Bốn mươi năm, đồng đội vẫn chưa về…

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm ở phường Lê Lợi (thành phố Bắc Giang) trở lại thăm chiến trường Phước Sơn (Quảng Nam) –  nơi ông làm nhiệm vụ ở Đài quan sát của Trung đoàn 230 trên điểm cao 1599 và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của 15 chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị bạn trong trận đánh ngày 5-8-1970. Sau chuyến đi năm ấy, ông Lâm đã cần mẫn chắp nối thông tin từ các đồng đội và được biết họ là lính đặc công của Tiểu đoàn 404 – Quân khu 5…

Chắp nối thông tin tìm tên đồng đội

Để tìm hiểu rõ hơn về trận đánh diễn ra cách đây bốn thập kỷ, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã cất công tìm kiếm tư liệu trong các cuốn lịch sử của nhiều đơn vị đặc công trên chiến trường Khu 5, nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến trận đánh này. Từ thành phố Bắc Giang, ông đã đi xe buýt về Hà Nội và tìm đến Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Tới Ban Tư liệu, ông tỉ mỉ lật giở những chồng báo cũ và tìm được thông tin về trận đánh đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 7-8-1970: “Đêm 4 rạng ngày 5-8-1970, Quân giải phóng đã tiến công quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 196 đóng ở Khâm Đức. Địch thú nhận đây là trận tiến công lớn nhất của Quân giải phóng vào quân Mỹ sau những trận đánh ở vùng điểm cao 935 phía tây thành phố Huế”. Có được thông tin chính xác về ngày hy sinh của đồng đội, ông Lâm lại tích cực liên hệ với các nhân chứng của Tiểu đoàn 404 để biết rõ hơn về những người tham gia trận đánh. Ông và các cựu chiến binh có cùng tâm nguyện đã tới Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị, Phòng Chính sách Quân khu 5 và tập hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để tìm danh sách các liệt sĩ. Sau một thời gian kiên trì tìm kiếm, họ đã biết được tên của 7 trong số 17 liệt sĩ đặc công hy sinh ngày ấy.

CCB Hoàng Sơn Lâm (đứng giữa) và CCB Tiểu đoàn 404 tới thắp hương tại nơi đồng đội hy sinh 40 năm trước. (Ảnh do CCB Tiểu đoàn 404 cung cấp)

Tìm gặp cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc-nguyên Trợ lý quân giới Tiểu đoàn đặc công 404 – chúng tôi đã được ông kể khá chi tiết về trận đánh bi hùng của tiểu đoàn mình. Trận tập kích vào cứ điểm Khâm Đức đêm 4 rạng ngày 5-8-1970 được xác định là một trận đánh quan trọng, đối phương là lực lượng cơ động mạnh nên mũi chủ công được tiểu đoàn lựa chọn gồm 15 cán bộ, chiến sĩ đều là những cán bộ ưu tú, dày dạn kinh nghiệm. Dù bất lợi về thời gian và cách đánh, dù vũ khí mỗi người chỉ có 1 súng AK, 2 băng đạn, 6 quả thủ pháo, song mũi chủ công được chia làm 5 tổ do đồng chí Trợ lý Tác huấn Tiểu đoàn làm mũi trưởng đã dũng cảm chiến đấu giữa vòng vây dày đặc của địch. Trong lúc chiến đấu, địch phát hiện và bịt cửa mở, tất cả 15 cán bộ, chiến sĩ của mũi chủ công đã anh dũng hy sinh trong đồn địch và hai chiến sĩ khác hy sinh ở vòng ngoài…

Điều mong mỏi sau bốn mươi năm

“Sáng 5-8, tại trận địa, chúng tôi nghe loa của địch rêu rao trên máy bay là đã “tiêu diệt 15 Cộng quân”, ngay lúc đó tôi có hỏi anh Biền là Tham mưu phó Tiểu đoàn, anh cũng xác nhận 15 anh em của ta đã hy sinh trong trận đánh vào đồn địch đêm 4-8. Sau này, khi địch rút khỏi Khâm Đức, chấm dứt đợt càn lên hành lang Khu 5, tôi còn nhớ tại nơi địch đóng quân có một hố bom được san lấp và rào dây thép gai cẩn thận. Theo phán đoán của tôi, đó có thể là nơi địch chôn thi thể của các liệt sĩ hy sinh trong trận tấn công cứ điểm Khâm Đức”, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc nhớ lại.

Khi biết Ban CHQS huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đã hai lần tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn đặc công 404 vào các năm 2001, 2007 và chưa có kết quả, ngày 6-6-2009, đồng đội Tiểu đoàn đặc công 404 đã tổ chức một chuyến đi trở lại chiến trường xưa do cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc dẫn đầu từ Hà Nội vào Khâm Đức. Dựa vào tài liệu của Tổ chức Cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam (VVA) do cơ quan quân sự huyện lưu giữ, đoàn đã tìm kiếm ở khu vực trường bắn đoạn giáp với sông Nước Chè, nhưng kết quả vẫn không tìm thấy hài cốt các liệt sĩ. Đầu tháng 8 năm 2010, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tiến ở Quốc Oai (Hà Nội) cũng tổ chức tìm kiếm ở khu vực phía đông đường băng thuộc khu cột cờ, cũng giống như ba lần tìm kiếm trước, khu vực chôn cất các liệt sĩ vẫn chưa được xác định.

“Trở lại Khâm Đức lần thứ hai vào tháng 6 năm ngoái, tôi và các chiến sĩ Tiểu đoàn 404 chỉ thắp được cho đồng đội nén hương để anh linh các liệt sĩ được an ủi phần nào. Chúng tôi vẫn cảm thấy lòng mình day dứt bởi đã nhiều lần tìm kiếm mà các anh vẫn chưa “về”. Hy vọng trong năm nay, khi vừa tròn 40 năm các liệt sĩ ngã xuống, chúng ta sẽ tìm thấy họ”, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã tâm sự với chúng tôi như vậy. Điều ông Lâm và các cựu chiến binh Tiểu đoàn 404 mong mỏi hiện nay là muốn được đồng đội trên khắp cả nước cung cấp thêm thông tin về danh sách các cán bộ, chiến sĩ tham gia trận tiến công cứ điểm Khâm Đức và nên chăng cần dựng một tượng đài kỷ niệm ngay tại nơi các anh đã anh dũng hy sinh…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

“Sổ, tem, phiếu” thời bao cấp

“Ngẩn ngơ như người mất sổ gạo” là thành ngữ điển hình của thời bao cấp ngày xưa. “Sổ gạo” tức là “Sổ lương thực” mà Nhà nước ta thời ấy phát cho mỗi hộ gia đình. Trong sổ ghi rõ họ tên, tiêu chuẩn lương thực hằng tháng của từng người. Đầu tháng, mang “Sổ gạo” ra cửa hàng lương thực gần nhất, xếp hàng, đợi gạo. Có dạo bán cả tháng, có dạo lại chỉ bán nửa tháng một. Gọi là “Sổ gạo”, nhưng thường thường là “nửa gạo, nửa mì”. Mì, có khi là mì bột, có khi là mì sợi, do các nước XHCN ngày ấy viện trợ cho Việt Nam. Thời đánh Mỹ lại càng nhiều mì. Cũng lắm khi, thay cho mì là ngô xay, là sắn khô, và sau này là hạt bo bo.

Phiếu thực phẩm

Nông dân, hiển nhiên là không có “Sổ gạo”. Riêng những làng nghề-ví dụ như quê tôi, làm thêm nghề tằm tơ, kiêm nghề dệt lụa gia công cho Nhà nước – thì những nhà, những người thợ thủ công này, cũng có “Sổ gạo”. Bộ đội và ai làm “công nghiệp nặng”, được 21kg mỗi tháng. Ưu tiên sinh viên sư phạm, cũng vậy, còn thì tùy vào nghề mà “ăn” 19kg, 17kg, 15kg mỗi tháng. Giáo viên, thị dân thì được 13,5kg. Trẻ con còn được ít hơn nữa, theo tuổi. Ngoài số lương thực trong “Sổ gạo”, không thể mua thêm ở đâu nữa, trừ khi bỏ tiền ra mà đi ăn… phở hay mì ở ngoài. Thế nên mới có chuyện, khi vợ họa sĩ Nguyễn Quân đặt “Sổ gạo” lên bàn, chán nản thông báo: “Gạo chưa về!”, thì họa sĩ (vốn là con trai duy nhất của một thiếu tướng quân đội ta) cười bảo: “Gạo chưa về, nhưng phở về rồi!”. Thế là cả nhà bỏ tiền ra, đi ăn phở đợi gạo. Mà phở, mì thời ấy, đa số là phở “mậu dịch”, mì “không người lái”- tức là không có một chút thịt nào. Thiểu số có thịt, thì thịt mỡ, thái mỏng, dày gấp chừng năm lần tờ giấy bóng kính, quạt mạnh là bay mất! Nhân viên cửa hàng ăn ngày ấy thái thịt giỏi gấp mấy lần “thằng Mới” trong ngày làng có việc xưa kia. Cũng vì thế cho nên, những làng nấu rượu “quốc lủi” thời đó bị cấm, không được nấu rượu bằng gạo. Ở các làng Vân Hà, Đại Lâm (Hà Bắc thời đó), người ta nấu rượu bằng sắn. Nếu bất ngờ, công an và phòng thuế đến kiểm tra, chỉ cần thấy bã rượu gạo, tức là chủ lò đã “vi phạm chính sách lương thực”, và tất nhiên là không thể tha được.

Nhưng cũng chính vì thế, mà dân Hà Bắc đã đưa được việc nấu rượu sắn lên thành “nghệ thuật”. “Rượu Vân” trở thành “đặc sản” mãi, là vậy.

Một cửa hàng thực phẩm thời bao cấp.

Bên cạnh đó, hình thành cả một nghề là nghề buôn rượu (lậu), chủ yếu là rượu Vân-rượu sắn. Có một người làm nghề này, sau bỏ nghề, kể với tôi: “Cho rượu vào săm ô-tô, thông đồng với cánh lái xe, chở về Hà Nội từ tờ mờ sáng. Đem săm ô-tô rượu để dưới vòi nước công cộng, lấy chân đạp thật lâu, rượu sẽ ngon hơn. Có đứa dã man, còn cho vào săm rượu mấy giọt thuốc trừ sâu Vô-pha-tốc, rồi cho thêm nước lã vào, đạp thật lâu. Rượu uống thấy nặng hẳn, lãi nhiều hơn!”. Trời ơi, Vô-pha-tốc là thuốc độc, cực độc, giờ đã cấm dùng! Từ khi nghe chuyện ấy, tôi và bạn bè tôi uống rượu Vân ít đi, không dám say nhiều như trước nữa. Nhưng rượu Vân không ngon bằng rượu Bắc Hà (Lào Cai) nấu bằng ngô. Rượu men lá Việt Bắc, nhẹ và nhạt! Rượu cần thì phải uống cả đêm, không hợp với phong tục “nhắm rượu” của dân Bắc Hà. Bây giờ dịch thơ Đường, thấy Lý Bạch suốt ngày say, vẫn thọ 62 tuổi, lại nghĩ, ngày ấy mình bớt rượu là dại! Và thấy Vương Tích, cũng là thi nhân đời Đường, viết: “Hôm nay ta say tràn cung mây – Ừ rằng như thế là không hay – Nhưng kìa, thiên hạ không ai tỉnh – Ta tỉnh làm chi giữa đất này?”, lại càng thêm quý rượu.

Nói vòng vo thế, để thấy rằng, “mất Sổ gạo” thật là một thảm họa, và người mất sổ ngơ ngẩn ngẩn ngơ nhất đời, là vì thế.

Trong một cửa hàng ăn uống thời bao cấp.

Bên cạnh “Sổ gạo”- “Sổ lương thực” – là “Tem gạo” và “Phiếu thực phẩm”. “Tem gạo” là để dùng khi đi công tác lẻ hoặc đi phép, có từ loại 100 gam đến 5 ki-lô-gam, 10 ki-lô-gam. “Phiếu thực phẩm” có các loại, từ cao xuống thấp, là A, B, C… N. Sổ loại A mua ở Tôn Đản (phố Tông Đản bây giờ). “Đi xe Vôn-ga, ăn gà Tôn Đản” là thế. Dân thường thì dùng phiếu N. Phiếu chia ô, đánh dấu tháng. Mỗi lần mua thức gì, cắt một ô. Có ô thịt, ô đường, ô mì chính, ô đậu phụ… Thế nên mới có chuyện, một ông tổ trưởng dân phố đi họp nghe phổ biến cách bầu đại biểu Quốc hội, về nhà phổ biến lại cho dân là “Bỏ người ở ô x…”, thì do không chú ý, một bà buột miệng kêu trời: “Thôi chết! Thế là tháng này mất đậu phụ rồi!”. Vì có nhiều loại tem, phiếu như vậy (ngoài “Sổ gạo”, “Phiếu thực phẩm”, còn có “Phiếu chất đốt”, “Phiếu vải” nữa-mỗi người 4m. Phụ nữ thì có tiêu chuẩn mua lụa đen, phíp đen để may quần), nên ở đâu cũng thấy “xếp hàng”. Xếp bằng người, xếp bằng gạch vỡ ở những cửa hàng lương thực, thực phẩm, củi, than; xếp hàng xem phim. Ở thôn quê, mỗi tháng có từ một đến hai buổi chiếu phim, do các tổ chiếu phim lưu động chiếu lần lượt ở các xã. Vé bán 1 hào một người, trẻ con thì 5 xu. Tôi, 11 – 12 tuổi, đi gánh nước thuê cho cụ Hàn ở Hoàng Mai, 40 gánh thì được 2 hào, thừa tiền xem phim. Nhưng có hôm bí, theo bạn xem phim “chui rào”, về bị anh cả bắt thức cả đêm để “kiểm điểm”! Mua “chất đốt” thì tôi lên Cầu Đổ trên phố Đại La xếp hàng. Ở đó bán củi, than – than cám, than “quả bàng” (chưa có than tổ ong như bây giờ). Sau này có cả dầu hỏa để đun bếp dầu. Ở nông thôn thì thôi, cứ đi kiếm củi, cắt rạ, vặt cỏ may, cắt lá chuối, quét lá rụng, giữ trấu… mà đun. Có lẽ không ở đâu trên thế giới này, người ta chế ra nhiều thứ bếp đun như ở ta thời ấy: Bếp dầu có bấc, không bấc. Bếp đun trấu, lò đun trấu – vừa đun vừa gõ cho trấu rơi xuống. Bếp than cám, bếp than quả bàng. Bếp đun rạ, rơm, củi (có nhà làm bếp hai ngăn, như cái lò dài, đun chính ở ngoài, hơi nóng chạy vào đun phụ ở trong). Sau này là bếp điện may-xo, đỏ rực, lộ thiên, như con giun lửa… Ấy thế mà hăng hái công tác và học tập; mà sản xuất và đánh giặc; mà sống và giúp nhau sống; mà vô tư, thanh sạch.

Ngày ấy, ở Hà Nội, nhà nào cũng có bếp dầu và ấm đun nước, gò – hàn bằng ống bơ sữa bò. Có khách, mươi phút là có nước pha trà (phích nước lúc ấy phân phối, không đủ dùng).

Thế nên mới có chuyện, cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, khi đó là quyền Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu (tạm thay cụ Thế Lữ già yếu), Chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu, “dại dột” in một bài thơ của tác giả Dũng Hiệp, có câu: “Hoan hô văn nghệ sĩ chúng ta – Uống nhiều nước pha trà, đun bằng ống bơ – Nên thơ ngân vang chất thép”…, và bị “xử lý”- thôi chức! “Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, “Nụ cười đen nhánh sau tay áo”, “Áo đỏ người đem trước giậu phơi”… cũng chẳng cứu được! Chính Lưu Trọng Lư kể cho tôi nghe chuyện đó v.v…

Từ ngày “Đổi mới”, bao sự vừa kể không còn nữa. Đời sống, nói chung, đã tốt hơn nhiều. Nhưng mỗi thời có cái hay, cái dở của nó. Kể đôi lời về thời cũ, chỉ là để “ôn cố – tri tân”. Cái triển lãm “Một thời bao cấp” do ông tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, con cụ Nguyễn Văn Huyên, cựu Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, là một triển lãm hay. Ai không xem, kể cũng tiếc!

Cái nước mình hay thật! Dân mình còn hay hơn: Thế nào thì cũng tìm ra “phương thức tồn tại” của mình. Sinh con đẻ cái, dựng vợ gả chồng, xây nhà xây cửa, trồng trọt chăn nuôi (cả trong toa-lét tập thể!), làm thơ và đánh giặc… không thua ai việc gì! “Bần tiện bất năng di”. Ta là “Quân tử” thật!

Có lẽ, chỉ có thời bao cấp mới đẻ ra lắm anh hùng kiểu ấy. Bây giờ lại có anh hùng kiểu khác!

Đỗ Trung Lai

Ảnh trong bài: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
qdnd.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

CPV- Bằng đường lối chính trị đúng đắn, bằng mục tiêu chính trị đúng đắn với sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.

Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước hết là việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Hai là, xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Ngay khi Đảng ra đời, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Mặt trận chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Ba là, kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐTH – ĐQ

sites.google.com

Từ Thủ đô các nhà báo ra trận

Sau ngày Ngô Đình Diệm phản bội không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ,  phong trào đấu tranh ở miền Nam ngày càng sôi sục, tiếng vọng ra tới miền Bắc. Báo chí trên miền Bắc – lúc đó chủ yếu là Hà Nội – đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh ủng hộ phong trào ở miền Nam lên án bọn Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ, yêu cầu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Trên các báo chí lúc đó đã từng tập trung nhiều đợt tuyên truyền về cuộc đấu tranh ở miền Nam, như phản đối Diệm dùng luật 10/59 giết hại ông Hoàng Lê Kha và các đồng chí; vụ tố cáo chính quyền Sài Gòn gây ra các vụ thảm sát ở chợ Được, Vĩnh Trinh, Bến Tre; phản đối vụ thảm sát tập thể các tù chính trị ở trại giam Phú Lợi… Các nhà báo vừa hoạt động nghiệp vụ, vừa tham gia biểu tình kéo đến Ủy ban Quốc tế yêu cầu chấm dứt đàn áp, khủng bố.

Vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước, chúng tôi chưa hiểu rõ sự cần thiết chi viện cho miền Nam. Vài năm sau đó mới mang máng nghe có các nhà báo đã rời Hà Nội về Nam.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và các nhà báo trong chiến khu. Ảnh tư liệu

Tôi biết một nhà báo quân đội đã về Nam rất sớm, đó là anh Lê Nguyên Phổ ở Tạp chí Văn nghệ quân đội. Anh là đồng hương và là bạn chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp với Vũ Tùng (Chủ tịch Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam), Hoàng Lê Kha, Tỉnh ủy viên Tây Ninh. Anh vượt Trường Sơn về Nam với tên mới Bùi Kinh Lăng – tên hai con kênh anh đã sống và chiến đấu là kinh Bùi và kinh Bằng Lăng. Anh được giao phụ trách Tiểu ban Văn nghệ và sau này là Tiểu ban Báo chí.

Nhà báo Vũ Đương (Đài Tiếng nói Việt Nam) cũng rời Hà Nội về miền Nam khá sớm. Với tên mới là Thanh Nho, anh phụ trách Tiểu ban Báo chí rồi Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng đi vào dịp đó còn có anh Bến Nghé (từ Việt Nam Thông tấn xã), anh Hoàng Hà (từ Đài Phát thanh).

Năm 1961, 1962 Báo Nhân Dân có hai đồng chí quê ở Khu 5 cũng “biến mất”: Anh Hồ Diểng, Trưởng ban Tuyên truyền thống nhất về Khu 5 làm Trưởng ban Tuyên huấn; anh Bùi Cảnh (Ban Công thương) về Nam Bộ làm Tạp chí Tiền Phong của Đảng bộ.

Năm 1964, anh Trần Phong (Tổng biên tập Báo Cứu Quốc) theo tàu chở vũ khí vào Bến Tre rồi đi bộ về Tây Ninh. Các anh Tống Đức Thắng (Trần Tâm Tri), Thái Duy (Trần Đình Vân) vượt Trường Sơn về Nam Bộ. Cũng vào năm này có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ, nhà báo Đinh Phong cũng vượt Trường Sơn về công tác tại Báo Giải Phóng. Cũng năm 1964, nhà báo Thụy Nga (Bảy Vân) từ Báo Hải Phòng theo tàu không số về thẳng miền Tây Nam Bộ.

Từ 1965 cho đến sau này, nhiều nhà báo ở Thông tấn xã như Võ Nhân Lý, Nguyễn Đức Giáp, Lê Đình Khuyên… cũng đã về Nam. Nhà báo Trọng Dân (Đài Tiếng nói Việt Nam); Thế Phiệt (Báo Cứu Quốc), Kim Toàn (Báo Hải Phòng), Mạnh Tùng (Báo Công Giáo)… cũng đã về tăng cường cho các báo, đài…

Trung ương Đoàn cũng cử một đoàn nhà báo về chi viện cho công tác tuyên truyền của Đoàn – trong đó có nhà văn – nhà báo Sơn Tùng.

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ cử các nhà báo: Dương Thị Xuân Quý (về Khu 5), Lê Đoan, Lê Phương (về Nam Bộ)…

Báo Nhân Dân đã cử nhà báo Thép Mới vượt Trường Sơn vào chiến trường với tên mới Hồng Châu. Một số nhà báo về Khu 5 – trong đó có Đặng Minh Phương, Nguyễn Trọng Định, Nguyên Ngọc Tứ, Nguyễn Huy. Nhà báo Tuất Việt từ Báo Nhân Dân cũng đã có mặt ở miền Nam trước chiến dịch Mậu Thân.

Quân đội đã cử vào Nam đội ngũ nhà báo, nhà văn khá hùng hậu, như: Nguyễn Thi, Võ Trần Nhã, Phú Bằng, Ngọc Bằng, Nguyễn Trọng Oánh, Thanh Giang, Ngọc Châu… và nhiều nhà quay phim thời sự.

Đội ngũ các nhà báo từ Hà Nội vào chiến trường đã chấp nhận gian khổ, ác liệt trong nhiều tháng vượt Trường Sơn, lại chấp nhận bám sát các xóm ấp chống địch gom dân lập “ấp chiến lược”, bám sát các đơn vị bộ đội trên khắp các chiến trường. Đội ngũ đó đã kết hợp với đội ngũ các nhà báo trưởng thành từ phong trào đấu tranh ở đô thị, ở đồng bằng, trở thành đạo quân báo chí hùng hậu từ trong chiến tranh cho đến ngày tiến về giải phóng Sài Gòn. Từ Hà Nội, hàng loạt phóng viên các Báo Quân đội nhân dân, Nhân Dân, Thông tấn xã, Đài Tiếng nói Việt Nam… đã nhanh chóng bám theo các đơn vị chủ lực vượt qua các trận đánh ác liệt tiến về Sài Gòn.

Một số nhà báo ra đi từ Hà Nội nhưng không còn được trở về Thủ đô, không còn dịp đi dạo Bờ Hồ, hóng mát Hồ Tây. Vì độc lập thống nhất, họ đem theo niềm thương nhớ Hà Nội và gia đình vào cõi vĩnh hằng.

Đinh Phong
qdnd.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

– Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân” cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh “xung phong phê bình các báo”

– Ngày 8/9/1962, Bác đến dự và nói chuyện tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam. “Bây giờ Bác lấy tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí nêu ra vài kinh nghiệm sau đây… Sẵn đây, nếu các cô, các chú đồng ý, thì Bác xung phong phê bình các báo:

Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống” không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng. Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta. Đưa tin hấp tấp nhiều khi thiếu thận trọng. Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau lại để trước, nên trước lại để sau. Lộ bí mật. Có khi quá lố bịch. Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng… Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao.

dNgày 8/9/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội III những người viết báo VN.

Báo chí cần khéo lợi dụng vũ khi phê bình và tự phê bình. Nhưng phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng “trị bệnh cứu người”. Chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần khuyến khích quần chúng góp ý kiến và phê bình báo”.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta… Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần tu dưỡng đạo đức cách mạng…”. Đó là những nội dung trong bài nói của Bác tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 8/9/1962, họp tại Hà Nội.

X&N
bee.net.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh
congannghean.vn

51.000 người An Nam bị đế quốc Pháp động viên đi làm bia đỡ đạn (1924)

Một phương diện ít người biết của nền văn minh Mỹ

Ai cũng biết giống người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài người. Ai cũng biết sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và việc tìm ra Tân thế giới đã mang lại hậu quả trực tiếp là làm sống lại chế độ nô lệ, một chế độ, trải qua nhiều thế kỷ, đã là một tai hoạ thật sự đối với người da đen và là một bất hạnh đẫm máu đối với nhân loại. Điều mà mọi người có lẽ không biết là người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 nǎm nay rồi, nhưng vẫn còn phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất, mà tàn ác nhất và ghê tởm nhất là tục hành hình kiểu Linsơ.

Linsagiơ là do từ Linsơ mà ra. Linsơ là tên một chủ đồn điền ở bang Viếcgini vừa là địa chủ, vừa là quan toà. Lợi dụng tình hình rối ren trong cuộc chiến tranh giành độc lập, hắn thâu tóm toàn bộ quyền hành trong quận. Những người thuộc phái bảo hoàng và những người thuộc phái bảo thủ bị hắn trừng phạt rất dã man, không cần xét xử, không cần án từ gì cả. Nhờ bọn chủ nô, nhờ đảng Ku Klux Klan và những tổ chức bí mật khác, nên tục hành hình kiểu Linsơ, một tục không hợp pháp và man rợ trở thành phổ biến và kéo dài mãi ở các bang trong Liên bang Mỹ. Sau khi người da đen được giải phóng, tục đó càng trở nên vô nhân đạo, và đặc biệt chĩa vào người da đen.

Các bạn hãy tưởng tượng…

Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng loạn. Quả đấm nắm chặt, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới, nguyền rủa…, đám đông ấy đang bị lôi cuốn bởi cái thú cuồng loạn được phạm tội ác mà không phải lo sợ gì cả. Họ vũ trang bằng gậy gộc, đuốc, súng lục, thừng, dao, kéo, nước lưu toan, dùi. Tóm lại là bất cứ vật gì có thể dùng để giết hoặc làm bị thương được.

Các bạn hãy tưởng tượng giữa đám đông ấy, là một đống thịt đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, rạch da, róc thịt, chửi rủa, bị đá đi đá lại, đẫm máu, bất động.

Cái đám đông ấy, chính là những kẻ tham gia hành hình. Cái xác người rách nát kia, đó là người da đen, là nạn nhân.

Trong cơn sóng hằn thù và thú tính, những kẻ tham gia hành hình lôi người da đen đến một khu rừng hay một quảng trường công cộng nào đó. Họ trói người đó vào cây, tưới dầu lửa vào người đó, lấy những chất dễ cháy phủ lên người đó. Trước khi châm lửa, họ bẻ dần từng chiếc rǎng một của người đó. Rồi móc mắt người đó. Từng nhúm tóc xoǎn bị rứt khỏi đầu, mang theo từng mảng da, để lộ ra một sọ người đẫm máu. Nhiều miếng thịt nhỏ rời khỏi cái thân hình đã tím bầm vì bị đánh đập.

Người da đen không kêu được nữa: lưỡi đã sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ gí vào. Toàn thân người ấy quằn quại như một con rắn bị đánh, dở sống, dở chết. Một nhát dao, thế là rụng một tai. ái chà! Nó mới đen làm sao! Nó mới đáng tởm làm sao! Thế là bọn đàn bà rạch nát mặt người đó ra…

Có kẻ hét: “Châm lửa lên đi!”. Một kẻ khác góp thêm: “Đốt vừa đủ để thui nó từ từ thôi”.

Người da đen bị nướng chín, thui vàng, cháy thành than. Nhưng người đó phải chết hai lần mới đáng đời. Cho nên họ liền treo người đó lên, nói cho đúng là treo cái xác không còn là một cái xác nữa lên. Và bây giờ, tất cả những người không được tham dự cảnh thiêu sống ấy, vỗ tay. Hoan hô!

Khi ai nấy đã xem chán rồi, họ hạ cái xác xuống. Cái dây treo được chặt ra từng đoạn, bán mỗi đoạn 3 hay 5 đôla. Bọn đàn bà tranh nhau mua làm vật kỷ niệm và để lấy khước.

Thế là “Công lý nhân dân” – như ở đó, người ta vẫn gọi – đã được thực hiện. Đám đông dịu đi, khen ngợi những kẻ “hành sự” rồi tản dần đi, vui vẻ như vừa dự xong một bữa tiệc, và hẹn gặp nhau một bận khác.

Trong khi đó thì trên mặt đất nhày nhụa mỡ và khói, một đầu lâu đen, nát bét, bị thui cháy, không ra hình thù gì nữa, nhǎn nhó một cách đáng sợ và hình như muốn hỏi vầng dương đang lặn rằng: “Đó là vǎn minh ư?”.

Một chút thống kê

Từ 1889 đến 1919, đã có 2.600 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ, trong đó có 51 phụ nữ và thiếu nữ, với 10 cựu binh trong đại chiến.

Trong số 78 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ nǎm 1919, có 11 người bị thiêu sống, 3 người bị thiêu sau khi đã bị giết, 31 người bị bắn chết, 3 người bị hành hạ cho đến chết, 1 người bị chặt ra làm nhiều mảnh, 1 người bị dìm chết dưới nước, 11 người bị giết bằng nhiều cách khác.

Đứng đầu là bang Gioócgia với 22 nạn nhân, thứ đến bang Mítxixipi với con số 12. Trong cả bang thứ nhất và bang thứ hai đều có 3 binh sĩ trong số bị hành hình. Trong số 11 người bị thiêu sống, thì ở bang Gioócgia có 4 người và 2 người ở bang Mítxixipi. Trong 34 vụ hành hình có tính toán trước và có tổ chức hẳn hoi, thì bang Gioócgia cũng lại đứng đầu với 5 vụ. Thứ hai đến bang Mítxixipi với 3 vụ.

Cǎn cứ theo những tội trạng buộc cho những nạn nhân nǎm 1919, thì:

Một người có chân trong Liên đoàn những người không đảng phái (những chủ trại độc lập);

Một người đã truyền bá những sách báo cách mạng;

Một người đã dám quá tự do lên tiếng công kích những vụ hành hình kiểu Linsơ;

Một người đã bình luận về những vụ xô xát giữa một người da trắng và da đen ở Sicagô;

Một người mà người ta biết là lãnh tụ của phong trào đấu tranh cho lợi ích của người da đen;

Một người vì không kịp tránh sang bên đường nên đã làm cho một đứa bé da trắng ngồi trong ôtô hoảng sợ.

Nǎm 1920, có 50 vụ hành hình kiểu Linsơ và nǎm 1923, có 28 vụ.

Những tội ác đó bao giờ cũng là do ghen ghét về kinh tế mà ra, hoặc do thấy những người da đen ở địa phương làm ǎn khấm khá hơn người da trắng, hoặc do thấy công nhân da đen không chịu bị bóc lột đến xương tuỷ. Trong tất cả các vụ đó, những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che.

Mỗi khi sắp xảy ra hay đã xảy ra một vụ hành hình kiểu Linsơ thế là báo chí chớp ngay lấy, coi là dịp may hiếm có để tǎng số báo phát hành. Báo chí tường thuật sự việc với dụng tâm đưa ra rất nhiều chi tiết.

Không một lời trách móc hướng vào bọn giết người. Không một lời thương xót đối với những nạn nhân. Không một lời bình luận.

Báo New Orleans States ngày 26 tháng 6 nǎm 1919 đǎng nổi bật tin sau đây bằng cỡ chữ 25 phân suốt chiều ngang trang nhất: Hôm nay, một tên da đen sẽ bị 3.000 công dân thiêu chết. Và ngay dưới đó là một tin in bằng chữ nhỏ xíu: Được một đạo vệ binh lớn bảo vệ, Hoàng đế nước Đức đã cùng với Đông cung thái tử chạy trốn.

Báo Jackson Daily News ra cùng ngày đó, in trên hai cột đầu trang nhất và bằng cỡ chữ lớn:

Tên da đen J.M. sẽ bị dân chúng ở Enlisvinlơ thiêu chết, vào nǎm giờ chiều nay

Tờ báo chỉ quên thêm “khẩn khoản mời toàn thể dân chúng đến dự”, nhưng tinh thần là như vậy.

Vì danh dự của chủ nghĩa đế quốc Pháp, xứ Đông Dương thuộc địa đã bị thiệt hại nặng nề. 51.000 người An Nam (người Đông Dương) đã bị động viên và đẩy ra mặt trận của nước Pháp. 49.000 người bị đưa đến các nhà máy để sản xuất thiết bị quân sự.

Người Pháp trong những báo cáo chính thức vẫn thường viết về “tuyển mộ lính tình nguyện”; sự thực những người An Nam đã bị họ bắt và đẩy vào chiến tranh làm bia đỡ đạn.

Người Pháp không chỉ đẩy người An Nam ra trận. Họ còn tước đoạt hết thảy những gì có thể tước đoạt được dưới hình thức thuế.

Để đổi lấy những thứ đó, nước Pháp đế quốc đã nhiều lần hứa sẽ đem lại tự do và quyền tự quyết cho các dân tộc bị áp bức. Nhưng nguy cơ chiến tranh vừa mới qua khỏi, thì những chủ nhà bǎng người Pháp lại bắt đầu nặn thêm càng nhiều thứ thuế. Còn các vị tướng thì cố phục vụ trong quân đội đến 4 nǎm.

Chiến dịch chống chiến tranh do Quốc tế Cộng sản phát động, đang vang dội khắp các thuộc địa.

NGUYỄN ÁI QUỐC
Đại biểu Đông Dương dự Đại hội
lần thứ V Quốc tế Cộng sản.

Viết nǎm 1924. Tài liệu tiếng Nga,
lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng
Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa (1924)

Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra. Cách mạng Nga rất hiểu rõ điều đó. Vì thế nó không vừa lòng với việc đọc những bài diễn vǎn rỗng tuếch và viết ra những quyết định “nhân đạo” đối với các dân tộc bị áp bức, mà cách mạng Nga dạy cho họ đấu tranh, giúp đỡ họ bằng tinh thần và vật chất như Lênin đã tuyên bố trong luận cương của Người về vấn đề thuộc địa. Cách mạng Nga đã triệu tập Đại hội Bacu (51) ; hai mươi mốt dân tộc phương Đông đã phái đại biểu tới dự Đại hội đó. Những đại biểu của các đảng công nhân phương Tây cũng tham gia công việc của Đại hội. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vô sản ở các nước phương Tây đi xâm chiếm và giai cấp vô sản các nước bị xâm chiếm ở phương Đông đã thân mật nắm tay nhau và cùng nhau tìm cách đấu tranh có hiệu quả chống chủ nghĩa tư bản là kẻ thù chung của họ.

Sau cuộc Đại hội lịch sử ấy, mặc dầu đang vấp phải những khó khǎn trong nước và ngoài nước, nước Nga cách mạng không hề một chút do dự trong việc giúp đỡ các dân tộc mà nó đã thức tỉnh bằng cuộc cách mạng anh dũng và thắng lợi. Một trong những việc quan

trọng đầu tiên của nó là thành lập Trường đại học phương Đông.

Trường đại học phương Đông hiện nay gồm có 1.025 sinh viên, trong đó có 151 nữ sinh. Trong số sinh viên ấy, có 865 đảng viên cộng sản. Thành phần xã hội của học sinh như sau: 547 nông dân, 265 công nhân, 210 trí thức vô sản. Nếu người ta chú ý rằng các nước phương Đông đều là những nước hầu như hoàn toàn nông nghiệp thì sẽ dễ hiểu vì sao số sinh viên nông dân chiếm tỷ lệ cao hơn. ở ấn Độ, ở Nhật, ở Trung Quốc – nhất là ở Trung Quốc, phần nhiều là các trí thức trung thành với sự nghiệp của giai cấp công nhân đang lãnh đạo giai cấp này trong cuộc đấu tranh, điều đó giải thích vì sao số trí thức chiếm tỷ lệ một thiểu số tương đối quan trọng; và tỷ lệ công nhân ít là do công nghiệp và thương nghiệp tương đối kém phát triển trong các vùng phương Đông, trừ nước Nhật. Ngoài ra, còn có 75 học sinh thiếu niên, từ 10 đến 16 tuổi.

150 giáo sư phụ trách giảng dạy về khoa học xã hội, về toán học, về duy vật lịch sử, về lịch sử phong trào công nhân, về khoa học tự nhiên, về lịch sử các cuộc cách mạng, về khoa kinh tế chính trị, v.v.. Trong lớp học, thanh niên của 62 chủng tộc khác nhau cùng thân mật sát cánh bên nhau.

Trường đại học phương Đông có 10 ngôi nhà to để cho sinh viên dùng. Trường có một rạp chiếu bóng cho sinh viên xem không mất tiền vào ngày thứ nǎm và ngày chủ nhật; còn những ngày khác trong tuần lễ thì để cho một người thầu. Có hai tủ sách với 47.000 quyển sách giúp cho các nhà cách mạng trẻ tuổi đi sâu vào việc nghiên cứu của mình và bồi dưỡng thêm tư tưởng. Mỗi dân tộc hay “nhóm”, có một tủ sách riêng, gồm sách báo bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Phòng đọc sách được sinh viên trang trí một cách có nghệ thuật và có đầy đủ báo chí. Các học sinh cũng cho ra một tờ báo chỉ có một bản duy nhất dán vào cái bảng to đặt trước cửa phòng đọc sách. Những người đau ốm được vào chữa trong bệnh viện của nhà trường. Một trại điều dưỡng ở Crimê dành riêng cho sinh viên cần được dưỡng sức. Chính phủ Xôviết đã tặng cho Trường đại học hai trại hè mỗi trại có 9 ngôi nhà. Mỗi trại hè có một chỗ cho sinh viên học chǎn nuôi. Người “bí thư nông nghiệp” của Trường đại học đã tự hào nói với tôi: “Chúng tôi đã có 30 con bò cái và 50 con lợn”. Một trǎm hécta ruộng đất cấp cho các trại hè ấy là do sinh viên tự cày cấy lấy. Trong kỳ nghỉ hè và sau giờ làm việc và tập luyện, sinh viên đi giúp đỡ nông dân. Nhân đây cũng nói qua rằng một trong những trại hè ấy trước kia là thái ấp của một quận công. Thật là một cảnh đáng ghi nhớ khi trông thấy lá cờ đỏ tung bay kiêu hãnh trên ngọn tháp có mang tước huy quận công, và thấy những người nông dân trẻ tuổi Triều Tiên hay ácmêni vui đùa trong lễ điện của quận công không kiêng nể gì cả.

Sinh viên ǎn, ở và mặc không phải mất tiền. Mỗi tháng mỗi sinh viên còn được lĩnh 5 đồng rúp vàng để tiêu vặt.

Để học sinh có một quan niệm đúng đắn về việc giáo dục trẻ em, Trường đại học có một nhà nuôi trẻ và một nhà gửi trẻ rất kiểu mẫu gồm 60 em nhỏ.

Mỗi nǎm Trường đại học chi tiêu đến 516.000 đồng rúp vàng.

Các đại biểu của 62 chủng tộc trong Trường đại học lập thành một “Công xã”. Chủ tịch và các cán sự của Công xã do phổ thông đầu phiếu bầu ra ba tháng một lần.

Một đại biểu sinh viên tham gia việc quản trị kinh tế và hành chính của Trường đại học. Tất cả các sinh viên đều phải thay phiên nhau lần lượt làm công việc nhà bếp, thư viện, câu lạc bộ, v.v.. Tất cả mọi vụ “phạm pháp” hoặc tranh chấp đều do một toà án được bầu ra xét xử trước mặt toàn thể các đồng chí. Công xã họp mỗi tuần một lần để thảo luận tình hình chính trị và kinh tế quốc tế. Thỉnh thoảng người ta tổ chức những cuộc hội họp và những buổi dạ hội trong đó những sinh viên có khiếu về nghệ thuật trình bày nghệ thuật và vǎn học của khắp các miền ở phương Đông.

Một điểm đặc biệt nhất biểu hiện sự “dã man” của những người bônsêvích là không những họ coi “những người dân thuộc địa thấp kém” ấy như anh em, mà còn tổ chức cho họ tham gia đời sống chính trị của nước Nga nữa. Trong kỳ bầu cử các Xôviết, những sinh viên mà khi còn ở trong nước của họ thì chỉ là những “kẻ dân lành”, những “người được bảo hộ”, nghĩa là những người không có quyền gì khác hơn là quyền nộp thuế, những người không hề có quyền ứng cử và bầu cử ở nước họ, những người không được phép bàn bạc chính trị, thì nay ở nước Nga Xôviết những người đó được tham gia bầu cử và cử đại biểu của họ vào Xôviết. Mong rằng những anh em của tôi ở các thuộc địa đang cầu xin đổi quốc tịch mãi mà không được, hãy thử so sánh nền dân chủ tư sản với nền dân chủ vô sản.

Tất cả những sinh viên ấy đều đã từng đau khổ và đã thấy người khác đau khổ. Tất cả đều đã sống dưới “nền vǎn minh khai hoá cao cả” và dưới ách bóc lột và áp bức của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Vì thế tất cả đều ham mê và khao khát học tập và hiểu biết. Họ vừa hǎng hái vừa nghiêm túc. Họ không hề chơi bời phóng túng như những thanh niên phương Đông ở Pari, ở Ôxpho, ở Béclin. Người ta có thể nói không ngoa rằng Trường đại học phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tương lai của các dân tộc thuộc địa.

Miền Cận Đông và miền Viễn Đông, từ Xyri đến Triều Tiên – chúng tôi chỉ nói đến những nước thuộc địa và nửa thuộc địa có một diện tích rộng hơn 15 triệu km (2) , với số dân hơn 1.200 triệu người, tất cả những nước rộng lớn ấy ngày nay đều đang ở dưới ách của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Và mặc dù số lượng của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa thực sự mưu đồ tự giải phóng khỏi ách đó, và vì họ chưa hiểu giá trị của sự đoàn kết quốc tế, nên họ chưa biết đoàn kết nhau lại để đấu tranh. Họ chưa có những sự liên hệ giữa các nước họ với nhau, như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ. Họ có sẵn một sức mạnh to lớn mà họ chưa biết! Việc thành lập Trường đại học phương Đông, tập hợp những người lãnh đạo trẻ tuổi tích cực, thông minh của các nước thuộc địa, đã làm được một công cuộc to lớn là:

a) Trường đã huấn luyện cho các chiến sĩ tiên phong tương lai ấy nguyên lý đấu tranh giai cấp, nguyên lý mà một mặt các cuộc đấu tranh chủng tộc và mặt khác các tập tục của chế độ gia trưởng đã làm lẫn lộn trong đầu óc họ.

b) Trường đã làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.

c) Trường đã làm cho các dân tộc thuộc địa – từ trước đến nay rời rạc với nhau – hiểu biết nhau, và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khối liên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản.

d) Trường đã nêu lên cho giai cấp vô sản các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa, một tấm gương về những điều họ có thể và phải làm cho những anh em của họ đang bị áp bức.

NGUYỄN ÁI QUỐC
Báo La Vie Ouvrière, số 20, nǎm 1924.
cpv.org.vn

Bác Hồ trong ký ức ngư dân xứ Thanh

Đó là vào một đêm giữa tháng 7 năm 1960, Bác cùng đồng chí cận vệ của mình là Nguyễn Tùng, quê ở Nghệ An bí mật ra Thanh Hóa thăm đồng bào và nghỉ dưỡng tại Sầm Sơn. Khi đặt chân đến Sầm Sơn, Bác không nghỉ ở nhà khách Công Đoàn mà lên thẳng núi Trường Lệ, nơi có đền Cô Tiên để nghỉ tại đây. Những ngày ở đây, Bác giản dị trong bộ quần áo nâu, đến thăm những gia đình chài ven biển, nói chuyện và kéo lưới cùng ngư dân, vì thế một số người không biết rằng họ đang được vinh dự gặp gỡ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

thanh hoa 1
Bác Hồ nói chuyện với các đơn vị bộ đội bảo vệ Sầm Sơn (Ảnh Tư liệu).

Theo các cụ cao niên kể lại thì tối hôm đó, có một ông cụ râu tóc bạc phơ, ăn mặc giản dị lên núi Trường Lệ, sau đó ông cụ vào thăm đền Cô Tiên. Sáng hôm sau ông cụ dậy sớm, trong bộ quần áo cộc như một ngư dân rồi đi men xuống núi ngắm cảnh, gần trưa ông cụ đến thăm các gia đình ở chân núi thuộc thôn Vinh Sơn, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương (nay là phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn) nhưng hầu hết các gia đình vẫn ra khơi chưa trở về, chỉ có duy nhất một gia đình vừa về tới nhà còn đang ngồi hóng mát ở chiếc chõng tre. Gia đình ngư dân mời ông cụ lên chiếc chõng tre ngồi nhưng ông cụ từ chối và ngồi ngay lên tảng đá bên cây khế.

Thấy một cháu bé đang nằm trên chõng tre khóc ngặt, ông cụ lại gần bế lên cưng nựng, rồi hỏi thăm gia đình ngư dân về đời sống của ngư dân, của xã viên ở đây ra sao? Gia đình ngư dân trả lời ngay: “Cảm ơn cụ. Nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ, đời sống xã viên chúng tôi sung sướng lắm ạ!”. Gia đình ngư dân vinh dự trò chuyện với Bác đó là gia đình ông Lê Viết Lược. Ông Lược giờ đã qua đời, còn buổi trò chuyện đó mãi sau này ông mới biết người đã trò chuyện với mình chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người mà ông ao ước được một lần gặp mặt.

Rời gia đình ông Lược, Bác cùng mọi người đi xuống bãi biển. Một không khí lao động tấp nập diễn ra. Thấy mấy cụ già đang khom lưng kéo lưới vất vả, Bác vào cùng, đứng trước một cụ già cũng cật lực kéo sợi dây. Cụ già thấy một ông cụ lạ và mấy người cùng kéo lưới giúp thì mừng vui, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả. Mồ hôi nhễ nhại, Bác bỏ mũ, cởi cả áo, cả khăn lộ hết bộ râu, vẫn không ai nhận ra người cùng kéo lưới là Bác Hồ.

Thanh hóa a2
Bác Hồ đến thăm một gia đình ngư dân.

thanh hoa 3
Bác Hồ hỏi thăm những ngư dân vừa ra khơi trở về.

Sau nửa ngày đi thăm hỏi một số gia đình và ngư dân nơi đây, Bác Hồ quay về thị trấn Sầm Sơn hỏi thăm các đồng chí lãnh đạo thị trấn, động viên các cán bộ công nhân viên nhà nghỉ Công Đoàn, nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo tình hình địa phương và căn dặn các lãnh đạo, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong phong trào thi đua yêu nước. Không những thế, trong những ngày nghỉ dưỡng ở đây, Bác nhận ra rằng nếu Sầm Sơn có một dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây. Sau khi căn dặn xong lãnh đạo và cán bộ địa phương, tối đó Người lên đường rời Sầm Sơn.

Theo chân ông Cao Văn Hùng, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc phường Trường Sơn trong một chiều cuối tháng 8, chúng tôi trở về nơi in dấu chân của Người đã từng kéo lưới cùng ngư dân trên biển Sầm Sơn năm ấy. Những người được vinh dự gặp vị Chủ tịch kính yêu hầu hết đã không còn, nhưng cậu bé năm xưa khi đang nằm trên chiếc chõng tre khóc ngặt được Bác Hồ bế dỗ dành cưng nựng đó là ông Lê Viết Quý, sinh năm 1961, là con trai của cụ Lê Viết Lược, người đã được trò chuyện cùng Bác tại nhà năm xưa. Khi ấy, cậu bé Qúy mới chưa đầy 2 tuổi. Mặc dù không biết gì, chỉ được mọi người kể lại nhưng mỗi khi được nhắc về điều này, đôi mắt ông long lanh, rực sáng. Niềm vinh dự và tự hào lấp lánh trong đáy mắt.

Chẳng phải thế mà cái chõng tre ngày đó được gia đình ông coi như một báu vật, nâng niu cất giữ cẩn thận, cách đây vài năm mới bị mối mọt đục phá. Căn nhà kè ngày ấy được Bác Hồ đặt chân vào, gia đình ông cũng coi như là kỷ niệm gắn với Người, bởi thế cái nếp nhà, kèo cột vẫn được ông giữ nguyên, chỉ có điều mái kè ngày ấy không thể giữ được vì mưa nắng nên đã phải thay bằng mái ngói.

Thanh hoa 4
Cậu bé Nguyễn Viết Quý năm xưa vinh hạnh được Bác Hồ bế.

Thanh hoa 5
Ông Qúy bên cây khế và bậc đá bác Hồ ngồi.

Ông Qúy tâm sự: “Ngày ấy tôi còn nhỏ nên không biết gì, sau này lớn lên mới nghe các cụ kể lại. Sau khi biết ông cụ ngày hôm đó chính là Bác Hồ, gia đình tôi quyết định gìn giữ lại từ cái chõng tre cho đến cây khế, bờ đá và cả cái nhà cũ vì coi đó như một kỷ niệm thiêng liêng về Bác mà không phải nhà nào cũng có được”.

Vị trí Đền Cô Tiên, nơi Bác Hồ nghỉ dưỡng năm ấy, giờ đây được trùng tu khang trang cổ kính và là điểm du lịch nổi tiếng của Sầm Sơn. Phía trong ngôi đền, bệ lát xi măng, nơi Người ngả lưng cũng vẫn còn đó, bên trên bức tường được treo nhiều hình ảnh lưu niệm Bác với Sầm Sơn.

Khắc ghi lời căn dặn của Bác, những năm qua, Sầm Sơn không ngừng đổi mới. Cho đến bây giờ mảnh đất với tiềm năng du lịch như Bác nói, con người nơi đây đã biến Sầm Sơn “thay da đổi thịt” trở thành một điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước.

Ông Lưu Đình Sơn, Bí thư phường Trường Sơn chia sẻ: “Đảng bộ và nhân dân phường Trường Sơn, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ năm xưa đã về đây, vì thế những năm qua địa phương luôn cố gắng phấn đấu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần cùng với thị xã Sầm Sơn ngày càng phát triển trên con đường hội nhập, xứng đáng với những gì mà Người đã kỳ vọng ở con người Sầm Sơn”.

Thanh hoa 6
Một góc Sầm Sơn hôm nay.

Thanh hoa 7
Nơi bác Hồ nghỉ ngơi ở đền Cô Tiên.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thân dân” và “Dân chủ”

Kể từ lúc còn là người dân xứ thuộc địa ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi đã trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm bốn chữ “yêu nước, thương dân”. Trong tư tưởng của Người, đất nước – Tổ quốc bao giờ cũng gắn liền với nhân dân. Nói yêu nước là phải nói tới yêu dân, lo cho dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân. Nhân dân vừa là động lực của cách mạng, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng, cách mạng phải mang lại quyền lợi cho nhân dân: Quyền con người và quyền công dân, quyền được ăn no mặc ấm, được học hành, quyền hưởng hạnh phúc.

1. Không gì quý bằng nhân dân

Truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc bao giờ cũng được phát huy cùng sự trường tồn của dân tộc ấy. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc Việt Nam đã làm rạng rỡ những bài học quý giá của quá khứ, biến chúng thành những nhân tố góp phần chiến thắng cho cuộc đấu tranh hiện tại và góp phần mở ra triển vọng tươi sáng cho tương lai. Các anh hùng dân tộc của chúng ta sở dĩ làm nên nghiệp lớn, vì không bao giờ họ tách mình khỏi truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà ngược lại, bao giờ họ cũng tiêu biểu cho những nguyện vọng cao cả nhất, bức thiết nhất của mỗi thời đại. Là một anh hùng dân tộc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế tục xứng đáng nhất sự nghiệp và công đức của những anh hùng đi trước, đã thu góp tinh hoa tư tưởng mà dân tộc ta đã xây dựng nên từ máu lửa của cuộc chiến đấu để sinh tồn và phát triển.

Các vị vua anh minh, các anh hùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng “thân dân”, biết dựa vào sức dân, phát huy sức mạnh toàn dân để xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Trong Binh thư yếu lược, Trần Quốc Tuấn đưa ra kế sách “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Với niềm tin “chúng chí thành thành” (ý chí nhân dân là bức thành vững chắc), Trần Quốc Tuấn chủ trương lấy nông dân làm nguồn bổ sung dồi dào, vô tận cho quân đội thông qua hình thức bách tính giai vi binh (trăm họ là binh), tận dân vi binh (mỗi người dân là một người lính). Và đến thời của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) thì vai trò cứu nước của nhân dân chính thức được tuyên dương xứng đáng. Theo Nguyễn Trãi, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” tức là sức của dân như nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền. Sau chiến thắng chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao khổ – sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốn phương dân cày tụ họp”.

Tiếp sau truyền thống của dân tộc, truyền thống gia đình cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho Hồ Chí Minh sớm hình thành quan điểm coi trọng dân, hiểu dân, đánh giá cao vai trò của dân. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một người có tư tưởng yêu nước, thương dân. Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làm quan, vả lại trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ Phó bảng (năm 1901), cụ đã lần lữa việc ra làm quan nhiều năm. Mãi đến năm 1906, cụ được bổ nhiệm làm thừa biện Bộ Lễ, phụ trách “công việc trường ốc”. Tiếp xúc với học trò, cụ thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” nghĩa là: Làm quan là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn. Sự tức chí đó khiến cụ bị triều đình cho là “bất phùng thời”, phải đi khỏi kinh đô để vào làm tri huyện Bình Khê (Bình Định). Ngồi ghế Tri huyện nhưng cụ thường giao du với các nhà Nho yêu nước ở địa phương hơn là có mặt ở công đường, tạo điều kiện cho những nông dân thiếu tiền thuế, những người tham gia phong trào chống thuế… đang bị giam cầm, trốn thoát. Cụ rất oán ghét bọn cường hào bức hiếp nông dân và thường đứng về phía nông dân chống lại chúng.

Tư tưởng yêu nước, thương dân của người cha đã ảnh hưởng sâu sắc tới thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành. Mặt khác, trong quá trình trưởng thành ở quê nhà, rồi đi học ở Huế, càng đi vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Người đã tận mắt chứng kiến cảnh đoạ đày dân đi phu ở Cửa Rào (Nghệ An) và tự bản thân Người cũng đã tham gia những cuộc biểu tình đòi giảm sưu, giảm thuế của nông dân sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên (tháng 4-1908). Ấn tượng theo suốt cuộc đời Người là hình ảnh những người dân mất nước cần được giải phóng khỏi đoạ đày, đau khổ, cần được sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tư tưởng đó, thực tế đó đã nằm trong hành trang của Người khi xuất dương tìm đường cứu nước. Với dự định: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, ngay từ những ngày hoạt động cách mạng đầu tiên trên đất Pháp, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.

Khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã khảo cứu về các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: Cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Nga năm 1917. Từ sự phân tích nội dung, tính chất các cuộc cách mạng ở Mỹ, ở Pháp, Người đi đến kết luận: đó đều là những cuộc cách mạng không đến nơi – nghĩa là cách mạng rồi mà dân vẫn bị áp bức, bóc lột. Người chỉ rõ: “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(1). Người khẳng định chỉ có cách mạng Tháng Mười Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do, bình đẳng thật sự. Bài học mà Nguyễn Ái Quốc rút ra qua nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga là: Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc.

Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, tán thành và gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận thêm quan điểm về “Dân” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là quan điểm coi quần chúng nhân dân là những người làm ra lịch sử. Nhưng chữ “Dân” của những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học đã được Nguyễn Ái Quốc cụ thể hoá trong hoàn cảnh của Việt Nam. Người quan niệm “Dân” là bao gồm toàn bộ những người lao động và những người có tinh thần yêu nước. Như vậy phạm vi “Dân” của Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, cùng nguồn gốc, tổ tiên là dân tộc Việt Nam, cùng có chung một điều là tinh thần yêu nước. Không chỉ có thế, Hồ Chí Minh còn chú ý đến cái lõi giai cấp trong quảng đại quần chúng nhân dân – công nhân, nông dân và trí thức (công-nông-trí). Với đặc điểm này, khái niệm nhân dân của Hồ Chí Minh vừa bảo đảm đúng theo tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin về quan điểm giai cấp khi tập hợp lực lượng cách mạng, vừa rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít ỏi, nông dân chiếm hơn 90% dân số, tầng lớp thanh niên trí thức có tinh thần yêu nước, cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin vào vai trò to lớn của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thấy đó là sức mạnh vô tận của dân tộc mà Đảng Cộng sản phải trân trọng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Hồ Chí Minh đánh giá đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước, đều có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả để phục vụ Tổ quốc. Cho nên mỗi khi cách mạng cần đến sức người, sức của thì nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, nhờ vậy cách mạng đã thành công, kháng chiến đã thắng lợi. Người hỏi: “Cách mạng thành công là do ai?” và trả lời “do quần chúng”. Người khẳng định một cách chắc chắn rằng “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng”(3). Do đó mà “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng đoàn kết của nhân dân”(4). Người đã dùng những lời lẽ tôn vinh nhân dân lên hàng tối thượng trong tất cả các lực lượng và chỉ rõ vai trò to lớn nhất của nhân dân mà không có lực lượng nào có thể sánh được.

2. Nước ta là một nước dân chủ

Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào. Chính vì vậy, bảo vệ và phát huy các quyền cơ bản của con người phải là trọng tâm và là cái đích cuối cùng của mỗi cuộc cách mạng, của mỗi thể chế tiến bộ. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứu nước thực chất là cứu dân, mưu độc lập cho dân tộc thực chất là mưu cầu độc lập tự do cho nhân dân. Phấn đấu cho một xã hội mà ở đó dân tộc được độc lập, dân quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc là tiêu chí xem xét một cuộc cách mạng, cũng là sự nghiệp cả cuộc đời Người mong đạt tới. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(5).

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự kiện lịch sử trọng đại này gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xây dựng lực lượng, căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và đặc biệt là soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 đã và đang còn vang vọng những lời bất hủ, những giá trị cao đẹp của nhân loại:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, một câu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp 1789 nhằm vạch ra rằng những tư tưởng đó là những ý kiến chung có giá trị tiến bộ toàn nhân loại, là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Và tư tưởng của Việt Nam về quyền con người cũng có nội dung phổ biến như vậy, có chung lý tưởng với nhân loại về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là lẽ tự nhiên, là tạo hoá chứ không phải do ai ban phát. Nhưng, nét sáng tạo độc đáo của Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 là ở chỗ: có sự mở rộng khái niệm quyền con người ra đến “quyền làm người”, đến “quyền dân tộc”. Những tư tưởng này được phát triển từ những tư tưởng đòi các quyền, các yêu sách của nhân dân An Nam từ năm 1919 của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ tư duy lý luận của Hồ Chí Minh đạt đến mức biện chứng sâu sắc. Nó xuất phát từ thực tế lịch sử dân tộc ta, gần một thế kỷ bị giặc ngoại xâm thống trị, mọi quyền con người đều bị tước đoạt, kể cả những quyền tối thiểu nhất. Dân tộc có được độc lập thì mới có tiền đề để thực hiện các quyền con người. Mặt khác, dân tộc được độc lập mà nhân dân không có quyền gì, nhân dân không được tự do thì độc lập dân tộc cũng không có ý nghĩa. Như vậy, có thể thấy khái niệm quyền con người ở Tuyên ngôn độc lập đã được triển khai tới mức cụ thể trong thực tiễn, là công cụ thiết thực và sắc bén chỉ đạo hoạt động thực tiễn cách mạng nước ta là: phải giải phóng dân tộc, giành được độc lập dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc, sau đó mới có thể giải phóng con người, mới có thể xác lập được quyền con người và quyền công dân. Thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân lại là cơ sở để giữ gìn độc lập dân tộc, để độc lập dân tộc có ý nghĩa đích thực.

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ mới của dân, do nhân dân là người làm chủ, thể hiện quan điểm: bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Đối với Hồ Chí Minh, dân chủ là điều cốt tử còn chuyên chính chỉ là phương tiện đảm bảo dân chủ. Người chỉ rõ: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khoá, cái cửa đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không còn khoá, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khoá, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ”(6). Điều kiện, tiền đề và là thước đo trình độ làm chủ của nhân dân được thể hiện ở ba mặt: Bảo đảm dân quyền, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.

Với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vừa mới được thành lập sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(7). Chính vì thế, phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945 đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là: Cứu đói cho dân, chống giặc dốt, xoá bỏ những thứ thuế hà khắc do chế độ cũ để lại, ban hành quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nền giáo dục nhân dân, thực hiện tự do tín ngưỡng, nam nữ bình quyền,… Và trong muôn vàn công việc của người lãnh đạo tối cao của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên việc tiếp chuyện, lắng nghe ý kiến của đại biểu các đoàn thể nhân dân. Người viết thông cáo tiếp dân bằng những lời lẽ thật giản dị, ân cần, thể hiện lòng yêu quý, sự tôn trọng với đồng bào: “Từ năm nay tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể… Gửi thơ nói trước, để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công”(8).

Ngày 20/2/1947, nói chuyện với các đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”(9). Người khẳng định: dân chủ là nhân dân là người làm chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống. Các cấp chính quyền Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, bao giờ, ở đâu, xuất phát của hành động cũng là vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(10). Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh. Dẫn ra hai câu thơ của đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn: “Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu” mà Người tạm dịch là “Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ, Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(11). Rõ ràng, quan điểm Đảng, chính quyền, cán bộ và đảng viên là đầy tớ của nhân dân chỉ có ở chế độ ta và do bản chất của chế độ ta quy định.

Nội dung khái niệm “đầy tớ”, “công bộc” của dân được Hồ Chí Minh chỉ ra rất rõ, rất cụ thể chứ Người không nêu ra để mị dân. Theo Người, “điều chủ chốt” nhất của đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Và cũng từ rất sớm, rất kiên quyết, Người đã đặt vấn đề đấu tranh để ngăn ngừa các tệ quan liêu, chuyên quyền, tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đó là thứ giặc rất nguy hiểm, chà đạp quyền dân chủ, làm hư hỏng cán bộ, phá vỡ kỷ cương, kỷ luật, có thể làm ruỗng nát chế độ dân chủ từ bên trong.

Tháng 1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng ta, Người lại nói: “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(12). Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo, đã nói rõ: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”(13) và “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân”(14).

Trên thế giới, đã có không ít trường hợp những người quyền cao chức trọng, là lãnh tụ, đứng ở vị trí đỉnh tháp quyền lực thì quên mất nền tảng quyền lực là nhân dân; họ coi dân chúng như là một công cụ, phương tiện để phục vụ cho mục đích củng cố và thao túng quyền lực của mình. Còn với Hồ Chí Minh, Người coi việc mình làm Chủ tịch là do nhân dân ủy thác cho. Người tự cho mình là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đó là tư cách rất đúng đắn của vị lãnh tụ Đảng cầm quyền trong giai đoạn nhân dân giữ vai trò làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới.

Xứng đáng là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công sáng lập, chăm lo xây dựng, một đảng đã được tôi luyện và trưởng thành trong lò lửa đấu tranh cách mạng anh dũng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vươn lên thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dựa vào dân, tin ở dân, phát huy quyền làm chủ thực sự, tiềm lực và sức sáng tạo của nhân dân. Ngay từ những ngày đầu tiên của tiến trình đổi mới, Đảng đã xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Điều này được coi là bài học kinh nghiệm hàng đầu trong 4 bài học cơ bản mà Đại hội VI nêu lên để định hướng cho công cuộc đổi mới. Từ những sáng kiến của nhân dân, tư tưởng đổi mới được thai nghén và hình thành ngày càng rõ nét. Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt cực kì quan trọng, đánh dấu sự ra đời của chủ trương đổi mới trên mọi lĩnh vực của công cuộc cách mạng và đời sống xã hội. Đổi mới là sự trở về với di sản Hồ Chí Minh, rũ bỏ bệnh giáo điều, bệnh duy ý chí, bệnh quan liêu, mở ra nhận thức mới về Việt Nam và con đường cũng như động lực phát triển của dân tộc.

Kế thừa và khẳng định tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhân dân làm chủ đất nước, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi rõ: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2); “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người suốt đời phấn đấu quên mình vì đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, người có lòng tin lớn lao vào nhân dân, tin vào mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, vào trí tuệ, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam. Nhân dân làm chủ đất nước, là tác giả của thắng lợi liên tiếp trong cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và ngày nay cũng là tác giả của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Tiếp tục phát huy sức mạnh của nhân dân để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chính là sự kế tục và phát triển sáng tạo tư tưởng nhân dân làm chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình mới./.

Theo Th.s Vũ Thị Kim Yến
Khu Di tích Phủ Chủ tịch
Thu Hiền (st)

—————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.2, tr.270
(2), (11) Sđd, t.6, tr.171, 185
(3), (8), (13), (14) Sđd, t.4, tr.56, 10, 240, 240
(4), (6) Sđd, t.8, tr.276, 279-280
(5) Sđd, t.12, tr.501
(9) Sđd, t.5, tr.60
(10), (12) Sđd, t.10, tr.380, 4

bqllang.gov.vn