết bị cần thiết. Khi xe dừng trước Phủ Chủ tịch, trong lòng ông Xuân xúc động vì được gặp Bác là niềm mơ ước từ lâu. Nhưng khi tận mắt chứng kiến sức khỏe Bác yếu dần, ông Xuân chỉ biết ôm đồng nghiệp rơi lệ…

“Chúng tôi ở bên Bác 24/24 giờ trong ngày. Chúng tôi lo nhất là khi bật máy quay lên sợ làm mất giấc ngủ của Bác. Do chiếc máy quay đã cũ, âm thanh phát ra từ máy khiến chúng tôi ái ngại. Chúng tôi đã nghĩ ra cách dùng vải nhung, xốp bọc bên ngoài máy với mục đích là cách âm để tránh tiếng động mạnh. Chúng tôi tự dặn mình: Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, phải dốc toàn tâm để ghi được những khoảnh khắc cuối đời của Bác” – ông Xuân kể. 10 ngày túc trực bên giường bệnh, sử dụng hơn 5000m phim nhựa, ông Xuân đã ghi lại tất cả những hình ảnh từ sinh hoạt cho đến giây phút trước khi Người về với thế giới người hiền. Trước khi ra đi, Bác chỉ có một ý nguyện thật giản dị: “…Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế… Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ… Bác muốn nghe một đôi làn quan họ…”. Những cảm xúc trào dâng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông Xuân.

Đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, ngồi lật lại trang sử cuộc đời, ông Xuân không khỏi xúc động bồi hồi, đặc biệt khi nhắc lại giây phút bên Bác. Trở về với cuộc sống đời thường, trong mỗi hành động, mỗi việc làm của mình, ông Xuân luôn cảm nhận được ánh mắt Bác Hồ dõi theo như nhắc nhở ông phải sống mẫu mực với con cháu, với bà con xóm làng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Ông Nguyễn Bảo Huỳnh, Chi Hội trưởng Hội Cựu chiến binh Liên Sơn 1 cho biết: “Ở  Hội Cựu chiến binh, ông Xuân là người tích cực. Cứ mỗi lần sinh hoạt, ông đều kể các câu chuyện về Bác cho anh em nghe và có những nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đó mà vận dụng vào thực tiễn đời sống hiện nay…”.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Đại tướng Chu Huy Mân, người bạn thủy chung của nhân dân Lào

QĐND – Chúng tôi thường gọi Đại tướng Chu Huy Mân với cái tên thân mật “anh Hai Mạnh”. Nhiều người cho rằng, anh “mạnh cả về quân sự lẫn chính trị”, có người lại nói rằng, anh “mạnh cả về tài năng và đức độ”.

Đại tướng Chu Huy Mân sinh năm 1913, xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tỉnh Nghệ An. Trong cao trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh, anh tham gia đội Tự vệ đỏ, là đội phó đội Tự vệ kiêm bí thư chi bộ xã, sau đó là bí thư phân huyện ủy Hưng Nguyên. Bị giặc Pháp bắt giam ở trại giam Kon Tum, vượt ngục năm 1943, trở về Quảng Nam, anh được phân công làm phó bí thư tỉnh ủy Quảng Nam. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, anh tham gia quân đội, làm Chính trị viên tỉnh đội Quảng Nam rồi được điều ra Huế, làm Chủ tịch Ủy ban quân chính Khu C gồm 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam. Cuối năm 1945, anh được điều sang làm Chính trị viên mặt trận Đường 9 – Sa-van-na-khẹt. Trong mặt trận này, Liên quân Lào-Việt cùng phối hợp tác chiến suốt từ Đông Hà qua Nam Lào đến Sa-van-na-khẹt.

Trong các năm 1946, 1947, 1948, anh đảm nhận nhiệm vụ làm Trưởng ban kiểm tra Đảng, Đảng ủy viên Quân khu Việt Bắc, Trung đoàn trưởng kiêm bí thư Đảng ủy các Trung đoàn 72 (Cao Bằng), 74 (Bắc Kạn) rồi Chính ủy Trung đoàn 174 (Cao-Bắc-Lạng).

Ngày 1-5-1951, Đại đoàn 316 thành lập, anh được điều về làm Bí thư Đảng ủy kiêm phó Chính ủy rồi Chính ủy Đại đoàn, tham gia các chiến dịch Trung du, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, anh Chu Huy Mân với bí danh “Thao Chăn” được bổ nhiệm làm Trưởng đoàn kiêm bí thư Đảng ủy Đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào. Trước lúc lên đường, anh được đến gặp Hồ Chủ tịch. Suốt thời gian bên Lào, anh luôn nhớ, làm đúng theo lời Bác căn dặn: “Giúp bạn là tự giúp mình nhưng phải bồi dưỡng bạn làm chủ từng việc cho đến làm chủ toàn diện, không bao biện làm thay”.

Năm 1956 Tổng bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản và vợ, con đến thăm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam Chu Huy Mân (trái).

Từ tháng 8-1950, Chính phủ kháng chiến Lào được thành lập do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Chủ tịch, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản làm Phó chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngoài những buổi làm việc, đồng chí Cay-xỏn thường hay đến thăm người bạn Việt Nam chung thủy Chu Huy Mân, tâm sự về những tình cảm của mình với Việt Nam từ khi học ở trường Bưởi, Trường Đại học Luật ở Hà Nội, đến nhiều chuyện đời tư khác của đồng chí sau này. Những mối quan hệ đó đã tạo điều kiện để đồng chí Chu Huy Mân làm việc tốt ở Lào. Ngày 8-8-1960, Đại úy Koong Le, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 2 quân đội Vương quốc Lào làm đảo chính lật đổ chính phủ phản động Phủi Xa-na-ni-con. Từ ngày 26 đến ngày 30-9-1960, quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Pa-thét Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa. Thời gian này, Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Lào đã thành lập, nhiều lần cử các đoàn cấp cao sang thăm Việt Nam, trong đó có đoàn của Hoàng thân Thủ tướng Su-va-na Phu-ma. Cuối năm 1960, lực lượng phản động Lào tập trung quân nhằm chiếm lại Thủ đô. Chính phủ Vương quốc Lào đã cử đặc phái viên sang Hà Nội xin viện trợ để chiến đấu bảo vệ Viêng Chăn. Một lực lượng pháo binh gồm một đại đội lựu pháo 105mm, một đại đội súng cối 120mm và các đồng chí chuyên gia Nguyễn Duy Trác, Đỗ Bá Bút, Nguyễn Trí Năng cùng một số chiến sĩ pháo binh đi máy bay cấp tốc sang giúp bạn Lào. Ngày 14-12-1960, lực lượng pháo binh Việt Nam này đã lập chiến công xuất sắc trong trận đầu tiên chống quân phản động Phu-mi Nô-xa-vẳn.

Sau này, anh Chu Huy Mân đã kể lại một số chuyện ở Lào thời gian ấy: Pháo và đạn của Việt Nam vừa chuyển bằng máy bay sang sân bay Vát-tày ngày 12-12-1960, Chuyên gia pháo binh Việt Nam mới bay sang Viêng Chăn ngày 13-12-1960 thì ngày 14-12-1960 đã chiến đấu. Nếu chỉ dùng pháo binh tiêu diệt các mục tiêu địch trên đất Lào, tấn công vào Viêng Chăn thì không có gì phải đắn đo suy nghĩ. Nhưng trong các mục tiêu định bắn của bạn Lào, có một trận địa trọng pháo đặt tại Noọng Khai nằm trên đất Thái Lan thường bắn chi viện cho quân phản động Phu-mi Nô-xa-vẳn. Khi các đồng chí chuyên gia pháo binh Việt Nam báo cáo ý định này của Đại úy Koong Le, anh Chu Huy Mân cân nhắc, suy nghĩ kỹ rồi cuối cùng đã quyết định: Để gây uy thế cho Chính phủ Liên hợp Vương quốc Lào, có thể bắn trong một thời gian rất ngắn vào trận địa pháo Noọng Khai. Phải bắn thật chính xác. Không được để đạn lạc vào dân lành. Và rồi trận chiến đấu đầu tiên của pháo binh ta hôm đó đã thắng lợi tốt đẹp.

Cũng năm 1960, Liên quân Lào-Việt đã chiến đấu bảo đảm cuộc vượt ngục của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thoát khỏi trại giam Phôn Khênh về căn cứ địa an toàn.

Một kỷ niệm khó quên trong thời gian Chu Huy Mân công tác bên Lào được Bác Hồ tặng chiếc đồng hồ Wyler, mặt sau có khắc chữ “Hồ Chí Minh”. Khi trao tặng, Bác nói: “Bác tặng chiếc đồng hồ này cho chú vì chú có thành tích giúp Đảng Nhân dân cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang. Các chú cần luôn luôn thấy rằng giúp bạn là tự giúp mình”.

Chính những lời căn dặn và những kỷ niệm đặc biệt của Bác Hồ đó đã giúp Chu Huy Mân hoàn thành tốt các nhiệm vụ khi làm cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào.

Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây nguyên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5

Sau thời gian làm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào, anh Chu Huy Mân nhận quyết định làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 4. Với những tình cảm đặc biệt Việt-Lào vốn có, anh đã cử nhiều đoàn quân tình nguyện Việt Nam ở Quân khu 4 sang Lào tham gia chiến đấu thắng lợi ở Lào.

Tháng 8-1965, anh Hai Mạnh nhận nhiệm vụ làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận B3 – Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến năm 1975 là Tư lệnh, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu 5, Chính ủy chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Từ năm 1975 đến năm 1976, anh là Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5.

Sau này mỗi lần gặp nhau, các chiến sĩ pháo binh Quân giải phóng Mặt trận Tây Nguyên và Trung Trung Bộ thường nhắc lại những kỷ niệm với anh Hai Mạnh những năm tháng ở chiến trường thời gian ấy.

Trên Tây Nguyên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Chu Huy Mân đã trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch Plây-me, hạ lệnh nổ súng từ 19 giờ ngày 19-10-1965, chỉ huy chiến dịch cho đến ngày toàn thắng vào ngày 26-11-1965. Tại Trung Trung Bộ, trong chiến dịch Nông Sơn-Thượng Đức, khi Trưởng phòng pháo Tô Thuận báo cáo số đạn bắn còn ít, Tư lệnh Hai Mạnh quyết định: “Bổ sung ngay đạn, nhưng pháo binh phải cố gắng diệt mỗi hoả điểm chỉ cần 2 phát đạn”. Tư lệnh Chu Huy Mân đã trực tiếp chỉ đạo chiến dịch từ ngày 17-7 bắt đầu nổ súng đến ngày kết thúc ngày 25-8-1974, giải phóng hoàn toàn một địa bàn rộng lớn ở Nông Sơn-Thượng Đức.

Sau mỗi chiến dịch, về căn cứ, Tư lệnh Hai Mạnh lại thân mật như anh em trong nhà, đánh bóng chuyền, học hát, tham gia đồng ca với anh chị em quân khu.

Sau này, khi Đại tướng Chu Huy Mân đã là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Ủy viên Bộ Chính trị; Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương; đại biểu Quốc hội; Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước cho đến khi nghỉ hưu (tháng 12-1986) và ít ngày trước khi anh vĩnh biệt bạn bè và người thân về với cõi Vĩnh hằng (ngày 1-7-2006), anh vẫn có những buổi tiếp xúc thân mật với những anh chị em cùng chiến đấu trên chiến trường năm xưa.

Đại tướng Chu Huy Mân, anh Hai Mạnh là người như thế. Về mặt “nghiệp vụ”, anh mạnh cả về chính trị và quân sự, về mặt “con người”, anh mạnh cả về tài năng lẫn đức độ. Ai đã cùng sát cánh chiến đấu với anh đều thấy rõ ở anh những điều đó.

Đại tá Đỗ Sâm
qdnd.vn

Đồng đội còn nằm đó, sao đành…

Nghĩa tình đồng đội

QĐND-Bị thương trong chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975, buộc phải trở về tuyến sau điều trị không thể tiếp tục cầm súng chiến đấu đã là một nỗi day dứt khôn nguôi của CCB Dương Xuân Hà-nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Đại đội 5, Trung đoàn 85, Sư đoàn 325. Điều trăn trở khiến ông luôn tìm cách trở lại chiến trường xưa là mong muốn tìm kiếm những đồng đội đang còn nằm dưới cỏ.

Bắt đầu cuộc trò chuyện với chúng tôi, CCB Dương Xuân Hà nhắc đi nhắc lại yêu cầu: “Đừng viết gì về tôi cả, hãy giúp tôi đưa thông tin về đồng đội lên báo. Biết đâu người thân của các anh đọc được để có thể đưa các anh về”. Gợi mở mãi chúng tôi mới kéo được ông trở về một trận đánh mà sau đó ông đã phải tự tay chôn cất 5 liệt sĩ.

Ngày 31-12-1972 tại làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, chiến sĩ Dương Xuân Hà cùng đồng đội nhận nhiệm vụ bảo vệ chốt ở giữa làng. Gần sáng có một nhóm 5 chiến sĩ của Sư đoàn 312 mới về tăng cường sau khi chốt của họ ở phía trên bị địch đánh chiếm. Thế là hai nhóm sáp nhập thành một, chia ra ở hai chiếc hầm chữ A theo bố trí trận địa của đơn vị. Gần hết nửa ngày ở chốt, họ có dịp trò chuyện và biết tên của nhau. Đến gần trưa, địch bắt đầu đánh đến, phi pháo của chúng bắn liên hồi. Ở hầm bên này nhóm của Hà nhanh chóng chuẩn bị tác chiến. Bên kia cũng vậy. Nhưng khi súng vừa trên vai thì trúng hai quả phi pháo của địch. Căn hầm bên cạnh sập xuống. Nhóm của Hà vội chạy sang nhưng không kịp, cả năm đồng chí đều hy sinh.

CCB Dương Xuân Hà. Ảnh: Tuấn Tú.

Kể đến đây, giọng nói của CCB Dương Xuân Hà chợt trùng xuống. Ông lại nhớ về chuyện xưa. Sau khi chôn cất cho năm đồng chí hy sinh xong, ông cùng đồng đội lại vào vị trí chiến đấu. Hành quân đi khắp các chiến trường đến khi bị thương buộc phải xuất ngũ. Sau nhiều năm bươn chải, lăn lộn với cuộc sống, cứ tích cóp được ít tiền là ông tại tìm cách về lại chiến trường xưa, không gì ngoài mục đích kiếm tìm đồng đội. Cùng với ông, còn có anh Lâm, anh Thái – những người cùng đơn vị năm xưa, họ kết thành ban liên lạc hễ khi nào có đủ điều kiện là sẵn sàng lên đường.

Bắt đầu công việc tri ân đồng đội từ năm 2005 đến nay, chỉ bằng nguồn kinh tế tự có họ đã đưa được 4 trong số 5 liệt sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng. CCB Dương Xuân Hà kể: “Năm đó khi chôn cất các đồng chí chúng tôi đã đánh dấu từng vị trí cụ thể. Sau nhiều năm làng Như Lệ vẫn không thay đổi nhiều nên việc tìm kiếm không khó khăn lắm. Anh Thoại nhà ở Hàng Khoai, Hà Nội; anh Ngọc quê ở Vân Đồn, Hà Nội đã được đưa vào nghĩa trang Quảng Trị rồi. Anh Vũ Trọng Kiêm gốc Khoái Châu, Hưng Yên và anh Hiệp người Thanh Trì, Hà Nội thì được đưa về quê nhà”.

Vậy là 4 liệt sĩ trong số năm người hy sinh đã được đồng đội và gia đình chuyển về nơi yên ấm hơn. Còn một người nữa. Sao anh vẫn còn nằm lại chân hàng rào gần căn hầm cũ. Ông Hà nói: “Vì năm đó chúng tôi không kịp trao đổi với nhau nhiều. Chỉ biết anh ấy tên là Hào, người Kinh Môn, Hải Dương gì đó. Khi hy sinh mọi thứ tan tác hết nên chúng tôi không tìm thấy giấy tờ tùy thân của anh ấy”.

CCB Dương Xuân Hà còn nhớ rõ, liệt sĩ Hào ngày đó khoảng chừng 20 tuổi, dáng người không cao lắm, da trắng, mặt nhiều mụn trứng cá. Cuộc trò chuyện ngắn ngủi chỉ vừa đủ cho ông biết anh là người kín đáo, chín chắn, vừa chiến đấu bên Lào về… Chưa kịp hiểu về nhau thì trúng pháo địch, anh Hào hy sinh.

Trong những phút cuối của buổi trò chuyện, người CCB ấy gửi tới chúng tôi mong muốn chân thành là tìm được thông tin về gia đình anh Hào để đưa anh trở về với quê nhà. Ông Hà nói: “Thà mình không nhìn thấy thì thôi, giờ biết đồng chí còn nằm đó, sao đành…”.

Từ những thông tin trong bài viết, bạn đọc và cộng tác viên nào biết về liệt sĩ Hào xin liên hệ với CCB Dương Xuân Hà theo số điện thoại 01662266407.

Bích Trang – Lê Na
qdnd.vn

Đời thực của một “huyền thoại” Mũ nồi xanh

QĐND – Trong một số tiểu thuyết hư cấu về chiến tranh và nhất là trong kịch bản phim hành động, có những “lính kín” (sĩ quan tác nghiệp chiến tranh bí mật) của Mỹ được tụng ca như huyền thoại. Nhưng học giả phương Tây nhận thấy ngay cả những sách không hư cấu (non – fiction: sách người thật việc thật) viết về chiến tranh ngầm ở phương Tây cũng ngấm ngầm thần thánh hóa những nguyên mẫu của “Rambo”.

Những hơi thở đầy sát khí của “Chiến tranh lạnh” và nhất là khói súng của cuộc chiến Triều Tiên đã đẩy nhanh tiến trình xây dựng Lực lượng đặc biệt Mỹ (LLĐB). Ra đời tháng 5-1952, đơn vị đầu tiên, SFC 10, của LLĐB được đặt dưới quyền Trung tâm chiến tranh tâm lý (Psychological Warfare Center) của quân đội Hoa Kỳ. Những người “biết cách hoạt động sau lưng đối phương” lại được cần đến, để giữ cho các quân cờ đô-mi-nô khỏi đổ. Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia cho rằng, một số người gốc Âu từng chiến đấu chống Hồng quân Liên Xô trước đó đã được đặc cách tuyển mộ vào “Mũ nồi xanh”, bất chấp cả quá khứ phát xít(1).

La-ry Thoóc-nơ, 3 ngày trước điệp vụ cuối cùng, tháng 10-1965. Ảnh tư liệu

Sách “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội”(2) của Giáo sư R.Sun-dơ (R.Shultz), từng được khen ngợi bởi cả các cựu chỉ huy Mỹ trong chiến tranh Việt Nam lẫn các tác gia và ký giả nổi tiếng, đã viết những dòng đầy cảm thán về La-ry Thoóc-nơ (Larry Thorne, tên thật là Lauri Allan Tôrni), sĩ quan điều hành trại LLĐB Khâm Đức, Quảng Nam năm 1965.

Từ miền núi quanh năm tuyết phủ

Sun-dơ viết: “Lai lịch của La-ry Thoóc-nơ là nguồn chất liệu cho tiểu thuyết. Sinh ở Phần Lan năm 1919, Thoóc-nơ gia nhập quân đội Phần Lan năm 1938 và trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, tiến hành hoạt động không quy ước chống quân đội Xô-viết… Khi Đức xâm lược Liên Xô 1941 và Phần Lan liên minh với Béc-lin, Thoóc-nơ tiếp tục đầu quân cho Quốc xã”.

Theo từ điển bách khoa điện tử Wikipedia, phe Hồng quân treo giải thưởng tương đương với 560 nghìn USD cho ai loại trừ được Thoóc-nơ – sĩ quan phát xít thuộc diện “đặc biệt nguy hiểm”.

R.Sun-dơ viết tiếp, “Tháng 9-1944, Phần Lan đầu hàng Liên Xô, nhưng Thoóc-nơ thì không. Thoóc-nơ nhập vào quân đội Đức Quốc xã, theo học tại trường chiến tranh du kích, rồi cùng lính thủy đánh bộ của Hít-le chống lại Hồng quân cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Muốn trừng phạt Thoóc-nơ, Liên Xô yêu cầu chính phủ Phần Lan phải bắt Thoóc-nơ. Liên Xô có kế hoạch dẫn độ Thoóc-nơ về Mát-xcơ-va và xét xử như tội phạm chiến tranh. Thoóc-nơ chạy trốn được sang Hoa Kỳ, và với sự giúp đỡ của Bin Đô-nô-van (Bill Donovan), Thoóc-nơ trở thành công dân Mỹ. Đô-nô-van, đứng đầu OSS lúc đó biết về những chiến tích của com-măng-đô Thoóc-nơ. Đô-nô-van hình dung chiến tranh không khác gì việc kinh doanh ở phố Uôn (Wall). Hoa Kỳ sẽ cần tới những con người như La-ry Thoóc-nơ, trong những năm tới”.

Buổi đầu trong LLĐB Mỹ, Thoóc-nơ dạy các môn như trượt tuyết, leo núi, chiến thuật du kích. Từ đó, Thoóc-nơ thăng tiến dần với bậc sĩ quan cấp úy, phục vụ cùng SFG 10 ở Tây Đức, rồi càng ngày càng nổi trội trong hoạt động ngầm trên dãy núi Da-grốt (Zagros) ở Vịnh Ba Tư…

Đến rừng rậm nhiệt đới

Tháng 11-1963, Thoóc-nơ nhập vào đơn vị LLĐB Mỹ A-734 đóng ở Đồng bằng sông Cửu Long và được gắn hai mề đay.

Chiến tranh cục bộ bắt đầu cùng với sự thăng hạng của “chiến tranh bí mật” ở Lào, La-ry Thoóc-nơ nay đã được thăng cấp đại úy, nhưng thuộc quân Mỹ, được Tổ nghiên cứu và quan sát thuộc Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACVSOG, hoặc SOG) giao chỉ huy một đơn vị đặc biệt Mỹ chuyên đánh phá tuyến đường Trường Sơn.

R.Sun-dơ viết: “Vào mùa thu 1965, các chi tiết đã được nhất trí, và 5 toán thám báo đã sẵn sàng “xé rào” (cross the fence – vượt biên giới miền Nam Việt Nam – Lào). Nhiệm vụ là phá hoại ngầm. Họ không đeo quân hàm, phù hiệu đơn vị, trang phục được đặt riêng cho SOG, không rõ may ở đâu. Vũ khí mang theo không sản xuất ở Mỹ, mà kiếm được từ nguồn bí mật, không thể tìm được xuất xứ. Các toán biệt kích không mang bất cứ thứ gì để cho phép xác định họ là ai… Từ tháng 10 cho đến hết năm 1965, 7 điệp vụ thám báo được thực hiện”.

Theo Trung tá Ray-mơn Con-lơ (Raymond Call), những chiến dịch sớm sủa này được tiến hành khi đối phương chưa phòng bị, nên SOG có được yếu tố bất ngờ. “Kết quả thật khích lệ. Các toán thám báo đã phát hiện được nhiều mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom”. 80-100% mục tiêu bị phá hủy, theo tài liệu về MACVSOG của Hội đồng tham mưu Liên quân Mỹ, phụ lục D, phần “Hoạt động vượt biên giới Việt – Lào”.

Sự khởi đầu nhanh chóng này, theo R.Sun-dơ, cũng không thể không trả giá.

Kết cục tất yếu

Trong điệp vụ ngày 18-10-1965, hai chiếc trực thăng H-34 chở một toán biệt kích chuẩn bị xâm nhập vào Lào. Cố vấn La-ry Thoóc-nơ bay trên chiếc H-34 thứ ba. Sau khi toán biệt kích đổ bộ được xuống địa điểm định trước, hai chiếc trực thăng đầu quay về căn cứ Khâm Đức. Chờ đến khi nhận được tín hiệu cho biết toán biệt kích đã vượt biên an toàn, Thoóc-nơ lệnh cho phi công quay về căn cứ. Lúc đó, sương mù hầu như che khuất tầm nhìn. Chiếc H-34 và Thoóc-nơ biến mất trong màn đêm, không để lại dấu vết gì…

Mãi đến năm 1999, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, Tổ chức tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam mới xác định được hài cốt của La-ry Thoóc-nơ trong số hàng nghìn hài cốt lính Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Và hài cốt của Thoóc-nơ chính thức được xác nhận năm 2003.

Thần tượng hóa kiểu dối trá

Cuốn “Mũ nồi xanh”, in lần đầu năm 1965, với một nhân vật chính là Sven Cớc-ni (Sven Kornie), được xem là La-ry Thoóc-nơ hóa thân(3).

Mặc dù nhân vật sống Thoóc-nơ ngay sau đó biến mất trong “sương mù chiến tranh”(4) (Brouillard de guerre), nhưng “Mũ nồi xanh” vẫn kịp trở thành sách bán cực chạy thời điểm năm 1966.

Năm 1968, khi cuộc chiến ở Việt Nam lại bắt đầu lòi ra các điểm nhấn “Thiên Nga, Phượng Hoàng” dựa trên “chủ bài” LLĐB, thì “Mũ nồi xanh” lại được chuyển thể thành phim cùng tên, do diễn viên điện ảnh Giôn Uây-nơ (John Wayne) thủ vai chính theo nguyên mẫu La-ry Thoóc-nơ.

Như vậy vẫn chưa đủ, các nỗ lực “đánh bóng” tội ác chiến tranh của giới truyền thông phương Tây vẫn chưa chịu dừng bước. Năm 2004, có nguồn truyền thông phương Tây tiếp tục đánh giá khá cao “công trạng” của La-ry Thoóc-nơ. Trong bài “Một đánh giá về khủng bố của Mỹ ở Việt Nam” (An account of American terrorism in Vietnam)(5), tác giả Pa-trích Mác-tin (Patrick Martin) viết: “Câu chuyện về La-ry Thoóc-nơ cho thấy, bản chất thực sự của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đó là sự kết hợp giữa tư tưởng chống Cộng, bài châu Á, và sự dã man chống nhân dân Việt Nam. Nó vạch ra sự tương đương giữa các cuộc tàn sát do Mỹ chỉ đạo ở Việt Nam, và sự hung bạo của Quốc xã ở mặt trận phía Đông. Ấy thế mà tác giả Sun-dơ trong “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội” đã miêu tả công trạng của La-ry Thoóc-nơ như một người hùng…”.

Thật đáng nực cười cho bộ máy truyền thông phương Tây, bởi Thoóc-nơ cũng chỉ là một lính Mỹ như hàng vạn lính Mỹ khác đã phải đền tội trong cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam.

Lê Thành

1. http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28film%29
qdnd.vn

2. Sách The secret war against Hanoi, NXB Harper Collins, 2000. Bản tiếng Việt của NXB Văn hóa-Thông tin, 2002

3. Mô tả sách “Mũ nồi xanh” trên Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28book%29

4. Brouillard de guerre, khái niệm được Clausewitz đưa ra từ thế kỷ 19 để chỉ các yếu tố không rõ ràng trong chiến tranh do cảm nhận chủ quan và các yếu tố khách quan, và các thách thức mà các bên của cuộc chiến áp đặt cho đối phương. Cũng là tên của một DVD về hồi ức và suy nghĩ sau chiến tranh Việt Nam của Mắc Na-ma-ra.

5. http://www.wsws.org/articles/2000/jun2000/viet-j06.shtml

Tại sao bà Tống Khánh Linh không an táng tại Lăng Tôn Trung Sơn?

QĐND – LTS: Báo điện tử “Lịch sử văn hóa Trung Hoa” (www.xyz6666.com), ngày 19-12-2010, đã đăng bài “Nội tâm lấn cấn? Vì sao bà Tống Khánh Linh không chịu an táng chung tại Lăng Trung Sơn”.

Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, để bạn đọc tham khảo tìm hiểu thêm về quan điểm xử thế của bà Tống Khánh Linh, một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch danh dự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, được mệnh danh là “Người phụ nữ vĩ đại trong thế kỷ 20 của thế giới”.

Bà Tống Khánh Linh (27-1-1893 / 29-5-1981).

Trong những phần mộ an táng bao quanh Lăng Trung Sơn, nơi bảo quản thi hài của Vĩ nhân Tôn Trung Sơn, người được mệnh danh là Người cha của đất nước Trung Hoa cận đại (Quốc phụ), có phần mộ hợp táng của nhân sĩ Liêu Trọng Khải và phu nhân Hà Hương Ngưng. Diện tích lăng không lớn (diện tích 20 mẫu, trong khi đó phần mộ của Đàm Diên cách đó không xa rộng đến hơn 300 mẫu đất), nhưng phong cách rất đặc biệt, vô cùng hấp dẫn khách tham quan. Phần mộ này cũng là tác phẩm của Lã Nhan Trực, kiến trúc sư thiết kế Lăng Trung Sơn, một tài hoa trẻ qua đời sớm.

Nhân sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải bị ám sát và tử vong vào buổi chiều ngày 20-8-1925, sau khi Tôn Trung Sơn từ trần chưa đầy 6 tháng. Năm ấy, ông mới 48 tuổi; vợ ông – bà Hà Hương Ngưng năm ấy 46 tuổi (lớn hơn Tống Khánh Linh 14 tuổi). 47 năm sau, ngày 1-9-1972, bà Hà Hương Ngưng ốm chết tại Bắc Kinh. Theo di nguyện của bà “sống cùng phòng, chết cùng huyệt”, linh cữu của bà Hà Hương Ngưng được chuyển đến Nam Kinh an táng chung một mộ với Liêu Trọng Khải.

Hai vợ chồng chí sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải đều là Hội viên sớm nhất của Đồng Minh hội, là chiến hữu và trợ thủ thân cận nhất của Tôn Trung Sơn tiên sinh. Theo chính sử ghi chép, khi hấp hối, Tổng thống Tôn Trung Sơn đã trực tiếp căn dặn bà Hà Hương Ngưng: “Sau khi tôi chết, nhờ chị chăm sóc Tôn phu nhân…”.

Sau khi nghe trả lời chắc chắn, Tôn Trung Sơn tiên sinh nắm tay bà Hà Hương Ngưng: “Liêu Trọng Khải phu nhân, tôi cảm ơn chị…”.

Cùng chung số phận, kinh lịch và sự nghiệp, khiến cho Tống Khánh Linh và Hà Hương Ngưng “vận mệnh đan kết thân mật như vậy”, mối quan hệ giữa hai bà bất luận là riêng hay chung đều khác thường. Con trai, con gái của Hà Hương Ngưng từ bé đều tôn kính gọi bà Tống Khánh Linh là “thím”, hoặc thân mật gọi bằng tiếng Anh “dì Anne”.

Chín năm sau, khi bà Hà Hương Ngưng từ trần, năm 1981, bà Tống Khánh Linh ốm nặng rồi qua đời tại Bắc Kinh. Trước khi qua đời nửa tháng, bà Tống Khánh Linh được thụ phong danh hiệu Chủ tịch danh dự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Có người đặt câu hỏi, liệu bà có an táng chung tại Khu lăng mộ Trung Sơn, như bà Hà Hương Ngưng không?

Ngoài sự dự đoán của mọi người, thi hài của bà Tống Khánh Linh sau khi được hỏa thiêu hai ngày, tro xương được chuyên cơ chuyển về Thượng Hải, an táng tại khu mộ họ Tống trong nghĩa trang Vạn Quốc. Làm như vậy, hoàn toàn là tôn trọng di nguyện và sắp xếp của bà Tống Khánh Linh khi còn khỏe mạnh.

Tại sao bà Tống Khánh Linh không đề xuất an táng chung trong lăng với Tôn Trung Sơn hoặc bên cạnh Lăng Trung Sơn?

Bà Ismail Demirel Epstein, tác giả “Truyện Tống Khánh Linh” đã viết:

“Bà cho rằng, sự nghiệp lịch sử của Tôn Trung Sơn là công lao của ông ấy, bà không nên chia hưởng hạnh phúc ấy. Ngoài ra trước giải phóng, trong Quốc Dân đảng đã từng có người phê phán cạnh khóe về địa vị quả phụ Tôn Trung Sơn của bà (năm 1922, tuy đã kết hôn 7-8 năm, song trong Quốc Dân đảng vẫn có người cố ý gọi bà là “Tống tiểu thư”, tỏ thái độ không thừa nhận thân phận “Tôn phu nhân” của bà. Sau đó, luận điệu vô lý ấy không còn nữa, song vấn đề “danh phận” vẫn chưa bị dập tắt).

Ba điều bổ sung của nữ nhà văn Epstein cũng rất thận trọng cân nhắc sử dụng từ ngữ, nào là “có thể bà cho rằng”, nào là “đây cũng có thể”, hoặc “phải chăng vì thế mà bà cảm thấy…” tức là phán đoán quan điểm của nhân vật chính của tác phẩm.

Xem ra, đối với bà Tống Khánh Linh, một người có cá tính nhàn tĩnh, hướng nội, song tư tưởng không hề khép kín, hời hợt, đã để lại một câu đố không nhỏ cho những nhà nghiên cứu.

Song theo nhãn quan thế tục, khi sinh mệnh ở những giây phút cuối đời, người ta đều có khát vọng trở về với nguồn gốc, khát vọng “lá rụng về cội”, cũng là thường tình “thánh nhân không cấm”. Miền Bắc Trung Quốc có câu tục ngữ nói: Con gái là “áo bông nhỏ lót mình” của mẹ. Bà Tống Khánh Linh nhớ song thân với tình cảm ăn năn, nhất là đối với mẫu thân. Khi tuổi đã trên bát tuần, trong một lá thư riêng, bà vẫn nhớ lại khi bà đã 22 tuổi lặng lẽ rời khỏi Thượng Hải (theo khảo chứng của nữ nhà văn Epstein, bà chỉ “lén lút trốn ra khỏi phòng”, chứ không tồn tại cảnh tượng lãng mạn “bắc thang leo ra khỏi ban công”), đi theo Tôn Trung Sơn đang lưu vong ở Nhật Bản và tổ chức lễ cưới:

“Sau khi xem lá thư từ biệt của tôi để lại, cha mẹ tôi bèn lên một chiếc tàu biển đi sang Nhật Bản, muốn khuyên tôi rời khỏi chồng, cùng họ trở về. Mẹ tôi khóc, cha đang bị bệnh gan khuyên tôi…”.

Năm 1949, phái đương quyền Quốc Dân đảng giữa lúc “hấp hối chính trị” xuất phát từ mục đích vừa nhìn đã biết, ra sức tuyên truyền bà Lư Mộ Trinh, người vợ cũ và đã ly hôn với Tôn Trung Sơn từ lâu, mới là Tôn phu nhân chân chính và duy nhất. Báo chí đã cho biết, bà Tống Khánh Linh biểu thị: “Bọn họ có thể nói tôi không phải là Tôn phu nhân, nhưng không có ai có thể phủ nhận tôi là con gái của cha mẹ tôi”.

Nữ nhà văn Epstein phân tích rằng: “Đây có khả năng là quan điểm của bà được thổ lộ sớm nhất, quan điểm này khiến cho bà lúc bệnh tình nguy cấp đã đề xuất yêu cầu an táng cùng một nơi với cha mẹ bà”.

Điều kích thích tâm can sâu thẳm nhất đối với bà Tống Khánh Linh vẫn là thời kỳ “cách mạng văn hóa” phá bỏ bốn cũ, Hồng vệ binh của Thượng Hải đã “phá nát” phần mộ song thân của bà tại nghĩa trang Vạn Quốc, “đẩy đổ bia mộ, đào xương trong mộ lên, thực hành “đánh xác”.

Trong “Truyện Tống Khánh Linh” kể lại: “Khi tấm ảnh phần mộ bị phá hoại từ Thượng Hải gửi lên Bắc Kinh, những người làm việc bên cạnh bà Tống Khánh Linh lần đầu tiên thấy bà tinh thần không đứng vững mà khóc thảm thiết.

Liêu Mộng Tỉnh đưa tấm ảnh ấy cho Thủ tướng Chu Ân Lai. Thủ tướng Chu Ân Lai hạ lệnh cho ngành hữu quan của thành phố Thượng Hải lập tức sửa chữa lại phần mộ họ Tống và sau khi sửa xong đã chụp ảnh gửi cho bà Tống khánh Linh. Song không sửa chữa lại đúng nguyên như cũ. Trên bia mộ cũ có ghi tên của 6 người con, mà trên bia mộ mới chỉ có tên một người Tống Khánh Linh… Sau khi cách mạng văn hóa kết thúc, lại thay đổi bia mộ mới, hoàn toàn khôi phục như cũ”.

Đúng như tác giả bài viết này trước đây không lâu đã viết một bài rằng: Ba năm cuối cùng cuộc đời của bà Tống Khánh Linh lại là thập niên có hy vọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tháng 2 năm 1979, trong một lá thư gửi cho một người bạn Mỹ, bà đã viết:

“Dân chủ và pháp chế bắt đầu chiếm thế thượng phong và đã hiển hiện ra… Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba của Đảng tổ chức gần đây là một thắng lợi”.

Một người già chìm nổi này là một cán bộ lãnh đạo cao cấp, dù có cưỡi sóng to gió lớn, cũng khó tránh khỏi có những lo lắng đến những thăng trầm sóng gió của quãng đường trước mắt. Trong những bức thư khác nhau, Bà đã nói thẳng đến những tệ nạn của xã hội hiện tại:

“Loại trừ chế độ ủy phái cán bộ và chế độ giáo dục của chúng ta trước mắt đã được cải thiện, tôi dám khẳng định rằng: Mọi nỗ lực mà chúng ta thực hiện bốn hiện đại hóa đều sẽ thất bại!

Bất kỳ lợi ích tập thể nào, đều phải cho phép tự do và lựa chọn của cá nhân”.

Phải chăng trong lúc hấp hối, bà Tống Khánh Linh đã cảm khái thấy rõ vận mệnh của mình ở phía sau người bạn đời và người thầy của mình, nên đã quyết định nêu ra di nguyện trở về an táng tại nghĩa trang gia tộc, quyết định một cách hàm súc dứt khoát rõ ràng rằng: Bản thân mình quyết đoạn tuyệt và cảnh báo về những cố tật mang tính dân tộc quen cố tạo ra hình ảnh thần thánh và mù quáng tin theo mê tín?

VŨ PHONG TẠO dịch và giới thiệu
qdnd.vn

Trận đánh xác nhận chủ quyền đảo Côn Lôn năm 1702

QĐND – Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Kỷ Mùi (1679), Thái tông Hiếu triết Hoàng đế sai tướng mở đất dựng đồn ở địa phận gần Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), Hiến tông Hiển Minh Hoàng đế lại sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên trấn. Vậy là, đến cuối thế kỷ XVII, cương vực nước ta được mở rộng như ngày nay. Và cũng vào thời kỳ đó, ta mới làm chủ những đảo ngoài Biển Đông như: Côn Đảo, Phú Quốc v.v.. Quần đảo Côn Lôn thời đó chưa có người ở. Nhưng do vị trí quan trọng của nó-nằm trên con đường hàng hải từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại, nên quần đảo Côn Lôn tiếp xúc với các nước phương Tây khá sớm, vào thế kỷ XVII. Như ta biết, đội quân tiên phong của chủ nghĩa thực dân được núp dưới lá cờ truyền đạo một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: Truyền bá Thiên chúa giáo và tiến hành thu thập, điều tra, cung cấp những thông tin cần thiết cho đội quân xâm lược đang túc trực ở phía sau.

Bộ đội biên phòng tuần tra Côn Đảo.

Giám mục A-lếch-xăng đờ Rốt đặt chân tới Nam Kỳ năm 1624 với cả hai nhiệm vụ trọng yếu đó. Hai mươi lăm năm sinh sống ở nước ta, lúc vào Nam lúc ra Bắc, ông ta đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên của xứ này và cho in tại Li-ông ba cuốn sách liên quan đến nước ta: Từ điển Việt-Bồ-La, Lịch sử xứ Đàng Ngoài và Hành trình truyền đạo, trong đó ông cho biết những khả năng buôn bán: “Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn phong phú tiền lời và của cải”(1) Theo A-lếch-xăng đờ Rốt, chỗ cần chiếm lấy là Côn Đảo. Hơn 15 năm sau một người đồng hương của đờ Rốt, thương nhân Vê-rê (Véret) đã xác nhận điều đó. Vê-rê đã tới Côn Lôn. Nhận thấy vị trí quan trọng của quần đảo này trên hải trình Âu-Á nên Vê-rê đã đề nghị với Công ty Đông Ấn của Pháp đóng tại Pông-đi-sê-ri (thuộc địa Pháp ở Ấn Độ) chiếm lấy quần đảo này. Trong một lá thư đề ngày 5-1-1686 gửi Công ty Đông Ấn của Pháp, Vê-rê đã viết: “Ở đây có nhiều hòn đảo không có người ở, tất cả các hương liệu ở đây rất tốt và rất nhiều. Côn Đảo là một hòn đảo thuận tiện nhất để làm các việc đó. Côn Đảo có 3 cửa biển tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông nhỏ, một vùng cây cối đẹp nhất thế giới. Các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Ma-ni-la, Nam Kỳ v.v.. muốn sang buôn bán với Ấn Độ phải đến hết sức gần hòn đảo này; các tàu ở Ấn Độ, tàu của Anh và của Hà Lan muốn đến biển Trung Hoa cũng phải qua lại ở đây. Chiếm được nơi này cũng lợi như chiếm được hai eo biển La Sông-đơ và Ma-lắc-ca vậy. Hơn nữa, phải tính đến việc buôn bán với nước Cao Miên và nước Lào như là cái gì to lớn vì các mặt hàng như của nước Xiêm”.(2)

Nhưng vì công ty này đang bị tư bản Anh chèn ép và tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ nên không còn tâm trí nào để chiếm đảo. Thế rồi, năm 1700, Công ty Đông Ấn của Anh đã nẫng tay trên. Một thương nhân tên là Đao-ty (Doughty) được cử làm chúa đảo. Quân Anh gồm hơn 200 người, phần đông là người Ma-lai-xi-a, dựng doanh trại và mở thương điếm buôn bán với các nước quanh vùng. Thương nhân Trung Hoa đã đánh hơi được và đã mò tới buôn bán kiếm lời: “Có thuyền Trung Hoa chở gạch ngói đến đổi lấy hàng hóa của Hồng Mao (nước Anh) vì vốn ít mà lãi nhiều”(3). Một điều chắc chắn là tư bản Anh muốn biến Côn Lôn thành bàn đạp lợi hại để xâm chiếm những vùng đất mới, trước hết là nước ta. Nhận thấy nguy cơ đó đang tới gần, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, xác định chủ quyền của ta trên đảo và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ trước tới nay, sự kiện này được miêu tả như một cuộc binh biến của lính đánh thuê Ma-lai-xi-a nổi lên giết chúa đảo để trở về quê quán(4). Sự thực hoàn toàn không phải như vậy mà chính là việc chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, qua đó xác định chủ quyền của ta đối với quần đảo, dù chưa có người ở. Trong Đại Nam nhất thống chí có chép một đoạn về sự kiện này như sau:

“Năm Nhâm Ngọ Hiển tông thứ 11 (1702), giặc biển An Liệt (Anh) đi thuyền đến đảo Côn Lôn, người tù trưởng là Tô Lạt Gia Thi (Thomas Doughty) 5 người chia làm 5 ban cùng đồ đảng hơn 200 người, kết dựng trại sách, của cải rất nhiều, bốn mặt đều dựng súng, ở hơn một năm. Trấn thủ Trấn biên là Trương Phúc Phan chiêu mộ 15 người Chà Và, bí mật sai họ trá hàng, rồi nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết Nhất ban, Nhị ban, bắt được Ngũ ban, còn Tam ban, Tứ ban theo đường biển trốn thoát. Nhận được tin báo, Trương Phúc Phan sai lính đi ra đảo thu hết của cải dâng nộp”(5).

Côn Đảo nhìn từ trên cao. Ảnh: Đoàn Hoài Trung

Đoạn trích dẫn trên cho ta biết những thông tin quan trọng sau đây: 1) Người tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi Côn Đảo năm 1702 là Trấn thủ Trấn biên Trương Phúc Phan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; 2) Phương thức đánh là dùng người Chà Và, cùng sắc tộc với lính Ma-lai-xi-a, trá hàng, nhân đêm tối phóng hỏa đốt trại, tạo thế bất ngờ, rồi giết quân lính Anh, làm cho chúng hoảng sợ phải tháo chạy khỏi đảo; 3) Đã giết và bắt sống 3/5 quân lính, thu nhiều của cải và súng đạn, chỉ có 2/5 binh sĩ chạy thoát.

Rõ ràng, đó là một trận đánh đuổi quân xâm chiếm lãnh thổ, xác định chủ quyền của ta trên quần đảo Côn Lôn, mặc dù chưa có người ở, nhưng hoàn toàn không có nghĩa là một quần đảo vô chủ mà kẻ nào muốn chiếm cũng được.

Thực dân Anh sau hơn một năm chiếm đảo trái phép đã phải gánh chịu hậu quả đó. Cũng từ bấy giờ, thực dân Anh, Hà Lan, mặc dù ở cách đảo này không xa (Ma-lai-xi-a, Nam Dương) đã không dám bén mảng tới hòn đảo có chủ này nữa. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, chủ quyền các đảo ở Biển Đông như: Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn và các đảo trong vịnh Xiêm La vẫn thuộc về ta. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết năm 1776, có chép: “Họ Nguyễn sai đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Định, hoặc người xã Cảnh Dương (Ròn, Quảng Bình), ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản”(6).

Và Pô-lanh Vi-an, một quan cai trị cấp cao ở Nam Kỳ thời kỳ các Đô đốc trong một công trình khảo cứu của mình giữa thế kỷ XIX về xứ thuộc địa đã xác nhận: “Hòn đảo này (Côn Lôn) ở trước cửa sông Cửu Long, một thế kỷ trước đây đã do người Anh chiếm đóng… Một đồn quân nhỏ của họ lẻ loi, xa bờ một quãng ngắn trên đường của thương thuyền từ Trung Quốc tới Ma-lai-xi-a là mục tiêu tiến công không ngừng của người bản xứ. Các vua An Nam vẫn là người chủ hợp pháp của đảo ấy”(7).

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

1. A.Tômadi. Cuộc chinh phục xứ Đông Dương. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 7.

2. A. Septan. Thời kỳ đầu của xứ Đông Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 30-31.

3. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb Khoa học xã hội. Hn, 1971, tr. 147.

4. Chẳng hạn như Trần Văn Giàu. Chống xâm lăng. Xây dựng phát hành. HN, 1956, tr. 15.

5. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1971, tr.127.

6. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập 1. Nxb khoa học xã hội. HN, 1977, tr. 120.

7. Paulin Vial. Những năm đầu của xứ Nam Kỳ thuộc Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 82.

Mắc Na-ma-ra – một số phận bị “ma làm”

QĐND – Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (McNamara 1916 – 2009) tên đầy đủ là Robert Strange McNamara. Trong tiếng Anh, Strange có nghĩa là “kỳ lạ”, “kỳ quặc”. Các luồng đánh giá trái nghịch nhau về nhân cách của Mắc Na-ma-ra đồng thuận ở một điểm: Ông ta bị ám ảnh (haunted – ma nhập) bởi cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Cái búa đóng cọc nhồi

Tháng 11-1961, một ngày sau khi thắng cử, Tổng thống Ken-nơ-đi (Kennedy) nghe tin Mắc Na-ma-ra đắc cử Chủ tịch hãng Ford, bất chấp truyền thống chỉ người trong gia đình Ford mới giữ cương vị chủ chốt. Một chuyên gia thống kê, trung tá giải ngũ, do “hoàn cảnh” phải bỏ ngang nghiệp giáo sư ở Ha-vớt (Havard) để làm quản trị gia mà đã lập tức chói sáng trong nghiệp kinh doanh. Ken-nơ-đi quyết định vời Mắc Na-ma-ra làm chủ Lầu Năm Góc trong nhiệm kỳ tổng thống của mình.

Mắc Na-ma-ra trong một hội nghị ở Lầu Năm Góc năm 1965. Ảnh: The New York Times

Ken-nơ-đi xem Mắc Na-ma-ra là người thông minh nhất trần đời ông ta từng gặp được[1]. Ông ta đã quân sư cho tổng thống trẻ tuổi chủ động loại trừ những thách thức bên miệng vực một cuộc xung đột hạt nhân với Liên Xô. Người ta ghi nhận rằng, Mắc Na-ma-ra là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên đã lấn át được phe diều hâu trong Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ (HĐTMLQ), trong tiến trình cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba năm 1962.

Tổng thống kế tiếp Giôn-xơn nhận định về Mắc Na-ma-ra: “Anh ta là một cái búa đóng cọc nhồi (jackhamme), không ai có thể đảm đương những gì Mắc Na-ma-ra gánh vác. Anh ta lái quá nhanh”.

Xoay như chong chóng

Lưu trữ Nhà Trắng cho biết theo Giôn-xơn, trong chính phủ Mỹ không ai sánh được với Mắc Na-ma-ra[2]. Ray Clai-nơ (Ray Cline), Phó giám đốc CIA thời kỳ “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nhớ lại rằng, ông ta đã lấy những thông tin còn “sống sít” (raw) của trinh sát điện tử Mỹ (SIGINT) làm căn cứ về một “cuộc tiến công vào tàu Mỹ của Bắc Việt Nam” vào cái đêm 4-8 để báo cáo với Quốc hội Mỹ về cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”. “Đây chính là điều Giôn-xơn đang tìm kiếm”, ông Clai-nơ nhận định.

Lưu trữ của Nhà Trắng cho thấy Mắc Na-ma-ra đã “xoay xở nhanh” như thế nào. Tháng 2 và tháng 3 năm 1964, “thầy trò” Giôn-xơn và Mắc Na-ma-ra còn đang mày mò tìm cách leo thang xung đột thì tháng 8 năm ấy, kịch bản “các cuộc tiến công vô cớ liên tiếp” của Hà Nội đã được soạn thảo bởi Mắc Na-ma-ra đã giúp Tổng thống diều hâu Giôn-xơn giành quyền “tự tung tự tác” ở Việt Nam.

Ngập vào “sương mù” chiến tranh

Một cuộc họp báo vào tháng 2-1966 cho thấy vẻ tự tin đã không còn trên mặt Mắc Na-ma-ra. Ông ta khẳng định: “Không một số lượng bom nào có thể kết thúc được cuộc chiến tranh này”. Chiến dịch Sấm Rền, với 55 nghìn lượt chiếc máy bay và 33 nghìn tấn bom ném xuống miền Bắc năm 1965 (năm 1966 là 148 nghìn lượt chiếc và 128 nghìn tấn), đã không thể chặn dòng chảy của binh lực và vũ khí của đối phương vào miền Nam Việt Nam.

Cùng năm 1966, Mắc Na-ma-ra bận rộn trong việc xây dựng một hàng rào điện tử dọc theo vùng nam khu phi quân sự. Lính Mỹ gọi đó là “Chiến lũy Mắc Na-ma-ra”. Sự trù úm có chủ ý này dường như đã làm cho “chiến lũy Mắc Na-ma-ra” lặp lại số phận của “Chiến lũy Ma-gi-nốt” – phòng tuyến vô dụng mà Pháp đã xây để chắn quân phát xít Đức. Nhưng, trong khi say sưa với những cuộc leo thang chống phá Việt Nam thì nước Mỹ cũng như gia đình Mắc Na-ma-ra đã chia rẽ sâu sắc với những làn sóng chống đối. Con gái của ông ta tham gia cuộc tuần hành của Lút-thơ King (Luther King) suốt một ngày rưỡi trời, không ăn nghỉ. Con trai của ông ta là thành viên phong trào phản chiến tại Trường Đại học Stanford nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ngày 2-11-1965, từ cửa sổ phòng làm việc ở Lầu Năm Góc, Mắc Na-ma-ra chứng kiến Mo-ri-xơn (Norman Morrison) tự thiêu để phản đối chiến tranh[3].

Sự thất bại của Mỹ trên chiến trường hay ảnh hưởng của phong trào phản đối chiến tranh ngay trong gia đình mà ngày 19-5-1967, Mắc Na-ma-ra viết một phúc trình dài “đầy mâu thuẫn”, như chính ông ta tự nhận, gửi Giôn-xơn, thúc giục tổng thống đàm phán. Ông ta cảnh báo các nỗ lực mà Oét-mo-len (Westmoreland) đang tiến hành ở Việt Nam “sẽ dẫn đến một tai họa lớn cho dân tộc (Hoa Kỳ)”. Báo The New York Times (NY) nghĩ rằng đây là giọt kiên nhẫn cuối cùng của Giôn-xơn, người vẫn ngờ rằng Mắc Na-ma-ra đang chơi trò “con ngựa thành Troy” cho Rô-bớt Ken-nơ-đi (em trai cố Tổng thống Ken-nơ-đi) đang chạy đua vào Nhà Trắng năm 1968 với tư cách ứng cử viên hòa bình. Ngày 29-11-1967, Tổng thống Mỹ công bố “thuyên chuyển công tác” cho Mắc Na-ma-ra từ Lầu Năm Góc sang ghế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Một số phận bị “ma làm”

Mắc Na-ma-ra có cố gắng trong thực hiện một “cuộc cách mạng về quản lý” ở Bộ Quốc phòng Mỹ, đã “máy tính hóa” bộ máy chiến tranh này. Nhưng phong thái không chan hòa và cách cư xử ngạo mạn khiến ông ta không có được nhiều người cùng chí hướng, nhất là khi cuộc chiến “rơi vào vũng bùn” (từ của Mắc Na-ma-ra). Trong cuộc tiệc trưa chia tay Bộ trưởng Quốc phòng do Ngoại trưởng Đin Rát-cơ (Dean Rusk) chủ trì, Mắc Na-ma-ra đã khóc, than rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô nghĩa. Nhiều đồng nghiệp của Mắc Na-ma-ra đã kinh hoàng khi nghe cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng buộc tội cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam, mà chính ông ta thủ một trong những vai chính.

Năm 1995, Mắc Na-ma-ra lại thử thách sự trớ trêu của số phận bằng cách xuất hiện với cuốn Hồi ký. Trong đó, Mắc Na-ma-ra đối chọi với cuộc chiến tranh do chính ông ta chỉ đạo, thú nhận rằng cuộc chiến này là “sai lầm, sai lầm khủng khiếp”.

Khi bộ máy chiến tranh Mỹ bắt đầu ậm ạch trong vũng lầy mới ở I-rắc, bộ phim DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra” được công chiếu, đoạt giải Oscar năm 2003.

Nhìn chung, mỗi sản phẩm truyền thông viết về Mắc Na-ma-ra đều lôi cuốn hàng trăm người vào một cuộc thảo luận khá sâu rộng trên trên các diễn đàn.

Luồng ý kiến phản hồi lớn nhất vẫn gồm những chỉ trích nặng nề không thương tiếc. Ở đoạn cuối DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra”, ông ta đã nghẹn ngào nhận định rằng, bất chấp những hối tiếc sâu đậm của mình về cuộc chiến tranh, “nhiều người vẫn nghĩ tôi là đồ chó đẻ” (A lot of people think I’m a son of a bitch).

Luồng ý kiến thứ hai không thật nhiều về số lượng, nhưng khá sâu về suy luận. Họ nghi ngờ đối với sự chân thành trong những dằn vặt hậu chiến của Mắc Na-ma-ra. Cơ sở cho sự bất tín này hẳn là Mắc Na-ma-ra biết ông ta có thể làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại không làm[4]. Trong phim DVD “Sương mù chiến tranh”, ông ta bày tỏ đã muốn làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh, nhưng không chịu nói vì sao lại chọn cách im lặng sau khi rời Lầu Năm Góc.

Có những ý kiến cho rằng các bài học của Mắc Na-ma-ra đã không gây được ảnh hưởng đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Răm-xpheo (Rumsfeld) (triều đại Bút-sơ “con) và các “kiến trúc sư” và “thần đồng” khác của cuộc chiến tranh I-rắc. Sự sâu cay lên tới mức cao độ, với những ý kiến cảnh báo không khéo cũng sẽ “hối hận” viết hồi ký và sẽ diễn tích “Sương mù chiến tranh” I-rắc[5].

Nhưng trùm lên hết thảy vẫn là những ý kiến ghi nhận sự phục thiện và mạnh dạn trực diện với những lỗi lầm khủng khiếp của chính mình của Mắc Na-ma-ra, điều mà các chính khách cùng “cảnh ngộ” đã không làm được.

Cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng L. Ko-bơ nói với Hãng thông tấn Mỹ WGBH rằng Mắc Na-ma-ra đã dũng cảm thú nhận rằng cuộc chiến tranh là sai lầm khủng khiếp, rằng ông chưa thấy chính khách Mỹ nào đủ dũng khí “thú lỗi” và giải thích vì sao đất nước đi sai đường. Nhưng Ko-bơ cho rằng có những điều mà Mắc Na-ma-ra không thể được tha thứ[6].

Cũng có thể dẫn ý kiến của những người dân Mỹ độ lượng đối với nhân vật mà nhiều người dân khác của họ xem là một trong những tội phạm chiến tranh:

“Nhiều người chỉ trích phê phán Mắc Na-ma-ra từ trên đỉnh cao của phẫn nộ. Thật là dễ để nhìn nhận ông ta là hiện thân của Quỷ dữ. Tôi hy vọng rằng linh hồn của ông ta được an tịnh, nhưng điều này là khó tin sau khi xem DVD “Sương mù chiến tranh”. Đây là giọng nói và khuôn mặt của một kẻ nhận thấy mình bị đày xuống địa ngục”.

Lê Thành
qdnd.vn

[1] http://www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html?pagewanted=all

[2] http://whitehousetapes.net/exhibit/former-secretary-defense-robert-mcnamara-dies.

[3] DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mcnamara” (The fog of war: lessons from the life of Robert S. McNamara) NXB Rowman & Littlefield Publishers.

[4] http://www.thefilmbrief.com/2009/07/fog-of-war.html

[5] Phản hồi bài điếu McNamara trên tờ The New York Times, có tới ngót 397 ý kiến phản hồi.

http://community.nytimes.com/comments/www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html

[6] news.bbc.co.uk/2/hi/8136595.stm

Nghịch lý về nhân quyền trong quan hệ cộng đồng quốc tế

Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề nhân quyền ngày càng được quan tâm và có bước tiến bộ. Song, đi liền với đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và nghịch lý mới bắt nguồn từ sự định kiến, áp đặt. Xóa bỏ nghịch lý, thực hiện công bằng và lẽ phải về nhân quyền là trách nhiệm chung đặt ra đối với mọi quốc gia, dân tộc trong quan hệ quốc tế hiện nay.

Không phải đến bây giờ mà từ nhiều năm trước, ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ của nó đã trở thành vấn đề chung, là sự quan tâm của nhà nước ở mọi quốc gia, dân tộc. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã một lần nữa được Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02-9-1945) – nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các tuyên ngôn đó đều khẳng định rõ: quyền con người và sứ mệnh của mỗi nhà nước trong việc thực thi quyền con người đối với mọi công dân nước mình cũng như cộng đồng quốc tế.

Sự tiến bộ về nhân quyền trong quá trình phát triển của văn minh nhân loại, in đậm dấu ấn lịch sử mỗi dân tộc. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhân quyền đối với hầu hết mọi người có chăng chỉ là nhu cầu tối thiểu nhất về sự sinh tồn. Ở đó, tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa tuy chiếm tỷ lệ nhỏ, song lại độc chiếm hầu như toàn bộ quyền sinh, quyền sát đối với toàn xã hội. Các thành phần nô lệ, nông dân và người lao động chiếm số đông, nhưng thường xuyên rơi vào tình cảnh cùng cực, thậm chí phải chịu đòn roi, xiềng xích, bị đem bán đổi, nên quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không bao giờ được bảo đảm.

Theo sự phát triển của lịch sử, người ta hy vọng những nghịch lý nhân quyền trên sẽ được xóa bỏ khi bước sang một chế độ xã hội mới – chế độ TBCN. Sự ra đời của chế độ TBCN đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử nhân loại, bởi nó đã tạo ra được nguồn lực to lớn, bảo đảm cho việc thực thi nhân quyền, mà chưa có chế độ xã hội nào trước đó làm được. Chỉ trong vòng mấy trăm năm ra đời và phát triển, CNTB đã tạo ra một lượng vật chất lớn gấp nhiều lần so với tất cả các chế độ trước cộng lại. Những thành tựu do nó tạo ra, cả về tri thức, khoa học, công nghệ, pháp luật,… bảo đảm cho sự phát triển nói chung, về nhân quyền nói riêng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tế những gì diễn ra kể từ khi CNTB ra đời đến nay cho thấy, không phải cứ nắm giữ nguồn lực bảo đảm cho phát triển thì sự bất bình đẳng về nhân quyền sẽ tự nhiên mất đi. Cũng không phải vì thế mà tình hình nhân quyền trong lòng chế độ TBCN sẽ ngày càng hoàn thiện, trở thành mực thước cho mọi quốc gia khác noi theo, như bộ máy tuyên truyền của họ lâu nay vẫn thường xuyên cổ xúy. Tình trạng đó có nguồn gốc sâu xa từ chính bản chất chế độ kinh tế, chính trị của xã hội tư bản. Ở đó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất đã trở thành lực cản vô hình đối với việc thực thi nhân quyền trên mọi bình diện xã hội. Điều đó sẽ không bao giờ tạo ra cơ hội để những người lao động làm thuê được ngồi chung mâm, hưởng phần đều từ “chiếc bánh” nhân quyền cùng với các đại diện của nền dân chủ tư sản là các trùm tư bản, tài phiệt. Liệu có được sự bình đẳng, dân chủ đầy đủ, thực chất hay không ngay như trong lòng nước Mỹ hiện nay, khi người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng lại chiếm tới 21% tổng thu nhập và 35% tài sản đất nước? Lỗ hổng về nhân quyền đó là nét đặc trưng chung không gì có thể san lấp nổi của hệ thống TBCN. Thực tế trên đã diễn ra đúng như nhận định từ hơn 150 năm trước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: “giai cấp tư sản gọi quyền lợi của mình là nhân quyền… Kỳ thực, nhân quyền của giai cấp tư sản cũng là một đặc quyền, đặc quyền được che đậy bằng nhân quyền – đặc quyền của giai cấp tư sản”1. Bản chất kinh tế, chính trị của nhà nước cầm quyền tư sản không thể xóa bỏ được gốc rễ nghịch lý nhân quyền đã tạo ra ở chế độ xã hội trước đó, mà còn làm nảy sinh những biến thái mới, tinh vi hơn. Song, dù cố tình điều chỉnh, che đậy đến mấy, bức tranh toàn cảnh về nhân quyền dưới chế độ TBCN vẫn bộc lộ những điều bất ổn, những nghịch lý mới. Điều đáng quan tâm là, trong khi kinh tế và các nguồn lực phát triển được tăng cường, thì sự gia tăng về bất bình đẳng xã hội, phân biệt, đối xử; các giá trị nhân bản lại bị coi nhẹ và suy giảm trầm trọng. Cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Chiếm lấy phố Wall” nổ ra vào tháng 9 năm 2011 ở nước Mỹ, lan rộng trên 950 thành phố, thuộc 82 quốc gia đã bày tỏ sự bất bình của đông đảo người lao động, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức trên toàn thế giới trước tình trạng bất công, thiếu dân chủ trong hệ thống TBCN. Đại diện cho những người cùng quan tâm tới vấn đề trên, Tô-ny – một trong số người tổ chức ra chiến dịch đấu tranh đó (ở Anh), đã thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi không thể tin được các nhà chính trị và giới chủ ngân hàng đang thỏa thuận và quyết định tương lai của mình”. Ben-gia-min Dic-to – một luật sư tương lai ở Mỹ, cũng cho rằng: “Chúng tôi phải đấu tranh để mang lại dân chủ cho xã hội và phân phối lại thành quả lao động. CNTB và cái mà họ gọi là nền dân chủ tự do xuất hiện hằng ngày đã đến mức không thể chịu nổi”… Rõ ràng là lòng tin của hầu hết người dân lao động về dân chủ, nhân quyền trong lòng chế độ TBCN đã trở nên suy giảm tới mức khó có thể khôi phục được. Nếu không được Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố, thì nhiều người khó có thể tin rằng, hiện nay cứ 06 người Mỹ lại có 01 người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Trong 50 triệu người thuộc số đó, có tới 17 triệu người nằm trong tình trạng báo động. Qua báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền thế giới, người ta còn được biết việc phân biệt, đối xử với các nhóm tôn giáo; đối xử không công bằng với nhóm phụ nữ, trẻ em, các dân tộc thiểu số ở Anh còn nhiều điều nhức nhối. Cũng tương tự như vậy, tình trạng bắt giữ người kéo dài trước khi xét xử, bạo hành đối với phụ nữ, buôn bán người và ngược đãi người nước ngoài… vẫn diễn ra thường xuyên ở I-ta-li-a… Khó có thể kể hết tình trạng phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, kỳ thị tôn giáo, văn hóa; sự gia tăng về bạo lực, tội phạm… đang diễn ra với mức độ và biểu hiện nghiêm trọng ở hầu hết các nước trong hệ thống TBCN.

Thực tế trên cho thấy, nhân quyền dưới chế độ TBCN, nhất là ở các nước tư bản phát triển không hoàn hảo như họ tự nhận. Mặc dù thế, trong khi chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề nhân quyền trong nước, những nhà cầm quyền tư sản, đứng đầu là Mỹ vẫn ráo riết phán xét, giám sát và áp đặt các tiêu chí về nhân quyền của mình đối với mọi quốc gia. Người ta còn nhớ, Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ đã chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người. Trong khi đó, họ lại quên Tổ chức Ân xá quốc tế đã cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền của chính nước Mỹ khi nêu ra “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Oa-sinh-tơn lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Sự phán xét mang nặng tính chủ quan, định kiến đi liền với những áp đặt võ đoán về nhân quyền, coi nhân quyền như một công cụ để can thiệp vào nội bộ nước khác chính là một nghịch lý mới trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ngày 24-5-2012, Bộ Ngoại giao Mỹ lại công bố “Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2011”; trong đó, phê phán tình hình nhân quyền của nhiều quốc gia trên thế giới… Với tư cách và quyền hạn gì mà Mỹ lại sốt sắng làm việc này đến thế? Đó vẫn là câu hỏi đang được đặt ra với cộng đồng quốc tế. Việc làm này hoàn toàn không phải chuyện nội bộ, vì nó đã được công khai trước toàn thế giới; hơn nữa, đi liền với nó còn có các chế định chính trị, kinh tế, giám sát và khi cần thiết còn có sự hỗ trợ, can thiệp vũ trang. Dẫu cho việc làm đó chẳng khác gì “gọt chân cho vừa giày”, thế nhưng nó vẫn tồn tại và đang còn tiếp diễn. Phần nhiều các phán xét về nhân quyền của Mỹ, khi đưa ra đều không nhận được sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là từ sự tùy tiện, chủ quan áp đặt các tiêu chí nhân quyền riêng của mình để soi xét các nước khác mà bất chấp hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… cụ thể của mỗi quốc gia. Điều khác nữa, việc khai thác và xử lý các thông tin về nhân quyền thường chỉ một chiều, dựa vào ý kiến cá nhân, mang nặng định kiến, chủ quan, hoặc cực đoan, bất mãn, thù địch, chống đối chế độ và nhà nước đương quyền. Nhân quyền rất cần sự khách quan, thiện chí, nhưng khi bị thao túng bởi chủ quan, định kiến, thù nghịch,… nó sẽ bị sai lệch, méo mó. Với thái độ và cách làm nhân quyền như trên, các báo cáo về nhân quyền hằng năm của Mỹ mỗi khi đưa ra đều vấp phải sự phản bác quyết liệt của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, mà lần này cũng không phải là ngoại lệ. Phản ứng với báo cáo nhân quyền thế giới năm 2011 của Mỹ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng: đó là một sự phân biệt, đối xử, coi thường sự thật. Bộ Ngoại giao Cu Ba tuyên bố, bản báo cáo nhân quyền của Mỹ đối với Cu Ba là những thông tin giả dối và vu cáo, chỉ nhằm bào chữa cho chính sách bao vây, cấm vận tàn bạo của Mỹ áp đặt chống Cu Ba từ hơn nửa thế kỷ qua. Cũng với tinh thần đó, nhiều quốc gia khác đều chỉ ra sự chủ quan, sai lệch, dụng ý xấu… từ báo cáo nhân quyền thế giới của Mỹ vừa qua.

Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là một thách thức lớn đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Hiện nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của nó vẫn còn hiện hữu nặng nề trong mọi mặt đời sống xã hội và trong mỗi gia đình Việt Nam. Khoảng thời gian đó đã đánh dấu sự vươn lên mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong sự phát triển đất nước nói chung, sự khắc phục hậu quả chiến tranh và chăm lo phát triển quyền con người nói riêng. Trong khi điều kiện bảo đảm để thực hiện việc làm đó còn vô vàn khó khăn, thiếu đồng bộ, có thể vẫn còn những hạn chế, bất cập, song không thể phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng phát triển, tiến bộ về chăm lo quyền con người ở Việt Nam. Điều này đã được tất cả những ai có thiện chí, yêu chuộng công lý và lẽ phải trong cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nếu nói tiêu chí tổng quát nhất về thực hiện quyền con người trong thế kỷ XXI, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với 08 Mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu thực hiện, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra và là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân.

Những năm gần đây, nhiều nước ở Trung Đông, Đông Âu, châu Phi đã liên tiếp xảy ra những biến động chính trị, xã hội sâu sắc bởi các cuộc chiến tranh, cách mạng thay thế chính quyền sở tại. Trong vòng 12 năm (1999 – 2011), đã có 4 cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành đối với Nam Tư (1999), Áp-ga-ni-xtan (2001), I-rắc (2003) và Li-bia (2011). Hiện nay, họ đang can thiệp vào tình hình Xy-ri, nhằm lật đổ chính quyền sở tại. Cùng với đó là sự bùng phát và lan rộng của các cuộc “cách mạng màu” và phong trào “Mùa xuân Ả-rập” ở một số nước thuộc Liên Xô cũ và châu Phi. Điểm giống nhau là các sự kiện này đều diễn ra dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, với các lý do mơ hồ, giả tạo, có sự can thiệp của Mỹ và phương Tây. Điều trớ trêu là, trong khi chưa đem lại điều gì tốt đẹp hơn cho người dân, thì các sự kiện “nhân quyền” đó đã cướp đi sinh mạng và làm thương tật hàng chục vạn thường dân vô tội; đồng thời, làm cho tình trạng rối ren, bất ổn ở các quốc gia này không ngừng tiếp diễn. Sự can thiệp thô bạo của Mỹ và phương Tây đã là một tác nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đó. Thực tế trên không khỏi để người ta đưa ra điều nghi vấn: phải chăng hiện nay, bạo lực và chiến tranh đã trở thành bạn đường của nhân quyền? Nếu đúng như vậy thì quả là nghịch lý về nhân quyên đã lên tới đỉnh điểm và cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ nhân quyền, trước hết cần phải từ việc giải quyết nghịch lý ấy.

TRỊNH THỊ HOA

Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
tapchiqptd.vn

1 – C.Mác – Ph. Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H.1995, tr.156.