Tag Archive | Chân dung người lính

Bản Lào nơi đầu nguồn sông Mã

QĐND – Từ thành phố Sơn La, ngược hướng Tây Bắc theo Quốc lộ 4G hơn 150 cây số, rẽ vào con đường tuần tra biên giới, đi độ chục cây số nữa là đến xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Nói thì ngắn gọn vậy, nhưng ô tô chạy sấp ngửa cũng gần nửa ngày, vì đây là chặng đường hiểm trở bậc nhất Tây Bắc, nhiều đoạn men theo thượng nguồn “sông Mã gầm lên khúc độc hành” nghe rợn cả người.

Xã Mường Và có 27 bản, chủ yếu là người dân tộc Thái và Lào. Trong đó có 3 bản toàn bộ là người Lào là: Mường Và, Nà Vèn và Nà Khoang. Bản Mường Và đất rộng người đông nhất, nên tên bản được chọn làm tên xã. Từ đây ra đường biên giới Việt -Lào chỉ non chục cây số theo đường chim bay…

Chúng tôi lên thăm bản Mường Và một ngày cuối tháng 6-2012. ô tô bon bon trên con đường bê tông từ thị trấn Sốp Cộp, dọc theo thung lũng Mường Và về trung tâm bản. Hai bên đường hiện lên một khung cảnh thật hữu tình: Bên phải là những ngôi nhà sàn mái ngói dựa vào chân đồi san sát, nhà nào cũng có vườn cây, vạt rau, bể nước… Bên trái là cánh đồng vàng rực đang vào mùa gặt rộ, có cả những cỗ máy tuốt lúa đang nổ máy giòn giã giữa đồng. Thung lũng trải dọc theo con suối Mường Và nên ruộng bậc thang không dốc đứng như ở nhiều nơi. Đồng ruộng này, làng bản này sao thấy thân quen như một vùng trung du quê kiểng…

Một góc bản Lào ở Mường Và. Ảnh: Thiết Sơn

Nghe tôi nhận xét như vậy, Bí thư Đảng ủy xã Vì Văn Chỉnh hào hứng “khoe”: Cảnh sắc ấy của Mường Và mới dần dần hình thành độ chục năm gần đây thôi. Mường Và là bản cổ của người Lào từ hàng trăm năm nay. Ngôi tháp 5 tầng cao 13m trên ngọn đồi giữa bản, theo các nhà khoa học thì được xây dựng từ hơn 700 năm trước. Tháp Mường Và là một công trình kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Lào, được xếp hạng Di tích quốc gia từ năm 1960. Là một bản có truyền thống văn hóa, nhân dân cần cù lao động, nhiều năm qua được cấp trên quan tâm đầu tư, giúp đỡ… nhưng do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan… nên cuộc sống của bà con ở đây vẫn hết sức khó khăn, tỉ lệ đói nghèo cao. Chỉ từ năm 2002, khi Đoàn Kinh tế -Quốc phòng Sông Mã về Sốp Cộp, những dự án xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135 của Chính phủ mới thực sự mang lại những hiệu quả thiết thực…

Đầu tiên là những công trình điện, đường, trường, trạm… Năm 2009, công trình cấp điện Sốp Cộp -Mường Và khánh thành, một nửa số bản của xã -trong đó có 3 bản Lào -có điện quốc gia. Cuối năm 2010, con đường bê tông từ thị trấn huyện lên Mường Và hoàn thành, thay thế con đường cấp phối lồi lõm, sạt lở mỗi năm chỉ chạy xe được vài tháng mùa khô. Rồi các dự án mương phai thủy lợi, đường ống nước sạch, trụ sở UBND, trạm xá, trường học… cũng dần dần hoàn thiện. Đồng tiền “một ba lăm” của Nhà nước không bị thất thoát, làm sai, làm hỏng… nhờ có “bộ đội Sông Mã” tư vấn, hướng dẫn, giám sát… Cả cánh đồng lúa vàng rực kia cũng là nhờ bộ đội làm “mô hình trình diễn” cho bà con làm theo, từ áp dụng kỹ thuật thâm canh đến chọn giống mới… Rồi những ngôi nhà cao ráo xung quanh có vườn cây, vạt rau, ao cá, chuồng trại chăn nuôi sạch sẽ… cũng đều từ những “mô hình trình diễn” của “bộ đội Sông Mã” mà nhân rộng ra… Với những dự án lớn của Chương trình 135, Đoàn Kinh tế -Quốc phòng Sông Mã chỉ đóng vai trò tham gia phối hợp tư vấn, hướng dẫn, tổ chức thực hiện… Nhưng với các “mô hình trình diễn” về chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh môi trường… thì các đội sản xuất tự vay vốn cấp trên để thực hiện, khi có hiệu quả thì hoàn vốn và tiếp tục tái đầu tư để nhân rộng mô hình. Cũng có nhiều trường hợp, như đội sản xuất số 3, anh em tự trích lương cho một hộ vay hàng triệu đồng làm kinh tế gia đình dưới sự hướng dẫn gần như “cầm tay chỉ việc” của đội. Từ thành công của một hộ mà nhân rộng mô hình tự vươn lên xóa đói giảm nghèo cho nhiều hộ khác…

Bản Lào ở Mường Và bây giờ không chỉ cuộc sống vật chất khấm khá hơn trước mà đời sống tinh thần cũng khởi sắc. Mỗi bản có một đội văn nghệ hoạt động rôm rả lắm. Người Lào vốn thích múa hát mà! Con em trong bản năm nào cũng có vài cháu đỗ đại học, cao đẳng, nhiều trường ở tận các thành phố lớn, như: Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Nguyên. Nhiều con em bản Lào đỗ đạt, nay là cán bộ của xã, như: Lò Văn Thoong là Phó chủ tịch UBND xã, Lò Văn Hốt là Chủ tịch Mặt trận, Lò Văn Phanh là Chủ tịch Hội nông dân… Cán bộ của các ngành, đoàn thể trong xã là người Lào thì nhiều lắm!

Vâng, kể về những đổi thay tiến bộ của bản Lào ở bản Mường Và hôm nay thì còn nhiều chuyện lắm. Nhưng ngoài kia bà con đang gặt lúa rất đông vui. Năm nay Mường Và được mùa to, chúng mình ra đó là khắc nghe, khắc thấy, khắc biết mọi chuyện. Thế là chúng tôi hăm hở theo đồng chí Bí thư Đảng ủy xã ra thăm cánh đồng Mường Và đang kỳ gặt rộ…

Trần Ngọc Yến
qdnd.vn

Bài báo và bức thư của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị

Hồi âm bài báo “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ”

QĐND – Những ngày này, ngôi nhà nhỏ bên bến đò Đống Cao (xã Yên Lộc, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) của CCB Bùi Công Chiến tấp nập người vào ra. Bà con, đồng đội tìm đến chúc mừng anh vừa có được niềm vui bất ngờ sau hơn 38 năm chờ đợi: Anh đã được công nhận là thương binh sau 3 tháng kể từ ngày Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần số 845 (11-3-2012) đăng bài về anh…

Việc khó

Bùi Công Chiến nguyên là chiến sĩ Đại đội 5, Binh trạm 41, Sư đoàn 473, Đoàn 559. Khi giữ chốt ở Điểm cao 619 Khe Sanh (Quảng Trị) vào năm 1971, cả tiểu đội hy sinh gần hết nhưng anh cùng 3 đồng chí còn sống vẫn bám chốt đến cùng. Riêng anh dù bị thương vẫn mưu trí, dũng cảm, lao xuống chiến hào bắt sống 12 tên địch. Anh được tặng Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ hạng nhì, được nhà báo Duy Khán, phóng viên chương trình Phát thanh Quân đội nhân dân đến tìm hiểu, viết bài, làm thơ tặng anh. Năm 1974, anh Chiến phục viên về quê thì vết thương cũ trên mặt tái phát, con mắt phải bỗng dưng bị “nổ”. Hòa bình, anh lấy vợ, sinh con, phải ở tạm túp lều cạnh vó bè ven sông, bão lụt làm mất hết giấy tờ, chỉ còn duy nhất mảnh giấy xuất ngũ… Bẵng đi nhiều năm, Ban liên lạc Hội đồng ngũ tháng 8-1970 mới tìm lại được anh, thấy hoàn cảnh anh rất cơ cực, bèn quyên góp dựng giúp anh ngôi nhà nhỏ. Trong số đồng đội cùng nhập ngũ chiến đấu bị thương, chỉ duy nhất còn Chiến chưa được hưởng chế độ gì. Trong số đồng đội của anh, có một người làm ở Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện, nhiều lần được Ban liên lạc Hội đồng ngũ “giao nhiệm vụ” phải lo chuyện làm chế độ chính sách cho anh. Nhưng rồi, người đồng đội ấy cũng đành “bó tay” vì ngoài giấy chứng nhận xuất ngũ, anh Chiến không còn giấy tờ gì khác.

Dũng sĩ Bùi Công Chiến với cuộc sống khá khó khăn, chật vật hiện nay.

Chúng tôi đã về xã Yên Lộc gặp anh và viết bài “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ”. Trước khi đăng Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, tôi nói với anh Chiến cùng đồng đội của anh: “Tôi còn nhớ trường hợp anh Trần Quyết Định trong bút ký nổi tiếng mang tên “Thủ tục làm người còn sống” của nhà văn Minh Chuyên. Bài viết từ năm 1987 mà tròn 20 năm, cơ quan chức năng mới hoàn tất thủ tục để anh được công nhận là thương binh. Trường hợp của anh có lẽ còn khó hơn Trần Quyết Định”…

 “Người thật mà không lo được thì… buồn quỏ!”

Nhưng anh Chiến đã không phải chờ đợi lâu như anh Trần Quyết Định. Báo đề ngày 11-3-2012, nhưng vì là báo cuối tuần nên phát hành từ ngày 7-3 và ngay trong ngày hôm ấy, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã đọc bài báo và viết ngay bức thư gửi Đại tá Trần Văn Minh, Cục trưởng Cục Chính sách, chỉ đạo xử lý vụ việc. Đại tá Trần Văn Minh kể lại: “Hôm đó, tôi đang cùng đoàn công tác làm việc tại Cam Ranh thì bất ngờ nhận được điện thoại của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, hỏi về bài báo. Phải đến ngày hôm sau ở Vùng 4 Hải quân mới có báo, chúng tôi lập tức đọc và triển khai xử lý. ít ngày sau trở về Hà Nội, tôi rất bất ngờ và xúc động khi nhận được bức thư viết tay của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, ghi: “Hà Nội, ngày 7-3-2012. Kính chuyển: Đồng chí Trần Văn Minh, Cục trưởng Cục Chính sách. Đề nghị Cục nghiên cứu số báo Quân đội nhân dân Cuối tuần số 845 (11-3-2012) “Đôi mắt và cảnh đời người dũng sĩ” phản ánh trường hợp cựu chiến binh Bùi Công Chiến. Tổ chức kiểm tra, xác minh, đề xuất với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong thời gian sớm nhất”.

Thực hiện chỉ đạo của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Cục Chính sách đã làm việc với Quân khu 3. Đúng một tuần sau, Cục Chính trị Quân khu 3 đã có Công văn số 1081/CCT-CT ghi nhận nội dung báo nêu là đúng và đề xuất việc giải quyết chế độ chính sách đối với anh Chiến. Tuy nhiên, theo Đại tá Trần Văn Minh, mọi chuyện cũng không dễ dàng vì nếu “chiểu theo” đúng những văn bản hiện hành, trường hợp anh Chiến là “rất khó”. Nghe Đại tá Trần Văn Minh báo cáo, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch lặng đi hồi lâu rồi dặn dò: “Các đồng chí và Quân khu 3 đã xác minh, chuyện anh Chiến bị thương là có thật, được tuyên dương dũng sĩ là có thật. Người thật việc thật, một tấm gương chiến đấu anh dũng nay đời thường khó khăn thế mà không lo được chế độ thương binh cho anh em thì… buồn quá. Tôi giao cho các đồng chí phải làm việc với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tìm mọi cách giúp anh em, đó là trách nhiệm của chúng ta đối với đồng đội!”.

Một thời gian ngắn sau đó, Cục Chính sách đã trao đổi, thống nhất với Cục Người có công (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và nhận được sự đồng tình. Ngày 25-6-2012, Cục Người có công đã có Công văn số 614/CS-HP đồng ý vận dụng xác lập hồ sơ thương binh đối với anh Bùi Công Chiến. Nghe báo cáo lại sự việc, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch rất mừng. Thượng tướng đã chỉ đạo phải làm ngay việc vận dụng xác lập hồ sơ, giải quyết giám định thương tật đối với Bùi Công Chiến, hoàn thành các thủ tục giám định, cấp giấy chứng nhận thương binh trước ngày 27-7-2012, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh -Liệt sĩ. Thượng tướng cũng chỉ đạo nên xây tặng gia đình ông Bùi Công Chiến một ngôi nhà tình nghĩa.

Chiều 20-7, Đại tá Trần Văn Minh báo tin vui cho chúng tôi: “Quân khu 3 đã hoàn tất thủ tục giám định thương tật và ra quyết định công nhận anh Chiến là thương binh, tỷ lệ thương tật 51%, đã chuyển hồ sơ cho địa phương làm chế độ từ tháng 7-2012. Bộ tư lệnh Quân khu 3 cũng đã quyết định tặng anh Chiến một ngôi nhà tình nghĩa trị giá 60 triệu đồng, khởi công vào ngày 22-7”. Nghe tôi gọi điện báo tin, anh Chiến đã bật khóc, chỉ nói được câu: “Các anh cho tôi gửi lời cảm ơn Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, cảm ơn Báo Quân đội nhân dân!”.

Bài và ảnh: Nguyên Minh
qdnd.vn

Sống trong tình cảm của đồng bào, đồng chí

QĐND – Tháng tư năm 2012, trong chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Cảnh từ Cà Mau về xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, ngoài những người ruột thịt còn có một số anh em cùng đơn vị của liệt sĩ, trong đó có vợ chồng chị Nga, anh Phóng. Chuyến ra Bắc lần này, sau khi đưa hài cốt của đồng đội mình về Hưng Yên, vợ chồng chị sẽ ngược lên Bắc Ninh thăm mộ liệt sĩ Nguyễn Công Đãn – Đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 10, Quân khu 9 những năm đánh Mỹ. Anh hy sinh tháng 5-1973 tại Long Mỹ, Cần Thơ. Chị Nga nguyên là văn thư của Trung đoàn 10 và anh Phóng -chồng chị, nguyên là Trợ lý chính trị trung đoàn.

Sau khi dự lễ truy điệu và đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Cảnh ra nghĩa trang, chị Nga cùng chồng về xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Nhờ được báo trước nên khi vợ chồng chị về đến xã Mộ Đạo, mọi người trong gia đình liệt sĩ Đãn ùa ra tay bắt mặt mừng như đón người thân đi công tác xa trở về. Cô em gái và mấy người em dâu của liệt sĩ ôm chầm lấy chị Nga, mắt ngấn lệ. Sau một hồi trò chuyện, anh Kiên – em trai thứ tư của liệt sĩ, giờ là Chủ tịch UBND xã Mộ Đạo, đưa cho chị Nga cuốn sổ nhật ký của anh mình. Anh Kiên nói: “Gia đình em giữ gìn cuốn sổ này rất cẩn thận, coi đó như là báu vật mà anh Đãn để lại”. Cuốn sổ có bìa màu nâu nhạt, bên trong là những trang giấy đã úa vàng. Chị Nga chậm rãi lật từng trang và thực sự xúc động khi thấy ở trang thứ 8 của cuốn nhật ký, lá thư chị viết gửi cho anh Đãn ghi ngày 17-10-1972 được anh chép lại nguyên văn, rất trang trọng. Xin trích một đoạn trong lá thư đó: “Anh em ta quen biết đã lâu nhưng chưa có dịp tâm sự với nhau nhiều. Em chưa hiểu rõ về gia đình của anh. Em học tập ở các anh nhiều lắm. Các anh đã vì miền Nam ruột thịt vào quê hương em chiến đấu, không ngại gian khổ, hy sinh. Các anh luôn lạc quan yêu đời… Còn chuyện… chúng ta sẽ tạm gác lại chờ khi nào nước nhà thống nhất, Nam Bắc sum họp một nhà, không còn cảnh đầu rơi máu chảy, anh em ta sẽ nói chuyện sau. Khi nào lên trung đoàn họp, nhớ ghé thăm em nghe”.

Đọc xong lá thư, chị gục đầu vào vai chồng, kín đáo lấy khăn lau nước mắt. Ra nghĩa trang thắp hương cho người đồng đội, người anh -liệt sỹ Nguyễn Công Đãn, bằng giọng trầm hẳn xuống, chị Nga nói với mọi người: “Ra Bắc lần này đến thắp hương cho anh Đãn và đồng chí, đồng đội, vợ chồng tôi cảm thấy yên lòng. Anh Đãn hy sinh nhưng còn may mắn hơn nhiều liệt sĩ khác vì hài cốt được đưa về quê hương. ở Tây Nam Bộ, tôi biết, nhiều anh quê miền Bắc vào trong đó chiến đấu và hy sinh, nhưng đến nay không biết nằm ở đâu để quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ. Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm rồi, xót xa lắm chứ!”.

Lần đầu tiên trong đời được ra miền Bắc, đến thắp hương cho anh em, đồng đội; trước sự đón tiếp đầm ấm, thân tình của người thân các liệt sĩ, chị Nga rất xúc động. Chị đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình gửi cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Công Đãn. Chị viết:

Cô gái Cà Mau lần đầu tiên ra Bắc

Nhớ lời của chàng trai Kinh Bắc

Quế Võ đây rồi

Mộ Đạo quê anh

Em đứng đây bên dòng sông Đuống

Trên con đê dài hun hút giữa hoàng hôn

Về quê anh, dù anh không còn nữa

Nhưng em ấm lòng với hai tiếng quê hương.

Anh nằm đây giữa làng quê Mộ Đạo

Trong vòng tay của bố mẹ yêu thương

Anh nằm đây giữa làng quê yên ả

Trong tiếng ru hời của mẹ ngày xưa

Hãy yên nghỉ và ngủ ngon anh nhé

Trong nắng chiều có hương lúa đồng quê

Em như nghe thấy khúc dân ca quan họ

Rằng người ơi, người ở đừng về

Bên mộ anh, nghe tim mình thắt lại

Anh nằm đây, em ngồi kế bên anh

Mà âm dương hai nẻo đường ngăn cách

Để em gọi hoài, gọi mãi tên anh

Em cố nén không để dòng lệ chảy

Nuốt vào trong những giọt mặn nồng cay

Vĩnh biệt nhé! Người anh, người đồng chí!

Em về đây, về lại đất phương Nam

Nếu có nhớ em, hãy nhìn về phương ấy.

Nơi cuối trời đất mũi gọi Cà Mau.

30-4-2012

Từ lá thư viết cho anh Đãn cách đây 40 năm đến những dòng cảm xúc viết bên mộ liệt sĩ Đãn đề ngày 30-4-2012, có thể thấy đây là một ví dụ sinh động về tình đồng chí, đồng đội, tình cảm lứa đôi của những cô gái Nam Bộ đối với những chàng trai miền Bắc vào Nam chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Vào những năm tháng đó, hàng triệu người con ưu tú ở miền Bắc đã lên dường vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Và hàng vạn người trong số đó đã vĩnh viễn nằm xuống ở tuổi đôi mươi vì độc lập tự do của dân tộc.

Năm tháng sẽ qua đi, thời gian sẽ xóa đi tất cả, nhưng không ai được phép lãng quên sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ sống mãi trong tình thương yêu, kính trọng, trong tâm tưởng của đồng bào đồng chí. Vì thế họ trở nên bất tử!

Minh Đức
qdnd.vn