Rồng Thăng Long thiêu cháy “pháo đài bay”

Thất bại trong trận Điện Biên Phủ trên không đã buộc Mỹ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 18-12-1972, Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B52 điên cuồng đánh phá thủ đô Hà Nội. Quân và dân ta đã anh dũng đánh trả, làm nên 12 ngày đêm chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ trên không… Để có chiến thắng lịch sử này, bộ đội quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) đã chuẩn bị ngay từ năm 1966 với những cuộc hành quân đón bắn B52 ở Quảng Bình, Nghệ An. Song trước tất cả những điều đó là lời căn dặn của Bác Hồ. Năm 1962, nhân đồng chí Phùng Thế Tài được bổ nhiệm làm Tư lệnh Phòng không, Bác hỏi: “Chú đã biết gì về B52 chưa?”. Và Bác cười độ lượng: “Bác hỏi thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao trên 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ bây giờ, là tư lệnh bộ đội phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và nghiên cứu về loại máy bay B52 này” (*).

Người nhấn nút đầu tiên

Đó là Dương Văn Thuận, sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261 Anh hùng, người ấn nút phóng quả tên lửa đầu tiên bắn rơi một máy bay B52 ngay trên bầu trời Hà Nội trong đêm 18-12-1972, mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Cùng là lính quân chủng PKKQ, cùng nhập ngũ một năm 1965, dạo đó tôi đã nghe tiếng anh. Mũi xung kích văn công PKKQ của chúng tôi ngay hôm sau đã đến phục vụ động viên ở tiểu đoàn của anh, nhưng anh cùng tốp trắc thủ phải trực chiến, không được ra xem văn nghệ. Vậy là “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình” cho đến tận hôm nay. 30 năm đã trôi qua, Dương Văn Thuận “đã có đủ dâu và rể”, nhưng câu chuyện của anh vẫn sống động: Hôm đó là chủ nhật, 18-12, lúc 18 giờ đơn vị báo động lần thứ nhất. Trên màn hình ra đa đã thấy lao xao những tốp máy bay chiến thuật của Mỹ. Đến 20 giờ, ra đa của ta bắt được nhiều cụm nhiễu ở phía Bắc thủ đô. Chỉ huy kíp chiến đấu ra lệnh bám sát dải nhiễu hướng Bắc. Lê Xuân Linh, trắc thủ góc “tà” đọc dõng dạc mỗi lần 5 ly giác: 320 – 325 – 330… không khí im lặng nhưng sôi sục, hồi hộp căng người. Đến phương vị 3500, góc tà 340, mục tiêu 25 km, Dương Văn Thuận nhấn nút phóng. Một giây, hai giây… tên lửa nổ. Mục tiêu mất tăm… Bên ngoài, trắc thủ PA00 trên đài ăng-ten reo lớn: “Cháy rồi thủ trưởng ơi… cháy rồi…”. Trong xe chỉ huy, trắc thủ, sĩ quan điều khiển ôm nhau reo hò.

Chiến công của Tiểu đoàn 59 còn tạo nên một sự trùng hợp vi diệu: Trung đoàn của anh Thuận có mật danh “Thành Loa”, đóng trận địa ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội). Ngày xưa, nơi đây An Dương Vương dùng nỏ thần, tên tre để đánh đuổi kẻ thù, nay đơn vị của anh dùng tên lửa bắn rơi “pháo đài bay” B52 của Mỹ.

Vạch nhiễu tìm kẻ thù

Phải bắn rơi tại chỗ (trong đất liền hoặc ở ngay Hà Nội). Phải nhặt được mảnh xác B52 và bắt được phi công để có nhân chứng vật chứng về sự điên cuồng, dã man của kẻ thù. Đó là quyết tâm của lực lượng PKKQ của ta khi đó. Tuy nhiên, quyết tâm này lại chưa được những sĩ quan cố vấn tên lửa Liên Xô “thông”. Theo các cố vấn thì nguyên tắc sát thương của tên lửa là bằng mảnh, còn máy bay B52 (thân 47 mét, sải cánh 56 mét, có 8 động cơ) bay ở độ cao 10 km, có bị cháy thì nó cũng rơi lạng ra biển hoặc ngoài biên giới nước ta. Về lý thuyết, điều này có cơ sở.

Đại tá Lê Cổ, nguyên sĩ quan huấn luyện chiến đấu tên lửa, cán bộ nghiên cứu đánh B52, cho biết: Để thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh PKKQ, chúng ta phải giải quyết được hai việc, đó là chọn hướng tập kích chủ yếu của B52 đánh vào Hà Nội và phải “lách” qua vòng nhiễu để bắn khi không có tín hiệu B52 trên màn hiện sóng. Chọn hướng đúng để bố trí đội hình, phát huy hỏa lực là việc đã có đủ niềm tin qua tình báo, nghiên cứu thực địa. Nhưng còn khó khăn thứ hai là phải chứng minh được thông qua những công thức rất phức tạp có liên quan đến toán học, cơ học, điện tử. Không kể hàng đàn máy bay chiến thuật hộ tống và gây nhiễu “tiêu cực”, bản thân B52 lại có hệ thống gây nhiễu rất mạnh khiến cho trên màn hiện sóng ra đa của ta không thấy được tín hiệu B52. Phương pháp bắn của ta là: Chọn dải nhiễu dọc của chính B52 để xác định B52 và thu nhiễu nó để bắn nó. Khẩu hiệu đặt ra là vạch nhiễu tìm thù. Rất nhiều trận, khi B52 vào đến 20 km tín hiệu vẫn mờ và phải là trắc thủ giỏi mới nhìn thấy để có thể đưa đúng “tim nhiễu” mà phát hỏa. Phải có kỹ thuật thành thục để bắn trúng và lòng dũng cảm để vô hiệu được những quả tên lửa không đối đất của kẻ thù, bám theo cánh sóng ra đa, bắn vào trận địa. Cán bộ và chiến sĩ tên lửa của ta đã có đủ cả hai phẩm chất đó. Kết quả trong 12 ngày đêm của chiến dịch, tên lửa ta bắn rơi 29 chiếc B52 (trên tổng số 34 chiếc), trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ, chiếm tỉ lệ 55%. Một con số chưa có trong lịch sử chiến tranh thế giới.

Hai quả đạn diệt hai B52

Để đánh thủ đô Hà Nội, trong 12 ngày đêm (từ 18 đến 29-12-1972), Mỹ đã huy động  663 lần chiếc B52, cùng với 3.920 lượt máy bay chiến thuật. Có đêm riêng trên bầu trời Hà Nội, ta đã phóng tới hơn 100 quả tên lửa. Để có đủ đạn, ta đã mạnh dạn cải tiến lắp đạn trên xe TZM thay cho xe TCT là xe có khung cứng để đảm bảo đồng trục cho quả đạn; cấp tốc điều hai trung đoàn tên lửa 263 và 267 từ khu 4 ra Hà Nội. Yêu cầu đặt ra lúc ấy là phải hết sức tiết kiệm đạn, chỉ dành đạn để đánh B52; càng ít đạn càng phải đánh giỏi, đánh trúng. Tiểu đoàn tên lửa phòng không do đồng chí Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy là đơn vị thực hiện xuất sắc yêu cầu này. Khi B52 tiếp tục vào đánh Hà Nội, trên bệ phóng của tiểu đoàn chỉ còn có 2 quả đạn. Nhưng bằng chính hai quả đạn này, đồng chí Phiệt đã ra lệnh phóng “mổ cò” mỗi lần một quả và tiểu đoàn của anh đã bắn rơi hai chiếc B52, trong đó có một chiếc rơi ngay chợ Thả, gần Núi Đôi, Đa Phúc (Vĩnh Phúc).

Sau cái đêm mở màn chiến thắng, liên tiếp chiến công tiếp chiến công: Đêm 19, ta bắn rơi 2 chiếc B52, 5 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm 20-12: 7 chiếc B52, 8 chiếc máy bay chiến thuật. Đại tá Lương Đình Mậu, nguyên cán bộ tác chiến PKKQ, nhớ lại: “Không bao giờ tôi có thể quên được cảm xúc của mình về đêm 19-12 năm ấy. Những vệt tên lửa bay vút lên trong trời đêm Hà Nội và B52 bùng cháy như một bó đuốc; rồi tiếng của ai đó tường thuật trên đài: Rồng, Rồng Thăng Long xuất kích. Sao mà đúng quá, cảm động quá. Dương Văn Thuận nói.

Bằng chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, quân và dân ta đã đập tan ý chí xâm lược của giặc Mỹ, đập tan mưu đồ thôn tính và kéo dài cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ. Thất bại trong cuộc tập kích hủy diệt Hà Nội, đã hạ uy thế quân sự của Mỹ, là “giọt nước cuối cùng làm tràn ly”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris và phải rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Quân chủng PKKQ đã hoàn thành xuất sắc lời tiên tri của Bác Hồ, tháng 9-1967: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

(*) Những lời của Bác Hồ được dẫn từ sách Nhớ về trận Điện Biên Phủ trên không – Nhà xuất bản TPHCM,  2002

An Bình Minh
nld.com.vn

Bài 1: Cơn bão “vi rút độc” từ web, blog “đen”

Làm thất bại “Chiến lược diễn biến hòa bình”: “Thông tin ảo” và “hiểm họa thật”

Bài 1: Cơn bão “vi rút độc” từ web, blog “đen”

QĐND – Hàng trăm trang web, blog “đen” do hơn 400 tổ chức phản động trong và ngoài nước lập lên xen lẫn hàng trăm trang web, blog cá nhân với thông tin tốt – xấu, thật – giả lẫn lộn, có loại ẩn chứa âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch; có loại vô tình “nối giáo cho giặc”, “quá mù ra mưa”… Đỉnh điểm của hiểm họa từ những trang web, blog “đen” phải kể đến việc nhiều trang web đưa tin sai lệch, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước gần đây làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Thực trạng vấn đề này như thế nào, quản lý và xử lý loại “nấm độc thông tin” này ra sao? Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã điều tra, tìm hiểu, bước đầu làm rõ về hiện tượng này…

Hàng nghìn trang web, blog “đen”

Những ngày vừa qua, giữa lúc Đảng ta đang đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” và tình hình kinh tế – xã hội trong nước, thế giới đứng trước nhiều khó khăn thách thức do suy giảm kinh tế, một số trang web, blog “đen” đã lợi dụng tung ra nhiều thông tin “hậu trường” nhạy cảm. Những thông tin này liên quan đến nhiều chính sách kinh tế vĩ mô, đến vấn đề ngân hàng, tài chính và nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước nên đã tạo ra dư luận xã hội tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, suy giảm niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Nhiều tờ báo phản động hải ngoại và báo chí nước ngoài đã thi nhau “tung hứng”, suy diễn hoạt động các trang này giống như chúng được “tiếp tay” từ nội bộ, gắn với các vấn đề nhân sự cấp cao nhạy cảm. Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, đại diện cơ quan chức năng cho biết: Rồi đây, sự thật về những trang web, blog “đen” này sẽ được làm rõ nhưng thật ra, đây là hiện tượng không mới và không khó để nhận diện. Ngay từ năm 2000, khi có cái gọi là “Nghị hội liên kết người Việt tự do tại Mỹ” thì các thế lực thù địch đã xác định phải tận dụng công nghệ hiện đại để “phá vỡ sự bưng bít thông tin của cộng sản” và từ đó sự liên kết giữa phản động lưu vong với nội địa ngày càng chặt chẽ, từ chỗ chỉ qua thư tín rồi dần qua internet là chủ yếu. Theo thống kê của cơ quan chức năng thì đến nay, các tổ chức phản động bên ngoài đã lập ra hơn 400 trang web để truyền bá, phá hoại tư tưởng chống Việt Nam. Ngoài ra, còn có khoảng 380 báo, tạp chí và 60 đài phát thanh tiếng Việt cùng nhiều hãng thông tấn, tổ chức tôn giáo ở nhiều quốc gia cũng lập trang web chống phá Việt Nam. Cùng với đó, phải kể đến hàng trăm trang web, blog do một số trí thức, văn nghệ sĩ và các phần tử bất mãn trong nước lập nên lợi dụng danh nghĩa “phản biện xã hội” để xuyên tạc, kích động chống đối Đảng, Nhà nước.

Nhận diện “chiêu thức” hoạt động

Theo Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trọng Đạo, Phó cục trưởng Cục A87, hoạt động lợi dụng internet chính là một âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm để truyền bá, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Từ tìm hiểu, khảo sát của nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân, có thể khái quát một số hình thức hoạt động của các loại web, blog chứa đựng thông tin độc hại như sau:

Thứ nhất, loại blog, trang web tự xưng danh đại diện cho cộng đồng chống tham nhũng, dân oan đấu tranh đòi quyền lợi xung quanh giải phóng mặt bằng, những người đòi tự do thông tin, các nhà dân chủ,… để hoạt động như một tờ báo điện tử, đưa thông tin kích động, xuyên tạc về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Nội dung căn bản của những trang này vẫn là phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bôi nhọ hình ảnh, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, tung tin về sự chia rẽ, phe phái, xung đột trong nội bộ Đảng, Nhà nước, Quốc hội; kích động khiếu kiện đất đai, chính sách dân tộc, tôn giáo… “Bọn phản động lưu vong triệt để lợi dụng internet lập nên các trang web, blog nhưng chúng “lập lờ” thông tin thật giả, tốt xấu nên có khi người dân rất khó biết có phải trang phản động hay không, chỉ cơ quan an ninh mới biết rõ. Chính vì thủ đoạn dùng 50-70% thông tin đúng sự thật nên nhiều người dễ dàng bị lôi cuốn theo chúng ” – Đại diện cơ quan chức năng cho biết. Đến nay, theo điều tra của cơ quan chức năng, đã có cơ sở cho thấy, tổ chức phản động lưu vong Việt Tân là một trong những nơi sản sinh ra nhiều web, blog phản động. Hiện nay, tổ chức này đang chuẩn bị “đại hội” nên càng ráo riết lợi dụng web, blog để “diễu võ dương oai”. Còn một trang mạng khác gần đây đang được tung hô đình đám, theo cơ quan chức năng đây cũng là sản phẩm của phản động lưu vong chứ không phải có nguồn gốc từ trong nước như thông tin suy đoán. Có trang web do tổ chức phản động lưu vong đứng sau chỉ trong 3 tháng qua đã đăng hàng trăm tin, bài xuyên tạc. Những âm mưu ấy là không mới, phản động lưu vong đã dùng “chiêu” này từ lâu. Gần đây, chúng cho “kích nổ” dồn dập hơn nhằm phá hoại việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 của ta.

Thứ hai, cũng có không ít trang đi theo hướng “chuyên đề” như trang của ông N.X.C tự xưng là “chuyên gia kinh tế”, “Thủ tướng tương lai”, “nhà tiên tri tài chính”. Trang này chủ yếu đưa thông tin liên quan đến tình hình kinh tế nhưng thực chất là xuyên tạc, phá hoại về kinh tế. “Nhà tiên tri” này đưa ra nhiều dự báo sai, lạc lõng so với thực tế, giống như một “nhà kinh tế… hoang tưởng” mà một số người tin theo, làm theo đã bị thiệt hại nghiêm trọng. Lại có trang lượm lặt thông tin từ báo chí Việt Nam và nước ngoài, thậm chí cả các blog kèm theo những bình luận, suy diễn thiên lệch…

Thứ ba, phải kể đến loại web, blog của một số nhân sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu, trong đó có cả một số người đang công tác (hoặc đã từng công tác) tại các cơ quan Nhà nước nhưng thường xuyên đăng tải, phát tán thông tin tốt xấu lẫn lộn, có nhiều tin bài không chính xác, thậm chí sai trái, phản động…Hiện nay, có một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người từng là cán bộ quản lý cấp cao viết bài, phát tán nội dung trái với đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước và bị lôi kéo, lợi dụng. Cùng với đó phải kể đến một số trí thức, văn nghệ sĩ và thành phần bất mãn, chống đối lợi dụng danh nghĩa “phản biện xã hội” để phê phán, phản đối chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong giải quyết quan hệ Việt – Trung ở Biển Đông, dự án Bô-xit Tây Nguyên, thổi phồng, bôi đen những tiêu cực xã hội… Đáng chú ý là những trang web, blog này được các thế lực thù địch phản động thường xuyên lấy lại tin bài, thậm chí “tài trợ” để tạo dựng ngọn cờ, tạo dư luận, tập hợp lực lượng chống đối. Theo Cục A87, điển hình như vụ việc xảy ra ở Tiên Lãng – Hải Phòng, một đối tượng thông qua blog cá nhân đã viết hàng trăm tin bài sau đó tập hợp xin xuất bản cuốn sách “Tiên Lãng” nhằm phê phán, kích động thiếu căn cứ.

Thứ tư, các thế lực thù địch và cực đoan đang triệt để lợi dụng các diễn đàn, mạng xã hội, nhiều nhất là trên facebook, youtube là những mạng có khả năng phát tán nhanh, tác động mạnh đến nhiều tầng lớp trong xã hội để chống phá, kêu gọi biểu tình, tán phát tài liệu phản động, hình ảnh, phim, clip bôi nhọ, xuyên tạc…

Thứ năm, xuất hiện nhiều trang web, blog có máy chủ đặt tại nước ngoài mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước tuy chưa có nhiều thông tin sai trái nhưng đều không phải là trang tin chính thức, có thể gây nhiễu loạn thông tin và ẩn chứa những động cơ đen tối. Những trang này số lượng lên tới hàng trăm, riêng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị mỗi đồng chí có tới 4-5 trang bị mạo tên, trang nào cũng rất nhiều tin, bài, hình ảnh, clip cập nhật, lượm lặt từ báo chí và nhiều nguồn khác nhau. Đồng chí Nguyễn Bá Thanh, Bí thư thành ủy Đà Nẵng là một trong những nạn nhân của những trang tin giả mạo này đã phải chính thức lên tiếng trên báo chí nói rõ sự thật. Cơ quan chức năng cho biết, đứng đằng sau những trang web mạo danh này, không ai khác, vẫn là phản động lưu vong.

Đánh giá về tác hại nguy hiểm của các trang web, blog phản động, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho rằng: “Việc tiếp tục phát tán thông tin như vậy vào Việt Nam là hết sức nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng, gây hoài nghi trong nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, gây tác động rất xấu trong dư luận xã hội”.

(Còn nữa)

NGUYÊN MINH, NGUYỄN HÒA, NGỌC HƯNG
qdnd.vn

Công bố nhiều hiện vật về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Công bố nhiều hiện vật về chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”

Hàng chục hiện vật lần đầu tiên được công bố về 12 ngày đêm Mỹ đưa B.52 đánh phá Hà Nội năm 1972 đã ra mắt người xem tại Bảo tàng Lịch sử quân sự VN, trong triển lãm chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khai mạc chiều 18.12.

Ở triển lãm, những người lớn tuổi sẽ tìm lại được ký ức của chính mình trong những ngày Hà Nội đau thương và anh dũng, còn thế hệ trẻ sẽ lần đầu tiên được tận mặt biết thế nào là chiếc mũ rơm, những mảnh xác máy bay B.52 hay những quả đạn cối từng hạ gục nhiều pháo đài bay của Mỹ.

Triển lãm giới thiệu gần 300 hiện vật, hình ảnh về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Tại triển lãm, có những tài liệu hiện vật lần đầu tiên được công bố. Đó là động cơ máy bay B.52 rơi xuống làng hoa Ngọc Hà; mảnh xác máy bay B.52 đầu tiên bị bắn rơi trên cánh đồng Chuôm (huyện Sóc Sơn, Hà Nội); những hiện vật thu được của phi công lái B.52 như cờ xin ăn, súng bắn pháo hiệu, giày, mũ phi công, hay những hiện vật còn rõ tên của phi công Mỹ, như chiếc thẻ ngân hàng mang tên Charles Brown, một chiếc bật lửa khắc tên H.K. Wilson.

Những mất mát đau thương của người dân Hà Nội cũng được nhắc lại – là chiếc cân trẻ em của trạm xá xã Uy Nỗ, những chiếc áo trẻ em, những chiếc nồi quấy bột ở phố Khâm Thiên… Nhưng những mất mát đó cũng tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Hà Nội vùng lên. Có nhiều hiện vật gắn với tên tuổi những người trực tiếp tham gia chiến đấu, như giản đồ chiến đấu của Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Giắng – Binh chủng Radar, bảng bắn của đại đội pháo 100mm khu Đống Đa sử dụng 8 viên đạn bắn rơi một chiếc F.8; nhóm hiện vật của anh hùng Nguyễn Văn Phiệt – tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 – chỉ huy đơn vị trong 10 phút bắn rơi 2 chiếc B.52 đêm 20.12.1972.

Theo laodong.com.vn

Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Bài 1: Đòn cân não của Mỹ

Lưới lửa của Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh: T.LLưới lửa của Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh: T.L

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành thành ngữ tự hào của dân tộc sau trận chiến trên bầu trời Hà Nội do đế quốc Mỹ phát động với âm mưu muốn “Hà Nội phải quỳ gối”. Lùi lại 40 năm, việc nhìn nhận cuộc chiến lịch sử này liệu có gì thay đổi? Liệu có bí mật gì mà bây giờ mới được nhắc tới?

Nếu các nhân chứng lịch sử bây giờ mà không hé lộ, thì càng về sau sẽ càng khó, bởi sự khắc nghiệt của thời gian, họ sẽ lần lượt ra đi. Trong chuyên đề này, chúng tôi sẽ cố gắng trả lời phần nào đó cho một số câu hỏi được đặt ra.

Bài 1: Đòn cân não của Mỹ

Ngày 14.12.1972,  tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Nixon khẳng định: “Sẽ sử dụng B.52 rải thảm bom vào Hà Nội để vừa hủy diệt vừa uy hiếp và bắt Hà Nội phải quỳ gối xin ký hiệp định do ta đưa ra”. Nhưng cuối cùng, thay vì “Hà Nội phải quỳ gối…”, chính đế quốc Mỹ đã phải chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản mà chúng ta đưa ra.

Nhận định thiên tài của Bác Hồ

Cuối tháng 11.1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – khẳng định: Âm mưu của đế quốc Mỹ cho B.52 đánh thủ đô Hà Nội là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải cương quyết đánh thắng chúng trên bầu trời thủ đô.

Điều đặc biệt là, không phải đến những tháng cuối năm 1972 nóng bỏng ở trên chiến trường cũng như ở Hội nghị Paris, mà ngay từ đầu xuân 1968, Bác Hồ đã có những nhận định thiên tài. Lúc triệu tập đồng chí Phùng Thế Tài – Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN và đồng chí Đặng Tính – Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng PKKQ – đến báo cáo tình hình, Bác đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Nixon: Thế giới nghĩ tôi là người điên rồ cũng được 

Lật lọng sau khi tái đắc cử, ngày 14.12.1972, Tổng thống Nixon đã phê chuẩn kế hoạch ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác của Bắc Việt Nam do Bộ Quốc phòng Mỹ đệ trình.

Nixon đặt tên cho chiến dịch ném bom lần này là Linebacker II. Làm việc với các phụ tá, ông ta cũng giải thích tại sao vẫn đặt tên là Linebacker: “Nếu Linebacker I chỉ sử dụng máy bay chiến thuật để dằn mặt Hà Nội, thì Linebacker II sẽ sử dụng B.52 rải thảm bom vào Hà Nội để vừa hủy diệt, vừa uy hiếp và bắt Hà Nội phải quỳ gối xin ký hiệp định do ta đưa ra”.

Tối ngày 18.12, sau khi ra lệnh thực hiện chiến dịch Linebacker II, Nixon đã mời một số phụ tá thân cận lên phòng làm việc ở tầng 2 của Nhà Trắng để giải thích tại sao lại cho B.52 đánh Hà Nội và Hải Phòng. Đồng thời ông ta cũng nói thẳng: Tôi không quan tâm nếu thế giới nghĩ tôi là người điên rồ khi cho ném bom và thả bom mìn trở lại. Nếu họ nghĩ như vậy thì càng tốt. Người Nga và người Trung Quốc  có thể nghĩ rằng họ đang bắt tay với người điên. Điều này sẽ tác động lớn đến Hà Nội. Họ phải khuyên bảo đồng minh của họ ở Hà Nội. Nếu không muốn Hà Nội của họ bị hủy diệt bởi các trận mưa bom, thì phải chịu nhượng bộ với người điên.

Chính vì là “người điên”, tại phòng bầu dục, sau khi xem bản thảo bức công hàm “tối hậu thư” gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng do Henry Kissinger soạn thảo, Nixon ghi thêm một câu nối tiếp vào cuối bản thảo: “Đây là cơ hội cuối cùng dành cho Hà Nội để được hưởng hòa bình”.

14h (giờ Paris) ngày 18.12, Đại sứ Võ Văn Sung tại Cộng hòa Pháp nhận được công hàm này. Đây thực chất là một tối hậu thư với lời lẽ rất ngạo mạn và đe dọa. Phía Mỹ hẹn cố vấn Lê Đức Thọ phải quay lại Paris để ký hiệp định do Mỹ soạn thảo lại. Chúng ta đã không trả lời và chấp nhận sự thách thức của Mỹ trên mặt trận quân sự.

12h ngày 18.12 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Nixon với tư cách là tổng tư lệnh quân đội đã ấn nút đỏ, chiến dịch Linebacker II bắt đầu. Ngay sau đó, máy bay B.52 cùng các máy bay tiêm kích từ các ngả bắt đầu hướng về Hà Nội. Cuộc chiến 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội bắt đầu.

* Tham khảo tài liệu của Ban Tuyên giáo và cuốn “Vòng cung lửa trên bầu trời Hà Nội”.

Đầu tháng 10.1972, ta đưa ra dự thảo hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và phía Mỹ chấp thuận bản dự thảo này. Nhưng ngay sau khi tái cử, Nixon đã trắng trợn lật lọng, đòi ta phải sửa chữa 126 điểm mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. Kissinger tuyên bố ngừng đàm phán vô thời hạn. Ngày 17.12, Tổng thống Nixon ra lệnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc với tên gọi “Chiến dịch Linebacker II”.

Theo laodong.com.vn

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Trận quyết chiến lịch sử

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Trận quyết chiến lịch sửXác B.52 trên hồ Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội.

“Chiến thắng B.52 trên bầu trời thủ đô Hà Nội đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, thật sự là một “Điện Biên Phủ trên không” – Thượng tướng Nguyễn Thành Cung – Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo tại hội thảo cấp nhà nước về “Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” ngày 28.11 tại Hà Nội – đã nhấn mạnh như vậy trong bài phát biểu của mình.

Dân Mỹ nghi ngờ sức khỏe tinh thần của tổng thống

Phát biểu tham luận tại hội nghị, ông Hà Đăng (nguyên là Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị 4 bên ở Hội nghị Paris, nguyên UVTƯ Đảng, Trưởng ban TTVH TƯ) cho biết: Sau khi ký kết dự thảo hiệp định cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 20.10.1972, dự thảo này đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản của ta. Nhưng sau khi tái cử, Tổng thống Mỹ R.Nixon đã lật lọng, đòi thay đổi cơ bản những điều đã ký kết.

Ngày 16.12, cố vấn H.Kissinger đột nhiên họp báo và đổ lỗi cho phía ta kéo dài đàm phán. Ngày 18.12, khi cố vấn Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà, máy bay chiến lược B.52 của Mỹ đã ầm ầm giội bom xuống Hà Nội. Còn kết cục, cả thế giới đã biết…

Báo chí Mỹ hồi đó viết: “Hàng triệu người Mỹ cúi đầu vì xấu hổ và nghi ngờ sức khỏe tinh thần của tổng thống”. Và rằng: “Đây là một hành động khủng bố vô đạo, làm hoen ố uy danh nước Mỹ”; rằng ”các cuộc ném bom này là kiểu chiến tranh nổi khùng, tổng thống là một bạo chúa lên cơn điên”.

Ông Hà Đăng cho biết thêm, trong hồi ký của mình, H.Kissinger kể lại, trước khi trở lại Paris để nối lại đàm phán, ông ta đã được “Tổng thống R.Nixon nhấn mạnh, tôi phải chấp nhận một giải pháp, dù điều kiện đối phương nêu ra như thế nào đi nữa”.

Và cuối cùng, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vào ngày 27.1.1973. Nội dung này không khác mấy so với hiệp định ký tháng 10.1972.

Tên lửa, không quân của ta gặp không ít khó khăn, nhưng…

Tham luận của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt (nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261, Sư đoàn 361) đề cập thẳng những khó khăn ban đầu: Đó là tại sao ta đánh không thắng, bắn không trúng, không rơi, B.52 vào đánh cũng không rơi được chiếc nào?

Sau khi rút kinh nghiệm, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết: Con người sử dụng thành thục rồi, đòi hỏi thế bố trí phải vững chắc, liên hoàn; trên một đường bay địch vào có nhiều tiểu đoàn cùng đánh vào một điểm, một đoạn đường bay. Như vậy lực lượng ta tuy ít hóa nhiều. Đây là nghệ thuật bố trí đội hình chiến đấu của chiến dịch phòng không năm 1972. Và kết quả, bộ đội tên lửa phòng không trong chiến dịch này đã đánh 192 trận, sử dụng 334 quả đạn, tiêu diệt 36/81 máy bay các loại, trong đó có 29 máy bay B.52 (98,5%).

Nói về Binh chủng Không quân, Trung tướng – TS Phương Minh Hòa (UV Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân) đã không né tránh những khó khăn, mất mát: Trong 12 ngày đêm đánh B.52, ngoài những khó khăn bị máy bay tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất- hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường, kích kể cả B.52. Cất- hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy… (Trong 12 ngày đêm chúng ta mất 6 máy bay, trong đó  4 chiếc bị hỏng là do hạ cánh).

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị,…

Qua nhiều lần rút kinh nghiệm, khi tiếp cận B.52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất có hiệu quả và đã thành công trong 2 trận, bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B.52 trong 2 đêm 27 – 28.12.1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Xuất xứ của thành ngữ: “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”
“Khi còn ở Hội nghị Paris, đọc thấy báo chí nước ngoài thường nói cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi rất tự hào, thích thú. Sau này chúng tôi mới biết, tại căn hầm trú ẩn của Báo Nhân Dân ở 71 Hàng Trống, nhà báo Thép Mới – Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân- đã sáng tạo nên. Cụ thể,  sau đêm chiến thắng rực rỡ 26.12.1972, Báo Nhân Dân ngày 28.12.1972 đã ra lời kêu gọi bạn đọc viết cho mục “Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ”; sau đó được phát triển thành “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

(phát biểu của ông Hà Đăng)

Theo laodong.com.vn

Lại kể chuyện giặc lái B-52

QĐND – Đến thăm nhà báo Lê Kim vào một ngày cuối tháng 12, tôi được nghe câu chuyện về những giặc lái B-52 đã nổi tiếng từ 40 năm về trước của ông. Câu chuyện bắt đầu khi ông còn công tác tại tổ quốc tế, phòng Thời sự, Báo Quân đội nhân dân. Dù là một nhà báo công tác lâu năm trong nghề, lại cũng từng tham gia hầu hết các chiến dịch lớn và ác liệt, trải qua những thăng trầm lịch sử, nhưng đối với nhà báo Lê Kim, câu chuyện về những viên phi công B-52 Mỹ ở Nhà tù Hỏa Lò vẫn có một dấu ấn đặc biệt khó quên trong suốt cả cuộc đời ông. “Cho đến giờ mà tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày đầu tiên tôi bước chân vào “thăm” những “vị khách” tại Hỏa Lò.

Nhà báo Lê Kim (ngoài cùng, bên phải) trong buổi gặp gỡ tại Báo Quân đội nhân dân ngày 23-12 vừa qua.

Sau khi nghe giới thiệu sơ qua về thành phần “khách” trong trại, ông được đưa cho danh sách ghi tên những lính Mỹ vừa bị đưa vào đây. Lướt qua cuốn sổ với những cột dài dằng dặc họ tên, số lính, chức vụ…, ông đã để ý đến một cái tên rất “đặc biệt”: Ri-sớt Giôn-xơn, bị bắn rơi và bắt sống đêm 18-12-1972. Và câu chuyện về giặc lái B-52 của nhà báo Lê Kim bắt đầu như thế đó.

Ri-sớt Giôn-xơn là một viên sĩ quan Mỹ cao gần 2m, mặt to, tai dài, mắt sắc, tóc thưa màu nâu đen điểm những sợi bạc, khoảng chừng 40 tuổi là thiếu tá thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, số lính 561-54-4696. Hắn giữ chức vụ hoa tiêu ra-đa trên chiếc máy bay ném bom B-52 thuộc đơn vị ném bom số 72, liên đội máy bay ném bom chiến lược số 6 đóng tại căn cứ không quân chiến lược Andersen trên đảo Gu-am. Sau cái đêm 18-12-1972 bị bắt ở Vĩnh Phú cho đến ngày gặp nhà báo Lê Kim, Ri-sớt đã ngồi gần 1 tháng trong trại giam Hỏa Lò. Thời gian không dài nhưng đủ để Ri-sớt thấy được thái độ đối xử độ lượng của các đồng chí trong trại và từ đó bước đầu hiểu chính sách khoan hồng nhân đạo của Chính phủ ta. Có lẽ cũng vì vậy, sau vài phút đầu còn thiếu tự nhiên, dần dà hắn đã cởi mở, không e dè mà kể về những bước thăng trầm trong chuyến bay định mệnh đêm 17-12-1972 của hắn.

Đêm đầu tiên trong “chiến dịch tập kích dữ dội bằng không quân chiến lược” do đích thân Tổng thống Mỹ kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ Ri-sớt Ních-xơn ra lệnh, chiếc B-52G của Ri-sớt và đồng bọn bay vào vùng trời miền Bắc nước ta. Theo Ri-sớt thú nhận, chức vụ hoa tiêu ra-đa của hắn không khác gì hơn là cái nghề bấm nút, trút bom rải thảm xuống những mục tiêu đã được cấp trên ghi sẵn bằng những dấu hiệu hình tam giác trên tấm bản đồ bay, căn cứ vào tọa độ đã được biết trước và sau khi đã tính toán cho khớp với đường bay, tốc độ bay và vị trí của chiếc máy bay ném bom chiến lược đang bay tới mục tiêu. Nhưng khi chiếc “pháo đài bay” B-52G chở Ri-sớt và đồng bọn lặc lè vác gần 100 quả bom loại gần 230kg, ký hiệu 117 chưa bay tới mục tiêu và cũng chưa kịp trút bom thì nó đã bị bắn rơi vì lưới lửa phòng không hiệu nghiệm của miền Bắc Việt Nam.

Nói về cảm tưởng của mình trước khi xuất phát, Ri-sớt chốt một câu là: Sợ. Hắn giải thích, sợ là lẽ dĩ nhiên bởi hắn đã từng hoạt động khá lâu năm ở khu vực Đông Nam Á nên cũng đã từng nhiều lần được nghe những thằng bạn chết hụt trở về, lắc đầu, thè lưỡi bàn tán xôn xao về cái “lưới lửa phòng không dày đặc và hiện đại ở vùng châu thổ sông Hồng”. Do vậy, cái nỗi phấp phỏng lo sợ của hắn là hợp lý.

Đối với những lính Mỹ đang ngồi trong trại như Ri-sớt Giôn-xơn hay Uy-li-am Oan-tơ Con-li, gọi tắt là Bin, sĩ quan điện tử trên chiếc B-52 bị bắn rơi ngày 22-12-1972, thì việc tin vào sức bảo vệ của B-52 có lẽ chỉ là quá khứ. Uy-li-am cho biết, trước kia, hắn cũng tin là những thiết bị điện tử có thể bảo vệ được cho chiếc B-52 chống lại sự tiến công của đối phương. Nhưng khi có chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam thì hắn không thể nào tin B-52 thuộc loại bất khả xâm phạm được nữa.

Ngoài Ri-sớt Giôn-xơn, Uy-li-am Oan-tơ Con-li, nhà báo Lê Kim cũng đã tiếp xúc và thu thập tin tức từ rất nhiều “vị khách” khác nữa. Phần lớn trong số lính Mỹ “nằm” ở Hin-tơn Hà Nội đều không tin những thứ đồ “trang thiết bị hiện đại” mà quân đội Mỹ cấp có thể bảo vệ tính mạng. Thế nên, các trang bị lủng củng, lỉnh kỉnh, lắm thứ nhiều loại của các phi công Mỹ như lá cờ xin ăn và cuốn cẩm nang “Tự cứu mình” đều được coi như “của nợ”. Viên trung úy Pôn Lu-i Gren-giơ mỉa mai nhận xét: “Có khi chết lây vì những thứ của nợ này cũng nên”. Và anh ta chốt một câu rằng: “Cách tự cứu mình tốt nhất là… ra hàng đối phương”.

Đối với một nhà báo như Lê Kim, việc tiếp xúc và trò chuyện khai thác thông tin từ những lính Mỹ bị bắt tại Nhà tù Hỏa Lò thật sự là một trải nghiệm thú vị.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Hoãn đám cưới để bảo vệ Hà Nội

QĐND – Cây đa đại thụ ở xã Hòa Hợp, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) từ lâu vốn được coi là biểu tượng tinh thần cách mạng của người dân địa phương. Cây đa đại thụ gắn liền với mọi hoạt động của người dân Hòa Hợp cả trong thời chiến và thời bình. Với lão dân quân Hoàng Thị Bướm thì cây đa còn chứng kiến những giây phút hạnh phúc nhất trong đời mình.

Chuyện là, ngày ấy, đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm thuộc Trung đội dân quân xã Hòa Hợp đã ấn định ngày cưới vào 23-12-1972. Mọi người trong trung đội đã phân công mỗi người một việc lo toan ngày vui trăm năm hạnh phúc của đôi “trai tài, gái sắc”. Thế nhưng, khuya 22-12-1972, cấp trên thông báo, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội. Và 21 giờ 15 phút đêm đó, tại cao điểm 833 đồi Bù, nơi Trung đội dân quân Hòa Hợp trực chiến nghe tiếng nổ rất to, kèm theo ánh sáng chớp lóe kéo dài lao với tốc độ cao xuống khu vực. Mọi người nhận định, máy bay của địch bị trúng đạn. Và thế là Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm “quyết định” hoãn lại việc tổ chức đám cưới theo dự định.

Trung đội dân quân Hòa Hợp bắt tên giặc lái Mỹ ngày 22- 12-1972. Ảnh chụp lại

Trong đêm tối, Trung đội dân quân Hòa Hợp triển khai ngay đội hình bí mật tiếp cận về khu vực máy bay rơi. Sau một hồi tìm kiếm, trung đội dân quân phát hiện phần đầu của chiếc máy bay nên nhận định: Giặc lái chắc vẫn quanh quẩn đâu đây. Sau một ngày hai đêm truy lùng, trung đội dân quân đã tìm thấy hai tên giặc lái trong bộ dạng tiều tụy, đói khát. Nữ dân quân Hoàng Thị Bướm và Hoàng Thị Xô được giao nhiệm vụ dẫn giải hai tên phi công về trụ sở xã Hòa Hợp. Chú rể Vũ Văn Chang đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, còn cô dâu Hoàng Thị Bướm trở thành một trong những tấm gương dũng cảm, mưu trí, bám trận địa đánh địch. Sau Chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới gốc cây đa đại thụ của xã, Trung đội dân quân Hòa Hợp tổ chức lễ đón mừng chiến thắng; đồng thời chứng kiến đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm kết duyên nghĩa vợ-chồng.

Sau này, Trung đội dân quân Hòa Hợp được biết: Chiếc máy bay F111 bị rơi tại đồi Bù là do các chiến sĩ tự vệ Công ty cơ khí Mai Động (Hà Nội) bắn trúng khi chúng ngông cuồng ném bom, bắn phá Hà Nội.

Bài và ảnh: THANH NGÂN
qdnd.vn

Nữ chiến sĩ và buổi trực đầu tiên

QĐND – Mười bảy tuổi, chị Nguyễn Thị Hường (Thanh Bình, Thanh Hà, Hải Dương) nhập ngũ vào Đoàn Thông tin Sóng Điện (Trung đoàn 26, Quân chủng Phòng không-Không quân). Tròn một tuổi quân, chị được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ chính thức đảm nhiệm ca trực chính. Ngày đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính lại phụ trách mạng tiêu đồ 292 với chị thật nhiều lo lắng. Đó là ca trực tối 18-12-1972. 18 giờ 30 phút, chị nhận tín hiệu đài bạn báo về máy bay địch đang bay vào Hà Nội. Mọi lần, tín hiệu đài bạn thường ngân vang, trong trẻo; còn lần này sao có vẻ dồn dập, khẩn trương đến khác lạ. Tiếng rào rào nhiễu của máy thu mỗi lúc một gia tăng, tín hiệu đài bạn chập chờn lúc được, lúc mất. Chị thấy có nhiều điểm rất khác lạ so với các lần trước đây. Linh tính như mách bảo chị có vấn đề gì đó rất hệ trọng. Bằng kiến thức và kinh nghiệm đã học, chị bình tĩnh tập trung nghe tín hiệu từ đài bạn một cách chuẩn xác nhất. Đang tập trung nghe để đánh dấu đường bay trên bản đồ thì chị nhận tín hiệu tình báo từ đài bạn phát về có mục tiêu. Chị nhanh tay đánh dấu vị trí của mục tiêu lên tấm bản đồ mi ca và báo cáo chỉ huy: Máy bay B-52 đang bay vào Hà Nội. Ngay lập tức, sở chỉ huy báo động toàn đơn vị vào cấp I, không khí tại sở chỉ huy bỗng chốc nhộn nhịp, khẩn trương và rất trang nghiêm…

Chiến sĩ thông tin Nguyễn Thị Hường (Ảnh chụp lại tại Phòng truyền thống Lữ đoàn 26).

Máy bay đến nhiều, tung nhiễu dày đặc, tín hiệu chuyển về dồn dập, chập chờn. Một tay chị kẹp 2 bút chì để đánh dấu tọa độ đường bay, một tay áp chặt tai nghe để nghe rõ. Sau khi mạng của chị phát hiện được tốp máy bay B-52 đầu tiên thì các mạng khác sau đó cũng bắt được tín hiệu tương tự. Lúc này, tín hiệu tình báo kéo đến nhiều, đánh dấu không kịp, tốp này mất, tốp khác xuất hiện, chúng dày đặc tạo nên những đường ngoằn nghèo, đan quyện vào nhau, lúc chụm vào, lúc tách ra. Bàn tay chị di chiếc bút chì thoăn thoắt. Một đồng chí cán bộ trong sở chỉ huy vỗ nhẹ vào vai chị tỏ vẻ hài lòng làm chị càng vững tin hơn. Phiên trực lẽ ra kết thúc lúc 22 giờ, nhưng hơn 4 giờ sáng ngày 19-12 các chị mới được lệnh thay ca. Như vậy, cả ca trực hôm ấy kéo dài hơn 8 giờ, gấp đôi ngày thường. Rời khỏi sở chỉ huy, người nào cũng thấm mệt, song ai cũng hồ hởi, phấn khởi khi được chỉ huy đơn vị nhận xét: Ca trực đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong buổi đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính chị đã thu tín hiệu chính xác tốp máy bay B-52 đầu tiên bay vào Hà Nội, góp phần giúp thủ trưởng các cấp chỉ huy kịp thời các lực lượng phòng không – không quân đánh trả máy bay địch.

Nhớ lại những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ, nhất là 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, chị nói: “Đó là những năm tháng đẹp nhất của mình vì đã hiến dâng tuổi trẻ vào chiến thắng chung của dân tộc, cùng quân dân Thủ đô viết nên bản hùng ca “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

QUÝ HOÀNG-XUÂN THÚ
qdnd.vn

Hạ gục B-52

40 năm trôi qua, ký ức trận đánh thắng B-52 tại trận địa Đại Sơn, Đô Lương (Nghệ An) của Đại đội 1, Tiểu đoàn tên lửa 43, Trung đoàn 263 vẫn lưu dấu sâu đậm trong cuộc đời làm báo của tôi. Hôm ấy, trời rét cắt da, cắt thịt, từ nơi sơ tán Báo Nghệ An, với giấy giới thiệu phóng viên quân sự do Cục Chính trị Quân khu 4 cấp, tôi phóng xe đạp xuống xã Đại Sơn. Nhận ra “nhà báo quen” từ hồi trận địa phục kích ở Nghi Ân, ở Rạng, Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Phú Nguyễn vắn tắt: “Bọn mình từ Bãi Vọt (Can Lộc, Hà Tĩnh) vừa cơ động về lúc 3 giờ sáng. Vượt phà Bến Thủy suýt “ăn” bom của tụi cường kích tọa độ. Cậu gặp may rồi. Đêm nay sẽ đánh lũ hung thần “pháo đài bay” B-52”.

Nghe tôi kể từ đầu năm đến giờ, không quân Mỹ đánh phá trở lại miền Bắc, Nghệ An phải gồng mình hứng chịu gần 2000 lượt tập kích bằng máy bay chiến lược, chiến thuật, hơn 1000 người dân bị bom, đạn của địch cướp đi mạng sống, anh Hoàng Phú Nguyễn chùng giọng chia sẻ: “Cả Trung đoàn 263 đều mang ơn tấm lòng đùm bọc, xả thân giúp đỡ của người dân quê Bác. Cậu thấy rồi đấy! Cả tiểu đoàn biên chế khối lượng lớn thiết bị, khí tài điện tử, quang học, đòi hỏi chính xác tuyệt đối trong mọi tình huống, vì vậy, mỗi khi mở đường, xây dựng trận địa phải cần đến hàng nghìn nhân công đào, đắp, ngụy trang. Ngay trận địa cơ động dã chiến ở Đại Sơn này nếu không có hai trung đoàn dân quân hợp sức của nhân dân địa phương thì làm sao đảm bảo yếu tố “bí mật, bất ngờ” trận phục kích B-52 đêm nay”.

Tiểu đoàn 43 kiểm tra tên lửa trước trận đánh đêm 22-11-1972. Ảnh chụp lại

Chợt tín hiệu báo động chuyển trạng thái SSCĐ từ xe chỉ huy vang lên, gấp gáp, hối thúc. Tiểu đoàn 43 nhận được thông số trinh sát kỹ thuật từ Trạm ra-đa 45 đặt ở Đồi Si cho biết, có 3 tốp B-52 bay vào vùng trời Nghệ An từ hướng Tây Nam, cách trận địa 45km. Đại đội trưởng Đại đội 1 là sĩ quan điều khiển Tống Ngọc Dũng trực tiếp chỉ huy kíp trực số 1, lệnh cho các trắc thủ góc tà, góc phương vị, cự ly mở thiết bị ViCo kiểm soát mục tiêu trên màn hiện sóng. Chỉ huy đơn vị vừa động viên, vừa nhắc nhở bộ đội phải tập trung trí tuệ, bản lĩnh, nhận rõ tín hiệu B-52, bám sát mục tiêu, chớp thời cơ phóng đạn tiêu diệt.

Trên màn hiện sóng, tín hiệu B-52 từ cự ly 45km rút ngắn đường bay xuống 30km, rồi 26km. Giữa màn nhiễu dày đặc của nhiều loại máy bay như B52, F111-A, F105-D, nhưng với phương pháp kiểm soát bên sườn, kíp trắc thủ Đại đội 1 vẫn nhận ra nhiễu B-52 trong hướng bay ổn định với tốc độ 915km/giờ. Thời cơ đến, Tiểu đoàn trưởng Thôi Ba phát lệnh mở máy cao tần P-35, sẵn sàng dẫn tên lửa tiếp cận mục tiêu. Đây là nghệ thuật phát sóng cao tần điều khiển tên lửa dũng cảm, đúng lúc, tránh được tên lửa Sơ-rai của máy bay Mỹ bắn trúng trận địa tên lửa của ta theo bức sóng cao tần P-35. Tiếng thông báo cự ly mục tiêu vào vùng hỏa lực mỗi lúc một gấp gáp; “Hai mươi sáu! Hai mươi lăm! Hai mươi bốn!”. Đúng phút quyết định ấy, Tiểu đoàn trưởng Thôi Ba dõng dạc lệnh cho Tống Ngọc Dũng ấn nút phóng quả tên lửa đầu tiên, giây lát sau phóng tiếp quả thứ hai mà sau này anh gọi là “cách đánh bồi, đánh cho gục hẳn”. Cả trận địa rạo rực khi mục tiêu B-52 trên màn hiện sóng trong xe chỉ huy bị xóa. Hai quả tên lửa SAM-2 gặp mục tiêu ở cự ly 24km đã nổ tung xác pháo, xóa sổ đợt tập kích bằng máy bay B-52 vào vùng đất Nghệ An.

Bài và ảnh: VĂN HIỀN
qdnd.vn

Người chỉ huy pháo 100mm hạ gục “pháo đài bay”

QĐND – Tại lễ phát động thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không” của Lữ đoàn 297 (Quân khu 2), tôi gặp ông Nguyễn Công Tuấn, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 5 pháo phòng không 100mm, Trung đoàn 256, người đã phất cờ lệnh bắn máy bay B-52. Ông kể cho chúng tôi nghe về trận chiến đấu bắn rơi B-52 mà ông không thể nào quên.

Từ miền quê lúa Thái Bình, tròn 18 tuổi, ông vào quân ngũ với quyết tâm ra trận để góp sức mình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Qua 14 năm tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời thành phố Nam Định, Hải Phòng, Bắc Giang và Hà Nội, Nguyễn Công Tuấn lần lượt đảm nhiệm các cương vị: Chiến sĩ, trung đội trưởng, đại đội trưởng. Tháng 9-1972, Trung đoàn 256, Quân khu Việt Bắc được lệnh cấp tốc nhận 18 khẩu pháo 100mm đã qua sử dụng nhiều năm về biên chế thành ba đại đội hỏa lực, sẵn sàng đối phó với máy bay B-52 Mỹ. Quân chủng Phòng không-Không quân tăng cường một số cán bộ cùng 200 chiến sĩ mới của huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn Nguyễn Công Tuấn được cấp trên chọn là một trong ba đại đội trưởng pháo 100mm sẵn sàng đánh B-52 bảo vệ bầu trời Thái Nguyên-Việt Bắc.

Ông Nguyễn Công Tuấn (ngoài cùng bên trái) kể chuyện bắn máy bay B-52 bằng pháo 100mm với chiến sĩ Lữ đoàn 297 (Quân khu 2).

Đại đội của Nguyễn Công Tuấn được giao nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới vừa được tăng cường để làm chủ vũ khí trang bị. Không quản ngày đêm, Đại đội trưởng Tuấn đem tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, cùng các cán bộ huấn luyện chiến sĩ thành những pháo thủ giỏi. Cùng với Chính trị viên Nguyễn Văn Bình, Đại đội phó Trần Công…, Đại đội 5 hội tụ đủ yếu tố đánh được B-52 và được công nhận đã “xóa” mục tiêu B-52 trong hai đêm 24 và 26-12-1972.

Ông Tuấn nhớ lại: Tháng 11-1972, khi cấp trên thông báo B-52 sẽ đánh vào thành phố Thái Nguyên và khu gang thép. Mặc dù thế giới khi đó chưa ở đâu hạ được “pháo đài bay” B-52 bằng pháo 100mm, nhưng ông cùng đồng đội đã khám phá, tìm tòi, thấy được những điểm yếu của B-52, như hướng bay không thay đổi, tốc độ bay chậm; nếu biết cách sẽ cắt được ngòi ba điểm nổ khác nhau ở những quả pháo 100mm mà không quân Mỹ vẫn chủ quan coi thường. Căn cứ vào tài liệu mật báo và kinh nghiệm trong chiến đấu, ông Tuấn và đồng đội đã tìm ra cách đánh B-52 khiến địch phải bất ngờ, đó là cách đánh bằng phần tử tính sẵn, có sáng tạo. Ông cho biết: Pháo 100mm có tầm xa 21km và tầm cao 14km, trong khi đó B-52 thường bay ở độ cao từ 8 đến 12km. Khi B-52 còn cách trận địa 20km thì đại đội bắt đầu nã pháo theo cách bắn nhanh, bắn cấp tập, bắn dựng màn đạn, cắt ngòi ba điểm nổ khác nhau ở độ cao 8km, 10km và 12km. Ông Tuấn khẳng định: Với sáu khẩu pháo 100mm của đại đội đánh theo cách này thì chiếc B-52 nào vào tầm ngắm khó mà thoát được.

Đại đội trưởng Tuấn động viên anh em luyện tập và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đúng như dự đoán, từ 20 giờ ngày 24-12-1972 đến khoảng 0 giờ 5 phút ngày 25-12-1972, Đại đội pháo do ông chỉ huy đã hạ gục một chiếc B-52 (theo tin báo về từ Quân khu 1). Cũng bằng những khẩu pháo 100mm này, rạng sáng 26-12-1972, đại đội do ông trực tiếp chỉ huy tiếp tục hạ thêm chiếc máy bay B-52 thứ hai. Ngay sau trận đánh này, trung đoàn và đại đội do ông chỉ huy được thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gửi tặng lẵng hoa. Riêng đại đội trưởng Nguyễn Công Tuấn được cấp trên phong quân hàm từ chuẩn úy lên thiếu úy ngay tại trận địa.

Bài và ảnh: XUÂN PHÚ
qdnd.vn

Kỳ 2: Lời cảnh báo cho những kẻ chống phá Nhà nước Việt Nam

(ANTĐ) – Xác định “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, Cơ quan an ninh Việt Nam đã đưa tổ chức này vào danh sách theo dõi đặc biệt và áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam của chúng.

“Việt Tân” – một tổ chức phản động lưu vong:

>>> Kỳ I: Công khai hoạt động chống phá

Ngày 4-2-2007, lợi dụng chuyến đến thăm và làm việc tại Việt Nam của Công ty Tài chính quốc tế, “Việt Tân” đã cài đối tượng Hoàng Tứ Duy, trà trộn vào, từ Mỹ xâm nhập về nước. Cũng thời gian này, thêm một đối tượng khác của “Việt Tân” là Nguyễn Ngọc Đức đã được tổ chức phản động này chỉ đạo xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam qua biên giới Campuchia để cùng Hoàng Tứ Duy tổ chức các hoạt động phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

Lực lượng An ninh Việt Nam đã nhanh chóng phát hiện, vô hiệu hóa Hoàng Tứ Duy, không để y có điều kiện hoạt động chống phá trong thời gian lưu trú tại Việt Nam; Nguyễn Ngọc Đức phải chạy trốn sang Campuchia do bị truy bắt gắt gao.

Đồng thời, Cơ quan an ninh đã bóc gỡ nhiều cơ sở ngầm được chúng tuyển lựa trong số công dân Việt Nam đang học tập, lao động ở nước ngoài, sau đó đưa về nước hoạt động. Mặc dù liên tiếp bị thất bại, bọn cầm đầu “Việt Tân” vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ, kế hoạch hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Chúng tiếp tục đưa cử người xâm nhập về nước qua đường công khai cũng như bất hợp pháp qua biên giới Việt Nam – Campuchia để xúi giục đồng bọn ở trong nước, tiến hành rải truyền đơn, kích động biểu tình, gây rối an ninh, bạo loạn gây mất ổn định chính trị.

Sinh năm 1955, Nguyễn Thị Thanh Vân sang Pháp du học từ trước năm 1975, sau đó định cư và nhập Quốc tịch Pháp. Năm 1990, Nguyễn Thị Thanh Vân đã tham gia vào tổ chức “Việt Tân” và làm “phóng viên” của báo phản động “Việt Nam dân chủ” và đài “Chân trời mới”.

Số đối tượng do “Việt Tân” cử từ nước ngoài thâm nhập
về chống phá Nhà nước Việt Nam

Với bút danh Thanh Thảo, Nguyễn Thị Thanh Vân thường xuyên viết bài xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Đầu tháng 11-2007, theo chỉ đạo của Việt Tân, Nguyễn Thị Thanh Vân dùng bí danh là “Năm”, “Thành” từ Pháp về Campuchia gặp Lương Ngọc Bang, tức Khunmi Somsak, người Thái Lan gốc Việt.

Sau đó, chúng mang 7.000 truyền đơn và 900 logo của “Việt Tân” từ PhnômPênh về Việt Nam thực hiện kế hoạch phát tán tài liệu, truyền đơn phản động.

Cũng thời gian này, Trương Leon, hay còn gọi là Trương Văn Sỹ, mang Quốc tịch Mỹ được “Việt Tân” giao nhiệm vụ bay từ Hawai về Việt Nam với bí danh “anh Ba” cùng Nguyễn Thị Thanh Vân và Lương Ngọc Bang chuẩn bị tài liệu, truyền đơn cho đồng bọn phát tán. Trương Văn Sỹ được kết nạp vào “Việt Tân” năm 2005, do tên Trần Văn Kông, đại diện của “Việt Tân” ở Hawai giới thiệu.

Vũ khí nhóm khủng bố đưa về Việt Nam

Nhiệm vụ của Trương Văn Sỹ ở Mỹ là hàng tháng đi phát tài liệu, truyền đơn của “Việt Tân” tại các khu chợ đông người Việt Nam sinh sống ở Hawai. Nhằm tránh sự phát hiện của Cơ quan an ninh Việt Nam, nhóm khủng bố của “Việt Tân” chia ra ở nhiều nơi.

Ngày 12-11,  Lương Ngọc Bang bay từ Thái Lan sang PhnômPênh, rồi từ  Campuchia đi ôtô  qua Việt Nam và ở tại khách sạn Lan Anh, số 252 Đề Thám, quận 1, TP Hồ Chí Minh. Trương Văn Sỹ đến TP Hồ Chí Minh ngày 15-11 và thuê trú tại khách sạn chợ Thái Bình 232/2 Phạm Ngũ Lão, quận 1.

Trước đó, vào tháng 10-2007, Nguyễn Thế Vũ, sinh năm 1977 tại Thanh Hóa, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, là nhân viên Công ty New Toyo Pulppy Vietnam tại TP Hồ Chí Minh, được con của người bác ruột tên là Nguyễn Đức Thuận, “bí thư chi bộ Việt Tân”, hiện đang sinh sống tại Na Uy móc nối, tuyển chọn.

Nguyễn Đức Thuận đã chuyển cho Nguyễn Thế Vũ 1.000USD để mua máy móc, phục vụ cho việc in ấn tài liệu và phát tán truyền đơn cho “Việt Tân”; đồng thời giao cho Vũ mua 8.000 chiếc phong bì thư để dán các danh sách nơi gửi, nơi nhận truyền đơn, tài liệu tại Việt Nam. Cùng giúp sức cho Nguyễn Thế Vũ là  em ruột Nguyễn Viết Trung, nhân viên Công ty TNHH Trung Quân tại Phan Thiết.

Theo chỉ đạo của Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Đức Trung đã tải mẫu truyền đơn của “Việt Tân” qua email do Thuận gửi về, sau đó in thành 7.000 tờ rồi cho vào 2 túi xách đưa số truyền đơn trên từ Phan Thiết vào TP Hồ Chí Minh giao cho Nguyễn Thế Vũ. Nội dung truyền đơn xúi giục người dân vũ trang bạo loạn, công nhân đình công, gây bất ổn xã hội để “Việt Tân” lật đổ chính quyền.

Ngày 17-11, cả bọn gồm Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Văn Sỹ, Lương Ngọc Bang, Nguyễn Viết Trung cùng tụ tập tại nhà của Nguyễn Thế Vũ, lấy phong bì cho truyền đơn vào rồi cắt dán tên người nhận.

Sau đó chúng sẽ gửi đi theo đường bưu điện nhằm đánh lạc hướng Cơ quan an  ninh Việt Nam, cũng như tạo cho người nhận lầm tưởng rằng, “Việt Tân” là một tổ chức  lớn, có mặt ở nhiều nước.

Tuy nhiên, hành vi của nhóm khủng bố “Việt Tân” đã bị Cơ quan an ninh Việt Nam kịp thời phát hiện. Các đối tượng Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Văn Sỹ, Lương Ngọc Bang, Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Viết Trung đã bị bắt giữ để điều tra về tội “khủng bố” theo Điều 84 – BLHS cùng với việc thu giữ gần 7.000 truyền đơn phản động của “Việt Tân”; hơn 8.000 chiếc phong bì; 3.775 tem bưu chính, 1.000 đề can in logo của “Việt Tân” có ghi  giờ phát sóng của đài “Chân trời mới” và một số công cụ, phương tiện phạm tội.

Cũng trong thời gian này, Ly Seng, cư ngụ tại P.3, TP PhnômPênh – Campuchia, chưa rõ quốc tịch, đã sử dụng giấy tờ giả nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Cơ quan an ninh Việt Nam đã tạm giữ Ly Seng để điều tra và xác định Ly Seng gia nhập “Việt Tân” từ năm 2002. Ly Seng thừa nhận, y xâm nhập trái phép vào Việt Nam nhằm đánh giá, thiết lập đường dây xâm nhập và cùng nhóm khủng bố của “Việt Tân” tiến hành phát tán truyền đơn nhằm thực hiện kế hoạch “sang sông”.

Đáng chú ý, sau vụ khủng bố ngày 11-9, Mỹ đã siết chặt các biện pháp an ninh, nhất là an ninh hàng không; song không hiểu sao, 1 khẩu súng ngắn quân dụng hiệu Ruger cùng 13 viên đạn nằm trong hành lý của cặp vợ chồng Lê Văn Phan và Nguyễn Thị Thịnh, đều là Việt kiều Mỹ lại dễ dàng lọt qua máy soi hành lý, lọt qua sự kiểm soát khắt khe của Hải quan – không chỉ ở sân bay Los Angeles mà cả ở các sân bay trung chuyển và chỉ bị phát hiện khi đến sân bay Tân Sơn Nhất ngày 23-11-2007?

Mục đích mang súng đạn vào Việt Nam của vợ chồng Việt kiều Mỹ này có liên quan gì đến hoạt động của nhóm khủng bố hay không đang được Cơ quan an ninh Việt Nam làm rõ. Song cũng xin nhắc lại rằng, vào năm 2002, những kẻ cầm đầu “Việt Tân” đã từng chi 50.000 USD cho số đối tượng tham gia các chiến dịch “Đông Tiến” đã bị xử tù thành lập các “đội cảm tử” để ám sát cán bộ, nhất là Công an Việt Nam.

Theo đánh giá của Cơ quan an ninh, hoạt động xâm nhập của nhóm đối tượng “Việt Tân” lần này nằm trong kế hoạch huy động tổng lực từ bên ngoài xâm nhập về Việt Nam phối hợp với số chống đối và mạng lưới cơ sở ngầm trong nội địa nhằm thực hiện cho được cái gọi  là kế hoạch “sang sông” do chúng vạch ra.

Nếu lần này trót lọt, chúng sẽ tiếp tục đưa nhiều toán “Việt Tân hải ngoại” về nước hoạt động tập hợp lực lượng, phát tán truyền đơn, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm lật đổ Nhà nước ta. Song, âm mưu đen tối của “Việt Tân” đã bị Cơ quan an ninh Việt Nam bóc trần và đập tan; những kẻ xâm nhập với mưu đồ khủng bố trong kế hoạch mà chúng gọi  là “sang sông” đã bị bắt.

Những kẻ phản động, chống phá Nhà nước Việt Nam chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị. Đây là những lời cảnh tỉnh cho những kẻ rắp tâm chống lại những thành quả cách mạng của nhân dân, những kẻ đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Minh Châu
anninhthudo.vn

This entry was posted on Tháng Một 14, 2013, in Chính luận.

“Việt Tân” – một tổ chức phản động lưu vong – Kỳ 1

(ANTĐ) – Thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, đúng 5 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tại Mỹ, ngày 30-4-1980, Hoàng Cơ Minh, nguyên chuẩn tướng, phó đề đốc hải quân ngụy cùng một số ngụy quân cũ lập ra tổ chức “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”.

Một năm sau, được sự hỗ trợ của các phần tử cực đoan ở Mỹ và lực lượng tình báo lục quân Thái Lan, Hoàng Cơ Minh cùng đồng bọn đã lập căn cứ kháng chiến ở vùng rừng núi Udon-Thái Lan; và ngày 10-9-1982, tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh đã lập ra cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, đọc tắt là “Việt Tân”, có “cương lĩnh, đảng quy, đảng chế”, “cờ”… Đây là tổ chức đầu não, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận” và các tổ chức ngoại vi.

Công khai hoạt động chống phá

Thành lập căn cứ ở vùng rừng núi Udon – Thái Lan làm bàn đạp, đưa các nhóm vũ trang xâm nhập về Việt Nam hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; từ năm 1982 đến 1989, “Việt Tân” đã đưa 31 tên trong lực lượng “kháng quản” về các tỉnh phía Nam để xây dựng cơ sở trong nước.

Tiếp đó, chúng tiến hành chiến dịch “Đông Tiến 1”, “Đông Tiến 2”, “Đông Tiến 3” và xâm nhập qua đường Lào, Campuchia về Việt Nam để lập “mật cứ”, tiến hành các hoạt động bạo loạn, khủng bố, âm mưu cướp chính quyền…

Đập tan mưu đồ phá hoại của chúng, Bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang Lào đã bao vây, chặn đánh, tiêu diệt hàng trăm tên, trong đó tên Hoàng Cơ Minh cũng bị tiêu diệt trong đám tàn quân; 148 tên bị bắt sống, thu giữ nhiều vũ khí, tài liệu phản động.

Thất bại trong những âm mưu xâm nhập vào Việt Nam để tiến hành vũ trang bạo loạn qua các chiến dịch “Đông Tiến 1, 2, 3”, từ năm 1990 đến 2004, “Việt Tân” tiếp tục thành lập các tổ chức ngoại vi “Liên minh Việt Nam tự do”, “Hội chuyên gia Việt Nam hải ngoại”, “ủy ban vận động chính trị người Mỹ gốc Việt” (VPAC), “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường”.

Chúng phát triển lực lượng tập trung vào số học sinh, lao động Việt Nam ở Đông Âu lập ra “ủy ban tự do vùng Trung Tiệp” và “Đông Tiệp”; thông qua các tổ chức này thực hiện “Kế hoạch Nancy”, móc nối với số phần tử chống đối trong nước với ý đồ thành lập tổ chức chống chính quyền Việt Nam mang tên “Liên minh các lực lượng dân tộc mới”.

Vào khoảng cuối năm 2002, số cầm đầu “Việt Tân” ở Mỹ đã chỉ đạo, tài trợ 50.000USD cho số đối tượng “”Việt Tân” tham gia các chiến dịch “Đông Tiến” đã bị xử tù thành lập các “Đội cảm tử” để ám sát cán bộ, nhất là công an, nhưng những kế hoạch này đều thất bại. Lực lượng An ninh Việt Nam đã phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa và phá vỡ ý đồ liên kết trong – ngoài, bắt một số tên từ nước ngoài về trực tiếp chỉ đạo kế hoạch.

Không dừng lại ở đó và nhằm khuyếch trương thanh thế, sau khi củng cố lại lực lượng, bầu bán các chức vụ, ngày 19-9-2004, “Việt Tân” đã tổ chức “Lễ ra mắt” tại Berlin – CHLB Đức, tiếp đó tuyên bố công khai ở nhiều nơi như Mỹ, Canada, úc, Na Uy, Nhật, Pháp, Bỉ… để tập hợp lực lượng, thực hiện các âm mưu, kế hoạch chống Việt Nam.

Chúng lập ra cái gọi là “Ban phát triển quốc nội”, bí danh “Nhóm công tác C21” phụ trách công tác tuyển mộ và quản lý cơ sở nội địa do tên Nguyễn Quốc Quân, trực tiếp chỉ đạo, điều hành. Đồng thời, “Việt Tân” đã đưa lực lượng về các địa bàn như úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Bắc (Trung Quốc), Malaysia, là những nơi tập trung đông số du học sinh và lao động Việt Nam.

Tại đây, chúng đã tung ra những chiêu bài khác nhau dưới hình thức trợ giúp pháp lý, dạy nghề, thăm viếng, tặng quà, tổ chức ca nhạc miễn phí… nhằm rủ rê, lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin rồi tuyển chọn, tiến hành huấn luyện các kỹ thuật khủng bố, đợi thời cơ tung về nước hoạt động.

Vào cuối năm 2006, những kẻ cầm đầu của “Việt Tân” đã vạch ra kế hoạch mà chúng đặt tên là “kế hoạch sang sông” hay còn gọi là “Đông Tiến 07”, với mục tiêu trong năm 2007 sẽ công khai hóa bằng được tổ chức trong nước với mưu đồ châm ngòi nổ cho việc hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu nói trên, chúng cử các toán “Việt Tân hải ngoại”, trong đó có các tên cầm đầu xâm nhập về nước trực tiếp chỉ đạo số cơ sở trong nội địa tiến hành các hoạt động phá rối an ninh và tuyên bố ra hoạt động công khai ở trong nước vào ngày bầu cử Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII ngày 20-5 hoặc ngày Hoàng Cơ Minh bị tiêu diệt 28-8. Ngày 28-8-2007, ở nước ngoài, “Việt Tân” tổ chức gọi là “lễ kỷ niệm 20 năm anh hùng “Đông Tiến” và ngày giỗ của Hoàng Cơ Minh.

Qua việc này càng thấy rõ sự liên quan của “Việt Tân” với hoạt động khủng bố cũng như hoạt động của “Việt Tân” được dung túng, cổ vũ của một số thế lực thù địch với Việt Nam ở nước ngoài. Trước tình hình đó, ngày 4-4-2007, Cục Phòng chống Khủng bố – Bộ Công an đã có Công hàm gửi phía Mỹ biết về tổ chức “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, đề nghị Mỹ phối hợp điều tra, ngăn chặn.

Minh Châu
anninhthudo.vn

Kỳ 2: Lời cảnh báo cho những kẻ chống phá Nhà nước

This entry was posted on Tháng Một 14, 2013, in Chính luận.