Tham luận tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ (1924) (40)

Thưa các đồng chí, tôi xin thông báo với các đồng chí về tình hình giai cấp công nhân ở Đông Dương, một trong những thuộc địa quan trọng nhất của Pháp.

Theo những số liệu thống kê gần đây, ở Đông Dương hiện có 63 xí nghiệp khai mỏ sản xuất 70 vạn tấn than đá, 5 vạn tấn kẽm, 15 vạn tấn chì, 2.500 tấn sắt, 1.500 tấn các kim loại khác, 3.500 cara (1) đá quý và 100 kilôgam vàng.

Còn về những ngành công nghiệp khác thì nên lưu ý rằng ở Đông Dương còn có 140 đồn điền cao su với diện tích chung 3.500 hécta và sản xuất 5.000 tấn. Công nghiệp thực phẩm cũng đáng kể – sản xuất 250 tấn thịt hộp.

100 xí nghiệp tơ lụa sản xuất 100 tấn hàng tơ lụa.

Nếu như kể thêm rằng ở Đông Dương còn có 355 trạm điện báo, 2.100 kilômét đường sắt và 3 cảng lớn mà mỗi nǎm bốc dỡ 7-8 triệu tấn hàng khác nhau thì điều đó sẽ cho một quan niệm chung về những lĩnh vực sản xuất mà vô sản Đông Dương đang bỏ sức lao động vào đó.

ở Đông Dương còn có những xí nghiệp tương đối lớn: nhà máy ximǎng Poóclan (2) có 30.000 công nhân làm thuê, khu mỏ vịnh Hạ

Long có 4.000 công nhân, nhà máy dệt Bắc Kỳ (1) – 3.000 công nhân, đường sắt – 8.000 công nhân.

Ngày làm việc 12-13 tiếng. Trong nông nghiệp ngày làm việc còn dài hơn. Những ngày lễ – và nhiều khi cả những ngày chủ nhật – đều không được đếm xỉa tới. Không có bảo hiểm xã hội cho tuổi già, không có trợ cấp cho lúc bị thương tật hoặc đau ốm. Tiền lương của công nhân không lành nghề không quá 50 phrǎng một tháng, còn của công nhân lành nghề – 250 phrǎng. Công nhân nhiều khi phải ký những giao kèo một phía, bắt buộc họ phải làm việc cho bọn chủ trong một số nǎm nhất định. Theo giao kèo, bọn chủ nhà máy có thể sa thải họ bất kỳ lúc nào, nhưng người công nhân lại không thể bỏ việc trước lúc hết thời hạn như đã quy định trong giao kèo. Trong nông nghiệp, nhiều khi ngay cả thủ tục hình thức đó cũng không được dùng, và cố nông trở thành hầu như nô lệ, như sở hữu riêng của bọn chủ. Đối với những người không phục tùng, có sẵn cả một hệ thống bắt bớ và đánh đập.

Tất nhiên, không thể nói tới tự do bãi công. Một vài cuộc nổi dậy lớn mang tính chất bãi công, không phải là do vận động tuyên truyền gây ra mà là do bị đói, đã bị đàn áp bằng mọi cách tàn ác nhất.

Với sự giúp đỡ hào hiệp của chủ nghĩa đế quốc Pháp, ở Đông Dương thật ra là đã phục hồi chế độ nô lệ. Nô lệ có ba loại: 1) tù khổ sai, mà chính quyền cai trị đã cho bọn chủ các nhà máy sử dụng, sau cả một ngày lao động cho bọn tư bản thì tối đến họ lại trở về các nhà tù có biển đề hứa hươu hứa vượn “tự do, bình đẳng và bác ái”; 2) nông nô, có thể bao gồm tất cả người An Nam từ 18 đến 60 tuổi, hằng nǎm buộc phải đi phu một số ngày nhất định. Vả lại, số lượng những ngày đó chỉ là quy định ước chừng, còn trên thực tế hầu như không có hạn định. Một phần lớn dân cư đã bị huy động vào việc làm đường, đào kênh và không có bất kỳ một thứ công sá nào hết. Số người dân bản xứ chết vì những công việc ấy thật rất lớn; 3) nô lệ, đúng theo nghĩa đầy đủ của từ, họ bị bán và bị mua. Trong việc mua bán này, chính quyền thực dân đã trở thành bọn chủ kinh doanh. Giống như thời chiến tranh, chính quyền thực dân đã tuyển dân bản xứ làm lính – tình nguyện, thì bây giờ chúng lại mộ công nhân – tình nguyện đi các thuộc địa Pháp khác, chủ yếu cho các đảo ở Thái Bình Dương. Những người An Nam này đến đó bị bán cho bọn chủ đồn điền và chủ nhà máy người châu Âu.

Có một bức thư, đã đǎng khắp Đông Dương và đề ngày 17 tháng 3 nǎm 1924, nói về những tai hoạ khủng khiếp do bệnh sốt rét gây ra trong số những người nô lệ đã bị đưa tới đảo Êbrít (1) , bức thư yêu yêu cầu phải chấm dứt cái hệ thống bóc lột vô liêm sỉ đối với tình trạng tǎm tối của người dân bản xứ.

Giai cấp vô sản không thể làm gì để chống lại cái hệ thống bóc lột đó, chưa có một tổ chức công nhân nào cả. Bộ luật thuộc địa do những nhà khai hoá Pháp soạn ra chính là để đàn áp bất kỳ một biểu hiện nào có tính tự chủ của người dân bản xứ nói chung và tầng lớp vô sản nói riêng. Theo bộ luật đó, người An Nam không có quyền xuất bản báo chí bằng tiếng mẹ đẻ, không có tự do hội họp và lập hội, bị tước đoạt cả quyền tự do đi lại từ tỉnh này sang tỉnh khác. Để bảo vệ những luật pháp đó thì có toà án gồm 5-6 quan lại Pháp, chúng xử kín và tuyên án, kể cả án tử hình.

Trước chiến tranh, người An Nam có tổ chức vài hợp tác xã, nhưng chính quyền thực dân đã giải tán chúng, bắt giam những người tổ chức vì nghi là tuyên truyền cách mạng.

Thưa các đồng chí, tình cảnh công nhân An Nam là như thế. Đó là một tình cảnh khủng khiếp, nhưng không phải là không có lối thoát. Tình hình không phải là không có lối thoát, bởi vì với sự giúp đỡ của các tổ chức cách mạng gần gũi với Quốc tế Công hội đỏ,

chúng tôi quyết đập tan lực lượng của chủ nghĩa đế quốc châu Âu áp bức chúng tôi. Nhưng để đạt tới kết quả đó, để thúc đẩy nhanh chóng công cuộc giải phóng của giai cấp vô sản Đông Dương thì cần thiết một điều là các đồng chí chúng ta trong các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi. (Vỗ tay vang dội).

In trong sách: Đại hội lần thứ III

Quốc tế Công hội đỏ – Báo cáo, bản tốc ký, tiếng Nga, Mátxcơva, 1924, tr.297-299.
cpv.org.vn

——————————

(40) Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được thành lập ngày 3-7-1921, tồn tại đến cuối năm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công hội đỏ đấu tranh để thiết lập sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết.

Tại phiên họp 15, ngày 21-7-1924, Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ, với tư cách là đại biểu Đông Dương, Nguyễn ái Quốc đã đọc tham luận. Tr.290.

Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra. Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan. Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, nhất là Đường Kách mệnh (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2-1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh. Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác – Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản. Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác – Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465). Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465). Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp. Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hoá tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hoá nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hoá cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298). Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28). Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp. Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” (Sđd, t.1, tr.416). “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Sđd, t.9, tr.314).

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam : Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp”, do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hoá, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hoá cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái. Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội. Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa.

GS.TS Tô Huy Rứa
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng,
Trưởng ban Tuyên giáo TW, Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW
xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam những ngày đầu cách mạng

Văn hóa luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Kế tục sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và Chính phủ phát động toàn dân xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật buổi làm việc của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc Bộ đã được đăng trên Tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/1945, trang 4-5.

Tri Tân là tạp chí có khuynh hướng dân tộc, yêu nước chuyên về khảo cứu, số 1 ra ngày 3/6/1941, trụ sở 349 Phố Huế – Hà Nội, do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm. Đều đặn ra hằng tuần, Tri Tân đã thu hút được đông đảo các cây bút có uy tín thời đó như Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (sau là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên Hoàng Minh Giám (nhà văn, tác giả Bóng nước Hồ Gươm), Biệt Lam Trần Huy Bá, Đặng Thai Mai (nguyên Viện trưởng Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996), Vệ Thạch Đào Duy Anh (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), Kiều Thanh Quế… đến các cây bút trẻ mới xuất hiện nhưng sớm gây được tiếng vang như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…

5h chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa (hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của Bộ Ngoại giao cho biết rằng Cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

Biết tiếng Cụ đã lâu, lần đầu được gặp Cụ trong bộ y phục quá giản dị, chúng tôi không giấu nổi sự cảm động. Nét mặt gân guốc, đôi mắt quắc thước, điệu bộ hồn nhiên bộc lộ một tinh thần tranh đấu cương quyết và một tâm hồn nhân đạo, chân thành.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giáo sư Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại thoái vị), ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) – Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Sau mấy lời giới thiệu của anh Nguyễn Hữu Đang, anh Trương Tửu nhân danh Chủ tịch Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Việt Nam, chào mừng Cụ Hồ, tán thành cuộc cách mạng dân chủ vừa đắc thắng và đặt lòng tín nhiệm vào tài năng sáng suốt của Cụ trong công việc lãnh đạo dân tộc đường giải phóng.

Lời nói thủng thẳng và rành rọt, Cụ Hồ cảm ơn anh em trong giới văn hóa:

– Theo ý riêng của tôi, lời Cụ Hồ nói, trong sự giải phóng dân tộc và kiến thiết một nước Việt Nam mới, nhiệm vụ của các ngài trong giới văn hóa cũng rất là nặng nề quan trọng. Dân tộc chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới tất nhiên phải có một chính thể mới và một văn hóa mới. Khi chúng ta còn bị nô lệ thì văn hóa của chúng ta cũng mang nặng những dấu tích nô lệ. Bây giờ độc lập, văn hóa cũng phải có những dấu tích độc lập. Phải độc lập trước đã rồi văn hóa mới phát triển được. Dân tộc còn bị áp chế, hàng triệu đồng bào chúng ta vẫn còn chết đói đầy đường thì các ngài có thể ngồi trong tháp ngà mà sáng tác được không? Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn cho đất nước một văn hóa mới và phải làm thế nào cho văn hóa Việt Nam sẽ chiếm được một địa vị trong nền văn hóa thế giới.

– Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân. Tuy vậy dù cường quyền áp bức đến bực nào, anh em chúng tôi cũng vẫn cố gắng vươn đến một ánh sáng, vươn đến độc lập và tự do. Ngày nay sự giải phóng của dân tộc đã thực hiện một phần rất lớn. Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển của văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng tức là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng:

– Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày một vài ý kiến:

– Thưa Cụ, lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay thì các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ để thi thố tài năng của mình. Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật. Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

Mắt Cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một tờ giấy để trước mặt Cụ (chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán), Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

– Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả những anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam. Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.

Cụ dừng lại giơ tay phải lên như muốn xua đuổi một điều ngộ nhận của nhiều người đối với Chính phủ, và nói tiếp:

– Đấy ngài xem… Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có. Đây là một Chính phủ Liên hiệp quốc gia, không có màu sắc quốc gia nào lấn át cả. Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự được quốc gia, toàn quốc. Trong lúc chung quanh mình bao nhiêu người đói khát, mình có thừa thóc gạo, phải đem mà giúp ích cho đồng bào. Nếu có thể mà lúc này không đem tài năng ra phụng sự quốc dân thì không những quốc dân có quyền chê trách mà ngay đến chính anh có tài đó cũng phải chê trách. Chừng như có một ý kiến gì mạnh mẽ mới nảy ra trong óc Cụ, mắt Cụ bỗng trở nên hân hoan và nghiêm trọng. Đôi mắt Cụ như lắng sâu vào trào lưu tiến hóa của lịch sử. Và Cụ hỏi:

– Thật chưa bao giờ dân nước chúng ta có một sự đoàn kết rộng đến thế. Bổn phận chúng ta ngày nay – bổn phận của các ngài là làm sao cho sự đoàn kết rộng ra, càng ngày càng sâu xuống, phải củng cố sự đoàn kết ấy cho nó bắt rễ xuống, cho nó bền chặt mãi.

Cụ dừng lại, cảm động, gian phòng im lặng.

Sợ mất thêm nhiều thì giờ của Cụ, anh Trương Tửu liền tường trình đại cương công việc của đoàn văn hóa Bắc Bộ Việt Nam đang tiến hành:

1. Tổ chức cuộc trưng bày văn hóa.

2. Dự thảo một chương trình của tuần lễ văn hóa.

3. Vận động đại hội nghị toàn quốc văn hóa.

Nghe nói tiếng “toàn quốc”, Cụ Hồ gật đầu:

Đại hội nghị toàn quốc văn hóa… phải, phải làm thế mới được. Từ trước đến giờ, chính sách thực dân Pháp đã chia rẽ chúng ta nhiều lắm rồi. Tôi mong rằng các ngài cố gắng làm được như thế, tổ chức mau chóng cuộc đại hội nghị văn hóa toàn quốc, gây được mối liên lạc mật thiết của quốc dân và văn hóa. Chính phủ sẽ giúp đỡ các ngài những phương tiện để thực hành công việc đó.

Công việc đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cửa phòng bước vào, rút đồng hồ ở túi ra ghé tai Cụ Hồ báo cáo việc gì đó… Chúng tôi đoán rằng Cụ sắp phải tiếp đoàn đại biểu của giới khác, vội đứng dậy. Anh Trương Tửu thay mặt anh em trong đoàn văn hóa cảm ơn Cụ một lần nữa. Cụ cũng đứng dậy, nhờ chúng tôi chuyển lời chào của Cụ đến tất cả anh em trong đoàn văn hóa, và ngỏ ý mong anh em đoàn kết chặt chẽ với quốc dân để cùng tranh đấu cho sự giải phóng dân tộc.

Sau khi bắt tay Cụ Hồ Chủ tịch, chúng tôi lui về, trong lòng chan chứa cảm tình thành thực và tín nhiệm đối với Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Đến ngày 24/11/1946, Đại hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội với sự góp mặt của các đại biểu từ Bắc chí Nam. Đại hội dự kiến họp trong 7 ngày nhưng vì thực dân Pháp ngày càng lộ bộ mặt gây hấn, ngày kháng chiến toàn quốc đã gần kíp, Đại hội chỉ họp trong 1 ngày. Báo Cứu quốc thời đó đưa tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu ý kiến trong vòng 40 phút. Nhưng hiện nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bài phát biểu đó của Người

Kiều Mai Sơn
cand.com.vn

Bác Hồ, tấm gương sáng về đạo đức báo chí

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa, là nhà báo lỗi lạc. Với sự thành lập Báo Thanh niên, cơ quan của Hội Việt Nam cách mạng đồng chí, số đầu ra ngày 21-6-1925, Người đã khai sinh nền Báo chí Cách mạng Việt Nam. Từ năm 1985, theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 21-6 được coi là Ngày Báo chí Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập nền Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ là nhà báo lớn, là tấm gương sáng về đạo đức báo chí, là nhà báo với ý nghĩa cao cả, chân chính, tốt đẹp nhất của hai từ ấy.

Tư duy, phong cách, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh là một kho tàng quý báu Người để lại cho các thế hệ người làm báo ngày nay và mai sau.

Tư duy báo chí Hồ Chí Minh cụ thể hóa tư tưởng của Người về văn hóa: “Văn hóa là một mặt cơ bản của xã hội”, “Văn hóa là một mặt trận”, “(Nền) văn hóa mới kết hợp hài hòa, đúng đắn truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế”… Báo chí vừa là một bộ phận cấu thành văn hóa vừa là phương tiện xây dựng, truyền bá và thực thi văn hóa. Báo chí là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng, là vũ khí cách mạng. Bác Hồ nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Nhiều lần, Người nhấn mạnh ý tưởng này: “Cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới…”, “Ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà…” (1).

Bác Hồ sớm nhận ra vai trò và tác động to lớn của báo chí trong đấu tranh xã hội. Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, tiếp cận tác phẩm của Lênin, Người tâm đắc câu nói vị lãnh tụ lỗi lạc phát biểu từ đầu thế kỷ XX, khá lâu trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công: “Cái mà chúng ta nhất thiết phải có lúc này là một tờ báo chính trị. Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị… Không có tờ báo thì không thể tiến hành hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động có nguyên tắc và toàn diện…” (2).

Chỉ 4 năm sau ngày đặt chân lên đất Pháp, được sự ủng hộ của các chí sĩ Việt Nam tại Pháp và sự hợp tác của một số bạn bè quốc tế, Người xuất bản Báo Le Paria (Người cùng khổ). Người là cây bút chính, sắc sảo nhất của tờ báo ấy. Jean Lacouture, một trong số những nhà văn, nhà sử học nổi tiếng Pháp, nhận định: “Sự đóng góp của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria rất to lớn. Ngày nay đọc lại các bài báo của ông vẫn thấy vô cùng hứng thú… Văn phong của Nguyễn là văn phong của một nhà luận chiến tài ba” (3). Song song với việc chủ trương tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị xuất bản tờ báo bằng tiếng Việt, Việt Nam hồn dành cho kiều bào.

Người cộng tác với nhiều tờ báo có thanh thế nhất tại Pháp thời bấy giờ: Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Người bình dân… Sang Nga, Người viết báo tiếng Nga. Về Trung Quốc, Người cộng tác với tờ Cứu vong nhật báo cùng một vài tờ báo tiếng Anh. Tại đấy, Người sáng lập tờ báo tiếng Việt Thanh niên, mà sự cống hiến vô giá của nó là chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1943, trở về Tổ quốc sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Việt Nam độc lập, nhằm mục đích: “Kêu gọi nhân dân trẻ với già/ Đoàn kết một lòng như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người quyết định lập Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam…

Hồ Chí Minh là nhà báo uyên thâm, đa dạng, sắc bén và tài hoa với hàng loạt tác phẩm đúng đắn về nội dung, hùng hồn về lý luận, mẫu mực về ngôn ngữ, có sức đi sâu vào quần chúng, thức tỉnh lòng người, khiến quân thù khiếp sợ. Bác Hồ không viết sách dạy lý luận báo chí, song những phát biểu của Người là một hệ thống quan điểm mang tính kinh điển về báo chí cách mạng.

Tư duy của Bác Hồ về vai trò của báo chí trùng hợp ý kiến các nhà tư tưởng lớn, những người sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin: Các Mác, F. Ăngghen, V.I. Lênin. Trong nhiều trường hợp Hồ Chí Minh gọi báo chí là “vũ khí sắc bén của cách mạng”. Chức năng, nhiệm vụ của báo chí, theo Bác Hồ, là “tuyên truyền, huấn luyện, giáo dục, tổ chức dân chúng…” bằng phương tiện thông tin và các thủ pháp nghề nghiệp khác. Tôn chỉ, mục đích của báo chí Việt Nam không gì ngoài phục vụ “kháng chiến và kiến quốc, đoàn kết toàn dân, thi đua yêu nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, bảo vệ hòa bình thế giới…”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, báo chí phải ra sức “đấu tranh cho tự do, chân lý, cho tương lai tươi sáng của loài người…”.

Trong tư duy của Người, đối tượng của báo chí không chỉ dành riêng cho một số tầng lớp nào đó, mà nhất thiết báo chí phải hướng về “đại đa số dân chúng”, phải dành cho đông đảo nhân dân. Tính chất báo chí, theo Bác Hồ, trước hết là “tính quần chúng và tinh thần chiến đấu…”. Ngay từ thời ngày nay chúng ta hay gọi là “bao cấp”, báo chí hầu như được Đảng và Nhà nước chăm lo cho hầu hết, nếu không phải là toàn bộ, nhu cầu về tài chính, Người đã dạy: “Báo chí cũng là một ngành kinh tế”. Báo chí không chỉ có trách nhiệm phục vụ các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, mà báo chí cần phải lo cả hoạt động kinh tế của chính mình.

Về quan điểm báo chí, Hồ Chí Minh rất coi trọng “tự do tư tưởng”. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý…”. Nhưng tự do gắn với trách nhiệm, tự do với tinh thần phục thiện: “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”.

Nói về phong cách báo chí, Bác Hồ mong muốn báo chí ta phải luôn luôn “gần gũi quần chúng”. Nhà báo suốt đời tâm niệm: “Vì ai mình viết? Viết cho ai, viết để làm gì?”. Văn phong báo chí phải “giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, hoạt bát…”. Yêu cầu ấy tuyệt nhiên không bao hàm ý thông tục. Bác Hồ căn dặn các nhà báo cố gắng “viết cho văn chương, cho người đọc thấy hay, thấy văn chương mới thích đọc…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo (năm 1960). Ảnh: Tư liệu

Báo chí bất kỳ trường hợp nào cũng là diễn đàn của nhân dân. Sản phẩm báo chí mang dấu ấn cá nhân, song tờ báo lúc nào cũng là công lao của một tập thể. Tính tập thể của nghề báo trong tư duy Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trước hết và chủ yếu ở nội dung mà còn ở lối làm việc: “Người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… ăn khớp với nhau…”. Đi đôi với đề cao tính tập thể, Người khuyến khích tài năng cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ những người làm báo và tổ chức chính trị, nghề nghiệp của họ: Hội Nhà báo Việt Nam. Người khẳng định: “Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”. Người nhấn mạnh vai trò “chiến sĩ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Đạo đức báo chí trước hết thể hiện ở những mặt ấy. Người hết sức coi trọng trau dồi đạo đức, hễ có dịp gặp các nhà báo là Người đề cập vấn đề này.

Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức báo chí. Khi cầm bút, Người không hề quan tâm đến tên tuổi và lợi ích riêng, Người viết không phải để “lưu danh thiên cổ”. Suốt đời, Người chỉ hướng về cái đích thiêng liêng là mang trí tuệ và ngòi bút của mình phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Để đạt đến đỉnh cao trong sáng ấy, để trở thành một nhà báo lớn, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh kiên trì học tập, khổ luyện suốt đời. Khi mới đặt chân đến Pháp, do nhu cầu đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước, nhận thấy sự cần thiết trở thành một người viết báo tiếng Pháp giỏi, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sự nghiệp bằng những mẩu tin ngắn, “mỗi tin chỉ có năm ba dòng”. Mỗi lần tin hoặc bài được đăng, Người so sánh bản thảo với bản in trên báo, để học tập xem các nhà báo đàn anh đã biên tập, sữa chữa ở những điểm nào. Nhờ thế chỉ vài, ba năm sau, cụ thể từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã là tác giả nhiều bài chính luận, tiểu phẩm, điều tra… có giá trị cao cả về nội dung và văn chương, làm kinh ngạc giới trí thức Pháp. Mặc dù Bác Hồ coi mình chỉ là “người có duyên nợ với báo chí”, cả cuộc đời của Người, từ những ngày phải trốn tránh kẻ thù cho đến khi đảm đương nhiều trọng trách quốc gia, thời giờ hết sức eo hẹp, Người vẫn không rời cây bút. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của báo chí đối với cuộc đấu tranh cách mạng và đời sống xã hội.

Các thế hệ những người làm báo Việt Nam đời đời hướng về học tập Người, với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc.

(1) Tất cả những câu trong ngoặc kép đều trích dẫn từ Hồ Chí Minh toàn tập.
(2) Trích từ cuốn Làm gì? của Lênin.
(3) Trích từ cuốn Hồ Chí Minh, tác giả Jean Lacouture, Paris 1967.

Phan Quang

hanoimoi.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)
Tuổi trẻ Online

Có đức mới vực được nghề

Làm nghề nào muốn tốt thì cũng phải tinh thông mọi ngón chuyên môn. Làm người chiến sĩ công an nhân dân nếu muốn hoàn thành thật tốt chức phận của mình thì không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn phải thấm nhuần những tiêu chí đạo đức cách mạng, trong đó có những phẩm chất cá nhân đặc biệt quan trọng rất cần được thường xuyên tự rèn luyện như những đức tính cần, kiệm, liêm, chính. Đây cũng là một trong những điều mà Bác Hồ từng nhấn mạnh khi viết hoặc nói với lực lượng Công an nhân dân.

Đầu năm 1948, đồng chí Hoàng Mai, lúc đó là Giám đốc Sở Công an Khu XII, đã gửi biếu Bác Hồ số Tết Báo Bạn dân (Nội san của Công an Khu XII). Đọc xong số báo này, tháng 3 năm 1948, Bác Hồ đã gửi thư cho đồng chí Hoàng Mai và căn dặn: “Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”. Theo Bác, tư cách người công an cách mạng là phải đáp ứng được đủ những yêu cầu sau:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”

Bác Hồ đã luôn luôn nhấn mạnh tới việc “tu thân” của người chiến sĩ công an nói riêng và của cán bộ cách mạng nói chung, sao cho thực sự thấm nhuần tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính. Trong loạt bài viết in trên Báo Cứu Quốc năm 1949, Bác Hồ đã nhắc nhở:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người

Khi dạy về bốn đức tính trên, Bác Hồ đã rất lưu ý tới sự liêm khiết của mọi người nói chung và của đội ngũ cán bộ cách mạng nói riêng. Và Bác đã nhắc lại lời của Khổng Tử: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Nói chung, trong tinh hoa văn hóa phương Đông, chữ Liêm luôn là một khái niệm được coi trọng.

Quân tử là phải biết làm tròn phận sự và “tri túc” (biết đủ), không tham những gì không phải của mình. Xưa nay, tri nhân (biết người), tri kỷ (biết mình) đã là quý rồi. Nhưng tri túc (biết đủ) lại càng quý hơn nữa. Không biết đủ thì sẽ không biết dừng lại trên hoạn lộ và những tham vọng thành đạt cũng như làm giàu, những tham vọng nếu ở mức độ hữu lý không bao giờ là xấu cả.

Cổ Ngạn có viết: “Người quân tử cũng mến của cải chứ không phải là không, tuy nhiên có hợp đạo lý thì mới lấy, người quân tử thường mưu cầu ở đạo, chứ không mấy lo nghĩ tới cái sự giàu nghèo, người quân tử có lo chăng là lo đến đạo, chứ không hề lo đến việc ăn uống”.

Còn Lão Tử thì nói: “Không họa nào lớn bằng không tự biết đủ. Không hại nào to bằng sự muốn chiếm hữu. Bởi đó, biết đủ trong cái đủ thì luôn luôn được đủ”. Cũng trong Cổ Ngạn còn có câu: “Biết đủ, coi là đủ, đợi đủ bao giờ mới đủ. Biết nhàn, coi là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn”. Đó là giữ chữ Liêm theo cách hiểu của người xưa.

18co duc moi vuc duoc ngheBác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sỹ
Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Quý Mão (1963)

Đến Bác Hồ, Người đã lý giải chữ Liêm trên một bình diện rộng hơn và dân chủ hơn. Bài báo “Thế nào là Liêm” đã được Bác cho đăng trên tờ Báo Cứu Quốc số ra ngày 1/6/1949 với bút danh Lê Quyết Thắng. Vẫn phong cách giản dị nhưng sâu sắc, Bác giải thích:

“Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp. Cũng như ngày xưa Trung là trung với vua, Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là nước Dân chủ cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm thì mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm…”.

Hơn ai hết, Bác hiểu những người cán bộ của chế độ mới, những công bộc kiểu mới của nhân dân trong chính thể Dân chủ cộng hòa, chống lại thói bất liêm là một nhiệm vụ không hẳn đã dễ dàng. Bác nói thẳng thắn: “Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư” chính là bất liêm. Bất liêm chính là nguyên nhân của mọi hiện tượng tham ô, lãng phí, làm mất uy tín và sức mạnh của bộ máy chính quyền:

“Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp dục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”.

Vị trí càng nổi bật thì càng phải đáp ứng những yêu cầu cao về giữ gìn tư cách đạo đức nói chung và về chữ Liêm Chính nói riêng. “Phải lo thì lo trước thiên hạ; hưởng thì hưởng sau thiên hạ” (trích từ bài “Đạo đức cách mạng”, 6/6/1955).

Cũng trong bài báo vừa nêu, công bố với bút danh C.B, Bác Hồ từ rất sớm đã cảnh báo hiện tượng tiêu cực: “Nhưng chúng ta cũng phải nhận ra rằng: Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó họ mắc phải những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”.

Bác Hồ đã hiểu quá rõ rằng, trên thế giới đã có không chỉ một cuộc cách mạng bị hỏng vì đã không xây dựng được một đội ngũ cán bộ cầm quyền với những phẩm chất đạo đức mới, thực sự liêm chính mà chỉ thay đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại này bằng một đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại khác.

Không ngẫu nhiên mà theo hồi ức của các bậc lão thành cách mạng, trong thời kỳ cách mạng mới giành được chính quyền, Bác Hồ đã xử lý rất nghiêm khắc những trường hợp cán bộ, kể cả cấp cao, vi phạm những tiêu chí liêm chính của người cách mạng. Bác muốn phòng ngừa những diễn biến “đạn bọc đường” đối với một chính Đảng cầm quyền.

Cho đến những bài viết cuối cùng trên cõi thế, Bác Hồ vẫn trước sau như một nhấn mạnh tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Người chiến sĩ công an muốn giữ chữ Liêm thì phải như thế nào? Cũng theo những lời dạy của Bác Hồ, trước hết và hơn hết là phải chống lại chủ nghĩa cá nhân. Trong bài nói tại Trường Công an Trung ương ngày 28/1/1959, Bác thêm một lần lý giải: “Thế nào là chủ nghĩa cá nhân? Là so bì đãi ngộ: Lương thấp cao, quần áo đẹp xấu; là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn”.

Bác đã thấy trước tất cả những hệ lụy mà chủ nghĩa cá nhân có thể làm nảy nòi, làm ảnh hưởng xấu tới chữ Liêm của người chiến sĩ công an: “Chủ nghĩa cá nhân như vi trùng đẻ ra nhiều bệnh khác: Sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa; vui thì làm, không vui thì không làm, thích thì làm, không thích không làm…”.

Cũng trong bài viết trên Báo Cứu Quốc, Bác Hồ đã dạy rằng, để người cán bộ nói chung và người chiến sĩ công an nói riêng có thể liên tục giữ gìn được chữ Liêm, ngoài sự tu dưỡng bản thân của họ, còn cần tới sự giúp đỡ, kiểm tra của nhân dân. Bác viết:

“Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không Liêm cũng phải hóa ra liêm.

Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm.

Pháp luật cũng phải thẳng thay trừng trị những kẻ bất Liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì…”.

Đọc lại những dòng Bác Hồ đã viết nhiều năm về trước, hôm nay, chúng ta vẫn cảm thấy như mọi điều vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Để giữ chữ Liêm cho mình, không có gì tốt hơn là chúng ta sống, học tập, làm việc và chiến đấu theo đúng tinh thần những điều Bác Hồ đã dạy.

Chính Nhân
cand.com.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tìm kiếm và trọng dụng nhân tài khoa học

Một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đề cao vai trò của nhân tài, tích cực tìm kiếm và trọng dụng nhân tài là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử chứng tỏ ông cha sớm định hình một tư tưởng có ý nghĩa chiến lược: Hiền tài là nguyên khí quốc gia và rất đề cao vai trò của nhân tài trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Năm 1484 và năm 1487, Thân Nhân Trung thừa lệnh nhà vua thảo bài văn bia, trong đó nêu rõ quan điểm cơ bản của nhà nước về hiền tài: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước càng mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp nguyên khí”[1].

Những thế kỷ sau đó truyền thống trên được tiếp tục giữ gìn và phát triển. Người anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ, thế kỷ XVIII cũng có “chiếu cầu hiền”. Ông viết: “Trẫm thường mong mỏi, lắng nghe và liên tục hỏi những người tài cao, học rộng sao chưa thấy đến? Phải chăng trẫm kém tài, ít đức chẳng đáng phò tá hay sao? Trẫm luôn lo lắng và nghĩ rằng cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi, sự nghiệp dân an quốc thái sức một người sao có thể đảm đương”[2]. Đặc biệt những lời Nguyễn Huệ nói với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp rất đáng để đời sau suy nghĩ: “Quả đức sinh ra ở chốn binh đao, sự học hỏi chỉ ở sự nghe trông, nên trong đạo trị dân đã có nhiều điều thô lậu, phiền nhiễu, đó là cái tội bởi Quả đức chưa biết cầu hiền. Mong Phu tử nghĩ đến dân sinh, gắng sức giúp đời, cứu nước, để Quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy, khỏi phụ ý trời sinh ra người tài giỏi cho dân. Quả đức xin nghe theo lời dạy bảo”.

Dân nhân văn hoá Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển truyền thống trên đây của cha ông lên một tầm cao mới. Điều này thể hiện đặc biệt rõ từ khi Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, 1945.

Lịch sử cho thấy đến ngày 1-3-1428 bóng dáng cuối cùng của quân xâm lược nhà Minh bị quét khỏi nước ta. Hơn một năm sau, 1429 Lê Lợi mới lệnh cho quan các nơi phải tiến cử người tài đức. Hồ Chí Minh đề xuất chủ trương tìm kiếm nhân tài sớm hơn rất nhiều. Hơn hai tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày 14-11-1925, Hồ Chí Minh viết bài “Nhân tài và kiến quốc”. Tư tưởng nổi bật của bài viết là “kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Điều đặc biệt là một năm sau đó, 11-1946, Hồ Chí Minh lại viết “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh khẳng định trong số 20 triệu người Việt Nam “chắc không thiếu người có tài, có đức” nhưng vì Chính phủ “nghe không đến, thấy không khắp” nên những người tài đức chưa xuất hiện. Trên tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[3]. Để sửa chữa khuyết điểm, tỏ rõ quyết tâm của chính quyền cách mạng trọng dụng nhân tài, Hồ Chí Minh chỉ thị cho các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức và phải báo cáo đầy đủ, rõ ràng lên chính phủ tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, chỗ ở, nguyện vọng của người đó.

Có thể coi những văn kiện nêu trên là “chiếu cầu hiền, tài” đầu tiên của chính quyền cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng con người, nhất là những người tài không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật – nghệ thuật của người lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hoá ra tài nhỏ”[4].

Phát hiện nhân tài đã khó nhưng việc khó hơn là làm thế nào để đức tài của họ được phát huy cao nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sự quan tâm sâu sắc và trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh là động lực mạnh mẽ thôi thúc nhân tài cống hiến hết minh.

Một trong những minh chứng tiêu biểu cho vấn đề này là sự quan tâm sâu sắc, có thể nói đến mức tỷ mỉ của Hồ Chí Minh đối với Tôn Thất Tùng. Ngay sau Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tôn Thất Tùng. Bước ngoặt căn bản trong cuộc đời Tôn Thất Tùng xảy ra khi tổ chức bố trí ông “đến chữa bệnh cho một lão đồng chí”, người gầy xanh xao nhưng “có đôi mắt sáng”. Sau này, trong hồi ký của mình, Giáo sư Tôn Thất Tùng viết: “Từ cuộc gặp đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam, theo ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới cuộc sống của các chuyên gia, nhân tài. Đầu năm 1946, khi biết Tôn Thất Tùng mới sinh con trai, Hồ Chí Minh đề nghị với Tôn Thất Tùng: Chú để tôi đặt tên cho cháu. Người nói: Tên chú có bộ mộc nên đặt tên cho cháu là Bách. Điều kỳ lạ là đến năm 1968, Hồ Chí Minh vẫn hỏi thăm Tôn Thất Tùng về Tôn Thất Bách mà hơn 20 năm trước Người đã đặt tên.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc tạo điều kiện trang cấp thiết bị hiện đại cho các nhân tài hoạt động khoa học. Một lần Tôn Thất Tùng trực tiếp gặp Hồ Chí Minh đề đạt nguyện vọng cần vài trăm nghìn Phrăng Pháp để mua tài liệu và thiết bị mới. Hồ Chí Minh hỏi sao không nhờ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ. Sau khi được biết những thiết bị đó các nước xã hội chủ nghĩa chưa có, Hồ Chí Minh nói: Nước ta còn nghèo nhưng việc cứu sống con người là quan trọng, không thể dè xẻn. Sau đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng đáp ứng yêu cầu của chuyên gia hàng đầu ngành y tế Việt Nam[5]. Chính sự quan tâm, chăm sóc đó của Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng nhất để không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả thế giới biết đến Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sự quan tâm đó quả thực có tác dụng lâu dài, sâu sắc. Bởi vì, không chỉ có Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng mà cả người con trai của ông, Phó Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Bách đã trọn đời đi theo “ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Nỗi tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí, đồng nghiệp và người bệnh trước sự ra đi của hai cha con ông đã nói lên điều đó.

Trong việc tìm kiếm và trọng dụng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh không chỉ chú ý đến nhân tài ở trong nước mà còn rất quan tâm tìm kiếm những cán bộ khoa học kỹ thuật là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mời gọi, khuyến khích họ mang đức, mang tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Từ những năm 40. 50 thế kỷ XX những nhân tài Việt kiều sống tại Pháp, nơi cuộc sống vật chất và điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuận lợi hơn Việt Nam rất nhiều nhưng khâm phục đức độ, tài năng của Hồ Chí Minh và theo tiếng gọi của Tổ quốc nhiều người đã từ bỏ Pari hoa lệ phồn vinh theo Hồ Chí Minh lội suối, trèo đèo lên Việt Bắc mà không đòi hỏi một sự đãi ngộ đặc biệt nào cho riêng mình. Nhiều người trong số đó sau này đảm nhận những cương vị chủ chốt về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật của đất nước và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về những đóng góp khoa học cho đất nước ngay từ đợt đầu tiên.

Trước hết đó là Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông đã là kỹ sư với mức lương hàng tháng quy ra vàng có thể tính bằng cây nhưng ông đã từ bỏ tất cả tình nguyện theo Hồ Chí Minh về nước. Ông là kỹ sư quân giới đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù đất nước còn rất nhiều khó khăn nhưng với tình yêu quê hương, đất nước và tài năng của mình ông là người có công đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí như lựu đạn, mìn đặc biệt là súng BaZôka, SKZ, những vũ khí này là nỗi kinh hoàng đối với thực dân Pháp trong kháng chiến. Trần Đại Nghĩa được tặng danh hiệu anh hùng lao động 1952, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên xô 1966, Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam 1975 – 1983, giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.

Có thể kể thêm một trí thức lơn mà cũng trở về từ Pháp tình nguyện theo kháng chiến, theo Hồ Chí Minh và cũng có những cống hiến xuất sắc đối với cách mạng. Đó là giáo sư Hồ Đắc Di. Năm 1918, tròn 18 tuổi Hồ Đắc Di sang Pháp học tại trường Đại học y khoa Pari. Tác động mạnh mẽ nhất đối với người sinh viên y khoa ngay từ năm đàu tiên ở Pháp năm 1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến Hội nghị Véc-xây đưa yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam, trong đó yêu sách thứ 6 là “Tự do học tập, thành lập trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”[6]. Kể từ đó anh sinh viên Hồ Đắc Di cố gắng tìm đọc những tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên báo Người cùng khổ và hết lòng cổ vũ cho báo này. Một buổi sáng chủ nhật, tại câu lạc bộ của sinh viên Việt Nam ở số nhà 15 phố Xonmơra, phố Latinh Pari, Hồ Đắc Di nhận thấy ba thanh niên Việt Nam đang chụm đầu trao đổi với nhau. Trong số này Hồ Đắc Di chỉ biết người có chòm râu đen là Phan Châu Trinh – Người bạn đi cùng giải thích cho Hồ Đắc Di biết thêm: Người béo béo là luật sư Phan Văn Trường, còn người thanh niên trẻ tuổi, nước da hơi xanh, đôi mắt rực sáng, mảnh khảnh, gày gò chính là Nguyễn ái Quốc. Ba tiếng Nguyễn ái Quốc thực sự gây xúc động mạnh mẽ đối với Hồ Đắc Di, anh ngưỡng mộ và tình nguyện theo Nguyễn ái Quốc từ đấy mặc dù lúc đó người thanh niên này chưa có những ý niệm đầy đủ rõ ràng về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội.

Sau khi tôi nghiệp Hồ Đắc Di về nước. Qua tìm hiểu ông biết thêm Việt minh do Nguyễn ái Quốc sáng lập, Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 do Nguyễn ái Quốc viết. Đặc biệt khi ông biết người thanh niên mảnh khảnh, gày gò hay lui tới câu lạc bộ sinh viên Việt Nam tại Pari năm nào thì ngày 2-9-1945 lại xuất hiện trên trên quảng trường Ba Đình đọc Tuyên ngôn độc lập. Sự kiện đó giúp Hồ Đắc Di khẳng định chính nghĩa là đây, độc lập tự do, hạnh phúc là đây. Trong lĩnh vực y khoa Hồ Đắc Di là người sáng lập ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là giáo sư hiệu trưởng Trường đại học Y dược Hà Nội, Chủ tịch tổng hội Y học Việt Nam. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về y học năm 1996.

Trong số những trí thức lớn từ Pháp trở về nước phục vụ cách mạng có thể kể thêm Phan Huy Thông. Ông là người nhận 2 bằng tiến sĩ ở Pháp, tiến sĩ luật học, tiến sĩ văn chương. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông là thư ký riêng của Người. Về nước ông không chỉ hoạt động trong lĩnh vực khoa học mà còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội như Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, đại biểu quốc hội khoá II và III. ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cộng hòa dân chủ Đức, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2000.

Trình bày vắn tắt một vài nhân vật và sự kiện liên quan đến việc Hồ Chí Minh tìm kiếm và trọng dụng nhân tài trong những nghành khoa học từ những người Việt Nam học tập và thành đạt ở nước ngoài, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng dưới thời Hồ Chí Minh số người thành danh ở nước ngoài không nhiều nhưng Người vẫn tìm mọi cách để tranh thủ sự đóng góp của họ đối với đất nước. Ngày nay chúng ta có hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở hàng chục nước trên thế giới trong đó nhiều người sinh sống và làm việc ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức. Trong số họ có nhiều người thành đạt về khoa học, một số khác có vốn và kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Vấn đề đặt ra cho Đảng và Nhà nước hiện nay là trên cơ sở quan điểm Hồ Chí Minh, chúng ta cần có chủ trương, giải pháp thông thoáng để thu hút ngày càng nhiều nhân tài người Việt định cư ở nước ngoài phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới.

Càng cuối đời Hồ Chí Minh càng lo lắng đến công việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Hồ Chí Minh viết trong Di chúc: Đảng và Nhà nước cần lựa chọn những người ưu tú nhất trong bộ đội, thanh niên xung phong đào tạo họ thành những cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, những người vừa “hồng” vừa “chuyên” đó là “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[7]. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc rất quan trọng rất cần thiết”.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, kinh tế tri thức trong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Trên một số lĩnh vực đã xuất hiện những nhân tài. Sự nghiệp đổi mới đang đòi hỏi ngày càng có nhiều nhân tài hơn nữa. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới, Văn kiện Đại hội X viết: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”[8]. Việc thu hút trọng dụng nhân tài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Hiện nay, hơn lúc nào hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Người về tìm kiếm, trọng dụng nhân tài nói riêng./.

PGS.TS Nguyễn Khánh Bật
Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

____________________

Chú thích:
[1] Kỷ niệm 500 năm ngày mất Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, 1999, tr.10.
[2] Trần Thế Linh: Gương sáng người xưa, Nxb Thanh niên, H, 2003, tr.15.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 4, tr. 452.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 280.
[5] Bộ Y tế – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 215.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr 435.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 504.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 96.

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan).

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…
Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…”

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…”

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…”
Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…”

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê
cpv.org.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ
xaydungdang.org.vn

Lênin và các dân tộc phương Đông (7-1924)

Nếu giai cấp vô sản phương Tây coi Lênin là một thủ lĩnh, một lãnh tụ, một người thầy thì các dân tộc phương Đông lại coi Lênin là một người con vĩ đại hơn nữa, cao quý hơn nữa, nếu tôi có thể nói như vậy.

Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngǎn cản nổi.

Quen bị đối xử như những kẻ lạc hậu, thấp hèn, các dân tộc phương Đông đã coi Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể. Không những họ biết ơn Người mà còn tha thiết yêu mến Người. Họ tôn kính Người tương tự như tôn kính cha mẹ. Có thấy các sinh viên Trường đại học các dân tộc phương Đông khóc sưng cả mắt, có thấy các chàng trai trẻ đó nức nở khi biết tin Lênin từ trần thì mới hiểu thấu được tình yêu của họ đối với Người.

Lênin từ trần, đó là cái tang chung cho toàn thế giới. Quốc dân đảng (50) (đảng nhân dân, hiện nắm chính quyền ở Hoa Nam) đang họp đại hội thì được tin Lênin mất. Toàn thể đại hội đứng ngay dậy và buổi họp được bế mạc để tỏ ý để tang Lênin. Theo đề nghị của bác sĩ Tôn Dật Tiên, Chính phủ Quảng Châu đã quyết định ngừng các cuộc biểu diễn nghệ thuật trong ba ngày. Tất cả các công sở đều treo cờ rủ, các đoàn thể vǎn hoá, chính trị, kinh tế ở các địa phương và ở Bắc Kinh, chủ yếu là các hội sinh viên và các tổ chức công nhân, đều tổ chức một cách trọng thể lễ truy điệu nhà cách mạng vĩ đại. Cũng trong dịp này, các đoàn thể ấy đều nhất trí biểu quyết đòi phải thừa nhận ngay lập tức chính quyền xôviết. Sinh viên đã quyết định dựng một bức tượng Lênin trong công viên lớn nhất ở Bắc Kinh.

Nghị viện Trung Quốc đã gửi điện chia buồn.

Phụ nữ cũng khóc thương Lênin. ở Trung Quốc, cũng như ở tất cả các nước phương Đông, phụ nữ rất ít biết những sự việc xảy ra trên thế giới, họ thờ ơ với những sự việc ấy. Nhưng họ đã để tang Lênin. Như vậy là những biểu hiện của phụ nữ Trung Quốc trong hoàn cảnh đau đớn này có một ý nghĩa lịch sử. Một mặt, điều đó chứng tỏ rằng phụ nữ phương Đông đã thức tỉnh; mặt khác, chứng tỏ rằng người thầy vĩ đại đã được tất cả mọi người, nam cũng như nữ, những người bình thường nhất cũng như những người tiên tiến nhất, đều hiểu và yêu mến. Vì thế, tôi xin dịch ra đây bài kêu gọi của một nữ sinh viên, đǎng trong một tờ báo phụ nữ ở Thượng Hải:

“Hỡi các chị em!

Từ khi có chủ nghĩa tư bản, toàn bộ cơ thể xã hội đều bị ảnh hưởng tai hại của nó. Các vật phẩm do tất cả mọi người sản xuất ra, đáng lẽ phải thuộc về tất cả mọi người thì lại thuộc đặc quyền của một vài người! ách áp bức kinh tế đã nô dịch con người, cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành những đồ vật tuỳ thuộc quyền sử dụng của nam giới!

Từ bao thế kỷ nay, bao nhiêu triệu con người đã bị xiềng xích như thế? Bao nhiêu triệu đàn bà đã bị hy sinh?

Trong lúc cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra ác liệt, trong lúc hàng triệu con người không làm hại đến ai, đang muốn sống, nhưng lại bị đưa vào chỗ chết, Lênin đã đạp bằng gian khổ và khó khǎn, đã

thức tỉnh giai cấp vô sản Nga nổi dậy, đã tổ chức các xôviết.

Lênin không những chỉ giải phóng nam giới và nữ giới trên đất nước Tiên sinh, mà còn chỉ đường cho tất cả những người nghèo khổ trên thế giới. Và bất chấp bọn bạch vệ tấn công ở bên trong, bọn tư bản bao vây bên ngoài, ý chí kiên cường của Lênin đã cứu đồng bào của Tiên sinh ra khỏi cảnh đau khổ và lầm than, và đã nêu cao ngọn cờ của Quốc tế cho tất cả những người bị áp bức.

Điều đó há chẳng đáng để chúng ta kính cẩn mặc niệm trước anh linh vĩ đại của Tiên sinh hay sao?

Ngày 21 tháng 1 há chẳng đáng mãi mãi là một ngày tang cho tất cả những nam nữ đang chịu khổ cực hay sao?

Nước Nga đang tiến đến chỗ phồn vinh. Nhưng muốn có được một nền hoà bình thật sự, thì còn phải tiến lên hơn nữa và còn phải làm nhiều việc hơn nữa. Loài người đang thức tỉnh; nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn, thì còn phải đấu tranh. Thế mà giờ đây, người thầy đột ngột từ giã chúng ta, chưa được trông thấy kết quả cuối cùng của sự nghiệp của mình.

Những người có tâm huyết làm sao mà có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, nam và nữ, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại và tiến lên hay sao? Tiến lên!

Các chị em thân mến!

Chúng ta hãy tổ chức truy điệu một cách trọng thể Người đã suốt đời đấu tranh chống cảnh cùng khổ và ách áp bức của các dân tộc, Người đã đấu tranh cho thế giới đến hơi thở cuối cùng!”.

Để kết thúc, chúng ta hãy chú ý rằng để chỉ Lênin, thì khi nói hay viết, người Trung Quốc đều chỉ dùng từ “Tiên sinh”, một từ vinh dự đồng nghĩa với “Tử” (Khổng Tử, Mạnh Tử) và có nghĩa là: thầy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 27, tháng 7-1924.
cpv.org.vn

————————————

(50) Quốc dân đảng: Tổ chức chính trị ở Trung Quốc, do Tôn Trung Sơn sáng lập năm 1905, ban đầu là Trung Quốc cách mạng đồng minh hội; sau Cách mạng Tân Hợi (1911), cải tổ thành Quốc dân đảng. Thời gian đầu, Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng. Năm 1927, người kế tục sự nghiệp của Tôn Trung Sơn là Tưởng Giới Thạch gây chính biến phản cách mạng, đàn áp những người cộng sản, dẫn đến cuộc nội chiến lần thứ nhất ở Trung Quốc. Năm 1937, trước sự xâm lược của phát xít Nhật, Quốc dân đảng buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc đấu tranh chống kẻ thù chung. Năm 1946, Quốc dân đảng lại gây nội chiến lần thứ hai. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, lực lượng Quốc dân đảng bỏ chạy ra đảo Đài Loan. Tr.295.

Kỷ vật của hai nhà báo liệt sĩ

Các phóng viên (từ trái sang): Nguyễn Đức Toại, Ngọc Nhu và Lê Đình Dư tại Vĩnh Linh. Ảnh tư liệu

Năm 1965, tôi và hai đồng chí Ngọc Nhu, Lê Đình Dư (còn có bút danh Hồ Thừa) đều mới ngoài ba mươi, trong danh sách những cây bút xông xáo lúc bấy giờ của Báo Quân đội nhân dân.

Mùa hè năm 1967, chúng tôi tổ chức một bữa liên hoan tiễn đưa nhau lên đường ra mặt trận. Tôi được cử lên sân bay Hòa Lạc để viết về những gương và những trận chiến đấu đánh chặn máy bay giặc Mỹ của các phi đội Mig 17 của ta. Còn Dư và Ngọc Nhu thì được cử vào Vĩnh Linh, Quảng Trị. Gọi là một bữa liên hoan, nhưng chúng tôi đi mua về một mớ cá rô đem rán giòn để cùng uống bia Trúc Bạch. Đồng chí Tô Ân, Phó trưởng phòng quân sự cũng ghé vào góp vui. Ăn uống xong, Dư đưa tôi bức tượng cô giáo bằng gỗ và nói: “Các tài liệu, sách báo, tớ đã gói gọn nhét dưới gầm giường, chỉ có bức tượng này, cậu giữ hộ cho tớ, nếu xảy ra chuyện máy bay ném bom và bắn phá vào khu trung tâm Hà Nội, cơ quan phải đi sơ tán, cậu nhớ mang theo đừng để thất lạc, mất của tớ”. Dư có vợ tên là Kim, một cô giáo dạy cấp II ở bên Thuận Thành (Bắc Ninh). Hai vợ chồng đã có một cháu gái. Chỉ là một bức tượng gỗ, nhưng tôi hiểu rõ, đây là một vật kỷ niệm quý của Dư. Bởi vì tôi biết chuyện trong một dịp đi chơi với nhau ở Hà Nội, Kim đã ghé vào một cửa hàng mua bức tượng này đưa cho chồng và nói thẳng những điều sâu kín: “Ta thật sự đánh nhau với Mỹ rồi. Anh và các anh ở tòa soạn chắc chắn phải đi vào những nơi ác liệt, em rất lo… Anh giữ lấy bức tượng này để… luôn luôn có em bên cạnh anh”. Bức tượng chỉ ở trên bàn làm việc của Dư được vài tuần lễ thôi và bây giờ trước giờ phút đi vào tuyến lửa, anh giao lại cho tôi cất giữ…

Dư đưa bức tượng cho tôi xong thì Ngọc Nhu lại nháy tôi và kéo lên buồng làm việc của cậu ta. “Đánh nhau với Mỹ, đừng có đùa”. Ngọc Nhu vừa cười vừa nói thêm: “Tớ đi chuyến này, lành nhiều mà dữ cũng không ít. Dư nó nhờ cậu giữ bức tượng cô giáo, tớ cũng nhờ cậu cất giữ mấy thứ này, nhưng nhớ kín miệng cho tớ”. Đầu tiên là một lọ hoa nho nhỏ, xinh xinh, màu nâu sẫm có điểm những nụ hoa màu trắng. Điều đáng nói, lọ hoa này thường được Q. công tác ở Báo Phụ nữ, một bạn gái rất thân của Ngọc Nhu, mang đến cắm một bông hoa trắng. Cậu ta đưa thêm một phong bì khá dày và nói nhỏ giọng: “Tớ chả giấu cậu làm gì, trong này có một số bài thơ của Q. viết về tình yêu, về cuộc đời tặng mình, cậu cất giùm cho tớ. À, còn cái thẻ phóng viên của tớ nữa, tớ trao luôn cho cậu…”.

Tối hôm đó, trước ngày lên đường, chúng tôi sôi nổi bàn luận về nội dung bài vở của đợt công tác sắp tới. Dư nêu lên một mong muốn giản dị mà sâu sắc: “Truyện ký vừa rồi, mình lấy tài liệu gián tiếp qua một số cán bộ chỉ huy và một số gương chiến đấu được ra ngoài này báo cáo điển hình, vì vậy nó vẫn chưa sâu. Lần này nhất định phải bám sát một đơn vị trực tiếp quần nhau với Mỹ, mình hy vọng sẽ có nhiều tài liệu sống, nhiều chi tiết sống về sự chỉ huy tài tình của ta, về những con người chiến đấu giỏi của ta, làm sao bài viết phải trả lời được câu hỏi: Đế quốc Mỹ to lớn hùng mạnh nhưng không thể đè bẹp được nước Việt Nam nhỏ bé, lính Mỹ cao to nhưng nhất định bị dũng sĩ Việt Nam nhỏ bé quật ngã, mình phải sờ mó được “cái hồn”, cái bên trong của các trận đánh, của các gương chiến đấu…”. Ngọc Nhu cũng thẳng thắn góp ý: “Lâu nay nội dung các bài vở viết về các trận đánh, các gương chiến đấu na ná giống nhau. Tớ hoàn toàn đồng ý với Dư, phải sờ mó được “cái hồn”, cái “bên trong” của những điều mà mình muốn viết. Muốn được vậy, không còn cách nào khác phải trực tiếp sống và chiến đấu với anh em, phải bám sát một đơn vị…”.

Nhưng rồi hai tháng sau đó, Lê Đình Dư và Ngọc Nhu cùng hy sinh trên mặt trận Cửa Việt. Cả hai đã không bao giờ “sờ mó” được nữa “cái hồn” và cái “bên trong” của các trận đánh, của các gương chiến đấu, mà chính tôi lại cảm nhận sâu sắc “cái hồn” và cái “bên trong” của sự ra đi không trở về của hai bạn. Cả hai đi vào tuyến lửa, lòng thanh thản nhẹ nhàng, để lại bức tượng gỗ cô giáo, để lại lọ hoa hồng, thanh thản nhẹ nhàng mang theo hình ảnh người vợ yêu quý, mang theo hình ảnh người bạn gái yêu thương, thanh thản nhẹ nhàng với ước mong cháy bỏng, làm sao những bài báo sẽ được viết “có hồn”, có cái “bên trong”, sẽ được viết thật hay, thật tốt.

Ngọc Nhu và Lê Đình Dư ơi, “cái hồn” và cái “bên trong” của hai cậu vẫn theo mình suốt những năm tháng ở chiến trường B3, chiến trường Cam-pu-chia, Tây Nguyên… và bây giờ mỗi lần nhìn bức tượng gỗ cô giáo, nhìn lọ hoa hồng mình vẫn “thắp nhang” tưởng nhớ các bạn, tưởng nhớ một thời trai trẻ trong sự nghiệp phục vụ Báo Quân đội nhân dân.

Kim Đồng
qdnd.vn

Một vị tăng 13 năm sưu tầm tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù bận rộn với công việc đạo pháp, Đại đức Thích Nhuận Thọ (SN 1981, tăng thường trú tại chùa Phước Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) vẫn dành nhiều thời gian để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ. Việc làm của Đại đức chứng minh một điều, Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu, luôn ở trong trái tim mọi người dân Việt Nam.

Vào những ngày cuối tháng 8, chúng tôi đến chùa Phước Mỹ để tìm gặp Đại đức Thích Nhuận Thọ, người suốt 13 năm qua luôn dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ kính yêu. Dù đang bận rộn với công việc xây dựng, sửa chữa chùa nhưng Đại đức vẫn vui vẻ dành thời gian tiếp chúng tôi và kể lại cơ duyên dẫn đến việc làm của mình suốt nhiều năm qua.

nha suĐại đức Thích Nhuận Thọ cẩn thận lật giở những
tấm hình về Bác Hồ mà ông đã sưu tầm được.

Đại đức Thích Nhuận Thọ kể, vào năm 1999, khi còn là chú tiểu tu tại chùa Thiên Phước (ở thôn An Trinh, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ), trong một lần quét dọn nhà kho của chùa, tình cờ Đại đức nhặt được một túi nilon. Giở túi ra xem, Đại đức thấy bên trong có khoảng 30 bức ảnh về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Tuy chưa một lần được gặp Bác nhưng qua sách, báo tôi vô cùng khâm phục và kính yêu lối sống giản dị, đức tính cần kiệm, tình thương yêu con người bao la của Bác Hồ. Cầm những bức ảnh trong tay, tôi nảy sinh ý định sẽ sưu tầm những hình ảnh, tư liệu liên quan đến Bác. Từ đó, mỗi khi có dịp đi đến đâu, tôi đều tranh thủ tìm tòi, mua lại các loại sách, báo, hình ảnh về Bác Hồ”, Đại đức Thích Nhuận Thọ cho biết.

Để chứng minh điều mình nói, Đại đức cho chúng tôi xem hàng chục tấm ảnh ghi lại cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đa số những bức ảnh mà Đại đức sưu tầm được đều là ảnh trắng đen, mặt sau ghi cụ thể năm ấn hành và tên nhà xuất bản.

Trong số những hình ảnh, tư liệu về Bác mà Đại đức Thích Nhuận Thọ sưu tầm được, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với “Bộ sưu tập chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu lưu trữ thời kỳ 1945 – 1969”. Bộ sưu tập ghi lại gần 100 chữ ký của Bác được Đại đức treo trang trọng trong phòng khách của chùa để mọi người dễ dàng nhìn thấy.

Đại đức tâm sự: “Bác Hồ của chúng ta vô cùng bao la, vĩ đại; tấm lòng yêu thương con người của Người cũng giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vậy. Càng tìm hiểu về Người, tôi càng thấy mình như một hạt cát bé nhỏ, còn Người rộng lớn như sa mạc bao la. Tôi luôn tâm niệm, học tập và làm theo Bác là công việc ai cũng nên làm và phải làm cả đời. Thời gian tới, khi chùa xây dựng hoàn thành, tôi sẽ dành riêng một phòng để trưng bày số ảnh, sách báo và các kỷ vật về Bác Hồ mà mình đã sưu tầm được trong thời gian qua”.

Kính trọng, yêu quý và thấm nhuần lời dạy của Bác, hơn 10 năm qua, dù hàng ngày bận rộn với công việc đạo pháp nhưng Đại đức Thích Nhuận Thọ vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. Hàng năm, Đại đức trực tiếp liên hệ với các trường học đóng trên địa bàn xã Mỹ Cát, tìm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để chùa hỗ trợ chi phí học tập.

Việc làm của Đại đức Thích Nhuận Thọ nói riêng, chùa Phước Mỹ nói chung thật đáng trân trọng. Những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ mà Đại đức sưu tầm được thật sự là những tài liệu vô giá. Qua đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, để thực hiện tốt việc “học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mọi người phải có lòng yêu nước, yêu thương con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Văn Lực – Văn Tố
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn